



















Preview text:
TRƯỜNG ĐẠI HỌC THƯƠNG MẠI
KHOA HTTT KINH TẾ VÀ TMĐT
-----🙞🙜🕮🙞🙜----- BÀI THẢO LUẬN
HỌC PHẦN: PHÁP LUẬT ĐẠI CƯƠNG Đề tài:
“DẤU HIỆU PHÁP LÝ CƠ BẢN CỦA THAM NHŨNG” Nhóm : 5 Giảng viên : Đỗ Thị Hoa Mã lớp học phần : 242_TLAW0111_10
Hà Nội, Tháng 3 năm 2025 DANH SÁCH THÀNH VIÊN
Lớp học phần: 242_TLAW0111_10 Nhóm: 05
Nhóm trưởng: Nguyễn Phương Thảo Điểm nhóm: STT Họ và tên Nhiệm vụ Điểm thảo luận 81 Lê Thị Thảo 82 Nguyễn Phương Thảo 83 Lê Vũ Thanh Thuý 84 Trương Thị Kim Thuý 85 Ngô Quang Tiến 86 Nguyễn Đức Toàn 87 Nguyễn Kiều Trang 88 Phạm Thị Thu Trang 89 Vũ Thị Huyền Trang 90 Chu Thị Thanh Trà 91 Nguyễn Minh Trí 92 Nguyễn Hải trung 93 Lê Đình Tuấn 94 Bùi Hữu Anh Tùng 95 Vũ Công Tú 96 Nguyễn Thuỳ Vân 97 Phạm Thị Quỳnh Vân 98 Bùi Đức Việt 99 Đoàn Quốc Việt 100 Hoàng Hải Yến ii 101 Lê Hải Yến 102 Bùi Thuỳ Dương
Hà Nội, ngày…tháng…năm 2025 NHÓM TRƯỞNG MỤC LỤC
DANH SÁCH THÀNH VIÊN.....................................................................................ii
LỜI CẢM ƠN.............................................................................................................iv
LỜI MỞ ĐẦU..............................................................................................................v
A. LÝ THUYẾT: CÁC DẤU HIỆU PHÁP LÝ CƠ BẢN CỦA THAM NHŨNG....6
I. ĐỊNH NGHĨA THAM NHŨNG..........................................................................6
II. NGUYÊN NHÂN DẪN ĐẾN THAM NHŨNG.................................................2
III. DẤU HIỆU PHÁP LÝ CƠ BẢN CỦA THAM NHŨNG................................3
3.1. Dấu hiệu pháp lý cơ bản..................................................................................3
3.1.1. Dấu hiệu pháp lý cơ bản của tham nhũng.................................................3
3.1.2. Các quy định pháp luật liên quan.............................................................5
3.2. Dấu hiệu pháp lý cơ bản của tham nhũng thể hiện qua các loại hành vi tham
nhũng.....................................................................................................................6
3.2.1. Tham ô tài sản..........................................................................................6
3.2.2. Nhận hối lộ...............................................................................................8
3.2.3. Lạm dụng chức vụ quyền hạn chiếm đoạt tài sản...................................11
3.2.4. Lạm quyền trong khi thi hành công vụ...................................................13
3.2.5. Lợi dụng chức vụ, quyền hạn gây ảnh hưởng đến người khác để trục lợi.
.........................................................................................................................15
3.2.6. Giả mạo trong công tác..........................................................................17 iii
3.2.7. Đưa hối lộ môi giới hối lộ được thực hiện bởi người có chức vụ, quyền
hạn để giải quyết công việc của cơ quan, tổ chức, đơn vị hoặc địa phương vì vụ
lợi.....................................................................................................................20
3.2.8. Lợi dụng chức vụ, quyền hạn sử dụng trái phép tài sản của nhà nước vì
vụ lợi................................................................................................................22
3.2.9. Nhũng nhiễu vì vụ lợi.............................................................................24
3.2.10. Không thực hiện nhiệm vụ, công vụ vì vụ lợi......................................27
3.2.11. Lợi dụng chức vụ quyền hạn để bao che cho người có hành vi vi phạm
pháp luật vì vụ lợi: cản trở, can thiệp trái pháp luật vào việc kiểm tra, thanh tra,
kiểm toán, điều tra, truy tố, xét xử, thi hành án vì vụ lợi..................................30
B. BÀI TẬP CHIA DI SẢN THỪA KẾ....................................................................32
I. THỪA KẾ...........................................................................................................32
1.1. Thừa kế là gì?...................................................................................................32
1.2. Một số quy định chung về thừa kế................................................................33
1.2.1. Chủ thể của quan hệ pháp luật thừa kế...................................................33
1.2.2. Di sản thừa kế........................................................................................33
1.2.3. Thời điểm mở thừa kế, địa điểm mở thừa kế..........................................33
1.2.4. Người quản lý di sản..............................................................................34
1.2.5. Việc thừa kế của những người có quyền thừa kế di sản của nhau mà chết
cùng thời điểm.................................................................................................34
1.2.6. Những người không được hưởng di sản.................................................34
1.2.7. Thời hiệu thừa kế...................................................................................34
1.3. Thừa kế theo di chúc.....................................................................................35
1.3.1. Khái niệm...............................................................................................35
1.3.2 Người lập di chúc....................................................................................35
1.3.4. Cơ sở pháp lý.........................................................................................37
1.4. Thừa kế theo pháp luật..................................................................................38
1.4.1. Khái niệm...............................................................................................38
1.4.2. Các trường hợp chia thừa kế theo pháp luật...........................................38
1.4.3. Các hàng thừa kế theo pháp luật.............................................................38
1.4.4. Thừa kế thế vị........................................................................................39
1.4.5. Truất quyền thừa kế và mối liên hệ với nguyên tắc của thừa kế.............40
1.5. Cách sử dụng khác của di sản.......................................................................40 iv
1.5.1. Di sản dùng vào việc thờ cúng...............................................................40
1.5.2. Di tặng....................................................................................................40
1.5.3. Cơ sở pháp lí:.........................................................................................41
II. TÓM TẮT NỘI DUNG TÌNH HUỐNG..........................................................41
III. NỘI DUNG KỊCH BẢN..................................................................................41
IV. GIẢI QUYẾT TÌNH HUỐNG........................................................................46
1. Một số Điều, Khoản của BLDS.......................................................................46
2. Bài tập tình huống............................................................................................49
KẾT LUẬN................................................................................................................51
BIÊN BẢN XÁC ĐỊNH MỨC ĐỘ THAM GIA VÀ KẾT QUẢ THAM GIA LÀM
BÀI TẬP NHÓM........................................................................................................53 v LỜI CẢM ƠN
Chúng em xin gửi lời cảm ơn chân thành đến cô Đỗ Thị Hoa đã tận tình hướng
dẫn, cung cấp kiến thức và tài liệu để nhóm hoàn thành bài nghiên cứu này. Chúng em
cũng xin cảm ơn các bạn trong nhóm đã cùng nhau hợp tác, thảo luận và đóng góp để hoàn thiện đề tài. vi LỜI MỞ ĐẦU
Tham nhũng là một vấn đề nghiêm trọng, gây ảnh hưởng tiêu cực đến sự phát
triển kinh tế, chính trị, xã hội của mỗi quốc gia. Nghiên cứu về các dấu hiệu pháp lý
của tham nhũng giúp nhận diện, phòng ngừa và đấu tranh hiệu quả với hành vi này. Đề
tài này nhằm làm rõ các khía cạnh pháp lý của tham nhũng để có những biện pháp xử lý thích hợp.
1. Lý do chọn đề tài.
Tham nhũng không chỉ gây thất thoát tài sản của nhà nước mà còn làm suy
giảm niềm tin của người dân vào hệ thống chính quyền. Việc nghiên cứu các dấu hiệu
pháp lý của tham nhũng sẽ giúp nâng cao nhận thức pháp luật, đồng thời đóng góp vào
công cuộc đấu tranh phòng, chống tham nhũng.
2. Mục đích nghiên cứu đề tài.
Làm rõ khái niệm, đặc điểm và các dấu hiệu pháp lý cơ bản của tham nhũng.
Phân tích các quy định pháp luật hiện hành về hành vi tham nhũng.
Đề xuất giải pháp nâng cao hiệu quả phòng chống tham nhũng.
3. Đối tượng, phạm vi nghiên cứu.
Đối tượng nghiên cứu: Các quy định pháp luật liên quan đến tham nhũng và
dấu hiệu nhận diện hành vi tham nhũng.
Phạm vi nghiên cứu: Nghiên cứu các quy định pháp luật về phòng, chống tham
nhũng tại Việt Nam và so sánh với một số quốc gia trên thế giới.
4. Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của đề tài.
Về mặt lý luận: Góp phần hệ thống hóa và làm rõ hơn những dấu hiệu pháp lý của hành vi tham nhũng. vii
Về mặt thực tiễn: Đề xuất các biện pháp nhằm nâng cao hiệu quả phòng, chống
tham nhũng trong hệ thống pháp luật và quản lý nhà nước.
A. LÝ THUYẾT: CÁC DẤU HIỆU PHÁP LÝ CƠ BẢN CỦA THAM NHŨNG
I. ĐỊNH NGHĨA THAM NHŨNG.
- Ở nước ta, khái niệm tham nhũng chính thức được quy định tại Khoản 2 Điều 1 Luật
Phòng, Chống tham nhũng 2005 (được sửa đổi, bổ sung năm 2007, 2012) như sau:
“Tham nhũng là hành vi của người có chức vụ, quyền hạn đã lợi dụng chức vụ, quyền hạn đó vì vụ lợi.” Trong đó:
- Người có chức vụ, quyền hạn là người do bổ nhiệm, do bầu cử, do tuyển dụng, do
hợp đồng hoặc do một hình thức khác, có hưởng lương hoặc không hưởng lương, được
giao thực hiện nhiệm vụ, công vụ nhất định và có quyền hạn nhất định trong khi thực
hiện nhiệm vụ, công vụ đó.
- Vụ lợi ở đây được hiểu là lợi ích vật chất hoặc lợi ích phi vật chất mà người có chức
vụ, quyền hạn đã đạt được hoặc có thể đạt được thông qua việc lợi dụng chức vụ,
quyền hạn được giao để thực hiện hành vi tham nhũng.
II. NGUYÊN NHÂN DẪN ĐẾN THAM NHŨNG. - Nguyên nhân chung:
+ Quản lý nhà nước yếu kém, thiếu hiệu quả trong giám sát và thực thi pháp luật.
+ Khung pháp luật về phòng, chống tham nhũng thiếu đầy đủ hoặc không được thi hành hiệu quả.
+ Khủng hoảng chính trị, xã hội, kinh tế ảnh hưởng tới đạo đức của đội ngũ công chức. viii
+ Thu nhập của đội ngũ công chức quá thấp, không đủ nuôi bản thân họ và gia đình:
Khi mức lương không đủ đáp ứng nhu cầu sống, nhiều công chức tìm cách kiếm thêm
thu nhập từ nguồn không chính thức, bao gồm cả hành vi tham nhũng;...
+ Thể chế chính trị và truyền thống văn hóa hàm chứa những yếu tố ủng hộ hay khoan
dung với hành vi tham nhũng... - Nguyên nhân chủ quan:
+ Tổ chức, hoạt động, phân hóa chức năng của hệ thống chính trị nói chung còn nhiều
khuyết điểm: Chưa có sự phân quyền rõ ràng giữa các cơ quan, dẫn đến tình trạng
chồng chéo chức năng, dễ bị lợi dụng để trục lợi,...
+ Cơ chế, chính sách, pháp luật chưa hoàn thiện: Chính sách quản lý tài sản, thu nhập
của cán bộ công chức chưa rõ ràng, chưa có cơ chế kiểm soát minh bạch để phát hiện
tài sản bất minh, Luật chống tham nhũng chưa bao quát hết các lĩnh vực có nguy cơ
tham nhũng cao, như tài chính công, đất đai, đấu thầu, công trình công cộng.
+ Nhận thức của lãnh đạo một số tổ chức về tham nhũng còn chưa đầy đủ, thiếu trách
nhiệm trong công tác giám sát, chưa phân hóa rõ nhiệm vụ của hệ thống cơ quan
chuyên trách về phòng, chống tham nhũng
+ Công tác tuyên truyền mang tính phong trào: Nhiều chương trình tuyên truyền về
phòng, chống tham nhũng chỉ mang tính hình thức, chưa thực sự tác động đến ý thức
và hành vi của cán bộ, công chức;... - Nguyên nhân khách quan:
+ Mức sống thấp, trình độ quản lý nhà nước, pháp luật hạn chế, đang trải qua quá trình
chuyển đổi cơ chế quản lý kinh tế Trình độ quản lý nhà nước chưa cao, đặc biệt trong
các lĩnh vực tài chính, đất đai, khiến việc kiểm soát tham nhũng gặp nhiều khó khăn;...
+ Mặt trái của cơ chế kinh tế thị trường (cạnh tranh, phân hóa,..): Chênh lệch giàu
nghèo ngày càng gia tăng có thể khiến một số cá nhân trong bộ máy nhà nước lợi dụng
chức vụ để tư lợi;...
+ Sự phát triển của công nghệ số và tài chính phi truyền thống: Các hình thức giao
dịch tài chính ẩn danh (tiền ảo, giao dịch ngang hàng P2P - giúp che giấu danh tính
người gửi/nhận tiền, tạo kẽ hở cho rửa tiền và tẩu tán tài sản tham nhũng) khiến việc
kiểm soát nguồn tài sản tham nhũng gặp khó khăn. ix
III. DẤU HIỆU PHÁP LÝ CƠ BẢN CỦA THAM NHŨNG.
3.1. Dấu hiệu pháp lý cơ bản.
3.1.1. Dấu hiệu pháp lý cơ bản của tham nhũng.
Theo các quy định hiện hành của pháp luật Việt Nam, tham nhũng có những
dấu hiệu đặc trưng cơ bản sau:
1. Chủ thể thể tham nhũng là người có chức vụ, quyền hạn.
Người có chức vụ, quyền hạn, là những người thực hiện chức năng đại diện
quyền lực nhà nước, chức năng tổ chức, điều hành, quản lý hành chính, tổ chức sản xuất.
Theo khoản 3 Điều 1, Luật phòng chống tham nhũng năm 2005, người có chức vụ quyền hạn bao gồm:
oCán bộ, công chức, viên chức.
oSĩ quan, quân nhân chuyên nghiệp, công nhân quốc phòng trong cơ
quan, đơn vị thuộc Quân đội nhân dân; sĩ quan, hạ sĩ quan nghiệp vụ, sĩ
quan, hạ sĩ quan chuyên môn - kỹ thuật trong cơ quan, đơn vị thuộc Công an nhân dân.
oCán bộ lãnh đạo, quản lý trong doanh nghiệp của nhà nước; cán bộ lãnh
đạo, quản lý là người đại diện phần vốn góp của nhà nước tại doanh nghiệp.
oNgười được giao thực hiện nhiệm vụ, công vụ có quyền hạn trong khi
thực hiện nhiệm vụ, công vụ đó.
=> Ở Việt Nam, tham nhũng chủ yếu được kiểm soát trong khu vực công, tập trung
vào những người giữ trọng trách nhà nước. Việc giới hạn này giúp đấu tranh có trọng
tâm, áp dụng hiệu quả các biện pháp như kê khai tài sản, công khai minh bạch và xử lý trách nhiệm.
2. Chủ thể tham nhũng lợi dụng chức vụ, quyền hạn được giao
Khi thực hiện hành vi tham nhũng, kẻ tham nhũng phải sử dụng “chức vụ,
quyền hạn của mình” như một phương tiện để mang lại lợi ích cho mình, cho
gia đình mình hoặc cho người khác.
Một người có chức vụ, quyền hạn nhưng không lợi dụng chức vụ, quyền hạn đó
thì không có hành vi tham nhũng. Tuy nhiên, không phải mọi hành vi của người x
có chức vụ, quyền hạn đã lợi dụng chức vụ, quyền hạn đó đều được coi là hành vi tham nhũng.
Những hành vi sau đây sẽ bị coi là hành vi tham nhũng khi:
oTham ô tài sản : Người có chức vụ, được hưởng quyền lợi vị trí công
tác để chiếm đoạt tài sản nhà nước, tổ chức, doanh nghiệp.
oNhận được tiền tiết lộ : Lợi ích chức năng để nhận tiền, tài sản, ích lợi
thực hiện hoặc không thực hiện được bất kỳ công việc nào theo yêu cầu
của người đưa ra tiền thưởng.
oLạm dụng chức vụ, quyền hạn để trục lợi : Sử dụng quyền lực để
hưởng lợi cá nhân bất hợp pháp.
oLợi ích chức năng, quyền hạn gây ảnh hưởng đến người khác để
trục lợi : Gây áp lực, đe dọa hoặc tip để nhận lợi ích từ cá nhân, tổ chức.
oGiả mạo trong công tác : Làm sai lệch nội dung giấy tờ, hồ sơ để tư lợi.
oNhũng nhiễu vì lợi ích : Cố tình gây khó khăn, kéo dài thủ tục để buộc
dân, doanh nghiệp phải đưa tiền hoặc lợi ích khác.
oLợi ích chức năng, quyền sử dụng trái phép tài sản : Sử dụng tài sản
nhà nước vào mục tiêu cá nhân, quy định sai.
3. Mục đích của tham nhũng là vụ lợi
Hành vi tham nhũng là hành vi cố ý và mục đích là vụ lợi. Nếu chủ thể thực
hiện hành vi không cố ý thì hành vi đó không là hành vi tham nhũng. Vụ lợi ở
đây được hiểu là lợi ích vật chất hoặc lợi ích tinh thần mà người có chức vụ,
quyền hạn đã đạt được hoặc có thể đạt được thông qua hành vi tham nhũng.
Pháp luật Việt Nam hiện nay quy định việc đánh giá tính chất và mức độ nguy
hiểm của hành vi tham nhũng chủ yếu dựa trên căn cứ xác định những lợi ích
vật chất mà kẻ tham nhũng đạt được để từ đó quyết định mức độ xử lý. Lợi ích
vật chất hiện nay trong cơ chế thị trường thể hiện ở rất nhiều dạng khác nhau,
nếu chỉ căn cứ vào những tài sản phát hiện hoặc thu hồi được để đánh giá lợi
ích mà kẻ tham nhũng đạt được thì sẽ là không đầy đủ. Thêm nữa, các lợi ích
vật chất và tinh thần đan xen rất khó phân biệt. Ví dụ: Việc dùng tài sản của
Nhà nước để khuyếch trương thanh thế, gây dựng uy tín hay các mối quan hệ để
thu lợi bất chính. Trong trường hợp này, mục đích của hành vi vừa là lợi ích vật
chất, vừa là lợi ích tinh thần… xi
Đối với khu vực tư, khi có vụ việc tham nhũng xảy ra, pháp luật đã có những
sự điều chỉnh nhất định. Tuy nhiên, cũng có trường hợp, người có chức vụ,
quyền hạn trong các tổ chức, doanh nghiệp thuộc khu vực tư cấu kết, móc nối
với những người thoái hoá, biến chất trong khu vực công hoặc lợi dụng ảnh
hưởng của những người này để trục lợi. Trong trường hợp đó, họ trở thành
đồng phạm khi người có hành vi tham nhũng bị truy cứu trách nhiệm hình sự.
=> Hậu quả pháp lý:
Gây thiệt hại cho Nhà nước, tổ chức, cá nhân khác.
Làm suy giảm niềm tin của nhân dân vào chính quyền, tác động tiêu cực đến sự
phát triển kinh tế - xã hội.
Có thể dẫn đến trách nhiệm hình sự, hành chính hoặc kỷ luật theo quy định pháp luật
Làm suy yếu bộ máy quản lý nhà nước, tạo điều kiện cho các hành vi tiêu cực
khác phát sinh, ảnh hưởng đến hiệu quả hoạt động của cơ quan công quyền.
Tạo môi trường bất công bằng, làm mất cơ hội phát triển của những cá nhân,
doanh nghiệp tuân thủ pháp luật, dẫn đến tâm lý tiêu cực trong xã hội
Gia tăng nguy cơ hội nhập kinh tế bị ảnh hưởng, khi các tổ chức, doanh nghiệp
trong nước bị hạn chế tham gia thị trường quốc tế do các vấn đề liên quan đến tham nhũng.
3.1.2. Các quy định pháp luật liên quan.
Luật Phòng, chống tham nhũng năm 2018: Đưa ra các quy định cụ thể về
phòng, chống, phát hiện và xử lý tham nhũng.
Bộ luật Hình sự 2015 (sửa đổi, bổ sung 2017): Quy định các tội danh liên quan
đến tham nhũng và khung hình phạt cụ thể.
Luật Cán bộ, công chức và Luật Viên chức: Xác định trách nhiệm của cán bộ,
công chức trong phòng, chống tham nhũng.
Các quy định về minh bạch tài sản, thu nhập: Yêu cầu quan chức kê khai tài sản
và giải trình nguồn gốc tài sản.
=> Nhận diện và xử lý tham nhũng là yêu cầu cần thiết để bảo đảm sự minh bạch và
công bằng trong xã hội. Việc xác định rõ dấu hiệu pháp lý của tham nhũng giúp cơ
quan chức năng dễ dàng xác minh, điều tra và xử phạt các hành vi vi phạm. Các biện xii
pháp như kiểm soát quyền lực, công khai minh bạch tài sản, tăng cường giám sát xã
hội và xử lý nghiêm minh các trường hợp vi phạm sẽ góp phần quan trọng vào công
cuộc phòng, chống tham nhũng. Việc đẩy mạnh các biện pháp phòng, chống tham
nhũng là cách tốt nhất để xây dựng một môi trường lành mạnh và phát triển bền vững.
3.2. Dấu hiệu pháp lý cơ bản của tham nhũng thể hiện qua các loại hành vi tham nhũng.
3.2.1. Tham ô tài sản. Khái niệm:
- Tham ô tài sản là hành vi của người có chức, có quyền hạn đã lợi dụng chức
vụ, quyền hạn đó để chiếm đoạt tài sản mà mình có trách nhiệm quản lý.
- Trong đó “Chiếm đoạt tài sản” là hành vi chuyển dịch bất hợp pháp tài sản từ
chủ sở hữu thành tài sản của mìn hoặc của cơ quan, tổ chức, cá nhân khác. Hành vi
chuyển dịch tài sản được thực hiện thông qua thủ đoạn lợi dụng chức vụ, quyền hạn
=> Dấu hiệu đặc trưng trong hành vi tham ô tài sản
a) Chủ thể của tội phạm:
Chủ thể của tội phạm phải thỏa mãn đầy đủ 2 điều kiện: Người phạm tội phải là
người có chức vụ quyền hạn và là người có trách nhiệm quản lý tài sản.
b) Khách thể của tội phạm:
Tội tham ô tài sản trực tiếp xâm hại hai quan hệ xã hội, đó là sự hoạt động đúng
đắn của các cơ quan, tổ chức đối với việc quản lý, sử dụng, đầu tư tài sản và quan hệ
sở hữu. Đối tượng tác động của tội phạm
phải thỏa mãn 2 điều kiện, đó là:
Tài sản bị chiếm đoạt phải là tài sản mà người phạm tội có trách nhiệm quản lý,
từ đó họ có nhiều thuận lợi trong việc chiếm hữu hợp pháp đối với tài sản.Giá
trị tài sản bị chiếm đoạt phải trị giá từ 2.000.000 đồng trở lên.
Trường hợp tài sản bị chiếm đoạt dưới 2.000.000 đồng phải thỏa mãn 1 trong 2 điều kiện:
oĐã bị xử lý kỷ luật về hành vi này mà còn vi phạm.
oĐã bị kết án về một trong các tội quy định tại Mục 1 Chương XXIII Bộ
luật Hình sự 2015 (sửa đổi, bổ sung 2017), chưa được xoá án tích mà còn vi phạm.
c) Mặt chủ quan của tội phạm: xiii
Các chủ thể mong muốn chiếm đoạt tài sản của cơ quan, tổ chức cho thấy yếu
tố lỗi trong cấu thành tội tham ô tài sản là lỗi cố ý trực tiếp; mục đích, động cơ là vụ lợi.
d) Mặt khách quan của tội phạm phải có các dấu hiệu đặc trưng sau:
- Lợi dụng chức vụ, quyền hạn tức là người phạm tội sử dụng quyền hạn được
giao để thực hiện không đúng trách nhiệm của mình hoặc làm trái các quy định về chế
độ quản lý tài sản mà mình phụ trách nhằm mục đích chiếm đoạt tài sản của cơ quan,
tổ chức cho bản thân mình.
- Sử dụng quyền hạn vượt quá giới hạn cho phép nhưng có liên quan đến cương
vị công tác để chiếm đoạt tài sản như: Kế toán tự lập chứng từ thanh toán khống không
thông qua chủ tài khoản để chiếm đoạt…
- Hành vi chiếm đoạt tài sản có thể thực hiện công khai, có thể thực hiện bí mật.
Thực tiễn cho thấy, để che giấu hành vi chiếm đoạt người phạm tội thường có hành vi
sửa chữa sổ sách, chứng từ; lập chứng từ giả; cố ý nâng cao hoặc hạ thấp một cách sai
trái giá trị tài sản là đối tượng trong các hợp đồng đầu tư, mua bán tài sản; lập khống
các hợp đồng, chứng từ liên quan đến thu chi tài chính, mua bán tài sản; tiêu huỷ, sửa
chữa hoá đơn, chứng từ liên quan đến việc thu chi tài chính… Các thủ đoạn này có thể
được thực hiện trước, trong hoặc sau khi chủ thể chiếm đoạt được tài sản.
- Ngoài việc chiếm đoạt tài sản, những hành vi nói trên của chủ thể còn gây
thiệt hại, làm thất thoát tài sản của cơ quan, tổ chức, nhất là các vụ án liên quan đến
Tập đoàn kinh tế, doanh nghiệp Nhà nước, các đối tượng đã dùng nhiều thủ đoạn khác
nhau để chiếm đoạt tài sản và đã gây ra thiệt hại, làm thất thoát tài sản trị giá hàng
chục, hàng trăm lần so với trị giá tài sản chiếm đoạt. Vì vậy, khi xử lý những vụ án
này, cần phải xác định làm rõ hậu quả trị giá tài sản chiếm đoạt với hậu quả bị thiệt
hại, thất thoát làm cơ sở, tiêu chí để hành vi có cấu thành tội tham ô, xác định tình tiết
có ý nghĩa định tội và tình tiết có ý nghĩa xác định khung tăng nặng tại Điểm d Khoản
2, Điểm a Khoản 3 và Điểm a Khoản 4 Điều 353; Đối với những thiệt hại khác phát
sinh (kéo theo) từ hành vi tham ô là tình tiết tiết định khung tăng nặng quy định tại
Điểm e Khoản 2, Điểm b Khoản 3, 4 Điều 353. Ví dụ:
- Ông Lê Tấn Hùng, Tổng Giám đốc Tổng Công ty Nông nghiệp Sài Gòn (SAGRI)
- Tóm tắt vụ án: Ông Lê Tấn Hùng, nguyên Tổng Giám đốc Tổng Công ty Nông
nghiệp Sài Gòn (SAGRI), cùng các đồng phạm đã lập khống 10 hợp đồng tham quan, xiv
học tập kinh nghiệm ở nước ngoài cho cán bộ, nhân viên SAGRI, chiếm đoạt hơn 13,3 tỷ đồng.
Chủ thể: Ông Lê Tấn Hùng là người có chức vụ, quyền hạn, giữ vị trí Tổng
Giám đốc SAGRI, có trách nhiệm quản lý tài sản của công ty.
Khách thể: Hành vi của ông Hùng xâm phạm đến tài sản của nhà nước và làm
ảnh hưởng đến hoạt động đúng đắn của SAGRI.
Mặt khách quan: Ông Hùng đã lợi dụng chức vụ, chỉ đạo lập khống các hợp
đồng, chiếm đoạt hơn 13,3 tỷ đồng từ ngân sách công ty.
Mặt chủ quan: Ông Hùng thực hiện hành vi với lỗi cố ý trực tiếp, nhằm mục
đích chiếm đoạt tài sản cho cá nhân.
=> Bản án: Trong phiên tòa sơ thẩm tháng 12/2021, Tòa án Nhân dân TP.HCM tuyên
phạt ông Lê Tấn Hùng 25 năm tù về tội "Tham ô tài sản" và "Vi phạm quy định về
quản lý, sử dụng tài sản nhà nước gây thất thoát, lãng phí". Trong phiên phúc thẩm
tháng 6/2022, Tòa án Nhân dân Cấp cao tại TP.HCM giảm án cho ông Hùng xuống còn 24 năm tù
3.2.2. Nhận hối lộ. Khái niệm:
- Nhận hối lộ là hành vi của người có chức vụ, quyền hạn, đã lợi dụng chức vụ,
quyền hạn của mình một cách trực tiếp hoặc thông qua trung gian đã nhận hoặc sẽ
nhận tiền, tài sản, lợi ích vật chất hoặc lợi ích phi vật chất dưới bất kỳ hình thức nào
cho bản thân mình hoặc cho cá nhân, tổ chức khác để làm hoặc không làm một việc vì
lợi ích hoặc theo yêu cầu của người đưa hối lộ.
- Trong đó “Lợi ích phi vật chất” là những lợi ích tinh thần, lợi ích vô hình mà
người nhận hối lộ có thể đạt được như: tình dục, danh tiếng, việc làm.. Việc quy định
nội dung này nhằm nội luật hóa chuẩn mực quốc tế mà Việt Nam là thành viên.
a) Chủ thể của tội phạm:
Chủ thể của tội phạm là người có chức vụ, quyền hạn và được giao hoặc phải
thực hiện công vụ theo quy định của pháp luật liên quan đến người đưa hối lộ.
b) Khách thể của tội phạm:
Tội nhận hối lộ trực tiếp xâm hại hoặc đe dọa xâm hại đến sự hoạt động đúng
đắn của các cơ quan Nhà nước tổ chức chính trị, xã hội hoặc các cơ quan, tổ chức khác xv
và xâm phạm hoặc đe dọa xâm phạm đến quyền và lợi ích hợp pháp của cá nhân, cơ quan, tổ chức.
c) Mặt chủ quan của tội phạm:
Các chủ thể mong muốn chiếm đoạt tài sản của cơ quan, tổ chức cho thấy yếu
tố lỗi trong cấu thành tội tham ô tài sản là lỗi cố ý trực tiếp và có động cơ là vụ lợi.
d) Mặt khách quan thể hiện qua những nội dung như sau:
- Hành vi lợi dụng chức vụ, quyền hạn đã nhận hoặc sẽ nhận tiền hoặc lợi ích
vật chất khác có giá trị từ 2.000.000 đồng trở lên hoặc lợi ích phi vật chất.
- Đối với trường hợp đã nhận lợi ích vật chất hoặc lợi ích phi vật chất thì biểu
hiện của nội dung khách quan này có thể người phạm tội chủ động đòi hối lộ và người
đưa hối lộ trực tiếp (hoặc qua trung gian) đã đưa hối lộ. Tội phạm quy định tại Điều
354 là tội phạm có cấu thành hình thức, cho dù người phạm tội chưa thực hiện bất kỳ
hoạt động nào theo thẩm quyền của mình, thì tội phạm vẫn được xem là hoàn thành.
- Đối với trường hợp người phạm tội không chủ động đòi hối lộ, nhưng người
đưa hối lộ trực tiếp (hoặc qua trung gian) chủ động gặp gỡ trực tiếp người phạm tội
hoặc thông qua người thứ ba đề nghị được người phạm tội giúp làm hoặc không làm
một việc nào đó có lợi cho người đưa hối lộ hoặc cho người khác, và người phạm tội
đã đồng ý sẽ thực hiện công việc như đề nghị. Trường hợp này, người phạm tội đã
đồng ý nhận tiền hoặc lợi ích vật chất để thực hiện công việc như đề nghị, thì tội phạm
được xem là đã hoàn thành.
- Cấu thành cơ bản của Tội nhận hối lộ theo quy định của Bộ luật hình sự cũ
1999, đối tượng hối lộ là vật chất, nhưng Bộ luật hình sự 2015 mở rộng thêm đối
tượng là lợi ích phi vật chất. Từ thực tiễn hành vi làm sai lệch công vụ của người có
chức vụ, quyền hạn có thể diễn giải lợi ích phi vật chất như: người phạm tội sẽ được
cân nhắc đề bạt, bổ nhiệm; hoặc nhằm tạo mối quan hệ tốt với đồng nghiệp để được tín
nhiệm; hoặc có thể là được đáp ứng về nhu cầu tình dục…
- Một nội dung quan trọng khác thuộc mặt khách quan của Tội nhận hối lộ là
giữa người phạm tội và bên đưa hối lộ phải có mối liên hệ liên quan đến công vụ mà
người phạm tội được giao hoặc phải thực hiện theo quy định của pháp luật. Khi phát
sinh hoạt động công vụ nhất định, người đưa hối lộ chủ động đặt vấn đề và đưa hối lộ
trực tiếp (hoặc thông qua trung gian) cho người có trách nhiệm thi hành công vụ; hoặc
người có trách nhiệm thi hành công vụ chủ động trực tiếp (hoặc thông qua trung gian)
đòi hối lộ với người liên quan đến hoạt động công vụ hoặc đòi hối lộ thông qua người xvi
thứ ba. Nếu như giữa người phạm tội và bên đưa hối lộ không có mối liên hệ liên quan
đến công vụ mà người phạm tội có trách nhiệm thi hành, thì hành vi lợi dụng chức vụ,
quyền hạn để nhận tiền (trục lợi) sẽ phạm vào tội danh khác.
- Mục đích của việc đưa và nhận hối lộ nhằm để chủ thể làm hoặc không làm
một việc thuộc trách nhiệm của mình vì lợi ích hay theo yêu cầu của người đưa hối lộ.
Như vậy, trong cấu thành tội phạm trên không bắt buộc người nhận hối lộ đã thực hiện
một việc vì lợi ích hay theo yêu cầu của người đưa hối lộ. Như đã phân tích trên, tội
phạm được xem là hoàn thành khi người phạm tội chủ động đòi hối lộ hoặc đã nhận
tiền, tài sản dùng làm phương tiện phạm tội.
- Từ phân tích cấu trúc và làm rõ thời điểm tội phạm hoàn thành cho thấy, nếu
trong quá trình người phạm tội làm hoặc không làm một việc thuộc trách nhiệm của
mình vì lợi ích hay theo yêu cầu của người đưa hối lộ mà hành vi đó cấu thành một tội
độc lập khác, thì ngoài tội nhận hối lộ, họ sẽ phải chịu trách thêm về độc lập ấy Ví dụ:
- Vụ án ông Nguyễn Thanh Long, Bộ trưởng Bộ Y tế
- Tóm tắt vụ án: Ông Nguyễn Thanh Long, nguyên Bộ trưởng Bộ Y tế, đã lợi dụng
chức vụ để giúp Công ty Việt Á được cấp phép sản xuất và tiêu thụ kit xét nghiệm
COVID-19 với giá cao, gây thiệt hại lớn cho ngân sách Nhà nước. Đổi lại, ông nhận
hối lộ hơn 51 tỷ đồng từ doanh nghiệp này. Chủ thể: Ông
Nguyễn Thanh Long là người có chức vụ, quyền hạn, giữ vị trí Bộ trưởng Bộ Y tế.
Khách thể: Hành vi của ông Long xâm phạm đến hoạt động quản lý nhà nước
trong lĩnh vực y tế, gây thất thoát ngân sách Nhà nước và ảnh hưởng đến uy tín cơ quan công quyền.
Mặt khách quan: Ông Long đã chỉ đạo, tạo điều kiện cho Công ty Việt Á được
cấp phép, sản xuất và phân phối kit xét nghiệm với giá cao bất hợp lý.Ông đã
nhận hối lộ hơn 51 tỷ đồng từ Công ty Việt Á để thực hiện hành vi trái pháp luật.
Mặt chủ quan: Ông Long thực hiện hành vi với lỗi cố ý trực tiếp, có động cơ vụ lợi cá nhân.
=> Bản án: Tháng 1/2024, Tòa án Nhân dân TP Hà Nội tuyên phạt ông Nguyễn Thanh
Long mức án 18 năm tù về tội “Nhận hối lộ” theo Điều 354 Bộ luật Hình sự 2015 xvii
3.2.3. Lạm dụng chức vụ quyền hạn chiếm đoạt tài sản. Khái niệm:
Lạm dụng chức vụ quyền hạn chiếm đoạt tài sản là hành vi của người có chức vụ, có
quyền hạn đã sử dụng chức vụ, quyền hạn của mình như một công cụ phương tiện để
làm một việc rõ ràng vượt quá phạm vi chức vụ, quyền hạn của mình để chiếm đoạt tài sản của người khác.
a) Chủ thể của tội phạm:
Đối với tội phạm quy định tại Điều 355 trên thì chủ thể phải thỏa mãn dấu hiệu
của chủ thể đặc biệt, tức là ngoài việc đủ tuổi và có năng lực trách nhiệm hình sự, phải
là người có chức vụ, quyền hạn thì chủ thể mới có điều lạm dụng để tạo điều kiện cho
việc chiếm đoạt tài sản của người khác.
b) Khách thể của tội phạm:
Tội lạm dụng chức vụ, quyền hạn chiếm đoạt tài sản trực tiếp xâm hại sự hoạt
động đúng đắn của các cơ quan Nhà nước, tổ chức xã hội và xâm hại đến quan hệ sở
hữu (sở hữu của cá nhân).
c) Mặt chủ quan của tội phạm:
Người phạm tội thực hiện hành vi phạm tội với lỗi cố ý trực tiếp, có mục đích
chiếm đoạt. Nếu chủ thể có hành vi lợi dụng chức vụ, quyền hạn không có mục đích
chiếm đoạt thì hành vi sẽ phạm vào tội phạm khác như tội phạm quy định tại Điều 356
hoặc Điều 357 Bộ luật hình sự.
d) Mặt khách quan của tội phạm có các dấu hiệu đặc trưng sau:
- Hành vi khách quan được mô tả trong cấu thành tội phạm gồm hai loại hành
vi: Hành vi lạm dụng chức vụ, quyền hạn và hành vi chiếm đoạt tài sản của cơ quan, tổ chức và cá nhân.
- Hành vi lạm dụng chức vụ, quyền hạn biểu hiện thông qua việc người phạm
tội đã thực hiện những hành động vượt quá quyền hạn của mình hoặc không thực hiện
đúng trách nhiệm của mình theo quy định của pháp luật hoặc thực hiện không đầy
trách nhiệm để tạo điều kiện thực hiện hành vi chiếm đoạt tài sản. Sự lạm dụng chức
vụ, quyền hạn được xem là phương thức thực hiện tội phạm này và phải xảy ra trước
hành vi chiếm đoạt. Để xác định được có sự lạm dụng chức vụ, quyền hạn thì phải tùy
từng lĩnh vực, vị trí công tác khác nhau và trường hợp cụ thể…, qua đó đối chiếu với xviii
quy định của pháp luật để xác định chủ thể có thẩm quyền ra sao, từ đó xác định chủ
thể có hành vi vượt quá giới hạn thẩm quyền theo luật định.
- Hành vi lạm dụng chức vụ, quyền hạn là tiền đề để chủ thể thực hành vi chiếm
đoạt tài sản. Thủ đoạn mà người phạm tội sử dụng chiếm đoạt tài sản rất đa dạng, có
thể là thủ đoạn uy hiếp về tinh thần người quản lý tài sản, có thể là thủ đoạn gian dối
hoặc lợi dụng sự tin tưởng để chiếm đoạt. Các thủ đoạn trên sở dĩ tạo ra được điều
kiện thuận lợi cho việc chiếm đoạt tài sản là nhờ người phạm tội có chức vụ, quyền
hạn, nếu chủ thể không có điều kiện tiền đề này, thì rất khó thực hiện hành vi thứ hai trên thực tế.
- Hậu quả thiệt hại về tài sản từ 2.000.000 đồng trở lên. Đối với thiệt hại về tài
sản dưới 2.000.000 đồng thì chủ thể phải thuộc một trong các trường hợp: Đã bị xử lý
kỹ luật về hành vi này mà còn vi phạm hoặc đã bị kết án về một trong các tội quy định
tại Mục 1 Chương này, chưa được xóa án tích mà còn vi phạm. Đây là tội phạm có cấu
thành vật chất, hành vi gây ra hậu quả trên thực tế thì tội phạm mới hoàn thành, nếu vì
nguyên nhân khách quan mà người phạm tội không chiếm đoạt được tài sản của người
khác thì hành vi thuộc trường hợp phạm tội chưa đạt. Ví dụ:
- Vụ án ông Nguyễn Đức Chung, khi còn giữ chức Chủ tịch UBND TP Hà Nội
- Tóm tắt vụ án: Ông Nguyễn Đức Chung, khi còn giữ chức Chủ tịch UBND TP Hà
Nội, đã lợi dụng quyền hạn của mình để can thiệp trái phép vào gói thầu xử lý nước ô
nhiễm của Sở Kế hoạch và Đầu tư TP Hà Nội. Ông chỉ đạo cấp dưới tạo điều kiện cho
công ty Nhật Cường trúng thầu trái quy định, đồng thời thông đồng với doanh nghiệp
để hưởng lợi bất chính.
Chủ thể: Ông Nguyễn Đức Chung là người có chức vụ, quyền hạn, giữ vị trí
lãnh đạo cao nhất của chính quyền TP Hà Nội. Khách thể: Hành
vi của ông xâm phạm đến hoạt động đúng đắn của bộ máy
quản lý nhà nước và quyền sở hữu tài sản của Nhà nước. Mặt khách quan:
oÔng Chung đã lợi dụng quyền hạn của mình để can thiệp vào gói thầu
của TP Hà Nội, chỉ đạo cấp dưới làm trái quy định để công ty Nhật Cường trúng thầu.
oÔng trực tiếp hoặc gián tiếp nhận lợi ích vật chất từ doanh nghiệp mà
không đúng quy định của pháp luật. xix Mặt chủ quan: Ông
thực hiện hành vi với lỗi cố ý trực tiếp, nhằm mục đích tư
lợi cá nhân và nhóm lợi ích. => Bản án:
· Ngày 13/12/2021, Tòa án Nhân dân TP Hà Nội tuyên phạt ông Nguyễn Đức Chung
8 năm tù về tội "Lợi dụng chức vụ, quyền hạn trong khi thi hành công vụ".
· Trước đó, ông đã bị tuyên phạt 5 năm tù trong vụ án "Chiếm đoạt tài liệu bí mật Nhà
nước" và 3 năm tù trong vụ "Vi phạm quy định đấu thầu".
· Tổng hợp hình phạt, ông Nguyễn Đức Chung phải chấp hành 13 năm tù.
· Ngoài hình phạt tù, Hội đồng xét xử còn buộc bị cáo Chung phải bồi thường số tiền 25 tỷ đồng
3.2.4. Lạm quyền trong khi thi hành công vụ. Khái niệm:
Lạm quyền trong khi thi hành công vụ là hành vi của người có chức vụ, quyền
hạn xuất phát từ động cơ vụ lợi hoặc động cơ cá nhân khác đã sử dụng chức vụ, quyền
hạn của mình như một công cụ phương tiện để làm một việc rõ ràng vượt quá phạm vi
chức vụ, quyền hạn của mình trong khi thi hành công vụ gây thiệt hại cho lợi ích Nhà
nước, của xã hội quyền, lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân.
a) Chủ thể của tội phạm:
Là chủ thể đặc biệt, người phạm tội phải có chức vụ, quyền hạn theo quy định
của pháp luật thì mới có điều kiện để thực hiện tội phạm. Từ nội dung này có thể hiểu
chủ thể phải là cán bộ, công chức, khi đó hành vi lợi dụng chức vụ, quyền hạn của chủ
thể mới có thể phát huy hiệu quả trên thực tế.
b) Khách thể của tội phạm:
Tội lạm quyền trong thi hành công vụ xâm phạm đến hoạt động đúng đắn của
nhà cơ quan nhà nước, tổ chức. Cụ thể là tính liêm chính, minh bạch và hiệu quả trong
việc thực thi công vụ của cán bộ, công chức, viên chức. Ngoài ra còn xâm phạm đến
quyền và lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân. Hành vi lạm quyền có thể gây hại đến
tài sản, quyền lợi chính trị, dân sự hoặc các lợi ích hợp pháp khác của cá nhân tổ chức
c) Mặt chủ quan của tội phạm:
Lỗi cố ý trực tiếp, động cơ phạm tội xuất phát từ động cơ vụ lợi hoặc động cơ
cá nhân. Chủ thể nhận thức được hành vi của mình là trái luật, vượt ra khỏi giới hạn về xx