









Preview text:
Đề 1: Phân tích tác động của đại dịch Covid-19 đến mối quan hệ cung cầu
trên thị trường nông sản BÀI LÀM MỞ ĐẦU
1. Lý do lựa chọn đề tài
Việt Nam vốn là một nước có thế mạnh vô cùng lớn trong lĩnh vực nông nghiệp,
sản xuất những mặt hàng nông sản với ưu thế về đất đai, khí hậu, con người,…
Do đó, nông nghiệp được coi là ngành kinh tế có vai trò quan trọng hàng đầu,
đóng góp lớn vào sự phát triển của nền kinh tế nước nhà.
Đặt trong bối cảnh hội nhập kinh tế, xây dựng nền kinh tế thị trường, việc đẩy
mạnh xuất nhập khẩu, mua bán trao đổi các mặt hàng khác nhau, đặc biệt là
hàng nông sản cũng là công cụ giúp nước ta ngày càng hội nhập sâu rộng hơn.
Điều này đã một phần làm cho những mặt hàng nông sản của ta có cơ hội được
tiếp cận nhiều hơn đến người tiêu dùng trong nước cũng như trên thế giới. Chính
vì vậy, thị trường nông sản luôn là thị trường được chú trọng phát triển và đầy tiềm năng.
Tuy nhiên, dù là thị trường lớn, có ưu thế, đóng góp nhiều vào sự tăng trưởng
kinh tế nước ta, thị trường nông sản vẫn gặp nhiều bất lợi trước tác động của làn
sóng mang tên Covid-19. Đại dịch Covid-19 từ đầu năm 2020 đến nay đã ảnh
hưởng đến khả năng sản xuất, nguồn cung ứng, các hoạt động mua bán và nhu
cầu sử dụng các mặt hàng nông sản…điều này trở thành một trong những rào
cản đối với việc duy trì và phát triển thị trường nông sản. Trước những vấn đề
đó, đặt ra cho doanh nghiệp, cho người sản xuất và cho Nhà nước cần có những
chính sách, hướng đi phù hợp để khắc phục khó khăn, thúc đẩy thị trưởng nông
sản tiếp tục phát triển.
Vì những lý do trên, em lựa chọn đề tài “Phân tích tác động của đại dịch Covid-
19 đến mối quan hệ cung cầu của thị trường nông sản” để nghiên cứu với hi
vọng đưa ra những thực trạng và vấn đề khó khăn trong cung-cầu cần tháo gỡ,
đồng thời đưa ra những hướng đi cụ thể để khắc phục tình trạng đó, đưa thị
trường nông sản mạnh mẽ trở lại. 2. Mục tiêu nghiên cứu 2.1. Mục tiêu tổng quát
Vấn đề nghiên cứu nhằm đưa ra thực trạng mối quan hệ cung – cầu của thị
trường nông sản Việt Nam trong đại dịch Covid- 19. Bên cạnh đó, tìm hiểu,
đánh giá và phân tích tác động của đại dịch Covid- 19 đến những phương diện
như nhu cầu, nguồn cung, thị trường xuất khẩu, khó khăn…đến thị trường nông
sản. Từ đó đề xuất các giải pháp, kiến nghị những chính sách thích hợp nhằm
giải quyết vấn đề cho thị trường nông sản Việt Nam. 2.2. Mục tiêu cụ thể
- Tìm hiểu và phân tích giá trị kinh tế, vị thế của thị trường nông sản đối
với nền kinh tế quốc dân.
- Tìm hiểu thực trạng mối quan hệ cung-cầu trong đại dịch Covid-19 thông
qua các hoạt động lưu thông, vận chuyển, mua bán, xuất nhập khẩu hàng hoá…
- Xác định, phân tích các tác động của đại dịch Covid- 19 đến thị trường nông sản Việt Nam.
- Đề xuất những giải pháp hữu hiệu cho thị trường nông sản đối với doanh nghiệp và Nhà nước.
3. Phương pháp nghiên cứu
- Bài nghiên cứu sử dụng phương pháp tổng hợp tài liệu về tác động của đại
dịch Covid-19 đến thị trường nông sản Việt Nam, tổng hợp số liệu thực
trạng về mối quan hệ cung-cầu, từ đó phân tích các ảnh hưởng, sự thay
đổi về cung và cầu tại thời điểm trong đại dịch.
- Thu thập, thống kê và xử lý số liệu về cung-cầu, các yếu tố tác động như
thu nhập, giá cả, tâm lý người tiêu dùng…được lấy từ nhiều nguồn khác
nhau, tiến hành chắt lọc thông tin và xử lý để đánh giá và có cái nhìn rõ
nét hơn đối với sự tác động của covid-19 đến mối quan hệ cung-cầu trên
thị trường nông sản Việt Nam. NỘI DUNG
CHƯƠNG I: CƠ SỞ LÝ THUYẾT VỀ MỐI QUAN HỆ CUNG – CẦU 1. Cầu 1.1. Khái niệm cầu
Cầu là số lượng hàng hoá hoặc dịch vụ mà người tiêu dùng muốn mua và có
khả năng mua ở các mức giá khác nhau trong một khoảng thời gian nhất định
với các điều kiện khác không thay đổi.
1.2. Các yếu tố ảnh hưởng đến cầu
Bên cạnh giá cả, cầu đối với một loại hàng hóa, dịch vụ tăng hoặc giảm do
ảnh hưởng của một số yếu tố:
Đầu tiên phải kể đến là thu nhập. Thu nhập càng cao, cầu sẽ càng lớn. Tuy
nhiên, ảnh hưởng của thu nhập tới cầu phụ thuộc vào bản chất của hàng hóa
đang được xem xét. Nếu một hàng hóa cụ thể là một hàng hóa bình thường,
thì sự gia tăng thu nhập sẽ dẫn đến tăng cầu của nó, trong khi thu nhập giảm
sẽ làm giảm cầu. Nhưng đối với hàng hóa thuộc mức kém, thu nhập tăng sẽ
làm giảm cầu và ngược lại giảm thu nhập dẫn đến tăng cầu. Điều này xảy ra
bởi vì người tiêu dùng hiện có thu nhập cao hơn và có xu hướng chọn một
sản phẩm hoặc dịch vụ tốt hơn để sử dụng.
Yếu tố thứ hai ảnh hưởng đến cầu là giá và tính sẵn có của các loại hàng hoá
liên quan. Các hàng hoá liên quan có thể chia làm hai loại gồm: hàng hoá
thay thế và hàng hoá bổ sung. Trong đó, sản phẩm hoặc hàng hóa thay thế
trong kinh tế là một sản phẩm hoặc dịch vụ mà người tiêu dùng thấy giống
hoặc tương tự và có thể sử dụng để thay thế cho các hàng hoá khác. Việc
tăng giá với sản phẩm thay thế sẽ dẫn đến sự gia tăng cầu đối với một mặt
hàng nhất định và ngược lại. Vì vậy, cầu đối với một hàng hóa nhất định bị
ảnh hưởng trực tiếp bởi sự thay đổi giá của hàng hóa thay thế. Đối với hàng
hoá bổ sung, đây là hàng hoá có xu hướng được mua và được sử dụng đồng
thời với hàng hoá khác. Việc tăng giá hàng hóa bổ sung dẫn đến giảm cầu đối
với hàng hóa nhất định và ngược lại. Do đó, cầu đối với một hàng hóa có thể
bị ảnh hưởng ngược bởi sự thay đổi giá của hàng hóa bổ sung.
Yếu tố thứ ba gây ảnh hưởng đến cầu chính là quy mô thị trường hay số
lượng người tiêu dùng. Cầu hàng hóa trên thị trường bị ảnh hưởng khi cầu cá
nhân tăng lên ở hiện tại, hoặc khi người tiêu dùng tiềm năng có thể chi trả
nhiều mức giá khác nhau cho hàng hoá, dịch vụ. Số lượng người tiêu dùng
hàng hóa càng cao, cầu thị trường của nó càng lớn.
Bên cạnh đó, cầu cũng có thể bị ảnh hưởng bởi yếu tố thị hiếu và sự lựa chọn
của người tiêu dùng. Điều này có thể thấy rõ ở các sản phẩm thời trang hay
những sản phẩm có tính phân hoá cao. Ví dụ, nếu một mặt hàng thời trang
nổi tiếng và được người tiêu dùng ưa thích, cầu chắc chắn sẽ tăng lên. Mặt
khác, cầu sẽ giảm nếu người tiêu dùng không có sở thích hoặc ưu tiên cho mặt hàng đó.
Yếu tố cuối cùng gây ảnh hưởng đến cầu là kỳ vọng của người tiêu dùng,
những ảnh hưởng đặc biệt và chính sách của Chính phủ. Nếu giá của một mặt
hàng nào đó dự kiến sẽ tăng trong tương lai gần, người tiêu dùng sẽ mua
nhiều hàng hóa đó hơn so với thường ngày. Trong tình huống đó, họ sẽ tránh
phải trả tiền cao hơn trong tương lai. Nếu giá xăng dự kiến sẽ tăng trong vài
ngày tới, mọi người sẽ vội vã đi đổ xăng. Tương tự, khi người tiêu dùng kỳ
vọng rằng trong tương lai giá hàng hóa sẽ giảm, thì ở hiện tại họ sẽ tạm hoãn
một phần tiêu thụ hàng hóa, khiến cầu hàng hóa hiện tại của họ sẽ giảm. 2. Cung 2.1. Khái niệm cung
Cung là số lượng hàng hoá hoặc dịch vụ mà hãng kinh doanh muốn bán và
có khả năng bán tại các mức giá khác nhau trong khoảng thời gian nhất định
với các điều kiện khác không thay đổi.
2.2. Các yếu tố ảnh hưởng đến cung
Tương tự như cầu, cũng có một số yếu tố gây ảnh hưởng đến cung.
Thứ nhất, chi phí đầu vào. Để tạo ra một sản phẩm thì nhà sản xuất, các
doanh nghiệp phải sử dụng các yếu tố đầu vào như: nhân công, máy móc, nhà
xưởng, nguyên vật liệu…Nếu giá bất cứ yếu tố đầu vào nào tăng lên thì kéo
theo lợi nhuận trên mỗi sản phẩm sẽ giảm đi. Trong trường hợp này doanh
nghiệp sẽ phải giảm lượng sản xuất từ đó cung của thị trường sẽ giảm và
ngược lại, yếu tố đầu vào giảm xuống thì lợi nhuận trên mỗi đơn vị sản phẩm
sẽ tăng lên, doanh nghiệp có thể mở rộng quy mô sản xuất, tăng cung cho thị trường.
Thứ hai là công nghệ sản xuất. Trong thời đại ngày nay thì công nghệ là yếu
tố tác động rất lớn đến nguồn cung. Một nhà máy sản xuất khép kín với các
dây chuyền hiện đại sẽ làm tăng năng xuất lao động, chi phí sản xuất sẽ thấp
đi, chất lượng cao hơn từ đó doanh nghiệp lãi nhiều hơn và lượng sản phẩm
doanh nghiệp cung cấp cho thị trường cũng tăng theo.
Yếu tố tiếp theo phải kể đến là quy mô sản xuất hay số lượng nhà sản xuất.
Khi số hãng kinh doanh một hàng hoá nào đó tăng lên sẽ làm cho khối lượng
sản xuất tăng, từ đó cung ứng sản phẩm tăng.
Bên cạnh đó, cung còn có thể bị ảnh hưởng bởi giá các hàng hoá thay thế,
đặc biệt là các sản phẩm có thể thay thế cho các sản phẩm đù ra khác của quá
trình sản xuất. nếu giá của một hàng hoá thay thế tăng lên thì cung của các
hàng hoá khác sẽ giảm xuống.
Ngoài ra, một yếu tố ảnh hưởng khác đến cung chính là các chính sách và
quy định của Chính phủ. Thuế cao làm cho chi phí đầu vào tăng lên, lợi
nhuận doanh nghiệp giảm đi, từ đó doanh nghiệp sẽ thu hẹp quy mô sản xuất
làm cho cung thị trường giảm đi. Còn khi chính phủ có nhiều ưu đãi về thuế,
thì doanh nghiệp sẽ gia tăng được lợi nhuận, từ đó sản xuất nhiều hơn và
cung trên thị trường cũng dồi dào hơn.
Yếu tố cuối cùng không thể không nhắc tới chính là kỳ vọng của hãng kinh
doanh. Lượng sản phẩm mà doanh nghiệp cung ứng ra thị trường hôm nay
cũng có thể bị ảnh hưởng bởi kỳ vọng của doanh nghiệp đó trong tương lai.
Nếu dự kiến giá bán sản phẩm trong thời gian tới sẽ tăng lên thì doanh
nghiệp sẽ tích trữ một phần vào kho (không đem bán), do đó cung sản phẩm
trên thị trường cũng giảm đi.
3. Mối quan hệ cung – cầu
Quan hệ cung - cầu là mối quan hệ tác động lẫn nhau giữa người bán với
người mua hay giữa những người sản xuất với những người tiêu dùng diễn ra
trên thị trường để xác định giá cả và số lượng hàng hóa dịch vụ.
Cầu xác định khối lượng, cơ cấu của cung về hàng hoá: hàng hoá nào có cầu
thì mới được cung ứng sản xuất; hàng hoá nào tiêu thụ được nhiều (cầu lớn)
thì sẽ được cung ứng nhiều và ngược lại. Đối với cung thì cung cũng tác
động, kích thích cầu: những hàng hoá được sản xuất phù hợp với nhu cầu, thị
hiếu tiêu dùng sẽ được ưa thích, bán chạy hơn, làm cho cầu của chúng tăng lên.
Không chỉ ảnh hưởng lẫn nhau, cung - cầu còn ảnh hưởng tới giá cả. Khi
cung bằng cầu thì giá cả bằng giá trị. Khi cung lớn hơn cầu thì giá cả nhỏ hơn
giá trị. Còn khi cung nhỏ hơn cầu thì giá cả cao hơn giá trị. Giá cả cũng tác
động lại tới cung và cầu, điều tiết làm cung, cầu trở về xu hướng cân bằng
với nhau. Ví dụ như khi cung cao hơn cầu, giá cả giảm, cầu tăng lên còn
cung lại giảm dần dẫn đến cung cầu trở lại xu thế cân bằng.
CHƯƠNG II: TÁC ĐỘNG CỦA ĐẠI DỊCH COVID-19 ĐẾN MỐI QUAN
HỆ CUNG-CẦU TRÊN THỊ TRƯỜNG NÔNG SẢN
1. Tổng quan về mối quan hệ cung – cầu trên thị trường nông sản hiện nay
Thị trường nông sản là tất cả các mối quan hệ về giao dịch hàng hóa nông
sản diễn ra tại một khu vực địa lý nhất định, trong một khoảng thời gian nhất
định. Hay nói một cách khác thị trường nông sản là nơi diễn ra các hoạt động
có liên quan trực tiếp đến giao dịch hàng hóa nông sản.
Trong những năm gần đây, thị trường nông sản trong nước và xuất khẩu phát
triển mạnh mẽ hơn và đã có những chuyển biến hết sức tích cực. Nhờ có sự
ưu đãi của thiên nhiên cùng với nâng cao kỹ năng canh tác mà nền nông
nghiệp của Việt Nam ngày càng phát triển với chất lượng nông sản ngày
càng cao, phù hợp với tiêu chuẩn của người tiêu dùng cũng như nhiều quốc
gia trên thế giới. Trong khoảng thời gian những năm 2018-2020, tốc độ tăng
trưởng GDP toàn ngành nông nghiệp của Việt Nam đạt bình quân
2.66%/năm, năm 2018 đạt 3.76%, năm 2019 đạt 2.2% và năm 2020 đạt
2.65%. Không chỉ có lợi thế về sản xuất, xuất khẩu nông sản cũng ghi nhận
nhiều kết quả khả quan. Đặc biệt, năm 2020, Việt Nam tham gia ký kết nhiều
hợp động thương mại quốc tế nâng cao năng lực cung cấp nông sản và mở
cửa hội nhập với thế giới. Năm 2020 vừa qua, nông sản cũng là mặt hàng có
kim ngạch xuất khẩu nổi trội của Việt Nam khi lập kỷ lục mới với giá trị xuất
khẩu đạt 41.2 tỷ USD. Đó là thành quả thực sự đáng kinh ngạc.
Tuy nhiên, thực trạng trên thị trường nông sản cũng khá lao đao và gặp nhiều
khó khăn do cung – cầu nông sản không cân đối và phải chịu ảnh hưởng lớn từ đại dịch Covid-19.
2. Phân tích tác động của đại dịch covid-19 đến mối quan hệ cung cầu trên thị trường nông sản.
2.1. Những tác động đến cung
Vào thời điểm dịch bệnh Covid -19 bắt đầu khởi phát và lây lan, mô € t số địa phương đã thực hiê € n phong tỏa diê €
n hẹp từng khu vực, cách ly xã hô € i diê € n rô € ng để chă €
n sự lây lan của dịch. Trong khi đó, các địa phương nói trên đều
chung một đặc điểm là có nhiều đường giao thông huyết mạch chạy qua, án
ngữ những con đường vận tải hàng hóa quan trọng. Việc các địa phương có
tuyến đường vận chuyển huyết mạch bị phong toả gây nguy cơ ùn tắc, khó
lưu thông hàng hoá. Mới đây, vào tháng 2 và tháng 3/2021, Hải Dương trở
thành tâm dịch, Hải Phòng, địa phương giáp ranh đã dừng tiếp nhận hàng hoá
từ tỉnh này trong khi đây vừa là thị trường tiêu thụ, vừa thuộc tuyến đường
vận chuyển hàng hoá của tỉnh. Tình trạng tắc nghẽn lưu thông dẫn đến dư
thừa nguồn cung nông sản, khiến nông sản Hải Dương thời điểm đó ước tính
thiệt hại 300-400 tỷ đồng.
Bên cạnh đó, Covid-19 cũng gây ra những tác động không hề nhỏ đối với thị
trường xuất khẩu nông sản. Năm 2020 – thời điểm dịch chưa bùng phát mạnh
mẽ, nhờ công tác phòng chống dịch Covid-19 hiệu quả mà Việt Nam đã tạo
ra những cơ hội mới, nâng cao mức độ uy tín của mình trên thị trường quốc
tế. Chính vì vậy, các mặt hàng thiết yếu như nông sản vẫn là một trong
những mặt hàng xuất khẩu nổi trội trong năm 2020. Các mặt hàng nổi bật
như: xuất khẩu gạo Việt Nam đã lập kỷ lục về giá, trung bình khoảng 500
USD/tấn. Tuy khối lượng xuất khẩu giảm 3,5% nhưng lại tăng 9,3% về giá
trị kim ngạch với hơn 3 tỷ USD trong năm 2020. Ngoài ra, các mặt hàng
nông sản xuất khẩu tiêu biểu khác như: cafe, hạt điều, chè, rau quả, trái cây
như thanh long, chuối,.. cũng ghi nhận giá trị xuất khẩu khả quan. Từ đầu
năm 2021, do sự bùng phát nhanh chóng trên diện rộng và diễn biến phức tạp
của đại dịch COVID-19, các biện pháp phong tỏa và đóng cửa biên giới để
ngăn chặn dịch bệnh COVID-19 lây lan đã khiến việc trao đổi, mua bán trên
toàn cầu bị đình trệ, chuỗi cung ứng đứt gãy, nhiều doanh nghiệp, nhà sản
xuất gặp khó khăn. Xuất khẩu nông sản sang Trung Quốc có thể coi là bị ảnh
hưởng nhiều nhất vì đây là thị trường tiêu thụ lớn của ta, nhưng lại liên tục
đóng các cửa khẩu, các khu vực buôn bán ở biên giới để kiểm soát dịch bệnh.
Dư thừa nguồn cung nông sản, người nông dân rơi vào tình cảnh khó khăn vì
rất nhiều mặt hàng nông sản có số lượng lớn khả năng sẽ bị hủy bỏ nếu
không được đi tiêu thụ kịp thời; “mất trắng” nguồn vốn đầu tư và bao nhiêu công vun xới, chăm sóc.
Đại dịch Covid-19 gây ra nhiều khó khăn cho nguồn cung ứng hàng hoá.
Không những vậy, doanh nghiệp, nhà sản xuất còn phải chịu áp lực về chi
phí sản xuất, thuế. Covid-19 vẫn tác động mạnh đến ngành nông nghiệp,
trong khi đó ngành vẫn vướng nút thắt về tín dụng khi không tiếp cận được
các gói tín dụng lãi suất thấp, nhất là với doanh nghiệp, các hộ sản xuất nhỏ
và vừa. Các doanh nghiệp cũng phản ánh về áp lực về chi phí sản xuất, thuế,
phí do thị trường xuất khẩu bị ảnh hưởng, hoạt động kinh doanh đứt đoạn, lợi
nhuận suy giảm trong thời kỳ dịch bệnh và thương mại gián đoạn. Ngoài ra,
nguồn cung về nguyên liệu đầu vào cho sản xuất bị thiếu hụt vì hạn chế vận
chuyển; một số dự án đầu tư dây chuyền sản xuất bị đình trệ do phải chờ thiết
bị ngoại nhập, tư vấn nước ngoài hỗ trợ kỹ thuật...
2.2. Những tác động đến cầu
Để ngăn chặn sự lây lan của dịch bệnh Covid-19, người tiêu dùng được
khuyến cáo tránh những nơi tập trung đông người như các trung tâm mua
sắm, siêu thị, hay chợ. Điều này làm giảm nhu cầu mua sắm hàng hóa của
người tiêu dùng. Chính việc giãn cách xã hội cũng như tâm lý e ngại đi vào
vùng dịch để buôn bán, trao đổi từ các cá nhân, đơn vị bên ngoài vùng dịch
khi đang trong thời kỳ cao điểm của vụ thu hoạch với rất nhiều sản lượng
nông sản đã khiến cho các mặt hàng này đi vào tình trạng bế tắc.
Bên cạnh đó, việc không thể đi làm do công ty, nhà xưởng, cơ quan phải
đóng cửa hay bị yêu cầu cách ly do nghi nhiễm bệnh đã làm nhiều người
không có thu nhập và do đó cũng làm giảm chi tiêu. Hơn nữa, dịch bệnh sẽ
tác động đến tâm lý của người dân, theo đó người dân sẽ có xu hướng phòng
thủ, tiết kiệm, hạn chế chi tiêu, làm ảnh hưởng đến sức mua, khiến tiêu dùng
cá nhân (tương đương 74% GDP của Việt Nam năm 2018) dự báo sẽ giảm trong ngắn hạn.
3. Tổng kết các tác động của Covid-19 đến mối quan hệ cung-cầu trên thị trường nông sản
Như vậy, qua các phân tích trên, có thể thấy đại dịch Covid-19 gây ra những
tác động không nhỏ cho cả cung lẫn cầu trên thị trường nông sản. Thực trạng
trên thị trường nông sản thời điểm dịch covid-19 là cung và cầu nông sản
không cân đối. Các biện pháp phong toả, đóng cửa để kiểm soát dịch bệnh
khiến hàng hoá, nông sản không được lưu thông, trao đổi, hay buôn bán,
thậm chí không thể xuất khẩu tới các thị trường quốc tế. Song song với đó,
giãn cách xã hội, người lao động không thể đi làm do công ty, nhà xưởng
đóng cửa, dẫn đến thu nhập giảm, cộng thêm việc hạn chế đến các nơi đông
đúc như chợ, siêu thị, nơi buôn bán để phòng chống dịch bệnh khiến cho cầu
về nông sản cũng giảm theo.
Khi nguồn cung trên thị trường quá nhiều sẽ dẫn đến tình trạng người bán
không tìm được người mua dẫn đến tình trạng dư thừa, đẩy giá thành xuống
thấp. Lúc này, người nông dân, nhà sản xuất, doanh nghiệp đều phải hứng
chịu những ảnh hưởng tiêu cực do thay đổi trong mối quan hệ cung – cầu từ
tác động của đại dịch Covid-19 gây nên.
CHƯƠNG III: ĐỀ XUẤT CÁC GIẢI PHÁP GIẢI QUYẾT KHÓ KHĂN DO
TÁC ĐỘNG CỦA ĐẠI DỊCH COVID-19 ĐẾN MỐI QUAN HỆ CUNG-CẦU
TRÊN THỊ TRƯỜNG NÔNG SẢN
Dịch COVID-19 vẫn đang diễn biến rất phức tạp và không thể đoán trước bất
kỳ điều gì. Do vậy, việc sẵn sàng những kịch bản trước cho những tình huống
như trên xảy ra là điều rất cần thiết. Nếu có sự chuẩn bị kỹ lưỡng, chắc chắn
chúng ta sẽ không còn bị động trong việc đưa nông sản đi tiêu thụ.
Để giải quyết dư thừa nông sản, rất khó để tuyệt đối hóa vấn đề này, tuy
nhiên,vẫn có những giải pháp để giảm bớt những rủi ro. Một trong những giải
pháp tốt đó là việc kết nối, hình thành nên những dữ liệu số về một bên nguồn
cung và một bên là nguồn cầu. Trong đó, cần kết nối lại các vùng nguyên liệu
với doanh nghiệp, doanh nghiệp với thị trườg thông qua bản đồ số để định hình được nguồn cung - cầu.
Một giải pháp nữa là cần tăng cường là dự báo thị trường. Trong đó, ngoài vai
trò tham gia của các cơ quan chuyên môn nhà nước nghiên cứu về vấn đề thị
trường thì rất cần đến vai trò của doanh nghiệp bởi họ nắm rõ thị trường đang có
nhu cầu bao nhiêu, đang cần những tiêu chuẩn, yêu cầu chất lượng như thế
nào….để từ đó, thông tin đến người sản xuất. Chính sự liên kết, hợp tác giữa
doanh nghiệp và người nông dân sẽ tạo nên một “dây chuyền mắt xích” bền
chặt, góp phần cho nông sản được đảm bảo về đầu ra, được đi tiêu thụ.
Tiếp đến, việc đàm phán mở rộng thị trường xuất khẩu cũng là giải pháp cần
được đẩy mạnh thực hiện. Đây không chỉ là cơ hội để giải quyết đầu ra cho nông
sản mà còn giúp nâng cao chất lượng sản phẩm, đáp ứng yêu cầu xuất khẩu, và
gia tăng giá trị cho sản xuất và thu nhập cho người nông dân.
Ngoài ra, trong bối cảnh nguồn cung dồi dào, việc tăng cường tỷ lệ chế biến
trong ngành nông nghiệp cũng cần được chú ý đến. Đó là việc hình thành nhiều
hơn các nhà máy chế biến có năng suất công nghệ cao để tăng nguồn nhập
nguyên liệu từ các vùng trồng để góp phần giúp khoảng cách chênh lệch nguồn
cung - cầu được giảm bớt hơn.
Cuối cùng, nhà nước cần triển khai mạnh mẽ các chính sách hỗ trợ giảm chi phí
sản xuất cho nông dân, các doanh nghiệp chịu ảnh hưởng của dịch, giúp cho bà
con nông dân tiếp cận nguồn vốn vay để duy trì hoạt động sản xuất, đảm bảo
nguồn nguyên liệu cho các nhà máy chế biến; cùng với đó là tăng cường hỗ trợ
kết nối các đơn vị sản xuất với các doanh nghiệp thu mua, phân phối nông sản,
đặc biệt là các đơn vị thu mua lớn và có hệ thống phân phối bán lẻ rộng để thúc
đẩy tiêu thụ nông sản qua kênh siêu thị và hệ thống cửa hàng tiện lợi khắp cả nước. KẾT LUẬN
Thị trường nông sản là một thị trường chủ lực và đầy tiềm năng của nước ta,
nó đem lại nguồn lợi nhuận cao, góp phần thúc đẩy giá trị kinh tế và đóng
góp vào tổng kim ngạch xuất khẩu tại Việt Nam. Tuy nhiên, tác động của đại
dịch Covid-19 đã khiến cho thị trường này trở nên lao đao trong một khoảng
thời gian. Thị trường nông sản đã phải đối diện với nhiều rào cản như việc
vận chuyển hàng hóa gặp khó khăn, nhiều chuỗi cung ứng bị gián đoạn, nhu
cầu thị trường chưa hồi phục đồng đều. Bên cạnh đó là những chi phí đầu
vào như nguyên liệu tăng cao; các thị trường xuất khẩu nông sản liên tục đưa
ra những thay đổi trong quy định chứng nhận an toàn thực phẩm,…làm cho
giá cả bấp bênh. Từ vấn đề mối quan hệ cung – cầu trên thị trường nông sản
chịu tác động trước đại dịch, ta đã có cơ sở hơn để nhìn nhận ra những điểm
mạnh, điểm yếu, rào cản và khó khăn của người nông dân, của các DN hoạt
động trong thị trường này cũng như sự khó khăn từ chính những chính sách
phòng, chống dịch của Đảng, Nhà nước ta.
Bài nghiên cứu sau cùng đã tìm ra và phân tích những khía cạnh tồn tại trong
mối quan hệ cung – cầu trên thị trường nông sản trước tác động mạnh mẽ của
đại dịch Covid-19. Đồng thời, bài nghiên cứu cũng đã đề xuất ra những giải
pháp nhằm hỗ trợ thị trường nông sản Việt Nam trong tầm nhìn gần và xa,
trong việc hỗ trợ từ vốn, cơ sở vật chất, mở rộng thị trường đến nhân lực,
chuyên môn… Đó chính là những hướng đi thích hợp cho thị trường nông
sản Việt Nam chủ động, linh hoạt ứng phó với những ủi ro, tận dụng tốt cơ
hội để thúc đẩy hoạt động cung – cầu trong đại dịch và trong cả thời đại bình thường mới.