BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC THƯƠNG MẠI
KHOA MARKETING
--- ---🙚🙘🕮🙚🙘
BÀI THẢO LUẬN
HỌC PHẦN: CHỦ NGHĨA XÃ HỘI KHOA HỌC
Đề tài:
MỘT TRONG NHỮNG ĐẶC ĐIỂM CỦA DÂN TỘC VIỆT NAM
HIỆN NAY LÀ CÓ SỰ CHÊNH LỆCH VỀ TRÌNH ĐỘ PHÁT
TRIỂN GIỮA CÁC DÂN TỘC. SỰ CHÊNH LỆCH ĐÓ ẢNH
HƯỞNG NHƯ THẾ NÀO ĐẾN CHIẾN LƯỢC XÂY DỰNG
KHỐI ĐẠI ĐOÀN KẾT CÁC DÂN TỘC Ở VIỆT NAM? HÃY
LUẬN GIẢI VỀ CÁC GIẢI PHÁP PHÁP NHẰM KHẮC PHỤC
TÌNH TRẠNG NÀY?
Giảng viên hướng dẫn : Đào Thu Hà
Nhóm thực hiện : 02
Lớp học phần : 241_HCMI0121_01
Hà Nội, tháng 10, năm 2024
MỤC LỤC
MỤC LỤC....................................................................................................................2
LỜI MỞ ĐẦU..............................................................................................................4
NỘI DUNG...................................................................................................................5
CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ THUYẾT VỀ VẤN ĐỀ DÂN TỘC..................................5
1.1. Khái niệm, đặc trưng cơ bản của dân tộc.......................................................5
1.2. Chủ nghĩa Mác - Lênin về vấn đề dân tộc......................................................9
1.2.1. Hai xu hướng khách quan của sự phát triển quan hệ dân tộc.................9
1.2.2. Cương lĩnh dân tộc của chủ nghĩa Mác - Lênin.....................................11
1.3. Dân tộc và quan hệ dân tộc ở Việt Nam........................................................13
1.3.1. Đặc điểm dân tộc Việt Nam......................................................................13
1.3.2. Quan điểm và chính sách dân tộc của Đảng, Nhà nước Việt Nam........16
CHƯƠNG 2: ẢNH HƯỞNG CỦA SỰ CHÊNH LỆCH TRÌNH ĐỘ PHÁT TRIỂN
GIỮA CÁC DÂN TỘC TỚI KHỐI ĐẠI ĐOÀN KẾT DÂN TỘC Ở VIỆT NAM 20
2.1. Xây dựng khối đại đoàn kết các dân tộc ở Việt Nam hiện nay....................20
2.1.1. Quan điểm, chính sách của Đảng nhà nước về xây dựng khối đại
đoàn kết toàn dân tộc.........................................................................................20
2.1.2. Tình hình xây dựng khối đại đoàn kết toàn dân tộc Việt Nam hiện nay21
2.2. Thực trạng về sự chênh lệch trình độ phát triển giữa các dân tộc..............26
2.2.1. Chênh lệch về kinh tế...............................................................................26
2.2.2. Giáo dục...................................................................................................28
2.2.3. Y tế............................................................................................................29
2.2.4. Văn hóa và xã hội....................................................................................30
2.2.5. Môi trường và công nghệ.........................................................................31
2.3. Nguyên nhân của sự chênh lệch trình độ phát triển giữa các dân tộc........32
2.3.1. Địa lý........................................................................................................32
2.3.2. Lịch sử......................................................................................................34
2.3.3. Văn hóa – xã hội......................................................................................37
2.3.4. Kinh tế......................................................................................................38
2.3.5. Giáo dục...................................................................................................39
2.4. Ảnh hưởng của sự chênh lệch trình độ phát triển đến chiến lược xây dựng
khối đại đoàn kết các dân tộc ở Việt Nam............................................................42
2.4.1. Về kinh tế - chính trị................................................................................42
2.4.2. Về văn hoá - xã hội..................................................................................44
2
2.4.3. Về an ninh quốc phòng............................................................................46
2.4.4. Về giáo dục đào tạo..................................................................................49
CHƯƠNG 3: GIẢI PHÁP KHẮC PHỤC TÌNH TRẠNG CHÊNH LỆCH VỀ
TRÌNH ĐỘ PHÁT TRIỂN GIỮA CÁC DÂN TỘC................................................52
3.1. Giải pháp bình đẳng dân tộc..........................................................................52
3.1.1. Phòng chống phân biệt sắc tộc................................................................52
3.1.2. Phòng chống chủ nghĩa bá quyền...........................................................54
3.2. Giải pháp phát triển đất nước.......................................................................56
3.2.1. Về kinh tế - chính trị................................................................................56
3.2.2. Về văn hoá - xã hội..................................................................................59
3.2.3. Về an ninh quốc phòng............................................................................70
3.2.4. Về giáo dục đào tạo..................................................................................76
KẾT LUẬN................................................................................................................80
TÀI LIỆU THAM KHẢO.........................................................................................81
3
LỜI MỞ ĐẦU
Việt Nam là một quốc gia đa dân tộc với 54 dân tộc anh em cùng chung sống trên
dải đất hình chữ S. Sự đa dạng về văn hóa, ngôn ngữ phong tục tập quán của các
dân tộc không chỉ nét đẹp truyền thống còn là nguồn lực quan trọng cho sự phát
triển của đất nước. Tuy nhiên, thực tế hiện nay, sự chênh lệch về trình độ phát triển
giữa các dân tộc đang là một thách thức lớn, ảnh hưởng đến quá trình phát triển kinh tế
- hội cũng như việc duy trì củng cố khối đại đoàn kết dân tộc. Việc các dân tộc
phát triển không đồng đều thể dẫn đến sự mất cân bằng trong các mặt kinh tế,
hội, văn hóa, giáo dục thậm chí cả an ninh quốc phòng. Chính vậy, việc nhìn
nhận đưa ra các giải pháp nhằm khắc phục sự chênh lệch này không chỉ một
nhiệm vụ của riêng Đảng Nhà nước còn trách nhiệm của toàn thể nhân dân.
Trong bài thảo luận này, chúng ta sẽ cùng tìm hiểu về thực trạng, nguyên nhân tác
động của sự chênh lệch trình độ phát triển giữa cácn tộc, đồng thời đề xuất các giải
pháp thiết thực nhằm xây dựng một khối đại đoàn kếtn tộc vững mạnh, đảm bảo sự
phát triển bền vững cho đất nước.
4
NỘI DUNG
CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ THUYẾT VỀ VẤN ĐỀ DÂN TỘC
1.1. Khái niệm, đặc trưng cơ bản của dân tộc
Khái niệm và đặc trưng Dân tộc được hiểu theo hai nghĩa cơ bản:
- Theo nghĩa rộng, dân tộc (Nation) khái niệm dùng để chỉ một cộng đồng
người ổn định làm thành nhân dân một nước, có lãnh thổ riêng, nền kinh tế thống nhất,
có ngôn ngữ chung và có ý thức về sự thống nhất của mình, gắn bó với nhau bởi quyền
lợi chính trị, kinh tế, truyền thống văn hóa truyền thống đấu tranh chung trong suốt
quá trình lịch sử lâu dài dựng nước và giữ nước.
Đặc trưng cơ bản:
Thứ nhất, có chung một vùng lãnh thổ ổn định.
Lãnh thổ dấu hiệu xác định không gian sinh tồn, vị trí địa của một dân tộc,
biểu thị vùng đất, vùng trời, vùng biển mà mỗi dân tộc được quyền sở hữu. Lãnh thổ là
yếu tố thể hiện chủ quyền của mộtn tộc trong tương quan với các quốc gia, dân tộc
khác. Trên không gian đó, các cộng đồng tộc người mối quan hệ gắn với nhau,
trú đan xen với nhau. Vận mệnh của cộng đồng tộc người gắn với việc xác lập
và bảo vệ lãnh thổ quốc gia.
Đối với quốc gia từng thành viên dân tộc, yếu tố lãnh thổ linh thiêng nhất.
Không lãnh thổ thì không khái niệm tổ quốc, quốc gia. Bảo vệ chủ quyền quốc
gia nghĩa vụ trách nhiệm cao nhất của mỗi thành viên dân tộc. Đặc trưng này
muốn chỉ vận mệnh dân tộc một phần rất quan trọng gắn với việc xác lập bảo vệ
lãnh thổ đất nước. Mỗi dân tộc có lãnh thổ riêng thống nhất, không bị chia cắt.
Thứ hai, có chung một phương thức sinh hoạt kinh tế.
Đây nét đặc trưng quan trọng nhất của dân tộc, sở để gắn kết các bộ
phận, các thành viên trong dân tộc, tạo nên tính thống nhất, ổn định, bền vững của dân
tộc. Mối quan hệ kinh tế nền tảng cho sự vững chắc của cộng đồng dân tộc. Nếu
thiếu tính cộng đồng chặt chẽ, bền vững về kinh tế thì cộng đồng người chưa thể trở
thành dân tộc.
5
Về mục tiêu của kinh tế thị trường Việt Nam định hướng hội chủ nghĩa: Phát
triển lực lượng sản xuất, xây dựng sở vật chất cho chủ nghĩa hội, thực hiện dân
giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh. “Mục đích của nền kinh tế thị trường
định hướng hội chủ nghĩa phát triển lực lượng sản xuất, phát triển kinh tế để xây
dựng cơ sở vật chất - kỹ thuật của chủ nghĩa xã hội, nâng cao đời sống nhân dân”. Nền
kinh tế thị trường định hướng hội chủ nghĩa phát huy tính tích cực, chủ động, sáng
tạo của nhân dân trong phát triển kinh tế - hội. Nhà nước quản bằng chính sách,
pháp luật, chiến lược, quy hoạch; sử dụng chế thị trường để giải phóng sức sản
xuất.
Thứ ba, có chung ngôn ngữ làm công cụ giao tiếp.
Mỗi một dân tộc ngôn ngữ riêng, bao gồm cả ngôn ngữ nói ngôn ngữ viết,
làm công cụ giao tiếp giữa các thành viên trên mọi lĩnh vực kinh tế, văn hóa, xã hội và
tình cảm… Trong một quốc gia nhiều cộng đồng tộc người, với các ngôn ngữ khác
nhau, nhưng bao giờ cũng sẽ một ngôn ngữ chung, thống nhất. Tính thống nhất
trong ngôn ngữ dân tộc được thể hiện trước hết sự thống nhất về cấu trúc ngữ pháp
kho từ vựng bản. Ngôn ngữ dân tộc một ngôn ngữ đã phát triển sự thống
nhất về ngôn ngữ là một trong những đặc trưng chủ yếu của dân tộc.
Ví dụ: Khoảng thế kỷ thứ 10, người Việt đã "sáng chế" ra thứ chữ Việt bằng cách
mượn chữ Hánviết, gọi là chữ Nôm (nghĩa là Nam, sau gọi quốc âm). Song nếu
chữ Hán khó một thì chữ Nôm khó mười. Bởi phải biết giỏi chữ Hán mới thể
viết được, học được chữ Nôm. Đối với người Việt học chữ Nôm đã khó, với người
ngoại quốc xa lạ với chữ tượng hình thì chữ Nôm càng khó. Vẫn thể học được, viết
được nhưng không thể phổ biến rộng được. Chính vậy các giáo đã nghĩ đến việc
Latin hóa tiếng Việt bằng mẫu tự Latin, mà ngày xưa gọi là "chữ Annam viết bằng mẫu
tự Latin".
Thứ tư, có chung một nền văn hóa và tâm lý.
Văn hóa dân tộc được biểu hiện thông qua tâm lý, tính cách, phong tục, tập quán,
lối sống dân tộc, tạo nên bản sắc riêng của từng dân tộc. Văn hóan tộc gắn chặt
chẽ với văn hóa của các cộng đồng người trong một quốc gia. Văn hóa một yếu tố
đặc biệt quan trọng của sự liên kết cộng đồng. Mỗi dân tộc một nền văn hóa độc
đáo của dân tộc mình. Trong sinh hoạt cộng đồng, các thành viên của dân tộc thuộc
6
những thành phần xã hội khác nhau tham gia vào sự sáng tạo giá trị văn hóa chung của
dân tộc, đồng thời hấp thụ các giá trị văn hóa chung đó.
dụ: Văn hóa Việt Nam sự tổng hòa các giá trị văn hóa của 54 dân tộc anh
em, trong đó có những tộc người sống trên lãnh thổ Việt Nam, có những dân tộc chỉ có
số lượng vài trăm người, có những dân tộc có hàng triệu người nhưng các dân tộc luôn
coi nhau như anh em một nhà, thương yêu đùm bọc lẫn nhau, chung một văn hóa,
chung sức xây dựng bảo vệ Tổ quốc như lời Bác Hồ đã căn dặn trong thư gửi Đại hội
các dân tộc thiểu số: “Đồng bào Kinh hay Thổ, Mường hay Mán, Gia Rai, Ê Đê,
Đăng hay Ba Na các dân tộc thiểu s khác, đều con cháu Việt Nam, đều anh
em ruột thịt. Chúng ta sống chết nhau, sướng khổ cùng nhau, no đói giúp nhau.
Sông thể cạn, núi có thể mòn, nhưng lòng đoàn kết của chúng ta không bao giờ
giảm bớt. Chúng ta quyết góp chung lực lượng lại để giữ vững quyền tự chủ của chúng
ta”.
Thứ năm, có chung một nhà nước (Nhà nước dân tộc)
Các thành viên cũng như các cộng đồng người trong một dân tộc đều chịu sự
quản lý, điều khiển của một nhà nước độc lập. Đây yếu tố phân biệt dân tộc - quốc
gia dân tộc - tộc người. Dân tộc - tộc người trong một quốc gia không nhà nước
với thể chế chính trị riêng. Hình thức tổ chức, tính chất của nhà nước do chế độ chính
trị của dân tộc, là đại diện cho dân tộc trong quan hệ với các quốc gia dân tộc khác trên
thế giới.
Ví dụ: Trên toàn bộ lãnh thổ Việt Nam, 54 dân tộc anh em như “cây một cội, như
con một nhà” tuy khác nhau về dân tộc nhưng mọi người đều là con dân Việt Nam, đều
đấu tranh hết mình tương lai của đất nước, từ Nam Bắc một lòng sự phát triển
của đất nước, 54 dân tộc nhưng chỉ một đảng, luôn tương thân, tương ái giúp đỡ lẫn
nhau, xây dựng một quốc gia vững mạnh.
- Theo nghĩa hẹp, dân tộc khái niệm dùng để chỉ một cộng đồng tộc người
được hình thành trong lịch sử, có mối liên hệ chặt chẽ và bền vững, có chung ý thức tự
giác tộc người, ngôn ngữ văn hóa. Cộng đồng này xuất hiện sau bộ lạc, bộ tộc, kế
thừa và phát triển cao hơn những nhân tố tộc người của các cộng đồng đó.
Đặc trưng cơ bản:
7
Cộng đồng về ngôn ngữ (bao gồm ngôn ngữ nói, ngôn ngữ viết; hoặc chỉ riêng
ngôn ngữ nói)
Đây tiêu chí bản để phân biệt các tộc người khác nhau vấn đề luôn
được các dân tộc coi trọng giữ gìn. Tuy nhiên, trong quá trình phát triển tộc người,
nhiều nguyên nhân khác nhau, những tộc người không còn ngôn ngữ mẹ đẻ sử
dụng ngôn ngữ khác làm công cụ giao tiếp.
Rất nhiều tộc người Việt Nam ngôn ngữ riêng từ nhiều nguồn gốc khác
nhau. dụ như ngôn ngữ dân tộc Thái trong ngữ hệ Thái - Kađai vẫn thường xuyên
được sử dụng trong cộng đồng người Thái Việt Nam. rất nhiều sách Thái cổ ghi
lại những phong tục tập quán, lễ nghi, ca dao tục ngữ, các bài cúng sách về các bài
thuốc chữa bệnh dân gian. Khác với dân tộc Thái, dân tộc Mường không chữ viết
riêng, và cũng do sự trộn lẫn dân cư ViệtMường nên ngôn ngữ của dân tộc Mường
cũng nhiều điểm tương đồng với ngôn ngữ Việt. Điều này càng làm ngôn ngữ trở
nên phong phú hơn.
Cộng đồng về văn hóa
Văn hóa bao gồm văn hóa vật thể văn hóa phi vật thể mỗi tộc người, phản
ánh truyền thống, lối sống, phong tục tập quán, tín ngưỡng, tôn giáo của tộc người đó.
Lịch sử phát triển của các tộc người gắn liền với truyền thống văn hóa của họ. Ngày
nay, cùng với xu thế giao lưu văn hóa vẫn song song tồn tại xu thế bảo tồn và phát huy
bản sắc văn hóa của mỗi tộc người.
Sự chia sẻ văn hóa trong cộng đồng sự khác biệt về văn hóa so với các tộc
người khác được thể hiện mọi mặt cuộc sống. Một dụ ràng nhất cách
các dân tộc ăn Tết truyền thống của dân tộc mình. Dân tộc Chăm hai ngày lễ lớn
nhất là Păng-Katê và Păng-Chabư, khi đó người dân tộc Chăm sẽ tổ chức lễ cúng gồm
hoa quả, bánh trái đủ loại, cúng cơm, rượu thịt. Ba nghi lễ gồm các thầy vừa kéo
đờn Kanhi (đờn mai rùa) vừa xướng văn tế lễ còn các bà Bóng thì lo dâng rượu và múa
mừng. Hay như người Ê Đê đón Tết Cơm mới vào mùa lúa chín vàng cả nương rẫy.
Mỗi gia đình sẽ ăn mừng mùa lúa chín với lễ vật đặt ở giữa nhà gồm một hay hai chóe
rượu cần buộc chặt vào gốc cộtvài dĩa cơm. Gia chủ hay thầy cúng sẽ khấn vái các
vị thần để xin cho mỗi năm lúa được đầy vựa.
8
Ý thức tự giác tộc người
Đây tiêu chí quan trọng nhất để phân định một tộc người vị trí quyết định
đối với sự tồn tại phát triển của mỗi tộc người. Đặc trưng nổi bật các tộc người
luôn tự ý thức về nguồn gốc, tộc danh của dân tộc mình; đó còn ý thức tự khẳng
định sự tồn tại phát triển của mỗi tộc người cho những tác động làm thay đổi
địa bàn trú, lãnh thổ, hay tác động ảnh hưởng của giao lưu kinh tế, văn hóa… Sự
hình thành và phát triển của ý thức tự giác tộc người liên quan trực tiếp đến các yếu tố
của ý thức, tình cảm, tâm tộc người. Ý thức tự giác tộc người tính độc lập cao.
Dẫu cho lãnh thổ bị ngăn cách, văn hóa bị đứt gãy, thậm chí cả ngôn ngữ mẹ đẻ bị mất
đi thì ý thức tự giác tộc người vẫn được duy trì. Khi có ý thức về tộc người, một người
sẽ luôn biết được cộng đồng mình thuộc về, khi đó, dân tộc tộc người vẫn sẽ
trường tồn không biểu hiện c thể về lãnh thổ hay bị chịu ảnh hưởng từ những
yếu tố tác động bên ngoài.
Thực chất, hai cách hiểu về khái niệm dân tộc tuy không đồng nhất nhưng lại gắn
mật thiết với nhau, không tách rời nhau. Dân tộc quốc gia bao hàm dân tộc tộc
người; dân tộc tộc người bộ phận hình thành dân tộc quốc gia. Dân tộc tộc người ra
đời trong những quốc gia nhất định và thông thường những nhân tố hình thành dân tộc
tộc người không tách rời với những nhân tố hình thành quốc gia.
1.2. Chủ nghĩa Mác - Lênin về vấn đề dân tộc
1.2.1. Hai xu hướng khách quan của sự phát triển quan hệ dân tộc
- Nghiên cứu vấn đề dân tộc, V.I.Lênin phát hiện ra hai xu hướng khách quan
trong sự phát triển quan hệ dân tộc:
+ Xu hướng thứ nhất: Cộng đồng dân muốn tách ra để hình thành cộng đồng
dân tộc độc lập.
Nguyên nhân: Do sự thức tỉnh, sự trưởng thành về ý thức dân tộc, về quyền sống
của mình, các cộng đồng dân cư muốn tách ra thành lập các dân tộc độc lập.
Xu hướng này thể hiện nét trong phong trào đấu tranh giành độc lập dân tộc
của các dân tộc thuộc địa phụ thuộc muốn thoát khỏi áp bức, bóc lột của các
nước thực dân, đế quốc.
9
+ Xu hướng thứ hai: Các dân tộc trong từng quốc gia, thậm chí các dân tộc
nhiều quốc gia muốn liên hiệp lại với nhau.
Nguyên nhân: Xu hướng này nổi lên trong giai đoạn chủ nghĩa bản chuyển
sang giai đoạn đế quốc chủ nghĩa, do sự phát triển của lực lượng sản xuất, khoa học
công nghệ, của giao lưu kinh tế và văn hóa trong xã hội tư bản chủ nghĩa làm xuất hiện
nhu cầu xóa bỏ hàng rào ngăn cách giữa các dân tộc, thúc đẩy các dân tộc xích lại gần
nhau.
- Biểu hiện của hai xu hướng khách quan trong thời đại ngày nay:
+ Trong phạm vi quốc gia:
Xu hướng thứ nhất thể hiện trong sự nỗ lực của từng tộc người để đi tới sự tự do,
bình đẳng và phồn vinh.
dụ: Các dân tộc thiểu s Việt Nam, như người H'Mông, Dao, Tày, đang nỗ
lực phát triển kinh tế, văn hóa giáo dục thông qua các chính sách hỗ trợ của chính
phủ nhằm đảm bảo quyền tự do và bình đẳng. Các khu vực miền núi được đầu tư cơ sở
hạ tầng, trường học bệnh viện để nâng cao mức sống, thể hiện sự nỗ lực của từng
tộc người trong việc đạt đến tự do và phồn vinh.
Xu hướng thứ hai thể hiện sự xuất hiện những động lực thúc đẩy các dân tộc
trong một cộng đồng quốc gia xích lại gần nhau, hòa hợp với nhau mức độ cao hơn
trên mọi lĩnh vực của đời sống xã hội.
dụ: Tại Việt Nam, các lễ hội văn hóa vùng miền như Lễ hội Chợ tình Khâu
Vai (Hà Giang) hay Lễ hội Đua thuyền Bạch Đằng (Quảng Ninh) đã thu hút đông đảo
người dân từ khắp cả nước tham gia. Điều này không chỉ tôn vinh bản sắc văn hóa
riêng của mỗi tộc người còn thể hiện sự gắn kết giữa các dân tộc, m tăng cường
sự hòa hợp đoàn kết trong hội. Các dân tộc cùng chung tay xây dựng đất nước
phát triển trên mọi lĩnh vực, từ kinh tế đến văn hóa.
+ Trong phạm vi quốc tế:
Xu hướng thứ nhất thể hiện trong phong trào giải phóng dân tộc nhằm chống lại
chủ nghĩa đế quốc chống chính sách thực dân đô hộ dưới mọi hình thức. Độc lập
dân tộc chính mục tiêu chính trị chủ yếu của mọi quốc gia trong thời đại ngày nay.
Độc lập tự chủ của mỗi dân tộc là xu hướng khách quan, là chân lý của thời đại.
10
dụ: Phong trào đấu tranh giành độc lập của các nước thuộc địa châu Phi trong
thế kỷ 20, như Nam Phi, Algeria và Angola, minh chứng cho xu hướng các dân tộc
chống lại ách đô hộ thực dân. Các quốc gia này đã nỗ lực giành lại chủ quyền từ những
cường quốc thực dân như Pháp, Anh Bồ Đào Nha, thể hiện quyền độc lập dân tộc
và sự tự chủ trong lựa chọn con đường phát triển chính trị và kinh tế của họ.
Xu hướng thứ hai thể hiện xu thế các dân tộc muốn xích lại gần nhau, hợp tác
với nhau để hình thành liên minh dân tộc ở phạm vi khu vực hoặc toàn cầu.
dụ: Liên minh châu Âu (EU) một minh chứng ràng cho xu hướng các
quốc gia, dân tộc muốn xích lại gần nhauhợp tác toàn diện. Các quốc gia trong EU
không chỉ hợp tác về kinh tế còn thiết lập các thỏa thuận chung về chính trị, an
ninh văn hóa. Xu hướng này thúc đẩy các quốc gia vượt qua ranh giới lịch sử, hợp
tác để cùng phát triển, tạo ra một cộng đồng khu vực thịnh vượng và hòa bình.
- Mối quan hệ: Hai xu hướng khách quan của sự phát triển dân tộc sự thống
nhất biện chứng với nhau trong tiến trình phát triển của mỗi quốc giacủa toàn nhân
loại.
1.2.2. Cương lĩnh dân tộc của chủ nghĩa Mác - Lênin
- Căn cứ đề ra Cương lĩnh dân tộc:
+ Quan điểm của chủ nghĩa Mác về mối quan hệ giữa dân tộc và giai cấp;
+ Sự phân tích hai xu hướng khách quan của sự phát triển các dân tộc;
+ Kinh nghiệm của cách mạng thế giới và thực tiễn cách mạng Nga.
- Nội dung Cương lĩnh:
+ Các dân tộc hoàn toàn bình đẳng:
Đây là quyền thiêng liêng của các dân tộc, không phân biệt lớn hay nhỏ, trình độ
phát triển cao hay thấp.
Các dân tộc đều có nghĩa vụ và quyền lợi ngang nhau trên tất cả các lĩnh vực của
đời sống xã hội, không dân tộc nào được giữ đặc quyền, đặc lợi.
Trong quan hệ hội quan hệ quốc tế, không dân tộc nào quyền đi áp bức,
bóc lột dân tộc khác. Trong quốc gia đa dân tộc, quyền bình đẳng dân tộc phải được
thể hiện trên cơ sở pháp lý và trên thực tế.
11
Để thực hiện quyền bình đẳng phải thủ tiêu tình trạng áp bức giai cấp, áp bức dân
tộc, đấu tranh chống chủ nghĩa phân biệt chủng tộc, chủ nghĩa dân tộc cực đoan.
Ví dụ: Tại Việt Nam, chính sách dân tộc khẳng định quyền bình đẳng của 54 dân
tộc anh em. Trong giáo dục, trẻ em dân tộc thiểu số được hưởng chính sách miễn giảm
học phí, học bổng, hỗ trợ sách giáo khoa để đảm bảo quyền tiếp cận giáo dục ngang
bằng với trẻ em dân tộc Kinh.
+ Các dân tộc có quyền tự quyết:
Là quyền của các dân tộc tự quyết định lấy vận mệnh của dân tộc mình, quyền tự
lựa chọn chế độ chính trị và con đường phát triển của dân tộc mình.
Bao gồm quyền tự do phân lập thành cộng đồng quốc gia dân tộc độc lập
quyền tự nguyện liên hiệp với các dân tộc khác trên cơ sở bình đẳng.
Thực hiện quyền dân tộc tự quyết phải xuất phát từ thực tiễn - cụ thể phải
đứng vững trên lập trường của giai cấp công nhân, đảm bảo sự thống nhất giữa lợi ích
dân tộc và lợi ích của giai cấp công nhân.
Quyền tự quyết dân tộc không đồng nhất với “quyền” của các tộc người thiểu số
trong một quốc gia đa tộc người, nhất việc phân lập thành quốc gia độc lập. Vì vậy,
cần đấu tranh chống lại mọi âm mưu, thủ đoạn của các thế lực phản động, thù địch lợi
dụng chiêu bài “dân tộc tự quyết” để can thiệp vào công việc nội bộ của các nước hoặc
kích động ly khai dân tộc.
Ví dụ: Nhân dân Đông Timor đã thực hiện quyền tự quyết của mình khi chọn con
đường tách khỏi Indonesia thành lập một quốc gia độc lập vào năm 2002. Quyền
này cho phép họ lựa chọn chế độ chính trị con đường phát triển riêng, phù hợp với
nguyện vọng của dân tộc.
+ Liên hiệp công nhân tất cả các dân tộc:
Phản ánh sự thống nhất giữa giải phóng dân tộcgiải phóng giai cấp; sự gắn bó chặt
chẽ giữa chủ nghĩa yêu nước và chủ nghĩa quốc tế chân chính.
Là cơ sở vững chắc để đoàn kết các tầng lớp nhân dân lao động thuộc các dân tộc
trong cuộc đấu tranh chống chủ nghĩa đế quốc vì độc lập dân tộc và tiến bộ xã hội.
12
Đây vừa là nội dung chủ yếu vừa là giải pháp quan trọng để liên kết các nội dung
của Cương lĩnh dân tộc thành chỉnh thể thống nhất.
Ví dụ: Trong thời kỳ chống Mỹ cứu nước tại Việt Nam, phong trào đấu tranh của
công nhân Việt Nam quốc tế đã sự liên kết chặt chẽ. Công nhân các nước xã hội
chủ nghĩa, như Liên Trung Quốc, đã gửi viện trợ hỗ trợ tinh thần cho công
nhân Việt Nam trong cuộc đấu tranh giành độc lập dân tộc. Điều này minh chứng cho
sự đoàn kết giữa các giai cấp lao động nhiều quốc gia trong cuộc chiến chống lại đế
quốc.
- Ý nghĩa của Cương lĩnh: sở luận quan trọng để các Đảng Cộng sản vận
dụng thực hiện chính sách dân tộc trong quá trình đấu tranh giành độc lập dân tộc
xây dựng chủ nghĩa xã hội.
1.3. Dân tộc và quan hệ dân tộc ở Việt Nam
1.3.1. Đặc điểm dân tộc Việt Nam
Sự chênh lệch về số dân giữa các tộc người
Việt Nam quốc gia 54 dân tộc. Theo Bảng khảo sát Dân số trung bình cả
nước và dân số dân tộc thiểu số” (Nguồn: Trung tâm Quyền của người dân tộc thiểu số
và miền núi (HRC)), có thể thấy dân tộc Kinh chiếm 85,4% dân số cả nước.
Trong 14,6% còn lại, có một vài dân tộc với số lượng vượt mức 1 triệu người như
Tày, Thái, Mường… Trong khi đó, sự chênh lệch đáng kể khi chỉ vỏn vẹn chưa tới 1
nghìn người thuộc các dân tộc SiLa, Pu péo, Rơ măm, Brâu, Ơ Đu.
Các dân tộc cư trú xen kẽ nhau
Một trong những đặc điểm nổi bật của các tộc người Việt Nam trú phân
tán và xen kẽ. Hay nói cách khác, ở Việt Nam không khu vực tụ cư riêng của 1 dân
tộc, các dân tộc trú theo hình thái đan xen giữa các dân tộc thiểu số với dân tộc
đa số (Kinh), giữa các dân tộc thiểu số này với dân tộc thiểu số khác. trú xen kẽ
bao gồm cả ở cấp độ quốc gia, tỉnh, huyện, thậm chíngay trong một bản/mường.
trú xen kẽ nơi đã hình thành từ lâu đời, nơi mới hình thành gắn với quá trình di
cư, nhập cư.
Dân tộc thiểu số phân bố chủ yếu ở địa bàn có vị trí chiến lược quan trọng
13
Tại Hội thảo “Chính sách đất đai cho đồng bào dân tộc thiểu số Việt Nam
Một số tồn tại, hạn chế và những khuyến nghị”, do Hội đồng Dân tộc Liên hiệp các
Hội Khoa học Kỹ thuật Việt Nam tổ chức năm 2021 đề cập: Địa bàn trú của các
dân tộc thiểu số phần lớn miền núi, chiếm ¾ diện tích cả nước, chủ yếu tập trung
vùng miền núi, trung du phía Bắc, Duyên hải miền Trung, Tây Nguyên khu vực
Nam Bộ.
Đây là những địa bàn vị trí chiến lược, quan trọng về chính trị, an ninh - quốc
phòng và tài nguyên thiên nhiên của đất nước. Nhưng cũng là vùng có cấu tạo địa chất,
tự nhiên phức tạp, có độ dốc cao, chia cắt, cơ sở hạ tầng khó khăn, tập trung chủ yếu là
các xã nghèo, huyện nghèo và người nghèo.
Trình độ phát triển không đều
Do hoàn cảnh lịch sử điều kiện địa nên cộng đồng cácn tộc Việt Nam có
trình độ phát triển không đều về kinh tế, văn hóa, hội, đời sống dân trí các hoạt
động hội. Đặc biệt, các cộng đồng dân tộc thiểu số sống vùng sâu, vùng núi cao,
điều kiện phát triển kinh tế - xã hội còn gặp nhiều khó khăn.
Trong những năm qua, Đảng Nhà nước ta chú trọng bannh, triển khai thực
hiện nhiều kế hoạch, chương trình, giải pháp thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội, không
ngừng cải thiện, nâng cao đời sống của đồng bào dân tộc thiểu số đạt được nhiều
kết quả quan trọng. Tuy nhiên so với mặt bằng chung của cả nước, đời sống của đồng
bào dân tộc thiểu số hiện nay vẫn còn nhiều khó khăn. Kinh tế - hội vùng dân tộc
thiểu số phát triển chậm, việc thoát nghèo vùng dân tộc thiểu số còn chưa bền vững,
khoảng cách giàu, nghèo có xu hướng gia tăng.
Đoàn kết gắn bó lâu dài
Trong quá trình hình thành và phát triển của lịch sử dân tộc đã hình thành và phát
triển giá trị văn hóa đoàn kết. Đó là thành quả văn hóa của dân tộc ta trong lịch sử mấy
ngàn năm tồn tại và phát triển. Lịch sử dân tộc ta đã chứng minh rằng, đoàn kết là một
giá trị văn hóa truyền thống tạo nên sức mạnh địch, đưa nước ta, dân tộc ta vượt
qua mọi khó khăn, thách thức, giành hết thắng lợi này đến thắng lợi khác, lập nên
những kỳ tích vẻ vang.
14
Ví dụ như giữa lúc người dân căng mình trong cuộc chiến chống bão số 3 cũng là
lúc tinh thần tương thân tương ái, nh đùm rách được thể hiện nhất. Hàng
ngàn người dân không chỉ đối phó với thiệt hại cho chính mình còn cùng nhau hỗ
trợ cộng đồng, từ việc cứu trợ vật chất đến tinh thần. Những hành động này thể hiện
ràng giá trị văn hóa "lá lành đùm lá rách", nơi người có điều kiện hơn sẵn sàng giúp đỡ
người khó khăn, cùng nhau vượt qua thiên tai.
Thêm nữa, các đoàn thể, tổ chức từ thiện, và lực lượng cứu hộ thường xuyên xuất
hiện, cứu trợ những người chịu ảnh hưởng nặng nề nhất từ bão, cùng nhau sửa chữa
nhà cửa, cung cấp lương thực nước uống. Điều này không chỉ mang ý nghĩa thực tế
còn củng cố tinh thần đoàn kết lâu dài, cho thấy sự gắn kết không thể phá vỡ giữa
người dân với nhau, bất kể khó khăn lớn như thế nào.
Các dân tộc có bản sắc văn hóa riêng
Sức sống của dân tộc Việt Nam nằm sự gắn kết với đất đai bản sắc văn hóa
độc đáo. Mỗi dân tộc đều có những nét đặc trưng riêng, từ ngôn ngữ, phong tục, truyền
thống, cho đến trang phục nghệ thuật. Dân tộc Kinh, tạo nền văn minh cổ xưa của
đất nước, với văn hóa phồn thịnh đã có ảnh hưởng sâu sắc đến các dân tộc khác. Trong
khi đó, dân tộc Tày, Thái, Mường, Khơ Mú, nhiều dân tộc khác, vẫn duy trì bảo
tồn những nét độc đáo của họ qua thế hệ.
Văn hóa của dân tộc Việt Nam không chỉ thể hiện trong các lễ hội truyền thống,
còn phản ánh qua nghệ thuật dân gian, âm nhạc, điệu, nghệ thuật sân khấu.
Những điệu múa quyến rũ, những bài hát truyền cảm hứng những tác phẩm điêu
khắc tinh xảo đều là những biểu tượng của sự sáng tạo và tình yêu đất nước.
thể nói rằng, duy trì phát triển đa dạng văn hóa n tộc cũng đồng nghĩa
với việc bảo tồn phát huy giá trị di sản văn hóa. Các truyền thống, tập tục nghệ
thuật của từng dân tộc đều mang trong mình những giá trị văn hóa lịch sử quan
trọng. Việc bảo tồn và truyền dạy những giá trị này cho thế hệ sau là đảm bảo rằng dân
tộc Việt Nam sẽ không bị mất đi một phần quan trọng của danh dự duy văn hóa
của mình.
Ngoài ra, việc phát triển đa dạng văn hóa dân tộc còn mang lại lợi ích kinh tế
du lịch. Văn hóa dân tộc đặc trưng các lễ hội truyền thống thu hút sự quan tâm của
15
du khách trong và ngoài nước. Việc phát triển các sản phẩm và trải nghiệm du lịch dựa
trên nền văn hóa dân tộc không chỉ giúp tạo nên nguồn thu kinh tế mới còn thúc
đẩy sự phát triển kinh tế và xã hội của các vùng dân tộc.
1.3.2. Quan điểm và chính sách dân tộc của Đảng, Nhà nước Việt Nam
Hầu hết các dân tộc thiểu số sinh sống miền núi cao, biên giới, vùng sâu, vùng
xa tập trung chủ yếu một số tỉnh khu vực miền Bắc, Tây Nguyên, Bắc Trung bộ
Duyên hải miền Trung, Tây Nam bộ. Cùng với việc hoạch định chính sách chung
cho cả nước, Đảng, Nhà nước ta đặc biệt quan tâm xây dựng chính sách cho vùng dân
tộc thiểu số miền núi, luôn xác định công tác dân tộc, đoàn kết dân tộc có vị trí
chiến lược quan trọng của cách mạng Việt Nam.
Đảng ta luôn nhất quán chủ trương đẩy nhanh phát triển về mọi mặt đối với vùng
dân tộc thiểu số miền núi, nhanh chóng thu hẹp khoảng cách phát triển so với mặt
bằng chung của cả nước, tạo điều kiện thuận lợi cho 1.673 khu vực I, 210 khu
vực II1.551 xã khu vực III, với 3.434 xã, phường, thị trấn thuộc vùng dân tộc thiểu
số miền núi; nhằm nâng cao đời sống vật chất, tinh thần cho đồng bào, để từng
bước nâng cao đời sống phát triển về kinh tế, chính trị, văn hóa, hội, an ninh quốc
phòng.
Quan điểm nhất quán của Đảng Nhà nước ta về dân tộc, xuyên suốt mọi thời
kỳ cách mạng là: “Các dân tộc bình đẳng, đoàn kết, tương trợ nhau cùng phát triển”,
Nhà nước Cộng hòa hội chủ nghĩa Việt Nam “Nhà nước thống nhất của các dân
tộc cùng sinh sống trên đất nước Việt Nam”.
Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ X của Đảng khẳng định “Các dân tộc
trong đại gia đình Việt Nam bình đẳng, đoàn kết, tôn trọng giúp nhau cùng tiến bộ;
cùng nhau thực hiện thắng lợi sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa, xây dựng
bảo vệ Tổ quốc Việt Nam hội chủ nghĩa”. thể tổng kết quan điểm của Đảng
Nhà nước ta về vấn đề dân tộc, đoàn kết dân tộc thực hiện chính sách dân tộc
những nội dung cơ bản sau:
Bình đẳng giữa các dân tộc trong mọi lĩnh vực đời sống xã hội
Bình đẳng giữa các dân tộc nội dung cốt lõi của chính sách dân tộc (Trích tạp
chí Cộng Sản). Các dân tộc không phân biệt đa số hay thiểu số, trình độ phát triển cao
16
hay thấp, đều địa vị pháp ngang nhau về quyền lợi nghĩa vụ trong mọi lĩnh
vực hoạt động của đời sống xã hội.
Quyền bình đẳng giữa các dân tộc được ghi nhận với tính chất một nguyên tắc
hiến định trong Hiến pháp được thể hiện thống nhất trong toàn bộ hệ thống pháp
luật.
Quyền bình đẳng giữa các dân tộc, trước hết quyền bình đẳng về chính trị,
chống mọi biểu hiện chia rẽ, kỳ thị dân tộc, dân tộc hẹp hòi, dân tộc cực đoan, tự ti dân
tộc… Đồng o các dân tộc đều được quyền tham gia bầu cử, ứng cử vào quan
quyền lực Nhà nước, làm việc trong các quan Nhà nước, tham gia đóng góp ý kiến
vào các chính sách của Nhà nước.
Quyền bình đẳng về kinh tế bảo đảm sự bình đẳng trong quan hệ lợi ích giữa các
dân tộc. Nhà nước trách nhiệm đầu nguồn lực để thúc đẩy việc phát triển kinh tế
đối với các dân tộc kinh tế chậm phát triển, để cùng đạt trình độ phát triển chung
với các dân tộc khác trong cả nước.
Bình đẳng về văn hóa, hội bảo đảm cho việc giữ gìn phát huy bản sắc văn
hóa của các dân tộc, làm phong phú, đa dạng nền văn hóa Việt Nam. Các dân tộc
quyền dùng tiếng nói, chữ viết, giữ gìn bản sắc dân tộc phát huy những phong tục,
tập quán, truyền thống n hóa tốt đẹp của mình. Nhà nước đầu cho sự nghiệp
chăm sóc và bảo vệ sức khỏe nhân dân, duy trì nòi giống, phát triển giáo dục cho đồng
bào các dân tộc.
Do phần lớn các dân tộc thiểu số nước ta hiện nay có trình độ phát triển thấp,
nên bên cạnh việc bảo đảm quyền bình đẳng toàn diện về chính trị, kinh tế, văn hóa, xã
hội cần phải tạo điều kiện thuận lợi để cho đồng bào các dân tộc thiểu số hội
phát triển bình đẳng với các dân tộc khác. Sự quan tâm tương trợ, giúp đỡ nhau cùng
phát triển chính là thực hiện quyền bình đẳng giữa các dân tộc.
Đoàn kết dân tộc - vấn đề chiến lược bản, lâu dài cấp bách của cách
mạng Việt Nam
Nhất quán trong đường lối về đoàn kết dân tộc, Văn kiện Đại hội đại biểu toàn
quốc lần thứ X tiếp tục khẳng định quan điểm bền vững “Đảng ta luôn coi vấn đề dân
17
tộc đoàn kết các dân tộc vấn đề chiến lược, bản, lâu dài của sự nghiệp cách
mạng nước ta”.
Đồng thời, đây cũng luôn được coi nhiệm vụ cấp bách, phải quan tâm thực
hiện. Chính sách dân tộc luôn được coi là chính sách quan trọng trong sự quan tâm của
Đảng Nhà nước, thể hiện trên cả phương diện đối nội đối ngoại. Dưới sự lãnh
đạo thống nhất của Đảng, các dân tộc đang phát huy truyền thống đoàn kết, cùng nhau
xây dựng đất nước với mục tiêu dân giàu, nước mạnh, hội công bằng, dân chủ,n
minh. Mỗi n tộc trên đất nước Việt Nam đều phải trách nhiệm chăm lo vun đắp,
củng cố, tăng cường khối đoàn kết dân tộc.
Các dân tộc tương trợ giúp đỡ nhau cùng phát triển
Hiện nay trình độ phát triển kinh tế - hội của các dân tộc nước ta vẫn còn
khoảng cách khá xa. Kinh tế miền núi các vùng dân tộc thiểu số còn chậm phát
triển, nhiều nơi còn lúng túng trong chuyển dịch cấu kinh tế, tập quán canh tác còn
lạc hậu, tỷ lệ đói nghèo còn cao so với bình quân chung của cả nước. Chênh lệch về
mức sống giữa các vùng, giữa các dân tộc ngày càng tăng. Chất lượng, hiệu quả giáo
dục đào tạo vùng dân tộc thiểu số còn thấp. Công tác chăm sóc sức khỏe cho
đồng bào ở vùng sâu, vùng xa còn nhiều khó khăn.
Một số tập quán lạc hậu, tín dị đoan của n tộc thiểu số xu hướng phát
triển. Bản sắc tốt đẹp trong văn hóa của các dân tộc thiểu số đang bị mai một. Mức
hưởng thụ văn hóa của đồng bào còn thấp. Do đó, Đảng Nhà nước ta đã coi tương
trợ giúp đỡ nhau cùng phát triển giữa các dân tộc là một nguyên tắc cơ bản trong chính
sách dân tộc trong thời kỳ xây dựng chủ nghĩa xã hội.
Các dân tộc có trình độ phát triển kinh tế - xã hội cao hơn có trách nhiệm giúp đỡ
các dân tộc điều kiện phát triển kinh tế - hội khó khăn hơn. Tương trợ giúp đỡ
lẫn nhau không phải chỉ giúp đỡ một chiều, ngược lại chính sự phát triển của dân tộc
này là điều kiện để cho dân tộc khác cùng phát triển.
Việc đầu phát triển đối với các dân tộc thiểu số được thể hiện quan
điểm chỉ đạo sau đây
Phát triển toàn diện chính trị, kinh tế, văn hóa, hội an ninh - quốc phòng
trên địa bàn vùng dân tộc miền núi; gắn tăng trưởng kinh tế với giải quyết các vấn
18
đề xã hội, thực hiện tốt chính sách dân tộc; quan tâm phát triển, bồi dưỡng nguồn nhân
lực; chăm lo xây dựng đội ngũ cán bộ dân tộc thiểu số; giữ gìn phát huy những giá
trị, bản sắc văn hóa truyền thống các dân tộc thiểu số trong sự nghiệp phát triển chung
của cộng đồng dân tộc Việt Nam thống nhất.
Ưu tiên đầu phát triển kinh tế - hội các vùngn tộc miền núi, trước
hết, tập trung vào phát triển giao thông sở hạ tầng, xóa đói, giảm nghèo; khai
thác hiệu quả tiềm năng, thế mạnh của từng vùng, đi đôi với bảo vệ bền vững môi
trường sinh thái; phát huy nội lực, tinh thần tự lực, tự cường của đồng bào các dân tộc,
đồng thời tăng cường s quan tâm hỗ trợ của Trung ương sự giúp đỡ của các địa
phương trong cả nước.
Công tác dân tộc thực hiện chính sách dân tộc nhiệm vụ của toàn Đảng,
toàn dân, toàn quân, của các cấp, các ngành, của toàn bộ hệ thống chính trị
Công tác dân tộc được xác định có vị trí trọng yếu đối với sự phát triển bền vững
của đất nước trong giai đoạn phát triển mới. Do đó, toàn bộ hệ thống chính trị cần
nâng cao nhận thức, trách nhiệm của mình về vị trí, nhiệm vụ của công tác dân tộc
trong tình hình mới, coi việc quán triệt và thực hiện tốt chính sách dân tộc của Đảng
nhiệm vụ thường xuyên quan trọng của các cấp ủy, tổ chức đảng, chính quyền, Mặt
trận, đoàn thể từ Trung ương đến địa phương.
Đặc biệt, xây dựng, ban hành tổ chức thực hiện các chính sách dân tộc phải
phù hợp với trình độ phát triển kinh tế - hội, đặc trưng văn hóa của từng vùng,
miền, đặc điểm của từng dân tộc, từng địa phương. Trong tổ chức thực hiện các chính
sách dân tộc cần có sự phân loại cụ thể để thực hiện có trọng điểm, hiệu quả, dứt điểm,
nhất là đối với những chính sách quan trọng, cấp bách, phù hợp với khả năng tiếp nhận
sự chuẩn bị mỗi dân tộc, mỗi địa phương, đồng thời đáp ứng yêu cầu phát triển
của nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa và hội nhập quốc tế.
Tóm lại, nâng cao hiệu quả thực hiện các chính sách dân tộc công việc quan
trọng, bản, thường xuyên, lâu dài, đòi hỏi phải được tiến nh lộ trình, kiên trì,
nhất quán và không ngừng đổi mới, hoàn thiện. Các chính sách dân tộc được xây dựng
và ban hành phải là động lực trực tiếp thúc đẩy bình đẳng, đoàn kết giữa các dân tộc và
phát huy vai trò, tiềm năng thật sự của mỗi dân tộc.
19
20

Preview text:

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC THƯƠNG MẠI KHOA MARKETING
---🙚🙘🕮🙚🙘--- BÀI THẢO LUẬN
HỌC PHẦN: CHỦ NGHĨA XÃ HỘI KHOA HỌC Đề tài:
MỘT TRONG NHỮNG ĐẶC ĐIỂM CỦA DÂN TỘC VIỆT NAM
HIỆN NAY LÀ CÓ SỰ CHÊNH LỆCH VỀ TRÌNH ĐỘ PHÁT
TRIỂN GIỮA CÁC DÂN TỘC. SỰ CHÊNH LỆCH ĐÓ ẢNH
HƯỞNG NHƯ THẾ NÀO ĐẾN CHIẾN LƯỢC XÂY DỰNG
KHỐI ĐẠI ĐOÀN KẾT CÁC DÂN TỘC Ở VIỆT NAM? HÃY
LUẬN GIẢI VỀ CÁC GIẢI PHÁP PHÁP NHẰM KHẮC PHỤC TÌNH TRẠNG NÀY?
Giảng viên hướng dẫn : Đào Thu Hà Nhóm thực hiện : 02 Lớp học phần : 241_HCMI0121_01
Hà Nội, tháng 10, năm 2024 MỤC LỤC
MỤC LỤC....................................................................................................................2
LỜI MỞ ĐẦU..............................................................................................................4
NỘI DUNG...................................................................................................................5
CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ THUYẾT VỀ VẤN ĐỀ DÂN TỘC..................................5
1.1. Khái niệm, đặc trưng cơ bản của dân tộc.......................................................5
1.2. Chủ nghĩa Mác - Lênin về vấn đề dân tộc......................................................9
1.2.1. Hai xu hướng khách quan của sự phát triển quan hệ dân tộc.................9
1.2.2. Cương lĩnh dân tộc của chủ nghĩa Mác - Lênin.....................................11

1.3. Dân tộc và quan hệ dân tộc ở Việt Nam........................................................13
1.3.1. Đặc điểm dân tộc Việt Nam......................................................................13
1.3.2. Quan điểm và chính sách dân tộc của Đảng, Nhà nước Việt Nam........16

CHƯƠNG 2: ẢNH HƯỞNG CỦA SỰ CHÊNH LỆCH TRÌNH ĐỘ PHÁT TRIỂN
GIỮA CÁC DÂN TỘC TỚI KHỐI ĐẠI ĐOÀN KẾT DÂN TỘC Ở VIỆT NAM 20

2.1. Xây dựng khối đại đoàn kết các dân tộc ở Việt Nam hiện nay....................20
2.1.1. Quan điểm, chính sách của Đảng và nhà nước về xây dựng khối đại
đoàn kết toàn dân tộc
.........................................................................................20
2.1.2. Tình hình xây dựng khối đại đoàn kết toàn dân tộc Việt Nam hiện nay21

2.2. Thực trạng về sự chênh lệch trình độ phát triển giữa các dân tộc..............26
2.2.1. Chênh lệch về kinh tế...............................................................................26
2.2.2. Giáo dục...................................................................................................28
2.2.3. Y tế............................................................................................................29
2.2.4. Văn hóa và xã hội....................................................................................30
2.2.5. Môi trường và công nghệ.........................................................................31

2.3. Nguyên nhân của sự chênh lệch trình độ phát triển giữa các dân tộc........32
2.3.1. Địa lý........................................................................................................32
2.3.2. Lịch sử......................................................................................................34
2.3.3. Văn hóa – xã hội......................................................................................37
2.3.4. Kinh tế......................................................................................................38

2.3.5. Giáo dục...................................................................................................39
2.4. Ảnh hưởng của sự chênh lệch trình độ phát triển đến chiến lược xây dựng
khối đại đoàn kết các dân tộc ở Việt Nam
............................................................42
2.4.1. Về kinh tế - chính trị................................................................................42
2.4.2. Về văn hoá - xã hội..................................................................................44
2
2.4.3. Về an ninh quốc phòng............................................................................46
2.4.4. Về giáo dục đào tạo..................................................................................49

CHƯƠNG 3: GIẢI PHÁP KHẮC PHỤC TÌNH TRẠNG CHÊNH LỆCH VỀ
TRÌNH ĐỘ PHÁT TRIỂN GIỮA CÁC DÂN TỘC................................................52

3.1. Giải pháp bình đẳng dân tộc..........................................................................52
3.1.1. Phòng chống phân biệt sắc tộc................................................................52
3.1.2. Phòng chống chủ nghĩa bá quyền...........................................................54

3.2. Giải pháp phát triển đất nước.......................................................................56
3.2.1. Về kinh tế - chính trị................................................................................56
3.2.2. Về văn hoá - xã hội..................................................................................59
3.2.3. Về an ninh quốc phòng............................................................................70
3.2.4. Về giáo dục đào tạo..................................................................................76

KẾT LUẬN................................................................................................................80
TÀI LIỆU THAM KHẢO.........................................................................................81 3 LỜI MỞ ĐẦU
Việt Nam là một quốc gia đa dân tộc với 54 dân tộc anh em cùng chung sống trên
dải đất hình chữ S. Sự đa dạng về văn hóa, ngôn ngữ và phong tục tập quán của các
dân tộc không chỉ là nét đẹp truyền thống mà còn là nguồn lực quan trọng cho sự phát
triển của đất nước. Tuy nhiên, thực tế hiện nay, sự chênh lệch về trình độ phát triển
giữa các dân tộc đang là một thách thức lớn, ảnh hưởng đến quá trình phát triển kinh tế
- xã hội cũng như việc duy trì và củng cố khối đại đoàn kết dân tộc. Việc các dân tộc
phát triển không đồng đều có thể dẫn đến sự mất cân bằng trong các mặt kinh tế, xã
hội, văn hóa, giáo dục và thậm chí cả an ninh quốc phòng. Chính vì vậy, việc nhìn
nhận và đưa ra các giải pháp nhằm khắc phục sự chênh lệch này không chỉ là một
nhiệm vụ của riêng Đảng và Nhà nước mà còn là trách nhiệm của toàn thể nhân dân.
Trong bài thảo luận này, chúng ta sẽ cùng tìm hiểu về thực trạng, nguyên nhân và tác
động của sự chênh lệch trình độ phát triển giữa các dân tộc, đồng thời đề xuất các giải
pháp thiết thực nhằm xây dựng một khối đại đoàn kết dân tộc vững mạnh, đảm bảo sự
phát triển bền vững cho đất nước. 4 NỘI DUNG
CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ THUYẾT VỀ VẤN ĐỀ DÂN TỘC
1.1. Khái niệm, đặc trưng cơ bản của dân tộc
Khái niệm và đặc trưng Dân tộc được hiểu theo hai nghĩa cơ bản:
- Theo nghĩa rộng, dân tộc (Nation) là khái niệm dùng để chỉ một cộng đồng
người ổn định làm thành nhân dân một nước, có lãnh thổ riêng, nền kinh tế thống nhất,
có ngôn ngữ chung và có ý thức về sự thống nhất của mình, gắn bó với nhau bởi quyền
lợi chính trị, kinh tế, truyền thống văn hóa và truyền thống đấu tranh chung trong suốt
quá trình lịch sử lâu dài dựng nước và giữ nước. Đặc trưng cơ bản:
Thứ nhất, có chung một vùng lãnh thổ ổn định.
Lãnh thổ là dấu hiệu xác định không gian sinh tồn, vị trí địa lý của một dân tộc,
biểu thị vùng đất, vùng trời, vùng biển mà mỗi dân tộc được quyền sở hữu. Lãnh thổ là
yếu tố thể hiện chủ quyền của một dân tộc trong tương quan với các quốc gia, dân tộc
khác. Trên không gian đó, các cộng đồng tộc người có mối quan hệ gắn bó với nhau,
cư trú đan xen với nhau. Vận mệnh của cộng đồng tộc người gắn bó với việc xác lập
và bảo vệ lãnh thổ quốc gia.
Đối với quốc gia và từng thành viên dân tộc, yếu tố lãnh thổ là linh thiêng nhất.
Không có lãnh thổ thì không có khái niệm tổ quốc, quốc gia. Bảo vệ chủ quyền quốc
gia là nghĩa vụ và trách nhiệm cao nhất của mỗi thành viên dân tộc. Đặc trưng này
muốn chỉ vận mệnh dân tộc một phần rất quan trọng gắn với việc xác lập và bảo vệ
lãnh thổ đất nước. Mỗi dân tộc có lãnh thổ riêng thống nhất, không bị chia cắt.
Thứ hai, có chung một phương thức sinh hoạt kinh tế.
Đây là nét đặc trưng quan trọng nhất của dân tộc, là cơ sở để gắn kết các bộ
phận, các thành viên trong dân tộc, tạo nên tính thống nhất, ổn định, bền vững của dân
tộc. Mối quan hệ kinh tế là nền tảng cho sự vững chắc của cộng đồng dân tộc. Nếu
thiếu tính cộng đồng chặt chẽ, bền vững về kinh tế thì cộng đồng người chưa thể trở thành dân tộc. 5
Về mục tiêu của kinh tế thị trường Việt Nam định hướng xã hội chủ nghĩa: Phát
triển lực lượng sản xuất, xây dựng cơ sở vật chất cho chủ nghĩa xã hội, thực hiện dân
giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh. “Mục đích của nền kinh tế thị trường
định hướng xã hội chủ nghĩa là phát triển lực lượng sản xuất, phát triển kinh tế để xây
dựng cơ sở vật chất - kỹ thuật của chủ nghĩa xã hội, nâng cao đời sống nhân dân”. Nền
kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa phát huy tính tích cực, chủ động, sáng
tạo của nhân dân trong phát triển kinh tế - xã hội. Nhà nước quản lý bằng chính sách,
pháp luật, chiến lược, quy hoạch; sử dụng cơ chế thị trường để giải phóng sức sản xuất.
Thứ ba, có chung ngôn ngữ làm công cụ giao tiếp.
Mỗi một dân tộc có ngôn ngữ riêng, bao gồm cả ngôn ngữ nói và ngôn ngữ viết,
làm công cụ giao tiếp giữa các thành viên trên mọi lĩnh vực kinh tế, văn hóa, xã hội và
tình cảm… Trong một quốc gia có nhiều cộng đồng tộc người, với các ngôn ngữ khác
nhau, nhưng bao giờ cũng sẽ có một ngôn ngữ chung, thống nhất. Tính thống nhất
trong ngôn ngữ dân tộc được thể hiện trước hết ở sự thống nhất về cấu trúc ngữ pháp
và kho từ vựng cơ bản. Ngôn ngữ dân tộc là một ngôn ngữ đã phát triển và sự thống
nhất về ngôn ngữ là một trong những đặc trưng chủ yếu của dân tộc.
Ví dụ: Khoảng thế kỷ thứ 10, người Việt đã "sáng chế" ra thứ chữ Việt bằng cách
mượn chữ Hán mà viết, gọi là chữ Nôm (nghĩa là Nam, sau gọi là quốc âm). Song nếu
chữ Hán khó một thì chữ Nôm khó mười. Bởi phải biết và giỏi chữ Hán mới có thể
viết được, học được chữ Nôm. Đối với người Việt học chữ Nôm đã khó, với người
ngoại quốc xa lạ với chữ tượng hình thì chữ Nôm càng khó. Vẫn có thể học được, viết
được nhưng không thể phổ biến rộng được. Chính vì vậy các giáo sĩ đã nghĩ đến việc
Latin hóa tiếng Việt bằng mẫu tự Latin, mà ngày xưa gọi là "chữ Annam viết bằng mẫu tự Latin".
Thứ tư, có chung một nền văn hóa và tâm lý.
Văn hóa dân tộc được biểu hiện thông qua tâm lý, tính cách, phong tục, tập quán,
lối sống dân tộc, tạo nên bản sắc riêng của từng dân tộc. Văn hóa dân tộc gắn bó chặt
chẽ với văn hóa của các cộng đồng người trong một quốc gia. Văn hóa là một yếu tố
đặc biệt quan trọng của sự liên kết cộng đồng. Mỗi dân tộc có một nền văn hóa độc
đáo của dân tộc mình. Trong sinh hoạt cộng đồng, các thành viên của dân tộc thuộc 6
những thành phần xã hội khác nhau tham gia vào sự sáng tạo giá trị văn hóa chung của
dân tộc, đồng thời hấp thụ các giá trị văn hóa chung đó.
Ví dụ: Văn hóa Việt Nam là sự tổng hòa các giá trị văn hóa của 54 dân tộc anh
em, trong đó có những tộc người sống trên lãnh thổ Việt Nam, có những dân tộc chỉ có
số lượng vài trăm người, có những dân tộc có hàng triệu người nhưng các dân tộc luôn
coi nhau như anh em một nhà, thương yêu đùm bọc lẫn nhau, chung một văn hóa,
chung sức xây dựng bảo vệ Tổ quốc như lời Bác Hồ đã căn dặn trong thư gửi Đại hội
các dân tộc thiểu số: “Đồng bào Kinh hay Thổ, Mường hay Mán, Gia Rai, Ê Đê, Xê
Đăng hay Ba Na và các dân tộc thiểu số khác, đều là con cháu Việt Nam, đều là anh
em ruột thịt. Chúng ta sống chết có nhau, sướng khổ cùng nhau, no đói giúp nhau.
Sông có thể cạn, núi có thể mòn, nhưng lòng đoàn kết của chúng ta không bao giờ
giảm bớt. Chúng ta quyết góp chung lực lượng lại để giữ vững quyền tự chủ của chúng ta”.
Thứ năm, có chung một nhà nước (Nhà nước dân tộc)
Các thành viên cũng như các cộng đồng người trong một dân tộc đều chịu sự
quản lý, điều khiển của một nhà nước độc lập. Đây là yếu tố phân biệt dân tộc - quốc
gia và dân tộc - tộc người. Dân tộc - tộc người trong một quốc gia không có nhà nước
với thể chế chính trị riêng. Hình thức tổ chức, tính chất của nhà nước do chế độ chính
trị của dân tộc, là đại diện cho dân tộc trong quan hệ với các quốc gia dân tộc khác trên thế giới.
Ví dụ: Trên toàn bộ lãnh thổ Việt Nam, 54 dân tộc anh em như “cây một cội, như
con một nhà” tuy khác nhau về dân tộc nhưng mọi người đều là con dân Việt Nam, đều
đấu tranh hết mình vì tương lai của đất nước, từ Nam vô Bắc một lòng vì sự phát triển
của đất nước, 54 dân tộc nhưng chỉ một đảng, luôn tương thân, tương ái giúp đỡ lẫn
nhau, xây dựng một quốc gia vững mạnh.
- Theo nghĩa hẹp, dân tộc là khái niệm dùng để chỉ một cộng đồng tộc người
được hình thành trong lịch sử, có mối liên hệ chặt chẽ và bền vững, có chung ý thức tự
giác tộc người, ngôn ngữ và văn hóa. Cộng đồng này xuất hiện sau bộ lạc, bộ tộc, kế
thừa và phát triển cao hơn những nhân tố tộc người của các cộng đồng đó. Đặc trưng cơ bản: 7
Cộng đồng về ngôn ngữ (bao gồm ngôn ngữ nói, ngôn ngữ viết; hoặc chỉ riêng ngôn ngữ nói)
Đây là tiêu chí cơ bản để phân biệt các tộc người khác nhau và là vấn đề luôn
được các dân tộc coi trọng giữ gìn. Tuy nhiên, trong quá trình phát triển tộc người, vì
nhiều nguyên nhân khác nhau, có những tộc người không còn ngôn ngữ mẹ đẻ mà sử
dụng ngôn ngữ khác làm công cụ giao tiếp.
Rất nhiều tộc người ở Việt Nam có ngôn ngữ riêng từ nhiều nguồn gốc khác
nhau. Ví dụ như ngôn ngữ dân tộc Thái trong ngữ hệ Thái - Kađai vẫn thường xuyên
được sử dụng trong cộng đồng người Thái ở Việt Nam. Có rất nhiều sách Thái cổ ghi
lại những phong tục tập quán, lễ nghi, ca dao tục ngữ, các bài cúng và sách về các bài
thuốc chữa bệnh dân gian. Khác với dân tộc Thái, dân tộc Mường không có chữ viết
riêng, và cũng do sự trộn lẫn dân cư Việt và Mường nên ngôn ngữ của dân tộc Mường
cũng có nhiều điểm tương đồng với ngôn ngữ Việt. Điều này càng làm ngôn ngữ trở nên phong phú hơn.
Cộng đồng về văn hóa
Văn hóa bao gồm văn hóa vật thể và văn hóa phi vật thể ở mỗi tộc người, phản
ánh truyền thống, lối sống, phong tục tập quán, tín ngưỡng, tôn giáo của tộc người đó.
Lịch sử phát triển của các tộc người gắn liền với truyền thống văn hóa của họ. Ngày
nay, cùng với xu thế giao lưu văn hóa vẫn song song tồn tại xu thế bảo tồn và phát huy
bản sắc văn hóa của mỗi tộc người.
Sự chia sẻ văn hóa trong cộng đồng và sự khác biệt về văn hóa so với các tộc
người khác được thể hiện ở mọi mặt ở cuộc sống. Một ví dụ rõ ràng nhất là cách mà
các dân tộc ăn Tết truyền thống của dân tộc mình. Dân tộc Chăm có hai ngày lễ lớn
nhất là Păng-Katê và Păng-Chabư, khi đó người dân tộc Chăm sẽ tổ chức lễ cúng gồm
hoa quả, bánh trái đủ loại, cúng cơm, rượu và thịt. Ba nghi lễ gồm các thầy vừa kéo
đờn Kanhi (đờn mai rùa) vừa xướng văn tế lễ còn các bà Bóng thì lo dâng rượu và múa
mừng. Hay như người Ê Đê đón Tết Cơm mới vào mùa lúa chín vàng cả nương rẫy.
Mỗi gia đình sẽ ăn mừng mùa lúa chín với lễ vật đặt ở giữa nhà gồm một hay hai chóe
rượu cần buộc chặt vào gốc cột và vài dĩa cơm. Gia chủ hay thầy cúng sẽ khấn vái các
vị thần để xin cho mỗi năm lúa được đầy vựa. 8
Ý thức tự giác tộc người
Đây là tiêu chí quan trọng nhất để phân định một tộc người có vị trí quyết định
đối với sự tồn tại và phát triển của mỗi tộc người. Đặc trưng nổi bật là các tộc người
luôn tự ý thức về nguồn gốc, tộc danh của dân tộc mình; đó còn là ý thức tự khẳng
định sự tồn tại và phát triển của mỗi tộc người dù cho có những tác động làm thay đổi
địa bàn cư trú, lãnh thổ, hay tác động ảnh hưởng của giao lưu kinh tế, văn hóa… Sự
hình thành và phát triển của ý thức tự giác tộc người liên quan trực tiếp đến các yếu tố
của ý thức, tình cảm, tâm lý tộc người. Ý thức tự giác tộc người có tính độc lập cao.
Dẫu cho lãnh thổ bị ngăn cách, văn hóa bị đứt gãy, thậm chí cả ngôn ngữ mẹ đẻ bị mất
đi thì ý thức tự giác tộc người vẫn được duy trì. Khi có ý thức về tộc người, một người
sẽ luôn biết rõ được cộng đồng mà mình thuộc về, khi đó, dân tộc tộc người vẫn sẽ
trường tồn dù không có biểu hiện cụ thể về lãnh thổ hay bị chịu ảnh hưởng từ những
yếu tố tác động bên ngoài.
Thực chất, hai cách hiểu về khái niệm dân tộc tuy không đồng nhất nhưng lại gắn
bó mật thiết với nhau, không tách rời nhau. Dân tộc quốc gia bao hàm dân tộc tộc
người; dân tộc tộc người là bộ phận hình thành dân tộc quốc gia. Dân tộc tộc người ra
đời trong những quốc gia nhất định và thông thường những nhân tố hình thành dân tộc
tộc người không tách rời với những nhân tố hình thành quốc gia.
1.2. Chủ nghĩa Mác - Lênin về vấn đề dân tộc
1.2.1. Hai xu hướng khách quan của sự phát triển quan hệ dân tộc
- Nghiên cứu vấn đề dân tộc, V.I.Lênin phát hiện ra hai xu hướng khách quan
trong sự phát triển quan hệ dân tộc:
+ Xu hướng thứ nhất: Cộng đồng dân cư muốn tách ra để hình thành cộng đồng dân tộc độc lập.
Nguyên nhân: Do sự thức tỉnh, sự trưởng thành về ý thức dân tộc, về quyền sống
của mình, các cộng đồng dân cư muốn tách ra thành lập các dân tộc độc lập.
Xu hướng này thể hiện rõ nét trong phong trào đấu tranh giành độc lập dân tộc
của các dân tộc thuộc địa và phụ thuộc muốn thoát khỏi sư áp bức, bóc lột của các
nước thực dân, đế quốc. 9
+ Xu hướng thứ hai: Các dân tộc trong từng quốc gia, thậm chí các dân tộc ở
nhiều quốc gia muốn liên hiệp lại với nhau.
Nguyên nhân: Xu hướng này nổi lên trong giai đoạn chủ nghĩa tư bản chuyển
sang giai đoạn đế quốc chủ nghĩa, do sự phát triển của lực lượng sản xuất, khoa học –
công nghệ, của giao lưu kinh tế và văn hóa trong xã hội tư bản chủ nghĩa làm xuất hiện
nhu cầu xóa bỏ hàng rào ngăn cách giữa các dân tộc, thúc đẩy các dân tộc xích lại gần nhau.
- Biểu hiện của hai xu hướng khách quan trong thời đại ngày nay: + Trong phạm vi quốc gia:
Xu hướng thứ nhất thể hiện trong sự nỗ lực của từng tộc người để đi tới sự tự do, bình đẳng và phồn vinh.
Ví dụ: Các dân tộc thiểu số ở Việt Nam, như người H'Mông, Dao, Tày, đang nỗ
lực phát triển kinh tế, văn hóa và giáo dục thông qua các chính sách hỗ trợ của chính
phủ nhằm đảm bảo quyền tự do và bình đẳng. Các khu vực miền núi được đầu tư cơ sở
hạ tầng, trường học và bệnh viện để nâng cao mức sống, thể hiện sự nỗ lực của từng
tộc người trong việc đạt đến tự do và phồn vinh.
Xu hướng thứ hai thể hiện ở sự xuất hiện những động lực thúc đẩy các dân tộc
trong một cộng đồng quốc gia xích lại gần nhau, hòa hợp với nhau ở mức độ cao hơn
trên mọi lĩnh vực của đời sống xã hội.
Ví dụ: Tại Việt Nam, các lễ hội văn hóa vùng miền như Lễ hội Chợ tình Khâu
Vai (Hà Giang) hay Lễ hội Đua thuyền Bạch Đằng (Quảng Ninh) đã thu hút đông đảo
người dân từ khắp cả nước tham gia. Điều này không chỉ tôn vinh bản sắc văn hóa
riêng của mỗi tộc người mà còn thể hiện sự gắn kết giữa các dân tộc, làm tăng cường
sự hòa hợp và đoàn kết trong xã hội. Các dân tộc cùng chung tay xây dựng đất nước
phát triển trên mọi lĩnh vực, từ kinh tế đến văn hóa. + Trong phạm vi quốc tế:
Xu hướng thứ nhất thể hiện trong phong trào giải phóng dân tộc nhằm chống lại
chủ nghĩa đế quốc và chống chính sách thực dân đô hộ dưới mọi hình thức. Độc lập
dân tộc chính là mục tiêu chính trị chủ yếu của mọi quốc gia trong thời đại ngày nay.
Độc lập tự chủ của mỗi dân tộc là xu hướng khách quan, là chân lý của thời đại. 10
Ví dụ: Phong trào đấu tranh giành độc lập của các nước thuộc địa châu Phi trong
thế kỷ 20, như Nam Phi, Algeria và Angola, là minh chứng cho xu hướng các dân tộc
chống lại ách đô hộ thực dân. Các quốc gia này đã nỗ lực giành lại chủ quyền từ những
cường quốc thực dân như Pháp, Anh và Bồ Đào Nha, thể hiện quyền độc lập dân tộc
và sự tự chủ trong lựa chọn con đường phát triển chính trị và kinh tế của họ.
Xu hướng thứ hai thể hiện ở xu thế các dân tộc muốn xích lại gần nhau, hợp tác
với nhau để hình thành liên minh dân tộc ở phạm vi khu vực hoặc toàn cầu.
Ví dụ: Liên minh châu Âu (EU) là một minh chứng rõ ràng cho xu hướng các
quốc gia, dân tộc muốn xích lại gần nhau và hợp tác toàn diện. Các quốc gia trong EU
không chỉ hợp tác về kinh tế mà còn thiết lập các thỏa thuận chung về chính trị, an
ninh và văn hóa. Xu hướng này thúc đẩy các quốc gia vượt qua ranh giới lịch sử, hợp
tác để cùng phát triển, tạo ra một cộng đồng khu vực thịnh vượng và hòa bình.
- Mối quan hệ: Hai xu hướng khách quan của sự phát triển dân tộc có sự thống
nhất biện chứng với nhau trong tiến trình phát triển của mỗi quốc gia và của toàn nhân loại.
1.2.2. Cương lĩnh dân tộc của chủ nghĩa Mác - Lênin
- Căn cứ đề ra Cương lĩnh dân tộc:
+ Quan điểm của chủ nghĩa Mác về mối quan hệ giữa dân tộc và giai cấp;
+ Sự phân tích hai xu hướng khách quan của sự phát triển các dân tộc;
+ Kinh nghiệm của cách mạng thế giới và thực tiễn cách mạng Nga. - Nội dung Cương lĩnh:
+ Các dân tộc hoàn toàn bình đẳng:
Đây là quyền thiêng liêng của các dân tộc, không phân biệt lớn hay nhỏ, trình độ phát triển cao hay thấp.
Các dân tộc đều có nghĩa vụ và quyền lợi ngang nhau trên tất cả các lĩnh vực của
đời sống xã hội, không dân tộc nào được giữ đặc quyền, đặc lợi.
Trong quan hệ xã hội và quan hệ quốc tế, không dân tộc nào có quyền đi áp bức,
bóc lột dân tộc khác. Trong quốc gia đa dân tộc, quyền bình đẳng dân tộc phải được
thể hiện trên cơ sở pháp lý và trên thực tế. 11
Để thực hiện quyền bình đẳng phải thủ tiêu tình trạng áp bức giai cấp, áp bức dân
tộc, đấu tranh chống chủ nghĩa phân biệt chủng tộc, chủ nghĩa dân tộc cực đoan.
Ví dụ: Tại Việt Nam, chính sách dân tộc khẳng định quyền bình đẳng của 54 dân
tộc anh em. Trong giáo dục, trẻ em dân tộc thiểu số được hưởng chính sách miễn giảm
học phí, học bổng, hỗ trợ sách giáo khoa để đảm bảo quyền tiếp cận giáo dục ngang
bằng với trẻ em dân tộc Kinh.
+ Các dân tộc có quyền tự quyết:
Là quyền của các dân tộc tự quyết định lấy vận mệnh của dân tộc mình, quyền tự
lựa chọn chế độ chính trị và con đường phát triển của dân tộc mình.
Bao gồm quyền tự do phân lập thành cộng đồng quốc gia dân tộc độc lập và
quyền tự nguyện liên hiệp với các dân tộc khác trên cơ sở bình đẳng.
Thực hiện quyền dân tộc tự quyết phải xuất phát từ thực tiễn - cụ thể và phải
đứng vững trên lập trường của giai cấp công nhân, đảm bảo sự thống nhất giữa lợi ích
dân tộc và lợi ích của giai cấp công nhân.
Quyền tự quyết dân tộc không đồng nhất với “quyền” của các tộc người thiểu số
trong một quốc gia đa tộc người, nhất là việc phân lập thành quốc gia độc lập. Vì vậy,
cần đấu tranh chống lại mọi âm mưu, thủ đoạn của các thế lực phản động, thù địch lợi
dụng chiêu bài “dân tộc tự quyết” để can thiệp vào công việc nội bộ của các nước hoặc
kích động ly khai dân tộc.
Ví dụ: Nhân dân Đông Timor đã thực hiện quyền tự quyết của mình khi chọn con
đường tách khỏi Indonesia và thành lập một quốc gia độc lập vào năm 2002. Quyền
này cho phép họ lựa chọn chế độ chính trị và con đường phát triển riêng, phù hợp với
nguyện vọng của dân tộc.
+ Liên hiệp công nhân tất cả các dân tộc:
Phản ánh sự thống nhất giữa giải phóng dân tộc và giải phóng giai cấp; sự gắn bó chặt
chẽ giữa chủ nghĩa yêu nước và chủ nghĩa quốc tế chân chính.
Là cơ sở vững chắc để đoàn kết các tầng lớp nhân dân lao động thuộc các dân tộc
trong cuộc đấu tranh chống chủ nghĩa đế quốc vì độc lập dân tộc và tiến bộ xã hội. 12
Đây vừa là nội dung chủ yếu vừa là giải pháp quan trọng để liên kết các nội dung
của Cương lĩnh dân tộc thành chỉnh thể thống nhất.
Ví dụ: Trong thời kỳ chống Mỹ cứu nước tại Việt Nam, phong trào đấu tranh của
công nhân Việt Nam và quốc tế đã có sự liên kết chặt chẽ. Công nhân các nước xã hội
chủ nghĩa, như Liên Xô và Trung Quốc, đã gửi viện trợ và hỗ trợ tinh thần cho công
nhân Việt Nam trong cuộc đấu tranh giành độc lập dân tộc. Điều này minh chứng cho
sự đoàn kết giữa các giai cấp lao động ở nhiều quốc gia trong cuộc chiến chống lại đế quốc.
- Ý nghĩa của Cương lĩnh: là cơ sở lý luận quan trọng để các Đảng Cộng sản vận
dụng thực hiện chính sách dân tộc trong quá trình đấu tranh giành độc lập dân tộc và
xây dựng chủ nghĩa xã hội.
1.3. Dân tộc và quan hệ dân tộc ở Việt Nam
1.3.1. Đặc điểm dân tộc Việt Nam
Sự chênh lệch về số dân giữa các tộc người
Việt Nam là quốc gia có 54 dân tộc. Theo Bảng khảo sát “Dân số trung bình cả
nước và dân số dân tộc thiểu số” (Nguồn: Trung tâm Quyền của người dân tộc thiểu số
và miền núi (HRC)), có thể thấy dân tộc Kinh chiếm 85,4% dân số cả nước.
Trong 14,6% còn lại, có một vài dân tộc với số lượng vượt mức 1 triệu người như
Tày, Thái, Mường… Trong khi đó, sự chênh lệch đáng kể khi chỉ vỏn vẹn chưa tới 1
nghìn người thuộc các dân tộc SiLa, Pu péo, Rơ măm, Brâu, Ơ Đu.
Các dân tộc cư trú xen kẽ nhau
Một trong những đặc điểm nổi bật của các tộc người ở Việt Nam là cư trú phân
tán và xen kẽ. Hay nói cách khác, ở Việt Nam không có khu vực tụ cư riêng của 1 dân
tộc, mà các dân tộc cư trú theo hình thái đan xen giữa các dân tộc thiểu số với dân tộc
đa số (Kinh), giữa các dân tộc thiểu số này với dân tộc thiểu số khác. Cư trú xen kẽ
bao gồm cả ở cấp độ quốc gia, tỉnh, huyện, thậm chí ở ngay trong một bản/mường. Cư
trú xen kẽ có nơi đã hình thành từ lâu đời, có nơi mới hình thành gắn với quá trình di cư, nhập cư.
Dân tộc thiểu số phân bố chủ yếu ở địa bàn có vị trí chiến lược quan trọng 13
Tại Hội thảo “Chính sách đất đai cho đồng bào dân tộc thiểu số ở Việt Nam –
Một số tồn tại, hạn chế và những khuyến nghị”, do Hội đồng Dân tộc và Liên hiệp các
Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam tổ chức năm 2021 đề cập: Địa bàn cư trú của các
dân tộc thiểu số phần lớn là miền núi, chiếm ¾ diện tích cả nước, chủ yếu tập trung ở
vùng miền núi, trung du phía Bắc, Duyên hải miền Trung, Tây Nguyên và khu vực Nam Bộ.
Đây là những địa bàn có vị trí chiến lược, quan trọng về chính trị, an ninh - quốc
phòng và tài nguyên thiên nhiên của đất nước. Nhưng cũng là vùng có cấu tạo địa chất,
tự nhiên phức tạp, có độ dốc cao, chia cắt, cơ sở hạ tầng khó khăn, tập trung chủ yếu là
các xã nghèo, huyện nghèo và người nghèo.
Trình độ phát triển không đều
Do hoàn cảnh lịch sử và điều kiện địa lý nên cộng đồng các dân tộc Việt Nam có
trình độ phát triển không đều về kinh tế, văn hóa, xã hội, đời sống dân trí và các hoạt
động xã hội. Đặc biệt, các cộng đồng dân tộc thiểu số sống ở vùng sâu, vùng núi cao,
điều kiện phát triển kinh tế - xã hội còn gặp nhiều khó khăn.
Trong những năm qua, Đảng và Nhà nước ta chú trọng ban hành, triển khai thực
hiện nhiều kế hoạch, chương trình, giải pháp thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội, không
ngừng cải thiện, nâng cao đời sống của đồng bào dân tộc thiểu số và đạt được nhiều
kết quả quan trọng. Tuy nhiên so với mặt bằng chung của cả nước, đời sống của đồng
bào dân tộc thiểu số hiện nay vẫn còn nhiều khó khăn. Kinh tế - xã hội vùng dân tộc
thiểu số phát triển chậm, việc thoát nghèo vùng dân tộc thiểu số còn chưa bền vững,
khoảng cách giàu, nghèo có xu hướng gia tăng.
Đoàn kết gắn bó lâu dài
Trong quá trình hình thành và phát triển của lịch sử dân tộc đã hình thành và phát
triển giá trị văn hóa đoàn kết. Đó là thành quả văn hóa của dân tộc ta trong lịch sử mấy
ngàn năm tồn tại và phát triển. Lịch sử dân tộc ta đã chứng minh rằng, đoàn kết là một
giá trị văn hóa truyền thống tạo nên sức mạnh vô địch, đưa nước ta, dân tộc ta vượt
qua mọi khó khăn, thách thức, giành hết thắng lợi này đến thắng lợi khác, lập nên những kỳ tích vẻ vang. 14
Ví dụ như giữa lúc người dân căng mình trong cuộc chiến chống bão số 3 cũng là
lúc tinh thần tương thân tương ái, lá lành đùm lá rách được thể hiện rõ nhất. Hàng
ngàn người dân không chỉ đối phó với thiệt hại cho chính mình mà còn cùng nhau hỗ
trợ cộng đồng, từ việc cứu trợ vật chất đến tinh thần. Những hành động này thể hiện rõ
ràng giá trị văn hóa "lá lành đùm lá rách", nơi người có điều kiện hơn sẵn sàng giúp đỡ
người khó khăn, cùng nhau vượt qua thiên tai.
Thêm nữa, các đoàn thể, tổ chức từ thiện, và lực lượng cứu hộ thường xuyên xuất
hiện, cứu trợ những người chịu ảnh hưởng nặng nề nhất từ bão, cùng nhau sửa chữa
nhà cửa, cung cấp lương thực và nước uống. Điều này không chỉ mang ý nghĩa thực tế
mà còn củng cố tinh thần đoàn kết lâu dài, cho thấy sự gắn kết không thể phá vỡ giữa
người dân với nhau, bất kể khó khăn lớn như thế nào.
Các dân tộc có bản sắc văn hóa riêng
Sức sống của dân tộc Việt Nam nằm ở sự gắn kết với đất đai và bản sắc văn hóa
độc đáo. Mỗi dân tộc đều có những nét đặc trưng riêng, từ ngôn ngữ, phong tục, truyền
thống, cho đến trang phục và nghệ thuật. Dân tộc Kinh, tạo nền văn minh cổ xưa của
đất nước, với văn hóa phồn thịnh đã có ảnh hưởng sâu sắc đến các dân tộc khác. Trong
khi đó, dân tộc Tày, Thái, Mường, Khơ Mú, và nhiều dân tộc khác, vẫn duy trì và bảo
tồn những nét độc đáo của họ qua thế hệ.
Văn hóa của dân tộc Việt Nam không chỉ thể hiện trong các lễ hội truyền thống,
mà còn phản ánh qua nghệ thuật dân gian, âm nhạc, vũ điệu, và nghệ thuật sân khấu.
Những điệu múa quyến rũ, những bài hát truyền cảm hứng và những tác phẩm điêu
khắc tinh xảo đều là những biểu tượng của sự sáng tạo và tình yêu đất nước.
Có thể nói rằng, duy trì và phát triển đa dạng văn hóa dân tộc cũng đồng nghĩa
với việc bảo tồn và phát huy giá trị di sản văn hóa. Các truyền thống, tập tục và nghệ
thuật của từng dân tộc đều mang trong mình những giá trị văn hóa và lịch sử quan
trọng. Việc bảo tồn và truyền dạy những giá trị này cho thế hệ sau là đảm bảo rằng dân
tộc Việt Nam sẽ không bị mất đi một phần quan trọng của danh dự và tư duy văn hóa của mình.
Ngoài ra, việc phát triển đa dạng văn hóa dân tộc còn mang lại lợi ích kinh tế và
du lịch. Văn hóa dân tộc đặc trưng và các lễ hội truyền thống thu hút sự quan tâm của 15
du khách trong và ngoài nước. Việc phát triển các sản phẩm và trải nghiệm du lịch dựa
trên nền văn hóa dân tộc không chỉ giúp tạo nên nguồn thu kinh tế mới mà còn thúc
đẩy sự phát triển kinh tế và xã hội của các vùng dân tộc.
1.3.2. Quan điểm và chính sách dân tộc của Đảng, Nhà nước Việt Nam
Hầu hết các dân tộc thiểu số sinh sống ở miền núi cao, biên giới, vùng sâu, vùng
xa và tập trung chủ yếu ở một số tỉnh khu vực miền Bắc, Tây Nguyên, Bắc Trung bộ
và Duyên hải miền Trung, Tây Nam bộ. Cùng với việc hoạch định chính sách chung
cho cả nước, Đảng, Nhà nước ta đặc biệt quan tâm xây dựng chính sách cho vùng dân
tộc thiểu số và miền núi, luôn xác định công tác dân tộc, đoàn kết dân tộc có vị trí
chiến lược quan trọng của cách mạng Việt Nam.
Đảng ta luôn nhất quán chủ trương đẩy nhanh phát triển về mọi mặt đối với vùng
dân tộc thiểu số và miền núi, nhanh chóng thu hẹp khoảng cách phát triển so với mặt
bằng chung của cả nước, tạo điều kiện thuận lợi cho 1.673 xã khu vực I, 210 xã khu
vực II và 1.551 xã khu vực III, với 3.434 xã, phường, thị trấn thuộc vùng dân tộc thiểu
số và miền núi; nhằm nâng cao đời sống vật chất, tinh thần cho đồng bào, để từng
bước nâng cao đời sống phát triển về kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội, an ninh quốc phòng.
Quan điểm nhất quán của Đảng và Nhà nước ta về dân tộc, xuyên suốt mọi thời
kỳ cách mạng là: “Các dân tộc bình đẳng, đoàn kết, tương trợ nhau cùng phát triển”,
Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là “Nhà nước thống nhất của các dân
tộc cùng sinh sống trên đất nước Việt Nam”.
Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ X của Đảng khẳng định “Các dân tộc
trong đại gia đình Việt Nam bình đẳng, đoàn kết, tôn trọng và giúp nhau cùng tiến bộ;
cùng nhau thực hiện thắng lợi sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa, xây dựng và
bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa”. Có thể tổng kết quan điểm của Đảng và
Nhà nước ta về vấn đề dân tộc, đoàn kết dân tộc và thực hiện chính sách dân tộc ở
những nội dung cơ bản sau:
Bình đẳng giữa các dân tộc trong mọi lĩnh vực đời sống xã hội
Bình đẳng giữa các dân tộc là nội dung cốt lõi của chính sách dân tộc (Trích tạp
chí Cộng Sản). Các dân tộc không phân biệt đa số hay thiểu số, trình độ phát triển cao 16
hay thấp, đều có địa vị pháp lý ngang nhau về quyền lợi và nghĩa vụ trong mọi lĩnh
vực hoạt động của đời sống xã hội.
Quyền bình đẳng giữa các dân tộc được ghi nhận với tính chất là một nguyên tắc
hiến định trong Hiến pháp và được thể hiện thống nhất trong toàn bộ hệ thống pháp luật.
Quyền bình đẳng giữa các dân tộc, trước hết là quyền bình đẳng về chính trị,
chống mọi biểu hiện chia rẽ, kỳ thị dân tộc, dân tộc hẹp hòi, dân tộc cực đoan, tự ti dân
tộc… Đồng bào các dân tộc đều được quyền tham gia bầu cử, ứng cử vào cơ quan
quyền lực Nhà nước, làm việc trong các cơ quan Nhà nước, tham gia đóng góp ý kiến
vào các chính sách của Nhà nước.
Quyền bình đẳng về kinh tế bảo đảm sự bình đẳng trong quan hệ lợi ích giữa các
dân tộc. Nhà nước có trách nhiệm đầu tư nguồn lực để thúc đẩy việc phát triển kinh tế
đối với các dân tộc có kinh tế chậm phát triển, để cùng đạt trình độ phát triển chung
với các dân tộc khác trong cả nước.
Bình đẳng về văn hóa, xã hội bảo đảm cho việc giữ gìn và phát huy bản sắc văn
hóa của các dân tộc, làm phong phú, đa dạng nền văn hóa Việt Nam. Các dân tộc có
quyền dùng tiếng nói, chữ viết, giữ gìn bản sắc dân tộc và phát huy những phong tục,
tập quán, truyền thống và văn hóa tốt đẹp của mình. Nhà nước đầu tư cho sự nghiệp
chăm sóc và bảo vệ sức khỏe nhân dân, duy trì nòi giống, phát triển giáo dục cho đồng bào các dân tộc.
Do phần lớn các dân tộc thiểu số ở nước ta hiện nay có trình độ phát triển thấp,
nên bên cạnh việc bảo đảm quyền bình đẳng toàn diện về chính trị, kinh tế, văn hóa, xã
hội cần phải tạo điều kiện thuận lợi để cho đồng bào các dân tộc thiểu số có cơ hội
phát triển bình đẳng với các dân tộc khác. Sự quan tâm tương trợ, giúp đỡ nhau cùng
phát triển chính là thực hiện quyền bình đẳng giữa các dân tộc.
Đoàn kết dân tộc - vấn đề chiến lược cơ bản, lâu dài và cấp bách của cách
mạng Việt Nam
Nhất quán trong đường lối về đoàn kết dân tộc, Văn kiện Đại hội đại biểu toàn
quốc lần thứ X tiếp tục khẳng định quan điểm bền vững “Đảng ta luôn coi vấn đề dân 17
tộc và đoàn kết các dân tộc là vấn đề chiến lược, cơ bản, lâu dài của sự nghiệp cách mạng nước ta”.
Đồng thời, đây cũng luôn được coi là nhiệm vụ cấp bách, phải quan tâm thực
hiện. Chính sách dân tộc luôn được coi là chính sách quan trọng trong sự quan tâm của
Đảng và Nhà nước, thể hiện trên cả phương diện đối nội và đối ngoại. Dưới sự lãnh
đạo thống nhất của Đảng, các dân tộc đang phát huy truyền thống đoàn kết, cùng nhau
xây dựng đất nước với mục tiêu dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn
minh. Mỗi dân tộc trên đất nước Việt Nam đều phải có trách nhiệm chăm lo vun đắp,
củng cố, tăng cường khối đoàn kết dân tộc.
Các dân tộc tương trợ giúp đỡ nhau cùng phát triển
Hiện nay trình độ phát triển kinh tế - xã hội của các dân tộc ở nước ta vẫn còn
khoảng cách khá xa. Kinh tế ở miền núi và các vùng dân tộc thiểu số còn chậm phát
triển, nhiều nơi còn lúng túng trong chuyển dịch cơ cấu kinh tế, tập quán canh tác còn
lạc hậu, tỷ lệ đói nghèo còn cao so với bình quân chung của cả nước. Chênh lệch về
mức sống giữa các vùng, giữa các dân tộc ngày càng tăng. Chất lượng, hiệu quả giáo
dục và đào tạo ở vùng dân tộc thiểu số còn thấp. Công tác chăm sóc sức khỏe cho
đồng bào ở vùng sâu, vùng xa còn nhiều khó khăn.
Một số tập quán lạc hậu, mê tín dị đoan của dân tộc thiểu số có xu hướng phát
triển. Bản sắc tốt đẹp trong văn hóa của các dân tộc thiểu số đang bị mai một. Mức
hưởng thụ văn hóa của đồng bào còn thấp. Do đó, Đảng và Nhà nước ta đã coi tương
trợ giúp đỡ nhau cùng phát triển giữa các dân tộc là một nguyên tắc cơ bản trong chính
sách dân tộc trong thời kỳ xây dựng chủ nghĩa xã hội.
Các dân tộc có trình độ phát triển kinh tế - xã hội cao hơn có trách nhiệm giúp đỡ
các dân tộc có điều kiện phát triển kinh tế - xã hội khó khăn hơn. Tương trợ giúp đỡ
lẫn nhau không phải chỉ giúp đỡ một chiều, ngược lại chính sự phát triển của dân tộc
này là điều kiện để cho dân tộc khác cùng phát triển.
Việc đầu tư phát triển đối với các dân tộc thiểu số được thể hiện rõ ở quan
điểm chỉ đạo sau đây
Phát triển toàn diện chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội và an ninh - quốc phòng
trên địa bàn vùng dân tộc và miền núi; gắn tăng trưởng kinh tế với giải quyết các vấn 18
đề xã hội, thực hiện tốt chính sách dân tộc; quan tâm phát triển, bồi dưỡng nguồn nhân
lực; chăm lo xây dựng đội ngũ cán bộ dân tộc thiểu số; giữ gìn và phát huy những giá
trị, bản sắc văn hóa truyền thống các dân tộc thiểu số trong sự nghiệp phát triển chung
của cộng đồng dân tộc Việt Nam thống nhất.
Ưu tiên đầu tư phát triển kinh tế - xã hội ở các vùng dân tộc và miền núi, trước
hết, tập trung vào phát triển giao thông và cơ sở hạ tầng, xóa đói, giảm nghèo; khai
thác có hiệu quả tiềm năng, thế mạnh của từng vùng, đi đôi với bảo vệ bền vững môi
trường sinh thái; phát huy nội lực, tinh thần tự lực, tự cường của đồng bào các dân tộc,
đồng thời tăng cường sự quan tâm hỗ trợ của Trung ương và sự giúp đỡ của các địa phương trong cả nước.
Công tác dân tộc và thực hiện chính sách dân tộc là nhiệm vụ của toàn Đảng,
toàn dân, toàn quân, của các cấp, các ngành, của toàn bộ hệ thống chính trị
Công tác dân tộc được xác định có vị trí trọng yếu đối với sự phát triển bền vững
của đất nước trong giai đoạn phát triển mới. Do đó, toàn bộ hệ thống chính trị cần
nâng cao nhận thức, trách nhiệm của mình về vị trí, nhiệm vụ của công tác dân tộc
trong tình hình mới, coi việc quán triệt và thực hiện tốt chính sách dân tộc của Đảng là
nhiệm vụ thường xuyên và quan trọng của các cấp ủy, tổ chức đảng, chính quyền, Mặt
trận, đoàn thể từ Trung ương đến địa phương.
Đặc biệt, xây dựng, ban hành và tổ chức thực hiện các chính sách dân tộc phải
phù hợp với trình độ phát triển kinh tế - xã hội, đặc trưng văn hóa của từng vùng,
miền, đặc điểm của từng dân tộc, từng địa phương. Trong tổ chức thực hiện các chính
sách dân tộc cần có sự phân loại cụ thể để thực hiện có trọng điểm, hiệu quả, dứt điểm,
nhất là đối với những chính sách quan trọng, cấp bách, phù hợp với khả năng tiếp nhận
và sự chuẩn bị ở mỗi dân tộc, mỗi địa phương, đồng thời đáp ứng yêu cầu phát triển
của nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa và hội nhập quốc tế.
Tóm lại, nâng cao hiệu quả thực hiện các chính sách dân tộc là công việc quan
trọng, cơ bản, thường xuyên, lâu dài, đòi hỏi phải được tiến hành có lộ trình, kiên trì,
nhất quán và không ngừng đổi mới, hoàn thiện. Các chính sách dân tộc được xây dựng
và ban hành phải là động lực trực tiếp thúc đẩy bình đẳng, đoàn kết giữa các dân tộc và
phát huy vai trò, tiềm năng thật sự của mỗi dân tộc. 19 20