






Preview text:
I. ĐỌC HIỂU (5,0 điểm) Đọc văn bản sau:
HÀ NỘI HOA
(Nguyễn Văn Thọ ) (*)
1.Trên thế gian này, là con người, đâu chẳng yêu hoa!
Nhưng Tết tới thì người Việt Nam mình cái sự yêu, chơi hoa nơi ngựa xe như nước áo quần như nêm, bao giờ chả rộn ràng hơn.
Hà Nội của tôi những năm xa lắc ấy, nếp chơi hoa đào và quất, vẫn để hai loài cây thả sức mà tung tăng đi đến từng nhà. Nhưng cũng tuỳ cảnh, tuỳ người, chọn cho mỗi ai, mỗi gian phòng vui Tết, thưởng hoa, đào to đào nhỏ, đào cắm hay đào cây, Hà Nội Tết Hoa vốn dĩ tuỳ cảnh tuỳ người?!
Nhà tôi cả thẩy bốn lần chuyển nhà trên phố phường; bốn lần là bốn chỉ số phòng khách và phòng ăn hay phòng làm việc khác nhau, để rồi Tết ấy, xuân ấy, định kì đến hẹn, cha tôi tha thẩn ở chợ hoa mà im lặng chọn ra cho mình một dáng, vừa vặn nơi ông dùng hoa làm duyên cho xuân, vui Tết. Có năm hoa đào vươn ra, hai vòng ôm không xuể; đào cắm mà rực rỡ no mắt cả nhà. Lâu quá rồi! Còn lại, hơn ba chục năm trên gác xép của ông chỉ là một cành đào khiêm tốn tới có thể. Sự tàn lụi của thời gian, có thể hẹp đi về kích cỡ, nhưng không thu hẹp tấm lòng hoa với người và, người với hoa. Chắc thế nên hôm nào, tôi cứ khoe mãi câu thơ mồ côi của Nguyễn Duy trước một cành đào thắm nhỏ cao vừa đúng bốn năm gang góc xép của ông: Hạnh phúc lớn vòng tay ôm không xuể. Tết mà! Lại năm ấy là đào mua ở hoa rong. Năm nay rét thế, mấy kẻ chợ bán hoa rong còn không? Có bán hoa được không?
Cha tôi thích tất cả các loài đào. Đào thắm ông thường dùng năm lẻ, khi mà ai nam giới sinh ở năm lẻ, đều bị hợp sao tinh chiếu vào làm âm (âm nam). Ông ví như xuân thêm lửa. xua cái khí lạnh, giữ xuân ấy thêm ấm thêm nồng. Nhưng có lẽ ông yêu nhất, thứ đào phai. Tâm hồn hoạ sĩ của ông rung động nhiều hơn khi rước hoa từ chợ về. Đốt gốc, mang cái cát-tút 105 li, mua ở chợ trời Ha-le rồi bảo tôi đánh sạch: tự ông cẩn thận chèn cành đào đứng thẳng giữa ống đồng sáng chói. Xuân đầy nụ, chớm hoa khoe cái màu hồng tưởng phai mà chưa khi nào phai trước thời gian! ngắm đi con! Những giọt hoa đọng lại, lấp lánh cơn mưa ông phun bằng cái máy xịt tay vẫn dùng xịt nước hành bảo quản tranh Sơn dầu.
Đào phai loại cánh kép, phơn phớt trước Tết rồi qua Tết, sang xuân mỗi bông tàn, chầm chậm nhả buông từng lớp cánh, dần dần rụng xuống sàn đá lạnh. Và, một hôm bất chợt he hé cái mầm quả xanh, để theo sau Tết, hình thành một trái Đào. Đào phai, từng bông nở chậm, khoe sắc ấm nồng cũng chầm chậm từng lớp, phai dần ở lớp cánh đầu tiên, chứ không nở bừng ra màu đỏ thắm khoảnh nhà, để mà tàn, úa rụng chốc lát, tan nát cả xuống đất một lần. Sự sống của hoa đào phai cánh kép, làm ông gật gù bảo, cái kiếp một bông hoa, một loài cây, dâng hiến cho đời từng lớp, từng lớp, cả mầu lẫn cánh… để cuối cùng hiện ra mầm sống mới, tựa hệt như vòng luân hồi của kiếp con người.
2.
Trước Tết vài ngày, mẹ tôi cũng chọn chợ Đồng Xuân để sắm hàng Tết. Rồi tới cận ba mươi mới ra đầu chợ Hôm mà mua hoa cúng. Người chủ gia đình đàn ông đàn ang, sắm đào thì thôi quất. Người mẹ của chúng tôi lo hoa cho bàn thờ tổ tông. Bà chọn từng cành huệ rất cẩn thận. Những búp hoa trắng muốt thoang thoảng hương thanh bạch, e ấp dấu mình trong kẽ xanh chỉ đợi hơi hương khói là nhao ra trắng muôn muốt.
Bắt đầu từ chiều ba mươi tới tận hôm hoá vàng, những bông huệ cứ âm thầm nhuộm một thứ hương như vậy loanh quanh bàn thờ. Có thay hoa mới cho lọ lục bình cổ, với các đường gốm ngọc rạn nứt, thì vẫn là những cành huệ, tươi mơn mởn, xanh như trước Tết, để khi nào cũng tinh khiết độc một loài hương. Thay vì lòng thành với tổ tiên đa dạng nữa, bên kia là những đoá hồng vàng hay thắm đỏ. Hoa cúng chọn cẩn trọng. Không cần to lắm, nhưng phải đều đặn công phu.
Mẹ tôi chưa khi nào quên đĩa hoa cho chùa Hai Bà hay chùa Vua gần đó. Thường là tháng ba mới rộ ngâu. Nhưng muốn tìm vẫn có. Nhũng cành ngâu nhỏ, hoa vàng bé xíu, chín thoang thoảng, đặt bên những bông hồng cũng nhỏ, cẩn thận xếp bày lên đĩa “cho hộ vào chiếc làn để mợ sớm mai mồng một ra chùa”. Bông hồng thì nở, bông nhài thì thơm, hoa đại định hình từ lúc mới ra bé xíu, móng rồng cũng vậy, cho tới sói, ngâu, mộc không nhìn rõ trong lớp lá, phải tựa vào hương mới biết là hoa, đều gọi chung là chin. Ngâu vừa chin con ơi. Cha tôi bảo.
Nước Đức, giáp Tết Mậu Tí
(Hà Nội hoa - Nguyễn Văn Thọ, in trong 36 tạp văn, tuỳ bút Hà Nội, Quốc Văn (Tuyển chọn), NXB Thanh niên, 2010, tr.248 đến 252.)
* Nguyễn Văn Thọ sinh năm 1948, quê thôn Đà, xã Quỳnh Khê, huyện Quỳnh Côi, tỉnh Thái Bình, hiện đang sống tại làng Ngọc Hà, quận Ba Đình, thành phố Hà Nội, là một nhà văn, hội viên Hội Nhà văn Việt Nam. Năm 1988 sang Cộng hòa Dân chủ Đức làm Đội trưởng lao động và ở lại CHLB Đức sau khi nước Đức thống nhất. Năm 2014, về định cư hẳn tại Hà Nội. Nguyễn Văn Thọ là một cây bút vạm vỡ, tài hoa. Dù viết về đề tài nào, Nguyễn Văn Thọ cũng tạo được ấn tượng. Ông viết nhiều thể loại, song thành công nhất với truyện ngắn.
Trả lời ngắn gọn các câu hỏi sau:
Câu 1. Viết Hà Nội hoa, tác giả đã cho ta thấy thú chơi nào của người Hà Nội trong dịp tết?
Câu 2. Văn bản Hà Nội hoa được viết theo thể loại nào?
Câu 3. Nội dung tác giả thể hiện ở phần 2 của văn bản là gì?
Câu 4: Tác giả đã thể hiện cảm xúc, tình cảm gì với thú chơi ngày tết của người Hà Nội?
Câu 5. Tìm và phân tích hiệu quả của biện pháp tu từ trong câu văn sau: Sự sống của hoa đào phai cánh kép, làm ông gật gù bảo, cái kiếp một bông hoa, một loài cây, dâng hiến cho đời từng lớp, từng lớp, cả mầu lẫn cánh… để cuối cùng hiện ra mầm sống mới, tựa hệt như vòng luân hồi của kiếp con người.
Câu 6. Viết từ 7- 10 dòng phân tích ý nghĩa của đoạn văn: Người mẹ của chúng tôi lo hoa cho bàn thờ tổ tông. Bà chọn từng cành huệ rất cẩn thận. Những búp hoa trắng muốt thoang thoảng hương thanh bạch, e ấp dấu mình trong kẽ xanh chỉ đợi hơi hương khói là nhao ra trắng muôn muốt
II. Viết (5,0 điểm)
So dần dây vũ dây văn (1) Bốn dây to nhỏ theo vần cung thương Khúc đâu Hán Sở chiến trường (2) Nghe ra tiếng sắc tiếng vàng chen nhau Khúc đâu Tư Mã Phượng Cầu (3) Nghe ra như oán như sầu phải chăng? Kê Khang này khúc Quảng Lăng (4) Một rằng Lưu Thủy hai rằng Hành Vân (5) Quá quan này khúc Chiêu Quân (6) Nửa phần luyến chúa nửa phần tư gia | Trong như tiếng hạc bay qua Đục như tiếng suối (7) mới sa nửa vời Tiếng khoan như gió thoảng ngoài, Tiếng mau sầm sập như trời đổ mưa Ngọn đèn khi tỏ khi mờ Khiến người ngồi đó cũng ngơ ngẩn sầu Khi tựa gối khi cúi đầu Khi vò chín khúc khi chau đôi mày. Rằng: Hay thì thật là hay, Nghe ra ngậm đắng, nuốt cay thế nào! (trích “Truyện Kiều” – Nguyễn Du) |
- Đoạn trích từ câu 471 đến 490, miêu tả cảnh Kiều đánh đàn lần đầu cho Kim Trọng.
(1): Vũ là dây đàn to, văn là dây đàn nhỏ
(2) Hán Sở chiến trường: Bãi chiến trường giữa đời Hán, và nước Sở, đánh nhau nhiều trận kịch liệt.
(3): Tư mã Tương Như người đời Hán, gẩy khúc đàn “Phượng cầu hoàng” để tỏ tình với Trác Văn Quân. Văn Quân cảm tiếng đàn, bỏ nhà trốn theo Tương Như.
(4): Kê Khang, Quảng Lăng: Kê Khang, đời Tam quốc, đêm gẩy đàn cầm ở đình Hoa Dương, bỗng có người khách lạ tới dạy cho khúc “Quảng Lăng tán”, âm điệu tuyệt hay.
(5) Lưu thuỷ, hành vân: nước chảy, mây bay. Ý nói khúc đàn thanh thoát lưu loát.
(6) Chiêu Quân, một cung nữ đời Hán Nguyên đế, bị gả cho chúa Hung nô, khi qua cửa ải, vào đất Hung nô, Chiêu Quân thường gảy khúc đàn tỳ bà để tỏ nỗi lòng nhớ nhà, nhớ nước.
(7) Tiếng đàn nghe đục như tiếng ầm ì của dòng suối dội ở lưng chừng núi xuống.
Viết một bài văn khoảng 600 chữ trình bày cảm nhận của anh chị về đoạn thơ trên
I.ĐỌC- HIỂU( 5,0 điểm)
Câu 1. Viết Hà Nội hoa, tác giả đã cho ta thấy thú chơi nào của người Hà Nội trong dịp tết?
- Viết Hà Nội hoa, tác giả đã cho ta thấy thú chơi hoa của người Hà Nội trong dịp tết.
Câu 2. Văn bản Hà Nội hoa được viết theo thể loại nào?
- Thể loại: Tùy bút
- Phân biệt: Tùy bút – tản văn
+ Giống nhau: Đều là tiểu loại của thể loại Kí; có sự kết hợp giữa tự sự và trữ tình; hành văn khá tự do phóng túng; đề tài đa dạng; bộc lộ cái tôi của người viết: tài hoa hiểu biết nhiều lĩnh vực
+ Khác nhau:
Tùy bút | Tản văn |
-Đề tài: thiên về cảnh quan, địa danh, một sự kiện, nhân vật...có sức hút đặc biệt với người viết - Thiên về trữ tình( bộc lộ cảm xúc của cái tôi) |
|
Câu 3. Nội dung tác giả thể hiện ở phần 2 của văn bản là gì?
- Nội dung tác giả thể hiện ở phần 2 của văn bản là: Người mẹ chọn, bày hoa cúng Tết
Câu 4: Tác giả đã thể hiện tình cảm gì với thú chơi ngày tết của người Hà Nội? ( đặc trưng của thể loại)
- Qua văn bản, tác giả đã thể hiện say mê, niềm trân trọng, niềm tự hào về nét đẹp văn hoá truyền thống của người Hà Nội nói riêng và người Việt Nam nói chung.
- ( Cái tôi trữ tình của tác giả: hiểu biết về một thú chơi tao nhã, thanh lịch của người Hà Nội từ xưa đến nay; cái tôi giàu cảm xúc: rộn ràng, náo nức khi Tết đến xuân về, yêu thích say mê với các loại hoa, trân trọng mến yêu cảm phục cách chọn hoa của cha, của mẹ, của anh, của người Hà Nội=> Thấy được tình yêu và sự tự hào về nét đẹp trong văn hóa truyền thống)
Câu 5. Theo nhân vật tôi, người cha thích nhất là thứ đào phai, vì sao?
+ Vẻ đẹp : ...
+ Sức sống: ... “Loài hoa người cha thích nhất là thứ đào phai, vì cách đào phai dâng hiến cho đời đó là từng bông nở chậm, chầm chậm khoe sắc, phai dần từng lớp từng lớp cả mầu lẫn cánh, chầm chậm nhả bông để cuối cùng hiện ra mầm sống mới. Nó tựa như vòng luân hồi của kiếp con người.
Câu 6: Phần 3 của văn bản, sự khác nhau trong cách chơi hoa của hai cha con đã thể hiện điều gì trong văn hoá chơi hoa của các thế hệ?
- Chỉ ra sự khác nhau: ......
- Từ sự khác nhau trong cách chơi hoa của hai cha con đã cho ta thấy
+ có sự tiếp nối trong thú chơi hoa của thế hệ sau với thế hệ trước
+ Thế hệ sau vẫn trân trọng ...nhưng có sáng tạo để làm đẹp thêm văn hóa truyền thống.
Câu 7: Tìm và phân tích hiệu quả của biện pháp tu từ trong câu văn sau: Sự sống của hoa đào phai cánh kép, làm ông gật gù bảo, cái kiếp một bông hoa, một loài cây, dâng hiến cho đời từng lớp, từng lớp, cả mầu lẫn cánh… để cuối cùng hiện ra mầm sống mới, tựa hệt như vòng luân hồi của kiếp con người.
- Nhân hóa: dâng hiến cho đời
- So sánh: Cái kiếp của một bông hoa, một loài cây - với vòng luân hồi của một kiếp con người.
- Tác dụng:
+NT
+ ND: -
~ Nhấn mạnh nội dung....
Câu 8: Viết từ 7- 10 dòng phân tích ý nghĩa của đoạn văn: Người mẹ của chúng tôi lo hoa cho bàn thờ tổ tông. Bà chọn từng cành huệ rất cẩn thận. Những búp hoa trắng muốt thoang thoảng hương thanh bạch, e ấp dấu mình trong kẽ xanh chỉ đợi hơi hương khói là nhao ra trắng muôn muốt.
- Nghệ thuật: giọng văn nhẹ nhàng, giàu chất trữ tình, Các biện pháp tu từ đặc sắc nhân hóa: e ấp, nhao ra; sự kết hợp giữa chất tự sư và miêu tả
- Nội dung: Người mẹ cẩn thận chọn hoa bày cúng cho bàn thờ tổ tông; những búp hoa huệ trắng muốt, thoang thoảng hương thơm…thể hiện sự thành tâm đối với ông bà tổ tiên. Qua đoạn văn, thấy được sự trân trọng đối với vẻ đẹp truyền thống văn hóa của gia đình, của dân tộc.
II. Viết (5,0 điểm)
1*Mở bài:
- Giới thiệu ngắn gọn về tác giả Nguyễn Du, tác phẩm Truyện Kiều, đoạn trích Kiều đánh đàn cho Kim Trọng, giá trị nội dung và nghệ thuật của đoạn trích.
2*Thân bài:
- Giá trị về nội dung:
+ Phân tích, giới thiệu tài năng đánh đàn của Thúy Kiều.
+ Không gian: riêng tư, yên tĩnh, mờ ảo của căn phòng nơi Kiều gặp gỡ Kim Trọng là nơi phù hợp để Kiều cất lên những bản nhạc để thể hiện tài năng, tâm trạng của mình.
+Hình tượng tiếng đàn: tiếng đàn vừa là mạch cảm xúc, vừa là hình tượng xuyên suốt thể hiện tâm trạng người đàn và tác động đến tâm trạng người nghe.
+ Bố cục: hai phần. Phần đầu miêu tả tiếng đàn, phần sau miêu tả tâm trạng, cảm nhận của người nghe là Kim Trọng.
+)Tám câu thơ đầu: miêu tả những khúc nhạc mà Kiều đã đàn, là những khúc nhạc điển tích hay, được Kiều đàn bằng tất cả tâm can, thể hiện một tình yêu mãnh liệt, một trái tim khát khao yêu đương nồng cháy. Vì thế tiếng đàn rất đa giọng điệu nhiều âm sắc.
+) Bốn câu thơ tiếp theo là sự cảm nhận, diễn tả tinh tế tiếng đàn nàng Kiều của Nguyễn Du:
+Tâm trạng của Kim Trọng: ngơ ngẩn, đồng điệu với từng thay đổi của các khúc nhạc mà nàng Kiều đang thể hiện
- Về nghệ thuật:
+Việc sử dụng các từ ngữ Hán Việt, các điển tích đã tạo nên tính hàm súc, gợi không khí trang nhã, cảm xúc chân thực cho những khúc nhạc mà nàng Kiều đã đàn.
+Những từ láy “sầm sập, ngơ ngẩn, não nùng, dìu dặt” tạo độ luyến láy và các điệp từ “khúc đâu, này khúc, trong như, đục như, tiếng khoan, tiếng mau…” để tạo giai điệu tuyệt vời, lột tả được tâm trạng của người con gái đang yêu, mang trong mình con tim thổn thức, sự đa cảm.
3. Kết bài: Khẳng định lại sự độc đáo của đoạn trích và nét độc đáo của Nguyễn Du so với các tác giả khác khi miêu tả về tiếng đàn trong các thi phẩm.
Bài viết tham khảo:
Vonte từng nói: “Thơ ca là âm nhạc của tâm hồn”. Thơ phản ảnh cuộc sống, thể hiện tâm trạng bằng ngôn từ hàm súc giàu hình ảnh và giàu tính nhạc điệu. Có thể nói, những câu thơ tả tiếng đàn và tả tâm trạng của nhân vật trong Truyện Kiều của Đại thi hào dân tộc Nguyễn Du là một trong những áng thơ hay nhất trong nền thơ ca nước nhà. Đoạn trích “Kiều đánh đàn cho Kim Trọng” (trích từ câu 471 đến 490) là một trong những đoạn tuyệt bút của thi hào Nguyễn Du. Dưới ngòi bút thiên tài của Nguyễn Du, đoạn trích không chỉ thành công trong miêu tả tâm trạng nhân vật mà còn thành công trong nghệ thuật miêu tả tiếng đàn.
II. TB
Ý 1. Khái quát về tác giả, tác phẩm, đoạn trích
Ý 2. Phân tích
- Khái quát
Khi viết về Thúy Kiều, đặc biệt là ca ngợi những vẻ đẹp, phẩm chất của nàng, Nguyễn Du đã dồn hết tâm ý, ngòi bút tinh tế của mình để lột tả, để ngợi ca. Giới thiệu tài năng Thúy Kiều, Nguyễn Du viết:
Thông minh vốn sẵn tính trời,
Pha nghề thi họa, đủ mùi ca ngâm.
Cung thương làu bậc ngũ âm,
Nghề riêng ăn đứt hồ cầm một trương.
Thúy Kiều là người đa tài, đủ cả thơ ca nhạc họa. Nhưng Nguyễn Du quan tâm tài đàn của nàng. Trong tác phẩm, Kiều đã nhiều lần đánh đàn, trong đó có bốn lần Nguyễn Du đặc tả tiếng đàn. Đặc biệt lần đánh đàn đầu tiên cho Kim Trọng được nhà thơ miêu tả rất chi tiết.
Không gian riêng tư, yên tĩnh, mờ ảo của căn phòng nơi Kiều gặp gỡ Kim Trọng là nơi phù hợp để Kiều cất lên những bản nhạc để thể hiện tài năng, tâm trạng của mình. Đây là lần đầu tiên Kiều đàn cho người yêu tâm đầu ý hợp nghe. Kiều đàn bằng cả trái tim yêu đương, còn Nguyễn Du thể hiện tài năng của mình khi miêu tả thành công tiếng đàn bằng thơ. Cả đoạn trích, tiếng đàn vừa là mạch cảm xúc, vừa là hình tượng xuyên suốt thể hiện tâm trạng người đàn và tác động đến tâm trạng người nghe.
Bố cục của đoạn trích được chia thành hai phần rõ rệt. Phần đầu miêu tả tiếng đàn, phần sau miêu tả tâm trạng, cảm nhận của người nghe là Kim Trọng. Trong đó 12 câu thơ miêu tả tiếng đàn dưới ngòi bút tài hoa của Nguyễn Du.
- Phân tích
- Trong 12 câu thơ miêu tả tiếng đàn, tám câu thơ đầu miêu tả những khúc nhạc mà Kiều đã đàn: khúc Hán Sở chiến trường sắc vàng chen nhau bi hùng chiến trận, khúc Phượng cầu hoàng của Tư Mã Tương Như đã làm Trác Văn Quân cảm động mà bỏ nhà đi theo, khúc Quảng Lăng tán của Kê Khang, khúc Chiêu Quân buồn thương man mác khi giã từ đất Hán sang Hồ. …Đó là những khúc nhạc điển tích hay, được Kiều đàn bằng tất cả tâm can, thể hiện một tình yêu mãnh liệt, một trái tim khát khao yêu đương nồng cháy. Vì thế tiếng đàn rất đa giọng điệu nhiều âm sắc. Thúy Kiều muốn trổ hết tài năng của mình trước người yêu lý tưởng biết thưởng thức âm nhạc.
- Bốn câu thơ tiếp theo là sự cảm nhận, diễn tả tinh tế tiếng đàn nàng Kiều của Nguyễn Du. Tiếng đàn của Kiều về cung bậc âm thanh khi thì bay bổng vút cao trong vắt như tiếng kêu của chim hạc bay ngang bầu trời, khi thì xuống thấp trầm đục như tiếng nước suối đổ từ trên cao đến lưng chừng:
Trong như tiếng hạc bay qua,
Đục như tiếng suối mới sa nửa vời.
Tiếng đàn của Kiều về nhịp điệu khi thì khoan thai, thoảng như tiếng gió thủ thỉ, khi thì nhanh mau sầm sập:
Tiếng khoan như gió thoảng ngoài,
Tiếng mau sầm sập như trời đổ mưa.
Từ láy “sầm sập”: Chỉ âm thanh dồn dập, mạnh; Gợi hình ảnh tay đàn của Thúy Kiều phảy mạnh trên dây đàn. Âm thanh gợi lên từ tiếng đàn dự cảm về những ngày sóng gió của cuộc đời Thúy Kiếu và mối tình đầy trắc trở của Kim Kiều.
Kỹ thuật đàn đã tuyệt diệu mà cái tình trong tiếng đàn lại càng tuyệt diệu hơn. Tiếng đàn làm lay động cả không gian và lòng người. Qua tiếng đàn, ta có cảm giác như Kiều muốn thổ lộ hết trái tim mình với người yêu lý tưởng vậy. Tiếng đàn đa nhịp, mang âm hưởng dìu dặt, có bố cục chặt chẽ như một bài nhạc cổ điển.
- Tiếng đàn đi lay động tâm hồn Kim Trọng khiến chàng ngơ ngẩn, cùng với đó là những trạng thái cảm xúc đồng điệu với từng thay đổi của các khúc nhạc mà nàng Kiều đang thể hiện
Khi tựa gối khi cúi đầu,
Khi vò chín khúc khi chau đôi mày.
Tựa gối là lúc tiếng đàn làm cho chàng Kim cảm thấy thư thái, sảng khoái mà cảm nhận. Cúi đầu là lúc tiếng đàn khiến chàng Kim tưởng tượng đến một điều gì đó mà băn khoăn để tự hỏi lòng mình. Vò chín khúc là lúc tiếng đàn tạo nên cái nao nao, xốn xang trong lòng. Chau đôi mày là lúc tiếng đàn khiến chàng Kim phải suy nghĩ mông lung. Tâm trạng Kiều được thể hiện qua tiếng đàn, tiếng đàn tác động làm Kim Trọng phải hòa mình vào tâm tư trong từng khúc nhạc. Đó chẳng phải là Kim Trọng đang thưởng đàn, đang hiểu tâm tư Kiều đó sao! Để rồi khi tiếng đàn kết thúc, Kim Trọng đã phải thốt lên:
Rằng: Hay thì thật là hay,
Nghe ra ngậm đắng, nuốt cay thế nào!
Kim Trọng đã cảm nhận được cái hay của tiếng đàn, đồng thời cũng cảm nhận được điểm chung của các khúc nhạc mà Kiều đàn đều mang một nỗi buồn sầu, bi thảm, chia li. Tiếng đàn hay nhưng quả thực nó không phù hợp với không khí yêu đương, hẹn thề. Nó còn là tâm trạng của nàng Kiều, là dự cảm cho tương lai bi đát của nàng. Quả là sự tài tình của Nguyễn Du khi đã hiểu được tâm tư nàng Kiêu, miêu tả thành công tiếng đàn, lột tả được tâm trạng của các nhân vật.
Ý 3. Nhận xét
Lấy thơ để tả nhạc là chuyện không hề đơn giản, nhưng ở đây ta thấy có đầy đủ âm sắc, thanh âm, nhạc điệu của tiếng đàn. Thành công đó có sự góp phần không nhỏ của nghệ thuật ngôn từ mà Nguyễn Du đã sử dụng. Việc sử dụng các từ ngữ Hán Việt, các điển tích đã tạo nên tính hàm súc, gợi không khí trang nhã, cảm xúc chân thực cho những khúc nhạc mà nàng Kiều đã đàn. Những từ láy “sầm sập, ngơ ngẩn, não nùng, dìu dặt” tạo độ luyến láy và các điệp từ “khúc đâu, này khúc, trong như, đục như, tiếng khoan, tiếng mau…” để tạo giai điệu tuyệt vời, vang vọng của nhiều tiếng đàn khác nhau, để lột tả được tâm trạng của người con gái đang yêu, mang trong mình con tim thổn thức, sự đa cảm mãnh liệt của tình yêu thuở đầu đời.
Trong thơ xưa, ta vẫn thấy được nét đặc sắc “thi trung hữu nhạc” của các thi phẩm. Nhưng để lột tả được cái hay, cái “hữu hình” của tiếng đàn thông qua những hình ảnh, những cung bậc, sắc điệu một cách chi tiết, tài tình như Nguyễn Du đã miêu tả tiếng đàn của nàng Kiều thì quả là hiếm thấy. Vì vậy có thể nói, những câu thơ tuyệt bút Nguyễn Du khi miêu tả tiếng đàn của nàng Kiều, đặc biệt trong lần đầu đánh đàn cho Kim Trọng, xứng đáng là những vần thơ hay bậc nhất về tiếng đàn trong thơ trung đại Việt Nam.