lOMoARcPSD| 61463864
Đề cương cơ sở văn hóa Việt Nam
Câu 1:Phân ch một quan niệm về văn hóa mà anh/chị cho là êu biểu
nhất? Phân biệt văn hóa với văn minh, lấy dụ cụ thtừ nền văn hóa
Việt Nam.
A,
*Quan niệm về văn hóa của Hồ Chí Minh:”Vì lsinh tồn cũng như mục
đích của cuộc sống, loài người mới sáng tạo phát minh ra ngôn ngữ,
chviết, đạo đức, pháp luật, khoa học, tôn giáo, văn học, nghệ thut,
những công cụ cho sinh hot hằng ngày về ăn, mặc, các phương thc
sử dụng toàn bộ những sáng tạo pt minh đó tức văn hóa. Văn hóa
là sự tổng hợp của mọi phương thức sinh hoạt cùng với biểu hiện của nó
mà loài người đã sản sinh ra nhằm thích ứng những nhu cầu đời sống và
đòi hỏi của sự sinh tồn”.
*Phân ch quan nim:
-Quan niệm đã nêu ra cấu trúc của văn hóa, bao gồm:
+Văn hóa vật cht
+Văn hóa nh thần
+Tổng hợp phương thức sinh hoạt
-Quan niệm bàn đến đặc trưng của văn hóa: nh vị nhân sinh, được thể
hin hai phương diện: con người là chthsáng tạo ra văn hóa, đồng
thời cũng là chủ thởng thụ văn hóa.
-Nhấn mạnh chức năng của văn hóa, trong đó hai chức năng quan
trọng là: duy trì đời sống xã hội, phục vụ đời sống của con người từ đó
nâng cao giá trị của cuộc sống.
lOMoARcPSD| 61463864
-Nhìn nhận các vấn đề trong quan hệ logic tổng hợp.
-V hình thức: phát biểu mang nh chất quan niệm, không phải học
thuật.
B, Phân biệt văn hóa với văn minh:
Văn hóa
Văn minh
-Văn hóa có đặc trưng lịch sử truyn
thống. Ta thể chứng minh qua
nền văn hóa Việt Nam giàu truyền
thống lịch sử: truyền thống yêu
ớc, uống nước nhnguồn, yêu
thương đồng loại…
-Là một quá trình ch lũy đưc
sang lọc lâu dài. Văn hóa Việt Nam
trải qua mấy ngàn năm đã gi lại
được nhiều nét văn hóa đẹp, giàu
bản sắc và loại bỏ đi những văn hóa
cổ hủ, kng theo kịp thời đại(trọng
nam khinh nữ, tảo hôn,..) -Mang
nh cộng đồng, dân tộc, bản sắc.
Văn hóa Việt Nam không được tạo
từ một người, hay một nhóm ngưi
thành quả chung của cộng
đồng người Việt, từ nhiều dân tộc
Việt. Vì vậy trở nên cùng đa
dạng và đậm dà bản sắc
-Được bảo lưu, duy trì, ổn định, gn
với thói quen, tập quán, tâm linh.
Dân tộc Việt Nam duy trì được
nhiều nét đẹp văn hóa như
-Văn minh gắn với hiện đại thành
tựu khoa học thuật hiện đại. Nói
dến văn minh, ta thường nhđến
một nét nghĩa chung là “trình đ
phát triển”, một lát cắt đồng đại. Ví
dụ nền ta nói văn minh nhân loi
phát triển rực rỡ với sự ra đời của
điện hthống máy móc hiện đại.
-Là những sáng tạo, phát kiến mang
nh nhân. dụ như Thomas
Edison phát minh ra bóng đèn,
Anbe phát minh ra chiếc y nh
đầu ên…
-Mang giá trị phthông toàn nhân
loại, quốc tế. Văn minh mang nét
nghĩa rộng lớn, thành qu của
toàn nhân loại, được toàn thể con
người công nhận sử dụng. -Thay
đổi liên tục. Để phù hợp với sự thay
đổi của xã hội, văn minh biến đổi
theo. Trước kia,con người luôn cho
rng trái đất đứng yên nhưng đến
thế kỉ 17,con người đã thay đổi
cách nhìn và cho rằng trái
lOMoARcPSD| 61463864
thờ cúng tổ ên, biết ơn,…
-Văn hóa gắn với nhiều hơn vơi
phương Đông nông nghiệp. Văn
hóa Việt Nam được hình thành ven
lưu vực các con song lớn, thuân li
cho sản xuất nông nghiệp.
đất quay quanh mặt tri.
-Văn minh gắn nhiều hơn với
phương Tây đô thị. Phương Tây
nhiều phát minh hiện đại.
Câu 2: Trình bày đặc trưng và chức năng của văn hóa
ặc trưng của văn hóa
Các nhà nghiên cứu về văn hóa trong ngoài nước đúc kết thành nhiều
đặc trưng của văn hóa, trong đó nổi bật nhất bà bốn đặc trưng cơ bản sau:
- Một là, tính hệ thng. Văn hóa là một hệ thống hữu cơ các giá trị về văn
hóa vật chất, văn hóa xã hội và văn hóa tinh thần của cộng đồng ngưi. Từ
những thành tố căn bản này đã nẩy sinh bao gồm những tập hợp nhỏ
nhiều tầng bậc khác nhau tạo thành một tổng thể phc tạp, phong phú.
- Hai là, tính giá tr. Văn hóa bao gồm các giá trị (giá trị thuộc về đời sống
vật chất, giá trị thuộc về đời sống tinh thần) trở thành thước đó về mức độ
nhân bản của xã hội và con người. Trong lịch sử phát triển của nhân loại có
giá trị của văn hóa để tồn tại và có giá trị của văn hóa để phát triển.
- Ba là, tính lịch sử. Văn hóa bao giờ cũng được hình thành qua một quá
trình được tích lũy qua nhiều thế hệ, những thành tựu do cộng đồng
người trong quá trình tương tác với môi trường tự nhiên và xã hội mà được
sáng tạo và luôn hướng tới sự hoàn thiện để đạt đến tính giá trị.
- Bốn là, tính nhân sinh. Văn hóa một hiện tượng thuộc về xã hội loài
người, gắn liền với hoạt động thực tiễn của con người, những giá trdo
một cộng đồng người sáng tạo ra, thuộc về con người, trong con người
và mang dấu ấn người. Điều đó cho thấy, con người vừa là chủ th của văn
hóa, đồng thời là khách thể của văn hóa, lại vừa là sản phẩm văn hóa.
*Chức năng của văn hóa:
+Chức năng tổ chc xã hội
lOMoARcPSD| 61463864
+Chức năng điều chỉnh xã hội
+Chức năng giao ếp
+Chức năng giáo dục
*Phân tích một đặc trưng và chức năng của văn hóa:
Đặc trưng quan trọng của văn hóa nh giá trị. Văn hóa theo nghĩa đen nghĩa “tr
thành đẹp, thành có giá trị, nh giá trị cần để phân biệt giá trị với phi giá trị. Nó là thước
đo mức độ nhân bản của xã hội và con người.
Các giá trị văn hóa, theo muc đích cố thể chia thành giá trị vật chất (phục vụ cho nhu cầu
vật chất) giá trị nh thần (phục vụ cho nhu cầu nh thần), theo ý nghĩa thể chia
thành giá trị sử dụng, giá trị đạo đức giá trị thấm mĩ theo thời gian có thể phân hiệt các
giá trị vĩnh cừu và giá trnhất thời. Sự phân biệt các giá trị theo thời gian cho phép ta có
đươc cái nhìn hiện chứng– và khách quan trong việc đánh giá nh giá trị của sự vật, hiện
ợng; tránh được những xu hướng cực đoan phnhận sạch trơn hoặc tán dương hết
lời.
Vì vậy mà, về mặt đồng đại, cùng một hiện tượng thgiá trị nhiều hay ít tùy theo
góc nhìn, theo bình diện được xem xét. Muốn kết luận một hiện tượng có thuộc phạm trù
văn hóa hay không phải xem xét mối tương quan giữa các mức độ “giá trị” và “phi giá trị
của nó. về mặt lịch đại, cùng một hiện tượng sẽ có thể có giá trị hay không tùy thuộc vào
chuẩn mực văn hóa a từng giai đoạn lịch sử. Áp dụng vào Việt Nam, việc đánh giá chế
độ phong kiến, vai trò của Nho giáo, các triều đại nhà Hồ, nhà Nguyễn… đều đòi hỏi một
tư duy biện chứng như thế.
Nhthường xuyên xem xét các giá trvăn hóa thực hiện được chức năng quan trọng
thhai chức năng điều chỉnh hội, giúp cho hội duy trì được trạng thái cân bằng
động, không ngừng tự hoàn thiện và thích ứng với những biến đổi của môi trường, giúp
định hướng các chuẩn mực, làm động lực cho sự phát triển của xã hội.
*Lấy ví dụ chứng minh
Câu 3:Văn hóa Việt Nam thuộc về loại hình văn hóa gốc nông nghiệp
điển hình với những đặc trưng chủ yếu sau đây:
Do vtrí địa nằm góc tận cùng phía Đông-Nam Châu Á nên Việt Nam
thuộc loại hình văn hóa gốc nông nghiệp trồng trọt điển hình. Tất cnhững
lOMoARcPSD| 61463864
đặc trưng của loại hình văn hóa gốc nông nghiệp trồng trọt đều được thể
hiện rất rõ nét trong đặc trưng văn hóa Việt Nam.
-Trong ứng xử vi môi trường tự nhiên luôn có ý thức tôn trọng và sống hòa
hợp với thiên nhiên, tôn sùng thiên nhiên, thhiện đức hiếu sinh dân
Việt Nam chủ yếu sinh sống bằng nghề nông, trong cách ứng xử với t
nhiên, do nghề trồng trọt buộc người dân phải sống định cư để chờ cây cối
lớn lên, đơm hoa, kết trái và thu hoạch, từ đó ưa thích lối sống ổn định, cho
rằng” An lạc nghiệp” . Do sống phụ thuộc vào thiên nhiên nên cư dân
nông nghiệp có ý thức tôn trọng và ước vọng sống hòa hợp với thiên nhiên.
Người Việt Nam mở miệng ra là nói “ nhtrời”, “lạy trời”… Các tín ngưỡng
và lễ hội sung bái tự nhiên rất phổ biến ở các tộc người trên khắp mọi vùng
đât nước.
- sống bằng kinh tế nông nghiệp, nhất nông nghiệp lúc nước, đócon
người có sự phthuộc vào các hiện tượng tự nhiên (như trời, đất, nước,
nắng, mưa...), nên trong nhận thức đã hình thành một lối duy tổng hợp,
trọng quan hệ, trọng tình biện chứng, thiên về kinh nghiệm, trực giác, cm
tính và duy linh (linh cảm).
nghề nông, nhất nghề nông nghiệp lúa nước, cùng một lúc phụ thuộc
vào nhiều yếu tố thiên nhiên như : thời tiết, nước, khậu,... trông trời,
trông đất, trông mây; trông mưa, trông gió, trông ngày, trông đêm…” nên về
mặt nhận thức, hình thành nên lối duy tổng hợp- biện chứng, nặng về
kinh nghiệm chủ quan cảm tính: sống lâu lên lão làng, trăm hay không bằng
tay quen… Người làm nông quan tâm không phải là từng yếu tố riêng lẻ mà
những mối quan hệ giữa chúng. Người Việt tích lũy được một kho kinh
nghiệm hết sức phong phú vcác loại quan hệ này: Quạ tắm thì ráo, sáo
tắm thì mưa; Được mùa lúa thì úa mùa cau, được mùa cau thì đau mùa lúa;
Chuồn chuồn bay thấp thì mưa, bay cao thì nắng, bay vừa thì râm…
-Trong tổ chức cộng đồng, con người nông nghiệp ưa tổ chức hội theo
nguyên tắc trọng tình, chuộng sự hòa thuận, tương trợ, quan tâm đến những
láng giềng.
- Lối sống trọng tình đưa đến thái độ trọng đức, trọng văn, trọng Mẫu đềcao
nguyên lý Mẹ.
- Nguyên tắc trọng tình cũng sở của tâm hiếu hòa, chuộng sự
bìnhđẳng, dân chủ, đề cao tính cộng đồng, tính tập thể.
Về mặt tổ chức cộng đồng, người Việt có lỗi sống cố định lâu dài nên tạo ra
những mối quan hệ tình cảm thân thiết, gắn bó, hình thành nên lối sống
trọng tình.. Nhưng cũng tđây nh thành lối sống tự trị, khép kín, hướng
lOMoARcPSD| 61463864
nội. Lỗi sống trọng tình cảm tất yếu dẫn đến thái độ trọng đức, trọng văn,
trọng phụ nữ. Trong ngôi nhà của người Vit rất coi trọng gian bếp, thể hin
sự coi trọng phụ nữ. Người Việt coi: Nhất vợ nhì trời; Lệnh ông không bằng
cồng bà… Người phụ nữ cũng được xem người vai trò quyết định trong
việc giáo dục con cái: Phúc đức tại mẫu; Con dại cái mang… Sự gắn
cộng đồng tạo nên lối sống trọng tình nghĩa: lành đùm rách; Bầu ơi
thương lấy bí cùng…; các quan hệ ứng xử thường đặt lý cao hơn tình: Mt
bồ cái lý không bằng một tí cái tình.
- Lối duy tổng hợp biện chứng, cộng với nguyên tắc trọng tình dẫn đếnli
sống linh hoạt, luôn ứng biến cho phù hợp với từng hoàn cảnh cụ th. - Tư
duy tổng hợp phong cách linh hoạt của văn hóa nông nghiệp còn quy
định thái độ dung hợp trong tiếp nhận các yếu tố khoan dung trong ứng xử,
mềm dẻo trong đối phó.
Lối duy tổng hợp biện chứng, luôn đắn đo cân nhắc của người làm nông
nghiệp cộng với nguyên tắc trọng tình đã dẫn đên lối sống linh hoạt, luôn
thay đổi để thích hợp với từng hoàn cảnh: bầu ttròn, ống thì dài; Đi
với bụt mặc áo cà sa, đi với ma mặc áo giấy; … Mặt trái của tính linh hoạt
thói tùy tiện biểu hiện ở tật co giãn giờ giấc, sự thiếu tôn trọng pháp luật, tệ
đi “ cửa sau” để giải quyết công việc( Nhất quen, nhì thân, tam thần, tứ thế).
sống theo tình cảm nên mọi người phải biết tôn trọng xbình đẳng,
dân chủ với nhau. Lối sống trọng tình cách xdân chủ dẫn đến tâm
coi trọng cộng đồng, coi trọng tập thể. Người nông nghiệp làm cũng
phải tính đến tập thể, luôn có tập thể sau lưng.
Trong lối ứng xử với môi trưng xã hội, tư duy tổng hợp vfa phong cách linh
hoạt còn quy định thái độ dung hợp trong tiếp nhận: Việt Nam không những
không có chiến tranh tôn giáo mà mọi tôn giáo đều được tiếp nhận. Đối p
với các cuộc chiến tranh xâm lược người Việt Nam luôn hết sức mềm dẻo,
hiếu hòa.
Như vậy, hầu như tất cả những đặc trưng của loại hình văn hóa gốc nông
nghiệp trồng trọt đều được thể hiện nét trong cách tố chức đời sống,
phương thức tư duy, lối ứng xử của người Việt truyền thống.
- Tuy nhiên, mặt trái của tính linh hoạt và trọng tình là nó dẫn đến thái độ tùy
tiện, coi thường tính nguyên tắc, ý thức tổ chc kỷ luật kém. Văn minh nông
nghiệp kéo dài đã làm chậm sự phát triển của tiến trình lịch sử Việt Nam,
không tạo ra được những tiền đđiều kiện đbức ra khỏi cái khung
phong kiến phương Đông, làm hạn chế tính năng động, sáng tạo của con
người Việt Nam và dẫn đến sự trì trệ của xã hội Việt Nam.
lOMoARcPSD| 61463864
Câu 4: Vai trò của văn hóa trong sự phát triển
*Văn hóa là nền tảng tinh thần của xã hội
-Đào tạo con người theo các giá trị chân-thiện-
-Hình thành trong phẩm chất mọi thành viên trong xã hội ý thức phát huy
các tiềm năng về thể lực, trí lực và nhân cách
-Tích cực xây dựng một môi trường văn hóa lành mạnh để đủ sức đề
kháng đẩy lùi các tiêu cực xã hội, bài trừ những văn hóa phản tiến bộ.
*Văn hóa là động lực thúc đẩy sự phát triển của xã hội
-Sự phát triển của một dân tộc gắn liền với cái mới nhưng không tách rời cội
nguồn, văn hóa
-Con người nhân tvai trò quan trọng không thể thiếu trong sự
phát triển của kinh tế, xã hội
-Văn hóa có khả năng tiếp thu và cải biên những yếu tố văn hóa ngoại sinh
để biến thành ngoại lực thúc đẩy sự phát triển của kinh tế, xã hội
-Văn hóa sẽ giải phóng và nhân lên mọi tiềm năng sáng tạo của con người
trong mọi lĩnh vực đời sống xã hội trưc hết là kinh tế
*Văn hóa là mục tiêu của sự phát triển
-Mục tiêu của sự phát triển ớc ta: “Dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công
bằng, văn minh”
Trong chiến lược phát triển kinh tế 2011-2020:
-Xác định: phát huy tối đa nhân tố con người, con người chủ thể, nguồn
lực chủ yếu và là mục tiêu của sự phát triển”
-Yêu cầu: Tăng trưởng kinh tế kết hợp hài hòa với phát triển văn hóa, thực
hiện công bằng hội, không ngừng nâng cao chất lượng cuộc sống của
nhân dân”.
*Văn hóa là mục tiêu của sự phát triển
-Phát triển phải hướng tới mục tiêu văn hóa- hội mới đảm bảo được sự
bền vững và trường tồn cho sự giàu mạnh của tổ quc.
Văn hóa có vai trò đặc biệt quan trọng trong việc bồi dưỡng, phát huy nhân
tố con người và xây dựng xã hội mới.Văn hóa giúp mở rộng hiểu biết, nâng
cao dân trí, giúp bồi dưỡng tưởng đúng đắn tình cảm cao đẹp cho con
người, cho nhân dân Việt Nam tưởng độc lập dân tộc gắn với chủ nghĩa
hội, đồng thời bồi dưỡng phong cách, lối sống lành mạnh, hướng con
người đến chân-thiện-mĩ để hoàn thiện bản thân.
lOMoARcPSD| 61463864
Câu 5: Trình bày vai trò của Phật giáo trong đời sống văn hóa Việt Nam
Đạo Phật truyền Việt Nam nh đến nay đã gần 2000 năm, trải
qua các thời kỳ lịch scủa đất nước, Phật giáo từ lâu vốn đã đi sâu
vào quần chúng nhân dân Việt Nam, gắn bó với sinh hoạt cộng đồng
của người Việt, một sự gắn tự nhiên không do áp đặt của chính
quyền, cả khi Phật giáo được tôn là Quốc giáo...
Nguồn gốc đạo Phật
Dạo Phật là một trong những tôn giáo ln của thế giới, được ra đời vào
khoảng thế kỷ VI trước công nguyên, vùng phía Tây Bc Ấn do thái tử
Tất Đạt Đa sáng lập, hiệu là Sakyamuni (Thích Ca Mâu Ni).
Đạo Phật ra đời trong hoàn cảnh rối ren của xã hội Ấn Độ bấy giờ. Thế kỷ
VI trước Công nguyên, lúc này Ấn Độ đang trong thời kỳ chiếm hữu lệ.
Sự phân chia đẳng cấp ngặt nghèo sâu sắc. Thời kỳ này xã hội Ấn Độ chia
làm bốn đẳng cấp cách biệt nhau…. Đẳng cấp Bà la môn (địa vị cao nhất);
đẳng cấp Sát đế lỵ (dòng họ vua quan, quý tộc); đẳng cấp Vệ (gần những
người giàu có, buôn bán thủ công), đẳng cấp Thủ đà la (nô lệ). Ngoài ra còn
một tầng lớp người thuộc hàng cùng khổ ới đáy hội, bị mọi người
khinh rẻ. Trước khi sự ra đời của đạo Phật, mâu thuẫn giữa các đẳng
cấp trên hết sức gay gắt được thể hiện trong những cuộc đấu tranh mang
tính chất toàn hội. Cùng thời điểm này Ấn Độ đã đang diễn ra cuc
đấu tranh giữa các nhà duy vật duy tâm, đấu tranh giữa các tôn giáo, bởi
lẽ bên cạnh sự thống trị của đạo Bà la môn còn có sự hiện diện của Phệ đà
giáo và một số giáo phái khác, đồng thời tư tưởng duy vật thô sơ và tư duy
biện chứng đã xuất hiện.
Hoàn cảnh hội những tưởng quan niệm trên đã trực tiếp hoặc
gián tiếp góp phần thúc đẩy sự ra đời của đạo Phật.
Bỏ qua những truyền thuyết về Tất Đạt Đa tìm đường cứu khổ cho chúng
sinh sáng lập ra đạo Phật thì thể thấy rằng thực chất Phật giáo ra
đời là do kết quả của cuộc đấu tranh gay gắt giữa các giai cấp, đấu tranh
giữa thần quyền và thế quyền, giữa những người nắm kinh tế của hội
và những người nắm tư tưởng xã hội. Cuộc đấu tranh ấy đã lôi kéo đông
đảo quần chúng nghèo khổ tham gia, thay bằng thành quả bình đẳng thật
sự nơi trần gian, quần chúng đã nhận được sự bình đẳng trong tư tưởng,
nơi gọi là cõi Niết bàn của nhà Pht.
lOMoARcPSD| 61463864
Giáo lý của đạo Phật tập trung vào hai vấn đề, một là sự khổ não, hai là sự
giải thoát ra khỏi khổ não ấy. Khổ não bởi sự luân hồi, thoát khỏi vòng
luân hồi thì khỏi khổ, muốn thoát khỏi vòng luân hồi thì phải bỏ hết tham,
sân, si trên trần thế. Khi thoát khỏi vòng luân hồi con người mới chứng được
trạng thái Niết bàn, Cực lc.
Đạo Phật một tôn giáo thần, không cùng bản chất như mọi tôn giáo
khác. Đạo Phật còn có một sđặc điểm riêng: Đạo Phật không quan niệm
về đấng sáng tạo ra thế giới. Thế giới tự vận động, phát triển thông qua
luật thường nhân quả. Sự vận động ấy diễn ra trong không gianthời
gian, đạo Phật kTiểu thừa mang nhiều nh duy vật những quan
nim của đạo Phật về thế giới vcon người, về vận động mang hình thức
biện chứng. Các giáo đạo Phật chứa đựng nhiều nội dung đạo đức,
ớng thiện. Đồng thời cũng phủ nhận một cách gián tiếp những mâu
thuẫn, xung đột xã hội.
Đạo Phật Việt Nam
Với những đặc điểm đó, cùng với giáo của mình đạo Phật đã tìm được
chỗ đứng của mình trong lòng xã hội Việt Nam.
Đạo Phật được truyền vào Việt Nam ngay từ đầu Công nguyên bằng
hai con đường; đường thủy thông qua con đường buôn bán với thương
gia Ấn Độ. Đường bộ thông qua giao lưu văn hóa với Trung Quốc
Trung Quốc khi ấy cũng tiếp nhận Phật giáo được truyền từ Ấn Độ.
Như vậy Phật giáo Việt Nam mang cả sắc thái Phật giáo Ấn Độ và Trung
Quc.
Đạo Phật truyền vào Việt Nam không phải thông qua con đường chiếm lược,
không phải do sự ỡng chế của Trung Hoa thông qua đường giao
thương buôn bán. Đạo Phật đến bằng con đường hòa bình, những giáo
của đạo Phật về bình đẳng, bắc ái, cứu khổ cứu nạn…gần gũi với dân
Việt Nam do đó dễ được chấp nhận. Mặt khác thời kỳ này còn các tín
ngưỡng bản địa của cư dân nông nghiệp lúa nước, cộng với sự tồn tại ca
Nho giáo, đạo lão được Trung Quốc truyền vào, tuy
nhiên các tín ngưỡng, tôn giáo đó còn có nhiều mặt khuyết thiếu đối với
đời sống tâm linh cộng đồng đạo Phật đã bổ sung vào chỗ thiếu hụt
đấy. vậy đạo Phật Việt Nam được giao thoa bởi các tín ngưỡng bản
địa.
Đạo Phật truyền Việt Nam tính đến nay đã gần 2000 năm, trải qua các
thời kỳ lịch sử của đất nước, Phật giáo từ lâu vốn đã đi sâu vào quần chúng
nhân dân Việt Nam, gắn với sinh hoạt cộng đồng của người Việt, một s
gắn tnhiên không do áp đặt của chính quyền, cả khi Phật giáo được
lOMoARcPSD| 61463864
tôn Quốc giáo. Sự tồn tại lâu dài của Phật giáo trong đời sống kinh tế,
chính trị, hội đã đem lại những đóng góp đáng kể cho văn hóa, tưởng,
kinh tế, chính trị trong diễn trình lịch sử Vit
Nam.
Người ta thường xếp tôn giáo vào phạm trù văn hóa, Phật giáo một sự
kiện tôn giáo, cũng là một sự kiện văn hóa. Phật giáo truyền từ Ấn Độ sang
Việt Nam vốn không phải một skiện đơn độc, kéo theo (hoặc
trước, hoặc sau, hoặc đồng thời với nó) là cái ảnh hưởng của tổng thể văn
hóa Ấn Độ đối với văn hóa Việt Cổ, ảnh hưởng ấy diễn ra trên nhiều lĩnh
vực như: Nông nghiệp, y dược, âm nhạc đạo ngôn ngữ… Điều quan
trọng là văn hóa Việt cổ tiếp thu một lượng quan trọng ảnh hưởng của văn
hóa Ân Độ qua ngđường Phật giáo vào suốt thời Bắc thuộc, khi ảnh hưởng
của văn minh Trung Hoa tràn lên trên đất Việt và mang khuynh hướng đồng
hóa rõ rệt.
Ngoài đóng góp làm cho văn hóa Việt Nam thêm phong phú, khách quan
mà nói ảnh hưởng của văn hóa Ấn Độ là một đối trọng của ảnh hưởng văn
hóa Trung Hoa trên đất Việt. tác dụng trung hòa ảnh hưởng quá mạnh
mẽ vào nền văn minh Trung Hoa; nó góp sức cùng cơ tầng văn hóa Việt c
ngăn chặn khuynh hướng đồng hóa của văn minh Trung Hoa, được hội
nhập vào văn hóa Việt Nam làm giàu thêm nền văn hóa Việt, góp phần làm
nên cái khác của văn hóa Việt so với văn hóa Trung Hoa. Lấy một ví dụ cụ
th: Thăng Long đời Lý, Hoàng Thành Thăng Long mở 4 cửa, nếu phía
cửa Bắc thờ thánh Trấn Trấn một vị thần linh Trung Hoa được
hội nhập vào đất Việt thì cửa Đông lại thờ thần Bạch ảnh hưởng
của Ấn Độ, và cửa Tây Long thành được mang tên “Quảng Phúc Môn”, mở
ra phía Tây để mong phúc lớn rộng “phúc đẳng hà sa” của đức Phật ở Tây
Thiên.
đạo Phật trong buổi đầu thời Bắc thuộc và chống Bắc thuộc một đối
ợng của Nho giáo mà Trung Hoa đem sang Việt Nam. Khi Phật giáo
bị suy sút ở thượng tầng, thì ở chốn làng quê “cơ sở hạ tầng” Phật giáo lại
tỏa ra dân chúng. Thời Trần Phật giáo Phật giáo quý tộc, còn sang
thời Nguyễn Phật giáo Phật giáo dân gian, nhân gian (hay được
dân gian hóa – từ sau thế kỷ XV). Nếu như Quân chủ Việt Nam dựng ra cái
đình ở làng quê với tư cách như một “tiểu triều đình” trọng nam khinh n
chốn đình Trung, thì dân quê Việt Nam vẫn giữ dựng cái chùa, cái
“chùa làng” của n gian chứ không phải cái quốc tự của triều đình
những ai trước hết là nữ giới bị loại bỏ khỏi sinh hoạt đình Trung thì đã có
một tchức, một trung tâm sinh hoạt tâm linh ngôi chùa. Thời nhà Lê,
lOMoARcPSD| 61463864
Nguyễn “đất vua, chùa làng” (đất của vua, chùa của làng) tức “chùa làng”
đã trở thành đối trọng của đình làng, bảo trợ cho một quá nửa lực lượng
của dân tộc là “đàn bà”. Chính tsự bảo trợ này mà Phật giáo Việt Nam
được chỗ đứng thêm vững vàng trên đất Việt. Khi đạo Phật vào Việt Nam,
nếu chỉ một kinh điển bất động không thôi thì skhông tác dụng
chyếu nào cả, tác dụng của như thế nào do sự tổ chức, tuyên
truyền giáo dục cải tạo của những người tiên phong thấm nhuần sâu sắc
học thuyết Phật giáo. Lúc bấy giờ đã có những vị thiền sư Việt Nam ý thức
chấp nhận tính nhân đạo đại trí, đại dũng của Phật giáo, phù hợp với
tinh thần anh dũng bất khuất, lòng thương người khổ đau và đặc tính phân
biệt thiện ác, chánh tà của quần chúng nhân dân Việt Nam ta. Từ sự thm
nhuần tư tưởng Phật giáo xây dựng con người tốt cá biệt gắn liền với phát
huy bản chất con người xã hội “Chư ác mạc tác – chúng thiện phụng hành
Tự tịnh kỳ ý Thị chư Phật giáo”
Không hành ác tức không làm cho mình trở thành một tội khổ cho mình và
cho người khác, lời khuyên đầu tiên của đức Phật, tiếp theo shành
thiện, là hãy trở nên một phúc báu cho mình và cho người khác, lời kêu gọi
cuối cùng tgitưởng cho trong sáng, đó các điều giáo dục của
Phật. Đối với các quốc gia dân tộc khác, lời dạy của Phật trên đây thể ch
tầm giáo dục về tâm hay luân thông thường. Nhưng đối với hoàn
cảnh và tình hình đất nước ta ngay từ xa xưa luôn địch họa rình rập, thì lời
giáo dục ấy của Phật qua khí tiết, tính Việt Nam đã làm cho Phật giáo Việt
Nam lại mang theo một ý nghĩa sâu sắc khác.
Không làm các việc ác cũng có nghĩa chống ác, làm các việc lành, có đức
cũng có nghĩa là liên minh với chân chính với thiện mỹ với chính nghĩa của
nhân dân.
Phật giáo du nhập vào Việt Nam rất sớm, với tinh thần “Từ bi hỷ xả -
ngã – vị tha”, năng động hóa bởi đạo lý Bát chính đạo, là điều giáo dục phổ
biến đối với dân tộc ta, dân tộc thường xuyên bị những thế lực xâm lược
đem theo sthống trị đầy rãy những cái ác bất nhân, gieo mầm bất nghĩa,
trái đạo dân tộc. Bởi thế Phật giáo phương xa đến Việt Nam đã đương
nhiên trở thành Phật giáo Việt Nam với tưởng yêu nước chyếu. Tư
ởng yêu nước này được xác minh qua nhiều thế hệ, suốt dòng lịch s
tranh đấu giữ ớc và dựng nước của dân tộc ta, phù hợp với tưởng
“Chư ác mạc tác” nghĩa vụ “Chúng thiện phụng hành” của giáo nhà
Pht.
Phật giáo Việt Nam nhập thế
lOMoARcPSD| 61463864
Từ các vị thiền sư Việt Nam đến không ít các vvua, các anh hùng dân tc
Phật tử đã thấm nhuần tưởng yêu nước, trở thành mối quan hệ khăng
khít giữa Phật giáo Việt Nam với lịch sử tư tưởng Việt Nam. Hơn nữa trong
suốt hai cuộc kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ cứu nước, nhiều chùa
chiền Phật giáo Việt Nam sở bao che nuôi dưỡng cán bộ, chiến cách
mạng, những Tăng, Ni, Phật tử nằm trong các đoàn thể cứu quốc, đoàn thể
Phật giáo yêu nước, hòa mình vào các sinh hoạt cách mạng.
Phật giáo Việt Nam vừa một học thuyết giải thoát về thuật sống lương
thiện tốt đẹp cho con người Việt Nam, vừa một học thuyết qua tinh thần
Tứ ân có ơn với tổ quốc là trọng đại – đã thực sự góp phần trong việc hình
thành nền tư tưởng Việt Nam, văn hóa dân tộc Việt Nam, trong đó tư tưởng
yêu nước là chủ yếu.
Phật giáo đã rất nhiều đóng góp to lớn cho nền tảng ởng văn hóa
Việt Nam. Trước hết Phật giáo đã đóng vai trò tích cực trong các cuộc đấu
tranh giải phóng dân tộc của nhân dân Việt Nam, góp phần làm phong phú
thêm tâm hồn, đạo đức, hành vixử của người Việt, làm phong phú thêm
nền văn hóa dân tộc. Trước sự đòi hỏi của dân tộc, của tín đồ Phật giáo,
Phật giáo Việt Nam đã đóng góp tích cực cho nền văn hóa nước nhà.
Dân tộc Việt Nam có cái duyên là đã được tiếp nhận đạo Phật, đạo Phật có
cái duyên là tìm được chỗ đứng cho mình trong cộng đồng người Việt Nam.
Cái cộng đồng dựa trên nền tảng kinh tế tự nhiên, tự cấp, tự túc, với quan
niệm làng cổ truyền, với tín ngưỡng đa thần đã tiếp nhận đạo Phật cải
biến nó cho ít nhiều phù hợp với cộng đồng y.
Cộng đồng người Việt tiếp nhận Phật giáo, đồng thời tiếp nhận những tư
ởng bình đẳng, bắc ái, vô ngã, vô thường…ở đạo Phật, những tư tưởng
này cùng với những tư tưởng cộng đồng cổ truyền đã làm cản trở cho quá
trình phân hóa giai cấp, làm dịu những xung đột giai cấp trong hội. Trong
thời gian tới, Phật giáo tồn tại thậm chí tiếp tục phát triển mạnh Vit
Nam. Phật giáo đóng góp phần tích cực của bằng cách tự làm trong
sạch bản thân, xóa bnhững yếu ttín lỗi thời. Phật giáo góp phần
cân bằng cuộc sống ngày càng quay cuồng với nhịp độ cao Phật giáo
góp phần hướng thiện cho con người.
Việc cải tiến nghi lễ, hiện đại hóa một xu hướng tất yếu, điều cần
thiết của đạo Phật, điều đó có từ trong lịch sPhật giáo của Việt Nam. Đạo
Phật còn vai trò to lớn trong đời sống tình cảm, tâm linh của người Việt
Nam, người dân của đất nước đã trải qua nhiều đau thương đang còn
nhiều khó khăn trong đời sống xã hội.
lOMoARcPSD| 61463864
Xin mượn lời của cố giáo Trần Quốc Vượng trong (Mấy ý kiến vPht
giáo và văn hóa dân tộc Mấy vấn đề Phật giáo và tư tưởng Việt Nam) để
khẳng định những giá trị văn hóa của đạo Phật “Đạo Phật có thể mất đi như
mọi hiện tượng thường. Song cái tinh túy của văn hóa Phật giáo đã được
dân tộc hóa dân gian hóa thì mãi mãi trường tồn”. Ngày nay để tiếp tc
phát huy những giá trị tích cực của mình, Phật giáo phải biết tự gi gìn, bồi
đắp và đổi mới cho phù hợp với thời đại nhằm góp phần thực hiện mc tiêu
“dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ và văn minh” như trước
đây đã từng đóng góp cho “quốc thái dân an”. Trong điều kiện hội hiện
nay, những di sản văn hóa của Phật giáo đang tiếp tục phát huy tác dụng,
tạo nên sắc thái dân tộc, góp phần làm phong phú bản sắc văn hóa Việt
Nam. Gần đây, nhiều tchức và nhân đã quyên góp, công đức tiền của
để khôi phục, tôn tạo chùa chiền, xây cất tịnh xá, niệm Phật đường, đúc
chuông, đắp tượng, dựng tháp… Ngoài ý nghĩa tâm linh, nhiều ngôi chùa
đã trở thành những danh thắng nổi tiếng để du khách đến chiêm ngưỡng.
Những giá trị văn hóa Phật giáo không chỉ tồn tại trong tư tưởng, còn
đang hiện diện thông qua sự nỗ lực của hàng triệu tín đồ nhằm vươn tới
một lẽ sống Tổ quốc giàu mạnh, nhân sinh hạnh phúc. Điều đó càng khẳng
định được vtrí, vai trò của Phật giáo trong suốt quá trình đồng hành cùng
dân ta.
Câu 6:
Nho giáo được xem hệ tưởng ảnh hưởng sâu rộng lâu dài đến
hội Việt Nam, nền tảng đạo đức giáo dục con người, đóng góp to lớn
vào việc tổ chc nhà nước, duy trì trật tự xã hội, phát triển kinh tế, sáng tác
văn học trong các triều đại quân chủ như Nhà , Nhà Trần, Nhà , Nhà
Nguyễn, trong suốt chiều dài lịch sử phù hợp dung hòa với đời sống
người Việt hình thành nền Nho giáo bản sắc Việt Nam nôm na gọi Việt
Nho ... Ảnh hưởng của Nho giáo đối với Việt Nam sâu sắc nền tảng của
nền văn minh tại Việt Nam xếp Việt Nam vào các nước ảnh hưởng nền
Văn minh Trung Hoa gọi Vùng văn hóa Đông Á. Từng bước hình thành
nên lối sống, sinh hoạt, đạo đức đối nhân xthế trong hội của người Việt.
Ngày nay Việt nho ít được xem trọng kèm những khía cạnh suồng sã, tiêu
cực trong văn hóa phương tây ảnh hưởng đang làm đạo đức một bộ phn
giới trẻ xuống cấp.
lOMoARcPSD| 61463864
*Sự hình thành và phát triển
Cơ sở của Nho giáo được hình thành từ thời Tây Chu, đặc biệt với sự đóng
góp của Chu Công Đán, còn gọi Chu Công. Đến thời Xuân Thu, hội
loạn lạc, Khổng Tử (sinh năm 551 trước công nguyên) phát triển tưởng
của Chu Công, hệ thống hóa và tích cực truyền bá các tư tưởng đó. Chính
vì thế mà người đi sau coi ông là người sáng lập ra Nho giáo.
Cũng giống như nhiều nhà tưởng khác trên thế giới như Thích Ca Mầu
Ni, Giê-xu,... người đời sau không thnắm bắt các tưởng của Khổng tử
một cách trực tiếp chỉ được biết các tư tưởng của ông bằng các ghi chép
do các học trò của ông để lại. Khó khăn nữa là thời kỳ ốt sách, chôn Nho"
của nhà Tần,vào khoảng hai trăm năm sau khi Khổng Tử qua đời, khiến cho
việc tìm hiểu tư tưởng gốc của Khổng Tử càng khó khăn. Tuy nhiên, các nhà
nghiên cứu đi sau vẫn cố gắng tìm hiểu và hệ thống các tư tưởng và cuộc
đời của ông.
Nho giáo nguyên thủy
Thời Xuân Thu, Khổng Tử đã san định, hiệu đính giải thích bộ Lục kinh
gồm có Kinh Thi, Kinh Thư, Kinh Lễ, Kinh Dịch, Kinh Xuân Thu Kinh Nhạc.
Về sau Kinh Nhạc bị thất lạc nên chỉ còn năm bộ kinh thường được gọi
Ngũ kinh. Sau khi Khổng Tử mất, học trò của ông tập hợp các lời dạy để
soạn ra cuốn Luận ngữ. Học trò xuất sắc nhất của Khổng Tlà Tăng Sâm,
còn gọi Tăng Tử, dựa vào lời thầy soạn ra sách Đại học. Sau đó, cháu
nội của Khổng Tử là Khổng Cấp, còn gọi Tử Tư viết ra cuốn Trung Dung.
Đến thời Chiến Quốc, Mạnh Tử đưa ra các tư tưởng sau này học tca
ông chép thành sách Mạnh Tử. Từ Khổng Tử đến Mạnh Tử hình thành nên
Nho giáo nguyên thủy, còn gọi là Nho giáo tiền Tần (trước đời Tần), Khổng
giáo hay "tư tưởng Khổng-Mạnh". Từ đây mới hình thành hai khái niệm, Nho
giáo Nho gia. Nho gia mang tính học thuật, nội dung của còn được gọi
Nho học; còn Nho giáo mang tính tôn giáo. Nho giáo, Văn Miếu trở
thành thánh đường và Khổng Tử trở thành giáo chủ, giáo lý chính là các tín
điều mà các nhà Nho cần phải thực hành.
Hán Nho
Đến đời Hán, Đại HọcTrung Dung được gộp vào Lễ Ký. Hán Vũ Đế đưa
Nho giáo lên hàng quốc giáo dùng làm công cụ thống nhất đất nước
về tư tưởng. Và từ đây, Nho giáo trở thành hệ tư tưởng chính thống bảo vệ
chế độ phong kiến Trung Hoa trong suốt hai ngàn năm. Nho giáo thời kỳ này
được gọi Hán Nho. Điểm khác biệt so với Nho giáo nguyên thủy Hán
lOMoARcPSD| 61463864
Nho đề cao quyền lực của giai cấp thống trị, Thiên Tử con trời, dùng "lễ
trị" để che đậy "pháp trị".
Tống Nho
Đến đời Tống, Đại Học, Trung Dung được tách ra khỏi Lễ cùng với
Luận ngữ và Mạnh Tử tạo nên bộ Tứ Thư. Lúc đó, Tứ Thư và Ngũ Kinh
sách gối đầu giường của các nhà Nho. Nho giáo thời kỳ nay được gọi
Tống nho, với các tên tuổi như Chu Hy (thường gọi Chu Tử), Tnh Hạo,
Tnh Di. (Ở Việt Nam, thế kỷ th16, Nguyễn Bỉnh Khiêm rất giỏi Nho học
nên được gọi "Trạng Trình"). Phương Tây gọi Tống nho "Tân Khổng
giáo". Điểm khác biệt của Tống nho với Nho giáo trước đó việc bổ sung
các yếu tố "m linh" (lấy tPhật giáo) và các yếu tố "siêu hình" (lấy từ Đạo
giáo) phục vụ cho việc đào tạo quan lại và cai trị.
Đặc điểm
Về nội dung học tập, Nho giáo chỉ nói đến "trí dục" "đức dục" không
xét đến mặt "thể dục" mặt cũng rất cần cho sự phát triển toàn diện con
người. Những kiến thức về giới tự nhiên và vsản xuất vật chất không được
Nho giáo đề cập (bởi thời của Khổng Tử, khoa học kthuật nền sn
xuất chưa phát triển). Do vậy, người học tuy thấm nhuần tư tưởng Nho học
về đạo đức, tinh thông cvăn, nhưng kiến thức về khoa học tự nhiên, sản
xuất thực tiễn thì lại không phát triển. Cả hai mặt tiến bộ hạn chế của Nho
giáo đều để lại dấu ấn trên Nho sĩ. Khi tiếp xúc với nền văn minh phương
Tây mạnh về khoa học kỹ thuật, nếu người xuất thân Nho học biết tiếp thu
những kiến thức khoa học và sản xuất thì sẽ khắc phục được mặt hạn chế,
trnên "Vừa tài vừa đức", ngược lại nếu tiếp thu không chọn lọc
thì không những không khắc phục được hạn chế mà những giá trị đạo đức
của nền Nho học cũng bị đánh mất.
Nhược điểm nghiêm trọng hơn nữaNho giáo Việt Nam thiếu sự xuất hiện
các trường phái học thuật nên vận động trong sđơn điệu một chiều,
chkhông được phong phú đa dạng như Nho giáo Trung Quốc. Nho giáo
Việt Nam thiếu sự vận động bên trong, thiếu sự phản tỉnh nên trì trệ. Đa số
nhà Nho Việt Nam chỉ đặt cho mình mục đích học để đi thi, thi đỗ thì ra
làm quan để được giàu sang, sung sướng. Đạt được mục đích đó thì xem
như việc học tập đã kết thúc. Ít người ccao xa, như học để tham gia
tranh luận những vấn đề mang tầm khu vực, học để kinh bang tế thế hoc
để phát triển văn hoá, đạt đến những tầm cao tưởng. Cũng một số
Nho quan tâm đến học thuật, nhưng thường các vấn đề chính trị đạo
lOMoARcPSD| 61463864
đức, ít bàn đến vấn đề siêu hình, một lĩnh vực thuần túy triết học làm nền
tảng cho khả năng nhận thức sâu sắc thế giới hành động sáng tạo. Thậm
chí, họ còn biến những vấn đề siêu nh thành cái thực tế, thực dụng. học
tập và tư duy như thế nên họ ít có cống hiến to lớn trong lĩnh vực học thuật
có thể so sánh với các nước khác cũng chu ảnh hưởng của Nho giáo. Nền
giáo dục Nho giáo Việt Nam chsản sinh ra được một tầng lớp quan lại
nền tảng Nho học còn các loại hình trí thức then chốt của một tầng lớp trí
thức thực thụ thì xuất hiện thưa thớt, mờ nhạt, hoặc hoàn toàn vắng bóng
trong một số lĩnh vực như triết học.
Một số nhà Nho uyên thâm của Việt Nam khi đứng trước kho tàng đồ sộ và
uyên bác của Nho giáo Trung Quốc thường tóm lược lấy những điều cốt
yếu, biên soạn lại thành những tài liệu đơn giảnngắn gọn để dạy học trò.
thể liệt các sách Nho học như Tứ thư tập chúcủa Chu Hy, Tứ thư
đại toàncủa Tống, Nguyên, Minh, Thanh Nho, sang Việt Nam chỉ còn
Thuyết ước(tóm lược học thuyết) và Ước giải(giải thích tóm tắt); hoặc
như cuốn “Tính lý đại toàn của Hồ Quảng thời Minh, sang Việt Nam chỉ còn
Tiết yếu”. Đây là hiện tượng chung của nhiều triều đại quân chủ Việt Nam.
Nếu triều Trần Tứ thư thuyết ướccủa Chu Văn An, thì triều -
Trịnh Tứ thư ước giảicủa Quý Đôn, triều Nguyễn có Tứ thư trích
gingcủa Nguyễn Văn Siêu; nếu triều - Trịnh cuốn Tính tiết yếu
của Bùi Huy Bích, thì triều Nguyễn cuốn đó vẫn còn được xem cuốn
sách giáo khoa mẫu mực. Chính điều này đã lược bớt rất nhiều điều, làm
mất rất nhiều điểm khả năng gợi mở, giản đơn hoá nội dung phong phú
súc tích của học thuyết khiến người học không lĩnh hội được chiều sâu
của Nho giáo. Người được truyền đạt cũng hài lòng với cách làm đó thì mọi
lối duy, mọi đường sáng tạo đều bị thu hẹp lại. Bên cạnh đó, Nho giáo
Việt Nam đã pha trộn với tưởng của Phật giáo, Đạo giáo và các tín
ngưỡng dân gian khác. Nhưng hạn chế lớn nhất là tập quán sùng bái thánh
hiền, giáo điều máy móc của giới Nho Việt Nam. Trong khi đó bên cạnh
Nho giáo còn nhiều trường phái tưởng khác như Đạo gia, Mặc gia,
Pháp gia... Giữa các trường phái này luôn có sự tranh luận, phản bác nhau.
Điều này khiến sự phát triển của Nho giáo Việt Nam hạn chế. Nó chđạt đến
mức độ tiếp thu một stín điều tNho giáo Trung Hoa, chưa tạo được
luận riêng, chưa xuất hiện các học phái khác nhau. Phương pháp duy của
nó thiên về bảo thủ, giáo điều
3. Quá trình thâm nhập của Nho giáo vào Việt Nam
3.1. Hán Nho đã được các quan lại Trung Hoa như Tích Quang, Nhâm Diên, Sỹ Nhiếp
ra sức truyền từ đầu Công nguyên. Tuy nhiên, đây thvăn hóa do kẻ xâm
lOMoARcPSD| 61463864
ợc áp đặt cho nên, suốt cả giai đoạn chống Bắc thuộc, Nho giáo chưa chỗ đứng
trong xã hội Việt Nam. Đến năm 1070, với sự kiện Lí Thánh Tông cho lập Văn Miếu
thChu Công, Khổng Tử, mới thể xem Nho giáo được ếp nhận thính thức.
Chính vì vậy Nho giáo Việt Nam chủ yếu Tống Nho chứ không phải Hán Nho,
Đường Nho hay Minh Nho, Thanh Nho.
Đời Trần Chu Văn An đào tạo được khá đông hc trò. Các nhà nho những lớp đầu
ên này ra sức bài xích Phật giáo đkhẳng định chỗ đứng của mình. Tuy nhiên, cho
đến gn cuối đời Trần, Nho giáo vẫn chưa được chấp nhận rộng rãi.
Trong cuộc kháng chiến 10 năm chống quân Minh (1418- 1408), các nhà nho Việt
Nam tập hợp dưới cờ Lợi đã những đóng góp to lớn. Sự lớn mạnh của Nho
giáo Việt Nam (điều kiện chủ quan) cùng với nhu cầu cải cách quản lí đất nước (yêu
cầu khách quan) đã dẫn đến việc triều đưa Nho giáo thành quốc giáo: sphát
triển của Nho giáo chuyển sang giai đoạn mới – giai đoạn Nho giáo độc tôn. Từ đó,
Nho giáo thịnh suy theo bước thăng trầm của triều đình: Thời thì Nho giáo
thịnh, chí đua nhau đi thi đra làm việc nước. Thời mạt thì Nho giáo suy, nhiều
nhà nhà xuất sắc (như Nguyễn Bình Khiêm) lui về ở ẩn. Nhà Nguyễn lên cầm quyền,
địa vị Nho giáo một lần nữa được khẳng định để rồi mất hẳn khi phải đối mặt với
sự tấn công của văn hóa phương Tây.
*Vai trò, ảnh hưởng
Tính từ khi bắt đầu du nhập cho đến lúc suy vong, Nho giáo đã lịch sử
1900 năm truyền Việt Nam. Thời Bắc thuộc, trong những thế kỷ đầu
công nguyên, các quan cai trngười Hán như Tích Quang (1 - 5), Nhâm Diên
(29 - 33), Nhiếp (187 - 226), Đỗ TuĐộ ầu thế kV) đã ra sức truyền
Nho giáo Giao Châu. Cũng trong thời kỳ này, các đoàn người Hán di
thực và tị nạn nối tiếp nhau kéo xuống Giao Châu, mang theo văn hóa Hán.
Tuy nhiên, đây thời kỳ văn hóa Việt - ờng đã đạt tới những thành
tựu đỉnh cao, có sức mạnh văn hóa nội tại, và khả năng chọn lọc, chuyển
hóa những yếu tố văn hóa mới du nhập để bồi bổ cho sức mạnh văn hóa
nội tại của mình. Trong khi đó, Nho giáo công ccủng cố thchế nhà
ớc của quân xâm lược. vậy, trải qua cả nghìn năm, Nho giáo vẫn không
thâm nhập được vào văn hóa Việt - ờng. Cư dân Việt - ờng vẫn bảo
tồn được văn hóa tộc người, ý thức tộc người, ý chí quật cường và nhu cầu
đấu tranh vì độc lập tự do.
lOMoARcPSD| 61463864
Phải đến thời kỳ tchủ, từ thế kỷ XI trở đi, Nho giáo mới được Nhà nước
phong kiến chú trọng đề cao. Để xây dựng, hoàn thiện thể chế nhà nước,
giai cấp phong kiến đã tìm thấy Nho giáo những lợi khí Phật giáo
Đạo giáo đương thời không có: sự thần hóa vương quyền, sự thiêng liêng
hóa quan hệ quân thần, những chuẩn mực nội dung đào tạo quan li
thích hợp để nối dài cánh tay quyền lực của nhà vua. Đến thời Hậu Lê, Nho
giáo vươn lên chiếm địa vị độc tôn trong văn hóa cung đình, đẩy Phật giáo
Đạo giáo xuống hàng tôn giáo dân gian. Nhưng Nho giáo vtrí hàng
“Quốc giáo” thật sự ở triều Nguyễn, một triều đại tập quyền tuyệt đối và triệt
để khai thác đạo lý tam cương, ngũ luân của Nho giáo để bảo vệ tôn ti quân
thần và quyền thống trvĩnh viễn của tông tộc nhà vua. Trên đỉnh cao quyền
lực, Nho giáo đã phát tác tối đa sức mạnh kìm hãm của nó, trở thành nguyên
nhân sâu xa của tình trạng loạn lạc trì trệ kéo dài suốt thế kỷ XIX cho đến
khi mất nước về tay Pháp. Từ đầu thế kỷ XX, cùng với sự suy tàn của nhà
ớc phong kiến giai cấp phong kiến, Nho giáo đã không còn ý thc
hệ chính thống cũng không còn đóng vai trò một tôn giáo chính thng
điều chỉnh hành vi và đạo đức như trước nữa. Sự đột khởi của phong trào
Duy Tân - Đông Du (1905 - 1908) đã đóng cây đinh cuối cùng vào nắp quan
tài của Nho giáo ở Việt Nam.
Điểm qua như vậy, có thể thy rằng, giai cấp phong kiến Việt Nam thượng
tôn Nho giáo không chdo nhu cầu xây dựng quốc gia, còn chủ yếu
vì Nho giáo có ích đối với việc cai trị nhân dân. Vì vậy, tuy có lúc thăng lúc
trầm, nhưng bao giờ Nho giáo cũng là chiếc phao chống đắm của các triều
đại phong kiến Việt Nam, kể từ khi vua Thánh Tông dựng Văn Miếu
Thăng Long năm 1070, cho đến khi triều đình Huế Hòa ước Quý Mùi
(năm 1883) giao chủ quyền quốc gia cho Pháp.
Do sự truyền chủ động kiên trì của giai cấp phong kiến, trong thời
trung đại, Nho giáo đã thẩm thấu vào một một bphận của chủ thể văn hóa
Việt Nam giai cấp quý tộc, quan lại tầng lớp nho sĩ, quan viên. Nho giáo
cũng bén rễ vào một bộ phận văn hóa tinh thần của xã hội, làm hình thành
dòng văn hóa quan phương chính thống bên cạnh các hoạt động văn hóa
tinh thần của dân gian. Bằng cách đó, văn hóa tinh thần của Việt Nam đã bị
Hán hóa một phần. Cũng bằng cách đó, Nho giáo đã được Việt hóa một
phần trong quá trình thâm nhập vào văn hóa Việt Nam.
lOMoARcPSD| 61463864
Do tác động từ Nho giáo nên sự phân hóa xã hội Việt Nam thêm sâu sắc,
chthvăn hóa Việt Nam bị chia đôi; hình thành tầng lớp nho sĩ, giai cấp
quý tộc, quan lại theo hình mẫu Nho giáo, tồn tại bên cạnh các giai cấp, tầng
lớp sẵn có của xã hội Việt Nam xưa (nông dân, thợ thủ công, thương nhân).
Tầng lớp nho quan lại ấy trách nhiệm kinh bang tế thế, trị quốc an
dân, tùy theo thời thế chọn lựa cách ứng xử, xuất và xử, hành
tàng. Còn các giai cấp, tầng lớp lao động thì trách nhiệm bảo đảm nhu
cầu vật chất cho các giai cấp, tầng lớp bên trên và cho bản thân mình.
Lịch sViệt Nam rất nhiều nhà nho có phẩm hạnh, khí tiết cao cả, như
Mạc Đĩnh Chi, Chu Văn An, Nguyễn Trãi, Nguyễn Bỉnh Khiêm, Trường
Toản, Ngô Tùng Châu, Trịnh Hoài Đức, Quang Định, Ngô Nhân Tĩnh,
Nguyễn Công Trứ, Phan Thanh Giản, Trần Tiễn Thành, Nguyễn Đình Chiểu,
Nguyễn Khuyến, Nguyễn Huy Đức, Nguyễn Thức Tự, Khiếu Năng Tĩnh, Trần
Đình Phong, Lương Văn Can, Phan Bội Châu, Đặng Nguyên Cẩn, Ngô Đức
Kế, Phan Châu Trinh, Hunh Thúc Kháng, Trần Quý Cáp,... Những nhà nho
này, lúc nh thời hay khi vận nước gian nan, vẫn tỏ khí tiết và phẩm
hạnh, đồng thời có thái độ và hành động vì nước, vì dân.
Trong các hoạt động văn hóa, Nho giáo tác động chủ yếu vào các hoạt động
văn hóa tinh thần. Trong văn hóa tổ chức cộng đồng, cấp độ gia đình, Nho
giáo phối hợp với văn hóa Hán làm hình thành chế độ gia đình phụ hệ đi đôi
với nam quyền cực đoan, tồn tại song hành với truyền thống trọng nam đi
đôi với trọng nữ của văn hóa dân gian. Trong gia đình, gia tộc, quốc gia, Nho
giáo trực tiếp làm hình thành chế độ tông pháp, trao quyền thừa kế, thừa tự
cho con trai trưởng chính dòng, song hành với tập quán trao quyền thừa kế,
thừa tcho con trai út của dân gian. Trên bình diện quốc gia, Nho giáo
sở làm hình thành tổ chức nhà nước của Đại Việt, bao gồm hệ thống hành
chính, tchức quân sự, quan chế, lương bổng... mô phỏng Trung Hoa, tn
tại song hành với tổ chc cộng đồng cấp làng quê ra đời từ thời Văn Lang -
Âu Lạc.
Về tín ngưỡng, nhà nho Việt Nam coi Nho giáo như tôn giáo; gạt bỏ, bài
xích các tôn giáo khác ngoại trừ những nội dung được Nho giáo chấp nhận
khuyến khích, như lòng tin vào thiên mệnh, việc tế lễ, việc thờ cúng tổ
tiên... vậy, trong Nho giáo tôn giáo của đàn ông người Việt, bên cạnh
các tôn giáo dành cho các bà các cô như đạo Phật, đạo Mẫu...
lOMoARcPSD| 61463864
Về phong tục, sự tác động của Nho giáo văn hóa Hán đã làm Hán hóa
một phần các phong tục vòng đời, đặc biệt phong tục hôn nhân, phong
tục tang ma. Trong thời trung đại, các phong tục này đều lấy hình mẫu ca
Nho giáo văn hóa Hán làm chuẩn mực. Chính vậy cho đến ngày
nay, vẫn còn nhiều người viết sách tcác phong tục nghi thức y
trong văn hóa Việt Nam hiện đại như thể chúng bản sao của phong tục
Trung Hoa trung đại! Thật ra, bên cạnh các phong tục hôn nhân, phong tc
tang ma theo hình mẫu của Nho giáo và văn hóa Hán trước đây, người Việt
các vùng miền khác nhau các tôn giáo Việt Nam đều cách thức
riêng để thực hiện các phong tục y.
Trong giáo dục, Nho giáo sở hình thành hệ thống giáo dục chính thống
của Việt Nam trung đại bốn cấp kinh đô - tỉnh/đạo - phhuyện/châu,
chế độ thi tuyển gồm bốn cấp khảo hạch - thi Hương - thi Hội - thi Đình, đ
đào tạo ra quan lại nhà nước, quan viên làng xã. Hệ thống giáo dục chính
thống này tồn tại song hành với mạng lưới giáo dục dân gian trong gia đình,
làng xóm, làng nghề, nhằm giáo dục cách ứng xử với gia đình, cha mẹ, ông
bà, ttiên, họ hàng, làng xóm, thần linh... Trong lịch sử 844 năm khoa c
Hán học Việt Nam (1075 - 1919), nền giáo dục Nho giáo đã tạo ra hàng
nghìn ông Nghè, ông Cử, ông trong sđó nhiều người đã nổi lên
thành nhà văn hóa hay nhà khoa học, như nhà shọc Văn Hưu, danh
nhân văn hóa thế giới Nguyễn Trãi, nhà sử học Ngô Liên, Trạng Lường
Lương Thế Vinh, Trạng Trình Nguyễn Bỉnh Khiêm,
Trạng Bùng Phùng Khắc Khoan, nhà bác học Lê Quý Đôn, thi hào Nguyễn
Du, nhà bác học Phan Huy Chú…
Về văn học nghệ thuật, Nho giáo đã góp phần làm hình thành các thể văn
khoa c(kinh nghĩa, chiếu, biểu, luận, văn sách, thơ, phú...), các thloi
văn học phỏng Trung Hoa (thơ Đường luật, phú, từ, đối...), các điển tích
văn học, các sách giáo khoa truyền thụ Nho giáo, các tác phẩm văn học và
nghthuật chịu ảnh hưởng của Nho giáo. Những sản phẩm ấy làm thành
dòng văn học nghệ thuật quan phương chính thống, tồn tại song hành vi
dòng văn học dân gian, nghệ thuật dân gian.
Về ngôn ngữ và văn tự, quá trình tiếp biến văn hóa Hán nói chung, Nho giáo
nói riêng đã để lại dấu ấn sâu đậm trong ngôn ngữ và chữ viết Việt Nam.
Về ngâm, tiếng Việt, tiếng Mường đã biến đổi các phụ âm cuối, hình thành
thanh điệu rơi rụng các âm tiết phụ của thời Môn - Khơme; riêng tiếng

Preview text:

lOMoAR cPSD| 61463864
Đề cương cơ sở văn hóa Việt Nam
Câu 1:Phân tích một quan niệm về văn hóa mà anh/chị cho là tiêu biểu
nhất? Phân biệt văn hóa với văn minh, lấy ví dụ cụ thể từ nền văn hóa Việt Nam. A,
*Quan niệm về văn hóa của Hồ Chí Minh:”Vì lẽ sinh tồn cũng như mục
đích của cuộc sống, loài người mới sáng tạo và phát minh ra ngôn ngữ,
chữ viết, đạo đức, pháp luật, khoa học, tôn giáo, văn học, nghệ thuật,
những công cụ cho sinh hoạt hằng ngày về ăn, mặc, ở và các phương thức
sử dụng toàn bộ những sáng tạo và phát minh đó tức là văn hóa. Văn hóa
là sự tổng hợp của mọi phương thức sinh hoạt cùng với biểu hiện của nó
mà loài người đã sản sinh ra nhằm thích ứng những nhu cầu đời sống và
đòi hỏi của sự sinh tồn”. *Phân tích quan niệm:
-Quan niệm đã nêu ra cấu trúc của văn hóa, bao gồm: +Văn hóa vật chất +Văn hóa tinh thần
+Tổng hợp phương thức sinh hoạt
-Quan niệm bàn đến đặc trưng của văn hóa: tính vị nhân sinh, được thể
hiện ở hai phương diện: con người là chủ thể sáng tạo ra văn hóa, đồng
thời cũng là chủ thể hưởng thụ văn hóa.
-Nhấn mạnh chức năng của văn hóa, trong đó có hai chức năng quan
trọng là: duy trì đời sống xã hội, phục vụ đời sống của con người và từ đó
nâng cao giá trị của cuộc sống. lOMoAR cPSD| 61463864
-Nhìn nhận các vấn đề trong quan hệ logic tổng hợp.
-Về hình thức: phát biểu mang tính chất quan niệm, không phải học thuật.
B, Phân biệt văn hóa với văn minh: Văn hóa Văn minh
-Văn hóa có đặc trưng lịch sử truyền -Văn minh gắn với hiện đại và thành
thống. Ta có thể chứng minh qua tựu khoa học kĩ thuật hiện đại. Nói
nền văn hóa Việt Nam giàu truyền dến văn minh, ta thường nhớ đến
thống lịch sử: truyền thống yêu một nét nghĩa chung là “trình độ
nước, uống nước nhớ nguồn, yêu phát triển”, một lát cắt đồng đại. Ví thương đồng loại…
dụ nền ta nói văn minh nhân loại
phát triển rực rỡ với sự ra đời của
-Là một quá trình tích lũy và được điện và hệ thống máy móc hiện đại.
sang lọc lâu dài. Văn hóa Việt Nam -Là những sáng tạo, phát kiến mang
trải qua mấy ngàn năm đã giữ lại tính cá nhân. Ví dụ như Thomas
được nhiều nét văn hóa đẹp, giàu Edison phát minh ra bóng đèn,
bản sắc và loại bỏ đi những văn hóa Anbe phát minh ra chiếc máy tính
cổ hủ, không theo kịp thời đại(trọng đầu tiên…
nam khinh nữ, tảo hôn,..) -Mang -Mang giá trị phổ thông toàn nhân
tính cộng đồng, dân tộc, bản sắc. loại, quốc tế. Văn minh mang nét
Văn hóa Việt Nam không được tạo nghĩa rộng lớn, là thành quả của
từ một người, hay một nhóm người toàn nhân loại, được toàn thể con
mà là thành quả chung của cộng
đồng người Việt, từ nhiều dân tộc người công nhận và sử dụng. -Thay
Việt. Vì vậy mà trở nên vô cùng đa đổi liên tục. Để phù hợp với sự thay
dạng và đậm dà bản sắc
đổi của xã hội, văn minh biến đổi
-Được bảo lưu, duy trì, ổn định, gắn theo. Trước kia,con người luôn cho
với thói quen, tập quán, tâm linh. rằng trái đất đứng yên nhưng đến
Dân tộc Việt Nam duy trì được thế kỉ 17,con người đã thay đổi
nhiều nét đẹp văn hóa như
cách nhìn và cho rằng trái lOMoAR cPSD| 61463864
thờ cúng tổ tiên, biết ơn,…
đất quay quanh mặt trời.
-Văn hóa gắn bó với nhiều hơn vơi -Văn minh gắn bó nhiều hơn với
phương Đông nông nghiệp. Văn phương Tây đô thị. Phương Tây có
hóa Việt Nam được hình thành ven nhiều phát minh hiện đại.
lưu vực các con song lớn, thuân lợi
cho sản xuất nông nghiệp.
Câu 2: Trình bày đặc trưng và chức năng của văn hóa
*Đặc trưng của văn hóa
Các nhà nghiên cứu về văn hóa trong và ngoài nước đúc kết thành nhiều
đặc trưng của văn hóa, trong đó nổi bật nhất bà bốn đặc trưng cơ bản sau:
- Một là, tính hệ thống. Văn hóa là một hệ thống hữu cơ các giá trị về văn
hóa vật chất, văn hóa xã hội và văn hóa tinh thần của cộng đồng người. Từ
những thành tố căn bản này đã nẩy sinh và bao gồm những tập hợp nhỏ
nhiều tầng bậc khác nhau tạo thành một tổng thể phức tạp, phong phú.
- Hai là, tính giá trị. Văn hóa bao gồm các giá trị (giá trị thuộc về đời sống
vật chất, giá trị thuộc về đời sống tinh thần) trở thành thước đó về mức độ
nhân bản của xã hội và con người. Trong lịch sử phát triển của nhân loại có
giá trị của văn hóa để tồn tại và có giá trị của văn hóa để phát triển.
- Ba là, tính lịch sử. Văn hóa bao giờ cũng được hình thành qua một quá
trình và được tích lũy qua nhiều thế hệ, là những thành tựu do cộng đồng
người trong quá trình tương tác với môi trường tự nhiên và xã hội mà được
sáng tạo và luôn hướng tới sự hoàn thiện để đạt đến tính giá trị.
- Bốn là, tính nhân sinh. Văn hóa là một hiện tượng thuộc về xã hội loài
người, gắn liền với hoạt động thực tiễn của con người, là những giá trị do
một cộng đồng người sáng tạo ra, thuộc về con người, ở trong con người
và mang dấu ấn người. Điều đó cho thấy, con người vừa là chủ thể của văn
hóa, đồng thời là khách thể của văn hóa, lại vừa là sản phẩm văn hóa.
*Chức năng của văn hóa:
+Chức năng tổ chức xã hội lOMoAR cPSD| 61463864
+Chức năng điều chỉnh xã hội +Chức năng giao tiếp +Chức năng giáo dục
*Phân tích một đặc trưng và chức năng của văn hóa:
Đặc trưng quan trọng của văn hóa là tính giá trị. Văn hóa theo nghĩa đen nghĩa là “trở
thành đẹp, thành có giá trị”, tính giá trị cần để phân biệt giá trị với phi giá trị. Nó là thước
đo mức độ nhân bản của xã hội và con người.
Các giá trị văn hóa, theo muc đích cố thể chia thành giá trị vật chất (phục vụ cho nhu cầu
vật chất) và giá trị tinh thần (phục vụ cho nhu cầu tinh thần), theo ý nghĩa có thể chia
thành giá trị sử dụng, giá trị đạo đức và giá trị thấm mĩ theo thời gian có thể phân hiệt các
giá trị vĩnh cừu và giá trị nhất thời. Sự phân biệt các giá trị theo thời gian cho phép ta có
đươc cái nhìn hiện chứng– và khách quan trong việc đánh giá tính giá trị của sự vật, hiện
tượng; tránh được những xu hướng cực đoan – phủ nhận sạch trơn hoặc tán dương hết lời.
Vì vậy mà, về mặt đồng đại, cùng một hiện tượng có thể có giá trị nhiều hay ít tùy theo
góc nhìn, theo bình diện được xem xét. Muốn kết luận một hiện tượng có thuộc phạm trù
văn hóa hay không phải xem xét mối tương quan giữa các mức độ “giá trị” và “phi giá trị”
của nó. về mặt lịch đại, cùng một hiện tượng sẽ có thể có giá trị hay không tùy thuộc vào
chuẩn mực văn hóa cùa từng giai đoạn lịch sử. Áp dụng vào Việt Nam, việc đánh giá chế
độ phong kiến, vai trò của Nho giáo, các triều đại nhà Hồ, nhà Nguyễn… đều đòi hỏi một
tư duy biện chứng như thế.
Nhờ thường xuyên xem xét các giá trị mà văn hóa thực hiện được chức năng quan trọng
thứ hai là chức năng điều chỉnh xã hội, giúp cho xã hội duy trì được trạng thái cân bằng
động, không ngừng tự hoàn thiện và thích ứng với những biến đổi của môi trường, giúp
định hướng các chuẩn mực, làm động lực cho sự phát triển của xã hội. *Lấy ví dụ chứng minh
Câu 3:Văn hóa Việt Nam thuộc về loại hình văn hóa gốc nông nghiệp
điển hình với những đặc trưng chủ yếu sau đây:
Do vị trí địa lý nằm ở góc tận cùng phía Đông-Nam Châu Á nên Việt Nam
thuộc loại hình văn hóa gốc nông nghiệp trồng trọt điển hình. Tất cả những lOMoAR cPSD| 61463864
đặc trưng của loại hình văn hóa gốc nông nghiệp trồng trọt đều được thể
hiện rất rõ nét trong đặc trưng văn hóa Việt Nam.
-Trong ứng xử với môi trường tự nhiên luôn có ý thức tôn trọng và sống hòa
hợp với thiên nhiên, tôn sùng thiên nhiên, thể hiện đức hiếu sinh Cư dân
Việt Nam chủ yếu sinh sống bằng nghề nông, trong cách ứng xử với tự
nhiên, do nghề trồng trọt buộc người dân phải sống định cư để chờ cây cối
lớn lên, đơm hoa, kết trái và thu hoạch, từ đó ưa thích lối sống ổn định, cho
rằng” An cư lạc nghiệp” . Do sống phụ thuộc vào thiên nhiên nên cư dân
nông nghiệp có ý thức tôn trọng và ước vọng sống hòa hợp với thiên nhiên.
Người Việt Nam mở miệng ra là nói “ nhờ trời”, “lạy trời”… Các tín ngưỡng
và lễ hội sung bái tự nhiên rất phổ biến ở các tộc người trên khắp mọi vùng đât nước.
- Vì sống bằng kinh tế nông nghiệp, nhất là nông nghiệp lúc nước, ở đócon
người có sự phụ thuộc vào các hiện tượng tự nhiên (như trời, đất, nước,
nắng, mưa...), nên trong nhận thức đã hình thành một lối tư duy tổng hợp,
trọng quan hệ, trọng tình biện chứng, thiên về kinh nghiệm, trực giác, cảm
tính và duy linh (linh cảm).
Vì nghề nông, nhất là nghề nông nghiệp lúa nước, cùng một lúc phụ thuộc
vào nhiều yếu tố thiên nhiên như : thời tiết, nước, khí hậu,... “ trông trời,
trông đất, trông mây; trông mưa, trông gió, trông ngày, trông đêm…” nên về
mặt nhận thức, hình thành nên lối tư duy tổng hợp- biện chứng, nặng về
kinh nghiệm chủ quan cảm tính: sống lâu lên lão làng, trăm hay không bằng
tay quen… Người làm nông quan tâm không phải là từng yếu tố riêng lẻ mà
là những mối quan hệ giữa chúng. Người Việt tích lũy được một kho kinh
nghiệm hết sức phong phú về các loại quan hệ này: Quạ tắm thì ráo, sáo
tắm thì mưa; Được mùa lúa thì úa mùa cau, được mùa cau thì đau mùa lúa;
Chuồn chuồn bay thấp thì mưa, bay cao thì nắng, bay vừa thì râm…
-Trong tổ chức cộng đồng, con người nông nghiệp ưa tổ chức xã hội theo
nguyên tắc trọng tình, chuộng sự hòa thuận, tương trợ, quan tâm đến những láng giềng.
- Lối sống trọng tình đưa đến thái độ trọng đức, trọng văn, trọng Mẫu đềcao nguyên lý Mẹ.
- Nguyên tắc trọng tình cũng là cơ sở của tâm lí hiếu hòa, chuộng sự
bìnhđẳng, dân chủ, đề cao tính cộng đồng, tính tập thể.
Về mặt tổ chức cộng đồng, người Việt có lỗi sống cố định lâu dài nên tạo ra
những mối quan hệ tình cảm thân thiết, gắn bó, hình thành nên lối sống
trọng tình.. Nhưng cũng từ đây hình thành lối sống tự trị, khép kín, hướng lOMoAR cPSD| 61463864
nội. Lỗi sống trọng tình cảm tất yếu dẫn đến thái độ trọng đức, trọng văn,
trọng phụ nữ. Trong ngôi nhà của người Việt rất coi trọng gian bếp, thể hiện
sự coi trọng phụ nữ. Người Việt coi: Nhất vợ nhì trời; Lệnh ông không bằng
cồng bà… Người phụ nữ cũng được xem là người có vai trò quyết định trong
việc giáo dục con cái: Phúc đức tại mẫu; Con dại cái mang… Sự gắn bó
cộng đồng tạo nên lối sống trọng tình nghĩa: Lá lành đùm lá rách; Bầu ơi
thương lấy bí cùng…; các quan hệ ứng xử thường đặt lý cao hơn tình: Một
bồ cái lý không bằng một tí cái tình.
- Lối tư duy tổng hợp biện chứng, cộng với nguyên tắc trọng tình dẫn đếnlối
sống linh hoạt, luôn ứng biến cho phù hợp với từng hoàn cảnh cụ thể. - Tư
duy tổng hợp và phong cách linh hoạt của văn hóa nông nghiệp còn quy
định thái độ dung hợp trong tiếp nhận các yếu tố khoan dung trong ứng xử,
mềm dẻo trong đối phó.
Lối tư duy tổng hợp – biện chứng, luôn đắn đo cân nhắc của người làm nông
nghiệp cộng với nguyên tắc trọng tình đã dẫn đên lối sống linh hoạt, luôn
thay đổi để thích hợp với từng hoàn cảnh: Ở bầu thì tròn, ở ống thì dài; Đi
với bụt mặc áo cà sa, đi với ma mặc áo giấy; … Mặt trái của tính linh hoạt là
thói tùy tiện biểu hiện ở tật co giãn giờ giấc, sự thiếu tôn trọng pháp luật, tệ
đi “ cửa sau” để giải quyết công việc( Nhất quen, nhì thân, tam thần, tứ thế).
Vì sống theo tình cảm nên mọi người phải biết tôn trọng và cư xử bình đẳng,
dân chủ với nhau. Lối sống trọng tình và cách cư xử dân chủ dẫn đến tâm
lý coi trọng cộng đồng, coi trọng tập thể. Người nông nghiệp làm gì cũng
phải tính đến tập thể, luôn có tập thể sau lưng.
Trong lối ứng xử với môi trường xã hội, tư duy tổng hợp vfa phong cách linh
hoạt còn quy định thái độ dung hợp trong tiếp nhận: ở Việt Nam không những
không có chiến tranh tôn giáo mà mọi tôn giáo đều được tiếp nhận. Đối phó
với các cuộc chiến tranh xâm lược người Việt Nam luôn hết sức mềm dẻo, hiếu hòa.
Như vậy, hầu như tất cả những đặc trưng của loại hình văn hóa gốc nông
nghiệp trồng trọt đều được thể hiện rõ nét trong cách tố chức đời sống,
phương thức tư duy, lối ứng xử của người Việt truyền thống.
- Tuy nhiên, mặt trái của tính linh hoạt và trọng tình là nó dẫn đến thái độ tùy
tiện, coi thường tính nguyên tắc, ý thức tổ chức kỷ luật kém. Văn minh nông
nghiệp kéo dài đã làm chậm sự phát triển của tiến trình lịch sử Việt Nam,
không tạo ra được những tiền đề và điều kiện để bức ra khỏi cái khung
phong kiến phương Đông, làm hạn chế tính năng động, sáng tạo của con
người Việt Nam và dẫn đến sự trì trệ của xã hội Việt Nam. lOMoAR cPSD| 61463864
Câu 4: Vai trò của văn hóa trong sự phát triển
*Văn hóa là nền tảng tinh thần của xã hội
-Đào tạo con người theo các giá trị chân-thiện-mĩ
-Hình thành trong phẩm chất mọi thành viên trong xã hội ý thức phát huy
các tiềm năng về thể lực, trí lực và nhân cách
-Tích cực xây dựng một môi trường văn hóa lành mạnh để có đủ sức đề
kháng đẩy lùi các tiêu cực xã hội, bài trừ những văn hóa phản tiến bộ.
*Văn hóa là động lực thúc đẩy sự phát triển của xã hội
-Sự phát triển của một dân tộc gắn liền với cái mới nhưng không tách rời cội nguồn, văn hóa
-Con người là nhân tố có vai trò quan trọng và là không thể thiếu trong sự
phát triển của kinh tế, xã hội
-Văn hóa có khả năng tiếp thu và cải biên những yếu tố văn hóa ngoại sinh
để biến thành ngoại lực thúc đẩy sự phát triển của kinh tế, xã hội
-Văn hóa sẽ giải phóng và nhân lên mọi tiềm năng sáng tạo của con người
trong mọi lĩnh vực đời sống xã hội mà trước hết là kinh tế
*Văn hóa là mục tiêu của sự phát triển
-Mục tiêu của sự phát triển ở nước ta: “Dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh”
Trong chiến lược phát triển kinh tế 2011-2020:
-Xác định: phát huy tối đa nhân tố con người, con người là chủ thể, nguồn
lực chủ yếu và là mục tiêu của sự phát triển”
-Yêu cầu: Tăng trưởng kinh tế kết hợp hài hòa với phát triển văn hóa, thực
hiện công bằng xã hội, không ngừng nâng cao chất lượng cuộc sống của nhân dân”.
*Văn hóa là mục tiêu của sự phát triển
-Phát triển phải hướng tới mục tiêu văn hóa- xã hội mới đảm bảo được sự
bền vững và trường tồn cho sự giàu mạnh của tổ quốc.
Văn hóa có vai trò đặc biệt quan trọng trong việc bồi dưỡng, phát huy nhân
tố con người và xây dựng xã hội mới.Văn hóa giúp mở rộng hiểu biết, nâng
cao dân trí, giúp bồi dưỡng tư tưởng đúng đắn và tình cảm cao đẹp cho con
người, cho nhân dân Việt Nam lí tưởng độc lập dân tộc gắn với chủ nghĩa
xã hội, đồng thời bồi dưỡng phong cách, lối sống lành mạnh, hướng con
người đến chân-thiện-mĩ để hoàn thiện bản thân. lOMoAR cPSD| 61463864
Câu 5: Trình bày vai trò của Phật giáo trong đời sống văn hóa Việt Nam
Đạo Phật truyền bá ở Việt Nam tính đến nay đã gần 2000 năm, trải
qua các thời kỳ lịch sử của đất nước, Phật giáo từ lâu vốn đã đi sâu
vào quần chúng nhân dân Việt Nam, gắn bó với sinh hoạt cộng đồng
của người Việt, một sự gắn bó tự nhiên không do áp đặt của chính
quyền, cả khi Phật giáo được tôn là Quốc giáo...

Nguồn gốc đạo Phật
Dạo Phật là một trong những tôn giáo lớn của thế giới, được ra đời vào
khoảng thế kỷ VI trước công nguyên, ở vùng phía Tây Bắc Ấn do thái tử
Tất Đạt Đa sáng lập, hiệu là Sakyamuni (Thích Ca Mâu Ni).
Đạo Phật ra đời trong hoàn cảnh rối ren của xã hội Ấn Độ bấy giờ. Thế kỷ
VI trước Công nguyên, lúc này Ấn Độ đang trong thời kỳ chiếm hữu nô lệ.
Sự phân chia đẳng cấp ngặt nghèo sâu sắc. Thời kỳ này xã hội Ấn Độ chia
làm bốn đẳng cấp cách biệt nhau…. Đẳng cấp Bà la môn (địa vị cao nhất);
đẳng cấp Sát đế lỵ (dòng họ vua quan, quý tộc); đẳng cấp Vệ xá (gần những
người giàu có, buôn bán thủ công), đẳng cấp Thủ đà la (nô lệ). Ngoài ra còn
có một tầng lớp người thuộc hàng cùng khổ dưới đáy xã hội, bị mọi người
khinh rẻ. Trước khi có sự ra đời của đạo Phật, mâu thuẫn giữa các đẳng
cấp trên hết sức gay gắt được thể hiện trong những cuộc đấu tranh mang
tính chất toàn xã hội. Cùng thời điểm này Ấn Độ đã và đang diễn ra cuộc
đấu tranh giữa các nhà duy vật và duy tâm, đấu tranh giữa các tôn giáo, bởi
lẽ bên cạnh sự thống trị của đạo Bà la môn còn có sự hiện diện của Phệ đà
giáo và một số giáo phái khác, đồng thời tư tưởng duy vật thô sơ và tư duy
biện chứng đã xuất hiện.
Hoàn cảnh xã hội và những tư tưởng quan niệm trên đã trực tiếp hoặc
gián tiếp góp phần thúc đẩy sự ra đời của đạo Phật.
Bỏ qua những truyền thuyết về Tất Đạt Đa tìm đường cứu khổ cho chúng
sinh mà sáng lập ra đạo Phật thì có thể thấy rằng thực chất Phật giáo ra
đời là do kết quả của cuộc đấu tranh gay gắt giữa các giai cấp, đấu tranh
giữa thần quyền và thế quyền, giữa những người nắm kinh tế của xã hội
và những người nắm tư tưởng xã hội. Cuộc đấu tranh ấy đã lôi kéo đông
đảo quần chúng nghèo khổ tham gia, thay bằng thành quả bình đẳng thật
sự nơi trần gian, quần chúng đã nhận được sự bình đẳng trong tư tưởng,
nơi gọi là cõi Niết bàn của nhà Phật. lOMoAR cPSD| 61463864
Giáo lý của đạo Phật tập trung vào hai vấn đề, một là sự khổ não, hai là sự
giải thoát ra khỏi khổ não ấy. Khổ não là bởi sự luân hồi, thoát khỏi vòng
luân hồi thì khỏi khổ, mà muốn thoát khỏi vòng luân hồi thì phải bỏ hết tham,
sân, si trên trần thế. Khi thoát khỏi vòng luân hồi con người mới chứng được
trạng thái Niết bàn, Cực lạc.
Đạo Phật là một tôn giáo vô thần, không cùng bản chất như mọi tôn giáo
khác. Đạo Phật còn có một số đặc điểm riêng: Đạo Phật không quan niệm
về đấng sáng tạo ra thế giới. Thế giới tự nó vận động, phát triển thông qua
luật vô thường nhân quả. Sự vận động ấy diễn ra trong không gian và thời
gian, đạo Phật sơ kỳ ở Tiểu thừa mang nhiều tính duy vật những quan
niệm của đạo Phật về thế giới về con người, về vận động mang hình thức
biện chứng. Các giáo lý đạo Phật chứa đựng nhiều nội dung đạo đức,
hướng thiện. Đồng thời cũng phủ nhận một cách gián tiếp những mâu
thuẫn, xung đột xã hội.
Đạo Phật Việt Nam
Với những đặc điểm đó, cùng với giáo lý của mình đạo Phật đã tìm được
chỗ đứng của mình trong lòng xã hội Việt Nam.
Đạo Phật được truyền bá vào Việt Nam ngay từ đầu Công nguyên bằng
hai con đường; đường thủy thông qua con đường buôn bán với thương
gia Ấn Độ. Đường bộ thông qua giao lưu văn hóa với Trung Quốc mà
Trung Quốc khi ấy cũng tiếp nhận Phật giáo được truyền bá từ Ấn Độ.
Như vậy Phật giáo Việt Nam mang cả sắc thái Phật giáo Ấn Độ và Trung Quốc.
Đạo Phật truyền vào Việt Nam không phải thông qua con đường chiếm lược,
không phải do sự cưỡng chế của Trung Hoa mà thông qua đường giao
thương buôn bán. Đạo Phật đến bằng con đường hòa bình, những giáo lý
của đạo Phật về bình đẳng, bắc ái, cứu khổ cứu nạn…gần gũi với cư dân
Việt Nam do đó dễ được chấp nhận. Mặt khác thời kỳ này còn có các tín
ngưỡng bản địa của cư dân nông nghiệp lúa nước, cộng với sự tồn tại của
Nho giáo, đạo lão được Trung Quốc truyền vào, tuy
nhiên các tín ngưỡng, tôn giáo đó còn có nhiều mặt khuyết thiếu đối với
đời sống tâm linh cộng đồng và đạo Phật đã bổ sung vào chỗ thiếu hụt
đấy. Vì vậy đạo Phật ở Việt Nam được giao thoa bởi các tín ngưỡng bản địa.
Đạo Phật truyền bá ở Việt Nam tính đến nay đã gần 2000 năm, trải qua các
thời kỳ lịch sử của đất nước, Phật giáo từ lâu vốn đã đi sâu vào quần chúng
nhân dân Việt Nam, gắn bó với sinh hoạt cộng đồng của người Việt, một sự
gắn bó tự nhiên không do áp đặt của chính quyền, cả khi Phật giáo được lOMoAR cPSD| 61463864
tôn là Quốc giáo. Sự tồn tại lâu dài của Phật giáo trong đời sống kinh tế,
chính trị, xã hội đã đem lại những đóng góp đáng kể cho văn hóa, tư tưởng,
kinh tế, chính trị trong diễn trình lịch sử Việt Nam.
Người ta thường xếp tôn giáo vào phạm trù văn hóa, Phật giáo là một sự
kiện tôn giáo, cũng là một sự kiện văn hóa. Phật giáo truyền từ Ấn Độ sang
Việt Nam vốn không phải là một sự kiện đơn độc, mà kéo theo nó (hoặc
trước, hoặc sau, hoặc đồng thời với nó) là cái ảnh hưởng của tổng thể văn
hóa Ấn Độ đối với văn hóa Việt Cổ, ảnh hưởng ấy diễn ra trên nhiều lĩnh
vực như: Nông nghiệp, y dược, âm nhạc vũ đạo ngôn ngữ… Điều quan
trọng là văn hóa Việt cổ tiếp thu một lượng quan trọng ảnh hưởng của văn
hóa Ân Độ qua ngả đường Phật giáo vào suốt thời Bắc thuộc, khi ảnh hưởng
của văn minh Trung Hoa tràn lên trên đất Việt và mang khuynh hướng đồng hóa rõ rệt.
Ngoài đóng góp làm cho văn hóa Việt Nam thêm phong phú, khách quan
mà nói ảnh hưởng của văn hóa Ấn Độ là một đối trọng của ảnh hưởng văn
hóa Trung Hoa trên đất Việt. Nó có tác dụng trung hòa ảnh hưởng quá mạnh
mẽ vào nền văn minh Trung Hoa; nó góp sức cùng cơ tầng văn hóa Việt cổ
ngăn chặn khuynh hướng đồng hóa của văn minh Trung Hoa, nó được hội
nhập vào văn hóa Việt Nam làm giàu thêm nền văn hóa Việt, góp phần làm
nên cái khác của văn hóa Việt so với văn hóa Trung Hoa. Lấy một ví dụ cụ
thể: Ở Thăng Long đời Lý, Hoàng Thành Thăng Long mở 4 cửa, nếu ở phía
cửa Bắc thờ thánh Trấn Vũ – Trấn Vũ là một vị thần linh Trung Hoa được
hội nhập vào đất Việt thì ở cửa Đông lại thờ thần Bạch Mã là ảnh hưởng
của Ấn Độ, và cửa Tây Long thành được mang tên “Quảng Phúc Môn”, mở
ra phía Tây để mong phúc lớn rộng “phúc đẳng hà sa” của đức Phật ở Tây Thiên.
Và đạo Phật trong buổi đầu thời Bắc thuộc và chống Bắc thuộc là một đối
tượng của Nho giáo mà Trung Hoa đem sang Việt Nam. Khi mà Phật giáo
bị suy sút ở thượng tầng, thì ở chốn làng quê “cơ sở hạ tầng” Phật giáo lại
tỏa ra dân chúng. Thời Lý Trần Phật giáo là Phật giáo quý tộc, còn sang
thời Lê Nguyễn Phật giáo là Phật giáo dân gian, nhân gian (hay là được
dân gian hóa – từ sau thế kỷ XV). Nếu như Quân chủ Việt Nam dựng ra cái
đình ở làng quê với tư cách như một “tiểu triều đình” trọng nam khinh nữ ở
chốn đình Trung, thì dân dã quê Việt Nam vẫn giữ và dựng cái chùa, cái
“chùa làng” của dân gian chứ không phải cái quốc tự của triều đình và
những ai trước hết là nữ giới bị loại bỏ khỏi sinh hoạt đình Trung thì đã có
một tổ chức, một trung tâm sinh hoạt tâm linh là ngôi chùa. Thời nhà Lê, lOMoAR cPSD| 61463864
Nguyễn “đất vua, chùa làng” (đất của vua, chùa của làng) tức “chùa làng”
đã trở thành đối trọng của đình làng, và bảo trợ cho một quá nửa lực lượng
của dân tộc là “đàn bà”. Chính từ sự bảo trợ này mà Phật giáo Việt Nam có
được chỗ đứng thêm vững vàng trên đất Việt. Khi đạo Phật vào Việt Nam,
nếu nó chỉ có một kinh điển bất động không thôi thì sẽ không có tác dụng
chủ yếu nào cả, mà tác dụng của nó như thế nào là do sự tổ chức, tuyên
truyền giáo dục cải tạo của những người tiên phong thấm nhuần sâu sắc
học thuyết Phật giáo. Lúc bấy giờ đã có những vị thiền sư Việt Nam ý thức
và chấp nhận tính nhân đạo đại trí, đại dũng của Phật giáo, phù hợp với
tinh thần anh dũng bất khuất, lòng thương người khổ đau và đặc tính phân
biệt thiện ác, chánh tà của quần chúng nhân dân Việt Nam ta. Từ sự thấm
nhuần tư tưởng Phật giáo xây dựng con người tốt cá biệt gắn liền với phát
huy bản chất con người xã hội “Chư ác mạc tác – chúng thiện phụng hành
Tự tịnh kỳ ý – Thị chư Phật giáo”
Không hành ác tức không làm cho mình trở thành một tội khổ cho mình và
cho người khác, là lời khuyên đầu tiên của đức Phật, tiếp theo là sự hành
thiện, là hãy trở nên một phúc báu cho mình và cho người khác, lời kêu gọi
cuối cùng là tự giữ tư tưởng cho trong sáng, đó là các điều giáo dục của
Phật. Đối với các quốc gia dân tộc khác, lời dạy của Phật trên đây có thể chỉ
có tầm giáo dục về tâm lý hay luân lý thông thường. Nhưng đối với hoàn
cảnh và tình hình đất nước ta ngay từ xa xưa luôn địch họa rình rập, thì lời
giáo dục ấy của Phật qua khí tiết, tính Việt Nam đã làm cho Phật giáo Việt
Nam lại mang theo một ý nghĩa sâu sắc khác.
Không làm các việc ác cũng có nghĩa là chống ác, làm các việc lành, có đức
cũng có nghĩa là liên minh với chân chính với thiện mỹ với chính nghĩa của nhân dân.
Phật giáo du nhập vào Việt Nam rất sớm, với tinh thần “Từ bi – hỷ xả - vô
ngã – vị tha”, năng động hóa bởi đạo lý Bát chính đạo, là điều giáo dục phổ
biến đối với dân tộc ta, dân tộc thường xuyên bị những thế lực xâm lược
đem theo sự thống trị đầy rãy những cái ác bất nhân, gieo mầm bất nghĩa,
trái đạo lý dân tộc. Bởi thế Phật giáo phương xa đến Việt Nam đã đương
nhiên trở thành Phật giáo Việt Nam với tư tưởng yêu nước là chủ yếu. Tư
tưởng yêu nước này được xác minh qua nhiều thế hệ, suốt dòng lịch sử
tranh đấu giữ nước và dựng nước của dân tộc ta, phù hợp với tư tưởng
“Chư ác mạc tác” và nghĩa vụ “Chúng thiện phụng hành” của giáo lý nhà Phật.
Phật giáo Việt Nam nhập thế lOMoAR cPSD| 61463864
Từ các vị thiền sư Việt Nam đến không ít các vị vua, các anh hùng dân tộc
Phật tử đã thấm nhuần tư tưởng yêu nước, trở thành mối quan hệ khăng
khít giữa Phật giáo Việt Nam với lịch sử tư tưởng Việt Nam. Hơn nữa trong
suốt hai cuộc kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ cứu nước, nhiều chùa
chiền Phật giáo Việt Nam là cơ sở bao che nuôi dưỡng cán bộ, chiến sĩ cách
mạng, những Tăng, Ni, Phật tử nằm trong các đoàn thể cứu quốc, đoàn thể
Phật giáo yêu nước, hòa mình vào các sinh hoạt cách mạng.
Phật giáo Việt Nam vừa là một học thuyết giải thoát về thuật sống lương
thiện tốt đẹp cho con người Việt Nam, vừa là một học thuyết qua tinh thần
Tứ ân có ơn với tổ quốc là trọng đại – đã thực sự góp phần trong việc hình
thành nền tư tưởng Việt Nam, văn hóa dân tộc Việt Nam, trong đó tư tưởng yêu nước là chủ yếu.
Phật giáo đã có rất nhiều đóng góp to lớn cho nền tảng tư tưởng văn hóa
Việt Nam. Trước hết Phật giáo đã đóng vai trò tích cực trong các cuộc đấu
tranh giải phóng dân tộc của nhân dân Việt Nam, góp phần làm phong phú
thêm tâm hồn, đạo đức, hành vi cư xử của người Việt, làm phong phú thêm
nền văn hóa dân tộc. Trước sự đòi hỏi của dân tộc, của tín đồ Phật giáo,
Phật giáo Việt Nam đã đóng góp tích cực cho nền văn hóa nước nhà.
Dân tộc Việt Nam có cái duyên là đã được tiếp nhận đạo Phật, đạo Phật có
cái duyên là tìm được chỗ đứng cho mình trong cộng đồng người Việt Nam.
Cái cộng đồng dựa trên nền tảng kinh tế tự nhiên, tự cấp, tự túc, với quan
niệm làng xã cổ truyền, với tín ngưỡng đa thần đã tiếp nhận đạo Phật và cải
biến nó cho ít nhiều phù hợp với cộng đồng ấy.
Cộng đồng người Việt tiếp nhận Phật giáo, đồng thời tiếp nhận những tư
tưởng bình đẳng, bắc ái, vô ngã, vô thường…ở đạo Phật, những tư tưởng
này cùng với những tư tưởng cộng đồng cổ truyền đã làm cản trở cho quá
trình phân hóa giai cấp, làm dịu những xung đột giai cấp trong xã hội. Trong
thời gian tới, Phật giáo tồn tại và thậm chí tiếp tục phát triển mạnh ở Việt
Nam. Phật giáo đóng góp phần tích cực của nó bằng cách tự làm trong
sạch bản thân, xóa bỏ những yếu tố mê tín lỗi thời. Phật giáo góp phần
cân bằng cuộc sống ngày càng quay cuồng với nhịp độ cao và Phật giáo
góp phần hướng thiện cho con người.
Việc cải tiến nghi lễ, và hiện đại hóa là một xu hướng tất yếu, là điều cần
thiết của đạo Phật, điều đó có từ trong lịch sử Phật giáo của Việt Nam. Đạo
Phật còn có vai trò to lớn trong đời sống tình cảm, tâm linh của người Việt
Nam, người dân của đất nước đã trải qua nhiều đau thương và đang còn
nhiều khó khăn trong đời sống xã hội. lOMoAR cPSD| 61463864
Xin mượn lời của cố giáo sư Trần Quốc Vượng trong (Mấy ý kiến về Phật
giáo và văn hóa dân tộc – Mấy vấn đề Phật giáo và tư tưởng Việt Nam) để
khẳng định những giá trị văn hóa của đạo Phật “Đạo Phật có thể mất đi như
mọi hiện tượng vô thường. Song cái tinh túy của văn hóa Phật giáo đã được
dân tộc hóa và dân gian hóa thì mãi mãi trường tồn”. Ngày nay để tiếp tục
phát huy những giá trị tích cực của mình, Phật giáo phải biết tự giữ gìn, bồi
đắp và đổi mới cho phù hợp với thời đại nhằm góp phần thực hiện mục tiêu
“dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ và văn minh” như trước
đây đã từng đóng góp cho “quốc thái dân an”. Trong điều kiện xã hội hiện
nay, những di sản văn hóa của Phật giáo đang tiếp tục phát huy tác dụng,
tạo nên sắc thái dân tộc, góp phần làm phong phú bản sắc văn hóa Việt
Nam. Gần đây, nhiều tổ chức và cá nhân đã quyên góp, công đức tiền của
để khôi phục, tôn tạo chùa chiền, xây cất tịnh xá, niệm Phật đường, đúc
chuông, đắp tượng, dựng tháp… Ngoài ý nghĩa tâm linh, nhiều ngôi chùa
đã trở thành những danh thắng nổi tiếng để du khách đến chiêm ngưỡng.
Những giá trị văn hóa Phật giáo không chỉ tồn tại trong tư tưởng, mà còn
đang hiện diện thông qua sự nỗ lực của hàng triệu tín đồ nhằm vươn tới
một lẽ sống vì Tổ quốc giàu mạnh, nhân sinh hạnh phúc. Điều đó càng khẳng
định được vị trí, vai trò của Phật giáo trong suốt quá trình đồng hành cùng dân ta. Câu 6:
Nho giáo được xem là hệ tư tưởng có ảnh hưởng sâu rộng và lâu dài đến
xã hội Việt Nam, là nền tảng đạo đức giáo dục con người, đóng góp to lớn
vào việc tổ chức nhà nước, duy trì trật tự xã hội, phát triển kinh tế, sáng tác
văn học trong các triều đại quân chủ như Nhà Lý, Nhà Trần, Nhà Lê, Nhà
Nguyễn, trong suốt chiều dài lịch sử phù hợp và dung hòa với đời sống
người Việt hình thành nền Nho giáo bản sắc Việt Nam nôm na gọi là Việt
Nho ... Ảnh hưởng của Nho giáo đối với Việt Nam sâu sắc là nền tảng của
nền văn minh tại Việt Nam và xếp Việt Nam vào các nước ảnh hưởng nền
Văn minh Trung Hoa gọi là Vùng văn hóa Đông Á. Từng bước hình thành
nên lối sống, sinh hoạt, đạo đức đối nhân xử thế trong xã hội của người Việt.
Ngày nay Việt nho ít được xem trọng kèm những khía cạnh suồng sã, tiêu
cực trong văn hóa phương tây ảnh hưởng đang làm đạo đức một bộ phận giới trẻ xuống cấp. lOMoAR cPSD| 61463864
*Sự hình thành và phát triển
Cơ sở của Nho giáo được hình thành từ thời Tây Chu, đặc biệt với sự đóng
góp của Chu Công Đán, còn gọi là Chu Công. Đến thời Xuân Thu, xã hội
loạn lạc, Khổng Tử (sinh năm 551 trước công nguyên) phát triển tư tưởng
của Chu Công, hệ thống hóa và tích cực truyền bá các tư tưởng đó. Chính
vì thế mà người đời sau coi ông là người sáng lập ra Nho giáo.
Cũng giống như nhiều nhà tư tưởng khác trên thế giới như Thích Ca Mầu
Ni, Giê-xu,... người đời sau không thể nắm bắt các tư tưởng của Khổng tử
một cách trực tiếp mà chỉ được biết các tư tưởng của ông bằng các ghi chép
do các học trò của ông để lại. Khó khăn nữa là thời kỳ "đốt sách, chôn Nho"
của nhà Tần,vào khoảng hai trăm năm sau khi Khổng Tử qua đời, khiến cho
việc tìm hiểu tư tưởng gốc của Khổng Tử càng khó khăn. Tuy nhiên, các nhà
nghiên cứu đời sau vẫn cố gắng tìm hiểu và hệ thống các tư tưởng và cuộc đời của ông.
Nho giáo nguyên thủy
Thời Xuân Thu, Khổng Tử đã san định, hiệu đính và giải thích bộ Lục kinh
gồm có Kinh Thi, Kinh Thư, Kinh Lễ, Kinh Dịch, Kinh Xuân Thu và Kinh Nhạc.
Về sau Kinh Nhạc bị thất lạc nên chỉ còn năm bộ kinh thường được gọi là
Ngũ kinh. Sau khi Khổng Tử mất, học trò của ông tập hợp các lời dạy để
soạn ra cuốn Luận ngữ. Học trò xuất sắc nhất của Khổng Tử là Tăng Sâm,
còn gọi là Tăng Tử, dựa vào lời thầy mà soạn ra sách Đại học. Sau đó, cháu
nội của Khổng Tử là Khổng Cấp, còn gọi là Tử Tư viết ra cuốn Trung Dung.
Đến thời Chiến Quốc, Mạnh Tử đưa ra các tư tưởng mà sau này học trò của
ông chép thành sách Mạnh Tử. Từ Khổng Tử đến Mạnh Tử hình thành nên
Nho giáo nguyên thủy, còn gọi là Nho giáo tiền Tần (trước đời Tần), Khổng
giáo hay "tư tưởng Khổng-Mạnh". Từ đây mới hình thành hai khái niệm, Nho
giáo và Nho gia. Nho gia mang tính học thuật, nội dung của nó còn được gọi
là Nho học; còn Nho giáo mang tính tôn giáo. Ở Nho giáo, Văn Miếu trở
thành thánh đường và Khổng Tử trở thành giáo chủ, giáo lý chính là các tín
điều mà các nhà Nho cần phải thực hành. Hán Nho
Đến đời Hán, Đại Học và Trung Dung được gộp vào Lễ Ký. Hán Vũ Đế đưa
Nho giáo lên hàng quốc giáo và dùng nó làm công cụ thống nhất đất nước
về tư tưởng. Và từ đây, Nho giáo trở thành hệ tư tưởng chính thống bảo vệ
chế độ phong kiến Trung Hoa trong suốt hai ngàn năm. Nho giáo thời kỳ này
được gọi là Hán Nho. Điểm khác biệt so với Nho giáo nguyên thủy là Hán lOMoAR cPSD| 61463864
Nho đề cao quyền lực của giai cấp thống trị, Thiên Tử là con trời, dùng "lễ
trị" để che đậy "pháp trị". Tống Nho
Đến đời Tống, Đại Học, Trung Dung được tách ra khỏi Lễ Ký và cùng với
Luận ngữ và Mạnh Tử tạo nên bộ Tứ Thư. Lúc đó, Tứ Thư và Ngũ Kinh là
sách gối đầu giường của các nhà Nho. Nho giáo thời kỳ nay được gọi là
Tống nho, với các tên tuổi như Chu Hy (thường gọi là Chu Tử), Trình Hạo,
Trình Di. (Ở Việt Nam, thế kỷ thứ 16, Nguyễn Bỉnh Khiêm rất giỏi Nho học
nên được gọi là "Trạng Trình"). Phương Tây gọi Tống nho là "Tân Khổng
giáo". Điểm khác biệt của Tống nho với Nho giáo trước đó là việc bổ sung
các yếu tố "tâm linh" (lấy từ Phật giáo) và các yếu tố "siêu hình" (lấy từ Đạo
giáo) phục vụ cho việc đào tạo quan lại và cai trị. Đặc điểm
Về nội dung học tập, Nho giáo chỉ nói đến "trí dục" và "đức dục" mà không
xét đến mặt "thể dục" là mặt cũng rất cần cho sự phát triển toàn diện con
người. Những kiến thức về giới tự nhiên và về sản xuất vật chất không được
Nho giáo đề cập (bởi ở thời của Khổng Tử, khoa học kỹ thuật và nền sản
xuất chưa phát triển). Do vậy, người học tuy thấm nhuần tư tưởng Nho học
về đạo đức, tinh thông cổ văn, nhưng kiến thức về khoa học tự nhiên, sản
xuất thực tiễn thì lại không phát triển. Cả hai mặt tiến bộ và hạn chế của Nho
giáo đều để lại dấu ấn trên Nho sĩ. Khi tiếp xúc với nền văn minh phương
Tây mạnh về khoa học kỹ thuật, nếu người xuất thân Nho học biết tiếp thu
những kiến thức khoa học và sản xuất thì sẽ khắc phục được mặt hạn chế,
trở nên "Vừa có tài vừa có đức", ngược lại nếu tiếp thu không có chọn lọc
thì không những không khắc phục được hạn chế mà những giá trị đạo đức
của nền Nho học cũng bị đánh mất.
Nhược điểm nghiêm trọng hơn nữa là Nho giáo Việt Nam thiếu sự xuất hiện
các trường phái học thuật nên vận động trong sự đơn điệu và một chiều,
chứ không được phong phú và đa dạng như Nho giáo Trung Quốc. Nho giáo
Việt Nam thiếu sự vận động bên trong, thiếu sự phản tỉnh nên trì trệ. Đa số
nhà Nho Việt Nam chỉ đặt cho mình mục đích học là để đi thi, thi đỗ thì ra
làm quan để được giàu sang, sung sướng. Đạt được mục đích đó thì xem
như việc học tập đã kết thúc. Ít người có chí cao xa, như học để tham gia
tranh luận những vấn đề mang tầm khu vực, học để kinh bang tế thế hoặc
để phát triển văn hoá, đạt đến những tầm cao tư tưởng. Cũng có một số
Nho sĩ quan tâm đến học thuật, nhưng thường là các vấn đề chính trị và đạo lOMoAR cPSD| 61463864
đức, ít bàn đến vấn đề siêu hình, một lĩnh vực thuần túy triết học làm nền
tảng cho khả năng nhận thức sâu sắc thế giới và hành động sáng tạo. Thậm
chí, họ còn biến những vấn đề siêu hình thành cái thực tế, thực dụng. Vì học
tập và tư duy như thế nên họ ít có cống hiến to lớn trong lĩnh vực học thuật
có thể so sánh với các nước khác cũng chịu ảnh hưởng của Nho giáo. Nền
giáo dục Nho giáo Việt Nam chỉ sản sinh ra được một tầng lớp quan lại có
nền tảng Nho học còn các loại hình trí thức then chốt của một tầng lớp trí
thức thực thụ thì xuất hiện thưa thớt, mờ nhạt, hoặc hoàn toàn vắng bóng
trong một số lĩnh vực như triết học.
Một số nhà Nho uyên thâm của Việt Nam khi đứng trước kho tàng đồ sộ và
uyên bác của Nho giáo Trung Quốc thường tóm lược lấy những điều cốt
yếu, biên soạn lại thành những tài liệu đơn giản và ngắn gọn để dạy học trò.
Có thể liệt kê các sách Nho học như “Tứ thư tập chú” của Chu Hy, “Tứ thư
đại toàn
” của Tống, Nguyên, Minh, Thanh Nho, sang Việt Nam chỉ còn là
Thuyết ước” (tóm lược học thuyết) và “Ước giải” (giải thích tóm tắt); hoặc
như cuốn “Tính lý đại toàn” của Hồ Quảng thời Minh, sang Việt Nam chỉ còn
Tiết yếu”. Đây là hiện tượng chung của nhiều triều đại quân chủ Việt Nam.
Nếu ở triều Trần có “Tứ thư thuyết ước” của Chu Văn An, thì ở triều Lê -
Trịnh có “Tứ thư ước giải” của Lê Quý Đôn, triều Nguyễn có “Tứ thư trích
giảng
” của Nguyễn Văn Siêu; nếu ở triều Lê - Trịnh có cuốn “Tính lý tiết yếu
của Bùi Huy Bích, thì ở triều Nguyễn cuốn đó vẫn còn được xem là cuốn
sách giáo khoa mẫu mực. Chính điều này đã lược bớt rất nhiều điều, làm
mất rất nhiều điểm có khả năng gợi mở, giản đơn hoá nội dung phong phú
và súc tích của học thuyết khiến người học không lĩnh hội được chiều sâu
của Nho giáo. Người được truyền đạt cũng hài lòng với cách làm đó thì mọi
lối tư duy, mọi đường sáng tạo đều bị thu hẹp lại. Bên cạnh đó, Nho giáo
Việt Nam đã pha trộn với tư tưởng của Phật giáo, Đạo giáo và các tín
ngưỡng dân gian khác. Nhưng hạn chế lớn nhất là tập quán sùng bái thánh
hiền, giáo điều và máy móc của giới Nho sĩ Việt Nam. Trong khi đó bên cạnh
Nho giáo còn có nhiều trường phái tư tưởng khác như Đạo gia, Mặc gia,
Pháp gia... Giữa các trường phái này luôn có sự tranh luận, phản bác nhau.
Điều này khiến sự phát triển của Nho giáo Việt Nam hạn chế. Nó chỉ đạt đến
mức độ tiếp thu một số tín điều từ Nho giáo Trung Hoa, chưa tạo được lý
luận riêng, chưa xuất hiện các học phái khác nhau. Phương pháp tư duy của
nó thiên về bảo thủ, giáo điều
3. Quá trình thâm nhập của Nho giáo vào Việt Nam
3.1. Hán Nho đã được các quan lại Trung Hoa như Tích Quang, Nhâm Diên, Sỹ Nhiếp
ra sức truyền bá từ đầu Công nguyên. Tuy nhiên, vì đây là thứ văn hóa do kẻ xâm lOMoAR cPSD| 61463864
lược áp đặt cho nên, suốt cả giai đoạn chống Bắc thuộc, Nho giáo chưa có chỗ đứng
trong xã hội Việt Nam. Đến năm 1070, với sự kiện Lí Thánh Tông cho lập Văn Miếu
thờ Chu Công, Khổng Tử, mới có thể xem là Nho giáo được tiếp nhận thính thức.
Chính vì vậy mà Nho giáo ở Việt Nam chủ yếu là Tống Nho chứ không phải Hán Nho,
Đường Nho hay Minh Nho, Thanh Nho.
Đời Trần có Chu Văn An đào tạo được khá đông học trò. Các nhà nho những lớp đầu
tiên này ra sức bài xích Phật giáo để khẳng định chỗ đứng của mình. Tuy nhiên, cho
đến gần cuối đời Trần, Nho giáo vẫn chưa được chấp nhận rộng rãi.
Trong cuộc kháng chiến 10 năm chống quân Minh (1418- 1408), các nhà nho Việt
Nam tập hợp dưới cờ Lê Lợi đã có những đóng góp to lớn. Sự lớn mạnh của Nho
giáo Việt Nam (điều kiện chủ quan) cùng với nhu cầu cải cách quản lí đất nước (yêu
cầu khách quan) đã dẫn đến việc triều Lê đưa Nho giáo thành quốc giáo: sự phát
triển của Nho giáo chuyển sang giai đoạn mới – giai đoạn Nho giáo độc tôn. Từ đó,
Nho giáo thịnh suy theo bước thăng trầm của triều đình: Thời Lê sơ thì Nho giáo
thịnh, chí sĩ đua nhau đi thi để ra làm việc nước. Thời Lê mạt thì Nho giáo suy, nhiều
nhà nhà xuất sắc (như Nguyễn Bình Khiêm) lui về ở ẩn. Nhà Nguyễn lên cầm quyền,
địa vị Nho giáo một lần nữa được khẳng định để rồi mất hẳn khi phải đối mặt với
sự tấn công của văn hóa phương Tây.
*Vai trò, ảnh hưởng
Tính từ khi bắt đầu du nhập cho đến lúc suy vong, Nho giáo đã có lịch sử
1900 năm truyền bá ở Việt Nam. Thời Bắc thuộc, trong những thế kỷ đầu
công nguyên, các quan cai trị người Hán như Tích Quang (1 - 5), Nhâm Diên
(29 - 33), Sĩ Nhiếp (187 - 226), Đỗ Tuệ Độ (đầu thế kỷ V) đã ra sức truyền
bá Nho giáo ở Giao Châu. Cũng trong thời kỳ này, các đoàn người Hán di
thực và tị nạn nối tiếp nhau kéo xuống Giao Châu, mang theo văn hóa Hán.
Tuy nhiên, đây là thời kỳ mà văn hóa Việt - Mường đã đạt tới những thành
tựu đỉnh cao, có sức mạnh văn hóa nội tại, và có khả năng chọn lọc, chuyển
hóa những yếu tố văn hóa mới du nhập để bồi bổ cho sức mạnh văn hóa
nội tại của mình. Trong khi đó, Nho giáo là công cụ củng cố thể chế nhà
nước của quân xâm lược. Vì vậy, trải qua cả nghìn năm, Nho giáo vẫn không
thâm nhập được vào văn hóa Việt - Mường. Cư dân Việt - Mường vẫn bảo
tồn được văn hóa tộc người, ý thức tộc người, ý chí quật cường và nhu cầu
đấu tranh vì độc lập tự do. lOMoAR cPSD| 61463864
Phải đến thời kỳ tự chủ, từ thế kỷ XI trở đi, Nho giáo mới được Nhà nước
phong kiến chú trọng đề cao. Để xây dựng, hoàn thiện thể chế nhà nước,
giai cấp phong kiến đã tìm thấy ở Nho giáo những lợi khí mà Phật giáo và
Đạo giáo đương thời không có: sự thần bí hóa vương quyền, sự thiêng liêng
hóa quan hệ quân thần, những chuẩn mực và nội dung đào tạo quan lại
thích hợp để nối dài cánh tay quyền lực của nhà vua. Đến thời Hậu Lê, Nho
giáo vươn lên chiếm địa vị độc tôn trong văn hóa cung đình, đẩy Phật giáo
và Đạo giáo xuống hàng tôn giáo dân gian. Nhưng Nho giáo có vị trí hàng
“Quốc giáo” thật sự ở triều Nguyễn, một triều đại tập quyền tuyệt đối và triệt
để khai thác đạo lý tam cương, ngũ luân của Nho giáo để bảo vệ tôn ti quân
thần và quyền thống trị vĩnh viễn của tông tộc nhà vua. Trên đỉnh cao quyền
lực, Nho giáo đã phát tác tối đa sức mạnh kìm hãm của nó, trở thành nguyên
nhân sâu xa của tình trạng loạn lạc và trì trệ kéo dài suốt thế kỷ XIX cho đến
khi mất nước về tay Pháp. Từ đầu thế kỷ XX, cùng với sự suy tàn của nhà
nước phong kiến và giai cấp phong kiến, Nho giáo đã không còn là ý thức
hệ chính thống và cũng không còn đóng vai trò một tôn giáo chính thống
điều chỉnh hành vi và đạo đức như trước nữa. Sự đột khởi của phong trào
Duy Tân - Đông Du (1905 - 1908) đã đóng cây đinh cuối cùng vào nắp quan
tài của Nho giáo ở Việt Nam.
Điểm sơ qua như vậy, có thể thấy rằng, giai cấp phong kiến Việt Nam thượng
tôn Nho giáo không chỉ do nhu cầu xây dựng quốc gia, mà còn vì và chủ yếu
là vì Nho giáo có ích đối với việc cai trị nhân dân. Vì vậy, tuy có lúc thăng lúc
trầm, nhưng bao giờ Nho giáo cũng là chiếc phao chống đắm của các triều
đại phong kiến Việt Nam, kể từ khi vua Lý Thánh Tông dựng Văn Miếu ở
Thăng Long năm 1070, cho đến khi triều đình Huế ký Hòa ước Quý Mùi
(năm 1883) giao chủ quyền quốc gia cho Pháp.
Do sự truyền bá chủ động và kiên trì của giai cấp phong kiến, trong thời
trung đại, Nho giáo đã thẩm thấu vào một một bộ phận của chủ thể văn hóa
Việt Nam là giai cấp quý tộc, quan lại và tầng lớp nho sĩ, quan viên. Nho giáo
cũng bén rễ vào một bộ phận văn hóa tinh thần của xã hội, làm hình thành
dòng văn hóa quan phương chính thống bên cạnh các hoạt động văn hóa
tinh thần của dân gian. Bằng cách đó, văn hóa tinh thần của Việt Nam đã bị
Hán hóa một phần. Cũng bằng cách đó, Nho giáo đã được Việt hóa một
phần trong quá trình thâm nhập vào văn hóa Việt Nam. lOMoAR cPSD| 61463864
Do tác động từ Nho giáo nên sự phân hóa xã hội ở Việt Nam thêm sâu sắc,
chủ thể văn hóa Việt Nam bị chia đôi; hình thành tầng lớp nho sĩ, giai cấp
quý tộc, quan lại theo hình mẫu Nho giáo, tồn tại bên cạnh các giai cấp, tầng
lớp sẵn có của xã hội Việt Nam xưa (nông dân, thợ thủ công, thương nhân).
Tầng lớp nho sĩ và quan lại ấy có trách nhiệm kinh bang tế thế, trị quốc an
dân, và tùy theo thời thế mà chọn lựa cách ứng xử, xuất và xử, hành và
tàng. Còn các giai cấp, tầng lớp lao động thì có trách nhiệm bảo đảm nhu
cầu vật chất cho các giai cấp, tầng lớp bên trên và cho bản thân mình.
Lịch sử Việt Nam có rất nhiều nhà nho có phẩm hạnh, khí tiết cao cả, như
Mạc Đĩnh Chi, Chu Văn An, Nguyễn Trãi, Nguyễn Bỉnh Khiêm, Võ Trường
Toản, Ngô Tùng Châu, Trịnh Hoài Đức, Lê Quang Định, Ngô Nhân Tĩnh,
Nguyễn Công Trứ, Phan Thanh Giản, Trần Tiễn Thành, Nguyễn Đình Chiểu,
Nguyễn Khuyến, Nguyễn Huy Đức, Nguyễn Thức Tự, Khiếu Năng Tĩnh, Trần
Đình Phong, Lương Văn Can, Phan Bội Châu, Đặng Nguyên Cẩn, Ngô Đức
Kế, Phan Châu Trinh, Huỳnh Thúc Kháng, Trần Quý Cáp,... Những nhà nho
này, dù lúc bình thời hay khi vận nước gian nan, vẫn tỏ rõ khí tiết và phẩm
hạnh, đồng thời có thái độ và hành động vì nước, vì dân.
Trong các hoạt động văn hóa, Nho giáo tác động chủ yếu vào các hoạt động
văn hóa tinh thần. Trong văn hóa tổ chức cộng đồng, ở cấp độ gia đình, Nho
giáo phối hợp với văn hóa Hán làm hình thành chế độ gia đình phụ hệ đi đôi
với nam quyền cực đoan, tồn tại song hành với truyền thống trọng nam đi
đôi với trọng nữ của văn hóa dân gian. Trong gia đình, gia tộc, quốc gia, Nho
giáo trực tiếp làm hình thành chế độ tông pháp, trao quyền thừa kế, thừa tự
cho con trai trưởng chính dòng, song hành với tập quán trao quyền thừa kế,
thừa tự cho con trai út của dân gian. Trên bình diện quốc gia, Nho giáo là cơ
sở làm hình thành tổ chức nhà nước của Đại Việt, bao gồm hệ thống hành
chính, tổ chức quân sự, quan chế, lương bổng... mô phỏng Trung Hoa, tồn
tại song hành với tổ chức cộng đồng cấp làng quê ra đời từ thời Văn Lang - Âu Lạc.
Về tín ngưỡng, nhà nho Việt Nam coi Nho giáo như là tôn giáo; gạt bỏ, bài
xích các tôn giáo khác ngoại trừ những nội dung được Nho giáo chấp nhận
và khuyến khích, như lòng tin vào thiên mệnh, việc tế lễ, việc thờ cúng tổ
tiên... Vì vậy, trong Nho giáo là tôn giáo của đàn ông người Việt, bên cạnh
các tôn giáo dành cho các bà các cô như đạo Phật, đạo Mẫu... lOMoAR cPSD| 61463864
Về phong tục, sự tác động của Nho giáo và văn hóa Hán đã làm Hán hóa
một phần các phong tục vòng đời, đặc biệt là phong tục hôn nhân, phong
tục tang ma. Trong thời trung đại, các phong tục này đều lấy hình mẫu của
Nho giáo và văn hóa Hán làm chuẩn mực. Chính vì vậy mà cho đến ngày
nay, vẫn còn nhiều người viết sách mô tả các phong tục và nghi thức ấy
trong văn hóa Việt Nam hiện đại như thể chúng là bản sao của phong tục
Trung Hoa trung đại! Thật ra, bên cạnh các phong tục hôn nhân, phong tục
tang ma theo hình mẫu của Nho giáo và văn hóa Hán trước đây, người Việt
ở các vùng miền khác nhau và các tôn giáo ở Việt Nam đều có cách thức
riêng để thực hiện các phong tục ấy.
Trong giáo dục, Nho giáo là cơ sở hình thành hệ thống giáo dục chính thống
của Việt Nam trung đại ở bốn cấp kinh đô - tỉnh/đạo - phủ huyện/châu, và
chế độ thi tuyển gồm bốn cấp khảo hạch - thi Hương - thi Hội - thi Đình, để
đào tạo ra quan lại nhà nước, quan viên làng xã. Hệ thống giáo dục chính
thống này tồn tại song hành với mạng lưới giáo dục dân gian trong gia đình,
làng xóm, làng nghề, nhằm giáo dục cách ứng xử với gia đình, cha mẹ, ông
bà, tổ tiên, họ hàng, làng xóm, thần linh... Trong lịch sử 844 năm khoa cử
Hán học ở Việt Nam (1075 - 1919), nền giáo dục Nho giáo đã tạo ra hàng
nghìn ông Nghè, ông Cử, ông Tú mà trong số đó nhiều người đã nổi lên
thành nhà văn hóa hay nhà khoa học, như nhà sử học Lê Văn Hưu, danh
nhân văn hóa thế giới Nguyễn Trãi, nhà sử học Ngô Sĩ Liên, Trạng Lường
Lương Thế Vinh, Trạng Trình Nguyễn Bỉnh Khiêm,
Trạng Bùng Phùng Khắc Khoan, nhà bác học Lê Quý Đôn, thi hào Nguyễn
Du, nhà bác học Phan Huy Chú…
Về văn học và nghệ thuật, Nho giáo đã góp phần làm hình thành các thể văn
khoa cử (kinh nghĩa, chiếu, biểu, luận, văn sách, thơ, phú...), các thể loại
văn học mô phỏng Trung Hoa (thơ Đường luật, phú, từ, đối...), các điển tích
văn học, các sách giáo khoa truyền thụ Nho giáo, các tác phẩm văn học và
nghệ thuật chịu ảnh hưởng của Nho giáo. Những sản phẩm ấy làm thành
dòng văn học nghệ thuật quan phương chính thống, tồn tại song hành với
dòng văn học dân gian, nghệ thuật dân gian.
Về ngôn ngữ và văn tự, quá trình tiếp biến văn hóa Hán nói chung, Nho giáo
nói riêng đã để lại dấu ấn sâu đậm trong ngôn ngữ và chữ viết ở Việt Nam.
Về ngữ âm, tiếng Việt, tiếng Mường đã biến đổi các phụ âm cuối, hình thành
thanh điệu và rơi rụng các âm tiết phụ của thời Môn - Khơme; riêng tiếng