



Preview text:
1. Công dân Việt Nam không thường trú tại Việt Nam vẫn có thể trở thành luật sư.
2. Thẩm phán Tòa án nhân dân gồm: Thẩm phán cao cấp, Thẩm phán trung cấp, Thẩm phán sơ cấp.
3. Nhiệm kỳ của Kiểm sát viên là 05 năm.
4. Trưởng Văn phòng công chứng phải là công chứng viên, do Chủ tịch Ủy ban
nhân dân cấp tỉnh bổ nhiệm, miễn nhiệm, cách chức. CÂU 1: SAI,
Theo điều 10 luật luật sư năm 2015 Dưới đây là một đoạn văn sửa lại đầy đủ, rõ ràng:
Công dân Việt Nam không thường trú tại Việt Nam về nguyên tắc vẫn có thể được cấp
Chứng chỉ hành nghề luật sư vì Điều 10 Luật Luật sư không đặt ra điều kiện phải
thường trú tại Việt Nam; tuy nhiên, theo điểm d khoản 1 Điều 18 Luật Luật sư, người
“không còn cư trú thường xuyên tại Việt Nam” sẽ bị thu hồi Chứng chỉ hành nghề,
nên xét tổng thể thì nhận định này là sai vì người không thường trú sẽ không thể duy trì tư cách luật sư.
câu 2: Nhận định này sai. Điều 4 Luật Tổ chức Tòa án nhân dân năm 2014 chỉ quy
định hệ thống tổ chức của Tòa án nhân dân, bao gồm Tòa án nhân dân tối cao, Tòa án
nhân dân cấp cao, Tòa án nhân dân tỉnh và Tòa án nhân dân huyện, cùng với hệ thống
Tòa án quân sự; hoàn toàn không quy định về các ngạch Thẩm phán như thẩm phán
cao cấp, trung cấp hay sơ cấp. Các ngạch Thẩm phán này được quy định ở điều khác
của luật, không thuộc nội dung của Điều 4. Do đó, việc dựa vào Điều 4 để khẳng định
hệ thống Thẩm phán gồm ba ngạch trên là không chính xác.
câu 3: Nhận định sai. Theo Điều 82 Luật Tổ chức Viện kiểm sát nhân dân năm 2014,
nhiệm kỳ của Kiểm sát viên là 10 năm, trừ trường hợp riêng là Kiểm sát viên Viện
kiểm sát nhân dân tối cao có nhiệm kỳ 07 năm. Pháp luật không quy định nhiệm kỳ 05
năm đối với bất kỳ chức danh kiểm sát viên nào. Do đó, nội dung nhận định không
phù hợp quy định, và vì vậy là sai
CÂU 4: Nhận định sai. Khoản 1 Điều 21 Luật Công chứng năm 2014 quy định
Trưởng Văn phòng công chứng bắt buộc phải là công chứng viên, nên phần này đúng.
Tuy nhiên, phần tiếp theo của nhận định là sai vì theo Điều 13 và Điều 15 Luật Công
chứng 2014, cơ quan có thẩm quyền bổ nhiệm, miễn nhiệm, cách chức công chứng
viên là Bộ trưởng Bộ Tư pháp, không phải Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp tỉnh. Chủ
tịch UBND tỉnh chỉ có thẩm quyền cho phép thành lập Văn phòng công chứng, phê
duyệt quy chế tổ chức và hoạt động, chứ không có thẩm quyền bổ nhiệm, miễn nhiệm
công chứng viên. Vì vậy, nhận định này là sai.
1. Đọc và trả lời câu hỏi tình huống sau:
Luật sư Q, Trưởng văn phòng luật sư Q và cộng sự, đang tham gia tố tụng trong
vụ án theo hợp đồng dịch vụ pháp lý đã kí kết, để bảo vệ khách hàng A. Đúng
vào đầu buổi diễn ra phiên tòa, Luật sư Q nhận được điện thoại gia đình thông
báo: “Ông nội đang hấp hối, con về gấp”. Sau khi kiểm tra thông tin, luật sư Q đã
thông báo cho khách hàng A biết và đề xuất xin hoãn phiên tòa; và nếu Tòa án
tiếp tục xét xử thì đã có luật sư H của văn phòng luật sư Q và cộng sự, cùng tham
gia tố tụng bảo vệ khách hàng A. Tuy nhiên, khách hàng A đã không đồng ý với
lý do luật sư Q bảo vệ mới đảm bảo chất lượng và tương ứng với mức thù lao đã
trả cho cả hai luật sư. Luật sư Q vẫn quyết định chuyển vụ việc cho luật sư H và về quê.
Anh/chị đánh giá về xử sự của luật sư Q về việc từ chối cung cấp dịch vụ pháp lý và
chuyển giao vụ việc cho luật sư H dưới góc độ pháp luật và đạo đức nghề nghiệp
luật sư? Là luật sư trong trường hợp này anh/chị sẽ xử sự như thế nào?
Trong tình huống này, việc luật sư Q tự ý từ chối tiếp tục cung cấp dịch vụ pháp lý và
chuyển giao vụ việc cho luật sư H khi khách hàng A không đồng ý là không phù hợp
cả về pháp luật lẫn đạo đức nghề nghiệp luật sư. Theo Điều 25 Luật Luật sư 2006, sửa
đổi 2012, luật sư chỉ được chấm dứt việc cung cấp dịch vụ pháp lý khi có lý do chính
đáng nhưng vẫn phải bảo đảm không gây thiệt hại cho khách hàng; đồng thời Điều 5
và Điều 21 Luật Luật sư quy định luật sư có nghĩa vụ bảo vệ tốt nhất quyền lợi của
khách hàng và thực hiện đúng hợp đồng dịch vụ pháp lý. Bên cạnh đó, Quy tắc 14 và
Quy tắc 33 Bộ Quy tắc Đạo đức và Ứng xử nghề nghiệp luật sư Việt Nam năm 2019
nhấn mạnh rằng việc thay thế luật sư trong cùng vụ việc chỉ được thực hiện khi có sự
đồng ý của khách hàng, và luật sư phải tôn trọng sự lựa chọn của khách hàng về người
bào chữa, bảo vệ quyền lợi cho mình. Trong trường hợp này, khách hàng A đã từ chối
việc thay thế nhưng luật sư Q vẫn quyết định chuyển giao cho H và rời phiên tòa, nên
hành vi này không phù hợp chuẩn mực nghề nghiệp. Nếu là luật sư trong tình huống
này, tôi sẽ thực hiện đúng nghĩa vụ bằng cách lập tức xin hoãn phiên tòa theo lý do bất
khả kháng, đồng thời giải thích rõ để khách hàng hiểu và đồng thuận; và chỉ khi Tòa
án không chấp nhận hoãn phiên tòa và khách hàng đồng ý thay thế luật sư thì tôi mới
được phép chuyển giao vụ việc; còn nếu khách hàng không đồng ý thì tôi phải tiếp tục
tham gia phiên tòa để đảm bảo quyền lợi của họ theo đúng luật định.
2. Đọc và trả lời câu hỏi tình huống sau:
Trong hợp đồng dịch vụ pháp lý ký với đại diện hợp pháp của bị cáo N (bảo vệ bị
cáo N tại phiên tòa sơ thẩm), giờ làm việc của luật sư A được tính là 15 giờ/ ngày
kể từ ngày kí kết hợp đồng (bao gồm 8 giờ làm việc ban ngày và 7 giờ làm việc
nghiên cứu ban đêm), với giá một giờ làm việc là 450.000 đồng/ giờ. Ngoài ra,
trong điều khoản về quyền và nghĩa vụ của bên thuê dịch vụ trong hợp đồng dịch
vụ pháp lý, có quy định: “Nếu thân chủ N được TAND tỉnh X tuyên án cho hưởng
án treo, thì ngoài khoản thù lao tính theo giờ làm việc, luật sư A còn được đại diện
hợp pháp của bị cáo N “thưởng” thêm số tiền là 50.000.000 đồng”.
Theo anh chị cách tính thù lao và điều khoản thưởng nói trên của luật sư A trong
hợp đồng dịch vụ pháp lý nói trên có phù hợp với quy định của pháp luật và đạo đức
nghề nghiệp không? Bình luận của anh chị?
Trong tình huống này, việc luật sư A quy định thời gian làm việc 15 giờ/ngày với mức
thù lao 450.000 đồng/giờ là phù hợp với quyền tự do thỏa thuận về thù lao theo Điều
55 Luật Luật sư 2006, sửa đổi 2012, miễn là không vi phạm pháp luật và được sự
đồng thuận của khách hàng. Tuy nhiên, điều khoản thưởng thêm 50.000.000 đồng nếu
bị cáo N được tuyên án treo là hoàn toàn không phù hợp quy định pháp luật và vi
phạm nghiêm trọng đạo đức nghề nghiệp luật sư. Điều 9 và Điều 21 Luật Luật sư quy
định luật sư phải trung thực, độc lập, không được cam kết bảo đảm trước kết quả giải
quyết vụ án; đồng thời Quy tắc 6, Quy tắc 7 và đặc biệt là Quy tắc 11 Bộ Quy tắc Đạo
đức và Ứng xử nghề nghiệp luật sư Việt Nam năm 2019 nghiêm cấm việc thỏa thuận
thù lao phụ thuộc vào kết quả vụ án theo hướng cam kết trước án treo, mức hình phạt
hoặc kết quả cụ thể. Việc đặt điều khoản “thưởng nếu được án treo” khiến thù lao gắn
chặt với kết quả xét xử, làm ảnh hưởng tính độc lập của luật sư, tạo áp lực không phù
hợp, có thể dẫn tới hành vi tiêu cực trong hoạt động tố tụng và làm giảm niềm tin công
chúng vào nghề luật sư. Do vậy, cách tính thù lao theo giờ là hợp pháp nhưng điều
khoản thưởng thêm khi đạt được án treo là trái pháp luật, trái đạo đức nghề nghiệp và
phải bị loại bỏ khỏi hợp đồng dịch vụ pháp lý.
CÂU 3: Khách hàng A khởi kiện luật sư X thuộc đoàn luật sư tỉnh An Giang liên
quan đến hợp đồng dịch vụ pháp lý được ký kết ngày 06/08/2023 giữa ông A và
luật sư X nhằm thực hiện việc bào chữa cho em của ông A. Hợp đồng thỏa thuận
“Luật sư X được nhận thù lao 120 triệu đồng”, tại Điều 5: “Hợp đồng chấm dứt
khi thực hiện xong Điều 1 được giải quyết bằng bản án sơ thẩm”. Tuy nhiên do
hợp đồng đánh máy không có từ “án treo” nên ông A không đồng ý ký. Sau đó,
luật sư X viết tay thêm từ “án treo” vào sau cụm từ “bản án sơ thẩm” tại Điều 5
của Hợp đồng nên ông A đồng ý ký. Sau khi ký hợp đồng, ông A đã giao 80 triệu
cho luât sư X. Tháng 11/2023, Tòa án nhân dân cấp huyện tuyên án phạt em trai
ông A một năm sáu tháng tù giam. Vì em trai không được hưởng án treo nên ông
A cho rằng luật sư X không thực hiện đúng nội dung hợp đồng, nên khởi kiện
luật sư X yêu cầu hoàn trả phí dịch vụ đã đưa cho luật sư X có trừ đi một khoản
chi phí đi lại xăng xe cho luật sư X.
Theo anh chị nội dung thỏa thuận “án treo” trong hợp đồng dịch vụ pháp lý nói
trên có phù hợp với quy định của pháp luật và đạo đức nghề nghiệp không? Bình
luận của anh chị?
Theo quy định của Điều 16 và Điều 62 Luật Luật sư 2022, luật sư có trách nhiệm tư
vấn, bào chữa và bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của khách hàng, nhưng không được
đảm bảo kết quả vụ án. Việc hợp đồng dịch vụ pháp lý ký giữa ông A và luật sư X có
thỏa thuận “án treo” tại Điều 5 là không phù hợp với pháp luật, bởi kết quả xét xử
thuộc thẩm quyền của Tòa án, không thuộc khả năng tác động của luật sư. Do đó, việc
luật sư X không đưa em trai ông A được hưởng án treo không đồng nghĩa với việc vi
phạm hợp đồng về pháp lý, trừ khi luật sư không thực hiện nghĩa vụ bào chữa hoặc có hành vi gian dối.
Về mặt đạo đức nghề nghiệp, theo Điều 5 Bộ Quy tắc đạo đức nghề nghiệp luật sư
2022, luật sư phải trung thực, không được cam kết chắc chắn kết quả vụ án. Việc luật
sư X tự viết tay thêm cụm từ “án treo” để khách hàng đồng ý ký hợp đồng là hành vi
không trung thực, vi phạm nguyên tắc đạo đức nghề nghiệp. Khách hàng A có thể yêu
cầu trừ chi phí đi lại, chi phí thực tế đã phát sinh, nhưng không có cơ sở pháp lý để
yêu cầu hoàn trả toàn bộ thù lao chỉ vì kết quả án treo không đạt được.