











Preview text:
lOMoAR cPSD| 61463864
Câu 1: Đặc trưng và chức năng của văn hóa -Khái niệm văn hóa.
Khi nghiên cứu và tìm hiểu về văn hóa, các nhà nghiên cứu đưa ra các quan điểm về
đặc trưng và chức năng của văn hóa… Trong phạm vi bài viết này, tôi tập trung vào
quan điểm của tác giả Trần Ngọc Thêm tập trung vào 4 cặp đặc trưng và chức năng của văn hóa.
Câu 2: Trình bày phân tích 1 đặc trưng chức năng của văn hóa -Khái niệm văn hóa
-Giới thiệu các đặc trưng chức năng
Trong phạm vi bài viết, em sẽ tập trung 1 đặc trưng, chức năng…
Câu 3: Giao lưu và tiếp biến văn hóa (Trần Quốc Vượng tr 50-65)
*Trình bày những hiểu biết của mình về giao lưu và tiếp biến văn hóa - Văn hóa là gì?
- Giao lưu văn hóa là gì?
Giao lưu và tiếp xúc văn hóa là sự vận động thường xuyên của xã hội gắn bó với
tiến hóa xã hội nhưng cũng gần bò với sự phát triển của văn hóa là sự vận động
thường xuyên của văn hóa ( Trần Quốc Vượng )
Giao lưu văn hóa vừa là kết quả của trao đổi vừa là chính bản thân của sự trao đổi.
Nói cách khác giao lưu và tiếp biến văn hóa là sự tiếp nhận văn hóa nước ngoài bởi
dân tộc chủ thể quá trình này luôn đặt mỗi tộc người phải xử lý tốt mối quan hệ biện
chứng giữa yếu tố nội sinh và yếu tố ngoại sinh.
Giao lưu và tiếp biến văn hóa là 2 biểu hiện của cơ chế vận hành văn hóa. GLVH là
sự trao đổi thành tựu giữa các nền văn hóa. Có 2 hình thức cơ bản của GLVH là
GLVH tự nhiên và GLVH cưỡng bức.
GLVH tự nhiên : xuất phát từ nhu cầu tự thân của các nền văn hóa.
TBVH cưỡng bức: thông thường cuộc giao lưu văn hóa sẽ đến cùng cuộc chiến tranh
xâm lược lãnh thổ. Ví dụ: giao lưu văn hóa Việt Nam và Trung Hoa. Khi người Hán
sang xâm chiếm lãnh thổ, đấy là bắt đầu của cuộc GLVH và TBVH nhưng ở dạng cưỡng bức.
- TBVH là tiếp thu và cải biến các yếu tố văn hóa có nguồn gốc từ bên ngoài. lOMoAR cPSD| 61463864
Sự biến đổi ấy là dể yếu tố văn hóa mới phù hợp với những cái hệ thống văn hóa đã có từ trước
Ví dụ: cách mà người Việt tiếp thu và thay đổi Nho giáo, Phật giáo, chữ Hán để sáng
tạo ra chữ Nôm. Đây là kết quả của quá trình TBVH. Trong cái lý luận về GLVH và
TBVH, người ta đánh giá rất cao những cộng đồng văn hóa có khả năng tiếp biến.
Bởi anh chỉ có thể tiếp biến được khi làm chủ được những thành tố bên ngoài. Khi
GLVH và TBVH, sẽ có những thực hành không phù hợp với nền văn hóa tự thân thì
cta sẽ thay đổi những yếu tố bên ngoài đó để nó trở nên phù hợp thích hợp với nền văn hóa của chúng ta.
Cách biến thực hành văn hóa được bản địa hóa thông qua quá trình tiếp biến thì
người Việt làm rất giỏi điều này. Yếu tố văn hóa đến từ bên ngoài không bao giờ bị
từ chối luôn luôn được tiếp nhận trên tinh thần dung hợp văn hóa. Nhưng dung hợp
theo cách nào? Chúng ta không bao giờ dung hợp theo cách cực đoan, bê nguyên xi
những yếu tố văn hóa từ bên ngoài vào thực hành trong nền văn hóa Việt mà những
yếu tố văn hóa từ bên ngoài phải có sự thay đổi cho phù hợp với văn hóa truyền
thống. Từ đây, ta thấy có rất nhiều sự tích hợp trong các thực hành văn hóa. Ví dụ
như tín ngưỡng thờ Tứ pháp: Pháp Vân (chủ quản mây),Pháp Vũ (chủ quản mưa)
Pháp Lôi (chủ quản sấm) Pháp Điện (chủ quản chớp) – 1 ví dụ điển hình cho GLVH
và TBVH. Thực hành văn hóa đến từ bên ngoài là Phật giáo khi mà du nhập vào Việt
Nam, được kết hợp với tín ngưỡng sùng bái tự nhiên đã ra một sản phẩm văn hóa
mới là tín ngưỡng thờ Tứ pháp. Chúng ta không phải chỉ tiếp nhận riêng Đức Phật
Thích Ca Mâu Ni mà chúng ta còn sáng tạo ra những vị phật khác (các vị phật mây, phậ mưa, sấm, chớp…)
Câu 4: Loại hình văn hóa ( Trần Ngọc Thêm tr 20)
Quan điểm về loại hình văn hóa được tác giả Trần Ngọc Thêm đưa vào trong cuốn
“ Cơ sở văn hóa Việt Nam”. Theo quan điểm này thì loại hình văn hóa là… Văn
hóa gốc nông nghiệp và văn hóa gốc du mục.
*Phân biệt loại hình văn hóa Việt Nam và văn hóa Trung Quốc.
- loại hình văn hóa là gì?
- nhu cầu từ việc phân loại loại hình văn hóa là gì?
Để giải thích những nét tương đồng hoặc khác biệt về các nền năn hóa. Tại sao
có những vùng cách xa nhau về mặt đia lý nhưng lại có những thực hành văn hóa
giống nhau, trong khi có những nước gần kề nhau lại có những thực hành văn hóa khác nhau đến thế. lOMoAR cPSD| 61463864
Tôi thấy con người trên khắp thế giới đều bận tâm về vấn đề ăn mặc ở, tôi thấy con
người trên khắp thế giới đều đưa ra một thứ thiết chế liên quan của đời sống cá nhân
với đời sống cộng đồng. con người trên khắp thế giới đều có những thành tựu về
ngôn ngữ, chữ viết, thiết chế xã hội, phong tục tập quán, tín ngưỡng văn hóa,… tại
sao lại như vậy? Người ta có thể không gặp nhau, không chia sẻ với nhau vậy tại sao
con người phương Đông và phương Tây lại giống nhau đến thế về các mỗi bận tâm
của họ cũng như cách họ tổ chức đời sống. Vậy người ta bắt đầu đưa ra các lý thuyết
văn hóa để giải thích về điều đó. Tại sao con người ở khắp mọi nơi lại bận tâm rằng
khi có ai đó chết thì họ phải xử lí cái chết đó như thế nào? Nó có những vấn đề liên
quan tới tâm thức chung, các lý thuyết văn hóa đều được đưa ra để giải thích sự
tương đồng và khác biệt văn hóa này. Nếu như chúng ta cùng bận tâm tới cái chết
thì tại sao ở nơi này lại có những thực hành văn hóa như này nhưng ở nới khác lại
thế kia…Chúng ta lý giải điều này dựa trên cái gì? Vậy việc phân chia loại hình văn
hóa là để giải thích những nét tương đồng hoặc khác biệt về các nền năn hóa.
Các loại hình văn hóa được phân chia theo những yếu tố về điều kiện tự nhiên, khí
hậu. Nếu con người sống trong các điều kiện tự nhiên giống nhau thì rất có thể sẽ
giống nhau. Nếu có sự tương đồng về hoạt động sinh kế thì ắt sẽ có những sự tương
đồng ( theo quan điểm của tác giả....) và ngược lại.
Chú ý: phải ghi rõ việc phân chia loại hình văn hóa theo gốc nông nghiệp và gốc du
mục là của tác giả Trần Ngọc Thêm trong cuốn “Cơ sở văn hóa Việt Nam”
Và việc phân biệt loại hình văn hóa Việt Nam và Trung Quốc được mặc định là VN
thuộc về loại hình nông nghiệp trồng trọt còn TQ là loại hình du mục và chăn nuôi.
Tranh luận: quan điểm này của Trần Ngọc Thêm đã gây rất nhiều tranh cãi. Một số
các nhà nghiên cứu thì rất đồng thuận với quan điểm loại hình văn hóa của tác giả
và thấy phù hợp với các đặc trưng, thuộc tính của văn hóa Việt Nam. Nhưng cũng
có nhiều ý kiến phản biện cho rằng loại hình này là cách đơn giản hóa, thu biệt hóa
và mô hình hóa các thuộc tính văn hóa. Quan niệm phân chia loại hình văn hóa này
với đặc trưng cụ thể của từng loại hình văn hóa dẫn đến một sự mặc định cũng như
định kiến mang tính chung chung và phổ quát về 1 nền văn hóa cụ thể.
Ví dụ: khi tôi xác định văn hóa VN là loại hình văn hóa trồng trọt thì có nghĩa là chủ
quan, trọng kinh nghiệm trọng người tài, trọng phụ nữ ( nếu xét theo quan điểm của
tác giả TNT). Nhưng bấy nhiêu thôi đã đủ để nói về văn hóa VN chưa? Nó sẽ khiến
cta có cái nhìn rất đơn giản hời hợt về văn hóa. Dễ dẫn đến những cái nhìn đơn giản,
mang tính bề mặt về các đặc trưng văn hóa của một cộng đồng người. Khi tôi tìm
hiểu về văn hóa Việt Nam, tôi thấy không hoàn toàn là trọng phụ nữ mà rất coi trọng
nam giới. Và cái sự bất bình đẳng về giới ở VN rất nhiều. Quan điểm của TNT đã lOMoAR cPSD| 61463864
gạt bỏ đi sự thực ấy, khác với thực tiễn. Chúng ta phải để thực tế dẫn lối chúng ta
chứ không phải dung 1 quan điểm của ai đó để áp đặt ngược lại. Ví dụ như khi ta
đến 1 lễ hội thì trong đầu nghĩ tới tác giả Ngô Đức Thịnh vào năm 2000, ông mô tả
cái lễ hội này gồm các bước như này…Nhưng khi đến xem thấy lễ hội ấy khác thì
lại cho rằng dân nơi đây thiếu hiểu biết về văn hóa. Thực tế có rất nhiều nhà nghiên
cứu đã mắc phải sai lầm này. Nhưng chúng ta tuyệt đối không nên như thế. Hãy để
thực tế dẫn lỗi chúng ta đi.Lễ hội mà ông Ngô Đức Thịnh viết ấy là của năm 2000,
bây giờ là 2022 thì đương nhiên lễ hội ấy nó phải khác. Sự thay đổi ấy chính là điểm
thú vị của văn hóa. Điều này khiến cta không thể ngồi một chỗ đọc sách được mà
phải ra ngoài. Chúng ta nên chuẩn bị một tâm thế thật là cởi mở về văn hóa. Cái
quan điểm về loại hình văn hóa của TNT trong thời gian dài đã có một sự ảnh hưởng
khủng khiếp. Văn hóa nông nghiệp là thế, văn hóa du mục là thế. Việt Nam là văn
hóa nông nghiệp là toàn bộ đặc trưng về loại hình ấy. Những đặc trưng ấy gắn chặt
với văn hóa Việt Nam là trọng tĩnh, trọng âm. Thực ra những cái đó chỉ là một khía
cạnh thôi, văn hóa VN cũng trọng động, trọng dương nhiều. Việc phân chia loại hình
văn hóa này giống như việc xếp các văn hóa vào những chiếc hộp, nó loại trừ ra hết
những sự đa dạng và thú vị của văn hóa. Đâu phải văn hóa Việt Nam là thuần gốc nông nghiệp …
Đây sẽ chỉ là một kênh thông tin để tham chiếu khi cta tìm hiểu về văn hóa Việt
Nam. Nhưng văn hóa Việt Nam đa dạng, đa chiều, phong phú và thú vị hơn như
thế rất rất nhiều.
Câu 5: Tiến trình văn hóa
*GĐ 1: Thời kì văn hóa Đại Việt ( TQV)
Hãy phân tích thành tựu nổi bật của nền văn minh Đại Việt.
-Giới thiệu tiến trình chung của văn hóa Việt Nam.
Văn hóa Việt Nam là 1 nền văn hóa có chặng đường dài lịch sử. Bắt đầu từ thười kì
tiền sử và sơ sử sau đó đến giai đoạn phát triển đỉnh cao là nền văn minh Đông Sơn
rồi sang đến thời kì văn hóa Đại Việt, nền văn minh phương Tây và cho đến nay.
-Giới thiệu thời kì văn hóa Đại Việt
Đây được xem là thời kì phục hưng và phát triển văn hóa. Sau 1000 năm Bắc thuộc,
vào năm 938 với chiến thắng của Ngô Quyền trên sông Bạch Đằng đã mở ra 1 kỉ
nguyên mới, 1 kỉ nguyên phục hưng và phát triển văn hóa của người Việt. Để lại dấu
ấn về thành tựu văn hóa trong giai đoạn Đại Việt được tính từ năm 938 đến lOMoAR cPSD| 61463864
1858.Trong thời kì văn hóa Đại Việt, người Việt đã sáng tạo để hình thành rất nhiều
thành tựu trên mọi phương diện: ngôn ngữ, chữ viết, tư tưởng, kiến trúc, nghệ thuật... -Ngôn ngữ -Hệ tư tưởng
* GĐ 2: sự ảnh hưởng của văn hóa phương Tây vào văn hóa Việt Nam.
- từ đầu TK XVI – giữa TK XIX
Văn hóa phương Tây xâm nhập vào Việt Nam thông qua con đường: thương mại và
truyền giáo. Và nó để lại dấu ấn là Kitô giáo và chữ Quốc ngữ.
– từ giữa XIX – giữa XX
Văn hóa Việt Nam chịu sự tác động trực tiếp của văn hóa Pháp và nền văn minh pTây.
Trước đây, chúng ta vẫn đánh giá người Pháp đến Việt Nam thuần là một cuộc xâm
lược, một cuộc khai thác thuộc địa. Tức là người Việt chỉ mất, và không được gì
trong cái quá trình này. Nhưng đến bây giờ, khoảng 10 năm trở lại đây, người ta đã
có cái nhìn khác về vai trò của người Pháp với Việt Nam. Người Pháp không chỉ lấy
của người Việt bởi việc chúng ta có diện mạo văn hóa như ngày nay có công sức của
người Pháp. Toàn bộ hệ thống giao thông, đô thị , ngôn ngữ chữ viết, hệ tư tưởng,
văn học nghệ thuật thì người Pháp đóng góp cho chúng ta không hề ít.
Ví dụ như chữ Quốc ngữ thì có vai trò rất lớn của người Pháp. Thời kì đầu thế kỉ 20
như Tản Đà nói là thời kì “mưa Âu, gió Mỹ”, nó đã buộc người Việt lúc đó dù đang
trong phạm vi của Nho giáo vẫn phải bước chân ra khỏi cái ao làng của mình để tiếp
xúc với những nền văn minh lớn. Và cuộc tiếp xúc ấy có đau thương nhưng nó đã
mang lại cho chúng ta quá nhiều ý nghĩa. Văn hóa VN có diện mạo như ngày hôm
nay thì có một vai trò quan trọng của sự giao lưu và tiếp xúc một cách cưỡng bức
với người Pháp. Cho nên gần đây, trong giới nghiên cứu, họ không sử dụng thời kì
văn hóa Pháp xâm lược hay thời kì Pháp thuộc mà người ta sẽ dùng là cuộc giao lưu
và tiếp xúc giữa văn hóa Việt Nam và văn hóa pTây.
Sự tiếp xúc ấy để lại dấu ấn với sự phát triển về đô thị, giao thông, văn học nghệ thuật... hệ tư tưởng.
– GĐ 3: giữa XX đến nay
Gắn với bối cảnh cuộc chiến tranh của người Việt và người Mỹ và cả sự giao lưu với
Liên Xô và các nước thuộc khối xã hội chủ nghĩa.Từ sau đổi mới năm 1986, văn hóa lOMoAR cPSD| 61463864
VN giao lưu với nền văn hóa của các nước khác trên toàn khu vực và toàn cầu. Và
cuộc giao lưu mạnh mẽ ấy đã để lại dấu ấn và sự phát triển về cả lĩnh vực văn hóa
vật chất lẫn tinh thần.
Kết luận: sự tác động và giao lưu với văn hóa pTây làm biến đổi một cách sâu sắc
đời sống văn hóa của người Việt trên mọi phương diện. Và biến đổi cấu trúc văn hóa
Việt Nam từ văn hóa truyền thống sang văn hóa hiện đại. Từ đây nền văn hóa VN
từng bước hội nhập với sự phát triển của thế giới.
Câu 6: Thành tố của văn hóa
*Văn hóa làng xã Việt Nam (TNT, chương 3, trang 96)
Hãy trình bày những đặc trưng của văn hóa làng của VN. Phân tích những tác động
tích cực, tiêu cực của văn hóa làng với VN trong bối cảnh hội nhập. - Giới thiệu làng
- Trong văn hóa VN thì văn hóa làng có vai trò như thế nào?
Vai trò quan trọng trong việc định hình văn hóa VN.
Văn hóa làng gắn liền với loại hình văn hóa nông nghiệp lúa nước, được xem là hoạt
động sinh kế đầu tiên và là sự lựa chọn tối ưu của người Việt.
Và trong nghiên cứu về văn hóa làng, tác giả TNT trong cuốn ... có đưa ra 2 thuộc
tính của làng là tính cộng đồng và tính tự trị.
- Đặc trưng về tính cộng đồng:
Cả làng sống trong một không gian văn hóa chung, cùng chia sẻ hoạt động chung về
mặt sinh kế, cùng chung về mặt số phận... chung về hoạt động tôn giáo thờ thành
Hoàng làng. Bởi vị thần thành hoàng làng không phù trợ cho riêng ai cả mà phù trợ
cho cả cái làng ấy, nó thể hiện qua lễ hội được tổ chức bởi làng đó. Và các ngôi làng
ở VN đều có một không gia thờ cúng chung, hoạt động tôn giáo tín ngưỡng chung.
Thiết chế của làng xã: được thiết lập như một bộ máy nhà nước thu nhỏ bởi thế mới
có câu chuyện “phép vua phải thua lệ làng”.
tác động tích cực và tiêu cực
-Đặc trưng về tính tự trị: Thiết chế của làng xã: được thiết lập như một bộ máy nhà
nước thu nhỏ bởi thế mới có câu chuyện “phép vua phải thua lệ làng”.
Tác giả TNT có nói rằng hình ảnh lũy tre chính là biểu tượng cho tính tự trị. Trước
đây, ở mỗi ngôi làng sẽ có lũy tre bao bọc xung quanh. Một lũy tre rất là chắc chắn, lOMoAR cPSD| 61463864
đào thì không qua, đốt không cháy. Người dân trong làng ấy sống theo tinh thần
cộng đồng nhưng trong quan hệ bên ngoài nó thể hiện rất rõ tính tự trị “Trống làng
nào làng đấy đánh, thánh làng nào làng ấy thờ”. Tác động tích cực và tiêu cực
tác động của văn hóa làng
Phản đề: TNT đã định sẵn thế này là cộng đồng thế kia là tự trị. Nhưng về mặt văn
hóa thì nó không đơn giản như thế. Văn hóa không thể được định sẵn để mà xếp
chúng vào những cái bảng đóng khung ấy được. Quan niệm của TNT đọc sẽ thấy rất
hay, rất logic nhưng đây là cái bẫy về mặt tư duy khi nghiên cứu về văn hóa. Quan
điểm về tính cộng đồng và tự trị không sai nhưng đấy là một cách tiếp cận sai về
văn hóa. Bởi văn hóa làng của người Việt không chỉ cod tính cộng đồng và tự trị mà
còn có rất nhiều thứ khác nằm giữa chúng.
Câu 7: Nguồn gốc, ý nghĩa của tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên ở Việt Nam.
* Nội dung của tục thờ cúng tổ tiên:quan niệm về sự tồn tại của linh hồn và mối liên
hệ giữa người đang sống và người đã khuất (chung huyết thống) bằng con đường:
hồn về chứng kiến, theo dõi hành vi của con cháu, quở trách hoặc phù hộ cuộc sống
của họ. Trong tín ngưỡng này, đạo lý là nội dung nổi bật. *Nguồn gốc
- Về mặt tâm linh: tin rằng có sự tồn tại của linh hồn sau khi chết. Tổ tiên không
hoàn toàn mất đi mà vẫn hiện diện, vẫn có thể đi về giữa hai thế giới, vẫn có thể phù trợ… - Về kinh tế xã hội:
+ nền kinh tế tiểu nông tự cung tự cấp. Hình ảnh “chồng cày vợ cấy, con trâu đi bừa”
đại diện tiêu biểu cho nền kinh tế này. Đây là điều quan trọng gắn bó các thành viên
của thế hệ này và giữa các thế hệ khác
Mảnh đất thuận lợi cho việc củng cố và phát triển ý thức thân tộc cũng như tín
ngưỡng thờ cúng tổ tiên.
- Hình thức tổ chức xã hội: thời kì phụ hệ. Để nhằm gia cố chế độ phụ hệ và vai
tròcủa người đàn ông trong gia đình thì tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên được quy chuẩn
hóa để gia cố chế độ phụ hệ. Người đàn ông đó không chỉ làm chủ gia đình trong
1 đời mà còn làm chủ gia đình ấy về mặt tâm linh trong nhiều đời. Điều này tác
động đến việc phải có con trai để nối dõi tông đường, mục đích để thực hiện việc
thờ cúng tổ tiên này (theo dòng phụ hệ) lOMoAR cPSD| 61463864
- Về mặt tâm lý và tình cảm: có sự sợ hãi nếu bị trừng phạt. Bởi tổ tiên dù sao cũnglà
người đã khuất, là những linh hồn, có thể phù trợ và cũng có thể trừng phạt. Xuất
phát từ những sự sợ hãi ấy dẫn tới những thực hành thờ cúng tổ tiên với mục đích
làm hài lòng cho những linh hồn đó. Và khi tổ tiên được hài lòng thì đương nhiên
sẽ không có những tác động tiêu cực đến đời sống con người. Biết ơn, tưởng nhớ
tổ tiên, người đã nuôi nấng dạy dỗ mình…
Tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên ở Việt Nam được thể chế hóa, hệ thống hóa, hoàn chỉnh
bởi những tôn giáo và tín ngưỡng được du nhập từ bên ngoài như Nho giáo, Đạo
giáo, Phật giáo. Nho giáo có vai trò quan trọng trong việc gia cố hệ thống thờ cúng
tổ tiên của chúng ta. Nho giáo cung cấp một hệ thống tôn ti trật, hệ thống dòng tộc
theo quan niệm của Trung Hoa. Việc thờ cúng với vai trò của nam giới là chủ lễ cũng
là từ Nho giáo cung cấp. * Ý nghĩa
–đáp ứng nhu cầu về mặt tâm linh tâm lý, tâm linh và tình cảm. Việc tôi tin vào có
sự hiện diện của các linh hồn sẽ giúp cho tôi có sự gia cố về niềm tin, giúp con người
cảm thấy an nhiên hơn khi thờ cúng, người ta sẽ không quá bất an và sợ hãi khi tin
vào sự hiện diện của linh hồn có thể phù trợ hoặc trùng phạt.
-Tạo dựng những giá trị truyền thống của người Việt : với các cấp độ trong phạm vi
gia đình dòng họ, làng xã, quốc gia. Với phạm vi quốc gia là việc thờ cúng Hùng
Vương đây là cấp độ cao nhất của việc thờ cúng tổ tiên .
Như vậy tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên sẽ giúp tạo dựng những giá trị truyền thống của
người Việt gia tăng ý thức về một cộng đồng chung trong một quốc gia đa dân tộc.
Lạc Long Quân và Âu Cơ sinh ra một bọc trăm trứng gia cố cho người Việt hiện đại
niềm tin rằng chúng ta có một nguồn gốc chung, tổ tiên chung và khi chúng ta có
một nguồn gốc chung như thế thì chúng ta phải đoàn kết vì chúng ta là anh em.
-Tạo dựng và gia cố lòng yêu nước và đạo lý uống nước nhớ nguồn. Đây là ý nghĩa
vô cùng quan trọng đối với người Việt trong bối cảnh giao lưu tiếp xúc với nhiều
nền văn hóa khác nhau. Ta có một chỗ dựa về mặt tâm linh, có nguồn gốc cụ thể, có
câu chuyện về sự ra đời của người Việt một cách cụ thể, có một tín ngưỡng cụ thể
để hàng năm cứ đến ngày mùng 10 tháng 3 âm lịch ta đến đền Hùng để thờ cúng
giúp cho người Việt thấy vững vàng hơn trong bối cảnh giao lưu, hội nhập, toàn cầu hóa.
-Cố kết cộng đồng: Ở cả 3 cấp độ gia đình dòng họ, làng xã xã và quốc gia. Sự cố
kết về tinh thần đoàn kết này là vô cùng quan trọng đối với người Việt đây là một
nhiệm vụ chính trị của người Việt trong mọi thời đại Chính vì vậy rằng việc thờ
cúng tổ tiên nó đã tham gia các nhiệm vụ của người Việt ở cả ba cấp độ này. - Tạo lOMoAR cPSD| 61463864
dựng bản sắc dân tộc: giúp hạn chế xu hướng đồng hóa về mặt văn hóa. -Giúp cho
người Việt có một cái tâm vững vàng trong bối cảnh mà mọi người có xu hướng đi
tìm về bản sắc nào đó. Tìm câu trả lời cho câu hỏi: tôi là ai, sự tồn tại của tôi là gì?.
tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên giúp cho ta tìm được cái “căn cước” văn hóa và có tâm
thế an yên hơn trong bối cảnh xã hội nhiều đổi thay.
câu 7: phong tục tập quán *Chức
năng của phong tục tập quán
-Phong tục tập quán là gì
+ là những thói quen sinh hoạt trong cuộc sống được cộng đồng thừa nhận và truyền
lại từ đời này sang đời khác.Như các thực hành văn hóa khác đặc trưng nhất của văn
hóa là thay đổi và phong tục tập quán cũng thế. Mặc dù nó là những cái chuẩn mực
những giá trị được cộng đồng thừa nhận nhưng cái chuẩn mực ấy luôn luôn được
thay đổi có thể được nới ra hoặc được thu hẹp tùy thuộc vào các bối cảnh cụ thể.
+Là những khuôn mẫu về hành vi được xã hội hóa và chuẩn mực hóa giúp con người
đối diện và giải quyết các vấn đề cách nhu cầu các biến cố trong đời sống cá nhân
và xã hội.Trước cái chết của một người khác trong gia đình và trong cộng đồng
chúng ta ngoài việc đối diện với sự tiếc thương, chúng ta cần phải đối diện với sự
thật là chúng ta giải quyết việc đó như thế nào thì cái phong tục tập quán với tất cả
một bộ quy chuẩn về việc không niệm hay là tổ chức tang lễ, làm lễ viếng sau đó
chôn cất…Tất cả những điều đó giúp chúng ta không bị hoang mang khi chúng ta
giải quyết vấn đề trong đời sống. Mỗi một cộng đồng văn hóa sẽ cung cấp một bộ
tập quán ấy để giúp con người không cảm thấy bối rối trước những vấn đề những
biến cố mà họ phải đối diện.
-Phong tục tập quán cung cấp các quy chuẩn xã hội về những hành vi mà con người
được phép làm và những hành vi con người không được phép làm. Ví dụ trong tục
lệ hôn nhân của người Việt thì đưa ra một bộ quy tắc về việc hai người muốn kết
hôn thì phải trải qua những nghi thức như thế nào từ dạm ngõ đến ăn hỏi rồi xin dâu,
lại mặt thì con người được phép làm như thế và không được phép bắt cô gái về nhà
chồng khi mà bỏ qua tất cả các nguyên tắc đó.
-Phong tục tập quán là một thứ khế ước xã hội nhằm đảm bảo sự hợp tác giữa người
và người. Những phong tục tập quán này, những khế ước xã hội này được gia cố,
lưu truyền từ thế hệ này sang thế hệ khác thông qua một cái hình thức là dư luận xã
hội. Dư luận này luôn luôn muốn kéo tất cả mọi người trong cái làng lấy phải đi
đúng một cái lề phải đã quy ước được đưa ra từ trước và nếu như làm sai sẽ bị trừng
phạt theo quy ước của cái làng đó câu 8: Phật giáo và văn hóa ở Việt Nam ( trang
239 TNT) -Giới thiệu Phật giáo là gì Phật giáo đến từ đâu.
Hạt nhân tư tưởng là Tứ Diệu Đế, lý thuyết về Duyên khởi luân hồi nghiệp báo -giới
thiệu sơ lược về quá trình truyền bá và tiếp nhận đạo Phật. lOMoAR cPSD| 61463864
Đạo Phật đến với Việt Nam qua hai con đường trực tiếp và gián tiếp.
+Trực tiếp: Phật giáo du nhập từ Ấn Độ vào vùng đất của người Việt cổ từ thiên
niên kỷ thứ 1 sau Công Nguyên, hình thành nên một trung tâm phật giáo nổi tiếng
là trung tâm Luy Lâu +Gián tiếp qua Trung Hoa.
Như vậy Phật giáo được du nhập vào nước ta từ rất sớm và dễ dàng sớm hòa nhập
vào văn hóa bản địa Hình thành nên một diện mạo của phật giáo rất riêng chỉ có ở
Việt Nam. Ví dụ tín ngưỡng thờ Tứ pháp, sự kết hợp giữa đạo Phật và đạo Mẫu hình
thành nên một lối kiến trúc phổ biến ở các ngôi chùa miền Bắc Việt Nam là tiền Phật
hậu Mẫu, Phật giáo được tích hợp với tín ngưỡng thờ Thần ở Việt Nam. -Đối với
Việt Nam thì Phật giáo là cơ sở của khối đại đoàn kết dân tộc, luôn gắn bó với quá
trình đấu tranh dựng nước và giữ nước của người Việt.
-Phật giáo Việt Nam thể hiện rõ tinh thần nhập thế. Các nhà sư tham gia vào chính
trị tham gia vào đời sống thế tục góp phần vàonhiệm vụ phát triển chung của đất
nước trong nhiều thời kỳ lịch sử .
-Đối với cá nhân của nhiều người Việt thì hệ tư tưởng Phật giáo góp phần nuôi
dưỡng củng cố và phát triển tinh thần dung hợp chủ nghĩa nhân đạo, hướng thiện,
tinh thần vị tha cái mà dân da hay gọi là một điều nhịn chín điều lành Câu 9: Bản
sắc văn hóa là yếu tố văn hóa bản địa trường tồn trong lịch sử.
Em hãy bình luận về câu nói đó.
Trào lưu toàn cầu hóa trong thế giới sôi động chúng ta đang sống hôm nay từ khái
niệm “công dân toàn cầu” đến những băn khoăn về bản sắc văn hóa. Sự phát triển
như vũ bão của công nghệ thông tin và phương tiện giao thông vận tải giúp cho các
dòng chảy của con người, văn hóa và hàng hóa trở nên dễ dàng và nhanh chóng,
giúp kết nối những miền đất vốn xa lạ trở nên gần gũi, làm cho thế giới vốn mênh
mông trở thành nhỏ bé vốn mơ hồ trở thành hiện thực, vốn xa lại trở nên thân thiết.
Khi Việt Nam mở cửa hội nhập với thế giới đã từng có những lo ngại về tình trạng
văn hóa ngoại lai xâm thực làm mất bản sắc và bị hòa tan và một thế giới phẳng!
Vậy giờ đây sau hơn ba thập kỷ mở cửa và hội nhập chúng ta đã hiểu được gì về
toàn cầu hóa về bản sắc văn hóa trước xu thế hội nhập không thể cưỡng lại trong thế giới hiện đại?
-Bản sắc văn hóa là gì?
Bản sắc là sự khác biệt được tạo nên bởi các yếu tố hữu hình và vô hình của văn hóa
và người ta thường chỉ nhận ra sự khác biệt ấy thông qua tương tác với các văn hóa
khác để từ đó cảm nhận được mình thuộc về một cộng đồng tộc người dân tộc tôn
giáo hay giai tầng xã hội nào đó.
Đã có nhiều nghiên cứu về bản sắc văn hóa, và được thảo luận sôi nổi cả trên bình
diện lý thuyết và thực tế trong nhiều thập kỷ qua. Trường phái Bản thể luận cho rằng lOMoAR cPSD| 61463864
tộc người là một cộng đồng văn hóa có bản sắc riêng, cùng chia sẻ những đặc điểm
chung như tên gọi, ngôn ngữ, lãnh thổ, những đặc điểm về tinh thần, lối sống cũng
như một số hình thái đặc biệt về tổ chức lãnh thổ-xã hội hay một định hướng để tạo
nên những nét đặc trưng. Trái ngược với bản thể luận, các nhà nghiên cứu theo thuyết
Tình thế luận lại cho rằng dù các thành tố tạo nên bản sắc văn hóa được hình thành
từ một cộng đồng có chung tổ tiên đi chăng nữa thì nó vẫn có tính chất tình thế và
điều này thường xảy ra trong đời sống hằng ngày. Vấn đề không phải là những chỉ
dấu riêng của bản sắc văn hóa mà là mối quan hệ và tương tác giữa các cộng đồng văn hóa. -Phân tích câu nói:
+nhìn từ quan điểm bản thể luận: câu này có nghĩa là văn hóa được tạo nên từ những
yếu tố góp và do đó có tính bền vững
+ nhìn từ quan điểm tình thế luận: bản sắc văn hóa chứa đựng nhiều yếu tố đạo đức
xã hội và cảm xúc. Nó có thể thay đổi tùy thuộc vào từng hoàn cảnh nhất định. Vấn
đề đặt ra là trong bối cảnh đổi thay như vũ bão của thế giới hôm nay liệu bản sắc
văn hóa các dân tộc có bị cuốn đi về vòng xoáy của toàn cầu hóa hay không? Chúng
ta phải ứng xử thế nào trước những thách thức giữ duy trì bản sắc dân tộc và tất cả
các yếu tố văn hóa mới do toàn cầu hóa mang tới?
Ví dụ: Như đã nói ở trên, bản sắc văn hóa được tạo dựng lên bởi các biểu tượng. Các
biểu tượng này không phải là cái gì đó vĩnh hằng, bất biến mà sẽ biến đổi cùng thời
gian, hoàn cảnh và tiếp xúc với các văn hóa khác. Nhìn lại lịch sử, chúng ta thấy
khái niệm bản sắc dân tộc đã được cấu trúc và tái cấu trúc nhiều lần để phù hợp với
thời đại và hoàn cảnh chính trị-xã hội cụ thể. Khi cha ông chúng ta đương đầu với
làn sóng thực dân, tầng lớp tinh hoa và các chí sỹ có xu hướng nhấn mạnh tính “đồng
văn đồng chủng” với các nền văn hóa Á Đông trên cơ sở tư tưởng Khổng giáo và sử
dụng khái niệm về bản sắc này như một công cụ chính trị khích lệ tinh thần dân tộc,
kêu gọi lòng trung với nước và tìm kiếm đồng minh trong cuộc đấu tranh giành độc
lập dân tộc. Khi chúng ta xây dựng chủ nghĩa xã hội, một lần nữa, vấn đề bản sắc
văn hóa được đặt ra, trong đó những giá trị mới như “truyền thống chống ngoại xâm”
và “tinh thần quốc tế vô sản” được khái quát thành những biểu tượng mới của bản
sắc Việt Nam. Trong thời kỳ chống chủ nghĩa bành trướng phương Bắc, biểu tượng
của bản sắc dân tộc đã lại một lần nữa được cấu trúc lại, trong đó xu hướng “bản địa
hóa” bản sắc dân tộc được đề cao, xem văn hóa dân gian và lối sống làng xã là “linh
hồn của văn hóa dân tộc” nhằm chống lại quan điểm cho rằng bản sắc văn hóa Việt
Nam “chỉ là một bản sao của văn hóa Trung Hoa”.
Ngày nay trước làn sóng hội nhập kinh tế và toàn cầu hóa những thách thức mới để
bản sắc văn hóa dân tộc lại được đặt ra một cách gay gắt. Trong buổi tỉnh hệ thống
xã hội chủ nghĩa thế giới tan rã và học thuyết về quốc tế vô sản chỉ còn là những giá
trị lịch sử, Việt Nam có khuynh hướng quay trở lại với chủ nghĩa dân tộc xem được lOMoAR cPSD| 61463864
trở lại với cội nguồn tôn vinh các giá trị văn hóa truyền thống và cấu kết dân tộc như
một chiến lược văn hóa trong thời đại hội nhập toàn cầu. Trong chiến lược này chúng
ta một mặt tôn trọng quá trình tiếp biến văn hóa Tiếp nhận và chuyển hóa các yếu tố
văn hóa quốc tế vào kho tàng văn hóa của ta Mặt khác Tìm kiếm những biểu tượng
mới của bản sắc văn hóa Việt Nam để có thể giúp cố kết dân tộc nhằm cạnh tranh
thắng lợi trong một thế giới được tổ chức vào các quốc gia dân tộc. Cũng trong bối
cảnh này mà đạo thờ cúng tổ tiên và tôn vinh Quốc tổ - Vua Hùng đã được nhìn lại
như một “quốc đạo” và một biểu tượng mới đại diện cho bản sắc văn hóa và đạo lý
“uống nước nhớ nguồn” của người Việt Nam. Chủ nghĩa dân tộc Việt Nam đang
được cấu trúc lại trong đó bản sắc văn hóa nổi lên như một chiến lược sinh tồn trước
làn sóng toàn cầu hóa và hội nhập quốc tế. Câu 10: Văn hóa là nền tảng, động lực
và mục tiêu của sự phát triển. Văn hóa và sự phát triển là 1 chủ đề gay ra nhiều
tranh cãi. Chúng ta phát triển là phát triển về mặt kinh tế hay về mặt văn hóa. Nếu
chỉ phát triển về kinh tế thì sao… còn phát triển cả 2 mặt thì sao? Trong một tgian
dài, chúng ta quan niệm phát triển chỉ về mặt kinh tế thôi cho nên chúng ta hiện đại
hóa ở khắp mọi nơi. Từ hành động đó, chúng ta đã phải trả giá rất nhiều cho cái quan
điểm lệch lạc về sự phát triển ấy.
Và bây giờ trên thế giới và cả VN, người ta đã nhận thức lại, văn hóa phải là động
lực, mục tiêu của sự phát triển. Phát triển cả về kinh tế và văn hóa. Trong việc phát
triển văn hóa, cần phải khơi dậy niềm tự hào, nhu cầu được phát triển của chính chủ
nhân của các nền văn hóa. Ví dụ: nếu ta bê tông hóa ngôi nhà của người Mông, hiện
đại hóa như nhà của người xuôi thì đó là sự phát triển áp đặt, lệch lạc. Chúng ta cần
hiểu người Mông họ cần cuộc sống như thế nào? Họ có thể không cần sống trong
một ngôi nhà hai tầng giống như người dân ở trên thành phố, người ta muốn sống
trong 1 ngôi nhà mà có đầy đủ cái không gian dành cho người sống và người đã khuất.
Do vậy, văn hóa chỉ có thể phát triển được khi chúng ta tôn trọng những giá trị mang
tính bản địa. Chúng ta phải biết khơi dậy tinh thần tự hào của họ. - Văn hóa là nền
tảng tinh thần xã hội. Giúp cải tạo chất lượng người, nâng cao nguồn lực người,
nhằm đáp ứng những nhu cầu phát triển của thời đại. Mọi sự phát triển chỉ có thể
thực hiện được trên 1 nền tảng văn hó vững chắc trên mọi phương diện. -
Văn hóa là động lực của phát triển. những nhu cầu văn hóa cảu 1 cộng đồng
cụ thể tạo ra động lực cho sự phát triển. chính văn hóa thúc đẩy sự phát triển được
thực hiện và đi đúng hướng. sự phát triển chỉ đi đúng hướng khi dựa trên nhu cầu của người trong cuộc.
Ví dụ : xây dựng nhà trình tường của người Mông -
Văn hóa là mục tiêu của phát triển. mọi sự phát triển đều phục vụ đời sống,
cuộc sống con người hữu ích hơn.