lOMoARcPSD| 61464806
1. Sự hình thành:
1.1. Lão Tử:
- Lão Tcho rằng trước khi sinh ra trời đất thì đã tồn tại một chất sinh
huyền diệu, Đạo-bản thể. Vạn vật được sinh ra từ Đạo, tác động
với nhau, rồi lại tan biến để trở về cội nguồn là Đạo
- vi: để mọi việc thuận theo tự nhiên, không làm điều gì trái với
tự nhiên, áp dụng vào đường lối trị nước tu than -
1.2. Trang Tử:
- Tuyệt đối hóa sự vận động
- Xóa nhòa mọi ranh giới giữa con người với thiên nhiên, phải và trái,
tồn tại và hư vô.
- Căm ghét kẻ thống trị
- Yếm thế thoát tục, trở về xã hội nguyên thủy
1.3. Quá trình tôn giáo hóa đạo gia:
- Thực sự ra đời từ khoảng giữa thế kỉ II .
- Các cuộc khởi nghĩa nông dân mang màu sắc tôn giáo, tiêu biểu
Ngũ Đấu Mễ Đạo của Trương Lăng năm 141 (Tam trương Đạo giáo)
và Thái Bình Đạo của Trương Giác (184)
- Thần hóa Lão Tử lên làm giáo chủ và tôn thần của Đạo giáo
- Nhiều vị thần trong tín ngưỡng dân gian Trung Quốc được Đạo giáo
hấp thu, biến thành tôn thần Đạo giáo: Thiên Đế biến thành Ngọc
Hoàng Đại Đế; 3 vị thần thiên, địa, thủy biến thành Tam Quan; Bắc
phương thất tinh thần biến thành Huyền (Chân Vũ); các v thần
khác như Đông Nhạc đại đế, Tứ Hải Long Vương, Thành Hoàng,
Thổ Địa, Môn thần, Táo thần ban đầu đều những thần linh trong
tín ngưỡng dân gian, cuối cùng chuyển biến thành hình tượng mà cả
Đạo giáo lẫn tín ngưỡng dân gian đều thờ.
- Từ Y học tri thức vệ sinh thể dục cổ đại, đề ra phương pháp dưỡng
sinh để sống lâu
- Đạo giáo phù thủy: dùng các phép thuật trừ tà trị bệnh chủ yếu giúp
dân thường mạnh khỏe
- Đạo giáo thần tiên: dạy tu luyện, luyện đan dành cho quí tộc cầu
trường sinh bất lão
Ngoại dưỡng: dùng thuốc trường sinh luyện trong lò
Nội tu: rèn luyện thân thể, dùng các phép tịch cốc (không ăn ngũ
cốc), dưỡng sinh, khí công,…
lOMoARcPSD| 61464806
- Chính thức vị trí trong hội Trung Quốc vào thời Đông Hán (25
– 220)
- Hưng thịnh vào thời Đường Tống
2. Đạo giáo Việt Nam:
2.1. Quá trình du nhập:
- Từ cuối TK II
- Đạo giáo thần tiên được truyền một cách rất hạn hẹp trong tầng
lớp trên của xã hội, chủ yếu là quan lại Trung Quốc đô hộ:
Đổng Phụng: Năm 226 chữa cho Sĩ Nhiếp sống lại
Cát Hồng: nghe nói huyện Câu Lậu thuộc Gao Chỉ đan sa,
bèn xin làm huyện lệnh Câu Lậu. Nhưng khi đến Quảng Châu thì
thứ sử Đặng Nhạc can ngăn khuyên ông vào La Phù Sơn luyện
đan
- Đạo giáo dân gian truyền bá một cách mạnh mẽ, hội nhập một cách
tự nhiên với đời sống văn hóa của người Việt
- Được chính những đạo với tư tưởng phản kháng các nhà cầm
quyền, đi tránh rối loạn, tìm nơi yên ổn tu đạo mang vàonhững cuộc
khởi nghĩa mang màu sắc Đạo giáo
2.2. Đạo giáo phù thủy:
- Thờ Ngọc Hoàng Thượng Đế
- Thái Thượng Lão quân (Lão Tử)
- Huyền Thiên Trấn
- Đế Thích: vị thần La n giáo đã được Phật giáo biến thành thần
hộ pháp của Phật và cũng được Đạo giáo hấp thụ. Đặc biệt nước
ta, ngày mùng 9 tháng Giêng ngày sinh Đế Thích, cũng ngày
sinh Ngọc Hoàng Đế Thích chính là Ngọc Hoàng.
- Quan Thánh Đế (Quan Công)
Nhà buôn thờ như thần tài
Triều đình thờ với tư cach Vũ thần.
- Tam tôn (Tam Thanh) 3 vthần linh tối cao của Đạo giáo: Ngọc
Thanh Nguyên Thủy thiên tôn, Thượng Thanh Linh Bảo thiên tôn,
Thái Thanh Đao Đức thiên tôn.
- thờ thần Lôi Công. Trong tín ngưỡng dân gian thần Sét đánh người
tội. Trong Đạo giáo một vị thần chuyên sử dụng Lôi pháp, dùng
nội đan, bùa chú chữa bệnh, cầu mưa, cầu tạnh coi việc họa phúc
nhân gian, quyền sinh quyền sát, trừng phạt kẻ ác. Lôi pháp mang ý
lOMoARcPSD| 61464806
nghĩa mưa và thâm nhập vào Phật giáo thành tứ Pháp cùng nhau phụ
trách mưa cho nông dân. Hiện tượng Pháp Vân, pháp vũ, Pháp Lôi,
Pháp Điện, Pháp Phong một sự dung hợp của tín ngưỡng phồn
thực, Phât và Đạo giáo.
- các thần Ngũ Hổ bằng bức tranh con hhay Quan Lớn Tuần Tranh
là hai con rắn Thanh Xà và Bạch quấn trên xà nhà trước bàn thờ.
- skết hợp với tín ngưỡng dân gian, Đạo giáo còn thờ nhiều v
thần thánh khác của người Việt như:
Đức Thánh Trần:
+ Toàn Thư từng đề cập đên việc Trần Hưng Đạo trừ chữa bệnh
+ Trong thần thoại dân gian lưu truyền Trần Hưng Đạo đánh
quân Nguyên bắt được n Phạm Nhan người Việt có pháp thuật chỉ đường cho
quân Nguyên. Phạm Nhan bị giết và hồn hắn đi đâu gặp sản phụ thì lập tức hớp hồn
họ ngay. Những người đàn bà đó sẽ bị ốmliên miên, không thuốc gì chữa khỏi, khiến
họ rất sợ hãi. Những người bệnh này thường được dẫn đến đền thờ Trần Hưng Đạo,
lấy chiếu cũ trong đền, bắt thần bắt người bệnh nằm lên, rồi đem chân nhang đốt ra
tro, quậy nước cho uống thì chắc chắn sẽ khỏi. Có người mới chỉ mang chiếu từ đền
Vương về nhà thì bệnh cũng đã khỏi.
Thánh mẫu Liễu Hạnh:
+ Truyền thuyết: Tại làng Vân Cát, huyện Thiên Bản, một
người đàn ông chính trực tên Thái Công, được một người
con trai một người con gái. Khi sinh con gái, đạo đưa hồn
Thái Công lên thiên đình chứng kiến Đệ nhị tiên chủ Quỳnh
nương lỡ tay đánh rơi chén ngọc nên bị đày xuống trần. Khi
tỉnh lại, vông đã sinh ra được một đứa con gái, đặt tên là “Giáng
Tiên” (nàng Tiên hxuống trần). Nàng con gái lớn lên rất xinh
đẹp, giỏi văn chương ca nhạc hay làm thơ đánh đàn. Ông cho
nàng làm con nuôi Trần Thái công. Giáng Tiên két hôn với Đào
lang, đứa người ta nhạt được dưới gốc cây đào. Giáng Tiên
sinh được một trai một i. Giáng Tiên đột nhiên mất đi tuổi
hai mươi mốt, không triệu chứng bịnh tật cả vào ngày
mùng 3 tháng 3. Giáng Tiên về trời, được Thượng Đế phong Liễu
hạnh công chúa. Luyến tiếc trần gian nên Liễu Hạnh lại xin xuống
trần. Được cho phép, nàng quay về làng cũ thăm mẹ, rồi ra kinh
đô thăm chồng con. Sau khi trải qua một phần trong đêm với
lOMoARcPSD| 61464806
chồng, nàng biến mất. Liễu Hạnh bắt đầu chu du khắp nơi. Sau,
cha mẹ nàng chồng nàng qua đời các con nàng đã trưởng
thành. Liễu Hạnh lên Lạng Sơn ở trong chùa. Gặp Phùng Khắc
Khoan, cùng nhau xướng họa. Phùng Khắc Khoan nghe thấy
tiếng ngâm họa không thấy người, chỉ thấy trên thân cây gỗ
ngã ngang bên đường viết bốn chữ “Mão khẩu công chúa”) và kế
bên tấm biển cũng có bốn chữ: “Băng tẩu”. Các chữ trên
bài vị thứ nhất có nghĩa “bà Chúa Liễu Hạnh”; các chữ trong bài
vị thứ nhì có nghĩa là một người nào đó trong gia đình họ Phùng
sẽ sửa sang lại ngôi đền. Phùng Khắc Khoan bèn xuất tiền trùng
tu ngôi chùa. Liễu Hạnh đến kinh kỳ lại gặp Phùng Khắc
Khoan xướng họa Hồ Tây trước một quán rượu chủ nhân
lại chính bà Chúa Liễu Hạnh. Về phần bà Chúa, sau khi rời Hồ
Tây, xuất hiện tại tỉnh Nghệ An, nơi đã gặp một thư sinh
mồ côi, còn trẻ và nghèo tên Sinh, người hóa thân của người
chồng quá cố Đào Lang của bà, kết nghĩa vợ chồng, sinh hạ được
một con trai; người chồng đã thi đỗ được bổ nhiệm làm việc
tại Quốc Tử Giám. Liễu Hạnh lại trở về cung đã mãn hạn bị
đày. Liễu Hạnh về tiên, mãn hạn 5 năm lại xin xuống trần.
Thượng đế cho đem theo hai nàng tiên tháp tùng, tên Quế Thị,
đến làng Phố Cát, tỉnh Thanh Hóa. Chúa có quyền năng đáng
nể: người tốt được giáng phúc, kẻ ác bị trừng phạt bởi tai ương.
Dân chúng trong vùng lo sợ lập một ngôi đền để cầu khẩn
nàng. Thời trị niên hiệu Cảnh Trị (1661-71), triều đình cho
yêu quái đã ra lệnh một đội quân cùng đi với các thầy pháp đến
trấn áp nàng. Ngôi đền bị pthành tro bụi. Không bao lâu cả
vùng bị ảnh hưởng bởi một nạn dịch giết hại hết các loài muông
thú n cầu đảo. Liễu Hạnh hiển linh đòi khôi phục đền thờ s
ban phúc trừ họa. Vua phong nàng tước Hoàng Công Chúa
(Vị Công Chúa Vàng được dâng cúng như vị Thần Chiến Tranh),
ra lệnh một ngôi đền mới được xây dựng trên núi Phố Cát.
Hơn nữa, khi quân đội nhà vua [có lần] đi đánh dẹp địch quân,
Chúa đã trợ lực trong cuộc chiến đấu. Triều đình đã phong cho
nàng c Chế Thắng Hòa Diệu Đại Vương (Vị Vua Đại đã
mang lại sự chiến thắng hòa bình) đã ghi tên nàng vào sử
lOMoARcPSD| 61464806
sách. Kể từ đó mọi vị vua đều dựng tượng nàng cho xây
thêm nhiều đền để thờ cúng bà Chúa.
Liễu Hạnh cùng hai nàng tiên tháp tùng trở thành Tam vị thánh
mẫu phủ Sòng. Đã diễn ra một quá trình hội nhập từ bộ ba Đền
Sòng với Thượng Ngàn thần rừng rồi hội nhập với Tam Tòa
Thánh Mẫu hoặc Mẫu Thiên, Mẫu Địa, Mẫu Thoải hoặc cả
Mẫu Thượng Ngàn hình thành một thần điện đông đảo.
Tứ Phủ thường gắn liền với đồng cốt (đồng bóng). Người thờ
Đức Thánh Trần gọi là Thanh đồng (ông đồng) còn các Bà đồng
thì thờ Tam phủ, Tứ phủ gọi là thờ Chư vị. Lên đồng còn gọi
hầu bóng, mỗi lần người người ngồi đồng được thần thánh nhập
vào phán bảo hoặc chữa tgọi một giá đồng. Những phụ nữ
số phận long đong lận đận sẽ được khuyên số thờ, phải đến
đội bát hương ở đền hay phủ, xin làm con, đệ tử của thánh thần.
Từ đó, Đạo giáo nương nhờ cửa Phật, xuất hiện điện Mẫu trong
chùa, tín đồ lên chùa lại cầu xin nhiều điện Mẫu, trong điện
bói toán, đồng bóng
- Dưới thời vua Lê Thần Tông, thế kỉ 17 xuất hiện một trường phái
Đạo giáo Việt Nam quy rất lớn gọi Nội đạo. Tương
truyền vua Lý Thần Tông bị bệnh mọc lông cọp được Trần Hoàn
một vị quan triều dùng bùa phép thần chú chữa khỏi.
Phái Đạo này phát triển vào Nghệ An ra Bắc, đến tận thế kỷ
20 vẫn còn tồn tại nhiều trung tâm của đạo này Thanh Hóa,
Nghệ An, Hải Dương, Hưng Yên, Hà Nội
2.3. Phái Đạo giáo thần tiên:
- Chủ yếu là nội tu
- tương truyền từng lên núi tu luyện, được ban gậy thần sách ước,
sau thành Tiên bay lên trời, được thờ làm ông tổ của Đạo giáo Việt
Nam gọi là Chử Đạo Tố
- và nhiều Tiên thánh khác như Tản Viên (Sơn Tinh).
- Theo truyền thuyết, Từ Thức quê ở ở Hòa Châu (tức Thanh Hóay
giờ) trong thời đại nhà Trần, niên hiệu Quang Thái (13881398) dưới
triều vua Trần Thuận Tông. Ông xuất thân từ con quan nên được bổ
nhiệm làm một chức quan nhỏ một địa hạt thuộc xứ Kinh Bắc (nay
thuộc huyện Tiên Du, Bắc Ninh). Ông sở thích hay đi ngao du,
xem phong cảnh đẹp làm thơ, còn việc quan thì ông thường bỏ
lOMoARcPSD| 61464806
mặc, nên hay bị quan trên quở trách, sau đó Từ Thức xin từ quan.
Tháng 2 năm Bính Tỵ (1396), một hôm khi
Từ Thức đến thăm chùa có nhìn thấy một thiếu nữ tuổi chừng mười
sáu, mười bảy, nhan
sắc xinh đẹp, đến xem
hoa, nhỡ tay vịn gãy
một cành hoa mẫu đơn
chùa bắt giữ lại để phạt vạ tấm lòng nhân hậu, hiệp nghĩa, ông liền
cởi áo mặc ngoài, chuộc cho thiếu nữ. Về sau ông vào động núi gặp
Tiên đón lên Bồng Lai tiên cảnh tái hợp với gái mình đã cứu. Hóa
ra đó nàng Giáng Hương, tiên trên trời du ngoạn trần gian mắc
nạn. Tây Vương Mẫu cho đón từ thức n tiên cùng Giáng Hương
sum họp, sống trong cảnh Bồng Lai. Từ Thức được chừng một
năm, có ý nhớ nhà, xin Giáng Hương cho về thăm quê rồi sẽ trở lên
tiên. Giáng Hương ngăn không được bèn đưa chàng về trần gian. Về
làng tuy còn nhân được cảnh nhưng người làng không ai nhận
được ông đã mấy trăm năm đã qua. Về sau, người ta thấy Từ Thức
đội cái nón nhỏ vào động Thần Phù, i Hoàng Sơn (thuộc huyện
Nông Cống, Thanh Hóa) tìm đường lên tiên, không thấy trở về nữa.
- Thánh Tông:
Tiên đồng giáng sinh
Gặp tiên ở chùa Ngọc Hồ
Tổ chức chiêu hồn cho Lê Nhân Tông
- Lê Hiển Tông: đi cầu tự ở am từ Công núi Phật Tích, thượng đế ban
cho sao Thiên Lộc làm con của Trường Lạc, khi sinh điềm rồng.
Không còn dùng đạo cầu tự vào chùa, không phải Phật ban con
mà Ngọc Hoàng ban con Đạo thích núp bóng Nho giáo - Tiên
Phạm Viên đời Lê Thần Tông:
Không phải đạo sĩ
Tinh thông Nho giáo
Gặp Tiên ban cho Tiên dược, thành tiên bất tử
Không học đạo kinh, không tu luyện trong cung quán hang
động
Đi lang thang nay đây mai đó làm việc thiện bằng phép thuật
, không có gì để đền, nên bị các chú tiểu nhà
[1]
. Từ Thức trông thấy cảnh đó và với
lOMoARcPSD| 61464806
- Uyên Giáng Kiều: Người học trò Uyên gặp tiên nữ, kết
duyên vợ chồng, tiên nữ trao cho bí quyết tu tiên, sau đắc đạo thành
tiên, vợ chồng đều bay lên trời
- Truyền thuyết Tien xuống trần tắm khá phổ biến trong truyện dân
gian
- Những chuyện tiên địa danh chữ “tiên” hay tương truyền
tiên có rất nhiều trong dân gian và sử sách nhưng hầu hết không có
niên đại và tên người cụ thể
- Tiên nữ thích đến chùa gặp người trần. Các tiên nữ ham muốn trần
tục, khao khát tình yêu không kém người trần. Tiên với Tục không
hoàn toàn đối lập
- Đặc biệt, Đạo giáo đã đem sang Việt Nam phương pháp cầu Tiên.
Giới phu xưa thường cùng nhau tổ chức cầu Tiên để hỏi về vận
nước, chuyện kết hung đại sự. Một số đàn cầu Tiên nổi danh như đền
Ngọc Sơn (Hà Nội), đền Tản Viên (Sơn Tây), đền Đáo (Hưng
Yên)… Đầu thế kỉ 20, các đàn cầu Tiên mọc lên khắp nơi.
2.4. Đặc điểm:
- Kết hợp với Phật giáo, mật giáo tồn tại dưới các hình thức : cầu
mưa (nhiều nhất) cầu đảo bùa chu bắt quyết và các phép linh dị khác
- Mức độ chi phối về mặt tưởng khá hạn chế, chủ yếu ảnh hưởng
đến tín ngưỡng và mê tín
- Lan tỏa, hòa nhập với tín ngưỡng dân gian đến mức khó có thể phân
biệt
- Dưới các triều Đinh, Lê, Lý, Trần đều chọn các đạo làm cố vấn
bên cạnh các nhà sư nên có chức đạo quan và tăng quan.
- Đến thời Lê: hòa vào Phật giáo và Nho giáo
- Không chỉ đạo sĩ mà các nhà sư, nhất là thời Lí cũng am hiểu
“Ngôi nước nmây cuốn Trời
Nam mở thái bình
Vô vi trên điện các
Chốn chốn tắt đao binh”,
(Nhà Pháp Thuận đáp lại vua Đại Hành, luạn về vân nước ngắn
dài)
Và cả nhà Nho như Nguyễn Trãi:
“Phú quí dầu sương ngọn cỏ
Công danh gửi kiến cành hòe”
lOMoARcPSD| 61464806
2.5. Tác động:
2.5.1. Chính trị:
- Cuối thời Trần, Hồ Quý Ly ngầm sai đạo Nguyễn Khánh vào trong
cung thuyết phục vua Thuận Tông đi tu tiên, nhường ngôi cho Đông
cung, tu hành ở cung Bảo Thanh, tự xung Thái thượng nguyên quân
hoàng đế
- Được sử dụng như 1 yếu tố tinh thần chống ngoại xâm:
Nhân dân ta đã mượn Đạo giáo để đề cao giáo dục lòng yeu
nước. Lúc đầu, thờ các vị thần Trung Quốc nhưng sau này quá
trình thay đổi thánh thần diễn ra một cách mạnh mẽ. Hàng loạt
những người công đức với dân, với nước được tôn làm thần
thánh như Lạc Long Quân, Âu Cơ, Chử Đồng Tử, Tiên Dung,
Tản Viên, Thánh Gióng,…Sau này hầu như tất cả các vị anh
hùng dân tộc đều được các thế hệ nhân dân đồng lòng ton vinh
Lý Thái Tổ, cho dựng đền thờ Huyền Thiên Trấn Vũ, vị thần
trấn giữ phương Bắc, một phương quan trọng đối với người
Việt NamTrong tư tưởng của những người đứng đầu, sự tồn
tại của Đạo giáo có quan hệ mật thiết với sự tồn vong của đất
nước
Bài thơ thần “Nam quốc sơn hà” tương truyền là do 2 vị thần
Trương Hống Trương Hát vốn 2 vị tướng của Triệu Việt
Vương hiển linh hát
- Khái niệm vô vi được vận dụng vào công việc trị nước:
để dân thuận theo tự nhiên mà sống
Quốc sư Viên Thông khuyên nhà vua phải “hành xử đức hiếu
sinh cho hợp lòng dân” có tưởng thuận theo tự nhiên của
Đạo giáo
- Được chính những đạo với tư tưởng phản kháng các nhà cầm
quyền, đi tránh rối loạn, tìm nơi yên ổn tu đạo mang vàonhững cuộc
khởi nghĩa mang màu sắc Đạo giáo
2.5.2. Xã hội:
- Đạo giáo khi vào Việt Nam hòa quyện với tín ngưỡng dân gian hình
thành một khuynh ớng của những người không thật sự tín đồ
đạo Lão, nhưng tư tưởng gần giống với phái Tiên đạo hay Đạo
giáo thần tiên, tức ưa thích đời sống thanh tịnh nhàn lạc. Hầu hết các
nhà Nho Việt Nam đều mang tư tưởng này. Sinh không gặp thời, gặp
lOMoARcPSD| 61464806
chuyện bất bình trong chốn quan trường hay khi về già, các cụ
thường lui về ẩn dật tìm thú vui nơi thiên nhiên, bên chén rượu như
Chu Văn An, Nguyễn Bỉnh Khiêm, Nguyễn Công Trứ...
- Tình cảm tôn giáo người Việt Nm từ vua chúa trí thức đến kẻ bình
dân đều mang dấu ân Đạo giáo sâu đậm. Đó là tình cảm đối với tiên
cảnh Bồng Lai như ước vọng về một cuộc sống ấm no đầy đủ sung
sướng. Chính vậy, cảnh đẹp, kiến trúc đẹp, người đẹp Tiên. Giấc
Tiên luôn tiềm n trong mọi người từ giàu đến nghèo, từ sang
đến hèn, tự cổ chí kim
984: Đại Hành làm cung điện lấy tên mang tưởng Đạo
giáo như Bồng Lai, Phong Lưu, Trường Xuân Cực Lạc.
Đại Hành hiểu biết Đạo giáo mong muốn thành tiên
cõi Bồng Lai nên đã tạo dưng một Bồng Lai trên đất liền tại
Hoa để thỏa mãn khát vọng phong lưu trường xuân cực
lạc. Rất nhiều quan lại quí tộc cũng tưởng đó. Lúc này
tư tưởng Tiên đạo đang trở thành yếu tố trội trong tâm tư tình
cảm tầng lớp trên nhà Lê.
Lê Lợi lấy hiệu Lam Sơn động chủ, Thái Tông Quế
Lâm động chủ, Thánh Tông “Thiên Nam động chủ”.
Động chcác động Đạo giáo nổi tiếng. Những danh hiệu
này chỉ thể hiện tưởng Đạo giáo nói chung, chý người
mang danh hiệu đó thần tiên của Đạo giáo . Nhưng các vị
vua y không tôn sùng Đạo giáo, họ chỉ muốn đề cao thân
phận tiên đồng do thượng đế tức Ngọc hoàng cho xuống trần
giáo hóa muôn dân. Tư tưởng tiên xuống trần đó đã trở thành
tâm thức phổ biến
Các kiến trúc tiêu khiển của vua Nguyễn được đặt tên Dao T,
Doanh Châu, Phương Trượng, Bồng Lai những tiên
cảnham hiểu Đạo giáo vẫn có lòng mến mộ tiên cảnhmộng
tưởng Đạo giáo vẫn thấm sâu trong lòng
2.5.3. Văn học:
2.5.3.1. Sấm ký:
Sấm vĩ những câu nhiều nghĩa tối nghĩa thể hiểu nhiều
cách khác nhau. Nghĩa đen từng chữ từng câu dùng để che dấu
nghĩa ẩn dụ.
Đỗ Thích thí Đinh Đinh,
lOMoARcPSD| 61464806
Lê gia xuất thánh minh.
Cạnh đầu đa hoành tử,
Đạo lộ tuyệt nhân hành.
Thập nhị xưng đại vương,
Thập ác vô nhất thiện.
Thập bát tử đăng tiên,
Kế đô nhị thập thiên.”
Nghĩa đen:
“Ngông cuồng thích giết hết người này người nọ
Trong dân đen xuất hiện người tài giỏi
….
18 người lên tiên 20 ngày
sau xảy ra tai họa”
Giải ra:
“Đỗ Thích giết hai vua nhà Đinh,
Nhà Lê xuất hiện bậc thánh minh.
Trong cuộc cạnh tranh nhiều tôi tớ bị chết,
Đường sá vắng bặt người đi lại.
Mười hai phe phái xưng đại vương,
Bọn chúng mười phần ác không một phần thiện.
Vua nhà Lý băng hà (“thập bát tử” là chữ Lý),
Sao chổi xuất hiện hai chục ngày liền”
bói toán, Tiên đạo
Trên cây gạo bị sét đánh hương Diên Uẩn châu Cổ Pháp
trước khi Lý Công Uẩn lên ngôi:
“Thụ căn diểu diểu
Mộc biểu thanh thanh
Hòa đao mộc lạc
Thập bát tử thành
Đông a nhập địa
Mộc dị tái sinh
Chấn cung kiến nhật
Đoài cung ẩn tinh
lOMoARcPSD| 61464806
Lục thất niên gian Thiên
hạ thái bình” Nghĩa:
“Gốc rễ thăm thẳm
Ngọn cây xanh xanh
Dao chặt cây rụng
Mười tám hạt thành
Cành đâm xuống đất
Cây khác lại sinh
Đông mặt trời mọc
Tây sao náu mình
Khoảng sáu, bảy năm
Thiên hạ thái bình”
Sư Vạn Hạnh giải ra là vua thì non yếu, bề tôi cường thinh, họ Lê mất, họ Lý
nổi lên, thiên tử phương đông mọc ra thì thứ nhân ở phương tây lặn mất, trải
qua 6, 7 năm thì thiên hạ thái bình.
Đời sau lại giải ra thêm tên các triều đại kế tục tiếp theo trong lịch sử Việt
Nam suốt từ thế kỷ 11đến thế kỷ 20.
Con chó đcon sắc trắng đốm lông đen thành hình 2 chữ
“Thiên Tử”, ám chỉ vua mới tuổi Tuất, Công Uẩn cũng sinh
năm Giáp Tuất
Nguyễn Bỉnh Khiêm:
+ Hoành sơn nhất đái, vạn đại dung thân
+ Cao Bằng tuy thiểu, khả diên sổ thế: Cao Bằng tuy nhỏ hẹp
cũng dung thân được vài đời
+ Năm ngoái mất mùa, thóc giống không tốt, đi tìm giống
gieo: về việc người nối ngôi Trang Tôn, khuyên vua
không có con thì nên tìm con cháu cũ lập làm vua, Lê Duy
Bang được lập
tồn Trịnh tại, bại Trịnh vong: chúa trịnh nên phò vua
không nên tiếm ngôi
2.5.3.2. Kiến trúc:
- Là các đền, miếu, quán, đạo
- Các quán đạo được xây dựng theo lối truyền thống đối xứng, có các
dạng hình chữ nhật hoặc tổ hợp một số nhà hình chữ nhật song song
hoặc nối nhau
- Đa số có sân trược điện thờ để tiến hành nghi lễ
lOMoARcPSD| 61464806
- Xung quanh tường vây hoặc hai bên có hành lang, phía trước
cổng lớn tứ tr
- Không gian thường âm u, tịch mịch, xa xóm làng
- Qui mô lớn
- Bố cục gần giống chùa:;
Ngoài vào là Tam quan (gác khánh, gác chuông)
Rồi đến sân
Hết sân đến Tam bảo, có hành lang hai bên
Kết thúc bằng gác chuông hoặc hậu đường
Giữa Tam bảo và gác chuông thường có một khoảng sân hẹp
2.5.3.3. Văn học:
- Việt điện u linh
- Nam ông mộng lục
- Lĩnh Nam chích quái
- Truyền kỳ mạn lục
- Truyền kỳ tân phả
- Thánh Tông di thảo

Preview text:

lOMoAR cPSD| 61464806 1. Sự hình thành: 1.1. Lão Tử:
- Lão Tử cho rằng trước khi sinh ra trời đất thì đã tồn tại một chất sinh
huyền diệu, là Đạo-bản thể. Vạn vật được sinh ra từ Đạo, tác động
với nhau, rồi lại tan biến để trở về cội nguồn là Đạo
- Lý vô vi: để mọi việc thuận theo tự nhiên, không làm điều gì trái với
tự nhiên, áp dụng vào đường lối trị nước tu than - 1.2. Trang Tử:
- Tuyệt đối hóa sự vận động
- Xóa nhòa mọi ranh giới giữa con người với thiên nhiên, phải và trái, tồn tại và hư vô.
- Căm ghét kẻ thống trị
- Yếm thế thoát tục, trở về xã hội nguyên thủy
1.3. Quá trình tôn giáo hóa đạo gia:
- Thực sự ra đời từ khoảng giữa thế kỉ II .
- Các cuộc khởi nghĩa nông dân mang màu sắc tôn giáo, tiêu biểu là
Ngũ Đấu Mễ Đạo của Trương Lăng năm 141 (Tam trương Đạo giáo)
và Thái Bình Đạo của Trương Giác (184)
- Thần hóa Lão Tử lên làm giáo chủ và tôn thần của Đạo giáo
- Nhiều vị thần trong tín ngưỡng dân gian Trung Quốc được Đạo giáo
hấp thu, biến thành tôn thần Đạo giáo: Thiên Đế biến thành Ngọc
Hoàng Đại Đế; 3 vị thần thiên, địa, thủy biến thành Tam Quan; Bắc
phương thất tinh tú thần biến thành Huyền Vũ (Chân Vũ); các vị thần
khác như Đông Nhạc đại đế, Tứ Hải Long Vương, Thành Hoàng,
Thổ Địa, Môn thần, Táo thần ban đầu đều là những thần linh trong
tín ngưỡng dân gian, cuối cùng chuyển biến thành hình tượng mà cả
Đạo giáo lẫn tín ngưỡng dân gian đều thờ.
- Từ Y học và tri thức vệ sinh thể dục cổ đại, đề ra phương pháp dưỡng sinh để sống lâu
- Đạo giáo phù thủy: dùng các phép thuật trừ tà trị bệnh chủ yếu giúp dân thường mạnh khỏe
- Đạo giáo thần tiên: dạy tu luyện, luyện đan dành cho quí tộc cầu trường sinh bất lão
• Ngoại dưỡng: dùng thuốc trường sinh luyện trong lò
• Nội tu: rèn luyện thân thể, dùng các phép tịch cốc (không ăn ngũ
cốc), dưỡng sinh, khí công,… lOMoAR cPSD| 61464806
- Chính thức có vị trí trong xã hội Trung Quốc vào thời Đông Hán (25 – 220)
- Hưng thịnh vào thời Đường Tống 2. Đạo giáo Việt Nam: 2.1. Quá trình du nhập: - Từ cuối TK II
- Đạo giáo thần tiên được truyền bá một cách rất hạn hẹp trong tầng
lớp trên của xã hội, chủ yếu là quan lại Trung Quốc đô hộ:
• Đổng Phụng: Năm 226 chữa cho Sĩ Nhiếp sống lại
• Cát Hồng: nghe nói ở huyện Câu Lậu thuộc Gao Chỉ có đan sa,
bèn xin làm huyện lệnh Câu Lậu. Nhưng khi đến Quảng Châu thì
thứ sử Đặng Nhạc can ngăn và khuyên ông vào La Phù Sơn luyện đan
- Đạo giáo dân gian truyền bá một cách mạnh mẽ, hội nhập một cách
tự nhiên với đời sống văn hóa của người Việt
- Được chính những đạo sĩ với tư tưởng phản kháng các nhà cầm
quyền, đi tránh rối loạn, tìm nơi yên ổn tu đạo mang vàonhững cuộc
khởi nghĩa mang màu sắc Đạo giáo
2.2. Đạo giáo phù thủy:
- Thờ Ngọc Hoàng Thượng Đế
- Thái Thượng Lão quân (Lão Tử) - Huyền Thiên Trấn Vũ
- Đế Thích: vị thần Bà La Môn giáo đã được Phật giáo biến thành thần
hộ pháp của Phật và cũng được Đạo giáo hấp thụ. Đặc biệt ở nước
ta, ngày mùng 9 tháng Giêng là ngày sinh Đế Thích, cũng là ngày
sinh Ngọc Hoàng Đế Thích chính là Ngọc Hoàng.
- Quan Thánh Đế (Quan Công)
• Nhà buôn thờ như thần tài
• Triều đình thờ với tư cach Vũ thần.
- Tam tôn (Tam Thanh) là 3 vị thần linh tối cao của Đạo giáo: Ngọc
Thanh Nguyên Thủy thiên tôn, Thượng Thanh Linh Bảo thiên tôn,
Thái Thanh Đao Đức thiên tôn.
- thờ thần Lôi Công. Trong tín ngưỡng dân gian là thần Sét đánh người
có tội. Trong Đạo giáo là một vị thần chuyên sử dụng Lôi pháp, dùng
nội đan, bùa chú chữa bệnh, cầu mưa, cầu tạnh coi việc họa phúc
nhân gian, quyền sinh quyền sát, trừng phạt kẻ ác. Lôi pháp mang ý lOMoAR cPSD| 61464806
nghĩa mưa và thâm nhập vào Phật giáo thành tứ Pháp cùng nhau phụ
trách mưa cho nông dân. Hiện tượng Pháp Vân, pháp vũ, Pháp Lôi,
Pháp Điện, Pháp Phong là một sự dung hợp của tín ngưỡng phồn
thực, Phât và Đạo giáo.
- các thần Ngũ Hổ bằng bức tranh con hổ hay Quan Lớn Tuần Tranh
là hai con rắn Thanh Xà và Bạch Xà quấn trên xà nhà trước bàn thờ.
- Có sự kết hợp với tín ngưỡng dân gian, Đạo giáo còn thờ nhiều vị
thần thánh khác của người Việt như: • Đức Thánh Trần:
+ Toàn Thư từng đề cập đên việc Trần Hưng Đạo trừ tà chữa bệnh
+ Trong thần thoại dân gian lưu truyền Trần Hưng Đạo đánh
quân Nguyên bắt được tên Phạm Nhan là người Việt có pháp thuật chỉ đường cho
quân Nguyên. Phạm Nhan bị giết và hồn hắn đi đâu gặp sản phụ thì lập tức hớp hồn
họ ngay. Những người đàn bà đó sẽ bị ốmliên miên, không thuốc gì chữa khỏi, khiến
họ rất sợ hãi. Những người bệnh này thường được dẫn đến đền thờ Trần Hưng Đạo,
lấy chiếu cũ trong đền, bắt thần bắt người bệnh nằm lên, rồi đem chân nhang đốt ra
tro, quậy nước cho uống thì chắc chắn sẽ khỏi. Có người mới chỉ mang chiếu từ đền
Vương về nhà thì bệnh cũng đã khỏi.
• Thánh mẫu Liễu Hạnh:
+ Truyền thuyết: Tại làng Vân Cát, huyện Thiên Bản, có một
người đàn ông chính trực tên Lê Thái Công, có được một người
con trai và một người con gái. Khi sinh con gái, đạo sĩ đưa hồn
Lê Thái Công lên thiên đình chứng kiến Đệ nhị tiên chủ Quỳnh
nương vì lỡ tay đánh rơi chén ngọc nên bị đày xuống trần. Khi
tỉnh lại, vợ ông đã sinh ra được một đứa con gái, đặt tên là “Giáng
Tiên” (nàng Tiên hạ xuống trần). Nàng con gái lớn lên rất xinh
đẹp, giỏi văn chương ca nhạc hay làm thơ đánh đàn. Ông cho
nàng làm con nuôi Trần Thái công. Giáng Tiên két hôn với Đào
lang, đứa bé người ta nhạt được dưới gốc cây đào. Giáng Tiên
sinh được một trai một gái. Giáng Tiên đột nhiên mất đi ở tuổi
hai mươi mốt, mà không có triệu chứng bịnh tật gì cả vào ngày
mùng 3 tháng 3. Giáng Tiên về trời, được Thượng Đế phong Liễu
hạnh công chúa. Luyến tiếc trần gian nên Liễu Hạnh lại xin xuống
trần. Được cho phép, nàng quay về làng cũ thăm mẹ, rồi ra kinh
đô thăm chồng con. Sau khi trải qua một phần trong đêm với lOMoAR cPSD| 61464806
chồng, nàng biến mất. Liễu Hạnh bắt đầu chu du khắp nơi. Sau,
cha mẹ nàng và chồng nàng qua đời và các con nàng đã trưởng
thành. Liễu Hạnh lên Lạng Sơn ở trong chùa. Gặp Phùng Khắc
Khoan, cùng nhau xướng họa. Phùng Khắc Khoan nghe thấy
tiếng ngâm họa mà không thấy người, chỉ thấy trên thân cây gỗ
ngã ngang bên đường viết bốn chữ “Mão khẩu công chúa”) và kế
bên tấm biển cũng có bốn chữ: “Băng mã dĩ tẩu”. Các chữ trên
bài vị thứ nhất có nghĩa “bà Chúa Liễu Hạnh”; các chữ trong bài
vị thứ nhì có nghĩa là một người nào đó trong gia đình họ Phùng
sẽ sửa sang lại ngôi đền. Phùng Khắc Khoan bèn xuất tiền trùng
tu ngôi chùa. Liễu Hạnh đến kinh kỳ và lại gặp Phùng Khắc
Khoan xướng họa ở Hồ Tây trước một quán rượu mà chủ nhân
lại chính là bà Chúa Liễu Hạnh. Về phần bà Chúa, sau khi rời Hồ
Tây, bà xuất hiện tại tỉnh Nghệ An, nơi bà đã gặp một thư sinh
mồ côi, còn trẻ và nghèo tên Sinh, người là hóa thân của người
chồng quá cố Đào Lang của bà, kết nghĩa vợ chồng, sinh hạ được
một con trai; người chồng đã thi đỗ và được bổ nhiệm làm việc
tại Quốc Tử Giám. Liễu Hạnh lại trở về cung vì đã mãn hạn bị
đày. Liễu Hạnh về tiên, mãn hạn 5 năm lại xin xuống trần.
Thượng đế cho đem theo hai nàng tiên tháp tùng, tên Quế và Thị,
đến làng Phố Cát, tỉnh Thanh Hóa. Bà Chúa có quyền năng đáng
nể: người tốt được giáng phúc, kẻ ác bị trừng phạt bởi tai ương.
Dân chúng trong vùng lo sợ và lập một ngôi đền để cầu khẩn
nàng. Thời trị vì niên hiệu Cảnh Trị (1661-71), triều đình cho là
yêu quái đã ra lệnh một đội quân cùng đi với các thầy pháp đến
trấn áp nàng. Ngôi đền bị phá thành tro bụi. Không bao lâu cả
vùng bị ảnh hưởng bởi một nạn dịch giết hại hết các loài muông
thú bèn cầu đảo. Liễu Hạnh hiển linh đòi khôi phục đền thờ sẽ
ban phúc trừ họa. Vua phong nàng tước Mã Hoàng Công Chúa
(Vị Công Chúa Vàng được dâng cúng như vị Thần Chiến Tranh),
và ra lệnh một ngôi đền mới được xây dựng trên núi Phố Cát.
Hơn nữa, khi quân đội nhà vua [có lần] đi đánh dẹp địch quân,
Bà Chúa đã trợ lực trong cuộc chiến đấu. Triều đình đã phong cho
nàng tước Chế Thắng Hòa Diệu Đại Vương (Vị Vua Vĩ Đại đã
mang lại sự chiến thắng và hòa bình) và đã ghi tên nàng vào sử lOMoAR cPSD| 61464806
sách. Kể từ đó mọi vị vua đều có dựng tượng nàng và cho xây
thêm nhiều đền để thờ cúng bà Chúa.
• Liễu Hạnh cùng hai nàng tiên tháp tùng trở thành Tam vị thánh
mẫu phủ Sòng. Đã diễn ra một quá trình hội nhập từ bộ ba Đền
Sòng với Thượng Ngàn – thần rừng rồi hội nhập với Tam Tòa
Thánh Mẫu hoặc Mẫu Thiên, Mẫu Địa, Mẫu Thoải hoặc là cả
Mẫu Thượng Ngàn hình thành một thần điện đông đảo.
• Tứ Phủ thường gắn liền với đồng cốt (đồng bóng). Người thờ
Đức Thánh Trần gọi là Thanh đồng (ông đồng) còn các Bà đồng
thì thờ Tam phủ, Tứ phủ gọi là thờ Chư vị. Lên đồng còn gọi là
hầu bóng, mỗi lần người người ngồi đồng được thần thánh nhập
vào phán bảo hoặc chữa tự gọi là một giá đồng. Những phụ nữ
số phận long đong lận đận sẽ được khuyên là có số thờ, phải đến
đội bát hương ở đền hay phủ, xin làm con, đệ tử của thánh thần.
Từ đó, Đạo giáo nương nhờ cửa Phật, xuất hiện điện Mẫu trong
chùa, tín đồ lên chùa lại cầu xin nhiều ở điện Mẫu, trong điện có bói toán, đồng bóng
- Dưới thời vua Lê Thần Tông, thế kỉ 17 xuất hiện một trường phái
Đạo giáo Việt Nam có quy mô rất lớn gọi là Nội đạo. Tương
truyền vua Lý Thần Tông bị bệnh mọc lông cọp được Trần Hoàn
là một vị quan triều Lê dùng bùa phép và thần chú chữa khỏi.
Phái Đạo này phát triển vào Nghệ An và ra Bắc, đến tận thế kỷ
20 vẫn còn tồn tại nhiều trung tâm của đạo này ở Thanh Hóa,
Nghệ An, Hải Dương, Hưng Yên, Hà Nội
2.3. Phái Đạo giáo thần tiên: - Chủ yếu là nội tu
- tương truyền từng lên núi tu luyện, được ban gậy thần và sách ước,
sau thành Tiên bay lên trời, được thờ làm ông tổ của Đạo giáo Việt
Nam gọi là Chử Đạo Tố
- và nhiều Tiên thánh khác như Tản Viên (Sơn Tinh).
- Theo truyền thuyết, Từ Thức quê ở ở Hòa Châu (tức Thanh Hóa bây
giờ) trong thời đại nhà Trần, niên hiệu Quang Thái (13881398) dưới
triều vua Trần Thuận Tông. Ông xuất thân từ con quan nên được bổ
nhiệm làm một chức quan nhỏ ở một địa hạt thuộc xứ Kinh Bắc (nay
thuộc huyện Tiên Du, Bắc Ninh). Ông có sở thích hay đi ngao du,
xem phong cảnh đẹp và làm thơ, còn việc quan thì ông thường bỏ lOMoAR cPSD| 61464806
mặc, nên hay bị quan trên quở trách, sau đó Từ Thức xin từ quan.
Tháng 2 năm Bính Tỵ (1396), một hôm khi
Từ Thức đến thăm chùa có nhìn thấy một thiếu nữ tuổi chừng mười sáu, mười bảy, nhan
sắc xinh đẹp, đến xem , không có gì để đền, nên bị các chú tiểu nhà hoa, nhỡ tay vịn gãy [1]
. Từ Thức trông thấy cảnh đó và với một cành hoa mẫu đơn
chùa bắt giữ lại để phạt vạ tấm lòng nhân hậu, hiệp nghĩa, ông liền
cởi áo mặc ngoài, chuộc cho thiếu nữ. Về sau ông vào động núi gặp
Tiên đón lên Bồng Lai tiên cảnh tái hợp với cô gái mình đã cứu. Hóa
ra đó là nàng Giáng Hương, tiên trên trời du ngoạn trần gian mắc
nạn. Tây Vương Mẫu cho đón từ thức lên tiên cùng Giáng Hương
sum họp, sống trong cảnh Bồng Lai. Từ Thức ở được chừng một
năm, có ý nhớ nhà, xin Giáng Hương cho về thăm quê rồi sẽ trở lên
tiên. Giáng Hương ngăn không được bèn đưa chàng về trần gian. Về
làng tuy còn nhân được cảnh cũ nhưng người làng không ai nhận
được ông vì đã mấy trăm năm đã qua. Về sau, người ta thấy Từ Thức
đội cái nón nhỏ vào động Thần Phù, núi Hoàng Sơn (thuộc huyện
Nông Cống, Thanh Hóa) tìm đường lên tiên, không thấy trở về nữa. - Lê Thánh Tông: • Tiên đồng giáng sinh
• Gặp tiên ở chùa Ngọc Hồ
• Tổ chức chiêu hồn cho Lê Nhân Tông
- Lê Hiển Tông: đi cầu tự ở am từ Công núi Phật Tích, thượng đế ban
cho sao Thiên Lộc làm con của Trường Lạc, khi sinh có điềm rồng.
Không còn dùng đạo sĩ cầu tự mà vào chùa, không phải Phật ban con
mà Ngọc Hoàng ban con Đạo thích núp bóng Nho giáo - Tiên
Phạm Viên đời Lê Thần Tông: • Không phải đạo sĩ • Tinh thông Nho giáo
• Gặp Tiên ban cho Tiên dược, thành tiên bất tử
• Không học đạo kinh, không tu luyện trong cung quán hang động
• Đi lang thang nay đây mai đó làm việc thiện bằng phép thuật lOMoAR cPSD| 61464806
- Tú Uyên – Giáng Kiều: Người học trò Tú Uyên gặp tiên nữ, kết
duyên vợ chồng, tiên nữ trao cho bí quyết tu tiên, sau đắc đạo thành
tiên, vợ chồng đều bay lên trời
- Truyền thuyết Tien xuống trần tắm khá phổ biến trong truyện dân gian
- Những chuyện tiên và địa danh có chữ “tiên” hay tương truyền có
tiên có rất nhiều trong dân gian và sử sách nhưng hầu hết không có
niên đại và tên người cụ thể
- Tiên nữ thích đến chùa gặp người trần. Các tiên nữ ham muốn trần
tục, khao khát tình yêu không kém người trần. Tiên với Tục không hoàn toàn đối lập
- Đặc biệt, Đạo giáo đã đem sang Việt Nam phương pháp cầu Tiên.
Giới sĩ phu xưa thường cùng nhau tổ chức cầu Tiên để hỏi về vận
nước, chuyện kết hung đại sự. Một số đàn cầu Tiên nổi danh như đền
Ngọc Sơn (Hà Nội), đền Tản Viên (Sơn Tây), đền Đáo Xá (Hưng
Yên)… Đầu thế kỉ 20, các đàn cầu Tiên mọc lên khắp nơi. 2.4. Đặc điểm:
- Kết hợp với Phật giáo, là mật giáo tồn tại dưới các hình thức : cầu
mưa (nhiều nhất) cầu đảo bùa chu bắt quyết và các phép linh dị khác
- Mức độ chi phối về mặt tư tưởng khá hạn chế, chủ yếu ảnh hưởng
đến tín ngưỡng và mê tín
- Lan tỏa, hòa nhập với tín ngưỡng dân gian đến mức khó có thể phân biệt
- Dưới các triều Đinh, Lê, Lý, Trần đều chọn các đạo sĩ làm cố vấn
bên cạnh các nhà sư nên có chức đạo quan và tăng quan.
- Đến thời Lê: hòa vào Phật giáo và Nho giáo
- Không chỉ đạo sĩ mà các nhà sư, nhất là thời Lí cũng am hiểu
“Ngôi nước như mây cuốn Trời Nam mở thái bình
Vô vi trên điện các
Chốn chốn tắt đao binh”,
(Nhà sư Pháp Thuận đáp lại vua Lê Đại Hành, luạn về vân nước ngắn dài)
Và cả nhà Nho như Nguyễn Trãi:
“Phú quí dầu sương ngọn cỏ
Công danh gửi kiến cành hòe” lOMoAR cPSD| 61464806 2.5. Tác động: 2.5.1. Chính trị:
- Cuối thời Trần, Hồ Quý Ly ngầm sai đạo sĩ Nguyễn Khánh vào trong
cung thuyết phục vua Thuận Tông đi tu tiên, nhường ngôi cho Đông
cung, tu hành ở cung Bảo Thanh, tự xung Thái thượng nguyên quân hoàng đế
- Được sử dụng như 1 yếu tố tinh thần chống ngoại xâm:
• Nhân dân ta đã mượn Đạo giáo để đề cao và giáo dục lòng yeu
nước. Lúc đầu, thờ các vị thần Trung Quốc nhưng sau này quá
trình thay đổi thánh thần diễn ra một cách mạnh mẽ. Hàng loạt
những người có công đức với dân, với nước được tôn làm thần
thánh như Lạc Long Quân, Âu Cơ, Chử Đồng Tử, Tiên Dung,
Tản Viên, Thánh Gióng,…Sau này hầu như tất cả các vị anh
hùng dân tộc đều được các thế hệ nhân dân đồng lòng ton vinh
• Lý Thái Tổ, cho dựng đền thờ Huyền Thiên Trấn Vũ, vị thần
trấn giữ phương Bắc, một phương quan trọng đối với người
Việt NamTrong tư tưởng của những người đứng đầu, sự tồn
tại của Đạo giáo có quan hệ mật thiết với sự tồn vong của đất nước
• Bài thơ thần “Nam quốc sơn hà” tương truyền là do 2 vị thần
Trương Hống Trương Hát vốn là 2 vị tướng của Triệu Việt Vương hiển linh hát
- Khái niệm vô vi được vận dụng vào công việc trị nước:
• để dân thuận theo tự nhiên mà sống
• Quốc sư Viên Thông khuyên nhà vua phải “hành xử đức hiếu
sinh cho hợp lòng dân” có tư tưởng thuận theo tự nhiên của Đạo giáo
- Được chính những đạo sĩ với tư tưởng phản kháng các nhà cầm
quyền, đi tránh rối loạn, tìm nơi yên ổn tu đạo mang vàonhững cuộc
khởi nghĩa mang màu sắc Đạo giáo 2.5.2. Xã hội:
- Đạo giáo khi vào Việt Nam hòa quyện với tín ngưỡng dân gian hình
thành một khuynh hướng của những người không thật sự là tín đồ
đạo Lão, nhưng có tư tưởng gần giống với phái Tiên đạo hay Đạo
giáo thần tiên, tức ưa thích đời sống thanh tịnh nhàn lạc. Hầu hết các
nhà Nho Việt Nam đều mang tư tưởng này. Sinh không gặp thời, gặp lOMoAR cPSD| 61464806
chuyện bất bình trong chốn quan trường hay khi về già, các cụ
thường lui về ẩn dật tìm thú vui nơi thiên nhiên, bên chén rượu như
Chu Văn An, Nguyễn Bỉnh Khiêm, Nguyễn Công Trứ...
- Tình cảm tôn giáo người Việt Nm từ vua chúa trí thức đến kẻ bình
dân đều mang dấu ân Đạo giáo sâu đậm. Đó là tình cảm đối với tiên
cảnh Bồng Lai như ước vọng về một cuộc sống ấm no đầy đủ sung
sướng. Chính vì vậy, cảnh đẹp, kiến trúc đẹp, người đẹp là Tiên. Giấc
mơ Tiên luôn tiềm ẩn trong mọi người từ giàu đến nghèo, từ sang
đến hèn, tự cổ chí kim
• 984: Lê Đại Hành làm cung điện lấy tên mang tư tưởng Đạo
giáo như Bồng Lai, Phong Lưu, Trường Xuân và Cực Lạc.
Lê Đại Hành có hiểu biết Đạo giáo và mong muốn thành tiên
cõi Bồng Lai nên đã tạo dưng một Bồng Lai trên đất liền tại
Hoa Lư để thỏa mãn khát vọng phong lưu trường xuân cực
lạc. Rất nhiều quan lại quí tộc cũng có tư tưởng đó. Lúc này
tư tưởng Tiên đạo đang trở thành yếu tố trội trong tâm tư tình
cảm tầng lớp trên nhà Lê.
• Lê Lợi lấy hiệu là Lam Sơn động chủ, Lê Thái Tông là Quế
Lâm động chủ, Lê Thánh Tông là “Thiên Nam động chủ”.
Động chủ là các động Đạo giáo nổi tiếng. Những danh hiệu
này chỉ thể hiện tư tưởng Đạo giáo nói chung, chỉ ý người
mang danh hiệu đó là thần tiên của Đạo giáo . Nhưng các vị
vua này không tôn sùng Đạo giáo, họ chỉ muốn đề cao thân
phận tiên đồng do thượng đế tức Ngọc hoàng cho xuống trần
giáo hóa muôn dân. Tư tưởng tiên xuống trần đó đã trở thành tâm thức phổ biến
• Các kiến trúc tiêu khiển của vua Nguyễn được đặt tên Dao Trì,
Doanh Châu, Phương Trượng, Bồng Lai là những tiên
cảnham hiểu Đạo giáo vẫn có lòng mến mộ tiên cảnhmộng
tưởng Đạo giáo vẫn thấm sâu trong lòng 2.5.3. Văn học: 2.5.3.1. Sấm ký:
• Sấm vĩ là những câu nhiều nghĩa và tối nghĩa có thể hiểu nhiều
cách khác nhau. Nghĩa đen từng chữ từng câu dùng để che dấu nghĩa ẩn dụ.
Đỗ Thích thí Đinh Đinh, • “ lOMoAR cPSD| 61464806 Lê gia xuất thánh minh.
Cạnh đầu đa hoành tử,
Đạo lộ tuyệt nhân hành.
Thập nhị xưng đại vương,
Thập ác vô nhất thiện.
Thập bát tử đăng tiên,
Kế đô nhị thập thiên.” Nghĩa đen: 
“Ngông cuồng thích giết hết người này người nọ
Trong dân đen xuất hiện người tài giỏi ….
18 người lên tiên 20 ngày sau xảy ra tai họa” •  Giải ra:
“Đỗ Thích giết hai vua nhà Đinh,
Nhà Lê xuất hiện bậc thánh minh.
Trong cuộc cạnh tranh nhiều tôi tớ bị chết,
Đường sá vắng bặt người đi lại.
Mười hai phe phái xưng đại vương,
Bọn chúng mười phần ác không một phần thiện.
Vua nhà Lý băng hà (“thập bát tử” là chữ Lý),
Sao chổi xuất hiện hai chục ngày liền”
Có đề cập đến sao Kế Đô bói toán, Tiên đạo 
• Trên cây gạo bị sét đánh ở hương Diên Uẩn châu Cổ Pháp
trước khi Lý Công Uẩn lên ngôi: “Thụ căn diểu diểu Mộc biểu thanh thanh Hòa đao mộc lạc Thập bát tử thành Đông a nhập địa Mộc dị tái sinh Chấn cung kiến nhật Đoài cung ẩn tinh lOMoAR cPSD| 61464806
Lục thất niên gian Thiên
hạ thái bình” Nghĩa: “Gốc rễ thăm thẳm Ngọn cây xanh xanh Dao chặt cây rụng Mười tám hạt thành Cành đâm xuống đất Cây khác lại sinh Đông mặt trời mọc Tây sao náu mình Khoảng sáu, bảy năm Thiên hạ thái bình”
Sư Vạn Hạnh giải ra là vua thì non yếu, bề tôi cường thinh, họ Lê mất, họ Lý
nổi lên, thiên tử ở phương đông mọc ra thì thứ nhân ở phương tây lặn mất, trải
qua 6, 7 năm thì thiên hạ thái bình.
Đời sau lại giải ra thêm là tên các triều đại kế tục tiếp theo trong lịch sử Việt
Nam suốt từ thế kỷ 11đến thế kỷ 20.
• Con chó đẻ con sắc trắng có đốm lông đen thành hình 2 chữ
“Thiên Tử”, ám chỉ vua mới tuổi Tuất, Lý Công Uẩn cũng sinh năm Giáp Tuất • Nguyễn Bỉnh Khiêm:
+ Hoành sơn nhất đái, vạn đại dung thân
+ Cao Bằng tuy thiểu, khả diên sổ thế: Cao Bằng tuy nhỏ hẹp
cũng dung thân được vài đời
+ Năm ngoái mất mùa, thóc giống không tốt, đi tìm giống cũ
mà gieo: về việc người nối ngôi Lê Trang Tôn, khuyên vua
không có con thì nên tìm con cháu cũ lập làm vua, Lê Duy Bang được lập
Lê tồn Trịnh tại, Lê bại Trịnh vong: chúa trịnh nên phò vua Lê không nên tiếm ngôi 2.5.3.2. Kiến trúc:
- Là các đền, miếu, quán, đạo
- Các quán đạo được xây dựng theo lối truyền thống đối xứng, có các
dạng hình chữ nhật hoặc tổ hợp một số nhà hình chữ nhật song song hoặc nối nhau
- Đa số có sân trược điện thờ để tiến hành nghi lễ lOMoAR cPSD| 61464806
- Xung quanh có tường vây hoặc hai bên có hành lang, phía trước có cổng lớn tứ trụ
- Không gian thường âm u, tịch mịch, xa xóm làng - Qui mô lớn
- Bố cục gần giống chùa:;
• Ngoài vào là Tam quan (gác khánh, gác chuông) • Rồi đến sân
• Hết sân đến Tam bảo, có hành lang hai bên
• Kết thúc bằng gác chuông hoặc hậu đường
• Giữa Tam bảo và gác chuông thường có một khoảng sân hẹp 2.5.3.3. Văn học: - Việt điện u linh - Nam ông mộng lục - Lĩnh Nam chích quái - Truyền kỳ mạn lục - Truyền kỳ tân phả - Thánh Tông di thảo