








Preview text:
I. NHÂN VẬT NGHỆ THUẬT
1. HUỲNH VĂN NGHỆ, CHIẾN SĨ – NHÀ THƠ.
Huỳnh Văn Nghệ (bí danh Hoàng Hồ) sinh ngày 2/1/1914 tại làng Tân Tịch, huyện Tân
Uyên, tỉnh Biên Hòa (nay là xã Thường Tân, huyện Tân Uyên, tỉnh Bình Dương). Ông
không những là một nhà chỉ huy quân sự tài ba mà còn là một nhà báo, nhà thơ với
nhiều tác phẩm khá nổi tiếng.
Nhiều người dân Nam Bộ yêu kính và trìu mến gọi ông là "Thi tướng Huỳnh Văn Nghệ".
Tên tuổi ông được ghi trong sách Trí thức Sài Gòn - Gia Định, được đưa vào Từ điển danh
nhân Việt Nam, Từ điển thành phố Sài Gòn - Hồ Chí Minh, được đặt tên cho trường học ở
Tân Uyên, nơi vùng đất chiến khu Đ năm xưa và một số đường phố ở Bình Dương, Biên Hòa, TP HCM.
Huỳnh Văn Nghệ sinh ra và lớn lên ở một vùng quê nghèo nhưng giàu truyền thống chống
giặc ngoại xâm. Cha ông là thầy dạy võ can trường, tuy bị quan lại ngăn cấm nhưng vẫn bí
mật dạy võ cho thanh niên, bảo vệ người nghèo, chống áp bức bất công.
Là người thông minh học giỏi nên Huỳnh Văn Nghệ được nhận học bổng tại Trường trung
học Petrus Ký Sài Gòn (nay là Trường THPT Lê Hồng Phong) và sớm giác ngộ, tham gia các hoạt động cách mạng.
Từ năm 1932, ông luôn tìm cách giúp đỡ, bênh vực người nghèo, chống giặc Pháp xâm lược
và bọn tay sai. Huỳnh Văn Nghệ tích cực tìm đến với cách mạng và đã được tuyên truyền về
Đảng Cộng sản Đông Dương, rồi giác ngộ và tham gia vào các hoạt động do Đảng lãnh đạo.
Những năm 1936-1939, ông tham gia phong trào Đông Dương đại hội ở Sở Xe lửa Sài Gòn.
Năm 1940, tham gia khởi nghĩa Nam Kỳ. Cuộc khởi nghĩa thất bại, giặc Pháp điên cuồng đàn
áp những người cộng sản, một số phải rút về rừng Tân Uyên hoạt động, ông lo việc tiếp tế
đạn dược, thuốc men cho số đồng chí này.
Năm 1942, bị lộ, ông phải trốn sang Thái Lan và hoạt động trong phong trào Việt kiều yêu
nước. Tại đây, ông tổ chức xuất bản tờ báo Hồn cố hương, kêu gọi kiều bào hướng về Tổ
quốc, ủng hộ cách mạng.
Năm 1944, Huỳnh Văn Nghệ về nước, bắt liên lạc với cách mạng và được đồng chí Trần Văn
Giàu, Bí thư Xứ ủy Nam Kỳ phân công lập căn cứ Đất Cuốc tại Tân Uyên, Biên Hòa, được
kết nạp Đảng, lập Đoàn Cựu binh sĩ và tham gia Tổng khởi nghĩa Tháng Tám 1945, trực tiếp
tham gia chỉ huy cướp chính quyền ở Biên Hòa. Tự tay ông đã bắt tên cò Phước, tỉnh trưởng
Quý, tòa Nhan ở Biên Hòa, giải phóng tù chính trị bị chính quyền Nhật giam giữ.
Tại hội nghị Chợ Đệm, Ủy ban nhân dân Nam Bộ bổ nhiệm Huỳnh Văn Nghệ làm cố vấn Ủy
ban kháng chiến miền Đông. Mặc dù Ủy ban này đã rút lui trước về Biên Hòa, Xuân Lộc 1
cùng với nhiều đơn vị như Đệ nhị sư đoàn, Cộng hòa vệ binh, bộ đội Nam Long, nhưng khi
giặc Pháp lấn chiếm ra các vùng ngoại vi Sài Gòn - Gia Định, ông đã ở lại tham gia chiến đấu
tại các mặt trận Sài Gòn - Chợ Lớn, Thị Nghè, đường số 1 (từ Sài Gòn đi Biên Hòa), Băng
Ky, Bình Lợi, Thủ Đức... chặn bước tiến của giặc về miền Đông Nam Bộ. Sau đó, ông tổ
chức đốt Tòa bố, Sở cò, Bưu điện Biên Hòa, thu 23 khẩu súng trường, đem về Tân Uyên xây dựng lực lượng.
Tại đây, Huỳnh Văn Nghệ tổ chức xây dựng giải phóng quân Biên Hòa và trực tiếp làm chỉ
huy trưởng. Căn cứ Tân Uyên được ông bố trí phòng ngự vững chắc, đã đảm nhiệm vai trò
bảo đảm hậu cần cho lực lượng vũ trang của tỉnh và các tỉnh bạn theo lệnh của Khu trưởng
Nguyễn Bình, đồng thời làm nhiệm vụ bảo vệ Khu bộ, tiếp liệu cho các công binh xưởng của
Khu, tích cực tham gia xây dựng các cơ quan quân, dân, chính của tỉnh.
Dưới sự chỉ huy của Huỳnh Văn Nghệ, không bao lâu sau, Tân Uyên trở thành một trong
những căn cứ kháng chiến vững mạnh nhất ở Nam Bộ.
Đầu năm 1946, quân Pháp liên tiếp mở các trận tiến công lớn vào chiến khu Tân Uyên - Lạc
An (Chiến khu Đ). Ngày 2/1/1946, Huỳnh Văn Nghệ chỉ huy lực lượng chủ công tham gia
trận phản công lớn đầu tiên của Nam Bộ do Khu tổ chức đánh vào thị xã Biên Hòa.
Sau khi tham gia trận Tân Uyên và chỉ huy mặt trận Tân Tịch - Lạc An (2/1946) giành thắng
lợi, Huỳnh Văn Nghệ được Khu trưởng Nguyễn Bình chỉ định làm Chi đội trưởng Chi đội
10. Trên cương vị mới trong thời gian 1946-1947, ông đã chỉ huy các đơn vị chiến đấu bảo
vệ nhân dân, bảo vệ Khu bộ, các công binh xưởng, phát động chiến tranh du kích, địch vận...
góp phần tiêu hao sinh lực địch, mở đầu cho phong trào giao thông chiến ở Nam Bộ, phổ biến
kỹ thuật đánh địa lôi điện.
Tháng 3/1948, Huỳnh Văn Nghệ nhận nhiệm vụ Khu bộ phó Khu 7, kiêm Trung đoàn trưởng Trung đoàn 310.
Ngày 1/3/1948, với cương vị chỉ huy trưởng, ông tham gia trận La Ngà - trận giao thông chiến
lớn nhất ở Nam Bộ kể từ ngày giặc Pháp tái chiếm nước ta. Sau trận này, Trung đoàn 310
được Bác Hồ khen thưởng Huân chương Chiến công hạng 2, Trung đoàn trưởng Huỳnh Văn
Nghệ được Bác Hồ tặng thưởng một chiếc áo trấn thủ.
Tháng 7/1948, thi hành lệnh của Ủy ban Kháng chiến hành chính Nam Bộ, trong hoàn cảnh
hết sức nguy hiểm, Huỳnh Văn Nghệ một mình đến căn cứ Bình Xuyên, dùng lý lẽ và tình
cảm thuyết phục được thủ lĩnh Bình Xuyên lúc bấy giờ là Lê Văn Viễn (Bảy Viễn) về dự hội
nghị, giúp Xứ ủy và Ủy ban Kháng chiến hành chính Nam Bộ giải quyết được “vấn đề Bình
Xuyên”, rất gay go lúc bấy giờ.
Cùng thời gian này, ông được bổ nhiệm làm Khu trưởng Khu 7. Trên cương vị mới, ông đã
có nhiều đóng góp quan trọng trong việc xây dựng căn cứ mới của Khu, thành lập bộ đội chủ 2
lực Khu 7 (Bộ đội 303). Đặc biệt, ông nghiên cứu, tìm ra cách đánh tháp canh, giải quyết
được sự bế tắc về chiến thuật ở Khu 7 lúc bấy giờ.
Năm 1950, sau khi sáp nhập Sài Gòn - Chợ Lớn vào Khu 7, ông giữ chức Phó tư lệnh Khu 7.
Năm 1951, khi hai tỉnh Thủ Dầu Một - Biên Hòa sáp nhập, ông là Ủy viên Thường vụ Tỉnh
ủy, kiêm Tỉnh đội trưởng Thủ Biên, chỉ huy nhiều trận đánh lớn bảo vệ Bộ Tư lệnh Nam Bộ
đóng ở Chiến khu Đ. Năm 1952, trong trận lụt “thế kỷ”, ông xông pha chỉ huy chống lụt ở
Thủ Biên, bảo vệ được bộ đội và dân.
Sau thảm họa thiên tai đó, lợi dụng tình thế khó khăn của quân dân ta, địch huy động 11 tiểu
đoàn tiến công vào Chiến khu Đ. Lực lượng của tỉnh chỉ có một tiểu đoàn nhưng dưới sự chỉ
huy tài tình của Huỳnh Văn Nghệ đã anh dũng chiến đấu suốt 52 ngày đêm, tiêu diệt gần một
tiểu đoàn địch, phá tan âm mưu của chúng gom dân và tiêu diệt lực lượng ta.
Tháng 5-1953, ông được cử ra miền Bắc học và ở lại công tác gần 12 năm, trải qua các chức
vụ: Trưởng phòng Thể dục thể thao, Cục phó Cục Quân huấn, Bộ Tổng tham mưu, Tổng cục
phó Tổng cục Lâm nghiệp.
2. NHẠC SĨ LƯ NHẤT VŨ.
1. Lư Nhất Vũ - nhạc sĩ tài hoa với những ca khúc cách mạng và nghiên cứu dân ca Nam Bộ
Trong dòng chảy âm nhạc Việt Nam, hiếm ai để lại dấu ấn sâu đậm như Lư Nhất Vũ - người
nhạc sĩ tài hoa đã hòa quyện hồn dân tộc vào từng giai điệu. Từ những ca khúc cách mạng
cháy bỏng đến các công trình nghiên cứu dân ca Nam Bộ, ông không chỉ là một nghệ sĩ mà
còn là người giữ lửa cho di sản văn hóa đất nước. Hành trình cuộc đời và sự nghiệp của Lư
Nhất Vũ là câu chuyện về đam mê, cống hiến và những giá trị bất diệt vượt thời gian.
2. Tiểu sử nghề nghiệp của Nhạc sĩ Lư Nhất Vũ
Lư Nhất Vũ, tên thật Lê Văn Gắt, sinh ngày 13/3/1936 tại Thủ Dầu Một, Bình Dương. Ông
là nhạc sĩ và nhà nghiên cứu âm nhạc nổi tiếng, góp phần định hình âm nhạc truyền thống và
nhạc cách mạng Việt Nam. Tốt nghiệp khoa Sáng tác tại Trường Âm nhạc Việt Nam (nay là
Nhạc viện Hà Nội) vào tháng 6/1962, ông bắt đầu sự nghiệp tại Đoàn Ca múa Miền Nam.
Năm 1967, ông gia nhập Phòng Chỉ đạo Văn công (Vụ Âm nhạc và Múa), đảm nhận vai trò
hướng dẫn các đoàn ca múa nhân dân ở miền Bắc, Tây Bắc và Tây Nguyên. Nhờ đó, ông tích
lũy kiến thức sâu sắc về âm nhạc dân tộc và văn hóa đa dạng. Đến năm 1970, ông trở lại miền
Nam, hoạt động tại Tiểu ban Văn nghệ Giải phóng ở chiến trường Tây Nam Bộ. Sau năm
1975, ông công tác tại Cơ quan Văn nghệ Giải phóng và Viện Nghiên cứu Âm nhạc (nay
thuộc Viện Văn hóa Nghệ thuật TP.HCM), để lại nhiều đóng góp quan trọng trong việc bảo
tồn và phát triển âm nhạc Việt Nam. 3
3. Thành tựu nổi bật của Lư Nhất Vũ
Lư Nhất Vũ sở hữu gia tài âm nhạc đồ sộ, từ sáng tác đến nghiên cứu, ghi dấu ấn qua nhiều lĩnh vực: Tác phẩm âm nhạc
• Các ca khúc và hợp xướng nổi bật:
o "Chiều trên bản Mèo" (1961): Lãng mạn và đậm chất dân ca miền núi.
o "Hàng em mang tới chiến hào" (1964): Khơi dậy tinh thần chiến đấu.
o "Cô gái Sài Gòn đi tải đạn": Giành Giải A Hội Nhạc sĩ Việt Nam và Ban Thống
nhất Trung ương, trở thành biểu tượng nhạc cách mạng.
• Nhạc cảnh và kịch múa như "Truyền thuyết về cây đàn đá" và "Tay không thắng giặc",
thể hiện sự sáng tạo độc đáo trong nghệ thuật biểu diễn. Nhạc phim
Ông góp phần nâng tầm nhiều bộ phim kinh điển qua các ca khúc:
• "Đất Phương Nam": "Bài ca đất Phương Nam", "Chú bé đi tìm cha".
• "Thanh gươm để lại": "Tỳ bà khúc".
• "Còn lại một mình": "Lời ru sau cơn giông". • "Thạch Sanh - Lý Thông": "Tiếng đàn Thạch Sanh".
Những giai điệu này không chỉ gắn liền với từng thước phim mà còn sống mãi trong lòng khán giả. Nghiên cứu dân ca
Lư Nhất Vũ là nhà nghiên cứu tiên phong về dân ca Nam Bộ, hợp tác với các tác giả như Lê
Giang, Nguyễn Đồng Nai, Thạch An, Nguyễn Văn Hoa, Quách Vũ. Các công trình tiêu biểu gồm:
• "Dân ca Bến Tre", "Dân ca Kiên Giang", "Dân ca Cửu Long", "Dân ca Sông Bé", "Dân ca Hậu Giang".
Những nghiên cứu này là tài sản quý giá, góp phần lưu giữ hồn cốt âm nhạc dân tộc.
4. Di sản âm nhạc của Lư Nhất Vũ
Di sản của Nhạc Sĩ Lư Nhất Vũ không chỉ nằm ở những giai điệu bất hủ mà còn ở nỗ lực bảo
tồn và phát huy âm nhạc truyền thống Việt Nam. Dù tuổi cao sức yếu khiến ông không còn
trực tiếp sáng tác, những giá trị ông để lại vẫn tiếp tục lan tỏa. Các tác phẩm âm nhạc, từ ca
khúc cách mạng đến nhạc phim, đã trở thành một phần ký ức tập thể của nhiều thế hệ. Đồng 4
thời, các công trình nghiên cứu dân ca của ông là nguồn tài liệu vô giá, giúp thế hệ trẻ hiểu
và trân trọng văn hóa dân tộc.
Sau khi ông qua đời vào ngày 29/3/2025 tại Bệnh viện Nhân dân 115, hưởng thọ 90 tuổi, di
sản của Lư Nhất Vũ càng được chú trọng bảo tồn. Các dự án như xuất bản tuyển tập tác phẩm,
tổ chức hội thảo giáo dục, và biểu diễn tưởng niệm đang được kỳ vọng sẽ giữ cho tên tuổi và
những đóng góp của ông sống mãi. Sự ra đi của ông là mất mát lớn, nhưng những gì ông để
lại sẽ mãi là ngọn lửa soi sáng con đường âm nhạc Việt Nam.
Từ "Bài ca đất phương Nam" âm hưởng dân gian đến bản quân hành "Hãy yên lòng mẹ ơi",
hồn đất và người Nam Bộ thấm đẫm trong âm nhạc Lư Nhất Vũ.
Nhạc sĩ qua đời ở tuổi 89, sáng 29/3 tại TP HCM, sau nhiều tháng chữa bệnh tuổi già, khiến
các thế hệ đồng nghiệp, học trò và công chúng tiếc thương. Nhiều người tưởng nhớ, chia sẻ
các ca khúc gắn liền tên tuổi ông, tri ân một nhạc sĩ, nhà nghiên cứu âm nhạc dân gian tài hoa.
Hơn 60 năm, ông và người vợ, tri kỷ của mình - nhà thơ Lê Giang - đi dọc dài đất nước, vào
Nam ra Bắc, hòa vào nhịp sống ở khắp vùng miền qua nhiều thăng trầm. Vốn sống, kiến thức
về âm nhạc và văn hóa dân gian, nhất là về vùng đất Nam Bộ, được tích lũy qua bao năm
tháng, như phù sa bồi đắp dòng âm nhạc Lư Nhất Vũ. Nhờ vậy, nhiều tác phẩm của ông có
nội dung và âm giai dạt dào hình ảnh từ thời khẩn hoang, kháng chiến đến ngày đất nước hòa bình.
Nhạc sĩ sinh năm 1936 tại thị xã Thủ Dầu Một, Bình Dương. Năm 1955, ông từ giã gia đình,
bạn bè để lên đường vượt tuyến ra miền Bắc, tham gia Thanh niên xung phong. Xa quê từ thời niên thiếu, ông canh cánh nỗi nhớ miền Nam.
Sau cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Tết Mậu Thân tại Hà Nội, nhạc sĩ viết Cô gái Sài Gòn đi
tải đạn. Về bối cảnh ra đời ca khúc, nhạc sĩ từng nói: ' Lúc ấy tôi trăn trở lắm khi bạn bè đồng
hương đều hỏi đã viết gì cho Sài Gòn. Nhưng những sáng tác trước đó lại quá nổi bật, tôi
không biết lấy đề tài gì để viết ca khúc cho mới mẻ' . Và rồi, ông tình cờ đọc được một bài
báo về những thiếu nữ Sài Gòn chưa từng cầm súng vẫn hăng hái tham gia kháng chiến. Cô
gái Sài Gòn đi tải đạn sau đó được phát sóng trên Đài Tiếng nói Việt Nam tháng 9/1968.
Tác phẩm được nhiều đoàn văn công biểu diễn, khán giả cả nước yêu thích nhờ lời ca gần
gũi, tiết tấu sôi nổi, khắc họa tuổi xuân lẫn bản lĩnh của những cô gái trên chiến trường. Nhạc
sĩ Nguyễn Quang Long nhận định ca khúc mang âm hưởng Nam Bộ rõ nét, là mạch nguồn
cảm xúc đã thấm trong con người Lư Nhất Vũ, được ông thể hiện một cách tự nhiên, hồn hậu. 5
Một dấu son khác trong sự nghiệp sáng tác của Lư Nhất Vũ là nhạc phẩm Bài ca đất phương
Nam (1997). Bài hát có ca từ, tiết tấu, âm hưởng gợi nhớ về một thời mở đất khẩn hoang ở miền Tây.
Bài hát do ông phổ nhạc từ lời thơ của vợ, mở đầu với giai điệu nhẹ nhàng, da diết và đẩy cao
trào ở điệp khúc. Theo nhạc sĩ Trương Quang Lục, ca khúc được xây dựng theo điệu thức
Oán trong dòng nhạc dân gian Nam Bộ, mang nỗi niềm thống thiết. Nhà thơ Lê Giang từng
cho biết ông bà đi qua hàng trăm cánh đồng ở miền Tây để chắt chiu cảm xúc cho tác phẩm.
Là bài nhạc của phim Đất phương Nam (đạo diễn Nguyễn Vinh Sơn) song sau này, ca khúc giữ vị trí độc lập trong làng nhạc và khán giả.
Ngoài chuyển tải nếp sống, tâm hồn người miền Nam, Lư Nhất Vũ còn thành công ở mảng
âm nhạc cách mạng. Những sáng tác về người lính của ông không đơn thuần mang tính cổ
động mà là những tâm sự sâu lắng, thật nhất về lý tưởng đẹp của một thế hệ trải qua chiến
tranh, khát vọng hòa bình cho quê hương, đất nước.
Ca khúc Hãy yên lòng mẹ ơi là một nhạc phẩm như thế. Năm 1978, ông và nhà thơ Lê Giang
tiễn con trai Lê Anh Trung lên đường nhập ngũ trong chiến dịch biên giới Tây Nam. Giây
phút chia tay, Lê Anh Trung nói: ' Ba mẹ hãy yên lòng về con' . Câu nói gợi cho ông bà ngay
về ý tưởng thực hiện bài hát. Phần điệp khúc với những lời nhắn gửi xúc động: ' Mẹ ơi, hãy
yên lòng/ Dù bao gian lao ngày tháng/ Trường Sơn hay nơi đảo xa/ Đoàn chúng con xin quyết
giữ gìn/ Chúng con luôn bên mẹ hiền/ Ngày đêm vững bước trong đoàn quân''.
3. NGHỆ NHÂN LÝ THỊ NHIỄN.
Nghệ nhân Lý Thị Nhiễn là một nhân vật tiêu biểu của dân tộc Chơ Ro (Bà Rịa - Vũng Tàu),
người hết lòng vì sự nghiệp bảo tồn văn hóa truyền thống, đặc biệt là làn điệu dân ca, múa
hát và cồng chiêng, thông qua việc thành lập đội văn nghệ, dạy cho thế hệ trẻ tại trường dân
tộc nội trú, và tham gia biểu diễn các lễ hội văn hóa, góp phần lớn vào việc gìn giữ bản sắc văn hóa Chơ Ro.
Cuộc đời và sự nghiệp:
• Đam mê gìn giữ văn hóa: Bà nhận thấy giới trẻ ngày càng xa rời cồng chiêng và hát
dân ca, nên đã tự tập luyện và kêu gọi bạn bè cùng gây dựng nhóm văn nghệ.
• Hoạt động tại địa phương: Bà và nhóm văn nghệ thường xuyên biểu diễn phục vụ
cộng đồng tại địa phương, biểu diễn tại các sự kiện văn hóa cấp tỉnh và quốc gia.
• Gắn bó với giáo dục: Hàng ngày, nghệ nhân Lý Thị Nhiễn đến Trường THPT Dân
tộc nội trú tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu để dạy hát dân ca, đàn goongkla cho học sinh, giúp
thế hệ trẻ tiếp nối truyền thống. 6
• Đóng góp cho nghiên cứu: Bà cung cấp nhiều tư liệu quý giá cho các công trình
nghiên cứu văn hóa dân tộc Chơ Ro của tỉnh.
• Tiết mục nổi bật: Tiết mục "Lời ru" (dân ca Chơ Ro) do bà thể hiện đã gây ấn tượng
mạnh tại các chương trình nghệ thuật, được đánh giá cao.
• Gương mặt tiêu biểu: Bà là một biểu tượng trong việc bảo tồn và phát huy văn hóa
Chơ Ro, góp phần giữ cho những giai điệu đặc trưng của dân tộc không bị mai một.
Tầm quan trọng: Nghệ nhân Lý Thị Nhiễn thể hiện tinh thần trách nhiệm cao cả, mong
muốn thế hệ sau không bị "mất gốc", và những nỗ lực của bà là cần thiết để văn hóa Chơ Ro
được lưu truyền qua nhiều thế hệ.
Chỉ mong con cháu không quên bản sắc văn hóa dân tộc
Ấn tượng của chúng tôi khi tiếp xúc với bà Nhiễn là một người rất vui vẻ, thích trò chuyện
và còn rất khỏe mạnh dù năm nay đã gần 80 tuổi, thường ngày vẫn phụ chăm cháu, thu hoạch
tiêu giúp con cái và luyện tập đàn hát.
Bà kể bà biết hát hầu hết các điệu dân ca Châu Ro từ năm 17, 18 tuổi, và cũng đánh được một
số nhạc cụ như chiêng, goongkla (một loại đàn làm bằng tre của người Châu Ro). Người Châu
Ro cũng có nhiều lễ hội lớn trong năm, trong đó có lễ hội cúng thần lúa (Yangri) vào tháng 3
âm lịch, lễ hội cúng thần rừng (Yangva) vào tháng 11 âm lịch là hai lễ hội lớn nhất. Vào dịp
này, bà con già hay trẻ, dù đi làm ăn ở xa cũng tranh thủ về để tổ chức lễ hội. Ngoài phần lễ,
các tiết mục biểu diễn nghệ thuật múa hát dân ca, biểu diễn nhạc cụ sẽ được dịp trình diễn để
bà con và du khách cùng thưởng thức.
Khi thấy có nhiều người trẻ đã quên mất những lời dân ca, điệu múa, không nhớ cách đánh
cồng chiêng, cách đàn goongkla khiến bà Nhiễn rất buồn. Thế rồi bà “rủ rê” bạn bè trong xóm
về nhà bà để cùng nhau luyện tập văn nghệ, tập múa hát dân ca, tập đánh cồng chiêng để rồi
hình thành nên nhóm văn nghệ chuyên đi biểu diễn phục vụ tại địa phương. Bà Nhiễn tâm
niệm để gìn giữ và lan tỏa bản sắc văn của dân tộc đến mọi người thì trước hết phải dạy bảo
cho con cháu trong nhà học trước biết trước để làm gương, vì thế người còn trai của bà, anh
Nguyễn Ngọc Sáu, là người học trò đầu tiên của bà. Nhờ thế mà đến nay anh Sáu đã đánh
được công chiêng và chơi được đàn goongkla. Hiện nay anh cũng là thành viên của đội văn
nghệ Nhà văn hóa dân tộc Bàu Chinh, thường xuyên cùng mẹ đi biểu diễn khắp nơi.
Nói về mẹ của mình, anh Sáu cảm nhận: “Mẹ Nhiễn là người rất tâm huyết trong việc truyền
dạy và giữ gìn những gì thuộc về văn hóa của đồng bào. Ngày nay, có nhiều phương tiện và
thể loại văn hóa giải trí ảnh hưởng đến các bạn trẻ nhưng đừng đánh mất lời ca, điệu múa của
dân tộc là mong mỏi cả đời của mẹ tôi”.
Lan tỏa văn hóa nghệ thuật đồng bào Châu Ro 7
Ông Đinh Xuân Thành, Phó giám đốc Trung tâm Văn hóa Thông tin và Thể thao huyện Châu
Đức kiêm Chủ nhiệm Nhà văn hóa dân tộc Bàu Chinh, cho biết: "Những năm qua, việc chăm
lo đời sống đồng bào và công tác chính sách dân tộc của địa phương được thực hiện tích cực,
trong đó, với việc xây dựng mới Nhà văn hóa Dân tộc Bàu Chinh từ năm 2002 đã trở thành
nơi sinh hoạt, học tập và tổ chức các chương trình văn hóa cho đồng bào dân tộc trên địa bàn.
Cùng từ đó, các lớp dạy của bà Nhiễn được diễn ra tại đây, Nhà văn hóa đã phối hợp với
trường Trung học phổ thông Dân tộc nội trú tỉnh mở lớp truyền dạy nhạc cụ goongkla do bà
Lý Thị Nhiễn hướng dẫn, thu hút nhiều con em học sinh theo học.
4. NHẠC SĨ HUỲNH THIÊN TOÀN.
Nhạc sĩ Huỳnh Thiên Toàn sinh ngày 08/01/1965, tại thành phố biển Vũng Tàu. Từ khi còn
nhỏ, anh đã được cha mình (vốn là một nhạc sĩ) truyền dạy nhạc lý và kỹ thuật sử dụng nhạc cụ.
Năm 1975, khi mới 10 tuổi, Huỳnh Thiên Toàn đã có thể độc tấu đàn mandolin bài “Tiểu
đoàn 307” trong buổi mít tinh chào mừng ngày giải phóng miền Nam thống nhất đất nước tại
thị xã Vũng Tàu. Từ năm 1979 đến năm 1982, khi còn là học sinh trung học, anh đã tham gia
đội văn nghệ không chuyên thuộc Phòng VH-TT Vũng Tàu.
Năm 1983, anh gia nhập Đoàn Ca múa nhạc chuyên nghiệp Đặc khu Vũng Tàu-Côn Đảo, trở
thành nhạc công trẻ và nổi tiếng của Đoàn. Anh được nhiều người biết đến vì khả năng sử
dụng thành thạo nhiều loại nhạc cụ như: guitar, mandolin, organ, piano, ukulele, trống Jazz...
Năm 1985, sau khi cùng Đoàn Ca múa nhạc Đặc khu Vũng Tàu-Côn Đảo tham dự Hội diễn
ca múa nhạc chuyên nghiệp toàn quốc tại TP. Hải Phòng, nhờ khả năng chơi guitar lead xuất
sắc, anh được mời về chơi guitar lead cho Ban nhạc Đài Truyền hình TP. Hồ Chí Minh. Thời
điểm đó, anh được giới nhạc sĩ xếp vào nhóm 10 cây guitar lead hàng đầu Việt Nam.
Năm 1988 anh về công tác tại Đoàn Ca múa nhạc Đặc khu Vũng Tàu - Côn Đảo và là Phó
Trưởng Đoàn đến năm 1991. Cùng thời điểm này, anh bắt đầu sáng tác ca khúc và được kết
nạp Hội Văn học Nghệ thuật Đặc khu Vũng Tàu-Côn Đảo năm 1989, rồi trở thành hội viên Hội Nhạc sĩ Việt Nam.
Trong suốt quá trình hoạt động âm nhạc, nhạc sĩ Thiên Toàn đã sáng tác hơn 100 ca khúc.
Trong đó, nhiều ca khúc được công chúng yêu thích như “Nỗi nhớ chiều xuân”, “Thế giới
năm 2000”, “Bà Rịa - Vũng Tàu trong trái tim ta”, “Lời tự tình dâng mẹ”… Đặc biệt, ca khúc
“Thế giới năm 2000”, của anh đã được Bộ VH-TT tặng Bằng khen, được công nhận là 1 trong
10 ca khúc hay nhất chào Thiên niên kỷ mới.
Sinh ra và lớn lên tại Vũng Tàu nên nhạc sĩ Thiên Toàn đã dành nhiều tình cảm cho quê
hương. Hầu hết các bài hát của anh đều có tiếng sóng, tiếng gió của biển Vũng Tàu như: “Bà
Rịa-Vũng Tàu trong trái tim ta”, “Vũng Tàu mùa Xuân về”, “Tự hào thanh niên Bà Rịa-Vũng 8
Tàu”, “Sẽ mãi không quên Bà Rịa-Vũng Tàu”… Ca khúc của anh có ca từ tha thiết và giai
điệu vui tươi, rộn ràng nên được người dân Bà Rịa-Vũng Tàu và công chúng khắp nơi yêu thích.
Ngoài biểu diễn, sáng tác ca khúc, nhạc sĩ Thiên Toàn cũng rất chú trọng tới việc đào tạo,
xây dựng và vun đắp niềm đam mê âm nhạc cho thế hệ trẻ. Ngay từ năm 1992, anh đã mở
lớp dạy nhạc cho giới trẻ. Thời kỳ trước khi dịch COVID-19 tái bùng phát năm 2021, anh
vẫn cùng 2 con điều hành trung tâm nhạc Thiên Lý cơ sở 1 (cũng là nhà riêng) tại địa chỉ số
104 Lý Thường Kiệt, phường 1, TP. Vũng Tàu và cơ sở 2 tại 72 Lê Lai, phường 3, TP. Vũng
Tàu. 2 cơ sở này đã từng đào tạo hàng trăm học viên, trong đó nhiều học viên đã trở thành
những ca sĩ, nhạc công chuyên nghiệp.
Với tài năng và những đóng góp cho phong trào văn hóa nghệ thuật, năm 2013 anh được các
hội viên hội VHNT tỉnh Bà Rịa-Vũng Tàu tín nhiệm bầu vào Ban Chấp hành Hội VHNT tỉnh
Bà Rịa-Vũng Tàu, là Trưởng Ban Âm nhạc, Phó Chi hội Nhạc sĩ Việt Nam tỉnh BR-VT nhiệm kỳ 2013-2018.
Vài năm trở lại đây, do sức khỏe yếu, anh không thường xuyên tham gia vào các chương trình
biểu diễn âm nhạc nhưng vẫn duy trì hoạt động sáng tác. Anh phổ nhạc cho thơ của nhiều tác
giả tại Bà Rịa-Vũng Tàu. Nhiều nhạc phẩm được phổ từ thơ như: Chờ, Trăng xưa, Nỗi niềm,
Sau cánh bằng lăng, Ngôi nhà, Điều ước… của các tác giả Hữu Du, Vũ Thanh Hoa, Châu
Hoài Thanh, Lê Nhật Ánh, Bùi Đế Yên, Tuyết Nhung, Đào Xuân Mai, Lê Hồng Đức… đã
góp phần chắp cánh cho những vần thơ đến gần hơn với công chúng. 9