TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ QUỐC DÂN
KHOA KẾ HOẠCH VÀ PHÁT TRIỂN
BÀI TẬP LỚN
KINH TẾ VI MÔ
Họ và tên sinh viên: Nguyễn Bình Nguyên
Mã sinh viên: 11224812
Lớp học phần: 64A KTPT – 10
Giáo viên: Phạm Văn Minh
Hà Nội năm 2022
Đề bài: Hãy sử dụng lý thuyết cầu, co dãn để giải thích hiện tượng:
“ĐƯỢC MÙA MẤT VUI”
Anh/Chị hãy thử đề xuất 1 số giải pháp mà Nhà Nước có thể hỗ trợ cho người nông
dân. Minh họa các phân tích bằng đồ thị.
NỘI DUNG
I. Khái quát chung về lý thuyết cầu và độ co dãn của cầu
1. Cầu:
Một số khái niệm:
Cầu: là số lượng hàng hoá (dịch vụ) mà người mua
muốn và có khả năng mua tại các mức giá khác
nhau trong một thời gian nhất định, các yếu tố khác
không thay đổi (ceteris paribus)
Lượng cầu: là số lượng hàng hoá (dịch vụ) mà người
mua muốn và có khả năng mua tại mức giá xác
định trong một thời gian nhất định.
Cầu cá nhân: là số lượng hàng hoá (dịch vụ) mà
một cá nhân muốn và có khả năng mua tại các mức
giá khác nhau trong một thời gian nhất định, các
yếu tố khác không thay đổi (ceteris paribus)
Cầu thị trường: Là tổng cầu cá nhân ở các mức giá
Luật cầu: Với giả định các nhân tố khác không đổi,
số lượng hàng hóa hoặc dịch vụ được cầu trong một
khoảng thời gian nhất định sẽ tăng lên khi giá giảm
và ngược lại, sẽ giảm khi giá tăng.
 Như vậy, giá hàng hóa / dịch vụ và lượng cầu có
quan hệ nghịch.
P Qd
P Qd  
Các yếu tố ảnh hưởng đến cầu:
- Giá hàng hoá dịch vụ: Giá hàng hoá dịch vụ ảnh
hưởng đến lượng cầu theo luật cầu. Khi giá hàng
hoá dịch vụ tăng lên, lượng cầu đối với hàng hoá
dịch vụ giảm xuống và ngược lại.
- Giá của hàng hoá liên quan: Có hai nhóm hàng
hoá liên quan ảnh hưởng tới lượng cầu về hàng hoá
đang được nghiên cứu là hàng hóa thay thế và hàng
hóa bổ sung.
+ Hàng hoá thay thế: X, Y là hàng hoá thay
thế khi việc sử dụng X có thể thay thế cho việc
sử dụng Y nhưng vẫn giữ nguyên được mục
đích sử dụng ban đầu.
+ Hàng hoá bổ sung: X, Y là hàng hoá bổ sung
khi việc sử dụng X phải đi kèm với việc sử
dụng Y để đảm bảo giá trị sử dụng của hai
hàng hoá.
2. Độ co dãn của cầu:
Định nghĩa: Co dãn của cầu là công cụ định lượng đo
lường trước phản ứng của lượng cầu hàng hóa trước sự
thay đổi (tính bằng %) của các yếu tố quyết định cầu (P,
I, Py)
II. Giải thích hiện tượng “ĐƯỢC MÙA MẤT VUI”
Việt Nam vốn là một nước có nền nông nghiệp phát triển, tuy
nhiên trong những năm qua hiện tượng người nông dân “được
mùa” nhưng “mất vui” do nông sản mất giá. “Được mùavốn
là mục tiêu sản xuất của người nông dân nhưng dường như
giờ đây nó đã trở thành nỗi lo âu.
- Cầu nông sản thuộc loại cầu không co giãn, có nghĩa là
lượng tiêu dùng nông sản tương đối ổn định, ít phụ thuộc vào
giá cả của nông sản. Tuy nhiên, sản xuất nông nghiệp truyền
thống lại phụ thuộc vào các yếu tố khách quan như thời tiết,
dịch bệnh... mang tính thời vụ cao, cũng như mang tính địa
phương.
- Các nông sản thường là các sản phẩm tươi sống, khó bảo
quản và được được thu hoạch đồng loạt. Do các đặc điểm
bản của nông sản dẫn đến thị trường nông sản mang tính
cạnh tranh cao và thường xảy ra hiện tượng “Được mùa mất
vui”.
Theo hình trên, khi cân bằng ban đầu bằng E1, với mức giá cân bằng là P1, và sản
lượng cân bằng tại Q1, thì tổng thu nhập là TR1 = P1 x Q1. Khi cung nông sản tăng
do được mùa, trạng thái cân bằng mới là E2, với giá cân bằng mới là P2, và lượng
cân bằng mới là Q2
Thu nhập bây giờ là TR2 = P2 x Q2, nhỏ hơn thu nhập trước đây, vì giá giảm làm
ảnh hưởng giảm của giá lấn át ảnh hưởng tăng của lượng.
- Trong điều kiện hiện nay, thị trường nông sản chịu sự tác động của nhiều yếu mới
thông qua phân tích yếu tố cung cầu, cụ thể:
+ Về phía cầu, người tiêu dùng ngày càng đòi hỏi các sản phẩm có chất lượng cao,
đảm bảo an toàn vệ sinh thực phẩm và được bảo quản tốt; có bao bì nhãn mác đẹp...
Đặc biệt, trên thị trường quốc tế, các nước đặt ra nhiều rào cản kinh tế và yếu tố kỹ
thuật khắt khe để bảo vệ người tiêu dùng, cũng như người sản xuất trong nước.
S1P
E1
P1
S2
E2
P2
D
OQ1 Q2
Q
+ Về phía cung, các thành tựu mới của khoa học, kỹ thuật được sử dụng rộng rãi
hơn trong sản xuất nông nghiệp. Các giống cây, con mới có khả năng thích ứng cao
hơn với điều kiện tự nhiên. Các phương thức sản xuất mới được áp dụng trong sản
xuất nhằm hạn chế tác động tiêu cực của tự nhiên cũng như hình thức nông nghiệp
công nghệ cao được áp dụng rộng rãi. Điều đó góp phần làm cho cung nông sản
ngày càng tăng, khiến tình trạng “Được mùa mất vui” trở nên phổ biến.
- Do người nông dân có thu nhập chính từ nông sản, họ không thể tích trữ quá lâu
khi giá thấp rồi đợi giá cao mới bán.
 Vì vậy dù được mùa nhưng người nông dân không thể nào vui. Đây là một thực
trạng đáng buồn.
III. Đề xuất 1 số giải pháp mà Nhà Nước có thhỗ trợ cho người nông dân
1. Tái quy hoạch nền nông nghiệp theo hướng phát triển bền vững và sản xuất hàng
hóa
Với nhiều điều kiện thuận lợi (khí hậu nhiệt đới ẩm, đất trồng màu mỡ, nông dân có
nhiều kinh nghiệm trong sản xuất nông ngiệp… ), Việt Nam rõ ràng có rất nhiều thế
mạnh trong việc phát triển sản xuất nông sản, đặc biệt là nông sản nhiệt đới, một số
loại đặc sản, sản phẩm nông nghiệp đặc trưng. Vì vậy, để tránh tình trạng “được
mùa, mất vui”, “mất mùa được giá” thì phải quy hoạch định hướng phát triển
chuyên canh nông sản theo vùng ( có những vùng chuyên canh cây công nghiệp dài
ngày, cây ngắn ngày, cây lương thực, cây thực phẩm, cây ăn quả… ) trên cơ sở phát
huy tối đa lợi thế tự nhiên của vùng, quy hoạch và phát triển có hiệu quả, tạo lợi thế
cạnh tranh với giá thành hợp lý, chất lượng cao so với thị trường khu vực và trên thế
giới. Đặc biệt, phải có một tầm nhìn dài hạn trong quy hoạch nông nghiệp, tránh lối
tư duy ham lợi trước mắt mà phá vỡ quy hoạch, gây ảnh hưởng xấu đến cân bằng
thị trường.
- Phát huy lợi thế và khả năng cạnh tranh của sản phẩm hàng hóa tại các vùng,
miễn, gắn với thị trường tiêu thụ; trong đó, xác định rõ các mục tiêu, đưa ra các
phương án bố trí sản xuất, các nhiệm vụ ưu tiên và các giải pháp phù hợp để ứng
phó với biến đổi khí hậu và tình trạng biến động thị trường nông sản trong nước và
trên thế giới trong dài hạn.
- Xây dựng thương hiệu nông sản Việt, nâng cao giá trị sản phẩm, đồng thời đẩy
mạnh quảng bá trên trường quốc tế
- Đẩy mạnh công nghiệp chế biến để nâng cao quy trình sản xuất, tạo ra nhiều sản
phẩm nông nghiệp chất lượng cao
2. Xây dựng những chính sách linh hoạt, phù hợp cho thị trường nông sản
- Xây dựng quỹ trợ giá để bình ổn, giữ vững quy hoạch vùng để bảo vệ người nông
dân. Đồng thời, cũng cần hạn chế thấp nhất khâu lưu thông dịch vụ lòng vòng đẩy
giá, ép giá nông dân.
- Xây dựng các chính sách tạo động lực cho phát triển nông nghiệp như: khuyến
khích, hỗ trợ phát triển sản xuất, hỗ trợ tiêu thụ nông sản, phát triển thị trường trong
nước…
- Mở rộng thị trường để thu hút đầu tư từ trong nước và nước ngoài
- Đây mạnh xuất khẩu nông sản ra nước ngoài trên cơ sở chính sách minh bạch,
thuận tiện và một nền nông nghiệp công nghệ cao, nông nghiệp sạch
- Phát triển phân khúc nông sản đặc sản và các sản phẩm độc quyền, chỉ có tại Việt
Nam hoặc Việt Nam có thế mạnh nổi bật, vượt trội trong sản xuất.
- Phải có sự đóng góp của cơ quan ban ngành trong quản lý chuỗi giá trị nông sản,
cần phải quản lý cả 3 dòng chảy thị trường chính: sản phẩm, thông tin và tài chính
một cách hiệu quả, mang lại kết quả tối ưu cho người nông dân, người bán buôn và
khách hàng.
3. Người nông dân cần tăng cường nhận thức, có tầm nhìn dài hạn hơn trong sản
xuất nông nghiệp
Người nông dân cần nâng cao kỹ thuật canh tác, tham gia chuyển giao công nghệ
của ngành nông nghiệp. Từ đó, nâng cao trình độ nguồn nhân lực nông nghiệp. Có ý
thức về một nền nông nghiệp sạch, bền vững, hướng tới xuất khẩu. Theo dõi dự báo
thị trường để điều chỉnh sản xuất cho phù hợp với cung- cầu thị trường. Cần có tư
duy dài hạn, không phá vỡ quy hoạch của Nhà nước về phát triển nông nghiệp bền
vững.

Preview text:

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ QUỐC DÂN
KHOA KẾ HOẠCH VÀ PHÁT TRIỂN BÀI TẬP LỚN KINH TẾ VI MÔ
Họ và tên sinh viên: Nguyễn Bình Nguyên Mã sinh viên: 11224812
Lớp học phần: 64A KTPT – 10 Giáo viên: Phạm Văn Minh Hà Nội năm 2022
Đề bài: Hãy sử dụng lý thuyết cầu, co dãn để giải thích hiện tượng: “ĐƯỢC MÙA MẤT VUI”
Anh/Chị hãy thử đề xuất 1 số giải pháp mà Nhà Nước có thể hỗ trợ cho người nông
dân. Minh họa các phân tích bằng đồ thị. NỘI DUNG
I. Khái quát chung về lý thuyết cầu và độ co dãn của cầu 1. Cầu: Một số khái niệm:
Cầu: là số lượng hàng hoá (dịch vụ) mà người mua
muốn và có khả năng mua tại các mức giá khác
nhau trong một thời gian nhất định, các yếu tố khác
không thay đổi (ceteris paribus)
Lượng cầu: là số lượng hàng hoá (dịch vụ) mà người
mua muốn và có khả năng mua tại mức giá xác
định trong một thời gian nhất định.
Cầu cá nhân: là số lượng hàng hoá (dịch vụ) mà
một cá nhân muốn và có khả năng mua tại các mức
giá khác nhau trong một thời gian nhất định, các
yếu tố khác không thay đổi (ceteris paribus)
Cầu thị trường: Là tổng cầu cá nhân ở các mức giá
Luật cầu: Với giả định các nhân tố khác không đổi,
số lượng hàng hóa hoặc dịch vụ được cầu trong một
khoảng thời gian nhất định sẽ tăng lên khi giá giảm
và ngược lại, sẽ giảm khi giá tăng.
Như vậy, giá hàng hóa / dịch vụ và lượng cầu có quan hệ nghịch. P Qd P Qd
Các yếu tố ảnh hưởng đến cầu:
- Giá hàng hoá dịch vụ: Giá hàng hoá dịch vụ ảnh
hưởng đến lượng cầu theo luật cầu. Khi giá hàng
hoá dịch vụ tăng lên, lượng cầu đối với hàng hoá
dịch vụ giảm xuống và ngược lại.
- Giá của hàng hoá liên quan: Có hai nhóm hàng
hoá liên quan ảnh hưởng tới lượng cầu về hàng hoá
đang được nghiên cứu là hàng hóa thay thế và hàng hóa bổ sung.
+ Hàng hoá thay thế: X, Y là hàng hoá thay
thế khi việc sử dụng X có thể thay thế cho việc
sử dụng Y nhưng vẫn giữ nguyên được mục đích sử dụng ban đầu.
+ Hàng hoá bổ sung: X, Y là hàng hoá bổ sung
khi việc sử dụng X phải đi kèm với việc sử
dụng Y để đảm bảo giá trị sử dụng của hai hàng hoá. 2. Độ co dãn của cầu:
Định nghĩa: Co dãn của cầu là công cụ định lượng đo
lường trước phản ứng của lượng cầu hàng hóa trước sự
thay đổi (tính bằng %) của các yếu tố quyết định cầu (P, I, Py)
II. Giải thích hiện tượng “ĐƯỢC MÙA MẤT VUI”
Việt Nam vốn là một nước có nền nông nghiệp phát triển, tuy
nhiên trong những năm qua hiện tượng người nông dân “được
mùa” nhưng “mất vui” do nông sản mất giá. “Được mùa” vốn
là mục tiêu sản xuất của người nông dân nhưng dường như
giờ đây nó đã trở thành nỗi lo âu.
- Cầu nông sản thuộc loại cầu không co giãn, có nghĩa là
lượng tiêu dùng nông sản tương đối ổn định, ít phụ thuộc vào
giá cả của nông sản. Tuy nhiên, sản xuất nông nghiệp truyền
thống lại phụ thuộc vào các yếu tố khách quan như thời tiết,
dịch bệnh... mang tính thời vụ cao, cũng như mang tính địa phương.
- Các nông sản thường là các sản phẩm tươi sống, khó bảo
quản và được được thu hoạch đồng loạt. Do các đặc điểm cơ
bản của nông sản dẫn đến thị trường nông sản mang tính
cạnh tranh cao và thường xảy ra hiện tượng “Được mùa mất vui”. P S1 E1 P1 S2 E2 P2 D Q OQ1 Q2
Theo hình trên, khi cân bằng ban đầu bằng E1, với mức giá cân bằng là P1, và sản
lượng cân bằng tại Q1, thì tổng thu nhập là TR1 = P1 x Q1. Khi cung nông sản tăng
do được mùa, trạng thái cân bằng mới là E2, với giá cân bằng mới là P2, và lượng cân bằng mới là Q2
Thu nhập bây giờ là TR2 = P2 x Q2, nhỏ hơn thu nhập trước đây, vì giá giảm làm
ảnh hưởng giảm của giá lấn át ảnh hưởng tăng của lượng.
- Trong điều kiện hiện nay, thị trường nông sản chịu sự tác động của nhiều yếu mới
thông qua phân tích yếu tố cung cầu, cụ thể:
+ Về phía cầu, người tiêu dùng ngày càng đòi hỏi các sản phẩm có chất lượng cao,
đảm bảo an toàn vệ sinh thực phẩm và được bảo quản tốt; có bao bì nhãn mác đẹp...
Đặc biệt, trên thị trường quốc tế, các nước đặt ra nhiều rào cản kinh tế và yếu tố kỹ
thuật khắt khe để bảo vệ người tiêu dùng, cũng như người sản xuất trong nước.
+ Về phía cung, các thành tựu mới của khoa học, kỹ thuật được sử dụng rộng rãi
hơn trong sản xuất nông nghiệp. Các giống cây, con mới có khả năng thích ứng cao
hơn với điều kiện tự nhiên. Các phương thức sản xuất mới được áp dụng trong sản
xuất nhằm hạn chế tác động tiêu cực của tự nhiên cũng như hình thức nông nghiệp
công nghệ cao được áp dụng rộng rãi. Điều đó góp phần làm cho cung nông sản
ngày càng tăng, khiến tình trạng “Được mùa mất vui” trở nên phổ biến.
- Do người nông dân có thu nhập chính từ nông sản, họ không thể tích trữ quá lâu
khi giá thấp rồi đợi giá cao mới bán.
Vì vậy dù được mùa nhưng người nông dân không thể nào vui. Đây là một thực trạng đáng buồn.
III. Đề xuất 1 số giải pháp mà Nhà Nước có thể hỗ trợ cho người nông dân
1. Tái quy hoạch nền nông nghiệp theo hướng phát triển bền vững và sản xuất hàng hóa
Với nhiều điều kiện thuận lợi (khí hậu nhiệt đới ẩm, đất trồng màu mỡ, nông dân có
nhiều kinh nghiệm trong sản xuất nông ngiệp… ), Việt Nam rõ ràng có rất nhiều thế
mạnh trong việc phát triển sản xuất nông sản, đặc biệt là nông sản nhiệt đới, một số
loại đặc sản, sản phẩm nông nghiệp đặc trưng. Vì vậy, để tránh tình trạng “được
mùa, mất vui”, “mất mùa được giá” thì phải quy hoạch định hướng phát triển
chuyên canh nông sản theo vùng ( có những vùng chuyên canh cây công nghiệp dài
ngày, cây ngắn ngày, cây lương thực, cây thực phẩm, cây ăn quả… ) trên cơ sở phát
huy tối đa lợi thế tự nhiên của vùng, quy hoạch và phát triển có hiệu quả, tạo lợi thế
cạnh tranh với giá thành hợp lý, chất lượng cao so với thị trường khu vực và trên thế
giới. Đặc biệt, phải có một tầm nhìn dài hạn trong quy hoạch nông nghiệp, tránh lối
tư duy ham lợi trước mắt mà phá vỡ quy hoạch, gây ảnh hưởng xấu đến cân bằng thị trường.
- Phát huy lợi thế và khả năng cạnh tranh của sản phẩm hàng hóa tại các vùng,
miễn, gắn với thị trường tiêu thụ; trong đó, xác định rõ các mục tiêu, đưa ra các
phương án bố trí sản xuất, các nhiệm vụ ưu tiên và các giải pháp phù hợp để ứng
phó với biến đổi khí hậu và tình trạng biến động thị trường nông sản trong nước và
trên thế giới trong dài hạn.
- Xây dựng thương hiệu nông sản Việt, nâng cao giá trị sản phẩm, đồng thời đẩy
mạnh quảng bá trên trường quốc tế
- Đẩy mạnh công nghiệp chế biến để nâng cao quy trình sản xuất, tạo ra nhiều sản
phẩm nông nghiệp chất lượng cao
2. Xây dựng những chính sách linh hoạt, phù hợp cho thị trường nông sản
- Xây dựng quỹ trợ giá để bình ổn, giữ vững quy hoạch vùng để bảo vệ người nông
dân. Đồng thời, cũng cần hạn chế thấp nhất khâu lưu thông dịch vụ lòng vòng đẩy giá, ép giá nông dân.
- Xây dựng các chính sách tạo động lực cho phát triển nông nghiệp như: khuyến
khích, hỗ trợ phát triển sản xuất, hỗ trợ tiêu thụ nông sản, phát triển thị trường trong nước…
- Mở rộng thị trường để thu hút đầu tư từ trong nước và nước ngoài
- Đây mạnh xuất khẩu nông sản ra nước ngoài trên cơ sở chính sách minh bạch,
thuận tiện và một nền nông nghiệp công nghệ cao, nông nghiệp sạch
- Phát triển phân khúc nông sản đặc sản và các sản phẩm độc quyền, chỉ có tại Việt
Nam hoặc Việt Nam có thế mạnh nổi bật, vượt trội trong sản xuất.
- Phải có sự đóng góp của cơ quan ban ngành trong quản lý chuỗi giá trị nông sản,
cần phải quản lý cả 3 dòng chảy thị trường chính: sản phẩm, thông tin và tài chính
một cách hiệu quả, mang lại kết quả tối ưu cho người nông dân, người bán buôn và khách hàng.
3. Người nông dân cần tăng cường nhận thức, có tầm nhìn dài hạn hơn trong sản xuất nông nghiệp
Người nông dân cần nâng cao kỹ thuật canh tác, tham gia chuyển giao công nghệ
của ngành nông nghiệp. Từ đó, nâng cao trình độ nguồn nhân lực nông nghiệp. Có ý
thức về một nền nông nghiệp sạch, bền vững, hướng tới xuất khẩu. Theo dõi dự báo
thị trường để điều chỉnh sản xuất cho phù hợp với cung- cầu thị trường. Cần có tư
duy dài hạn, không phá vỡ quy hoạch của Nhà nước về phát triển nông nghiệp bền vững.