







Preview text:
lOMoAR cPSD| 45740413
ĐẢM BẢO CHẤT LƯỢNG TRONG ĐÀO TẠO TRỰC TUYẾN:
CÁCH HIỂU, CÁCH TIẾP CẬN VÀ MỘT SỐ KHUYẾN NGHỊ TRIỂN
KHAI ĐỐI VỚI CÁC CƠ SỞ GIÁO DỤC ĐẠI HỌC
Nguyễn Thị Nhung, Đặng Hải Đăng
Trường Đại học Mở Hà Nội
Tóm tắt: Đối với giáo dục đại học, đảm bảo chất lượng và kiểm định chất lượng, mặc
dù không mới, nhưng vẫn luôn là chủ đề mang tính thời sự không chỉ đối với các trường
đại học, các tổ chức kiểm định mà còn đối với các cơ quan quản lý nhà nước trong lĩnh
vực. Kể từ thời điểm bùng nổ đại dịch Covid-19, đào tạo trực tuyến được toàn thể xã hội
thừa nhận và coi là giải pháp thay thế cho giáo dục truyền thống tại thời điểm đó. Các
trường đại học cũng nhận ra giáo dục trực tuyến cũng là một kênh tuyển sinh tiềm năng và
cũng đã bắt tay vào xây dựng các chương trình, khóa học trực tuyến. Khi số lượng chương
trình, khóa học được triển khai một cách đại trà và được đông đảo người học tham gia thì
vấn đề đặt ra là kiểm soát chất lượng của loại hình đào tạo này như thế nào. Bài viết này
phân tích cách hiểu, tiếp cận và chuẩn bị các điều kiện đảm bảo chất lượng, tiến tới sẵn
sàng thực hiện theo các yêu cầu của tổ chức kiểm định và cơ quan quản lý nhà nước dưới
góc độ của các cơ sở giáo dục đại học đối với đào tạo trực tuyến.
Từ khóa: Đảm bảo chất lượng, kiểm định chất lượng, giáo dục đại học, đào tạo từ
xa, đào tạo trực tuyến. 1. Đặt vấn đề
Việt Nam và các nước trong khu vực ASEAN có cùng xuất phát điểm về triển khai
đảm bảo chất lượng trong giáo dục đại học. Kể từ những năm đầu của thập niên 2000, các
cơ quan quản lý nhà nước ở các quốc gia trong Khối được thành lập một cách gần như đồng
thời. Tiếp đó các hành lang pháp lý, văn bản quy phạm pháp luật về đảm bảo và kiểm định
chất lượng được ban hành, các tổ chức kiểm định được mở ra và những cơ sở giáo dục,
chương trình đào tạo đầu tiên được đưa vào kiểm định thử nghiệm. Tính đến thời điểm hiện
nay, hầu như tất cả các cơ sở giáo dục đại học tại Việt Nam đều đã trải qua hai chu kỳ kiểm
định cơ sở giáo dục. Kiểm định chất lượng chương trình đào tạo cũng được các cơ sở giáo
dục đại học khẩn trương triển khai. Theo điểm a) khoản 3 Điều 1 của Thông tư 10/2023/TT-
BGD ĐT quy định về xét tuyển chỉ tiêu tuyển sinh đại học, thạc sĩ, tiến sĩ thì chỉ tiêu tuyển
sinh có sử dụng kết quả kiểm định cơ sở đào tạo. Điểm c) khoản 3 Điều 1 của Thông tư
này cũng nêu rõ “Chỉ tiêu tuyển sinh đại học của lĩnh vực không được tăng so với năm
tuyển sinh trước liền kề với năm xác định chỉ tiêu và tổ chức tuyển sinh của lĩnh vực đó
nếu tỉ lệ sinh viên tốt nghiệp trình độ đại học có việc làm trong khoảng thời gian 12 tháng lOMoAR cPSD| 45740413
kể từ khi được công nhận tốt nghiệp của lĩnh vực đó đạt dưới 80% hoặc tỷ lệ thực hiện chỉ
tiêu tuyển sinh của lĩnh vực đó đạt dưới 80%, trừ trường hợp ngành đào tạo có chương trình
đào tạo được công nhận đạt tiêu chuẩn kiểm định chất lượng được tính chỉ tiêu riêng”. Đây
là một chế tài mạnh, do vậy việc kiểm định cơ sở giáo dục và chương trình đào tạo có thể
coi như là yêu cầu bắt buộc phải thực hiện nếu nhà trường muốn duy trì hay tăng chỉ tiêu
tuyển sinh. Tuy nhiên, chất lượng là một phạm trù rộng và cần phải có góc nhìn đa chiều
từ các bên liên quan. Đảm bảo chất lượng, trước hết, phải là nhu cầu tự thân của cơ sở giáo
dục nhằm nâng cao tính cạnh tranh. Tiếp đó, đảm bảo chất lượng là yêu cầu và áp lực của
thị trường lao động và xã hội lên ngành giáo dục. Trên hết, đảm bảo chất lượng trong giáo
dục là quá trình cải tiến liên tục nhằm mục đích đưa ra các sản phẩm tốt, đóng góp vào lợi ích của toàn xã hội.
2. Một số quan điểm về chất lượng trong giáo đục đại học
Chất lượng đã được đề cập nhiều trong giáo dục đại học, có thể nhóm chất lượng
thành năm loại riêng biệt nhưng có liên quan đến nhau [1], đó là: xuất sắc, hoàn hảo, là sự
phù hợp với mục đích, là lợi ích thu về so với giá trị đồng tiền bỏ ra và khả năng biến đổi
để trở nên tốt hơn. Đây cũng là các cách nhìn phổ biến khi đề cập đến chất lượng trong giáo
dục đại học. Đảm bảo chất lượng trong giáo dục thường được xem dưới góc độ phù hợp
với mục đích hoặc lợi ích thu về so với giá trị đồng tiền bỏ ra. Tùy thuộc vào các tiêu chuẩn
kiểm định khác nhau mà có những cách đặt tên và nhóm các tiêu chuẩn, nhưng tựu chung
các vấn đề về chất lượng sẽ xoay quanh các lĩnh vực sau: -Kết quả đầu ra -Chương trình đào tạo -Dạy và học
-Hỗ trợ sinh viên và giảng viên
-Kiểm tra, đánh giá và hệ thống đảm bảo chất lượng nội bộ -Quản lý -Nguồn nhân lực -Tài nguyên
-Lợi tức đầu tư và lợi ích đến kinh tế xã hội của quốc gia
Như vậy, tùy thuộc vào tầm nhìn và sứ mệnh mà từng trường sẽ hướng tới định nghĩa
nào về chất lượng. Đối với nhóm đại học tinh hoa đó có thể là xuất sắc, hoàn hảo, đối với
nhóm đại học tư thục có thể là lợi suất trên vốn đầu tư. Các khía cạnh của chất lượng không
nên nhìn nhận một cách riêng biệt mà cần phải đặt trong một phạm trù rộng lớn hơn để có
thể có cái nhìn đa chiều nhằm cân đối được các nguồn lực sẵn có để tối ưu hóa sự phát triển
của từng cơ sở giáo dục đại học.
Đối với giáo dục từ xa và trực tuyến nên chú trọng vào hai khía cạnh đó là sự phù hợp
với mục đích và khả năng biến đổi để trở nên tốt hơn. Bản chất quan trọng của đào tạo từ
xa và trực tuyến là khả năng cung cấp giáo dục cho số đông, tính linh hoạt và chi phí hợp lOMoAR cPSD| 45740413
lý do vậy khi đánh giá chất lượng của giáo dục từ xa cần phải có góc nhìn khác biệt so với
giáo dục chính quy. Các yếu tố đầu vào, đầu ra, xử lý và kết quả bản thân chúng có các đặc
tính và mục đích khác nhau, có quan hệ lẫn nhau trong quá trình vận hành có thể đánh giá
một cách định tính hoặc định lượng [2]. Các chỉ số định tính dựa vào các đánh giá phi số,
thường là dành cho quá trình và kết quả, trong khi đó các chỉ số định lượng dựa vào đầu
vào và đầu ra là các đánh giá bằng số [3]. Đây cũng là những nguyên tắc thiết kế được sử
dụng chủ yếu trong các tiêu chuẩn đảm bảo chất lượng và kiểm định chất lượng 3.
Những bước tiến trong đảm bảo chất lượng và kiểm định chất lượng
giáodục đại học tại Việt Nam
Qua hơn 10 năm thực hiện đảm bảo chất lượng của các cơ sở giáo dục đại học, tổ
chức thực hiện kiểm định cơ sở giáo dục và chương trình đào tạo của các tổ chức kiểm định
và trên hết là sự chỉ đạo, hướng dẫn, đồng hành của Bộ Giáo dục và Đào tạo, hiện nay đảm
bảo chất lượng và kiểm định chất lượng giáo dục đại học đã ngang bằng với khu vực và
từng bước tiệm cận theo chuẩn quốc tế.
Trong lĩnh vực đảm bảo chất lượng và kiểm định chất lượng giáo dục đại học có ba
loại đối tượng, có mối quan hệ qua lại lẫn nhau, chịu tác động bởi hành lang pháp lý và các
văn bản qui phạm pháp luật, đó là: Bộ Giáo dục và Đào tạo, nơi ban hành các văn bản pháp
quy và giám sát tổ chức, thực hiện; tổ chức kiểm định giáo dục là các đơn vị chịu trách
nhiệm kiểm định chất lượng giáo dục của các cơ sở giáo dục và cấp giấy chứng nhận kiểm
định chất lượng đối với các cơ sở đó nếu đạt yêu cầu; cơ sở giáo dục đại học thực hiện đảm
bảo chất lượng ở mức cơ sở giáo dục và chương trình đào tạo có yêu cầu được kiểm định chất lượng giáo dục.
Nhằm cụ thể hóa Luật Giáo dục Đại học năm 2012 (số 08/2012/QH13), Luật Giáo
dục Đại học sửa đổi và bổ sung năm 2018 (số 34/2018/QH14), Văn bản hợp nhất
42/VBHN-VPQH 2018 trong lĩnh vực bảo đảm chất lượng và kiểm định chất lượng, Bộ
Giáo dục và Đào tạo đã ban hành các văn bản pháp quy sau (theo lĩnh vực và thời gian ban hành):
Về tiêu chuẩn cơ sở giáo dục đại học:
- Thông tư 24/2015/TT-BGDĐT Quy định Chuẩn quốc gia đối với cơ sở giáo dụcđại học
- Thông tư 01/2024/TT-BGDĐT Ban hành Chuẩn cơ sở giáo dục đại họcVề tiêu
chuẩn đánh giá chất lượng giáo dục đại học:
- Quyết định số 65/2007/QĐ-BGDĐT Ban hành Quy định về tiêu chuẩn đánh giáchất
lượng giáo dục trường đại học
- Thông tư 12/2017/TT-BGDĐT Ban hành Quy định về kiểm định chất lượng cơ sởgiáo dục đại học
Về tiêu chuẩn đánh giá chương trình đào tạo: lOMoAR cPSD| 45740413
- Thông tư số 04/2015/TT-BGDĐT Ban hành Quy định về tiêu chuẩn đánh giá
chấtlượng chương trình đào tạo các trình độ của giáo dục đại học.
- Thông tư số 39/2020/TT-BGDĐT Ban hành Quy định về tiêu chuẩn đánh giá
chấtlượng chương trình đào tạo từ xa trình độ đại học.
Về việc giám sát, đánh giá tổ chức kiểm định:
- Thông tư số 13/2023/TT-BGDĐT Quy định việc giám sát, đánh giá tổ chức
kiểmđịnh chất lượng giáo dục đại học và cao đẳng sư phạm.
Về việc ứng dụng thông tin trong đào tạo trực tuyến đối với giáo dục đại học:
- Thông tư 30/2023/TT-BGDĐT Quy định về ứng dụng công nghệ thông tin trongđào
tạo trực tuyến đối với giáo dục đại học
Nếu như năm 2013, chỉ có hai trung tâm kiểm định chất lượng giáo dục đầu tiên được
thành lập thì 10 năm sau cả nước đã có tới 7 trung tâm. Trong đó, năm trung tâm công lập
trực thuộc các cơ sở giáo dục đại học, hai trung tâm kiểm định tư là Thăng Long và Sài
Gòn. Bốn tổ chức kiểm định chất lượng giáo dục giáo dục nước ngoài được cấp phép tại
Việt Nam bao gồm: FIBAA, AQAS, ASIIN, AUN-QA.
Tại mức các cơ sở giáo dục, các đơn vị quản lý, đảm bảo chất lượng được thành lập
và thực sự đóng vai trò quan trọng trong hình thành và xây dựng văn hóa hướng chất lượng
dựa trên các minh chứng thu thập. Các văn bản quy định về đảm bảo chất lượng nội bộ
cũng được các cơ sở giáo dục ban hành kịp thời để hướng đẫn các đơn vị, tổ chức trong
nhà trường triển khai thực hiện. Nếu trước đây, các hồ sơ minh chứng phục vụ công tác
kiểm định được in ra, đóng thành từng tập hồ sơ, đánh mã thì hiện nay đã được số hóa và
đưa lên trên internet giúp cho công việc của cả cơ sở giáo dục đại học và đoàn chuyên gia
kiểm định giáo dục tập hợp, lưu trữ, tìm kiếm, tra cứu, so sánh thuận tiện hơn.
Sự phát triển của kinh tế - xã hội và khoa học- kỹ thuật, một lần nữa, đã đặt giáo dục
đại học nói chung cũng như đảm bảo chất lượng và kiểm định chất lượng nói riêng sang
một giai đoạn mới. Điều này cũng phản ánh rất rõ trong tư duy thay đổi, cập nhật của cơ
quan quản lý nhà nước qua các thời kỳ. Các hành lang pháp lý liên quan đến đảm bảo chất
lượng và kiểm định chất lượng cũng được phát triển, cập nhật theo hướng hội nhập quốc
tế. Trên thực tế, các tiêu chuẩn, tiêu chí trong Thông tư 12/2017 hầu như kế thừa toàn bộ
từ Bộ chuẩn kiểm định chất lượng AUN-QA với một số thay đổi phù hợp với điều kiện Việt Nam.
Về quy định chuẩn cơ sở giáo dục đại học: Nếu thông tư 24/2015/TT-BGDĐT quy
định chuẩn quốc gia đối với cơ sở giáo dục đại học chỉ đưa ra 8 tiêu chuẩn chung chứ không
đề cập đến tiêu chí cụ thể và chủ yếu mang tính chất định tính thì Thông tư 01/2024/TT-
BGDĐT bao gồm 6 tiêu chuẩn với 20 tiêu chí với rất nhiều chỉ số mang tính chất định
lượng. Điểm quan trọng trong Thông tư 01/2024 là các tiêu chuẩn, tiêu chí là các yêu cầu
tối thiểu về điều kiện đảm bảo chất lượng. Điểm mới của Thông tư nằm ở Điều 2 “Chuẩn
cơ sở giáo dục đại học là cơ sở để thực hiện quy hoạch, sắp xếp mạng lưới cơ sở giáo dục lOMoAR cPSD| 45740413
đại học; đánh giá và giám sát các điều kiện bảo đảm chất lượng, việc thực hiện trách nhiệm
giải trình của các cơ sở giáo dục đại học theo quy định của pháp luật”.
Điểm đặc biệt của Thông tư là yêu cầu cơ sở giáo dục đại học “Cung cấp, cập nhập
đầy đủ, chính xác và nhất quán số liệu phục vụ việc xác định các chỉ số và đánh giá mức
độ đáp ứng các tiêu chí của Chuẩn cơ sở giáo dục đại học vào hệ thống cơ sở dữ liệu về
giáo dục đại học. Thời điểm chốt số liệu là ngày 31 tháng 12 hằng năm; đối với số liệu về
tài chính, thời điểm chốt số liệu là ngày 31 tháng 3 của năm tiếp theo”. Các yêu cầu này sẽ
được xử lý tập trung trên phần mềm HEMIS của Bộ để có thể cập nhật, lưu trữ, phân tích
dữ liệu và giám sát các đơn vị triển khai thu thập dữ liệu về giáo dục đại học. Có thể nói,
hệ thống phần mềm HEMIS là một bước tiến lớn trong việc áp dụng, triển khai chuyển đổi
số phục vụ công tác quản lý và khai thác cơ sở dữ liệu về giáo dục.
4. Đảm bảo chất lượng chương trình đào tạo từ xa và trực tuyến
Theo khoản 2 Điều 5 của Thông tư 28/2023/TT-BGDĐT về ban hành quy chế đào
tạo từ xa trình độ đại học thì “Cơ sở đào tạo thực hiện chương trình đào tạo từ xa đối với
những ngành đã có quyết định mở ngành đào tạo và đã tuyển sinh tối thiểu 03 khóa liên tục
theo hình thức chính quy. Không thực hiện đào tạo từ xa đối với các ngành thuộc lĩnh vực
sức khỏe có cấp chứng chỉ hành nghề và nhóm ngành đào tạo giáo viên.”.
Ngoài ra Thông tư 39/2020/TT-BGDĐT Quy định về tiêu chuẩn đánh giá chất lượng
chương trình đào tạo từ xa chương trình đào tạo là văn bản quy phạm pháp luật được cập
nhật trên cơ sở Thông tư 04/2016 với các điều chỉnh phù hợp cho đào tạo từ xa. Thông tư
quy định về tiêu chuẩn đánh giá chất lượng chương trình đào tạo từ xa trình độ đại học; đặt
ra các tiêu chuẩn cụ thể để đảm bảo chất lượng giáo dục trong môi trường đào tạo trực
tuyến, phù hợp với xu hướng phát triển của giáo dục đại học hiện đại và nhu cầu học tập
linh hoạt của người học.
Thông tư 30/2023/TT-BGDĐT Quy định về ứng dụng công nghệ thông tin trong đào
tạo trực tuyến đối với giáo dục đại học cũng nêu rõ các yêu cầu tối thiểu về các hệ thống
phần mềm đào tạo trực tuyến, quy cách, nội dung của học liệu đào tạo trực tuyến, nhân lực
triển khai đào tạo trực tuyến, hạ tầng và an toàn thông tin.
Đây là các hành lang pháp lý quan trọng để triển đảm bảo chất lượng, kiểm định chất
lượng đối với các chương trình đào tạo từ xa và trực tuyến. Thông tư 04/2016 Thông tư 39/2020
Tiêu chuẩn 1: Mục tiêu và chuẩn đầu ra của Tiêu chuẩn 1: Mục tiêu và chuẩn đầu ra của chương trình đào tạo chương trình đào tạo
Tiêu chuẩn 2: Bản mô tả chương trình đào Tiêu chuẩn 2: Bản mô tả, cấu trúc, nội dung tạo chương trình đào tạo lOMoAR cPSD| 45740413
Tiêu chuẩn 3: Cấu trúc và nội dung chương Tiêu chuẩn 3: Hoạt động dạy và học trình dạy học
Tiêu chuẩn 4: Phương pháp tiếp cận trong Tiêu chuẩn 4: Hoạt động kiểm tra, đánh giá dạy và học
kết quả học tập của người học
Tiêu chuẩn 5: Đánh giá kết quả học tập của Tiêu chuẩn 5: Đội ngũ giảng viên, nghiên người học cứu viên, trợ giảng
Tiêu chuẩn 6: Đội ngũ giảng viên, nghiên Tiêu chuẩn 6: Đội ngũ nhân viên cứu viên
Tiêu chuẩn 7: Đội ngũ nhân viên
Tiêu chuẩn 7: Người học và hoạt động hỗ trợ người học
Tiêu chuẩn 8: Người học và hoạt động hỗ Tiêu chuẩn 8: Cơ sở hạ tầng công nghệ, trợ người học
trang thiết bị và học liệu
Tiêu chuẩn 9: Cơ sở vật chất và trang thiết Tiêu chuẩn 9: Quản lý triển khai chương bị trình đào tạo
Tiêu chuẩn 10: Nâng cao chất lượng
Tiêu chuẩn 10: Bảo đảm và nâng cao chất
lượng chương trình đào tạo
Tiêu chuẩn 11: Kết quả đầu ra
Tiêu chuẩn 11: Kết quả đầu ra
Qua so sánh giữa Thông tư 04/2016 và 39/2020 thì có điểm quan trọng là Thông tư
39/2020 hướng về các “hoạt động” ở tiêu chuẩn 3 và 4, tiêu chuẩn 2 của Thông tư này là
gộp của tiêu chuẩn 2, 3 trong Thông tư 04/2016, tiêu chuẩn 8 đề cập đến cơ sở hạ tầng công
nghệ, trang thiết bị và học liệu so với tiêu chuẩn 9 trong Thông tư 04/2016 chỉ có cơ sở vật
chất và trang thiết bị, tiêu chuẩn 9 là quản lý triển khai chương trình đào tạo là hoàn toàn
mới so với Thông tư 04/2016. Nhìn chung, chương trình đào tạo từ xa đã được xây dựng
và kế thừa từ chương trình đào tạo chính quy và triển khai chủ yếu trên môi trường Mạng máy tính và viễn thông.
Trên thực tế, kể từ khi đào tạo trực tuyến nhận được sự quan tâm của toàn thể xã hội
thì đào tạo từ xa có khuynh hướng tận dụng thế mạnh của Mạng máy tính và truyền thông,
phần nhiều các học phần đào tạo từ xa đã được thực hiện theo phương thức trực tuyến. Do
chưa có các văn bản hướng dẫn cụ thể riêng cho loại hình đào tạo trực tuyến tại thời điểm
hiện nay nên có thể nói Thông tư 39/2020 là văn bản có hiệu lực áp dụng đối với đào tạo trực tuyến. lOMoAR cPSD| 45740413 5.
Một số khuyến nghị về công tác chuẩn bị cho đảm bảo chất lượng, tiến
tớithực hiện kiểm định đối với chương trình đào tạo trực tuyến dành cho cơ sở giáo dục đại học
Căn cứ theo các Thông tư số 39/2020/TT-BGDĐT, Thông tư 28/2023/TT-BGDĐT
và Thông tư 30/2023-BGDĐT, dưới đây là một số điểm quan trọng các cơ sở giáo đục đại
học cần phải thực hiện đảm bảo chất lượng, tiến tới thực hiện kiểm định các chương trình
đào tạo từ xa và trực tuyến [4].
Về hạ tầng công nghệ, hệ thống quản lý học tập (LMS), hệ thống quản trị nội dung
học tập (LCMS), các hệ thống đào tạo đồng bộ đảm bảo đáp ứng quy mô sinh viên, giúp
người dạy, cán bộ quản lý lên kế hoạch đào tạo trực tuyến, tải tài liệu, các hoạt động học
tập, giao nhiệm vụ học tập và kiểm tra đánh giá việc học tập của người học; theo dõi và hỗ
trợ người học khai thác nội dung, tư vấn, hỗ trợ trả lời câu hỏi và giải đáp thắc mắc của người học.
Về học liệu điện tử, cần phải có phần mềm quản lý tập trung, đảm bảo tính kỹ thuật,
sư phạm, tương tác, dễ dùng, có khả năng lưu lại và báo cáo các hoạt động của người học
để phục vụ các phân tích dữ liệu sau này; có đội ngũ phát triển học liệu điện tử nắm vững
các công cụ thiết kế, có khả năng xây dựng các học liệu theo tiêu chuẩn mới nhất
Về hệ thống hỗ trợ học tập, có hệ thống tổng đài (tự động hoặc thủ công) đảm bảo
giải đáp thắc mắc của người học trong thời gian ngắn nhất để không làm gián đoạn tiến độ học tập của sinh viên.
Về năng lực giảng viên: Giảng viên được đào tạo các kỹ năng số để xây dựng và thiết
kế bài giảng, có khả năng hợp tác với đội ngũ kỹ thuật để sản xuất các học liệu điện tử có chất lượng tốt.
Về trải nghiệm người dùng, các hệ thống được kết nối, đồng bộ, giảm thao tác thủ
công, cho phép các trải nghiệm của người học là trong suốt từ khâu đăng ký xét tuyển,
thanh toán, đăng ký khối lượng học tập, tham gia các hoạt động học tập, kiểm tra đánh giá,
thực hiện các thủ tục hành chính theo nhu cầu. 6. Kết luâṇ
Nhìn chung, hệ thống đảm bảo chất lượng và kiểm định chất lượng trong giáo dục đại
học của Việt Nam ngày càng được hoàn thiện, ngang bằng với khu vực và tiệm cận với
chuẩn quốc tế. Để đảm bảo chất lượng giáo dục từ xa và trực tuyến, tiến tới thực hiện kiểm
định cho các chương trình đào tạo, các cơ sở giáo dục đại học cần phải xác định lộ trình
thực hiện nghiêm túc, đầu tư một cách có bài bản vào hạ tầng công nghệ, học liệu điện tử,
đội ngũ giảng viên và đội ngũ hỗ trợ.
TÀI LIỆU THAM KHẢO
- Luật Giáo dục Đại học năm 2012 (số 08/2012/QH13).
- Luật Giáo dục Đại học sửa đổi năm 2018 (số 34/2018/QH14). lOMoAR cPSD| 45740413
- Văn bản hợp nhất 42/VBHN-VPQH 2018.
- Thông tư 28/2023/TT-BGDĐT Ban hành Quy chế đào tạo từ xa trình độ đại học.
- Thông tư 24/2015/TT-BGDĐT Quy định Chuẩn quốc gia đối với cơ sở giáo dụcđại học.
- Thông tư 01/2024/TT-BGDĐT Ban hành Chuẩn cơ sở giáo dục đại học.
- Quyết định số 65/2007/QĐ-BGDĐT Ban hành Quy định về tiêu chuẩn đánh giáchất
lượng giáo dục trường đại học.
- Thông tư 12/2017/TT-BGDĐT Ban hành Quy định về kiểm định chất lượng cơ sởgiáo dục đại học.
- Thông tư số 04/2015/TT-BGDĐT Ban hành Quy định về tiêu chuẩn đánh giá
chấtlượng chương trình đào tạo các trình độ của giáo dục đại học.
- Thông tư số 39/2020/TT-BGDĐT Ban hành Quy định về tiêu chuẩn đánh giá
chấtlượng chương trình đào tạo từ xa trình độ đại học.
- Thông tư số 13/2023/TT-BGDĐT Quy định việc giám sát, đánh giá tổ chức
kiểmđịnh chất lượng giáo dục đại học và cao đẳng sư phạm.
-Thông tư 30/2023/TT-BGDĐT Quy định về ứng dụng công nghệ thông tin trong đào
tạo trực tuyến đối với giáo dục đại học [1]
Harvey, L., & Green, D. (1993). Defining Quality. Assessment and
Evaluation inHigher Education, 18, 9-34. [2]
Borden, V., & Bottrill, K. (1994). Performance Indicators; Histories,
Definitionsand Methods. New Directions for Institutional Research, 82, 5-21. [3]
Chalmers, D., & Johnston, S. (2012). Quality Assurance and Accreditation
inHigher Education. In I. Jung & C. Latchem (Eds.), Quality Assurance and Accreditation
in Distance Education and e-Learning: Models, Policies and Research (pp. 1-12). Routledge. [4]
Mô hình giáo dục đại học trực tuyến tại Việt Nam: Trường hợp của Trường
Đạihọc Mở Hà Nội, Tạp chí Khoa học Giáo dục Việt Nam số đặc biệt tháng 01/2021.