lOMoARcPSD| 61463864
A.
Đề cương cơ sở văn hóa
Việt Nam
Khái niệm/ thuật ngữ 1. Văn hóa là gì
Có rất nhiều quan niệm khác nhau về văn hóa.
- Theo GS Trần Ngọc Thêm: “Văn hóa 1 hệ thống hữu cơ các giá trvật chất
tinh thần do con người sáng tạo tích lũy qua quá trình hoạt động thực tiễn trong sự
tương tác giữa con người với Môi trường tnhiên và Môi trường hội”. Khái niệm này
đã nêu ra 4 đặc trưng cơ bản của văn hóa là tính hệ thống, tính giá trị, tính lịch sử và tính
nhân sinh.
- Với Từ Chi, ông cho rằng Tất cả những không phải là tnhiên đều văn hóa”,
tức nhấn mạnh vào vai trò của con người đối với việc sáng tạo văn hóa.
- Còn theo chủ tịch HCM, Người lại quan niệm: ” lẽ sinh tồn cũng như mục đích
của cuộc sống, loài người mới sáng tạo phát minh ra ngôn ngữ, chữ viết, đạo đức,
pháp luật, khoa học, tôn giáo, văn học, nghệ thuật, những công cụ phục vụ cho sinh hoạt
hàng ngày về mặt ăn các phương thức sử dụng. Toàn bộ những sáng tạo phát
minh đó tức là văn hóa”. Như vậy, khái niệm này lại nhằm nhấn mạnh mục đích sáng tạo
văn hóa cùng những hình thức tồn tại của nó .
Theo những quan điểm quốc tế, UNESCO đã nêu lên 3 đặc điểm cơ bản của văn hóa:
+ Văn hóa bao gồm những giá trị vật chất và tinh thần
+ Văn hóa tạo ra sự khác biệt
+ Văn hóa là động lực cho sự phát triển
Kết luận: Các định nghĩa về văn hóa tóm lại có thể quy về 2 cách hiểu. Đó những lối
sống, cách suy nghĩ, ứng xử (khi được hiểu theo nghĩa rộng) những phương diện
văn học, văn nghệ, học vấn (khi được hiểu theo nghĩa hẹp)
- VD: Tục nhuộm răng, ăn trầu, xăm mình, tổ chức lễ hội ngày mùa, trang phục
truyền thống … (theo nghĩa rộng) hoặc đi đường đâm vào người khác không xin lỗi thiếu
văn hóa ; trình độ văn hóa trình độ học vấn (theo nghĩa hẹp)
2. Văn minh là gì
- Phương Đông: văn minh chỉ tia sáng của đạo đức, biểu hiện chính trị, pháp luật,
văn hóa, nghệ thuật
- Phương Tây: (civitas: đô thị, thành phố) văn minh chỉ hội đạt tới giai đoạn tổ
chức đô thị và chữ viết
=> Văn minh chỉ trình độ văn hóa về phương diện vật chất, đặc trưng cho 1 khu vực rộng
lớn, 1 thời đại hoặc cả nhân loại. Văn minh thể so sánh cao thấp, văn hóa chỉ sự
khác biệt.
VD: văn minh lúa nước, văn minh cơ khí, văn minh châu Âu
3. Văn hiến là
- Văn hiến: văn = vẻ đẹp, hiến = hiền tài. Văn hiến thiên về các giá trị tinh thần do hiền tài
sáng tạo ra.
VD: chữ viết, thơ văn, phong tục tập quán
lOMoARcPSD| 61463864
4. Văn vật là gì
Văn vật: văn = vẻ đẹp, vật = vật chất. Văn vật thiên về những giá trị văn hóa vật chất. Biu
hin nhng công trình, hiện vật giá trị nghthuật lịch sử. VD: Phở Hà Nội, Cốm
Làng Vòng, Gốm Bát Tràng Văn hiến, văn vật chỉ là 1 bộ phận của văn hóa.
5. Tôn giáo là
Tôn giáo là niềm tin của con người tồn tại với hệ thống quan niệm và hoạt động bao gồm
đối tượng tôn thờ, giáo lý, giáo luật, lễ nghi và tổ chức
6. Tín ngưỡng là gì
Tín ngưỡng là niềm tin của con người được thể hiện thông qua những lễ nghi gắn liền với
phong tục, tập quán truyền thống để mang lại sự bình an về tinh thần cho nhân cộng
đồng.
7. Phong tục tập quán là gì
“ Phong tục tập quán là những thói quen văn hóa có tính dân tộc và tính lịch sử được hình
thành trong đời sống của con người, trở thành những chuẩn mực văn hóa được mọi người
thừa nhận và tuân theo.
8. Phát triển bền vững
Phát triển bền vững phát triển đáp ứng được nhu cầu của thế hệ hiện tại mà không
làm tổn hại đến khả năng đáp ứng các nhu cầu đó của các thế hệ tương lai trên cơ sở
kết hợp chặt chẽ, hài hoà giữa tăng trưởng kinh tế, giải quyết các vấn đề xã hội và bảo
vệ môi trường. 9. Làng xã là gì
Khái niệm: Làng 1 đơn vị cộng 1 vùng đất chung của cư dân nông nghiệp, một
hình thức tổ chức xã hội nông nghiệp tiểu nông tự cung tự cấp, mặt khác, là mẫu hình xã
hội phù hợp, chế thích ứng với sản xuất tiểu nông, với gia đình tông tộc gia trưởng,
đảm bảo sự cân bằng và bền vững của xã hội nông nghiệp y.
10. Toàn cầu hóa là
Toàn cầu hóa là khái niệm dùng để miêu tả các thay đổi trong xã hội và trong nền kinh tế
thế giới, tạo ra bởi mối liên kết và trao đổi ngày càng tăng giữa các quốc gia, các tổ chc
hay các cá nhân ở góc độ văn hóa, kinh tế... trên quy mô toàn cầu
11. Chủ nghĩa yêu nước có nội hàm gì
Chnghĩa yêu nước (hay chủ nghĩa ái quốc, lòng yêu nước, tinh thần yêu nước) là cảm
xúc, tình cảm, tinh thần yêu thương, tích cực về quê hương, đất nước hay cội nguồn của
một nhân hay tập thể, trong đó quê hương thể một vùng, một thành phố nhưng
thông thường thì khái niệm này gắn với khái niệm quốc gia. gồm những quan điểm
như: tự hào về thành tựu hay văn hóa của quê hương, mong muốn được cống hiến hết
mình cho quê hương đất nước. Hiện nay chủ nghĩa yêu nước rất gần với chủ nghĩa dân
tộc, vì thế chúng hay được dùng như những từ đồng nghĩa. Nếu xét cặn kẽ thì chủ nghĩa
dân tộc liên quan tới các học thuyết phong trào chính trị hơn, trong khi chủ nghĩa yêu
ớc liên quan tới tình cảm nhiều hơn. Chủ nghĩa yêu nước giúp con người cảm thấy yêu
mến, tự hào, các trách nhiệm hơn với quốc gia dân tộc. Một lòng yêu nước thái quá
trong việc bảo vệ một dân tộc được gọi là chủ nghĩa sô vanh.
Câu 1: Phân tích một quan niệm về văn hóa anh/chị cho tiêu biểu nhất? Phân biệt
văn hóa với văn minh, lấy ví dụ cụ thể từ nền văn hóa Việt Nam.
* Quan niệm về văn hóa của Hồ Chí Minh: ” Vì lẽ sinh tồn cũng như mục đích của cuộc sống, loài
người mới sáng tạo và phát minh ra ngôn ngữ, chviết, đạo đức, pháp luật, khoa học, tôn giáo,
lOMoARcPSD| 61463864
văn học, nghệ thuật, những công cụ cho sinh hoạt hằng ngày về ăn, mặc, các phương
thức sử dụng toàn bộ những sáng tạo và phát minh đó tức là văn hóa. Văn hóa là sự tổng hợp
của mọi phương thức sinh hoạt cùng với biểu hiện của loài người đã sản sinh ra nhm
thích ứng những nhu cầu đời sống và đòi hỏi của sự sinh tồn ”.
* Phân tích quan niệm:
Quan niệm đã nêu ra cấu trúc của văn hóa, bao gồm:
+ Văn hóa vật chất
+ Văn hóa tinh thần
+ Tổng hợp phương thức sinh hoạt
- Quan niệm bàn đến đặc trưng của văn hóa: tính vị nhân sinh, được thể hin ở hai phương diện:
con người là chủ thể sáng tạo ra văn hóa, đồng thời cũng là chủ thởng thụ văn hóa.
- Nhấn mạnh chức năng của văn hóa, trong đó có hai chức năng quan trọng là: duy trì đời sống
xã hội, phục vụ đời sống của con người và từ đó nâng cao giá trị của cuộc sống.
- Nhìn nhận các vấn đề trong quan hệ logic tổng hợp.
- Về hình thức: phát biểu mang tính chất quan niệm, không phải học thuật.
* Phân biệt văn hóa với văn minh:
Văn hóa
Văn minh
Văn hóa đặc trưng lịch sử truyền
-
Văn minh gắn với hiện đại thành tựu khoa
lOMoARcPSD| 61463864
-
-
lọc lâu dài
-
-
- Văn
thng. Ta th chứng minh qua
nền văn hóa Việt Nam giàu truyền
thống lịch sử: truyền thống yêu
ớc, uống nước nhớ nguồn, yêu
thương đồng loại…
một quá trình tích lũy và được sàng
. Văn hóa Việt Nam trải qua mấy
ngàn năm đã giữ lại được nhiều nét văn
a đp, giàu bản sắc và loại bỏ đi những
văn hóa cổ hủ, không theo kịp thời
đi(trng nam khinh n, tảo hôn,..)
Mang tính cộng đồng, dân tộc, bản sắc.
Văn a Việt Nam không được tạo từ một
ngưi, hay một nhóm người thành
qu chung của cộng đồng người Việt, từ
nhiu dân tộc Việt. vậy trở nên
cùng đa dạng và đậm dà bản sắc
Đưc bảo lưu, duy trì, ổn định, gắn vi
ti quen, tập quán, tâm linh. Dân tộc Việt
Nam duy trì được nhiều nét đẹp văn hóa
như th cúng tổ tiên, biết ơn,… hóa gắn bó
nhiu hơn vơi phương Đông nông nghiệp.
Văn a Việt Nam được hình thành ven lưu
vc c con song lớn,
-
- tế.
-
tri.
học thuật hiện đại. Nói dến văn minh, ta
thường nhớ đến một nét nghĩa chung “trình
đphát triển”, một lát cắt đồng đại. dụ nền
ta nói văn minh nhân loại phát triển rực rỡ với
sra đời của điện hệ thống máy móc hiện
đi.
những sáng tạo, phát kiến mang tính
nhân. dụ như Thomas Edison phát minh ra
bóng đèn, Anbe phát minh ra chiếc máy nh
đầu tiên…
Mang giá trị phổ thông toàn nhân loại, quốc
Văn minh mang nét nghĩa rộng lớn, thành
qu của toàn nhân loại, được toàn thể con
nời công nhận và sử dụng.
Để phù hợp với sự thay
đổi
của hội, văn minh biến đổi theo. Trước
kia,con người luôn cho rằng trái đất đứng yên
nhưng đến thế kỉ 17,con người đã thay đổi
cách nhìn và cho rằng trái đất quay quanh mặt
- Văn minh gắn nhiều hơn với phương
Tây đô thị. Phương Tây nhiều phát
minh hiện đại.
Thay đổi liên tục.
thuân lợi cho sản xuất nông nghip.
Văn minh chỉ trình độ phát triển nhất định của văn hóa về phương diện vật chất đặc trưng
cho một khu vực rộng lớn, 1 thời đại hoặc cả nhân loại. Văn minh sự kết hợp đầy đủ
các yếu tố tiên tiến tại thời điểm xét đến để tạo nên, duy trì, vận hành tiến hoá hội
loài người.
Qua khái niệm này, có thể chỉ ra : văn minh chỉ là 1 lát cắt đồng đại không có bề dày của
quá khứ và văn minh chỉ thiên về khía cạnh vật chất, kĩ thuật, thường mang tính siêu dân
tộc – quốc tế
Văn hiến ( hiến = hiền tài) , khái niệm sử dụng VN, tính bao quát các giá trmang
tính lịch sử, truyền thống lâu dài, văn hiến thiên về nhng giá trị tinh thần do những con
người tài đức chuyền tải, thể hiện tính dân tộc, tính lịch sử rõ rệt. Đây các giá trị
đóng góp cho quốc gia, cho đất nước. Nhờ đó con người thêm sở, điều kiện
phát triển đất nước. Nhờ vào các giá trị văn hiến để xây dựng, làm nên nét riêng của quốc
gia.
Văn vật là khái niệm sử dụng ở VN, văn vật thiên về những giá trị văn hóa vật chất, những
giá trị bản sắc được tồn tại dưới dạng vật chất cụ th. Văn vật tính lịch sử, tính
dân tộc và gắn với kiểu xã hội phương Đông là chủ yếu.
lOMoARcPSD| 61463864
Câu 2: Trình bày đặc trưng và chức năng của văn hóa *Đặc trưng của văn hóa
Các nhà nghiên cứu về văn hóa trong và ngoài nước đúc kết thành nhiều đc trưng của văn hóa,
trong đó nổi bật nhất là bốn đặc trưng cơ bản sau:
- Một là, tính hệ thng. n hóamột hthống hữu cơ các giá trị về văn hóa vật chất, văn
hóa hội văn hóa tinh thần của cộng đồng người. Từ những thành tố căn bản này đã ny
sinh và bao gồm những tập hợp nhỏ nhiều tầng bậc khác nhau tạo thành một tổng thể phức tạp,
phong phú.
- Hai là, tính giá tr. Văn hóa bao gồm các giá trị (giá trị thuộc về đời sống vật chất, giá trị
thuộc về đời sống tinh thần) trở thành thước đo về mức độ nhân bản của hội con người.
Trong lịch sử phát triển của nhân loại giá trị của văn hóa để tồn tại giá trị của văn hóa
để phát triển.
- Ba là, tính lịch sử. Văn hóa bao giờ cũng được hình thành qua một quá trình và được tích
lũy qua nhiều thế hệ, là những thành tựu do cộng đồng người trong quá trình tương tác với môi
trường tự nhiên và xã hội mà được sáng tạo và luôn hướng tới sự hoàn thiện để đạt đến tính giá
trị.
- Bốn là, tính nhân sinh. Văn hóa là một hiện tượng thuộc về xã hội loài người, gắn liền với
hoạt động thực tiễn của con người, những giá trị do một cộng đồng người sáng tạo ra, thuộc
về con người, ở trong con người và mang dấu ấn người. Điều đó cho thấy, con người vừa là chủ
thể của văn hóa, đồng thời là khách thể của văn hóa, lại vừa là sản phẩm văn hóa.
*Chức năng của văn hóa:
+ Chức năng tổ chức xã hội
+ Chức năng điều chỉnh xã hội
+ Chức năng giao tiếp
+ Chức năng giáo dục
*Phân tích một đặc trưng và chức năng của văn hóa:
- Đặc trưng quan trọng của văn hóa tính giá trị. Văn hóa theo nghĩa đen nghĩa “trở
thành đẹp, thành giá trị”, tính giá trị cần để phân biệt giá trị với phi
giá trị. nhân bản của xã hội và con người.
Các giá trị văn hóa, theo mục đích cố thchia thành giá trị vật chất (phục vụ cho nhu cầu vật
chất) và giá trị tinh thần (phục vụ cho nhu cầu tinh thần), theo ý nghĩa thể chia thành giá trị sử
dụng, giá trị đạo đức giá trị thấm mĩ theo thời gianthể phân hiệt các giá trị vĩnh cừu và giá
trnhất thời. Sự phân biệt các giá trị theo thời gian cho phép ta đươc cái nhìn hiện chứng và
khách quan trong việc đánh giá tính giá trị của sự vật, hiện ợng; tránh được những xu hướng
cực đoan phủ nhận sạch trơn hoặc tán dương hết li.
Vì vậy mà, về mặt đồng đại, cùng một hiện tượng có thể có giá trị nhiều hay ít tùy theo góc nhìn,
theo bình diện được xem xét. Muốn kết luận một hiện tượng thuộc phạm tvăn hóa hay
không phải xem xét mối tương quan giữa các mức độ “giá trị” và “phi giá trị” của nó. Về mặt lịch
đại, cùng một hiện ợng sẽ thể giá trị hay không tùy thuộc vào chuẩn mực văn hóa của
từng giai đoạn lịch sử. Áp dụng vào Việt Nam, việc đánh giá chế độ phong kiến, vai trò của Nho
giáo, các triều đại nhà Hồ, nhà Nguyễn… đều đòi hỏi một tư duy biện chứng như thế.
Nó là thước đo mức độ
lOMoARcPSD| 61463864
Nhờ thường xuyên xem xét các giá trị mà văn hóa thực hiện được chức năng quan trọng thứ hai
chức năng điều chỉnh hội, giúp cho hội duy trì được trạng thái cân bằng động, không
ngừng tự hoàn thiện thích ứng với những biến đổi của môi trường, giúp định hướng các chuẩn
mực, làm động lực cho sự phát triển của xã hội.
Câu 3: Văn hóa Việt Nam thuộc về loại hình văn hóa gốc nông nghiệp trồng trọt điển hình
với những đặc trưng chủ yếu sau đây:
- Do vị trí địa lý nằm ở góc tận cùng phía Đông-Nam Châu Á nên Việt Nam thuộc loại hình
văn hóa gốc nông nghiệp trồng trọt điển hình. Tất cnhững đặc trưng của loại hình văn hóa gốc
nông nghiệp trồng trọt đều được thể hiện rất rõ nét trong đặc trưng văn hóa Việt Nam.
- Trong ứng xử với môi trường tự nhiên luôn có ý thức tôn trọng và sống hòa hợp với thiên
nhiên, tôn sùng thiên nhiên, thể hiện đức hiếu sinh
+ Cư dân Việt Nam chủ yếu sinh sống bằng nghề nông, trong cách ứng xử với tự nhiên, do nghề
trồng trọt buộc người dân phải sống định để chờ cây cối lớn lên, đơm hoa, kết trái thu
hoạch, từ đó ưa thích lối sống ổn định, cho rằng” An cư lạc nghiệp” . Do sống phụ thuộc vào thiên
nhiên nên dân nông nghiệp ý thức tôn trọng ước vọng sống hòa hợp với thiên nhiên.
Người Việt Nam mở miệng ra là nói “ nhờ trời”, “lạy trời”… Các tín ngưỡng và lễ hội sung bái tự
nhiên rất phổ biến ở các tộc người trên khắp mọi vùng đât nước.
- sống bằng kinh tế nông nghiệp, nhất nông nghiệp lúa nước, đó con người sự
phụ thuộc vào các hiện tượng tự nhiên (như trời, đất, nước, nắng, mưa...), nên trong nhận thức
đã hình thành một lối duy tổng hợp, trọng quan hệ, trọng tình biện chứng, thiên về kinh nghiệm,
trực giác, cảm tính và duy linh (linh cảm).
+ nghề nông, nhất nghề nông nghiệp lúa nước, cùng một lúc phụ thuộc vào nhiều yếu tố
thiên nhiên như : thời tiết, nước, khí hậu,... trông trời, trông đất, trông mây; trông mưa, trông
gió, trông ngày, trông đêm…” nên về mặt nhận thức, hình thành nên lối duy tổng hợp- bin
chứng, nặng về kinh nghiệm chủ quan cảm tính: sống lâu lên lão làng, trăm hay không bằng tay
quen… Người làm nông quan tâm không phải từng yếu triêng lẻ mà những mối quan hệ
giữa chúng. Người Việt tích lũy được một kho kinh nghiệm hết sức phong phú về các loại quan
hệ này: Quạ tắm thì ráo, sáo tắm thì mưa; Được mùa lúa thì úa mùa cau, được mùa cau thì đau
mùa lúa; Chuồn chuồn bay thấp thì mưa, bay cao thì nắng, bay vừa thì râm…
- Trong tổ chức cộng đồng, con người nông nghiệp ưa tổ chức hội theo nguyên tắc trọng
tình, chuộng sự hòa thuận, tương trợ, quan tâm đến những láng giềng.
+ Lối sống trọng tình đưa đến thái độ trọng đức, trọng văn, trọng Mẫu đề cao nguyên lý Mẹ.
+ Nguyên tắc trọng tình cũng là cơ sở của tâm lí hiếu hòa, chuộng sbình đẳng, dân chủ, đề cao
tính cộng đồng, tính tập thể.
- Về mặt tổ chức cộng đồng, người Việt có lỗi sống cố định lâu dài nên cũng hình thành lối
sống tự trị, khép kín, hướng nội. Trong ngôi nhà của người Việt rất coi trọng gian bếp, thể hin
sự coi trọng phụ nữ. Người Việt coi: Nhất vợ nhì trời; Lệnh ông không bằng cồng bà… Người
phnữ cũng được xem người vai trò quyết định trong việc giáo dục con cái: Phúc đức tại
mẫu; Con dại cái mang… Sự gắn bó cộng đồng tạo nên lối sống trọng tình nghĩa: Lá lành đùm lá
rách; Bầu ơi thương lấy bí cùng…; các quan hệ ứng xử thường đặt lý cao hơn tình: Một bồ cái lý
không bằng một tí cái tình.
lOMoARcPSD| 61463864
- duy tổng hợp phong cách linh hoạt của văn hóa nông nghiệp còn quy định thái độ
dung hợp trong tiếp nhận các yếu tố khoan dung trong ứng xử, mềm dẻo trong đối phó.
- Lối duy tổng hợp biện chứng, luôn đắn đon nhắc của người làmng nghiệp cộng
với nguyên tắc trọng tình đã dẫn đên lối sống linh hoạt, luôn thay đổi để thích hợp với từng hoàn
cảnh: bầu ttròn, ống thì dài; Đi với bụt mặc áo sa, đi với ma mặc áo giấy; Mặt trái
của tính linh hoạt thói tùy tiện biểu hiện tật co giãn giờ giấc, sự thiếu tôn trọng pháp luật, tệ
đi “ cửa sau” để giải quyết công việc( Nhất quen, nhì thân, tam thần, tứ thế).
Vì sống theo tình cảm nên mọi người phải biết tôn trọng và cư xử bình đẳng, dân chủ với nhau.
Lối sống trọng tình và cách cư xử dân chủ dẫn đến tâm lý coi trọng cộng đồng, coi trọng tập thể.
Người nông nghiệp làm gì cũng phải tính đến tập thể, luôn có tập thể sau lưng.
Trong lối ng xử với môi trường hội, tư duy tổng hợp phong cách linh hoạt còn quy định
thái độ dung hợp trong tiếp nhận: ở Việt Nam không những khôngchiến tranh tôn giáo mọi
tôn giáo đều được tiếp nhận. Đối phó với các cuộc chiến tranh xâm lược người Việt Nam luôn
hết sức mềm dẻo, hiếu hòa.
Như vậy, hầu như tất cả những đặc trưng của loại hình văn hóa gốc nông nghiệp trồng trọt đều
được thể hiện rõ nét trong cách tố chức đời sống, phương thức tư duy, lối ứng xử của người Việt
truyền thống.
- Tuy nhiên, mặt trái của tính linh hoạt trọng tình dẫn đến thái độ tùy tiện, coi thường
tính nguyên tắc, ý thức tổ chức kỷ luật kém.
Văn minh nông nghiệp kéo dài đã làm chậm sự phát triển của tiến trình lịch sử Việt Nam, không
tạo ra được những tiền đề điều kiện để bức ra khỏi cái khung phong kiến phương Đông, làm
hạn chế tính năng động, sáng tạo của con người Việt Nam và dẫn đến sự trì trệ của xã hội Việt
Nam.
Câu 4: Văn hóa là nền tảng, động lực và mục tiêu của sự phát triển:
(....)
* Văn hóa là nền tảng tinh thần của xã hội
- Đào tạo con người theo các giá trị chân-thiện-
- Hình thành trong phẩm chất mọi thành viên trong hội ý thức phát huy các tiềm năng vth
lực, trí lực và nhân cách
- Tích cực xây dựng một môi trường văn hóa lành mạnh để có đủ sức đề kháng đẩy lùi các tiêu
cực xã hội, bài trừ những văn hóa phản tiến bộ.
* Văn hóa là động lực thúc đẩy s phát triển của xã hội
- Sự phát triển của một dân tộc gắn liền với cái mới nhưng không tách rời cội nguồn, văn hóa
- Con người là nhân tố có vai trò quan trọng và là không thể thiếu trong sự phát triển của kinh tế,
xã hội
- Văn hóa khả năng tiếp thu cải biên những yếu tố văn hóa ngoại sinh để biến thành ngoạilc
thúc đẩy sự phát triển của kinh tế, xã hội
lOMoARcPSD| 61463864
- Văn hóa sẽ giải phóng nhân lên mọi tiềm năng sáng tạo của con người trong mọi lĩnh vực
đời sống xã hội mà trước hết là kinh tế
* Văn hóa là mục tiêu của sự phát triển
- Mục tiêu của sự phát triển ớc ta: “Dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh”
- Phát triển phải hướng tới mục tiêu văn hóa- xã hội mới đảm bảo được sự bền vững và trường
tồn cho sự giàu mạnh của tổ quốc.
- Văn hóa có vai trò đặc biệt quan trọng trong việc bồi dưỡng, phát huy nhân tố con người và xây
dựng hội mới.Văn hóa giúp mrộng hiểu biết, nâng cao dân trí, giúp bồi dưỡng tưởng
đúng đắn và tình cảm cao đẹp cho con người, cho nhân dân Việt Nam lí tưởng độc lập dân tộc
gắn với chủ nghĩa hội, đồng thời bồi dưỡng phong cách, lối sống lành mạnh, hướng con
người đến chân-thiện-mĩ để hoàn thiện bản thân.
VD: Trong chiến lược phát triển kinh tế 2011-2020:
+ Xác định: phát huy tối đa nhân tố con người, con người là chủ thể, nguồn lực chủ yếu và là mục
tiêu của sự phát triển”
+ Yêu cầu: Tăng trưởng kinh tế kết hợp hài hòa với phát triển văn hóa, thực hiện công bằng
hội, không ngừng nâng cao chất lượng cuộc sống của nhân dân”.
Câu 8: Trống đồng Đông Sơn với việc thể hiện văn hóa Văn Lang Âu Lạc:
Trống đồngsản phẩm của nền văn minh nông nghiệp phát triển, di vật tiêu biểu cho nền văn
hóa của người Việt cổ thời kỳ dựng nước. Trống đồng Đông Sơn là tên một loại trống đồng tiêu
biểu cho Văn hóa Đông Sơn (700 TCN - 100) của người Việt cổ. Những chiếc trống này với quy
mô đồ sộ, hình dáng cân đối, hài hoà đã thể hiện một trình độ rất cao về kỹ năng và nghệ thuật,
đặc biệt những hoa văn phong phú được khắc họa, miêu tchân thật đời sống sinh hoạt của
con người thời kỳ dựng nước.
Vào khoảng thế kỉ VII TCN, các nền văn hóa bộ lạc dần mất nh địa phương, tiến tới chỗ hòa
chung vào một văn hóa thống nhất văn hóa Đông Sơn. Đó lúc các nhóm bộ lạc liên kết lại
trong một quốc gia: nước Văn Lang.
Kỹ thuật đúc đồng thau đạt tới đỉnh cao của thời kỳ này với một trình độ điêu luyện đáng kinh
ngạc. Số ợng, loại hình công cụ, khí bằng đồng tăng vọt. Người Đông Sơn đã đúc những
hiện vật bằng đồng kích thước lớn, trang trí hoa văn phong phú : trống đồng, thạp đồng Đông
Sơn đã chứng tỏ trình độ kĩ thuật và bàn tay tài hoa của người thợ Đông Sơn.
Những họa tiết trên trống đồng Đông Sơn; thể nói chính bức tranh miêu tả về cuộc sống
sinh hoạt nông nghiệp của người Việt cổ. Với tay nghề điêu luyện của những nghệ nhân, bức
tranh được hiện lên một cách sinh động, hiện thực và ẩn sâu trong đó là sự cách điệu theo thời
gian.
Bức tranh lịch sử sinh hoạt nông nghiệp
Chắc hẳn không phải tự nhiên; trống đồng Đông Sơn lại được mệnh danh “bức tranh lịch
sử sinh hoạt nông nghiệp của người Việt c. Bởi trên phần mặt trống và thân trống đều là nhng
hình ảnh được cách điệu; tuy chỉ những đường nét mộc mạc, giản dị không quá cầu kỳ;
nhưng qua đó chúng ta có thhiểu rõ được phần nào về cuộc sống sinh hoạt lao động hàng
ngày của người Việt cổ.
lOMoARcPSD| 61463864
Hình ảnh ngôi sao
Hình ảnh ngôi sao trên bề mặt trống biểu tượng cho mặt trời; người Việt cổ rất coi trọng mặt
trời; bởi đây nguồn năng lượng tự nhiên biên giúp đỡ người dân trong quá trình sản xuất
lương thực của mình.
Mặc dù thời điểm đó họ chưa có những kiến thức về khoa học; nhưng họ đã biết được tầm quan
trọng của mặt trời đối với mùa màng cuộc sống hàng ngày. Ánh mặt trời không chỉ giúp soi
sáng họ còn rất mong đợi vào việc mưa thuận giúp hòa để giúp cánh tác tươi tốt; mùa
màng bội thu hơn.
Hình ảnh con chim
Không phải tự nhiên mà hình ảnh con chim chân cao, mỏ dài và đôi cánh vương cao lại xuất hiện
trên mặt trống. Loài chim này được gọi là chim Lạc; tuy thân hình của chúng rất mảnh mai; nhưng
loài chim này lại là biểu tượng của sức sống mãnh liệt và bền bỉ.
Chim Lạc còn mang tới cho người nhìn cảm giác tự do, tự tại, thoải mái mang trong mình nhiệt
huyết cháy bỏng; đây cũng chính khát vọng vươn cao xa hơn của người Việt Nam ta từ xưa.
Ngày nay, hình ảnh chim Lạc vẫn được sử dụng rất nhiều; thể nói đây cũng chính biểu
ợng mang nét đẹp văn hóa của dân tộc Việt Nam đã có từ rất lâu đời.
Nếu để ý kỹ chúng ta sẽ thấy được rằng; những con chim đang chạy theo chiều ngược kim đồng
hồ; đây hướng trái đất quay từ Tây sang Đông; điều này cũng chứng thực rằng, từ xa xưa
người Việt cổ đã có những kiến thức về thiên văn cao.
Hình ảnh nhà sàn
Khi nhìn vào họa tiết nhà sàn trên mặt trống đồng Đông Sơn sẽ thấy tới 2 ngôi nhà. Những
ngôi nhà này đều có điểm chung; là có 2 cột phía ngoài và thêm 1 cột giữa thực chất chiếc cột
giữa chính chiếc thang để đi lên nhà; bởi ngày xưa người ta thường phải làm nhà sàn để
tránh thú dữ.
Điểm khác biệt của 2 ngôi nhà này nằm mái nhà; nhiều thông tin cho rằng, ngôi nhà mái
cong chính là nhà ở của người dân; và ngôi nhà mái tròn thường được sử dụng liên quan đến tín
ngưỡng và thờ cúng.
Không chỉ tỉ mỉ trong từng hình ảnh; mà ngay đến cả những chi tiết nhỏ trong ngôi nhà cũng được
người Việt cổ khắc họa lại trên bề mặt của trống đồng. Điều này cũng thể hiện sự coi trọng vấn
đề tín ngưỡng thờ cúng ttiên và các vthần linh của người Việt Nam chúng ta đã từ rất lâu
đời.
Hình ảnh nhạc cụ
Xuất hiện trên mặt trống đồng Đông Sơn chính là nhạc cụ chính được sử dụng vào thời kỳ đó; là
kèn và trống. Đây chính là 2 loại nhạc cụ thường được chơi vào các dịp lễ hội.
Ngoài ra, họa tiết trống gắn với 2 hình ảnh khác nhau; đầu tiên chiếc trống được một người
dân đang đánh trong nhà hay trên thuyền để ginhịp. Và tiếp đó; chiếc trống được đặt trên giá
sát đất kèm theo đó một dàn trống; sẽ một người cầm chiếc gậy dài đánh theo chiều
đứng; đây hình ảnh thường xuất hiện trong dịp lễ hội; và cho đến ngày nay hình ảnh này vẫn
có thể thấy trong những ngày hội của người dân tộc Mường ở tỉnh Hòa Bình.
lOMoARcPSD| 61463864
Hình người
Mỗi một người dân được khắc lên mặt trống đồng đều thể hiện một hành động khác nhau; người
thì đua thuyền, người thì thực hiện nghi lễ hiến tế; người lại tham gia đánh trống, đánh chiêng,
nhảy múa; người đang giã gạo, đánh cá, làm ruộng. Hay thậm chí tục đối đáp; đôi nam nữ ngi
đối diện nắm tay nhau ca hát, đối đáp.
Đây là những hoạt động thể hiện lối sống sinh hoạt thường ngày của người dân; thình ảnh thực
hiện công việc hàng ngày, những thói quen sinh hoạt cho tới nhng dịp lễ hội đều được khắc họa
rất sinh động.
Ngoài ra, mỗi người xuất hiện trên trống đồng đều trang phục khác nhau: khố, váy, lông
chim, áo hai vạt ngắn dài. Điều này chứng tỏ rằng; ở thời kỳ này mọi người đã biết tới việc trồng
dâu nuôi tằm; và sản xuất ra những trang phục phù hợp với tất cả mọi người.
Hình ảnh chiếc thuyền chở người
Tiếp đến, biểu tượng cho sự phát triển về kỹ thuật quân sự của thời kỳ này chính là những chiếc
thuyền. thời kỳ này, người Việt cổ đã bắt đầu biết sử dụng gỗ để xây dựng nhà hay đóng
ghe, thuyền phục vụ cho việc đánh bắt cá. Hay thậm chí sử dụng để bảo vệ địch xâm phạm
vào lãnh thổ; trên thuyền sẽ xuất hiện hình ảnh người lính cầm đao, giáo, cung tên, trống trận; và
có cả những chú chó săn.
Ngoài ra, còn rất nhiều những họa tiết khác xuất hiện trên bề mặt và thân của trống đồng Đông
Sơn như: con hươu, trâu bò, chim trĩ, con công, chàng bè, chim trích, gà, cóc, các loại cá,… Đây
đều là những con vật quen thuộc trong cuộc sống hàng ngày của người dân.
Trống đồng Đông Sơn không chỉ vật linh; thông qua đó chúng ta đã được sáng tnhiu
vấn đề khoa học trống đồng thông điệp làm nên biểu tượng tập trung nhất những thành tựu
trong sinh hoạt kinh tế, văn hóa, xã hội và quyền uy của một nhà nước được xác lập đầu tiên trên
đất nước ta Nhà Nước Hùng Vương. Đây những “vật chứng” khẳng định những giá trị; về
truyền thống, đạo nhân văn sâu sắc của dân tộc Việt Nam; trong suốt chiều dài lịch sử dựng
ớc giữ ớc với bao biến cố, thăng trầm vẫn hiên ngang đứng vững; tự hào phát triển
đi lên cùng nhân loại.
Câu 9: Trình bày đặc trưng văn hóa làng xã của người Việt?
. Khái niệm: Làng 1 đơn vcộng 1 vùng đất chung của dân nông nghiệp, một hình
thức tổ chức xã hội nông nghiệp tiểu nông tự cung tự cấp, mặt khác, là mẫu hình xã hội phù hợp,
chế thích ứng với sản xuất tiểu nông, với gia đình tông tộc gia trưởng, đảm bảo sự cân
bằng và bền vững của xã hội nông nghiệp y.
Trong quá trình tương tác với môi trường tự nhiên môi trường hội, các đặc trưng văn hóa
của người Việt được hình thành, ăn sâu bám rễ vào đời sống làng quê. Các đặc trưng này đã
được nhiều nhà nghiên cứu chỉ mặt đặt tên” được công nhận rộng rãi bởi chính những
dân trên mảnh đất này.
- Tính cộng đồng:
Biểu tượng: Sân đình, bến nước, cây đa
Thnhất, tính cộng đồng được hình thành từ đời sống nông nghiệp lúa nước cần “ đông
tay hơn hay làm” đã tạo ra sự liên kết giữa những con người cùng huyết thống cùng
nơi tụ cư tạo thành sức mạnh tập thể.
lOMoARcPSD| 61463864
Thhai, tính cộng đồng được biểu hiện trong không gian làng với sự liên kết theo chiều
ngang tạo thành xóm làng. Biểu tượng cho tính cộng đồng làng xã hình ảnh “ cây đa”,
“ bến nước”, “ sân đình”... những nơi cư dân làng xã lấy làm chỗ sinh hoạt chung. Thba,
sự liên kết làng xóm hình thành các tchức phường ( liên kết các nhân cùng nghề),
hội( liên kết các cá nhân cùng sở thích)
Tính tích cực của văn hóa làng xã trong đời sống:
- Tinh thần đoàn kết tương trợ: tính cộng đồng trong phạm vi làng xã là cơ sở tạo nên tính
đồng nhất trong nhiều nh vực và tất yếu dẫn đến sự đồng nhất trong phạm vi quốc gia.
Tính đồng nhất đã giúp cho người Việt có tính đoàn kết, gắn bó rất cao, luôn yêu thương
giúp đỡ nhau “ lá lành đùm lá rách”, “ bán anh em xa mua láng giềng gần”.. sự đồng nhất
cũng chính là ngọn nguồn của nếp sống dân chủ, bình đẳng bộc lộ trong các nguyên tc
tổ chức nông thôn.
- Tinh thần tập thể hòa đồng: đề cao sự đồng nhất nên người Việt tinh thần tập thể
cao và rất dễ hòa đồng vào cuộc sống chung. Con người không chỉ gắn với nhau bằng
các quan hệ máu mủ còn gắn bó bằng những quan hệ sản xuất. Vận hành theo nếp
sống dân chủ, bình đẳng Tính tiêu cực:
- Thủ tiêu vai trò cá nhân: chính do sự đồng nhất mà ý thức cá nhân của con người bị th
tiêu. Từ đó mà người Việt luôn hòa tan vào các mối quan hệ hội, luôn giải quyết xung
đột theo lối “ hòa cả làng”, luôn “ dĩ hòa vi quý” không muốn mất lòng ai nên ít khi nói ra
quan điểm.
- Thói dựa dẫm, lại tập thể: sđồng nhất còn dẫn đến thói hay dựa dẫm, lại: nước
chảy tbèo trôi”, thơn tình trạng cha chung không ai khóc” thờ ơ, cảm với những
công việc chung và nghĩ đó việc của người khác không liên quan đến mình. Bên cạnh
đó còn là tư tưởng cầu an “ an phận thủ thường” và cả nể, làm gì cũng sợ “ rút dây động
rừng” nên mâu thuẫn thường chủ trương hòa hoãn đóng cửa bảo nhau” thậm chí
nhắm mắt cho qua”
- Thói cào bằng, đố kị: không muốn cho ai hơn mình ( đồng nhất nên tất cả phải giống
nhau) chết một đống còn hơn sống một người”. Trong đời sống có nhiều thành phần nảy
sinh lòng ghen ghét, tị nạnh, ích kỷ khi người khác được hưởng quyền lợi còn mình thì
không
- Tính chất ưa ổn định tự tr:
- Biểu tượng: Lũy tre
Thnhất, tính chất ưa ổn định được hình thành bởi nguyên do người làm nông nghiệp
lúa nước gieo hạt xuống phải đợi nảy mầm, rồi đợi đơm hoa kết trái và hưởng thụ thành
quả cho nên có xu hướng ở 1 chỗ, bảo vệ thành quả của mình, do đó hình thành tính ưa
ổn định. Tính chất tự trị là làng nào biết làng ấy, tồn tại biệt lập với nhau, mỗi làng là một
“ tiểu vương quốc” khép kín với pháp luật riêng ( hương ước)
Thứ hai, biểu hiện của tính chất này là thiên về tính tự trị, khép kín với biểu tượng “ lũy tre
làng”. Thực hành văn hóa tiêu biểu nhất hương ước làng xã, thhiện tinh thần “phép vua
thua lệ làng”. Hương ước là bộ luật của làng xã thể hiện tính tự trcủa làng xã đối với nhà nước
phong kiến, là cương lĩnh tinh thần của mọi thành viên trong làng xã. Tính tích cực: - Tính tự
lập:
+ Tính tự trị chú trọng sự khác biệt. Khởi đầu là sự khác biệt của cộng đồng này với cộng
đồng khác. Sự khác biệt là cơ sở của tính tự tr, tạo nên tinh thần tự lập cộng đồng - Nếp
sống tự cấp, tự túc, tính cần cù:
lOMoARcPSD| 61463864
+ phải tự lo liệu nên người Việt Nam truyền thống cần cù, đàu tắt mặt tối. to
nên nếp sống tự cấp, tự túc: mỗi làng tự đáp ứng mọi nhu cầu của làng; mõi nhàvườn
rau, ao cá, chuồng gà…- tự đảm bảo nhu cầu lương thực, bụi tre, rặng xoan, gốc mít
– tự đảm bảo nhu cầu về nơi ở
- Tính tự do ngôn luận, nhân quyền, dân chủ:
+ Hương ước vốn do người dân tự thảo luận, đề ra cùng với chính quyền thông
qua đthực hành. Hương ước quy định tự nguyện của người dân, không phải do ai áp đặt
-> bảo về quyền lợi nhân dân Tính tiêu cực:
- Óc tư hữu, ích kỉ:
+ Chính do nhấn mạnh sự khác biệt mà ngừoi Việt dần hình thành thói ích kỉ, đầu óc tư hữu
“thân ai nấy lo”, “ai có bò người nấy giữ”… Óc tư hữu, ích kỷ nảy sinh từ tính tự trị của làng
xã Việt và luôn bị chính người Việt phê phán: “của mình thì giữ bo bo, của người thì để cho
bà nó ăn”…
- Óc gia trưởng – tôn ti:
+ Tính tôn ty, sản phẩm của nguyên tắc tổ chức nông thôn thôn theo huyết thống tự thân
không phải xấu nhưng khi gắn với nh gia trưởng tạo nên tâm ý quyền huynh thế
phụ, áp đặt ý muốn của mình vào người khác; tạo nên thế lực vô lý “sống lâu ra lão làng”.
- Sự biến tướng tiêu cực của hương ước làng xã: “Thà thiếu thuế vua hơn thua tục dân”,
“Phép vua thua lệ làng”, “Gông làng vừa mang vừa hát”… -
Tư duy ổn định, ngại thay đổi:
+ Tập quán sản xuất nông nghiệp theo hình thức tiểu nông đã giúp giữ cho làng Việt
bình ổn hàng nghìn năm lại chính là lực níu kéo sự phát triển, khi tạo nên tư duy ổn định,
ngại thay đổi.
=> Chính những yếu tố đó đã kìm hãm sự phát triển, không thúc đẩy được sự phát triển
kinh tế nên không tạo ra tiềm lc
Câu 10: Văn hóa ở châu thổ Bắc Bộ thời Bắc thuộc:
Quá trình tiếp xúc văn hoá Hoa Việt lâu dài đã đem đến những thay đổi quan trọng trong
ngành thủ công nghiệp. Bên cạnh những nghề truyền thống, người Việt đã phát triển
những nghề thcông học từ người Hán như rèn sắt, làm gốm, làm gạch ngói, làm đường,
làm giấy, chế tạo thủy tinh, sản xuất đồ mỹ nghệ, thuộc da, sơn then… Trong từng nghề,
người Việt tiếp thu không chỉ kỹ thuật mà cả phong cách nghệ thuật Hán. Đồ gốm làm ra
trong thời kỳ này đã thấy xuất hiện nhiều loại hoa văn Hán rất đặc thù. Người Vit từ sản
xuất các loại gốm thô đã tiến tới làm ra các sản phẩm gốm tráng men. Nghề làm vật liệu
xây dựng đặc biệt phát triển nhằm phục vụ nhu cầu xây dựng các công trình kiến trúc
thành quách, chùa tháp, mtáng… của chính quyền cai trị. Nghề làm giấy học được từ
Trung Quốc cũng có những tiến bộ đáng kể; nghề chế tạo thủy tinh cũng đạt nhiều thành
tựu quan trọng với nhiều loại sản phẩm thuỷ tinh có nhiều màu, tinh xảo.
Trong thời kỳ này, chủ yếu hai luồng giao thương buôn bán hàng hoá, tiền đồng từ
Trung Quốc đvào Việt Nam và nguồn nông, lâm, thổ, hải sản, sản phẩm thcông từ Vit
Nam chuyển sang Trung Quốc. Hệ thống thuyền buôn Trung Quốc hoạt động mạnh đã nối
kết Việt Nam với nhiều quốc gia Đông Nam Á. Hệ thống giao thông, giao thương đã phát
triển, nối liền các địa phương trong một huyện, quận nối thông cả 3 quận Giao Chỉ,
Cửu Chân, Nhật Nam.
Về văn hoá xã hội, ới tác động của chính sách đồng hoá, các yếu tố văn hóa Hán ngày
càng ảnh hưởng sâu đậm tại nước ta. Xen kẽ và hoà cùng với các xómng người Việt
châu thổ sông Hồng, lúc này cũng bắt đầu xuất hiện một số thtrấn, xóm làng của người
lOMoARcPSD| 61463864
Hoa đồn điền, trại ấp của quan lại, địa chủ gốc Hán. Trải qua quá trình cộng sinh lâu
đời, nhiều người Hoa đã dần dần Việt hoá trở thành một bộ phận trong cộng đồng
người Việt.
Với việc xoá bỏ chế độ Lạc tướng cấu bộ lạc, nhiều truyền thống của công xã, b
lạc người Việt đã bị phá vỡ, phân hoá xã hội ngày càng sâu sắc hơn với những mối quan
hệ xã hội mới ra đời. Tầng lớp hào trưởng người Việt ngày càng có vai trò to lớn trong xã
hội, trong khi đó họ lại bị quan lại đô hộ chèn épphân biệt đối xử về cả kinh tế chính
trnên mâu thuẫn giữa họ với chính quyền đô hộ càng ngày càng trở nên sâu sắc. Họ dần
trthành thủ lĩnh đại diện cho phong trào đấu tranh chống lại ách dịch đồng hoá
của chính quyền đô hộ.
Văn hoá, luật tục và thiết chế cổ truyền của người Việt dần dần bị xoá bỏ và bị cải tổ theo
phong hoá Hán. Thậm chí tên họ người Việt đến đây cũng đã được thống nhất đặt theo
cách gọi chung của người Hán. Tuy nhiên nhiều truyền thống vẫn được bảo tồn bền bỉ
như tục thờ cúng tổ tiên, anh hùng công với cộng đồng, tục xăm mình, nhuộm răng
đen hay các hình thức tín ngưỡng dân gian khác của cộng đồng dân nông nghiệp trồng
lúa nước.
Quá trình giao lưu tiếp xúc văn hoá mạnh mđã đưa đến sự du nhập của các luồng
ởng, tôn giáo lớn như Nho giáo, Phật giáo, Đạo giáo… Nho giáo vào Việt Nam cùng với
chính sách dịch, đồng hoá của chính quyền cai trị nên ít điều kiện đi sâu vào đời
sống dân chúng, mà dường như mới chỉ dừng lại nh hưởng những tầng lớp trên trong
xã hội. Trái lại, Phật giáo ngay khi mới vào Việt Nam đãsự kết hợp với tín ngưỡng dân
gian bản địa một cách tự nhiên. Đây tôn giáo phát triển nhanh nhất ảnh hưởng
mạnh mẽ nhất tại nước ta trong thời Bắc thuộc. Sự phát triển mạnh của tôn giáo này đã
dẫn đến sự hình thành trung tâm Phật giáo Dâu – Luy Lâu phồn thịnh ngay từ những thế
kỷ đầu Công nguyên. Một tôn giáo khác cũng theo ớc chân người Hán du nhập vào
ớc ta Đạo giáo. Khoảng cuối thế kỷ II, Đạo giáo đã chính thức được truyền
vượt xa Nho giáo về mức độ ảnh hưởng trong dân chúng. Với tinh thần xuất thế, vi,
thoát tục, thuận theo tự nhiên, Đạo giáo đã được người Việt đón nhận nhanh chóng. Sự
xuất hiện phát triển đồng thời của nhiều tưởng, tôn giáo đã tạo nên sắc thái đa
nguyên hỗn hợp trong đời sống văn hoá tín ngưỡng của người Việt. Như vậy, mặc phải
chịu đựng ách cai trị tàn bạo chính sách đồng hoá khốc liệt của các triều đại phong
kiến phương Bắc, nhưng người Việt đã biết tiếp thu, học hỏi những yếu tố tiến bộ trong
văn hoá Hán, tạo nên những chuyển biến to lớn trong nền kinh tế, hội, văn hoá. Lối
sống và văn hoá Việt tiếp xúc lâu dài và trực tiếp với văn hoá Hán, đã diễn tiến dưới ảnh
ởng của văn hoá Hán dần dần biến đổi từ hình Đông Sơn cổ truyền sang
thức mới: Việt Hán.
Các chính quyền phong kiến phương Bắc, mặc dù đã cố gắng tìm mọi cách để đồng hoá
người Việt, song về căn bản trong suốt thời Bắc thuộc vẫn không thể nào trực tiếp với tay
tới can thiệp làm biến đổi được cấu xóm làng cổ truyền của người Việt. Các xóm
làng dựa trên scông nông thôn vẫn tồn tại như thế giới riêng của người Việt,
nơi nuôi dưỡng phát huy những tinh hoa của văn hoá truyền thống làm scho cuộc
đấu tranh chống Bắc thuộc, chống đồng hoá.
8, Chọn 1 tín ngưỡng cụ thể: nguồn gốc, chức năng, các thực hành văn hóa, giá
trị ( gợi ý tín ngưỡng thờ Mẫu)
Nguồn gốc của Tín ngưỡng Thờ Mẫu:
Thờ Mẫu là tập tục thờ cúng các vị nữ thần có từ thời nguyên thuỷ đại diện cho thiên
nhiên như mẹ Đất, mẹ ớc, mẹ Lúa… bởi trong quá trình mưu sinh tìm nguồn sống,
lOMoARcPSD| 61463864
con người luôn phải dựa vào thiên nhiên, đất trời vậy họ đã tôn thờ các hiện tượng
tự nhiên như đấng tối cao là Mẫu và thờ Mẫu, với mong muốn Mẫu sẽ bảo trợ và che
chở cho cuộc sống của họ được bình an, no ấm. Do đó, tín ngưỡng thờ Mẫu lúc y
chính là sự tin tưởng, ngưỡng mộ, tôn vinh và thờ phụng các vị nữ thần được cho là
khả năng siêu phàm, thể điều khiển được các hiện tượng tự nhiên mang tính
quy luật nhằm bảo trợ và che chở cho sự sống của con ngưi.
Theo thời gian, khái niệm Mẫu ngày càng được mở rộng bao hàm cả các nữ anh
hùng, hoàng hậu, công chúa, hay tổ của dòng họ, tổ nghcủa một làng
nghề…. Còn trong dân gian Mẫu còn là những người phụ nữ nổi lên trong lịch sử với
vai trò người bảo hộ, khi sống tài giỏi, công với ớc, với dân, khi mất hiển linh
phù trợ cho người an, vật thịnh. Những nhân vật này được kính trọng, tôn thờ và cuối
cùng được thần thánh hóa để tr thành một trong các hiện thân của thánh Mẫu. Họ
những vị thần vừa quyền năng màu nhiệm vừa người mẹ bao dung bảo hộ
che chở, vừa huyền bí lại vừa gần gũi.
Trải qua lịch sử hình thành phát triển, tín ngưỡng thờ Mẫu Việt Nam đã phát triển
hình thành tín ngưỡng Tam phủ (Thiên phủ, Nhạc phủ, Thoải phủ) rồi đến TPhủ có
thêm Địa Phủ. Vào khoảng thế kỷ XVI, bên cạnh nhu cầu phát triển nội tại của thứ tín
ngưỡng thờ Mẫu đã có từ trước, vừa là mong muốn khát vọng của quần chúng nhân
dân, đạo Mẫu của Việt Nam thêm sự xuất hiện của Thánh Mẫu Liễu Hạnh. Theo
quan niệm dân gian, bà là tiên nữ giáng trần, sau đó quy y Phật giáo và được tôn vinh
“Mẫu nghi thiên hạ”, hay hóa thân của Mẫu Thượng Thiên - con gái Ngọc Hoàng
thượng đế. Chính sự xuất hiện của Bà đã khiến cho n ngưỡng thờ Mẫu Tam Phủ T
Phủ ở ớc ta càng phát triển mạnh nâng lên một trình độ cao hơn, toàn diện hơn.
Ý nghĩa của Tín ngưỡng Thờ Mẫu: Tín ngưỡng thờ Mẫu nét sinh hoạt tầm ảnh
ởng sâu rộng trong đời sống tâm linh người dân Việt trong suốt chiều dài lịch sử dựng
ớc giữ ớc, cho đến ngày nay vẫn còn nguyên trong mình những giá trsâu sắc
Phát huy tinh thần Việt Nam: Thờ Mẫu là tín ngưỡng dan gian, đậm bản chất bản địa
chứa đựng những giá trị nhân văn, bản sắc văn hóa dân tộc, giúp phát huy tinh
thần đoàn kết dân tộc chống thiên tai, chống giặc ngoại xâm. Cột mốc đánh dấu sự
phát triển của tín ngưỡng thờ Mẫu Việt Nam phải kđến sự xuất hiện của mÂu
cùng với Lạc Long Quân sinh ra bọc “trăm trứng”. Truyền thuyết này nhằm tôn
vinh người mẹ đối với vấn đề đoàn kết dân tộc, là sự kế thừa tín ngưỡng thờ Mẫu
trong lịch sử, phản ánh nhu cầu đặt ra cho cả cộng đồng người Việt phải đoànkết gắn
bó mới tồn tại và phát triển được.
Tôn vinh vai trò của người phụ nữ Việt: Nếu như trước kia Việt Nam bị ảnh hưởng rất
nhiều của hệ tưởng “trọng nam khinh nữ” của Nho giáo thì ngày nay với sự phát
triển của tín ngưỡng thờ Mẫu đã khiếnnhững quan niệm cổ hủ đó ngày một mất đi,
đời sống con người tiến bộ hơn rất nhiều.
Thỏa mãn nhu cầu và khát vọng của con người: Sức mạnh và ý nghĩa của tín ngưỡng
ThMẫu chính thỏa mãn đáp ứng nhu cầu khát vọng của con người về sức
khỏe, bình an, làm ăn phát đạt, gặp nhiều may mắn… hướng con người ta đến với
lòng từ bi bác ái, nền tảng của đạo đức hội, nguyên tắc ứng xử giữa người với
người. Thông qua các nghi lễ hầu đồng các yếu tố dân gian như trang phục, âm
nhạc, hát chầu văn, múa, diễn xướng dân gian,... đặc biệt tính tương tác cao giữa
người thực hành nghi lễ - thầy đồng những người dự hầu để gửi gắm, biểu đạt
những mong muốn, khát vọng gửi đến với thần linh những đấng tối cao.
lOMoARcPSD| 61463864
9, Chọn 1 tôn giáo cụ thể: Nguồn gốc, chức năng, các thực hành văn hóa, giá trị (
gợi ý Phật Giáo) Nguồn gốc
- Ra đời khoảng thế kỉ VI TCN tại Ấn Độ
- Người sáng lập là Siddhartha Gautama hay còn được gọi là Tất Đạt Đạ / Thích Ca Mâu
Ni (652-544 TCN)
+ Là thái tử nhưng bất bình với sự phân chia đẳng cấp,thị màu da và đồng cảm với nỗi
khổ của muôn dân -> tìm con đường giải thoát
+ Rời nhà lúc 29 tuổi, đến 35 tuổi thì giác ngộ được tư tưởng, tìm ra hướng giải thoát.
Trong suốt 40 năm còn lại của cuộc đời đi các nơi để truyền bá tư tưởng của mìn
Giáo lý: Kinh Phật, được xếp thành 3 tạng
- Kinh tạng: chứa các bài thuyết pháp của Phật và một số đệ tử
- Luật tạng: chứa các lời Phật dạy về thế giới luật phươngt thức sinh hoạt của chúng
tăng
- Luận tang: chứa những lời bàn luận
Nội dung giáo lý : học thuyết về nỗi khổ và sự giải thoát, có cốt lõi là “Tứ diệu đế” (Bốn
chân lý kì diệu)
1. Khổ đế: bản chất của nỗi khổ Bát khổ”: sinh, lão, bệnh, tử, ái biệt ly, oán tăng hội, sở
cầu bất đạt, ngũ thụ uẩn
2. Tập đế: chân về nguyên nhân của nỗi khổ Đó là ái dục (tham muốn) minh (kém
sáng suốt). Dục vọng thể hiện hành động gọi Nghiệp; hành động xấu khiến con người
phải nhận hậu quả của nó (nghiệp báo)
=> Luẩn quẩn trong vòng luân hồi
3. Dit đế: cảnh giới diệt kh
Nỗi khổ sẽ được tiêu diệt khi nguyên nhân gây ra khổ bị loại trừ.
Sự tiêu diệt khổ đau gọi là niết bàn (nghĩa đen: không ham muốn, dập tắt)
Thế giới của sự giác ngộ và giải thoát
4. Đạo đế: con đường diệt khổ “Bát chính đạo” (tám con đường diệt khổ):
-Rèn luyện đạo đức- GIỚI: chánh ngữ, chánh nghiệp, tránh mạng
- Rèn luyện tư tưởng – ĐỊNH: chánh niệm, chánh định
- Khai sáng trí tuệ - TUỆ: chánh kiến, chánh tư duy, chánh tinh tấn Phật giáo có 2 phái:
Đại thừa & Tiểu thừa +Tiểu thừa (“cỗ xe nhỏ- chở được ít người):
- Theo xu hướng bảo thủ, chủ trương bám sát kinh điển, giữ nghiêm giáo luật - Phật t
phải tự giác ngộ cho bản thân,
- ChthPhật Thích Ca chỉ tu đến bậc La hán (người đã thoát cảnh luân hồi, đáng
được tôn kính)
+ Đại thừa (“cỗ xe lớn” - chở được nhiều người):
- Không cố chấp theo kinh điển, khoan dung đại lượng trong thực hiện giáo luật
- Thu nạp tất cả những ai muốn quy y, giác ngộ giải thoát cho nhiều người
- Thnhiều Phật, tu qua các bậc La hán, Bồ Tát đến Phật
Quá trình thâm nhập và phát triển của Phật giáo ở Việt Nam: 4 giai đoạn
Từ đầu công nguyên đến hết thời Bắc thuộc: giai đoạn hình thành phát triển
rộng khắp
- Đầu công nguyên (TK I,II): Du nhập vào Việt Nam qua đường biển, trung tâm là chùa
Dâu (Luy Lâu, Thuận Thành, Bắc Ninh) nhờ 1 số nhà truyền đạo gốc Ấn Độ, Trung Quốc.
Phật giáo lúc này mang màu sắc Tiểu thừa, Bụt như 1 vị thần luôn xuất hiện giúp người
tốt và trừng trị kẻ xấu
lOMoARcPSD| 61463864
- TK IV-V: phật giáo Đại thừa từ Trung Hoa tràn vào vào thay thế luồng Tiểu thừa trước
đó. Từ Buddha được phiên âm thành Phật (theo tiếng Hán) dần thay thế cho Bụt (phiên
âm theo tiếng Phạn). Bụt chỉ còn trong các quán ngữ với nghĩa ban đầu (“Gần chùa gọi
Bụt = anh”) hoặc trong các truyện cổ dân gian (Tấm Cám)
- 3 tông phái được truyền vào Việt Nam: Thiền tông, Tịnh độ tông và Mật tông + Thiền
Tông: chủ trương tập trung trí tuệ suy nghĩ để tự mình tìm ra chân lý, đề cao cái tâm
=>Đòi hỏi nhiều công phu, trí tuệ, phổ biến giới tri thức thượng lưu
+ Tịnh Độ tông: dựa vào sự giúp đỡ bên ngoài đề cứu chúng sinh thoát khổ thường
xuyên đi chùa lễ Phật, tụng niệm “Nam mô A-di-đà Phật” =>đơn giản, phổ biến cho mọi
người giới bình dân
+ Mật tông: sử dụng những ph p tu luyện mật (linh phù, mật chú, ấn quyết,..) để thu
hút tín đồ mau chóng đạt đến giác ngộ giải thoát =>Hòa vào dòng tín ngưỡng dân
gian Việt Nam như cầu đồng, dùng pháp thuật, yểm bùa trị ma và chữa bệnh,...
Thời Lí – Trần: giai đoạn cực thịnh
- Nhiều chùa tháp quy to lớn/kiến trúc độc đáo được xây dựng: Chùa Phật Tích,
chàu Dam (chùa Đại Lãm), chùa Diên Hựu (Một Cột), hệ thống chùa Yên Tử,v.v. - Bốn
công trình nghệ thuật lớn thời - Trần sách vở Trung Hoa còn truyền tụng “An
Na tứ đại khí”:
+ Tượng Phật chùa Quỳnh Lâm (pho tượng Di lặc bằng đồng cao 6 trượng (24m) đặt trong
một tòa Phật điện cao 7 trượng, xây dựng vào TK XI)
+ Tháp Báo Thiên ( vua Thánh Tông cho xây năm 1057, 12 tầng, 20 trượng, đệ nht
danh thắng đế đô một thời, bị phá hủy bởi quân Vương Thông năm 1414, những còn
sót lại đã bị Pháp phá hoàn toàn để xây nhà thờ lớn trên nền đất ấy.)
+ Chuông Quy Điền (năm 1101 vua Lý Nhân Tông xuất hàng vạn cân đồng để đúc và dự
định treo tại chùa Diên Hựu nhưng do to nặng quá không thể treo lên, đành để ngoài
ruộng, rùa bò ra bò vào nên dân gian gọi là chuông Quy Điền (ruộng rùa))
+ Vạc Phổ Minh (thời Trần Nhân Tông, vạc to đến mức nấu được cả 1 con mộng, tr
con có thể chạy nô đùa trên thành miệng vạc. Nay còn lại 3 trụ đá kê chân vạc trước sân
chùa Phổ Minh)
Thời Hậu Lê =>Cuối TK XIX: nhà nước tuyên bố lấy Nho giáo là quốc giáo, Phật giáo
dần suy thoái. Đầu TK XVIII, vua Quang Trung quan chấn hưng đạo Phật, song vì
vua mất sớm nên việc này ít thu được kết quả Đầu TK XX => nay: Giai đoạn chấn
hưng Phật giáo
- Đầu TK XX, trước trào lưu Âu hóa, phong trào chấn hưng Phật giáo được dấy lên,
khởầu từ các đô thị miền Nam. Các hội Phật giáo Nam,Trung, Bắc Kì lần lượt ra đời.
- Đến nay, Phật giáo tôn giáo số tín đồ đông nhất Việt Nam. Xuất gia khoảng 3
triệu người, thường xuyên đến chùa tham gia các Phật sự khoảng 10 triệu chịu ảnh
ởng cũng khoảng vài chục triệu. Đặc điểm của Phật giáo Việt Nam Tính tổng hợp:
+ Hòa nhập với tín ngưỡng dân gian:
VD:
- Hệ thống chùa Tứ pháp vẫn chỉ là nhng miếu dân gian thờ các vị thn tự nhiên: Mây -
Mưa - Sấm - Chớp và thờ đá
- Lối kiến trúc chùa: tiền Phật hậu Thần, đưa cả thn thánh, thành hoàng, thổ địa, các anh
hùng dân tộc vào thờ trong chùa. Hầu như không chùa nào không để bia hậu, bát nhang
cho các linh hồn đã khuất.
+ Tổng hợp các tông phái với nhau: không có tông phái Phật giáo nào là thuần khiết VD:
- phối hợp Thiền Tông với Tịnh Độ tông.
- Bắc: Chùa có nhiều phoợng Phật, bồ tát, la hán của các tông phái khác nhau.
lOMoARcPSD| 61463864
ợng Phật Thích ca tới 5 dạng: Thích ca sinh (Thích Ca Cứu Long), Tuyết Sơn,
Thích Ca đứng thuyết pháp, Thích Ca ngồi tòa sen, Thích Ca nhập niết bàn (lúc sắp mất)
- Nam: chùa mang hình thức Tiểu thừa (thờ Thích Ca, mặc áo vàng) nhưng lại theo
giáo lý Đại thừa (cạnh Phật Thích Ca lớn có nhiều tượng nhỏ, ngoài áo vàng có đồ nâu
lam)
+ Tổng hợp chặt chẽ với các tôn giáo khác, Phật với Nho, với Đạo.
+ Kết hợp việc đạo với việc đời
VD: Các cao tăng được mời tham chính hoặc cố vấn trong những việc hệ trng
- Vua Đinh Tiên Hoàng phong đại sư Khuông Việt làm tăng thống, tiếp sứ thần nhà Tống
- Vua Lê Đại Hành hỏi ý kiến sư Vạn Hạnh trước khi xuất quân đánh Tống
- Thời Lý, thiên sư Vạn Hạnh cố vấn mọi mặt cho vua Lý Thái Tổ
..
. Nhiều vua quan quý tộc đi tu Đầu TK XX, Phật tử xuống đường phản đối nền độc tài
của gia đình họ Ngô: hòa thượng Thích Quảng Đức tự thiêu 1963. Khuynh
ớng thiên vềnữ tính (Đặc trưng bản chất của VH nông nghiệp)
+ Các vị Pht Ấn Độ xuất thân là đàn ông, sang VN thành Phật Ông, Phật Bà
VD: - Bồ tát Quan Thế Âm => Phật Bà Quan Âm với nghìn mắt nghìn tay
- Tạo ra Phật riêng: Đứa con giá nàng Man, sinh ngày 8/4, được xem Phật Tổ Vit
Nam, Man Phật Mẫu => 8/4 ngày Phật Đản; hay Quan Âm Thị Kính, Phật
chùa Hương, các thánh mẫu,...
+ Chùa chiền mang tên các bà: Chùa Bà Dâu, chùa Bà Đá, chùa Bà Đanh,...
+ Tuyệt đại bộ phận Phật tử tại gia là các bà: “Trẻ vui nhà, già vui chùa”
Tính linh hoạt
- Tạo ra lịch sử Phật giáo cho riêng mình: nàng Man, cô gái làng Dâu Bắc Ninh, một trong
những đệ tử đầu tiên của Phật giáo, trở thành Phật Mẫu, đứa con gái của nàng hóa thân
vào đá à trở thành Phật Tổ với ngày sinh là ngày Phật Đản 8/4.
- Coi trọng việc sống phúc đức, trung thực hơn là đi chùa: “Thứ nhất là tu tại gia, thứ nhì
tu chợ, thứ 3 tu chùa”hay “Dù xây 9 bậc phù đồ, không = làm phúc cứu cho 1 người”;
Coi trọng truyền thống thờ cha mẹ, ông hơn là thờ Phật; đồng nhất cha mẹ, ông
với Phật
- Đức Phật được đồng nhất với những vị thần trong tín ngưỡng cứu giúp mọi người, làm
mây mưa sấm chớp để mùa màng tốt tươi, ban cho người hiếm muộn con, ban lộc
cho bình dân để làm ăn phát đạt, cứu độ người chết và giúp họ siêu thoát. - ợng Phật
mang dáng dấp hiền hòa với những tên gọi rất dân gian: ông Nhịn ăn mà mặc(Tuyết Sơn
gầy ốm), ông Nhịn mặc mà ăn (Di lặc to béo), ông Bụt Ốc (Thích ca tóc quăn),.. ; nhiu
pho tượng tạc theo dáng chân co chân duỗi rất thoải mái, giản dị,... - Chùa thiết kế theo
phong cách ngôi nhà cổ truyền với hình thức mái cong có ba gian hai chái, năm gian hai
chái, trở thành công trình công cộng quan trọng thứ hai của mỗi làng
Phật gíao Hòa Hảo (tổng hớp đạo Phật với đạo ông bà - thờ cúng tổ tiên)
- Lấy pháp môn Tịnh Độ làm căn bản, kết hp với đạo thờ ông bà tổ tiên đề ra thuyết
“Tân”: Ơn tổ tiên cha mẹ, ơn đất nước, ơn tam bảo, ơn đồng bào nhân loại . Kết
luận: Phật Giáo từ lâu đã thâm nhập vào tâm hồn, nếp nghĩ, lối sống của dân tộc
Việt Nam, kết hợp hài hòa với tín ngưỡng dân tộc đã trở thành bản chất bản
sắc của dân tộc Việt Nam.
lOMoARcPSD| 61463864
10. Chọn 1 lễ hội cthể: nguồn gốc, chc năng , các thực hành văn hóa, giá trị Lễ
hội KHAI ẤN đền Trần Nam Định
- Khai ấn là gì ? “Khai ấn là để báo cho mọi người biết là giờ nghỉ của quan chức,
chính quyền; thời gian nghỉ Tết kết thúc và bắt đầu vào thời gian làm việc. Bây giờ, người
ta hiểu khai ấn theo một cách khác” theo Nhà Sử học Lê Văn Lan
- Kiểu lễ hội: Lễ hội Khai Ấn là Lễ hội dân gian truyền thống, thuộc loại lễ hội liên
quan đến cuộc sống trong mối quan hệ với môi trường hội dựa theo cấu trúc của hệ
thống văn hóa
- Địa điểm tổ chức:tại Đền Trần hay còn gọi là Trần Miếu. Ngôi đền nằm đưng
Trần Thừa, phường Lộc Vượng, thành phố Nam Định (sát quốc lộ 10).
- Thờ ai: Ngôi đền này nơi thờ 14 vị vua nhà Trần cùng các quan lại có công phù
tá - những người đã có công dựng nước khai sông, lấp biển mở mang bờ cõi với hào khí
Đông A sáng ngời, ba lần đánh thắng giặc Nguyên - Mông.
- Thời gian diễn ra lhội: từ ngày 11-16 tháng Giêng âm lịch hằng năm -Nguồn
gốc của lễ hội KHAI ẤN đền Trần Nam Định:
+Lkhai ấn là một tập tục từ thế kỷ XIII, chínhc là vào năm 1239 của triều đại nhà Trn
thực hiện nghi lễ tế tiên tổ. Tại phủ Thiên Trường, vua Trần mở tiệc chiêu đãi phong
chức cho những quan quân có công. Những năm kháng chiến chống Nguyên- Mông sau
đó, Lễ khai ấn bị gián đoạn cho tới năm 1262 được Thượng hoàng Trần Thánh Tông cho
mở lại.
+Thiên Trường không phải Kinh đô nước Việt nhưng gắn với việc khai ấn bởi trong
kháng chiến chống Nguyên - Mông, Thăng Long thực hiện vườn không nhà trống, rút lui
chiến lược thì nơi đây là căn cứ địa dễ tiến thoái như một "Thủ đô kháng chiến" theo cách
gọi hiện đại để tận dụng địa thế huy động sức người sức của cả một vùng trấn Sơn
Nam, phủ Thiên Trường... Vậy nên danh Phạm Mạnh mới gọi nơi đây "Hùng thắng
Đông kinh hộ ấn vàng...".
+Trải bao thế kỷ, ấn cũ không còn. Năm 1822, vua Minh Mạng qua Ninh Bình ghé lại
đây và cho khắc lại. Ấn cũ khắc là "Trần triều chi bảo", ấn mới khắc là "Trần triều điển cố"
để nhắc lại tích cũ. Dưới đó có thêm câu "Tích phúc vô cương".
-Thời khắc KHAI ẤN: vào giờ Tý ngày rằm tháng Giêng (từ 11 giờ đêm 14 đến 1 giờ sáng
ngày 15 tháng Giêng)
- Ý nghĩa Ấn đền Trần: Bản chất của bốn chữ “Tích phúc vô cương” trên ấn là Nhà
Trần ban cho con cháu cái phúc, dạy con cháu, bách gia trăm họ phải biết giữ gìn phẩm
chất đạo đức, tích phúc thật tốt, phúc đức càng dầy thì được hưởng lộc càng bền vững.
Đấy là ý nghĩa giáo dục sâu sắc nhất của việc ban ấn.
-Phần Lễ * Nghi lễ diễn ra trong lễ hội
- Tại đền Cố Trạch, thế hệ lão ông, lão khoác lên mình áo dài khăn xếp cùng dân làngtề
tựu đông đủ để tham dự lễ tế thánh rồi dự lễ Khai Ấn.
+ Đúng giờ (khoảng 23 giờ - 1 giờ đêm), buổi lễ bắt đầu. Đoàn người rước hòm ấn tiến
sang đền Thiên Trường. Họ dâng hương tế cáo trời đất tại bàn thờ Trung thiên, rồi c
ấn vào nội cung, đặt ấn tại ban công đồng làm lễ xin khai ấn.
+ Người bồi tế đặt 1 loại giấy dân gian của Việt Nam lên trước tế chính. Giấy sau khi xin
dấu son được chia phát cho những người có mặt trong buổi lễ, đem về treo trong nhà để
lấy may và xua đuổi rủi ro, tà ám.
- Sáng ngày 15 tháng Giêng, dân làng sẽ tổ chức rước nước.
+ Dân làng xin hương rồi nghênh kiệu, làm lễ, tiến ra bờ sông Hồng.
+ Tại bến Hữu Bị dừng kiệu, chèo thuyền ra giữa sông, múc nước trong vào bình sẵn ri
ớc theo đường cũ về đền. Nước trong bình sau đó sẽ được múc ra các bát đặt lên bàn
lOMoARcPSD| 61463864
thờ để tiến hành tế ớc. Tế xong thì đưa cho con cháu hTrần uống ghi nhớ cội nguồn
tổ tiên.
- Đến ngày 16 buổi sáng, lễ tế sẽ diễn ra tại đền Thiên Trường. được đựng trong
các thúng sơn đỏ có nước gồm cá quả (Triều đẩu), chép (Long ngư), ứng với Trần Kinh
Trần hai vị tổ họ Trần. Trước đây đựng trong 11 thúng sơn đỏ. Một đôi
Triều đẩu nặng chừng 2kg, còn cá chép mỗi con nặng 2kg. Tế cá từ sáng sớm tới trưa,
rồi rước cá thả ra sông Hồng
-Phần Hội
Sau phần lễ phần hội với các sinh hoạt văn hoá khá phong phú độc đáo như hội diễn
củ 3 thế hệ (ông, cha, con) tại sân đền Thiên Trường còn diễn ra cuộc đấu vật, múa
rồng, múatử…hội chọi gà, ném vòng cổ chai, chơi đu, chơi cờ thẻ… Đặc biệt múa bài
Bông một điệu múa mừng chiến thắng của quân dân thời Trần. Tương truyền do thái sư
Trần Quang Khải sáng tác và dạy cho các ca vũ cung đình. Sau này dân làng Phường
Bông (Mỹ Trung) vốn xưa phương múa hát phục vụ cung đình, tập luyệ các điệu múa
nàytrình diễn trong các dịp lễ hội đền Trần. Ngoài lễ hội lớn tháng 8 âm lịch hàng năm
đúng vào ngày kỵ Trần Hưng Đạo tại đền Cố Trạch còn những ngày kỵ gikhác như
ngày giỗ của thân Phụ Vương Mẫu, các con các lão tướng Trần Hưng Đạo.
-Tầm quan trọng của lễ hội đền Trần : Đền Trần một nơi linh thiêng,là niềm tự hào
của người con Nam Định nói riêng và cdân tộc Việt Nam nói chung. Lễ Khai ấn đền Trần
một phong tục tốt đẹp,một hoạt động văn hóa mang nh nhân văn sâu sắc thể hin
truyền thống yêu nước và đạo lí uống nước nhớ nguồn của nhân dân ta.
*Giá trị của Lễ hội:
- VĂN HOÁ: Tưởng nhớ công đức của các bậc tiền nhân, ghi nhớ công lao to lớn
của Vương Triều nhà Trần bảo tồn, phát huy những giá trị văn hóa.
- TINH THẦN: Khơi dậy lòng yêu nước, tình yêu quê hương. Ý thức bảo tồn văn
hoá dân tộc, văn hoá bản địa, tinh thần đoàn kết, giáo dục truyền thống yêu nước chống
giặc ngoại xâm
- KINH TẾ: Giúp tăng thêm thu nhập cho con người, địa phương. Tạo việc làm cho
người dân địa phương, nâng cao đời sống mọi mặt cho nhân dân
- DU LỊCH: Từng bước tạo điểm nhấn thu hút khách du lịch đến tham quan hàng
năm. Góp phần đa dạng hoá các loại hình du lịch. Góp phần quảng bá vẻ đẹp của lễ hội,
văn hoá, phong tục của lễ hội và bạn bè quốc tế. Tạo ra những cảnh quan đẹp trong mắt
khách du lịch. Giúp cho đất nước trnên giàu mạnh hơn, phát triển hơn được nhiều
người biết đến. Giúp cho ngành du lịch trở nên phát triển thu nhập tăng hàng năm.
11, Văn minh Đại Việt ( thời gian, thành tựu, ý nghĩa trong văn hóa)
- Thời gian: Văn minh Đại Việt những sáng tạo vật chất và tinh thần tiêu biểu của cộng
đồng các dân tộc sinh sống trên lãnh thổ Việt Nam từ thế kỷ X => giữa TK XIX.
- Thành tựu:
+ Trong khoảng thời gian tự trị của mình từ năm 905 đến 1858, nhân dân Đại Việt đã xây
dựng được cho mình một nền văn minh rực rỡ trên các lĩnh vực chính trị, kinh tế, giáo dục
cũng như văn hóa nghệ thuật.
a. Thành tựu chính trị:
- Nhà nước xây dựng theo mô hình quân chủ chuyên chế, gồm 2 bộ phận: trung ương và
địa phương. Đứng đầu TW vua nắm quyền lực chủ yếu, vua trở thành biểu tượng
của quốc gia theo đúng quan niệm của Nho giáo là “trung quân” là “ ái quốc”. Vua thống
trtheo chế độ cha truyền con nối. Bên cạnh vua các hệ thống đại thần giúp việc.
địa phương , làng xã vẫn là cơ sở nhưng bên trên đã có 1 hthống hành chính; lộ, phú,
châu, huyện. Đều có quan lại và quân đội cai quản mỗi nhóm.
lOMoARcPSD| 61463864
- Đến thời Trần và thời Lê Sơ, nhà nước quản lý chặt chẽ hơn hệ thống
- Đến thế kỉ XV, Đại Việt đã trở thành một khối thống nhất tchức trật tự do nhà
ớc quản lý. Đó là một hệ thống chính quyền phong kiến tập trung cao độ, thể hiện sức
mạnh chi phối của triều đình trung ương xuống các địa phương quyền chuyên chế
tuyệt đối của nhà vua.
b. Luật pháp:
- Thời Khúc, Ngô, Đinh, Tiền Lê chưa có luật nên nhà nước thường xử theo ý vua
- Năm 1002 Lê Hoàn bắt đầu định luật lệ, tuy nhiên đó mới chỉ là nhữung quy chế đầu tiên
của nhà nước trung ương để quản lý đất nước
- Năm 1042, Thái Tông đề ra bộ luật Hình thư – bộ luật thành văn đầu tiên của nước ta,
đã đánh dấu một bước tiến của nền văn minh Đại Việt, xuất hiện từ nhu cầu bảo vệ trị an
của đất nước cũng như bộ máy nhà nước của giai cấp cầm quyền.
- Sau đó sự xuất hiện của bộ luật Hồng Đức phản ánh những lợi ích của tầng lớp
thống trị mà còn phản ánh thực tế phong hóa của xã hội đương thời, những quan hệ
hội được luật pháp hóa: vua tôi, quan dân, cha mẹ - con cái, vợ - chồng, anh em,
chủ - tớ, quan hệ ruộng đất,...
- Sang TK XIX, ới thời Nguyễn có sự ra đời của luật Gia Long,nhưng bộ luật này cũng
chỉ củng cố thêm tính chất lạc hậu, thủ cựu của chế độ chính trị làm mất dần bản sắc dân
tộc
c. Đời sống kinh tế:
- Nông nghiệp: Công cụ sắt thay thế dần công cụ bằng đồng. Nông nghiệp dùng cày
sức kéo của trâu bò trở thành phổ biến vùng đồng bằng.
- các chính sách miễn giảm thuế cho dân trong những năm thất thu, nhà nước đặt ra
các chức Hà đê sứ, Khuyến nông sứ - trông coi việc đắp đê và sx nông nghiệp.
- Từ thời Lý - Trần nhân dân Đại Việt đã biết sử dụng kĩ thuật thâm canh trong làm ruộng,
một năm hai ba vụ.
- Nhà nước & nhân dân cùng hợp lực khai phá đất hoang, xây dựng làng xóm, mrộng
ruộng đồng.
- Nắm được kỹ thuật nhân giống lúa: trồng được 8 giống lúa chiêm, 27 giống lúa mùa, 29
giống lúa nếp.
- Cây ăn quả phát triển
- Tục lệ nhuộm răng ăn trầu phổ biến
- Thcông nghiệp: Các nghề thủ công cổ truyền như : chăn tằm, ươm tơ, dệt lụa, làm đồ
trang sức bằng vàng, nghề đúc đồng, làm giấy... đều phát triển.
- Nghề làm gốm được phát triển với trình độ ngày càng tinh xảo.
- Nhiều sản phẩm tính giá trị cao được xuất khẩu sang phương Tây : chiếu Nga Sơn,
gạch Bát Tràng, lụa Hà Đông..
- Nghề luyện kim, khai khoáng càng ngày càng được mở rộng
- thời kỳ Đại Việt các ngành nghề thcông phát triển rộng rãi hơn trước, vừa đáp ứng
tốt hơn nhu cầu của nhân dân trong nước, vừa tạo ra đựơc những mặt hàng quan trọng
để trao đổi với thương nhân nứơc ngoài. Một số nghmới ra đời, đã đóng góp đáng k
vào bước tiến của kỹ thuật và văn hoá.
d. Khoa học kĩ thuật:
- Từ TK XIV, hình học số học được dử dụng trong đo đạc ruộng đất tính toán xây
dựng
- Ra đời của thiên văn học
- Thành lập Quốc sử viện – cơ quan viết sử của nhà nước

Preview text:

lOMoAR cPSD| 61463864 A.
Đề cương cơ sở văn hóa Việt Nam
Khái niệm/ thuật ngữ 1. Văn hóa là gì
Có rất nhiều quan niệm khác nhau về văn hóa. -
Theo GS Trần Ngọc Thêm: “Văn hóa là 1 hệ thống hữu cơ các giá trị vật chất và
tinh thần do con người sáng tạo và tích lũy qua quá trình hoạt động thực tiễn trong sự
tương tác giữa con người với Môi trường tự nhiên và Môi trường xã hội”. Khái niệm này
đã nêu ra 4 đặc trưng cơ bản của văn hóa là tính hệ thống, tính giá trị, tính lịch sử và tính nhân sinh. -
Với Từ Chi, ông cho rằng “ Tất cả những gì không phải là tự nhiên đều là văn hóa”,
tức nhấn mạnh vào vai trò của con người đối với việc sáng tạo văn hóa. -
Còn theo chủ tịch HCM, Người lại quan niệm: ” Vì lẽ sinh tồn cũng như mục đích
của cuộc sống, loài người mới sáng tạo và phát minh ra ngôn ngữ, chữ viết, đạo đức,
pháp luật, khoa học, tôn giáo, văn học, nghệ thuật, những công cụ phục vụ cho sinh hoạt
hàng ngày về mặt ăn ở và các phương thức sử dụng. Toàn bộ những sáng tạo và phát
minh đó tức là văn hóa”. Như vậy, khái niệm này lại nhằm nhấn mạnh mục đích sáng tạo
văn hóa cùng những hình thức tồn tại của nó .
Theo những quan điểm quốc tế, UNESCO đã nêu lên 3 đặc điểm cơ bản của văn hóa:
+ Văn hóa bao gồm những giá trị vật chất và tinh thần
+ Văn hóa tạo ra sự khác biệt
+ Văn hóa là động lực cho sự phát triển
 Kết luận: Các định nghĩa về văn hóa tóm lại có thể quy về 2 cách hiểu. Đó là những lối
sống, cách suy nghĩ, ứng xử (khi được hiểu theo nghĩa rộng) và là những phương diện
văn học, văn nghệ, học vấn (khi được hiểu theo nghĩa hẹp) -
VD: Tục nhuộm răng, ăn trầu, xăm mình, tổ chức lễ hội ngày mùa, trang phục
truyền thống … (theo nghĩa rộng) hoặc đi đường đâm vào người khác không xin lỗi  thiếu
văn hóa ; trình độ văn hóa  trình độ học vấn (theo nghĩa hẹp) 2. Văn minh là gì -
Phương Đông: văn minh chỉ tia sáng của đạo đức, biểu hiện ở chính trị, pháp luật, văn hóa, nghệ thuật -
Phương Tây: (civitas: đô thị, thành phố) văn minh chỉ xã hội đạt tới giai đoạn tổ
chức đô thị và chữ viết
=> Văn minh chỉ trình độ văn hóa về phương diện vật chất, đặc trưng cho 1 khu vực rộng
lớn, 1 thời đại hoặc cả nhân loại. Văn minh có thể so sánh cao thấp, văn hóa chỉ là sự khác biệt.
VD: văn minh lúa nước, văn minh cơ khí, văn minh châu Âu 3. Văn hiến là gì
- Văn hiến: văn = vẻ đẹp, hiến = hiền tài. Văn hiến thiên về các giá trị tinh thần do hiền tài sáng tạo ra.
VD: chữ viết, thơ văn, phong tục tập quán lOMoAR cPSD| 61463864 4. Văn vật là gì
Văn vật: văn = vẻ đẹp, vật = vật chất. Văn vật thiên về những giá trị văn hóa vật chất. Biểu
hiện ở những công trình, hiện vật có giá trị nghệ thuật và lịch sử. VD: Phở Hà Nội, Cốm
Làng Vòng, Gốm Bát Tràng  Văn hiến, văn vật chỉ là 1 bộ phận của văn hóa. 5. Tôn giáo là gì
Tôn giáo là niềm tin của con người tồn tại với hệ thống quan niệm và hoạt động bao gồm
đối tượng tôn thờ, giáo lý, giáo luật, lễ nghi và tổ chức 6. Tín ngưỡng là gì
Tín ngưỡng là niềm tin của con người được thể hiện thông qua những lễ nghi gắn liền với
phong tục, tập quán truyền thống để mang lại sự bình an về tinh thần cho cá nhân và cộng đồng.
7. Phong tục tập quán là gì
“ Phong tục tập quán là những thói quen văn hóa có tính dân tộc và tính lịch sử được hình
thành trong đời sống của con người, trở thành những chuẩn mực văn hóa được mọi người thừa nhận và tuân theo.
8. Phát triển bền vững
Phát triển bền vững là phát triển đáp ứng được nhu cầu của thế hệ hiện tại mà không
làm tổn hại đến khả năng đáp ứng các nhu cầu đó của các thế hệ tương lai trên cơ sở
kết hợp chặt chẽ, hài hoà giữa tăng trưởng kinh tế, giải quyết các vấn đề xã hội và bảo
vệ môi trường. 9. Làng xã là gì
Khái niệm: Làng là 1 đơn vị cộng cư có 1 vùng đất chung của cư dân nông nghiệp, một
hình thức tổ chức xã hội nông nghiệp tiểu nông tự cung tự cấp, mặt khác, là mẫu hình xã
hội phù hợp, là cơ chế thích ứng với sản xuất tiểu nông, với gia đình – tông tộc gia trưởng,
đảm bảo sự cân bằng và bền vững của xã hội nông nghiệp ấy.
10. Toàn cầu hóa là gì
Toàn cầu hóa là khái niệm dùng để miêu tả các thay đổi trong xã hội và trong nền kinh tế
thế giới, tạo ra bởi mối liên kết và trao đổi ngày càng tăng giữa các quốc gia, các tổ chức
hay các cá nhân ở góc độ văn hóa, kinh tế... trên quy mô toàn cầu
11. Chủ nghĩa yêu nước có nội hàm gì
Chủ nghĩa yêu nước (hay chủ nghĩa ái quốc, lòng yêu nước, tinh thần yêu nước) là cảm
xúc, tình cảm, tinh thần yêu thương, tích cực về quê hương, đất nước hay cội nguồn của
một cá nhân hay tập thể, trong đó quê hương có thể là một vùng, một thành phố nhưng
thông thường thì khái niệm này gắn với khái niệm quốc gia. Nó gồm những quan điểm
như: tự hào về thành tựu hay văn hóa của quê hương, mong muốn được cống hiến hết
mình cho quê hương đất nước. Hiện nay chủ nghĩa yêu nước rất gần với chủ nghĩa dân
tộc, vì thế chúng hay được dùng như những từ đồng nghĩa. Nếu xét cặn kẽ thì chủ nghĩa
dân tộc liên quan tới các học thuyết và phong trào chính trị hơn, trong khi chủ nghĩa yêu
nước liên quan tới tình cảm nhiều hơn. Chủ nghĩa yêu nước giúp con người cảm thấy yêu
mến, tự hào, có các trách nhiệm hơn với quốc gia dân tộc. Một lòng yêu nước thái quá
trong việc bảo vệ một dân tộc được gọi là chủ nghĩa sô vanh.
Câu 1: Phân tích một quan niệm về văn hóa mà anh/chị cho là tiêu biểu nhất? Phân biệt
văn hóa với văn minh, lấy ví dụ cụ thể từ nền văn hóa Việt Nam.
* Quan niệm về văn hóa của Hồ Chí Minh: ” Vì lẽ sinh tồn cũng như mục đích của cuộc sống, loài
người mới sáng tạo và phát minh ra ngôn ngữ, chữ viết, đạo đức, pháp luật, khoa học, tôn giáo, lOMoAR cPSD| 61463864
văn học, nghệ thuật, những công cụ cho sinh hoạt hằng ngày về ăn, mặc, ở và các phương
thức sử dụng toàn bộ những sáng tạo và phát minh đó tức là văn hóa. Văn hóa là sự tổng hợp
của mọi phương thức sinh hoạt cùng với biểu hiện của nó mà loài người đã sản sinh ra nhằm
thích ứng những nhu cầu đời sống và đòi hỏi của sự sinh tồn ”.
* Phân tích quan niệm:
Quan niệm đã nêu ra cấu trúc của văn hóa, bao gồm: + Văn hóa vật chất + Văn hóa tinh thần
+ Tổng hợp phương thức sinh hoạt
- Quan niệm bàn đến đặc trưng của văn hóa: tính vị nhân sinh, được thể hiện ở hai phương diện:
con người là chủ thể sáng tạo ra văn hóa, đồng thời cũng là chủ thể hưởng thụ văn hóa.
- Nhấn mạnh chức năng của văn hóa, trong đó có hai chức năng quan trọng là: duy trì đời sống
xã hội, phục vụ đời sống của con người và từ đó nâng cao giá trị của cuộc sống.
- Nhìn nhận các vấn đề trong quan hệ logic tổng hợp.
- Về hình thức: phát biểu mang tính chất quan niệm, không phải học thuật.
* Phân biệt văn hóa với văn minh: Văn hóa Văn minh
Văn hóa có đặc trưng lịch sử truyền - Văn minh gắn với hiện đại và thành tựu khoa lOMoAR cPSD| 61463864 -
thống. Ta có thể chứng minh qua - học kĩ thuật hiện đại. Nói dến văn minh, ta
nền văn hóa Việt Nam giàu truyền - tết.
hường nhớ đến một nét nghĩa chung là “trình
thống lịch sử: truyền thống yêu - độ phát triển”, một lát cắt đồng đại. Ví dụ nền
nước, uống nước nhớ nguồn, yêu trờti.
a nói văn minh nhân loại phát triển rực rỡ với thương đồng loại…
sự ra đời của điện và hệ thống máy móc hiện đại.
Là những sáng tạo, phát kiến mang tính cá
Là một quá trình tích lũy và được sàng
nhân. Ví dụ như Thomas Edison phát minh ra -
. Văn hóa Việt Nam trải qua mấy
bóng đèn, Anbe phát minh ra chiếc máy tính lọc ng lâu àn dài nă
m đã giữ lại được nhiều nét văn đầu tiên…
hóa đẹp, giàu bản sắc và loại bỏ đi những
văn hóa cổ hủ, không theo kịp thời
Mang giá trị phổ thông toàn nhân loại, quốc
đại(trọng nam khinh nữ, tảo hôn,..)
Văn minh mang nét nghĩa rộng lớn, là thành
quả của toàn nhân loại, được toàn thể con
Mang tính cộng đồng, dân tộc, bản sắc.
người công nhận và sử dụng. -
V ăn hóa Việt Nam không được tạo từ một -
người, hay một nhóm người mà là thành
Thay đổi liên tục. Để phù hợp với sự thay - V qu ăn ả
chung của cộng đồng người Việt, từ đổi
nhiều dân tộc Việt. Vì vậy mà trở nên vô
của xã hội, văn minh biến đổi theo. Trước
cùng đa dạng và đậm dà bản sắc
kia,con người luôn cho rằng trái đất đứng yên
nhưng đến thế kỉ 17,con người đã thay đổi
Được bảo lưu, duy trì, ổn định, gắn với
cách nhìn và cho rằng trái đất quay quanh mặt
thói quen, tập quán, tâm linh. Dân tộc Việt
Nam duy trì được nhiều nét đẹp văn hóa
như thờ cúng tổ tiên, biết ơn,… hóa gắn bó
nhiều hơn vơi phương Đông nông nghiệp.
Văn hóa Việt Nam được hình thành ven lưu -
Văn minh gắn bó nhiều hơn với phương vực các con song lớn,
Tây đô thị. Phương Tây có nhiều phát minh hiện đại.
thuân lợi cho sản xuất nông nghiệp.
 Văn minh chỉ trình độ phát triển nhất định của văn hóa về phương diện vật chất đặc trưng
cho một khu vực rộng lớn, 1 thời đại hoặc cả nhân loại. Văn minh là sự kết hợp đầy đủ
các yếu tố tiên tiến tại thời điểm xét đến để tạo nên, duy trì, vận hành và tiến hoá xã hội loài người.
Qua khái niệm này, có thể chỉ ra : văn minh chỉ là 1 lát cắt đồng đại không có bề dày của
quá khứ và văn minh chỉ thiên về khía cạnh vật chất, kĩ thuật, thường mang tính siêu dân tộc – quốc tế
 Văn hiến ( hiến = hiền tài) , là khái niệm sử dụng ở VN, có tính bao quát các giá trị mang
tính lịch sử, truyền thống lâu dài, văn hiến thiên về những giá trị tinh thần do những con
người có tài đức chuyền tải, thể hiện tính dân tộc, tính lịch sử rõ rệt. Đây là các giá trị
đóng góp cho quốc gia, cho đất nước. Nhờ đó mà con người có thêm cơ sở, điều kiện
phát triển đất nước. Nhờ vào các giá trị văn hiến để xây dựng, làm nên nét riêng của quốc gia.
 Văn vật là khái niệm sử dụng ở VN, văn vật thiên về những giá trị văn hóa vật chất, những
giá trị bản sắc được tồn tại dưới dạng vật chất cụ thể.
Văn vật có tính lịch sử, tính
dân tộc và gắn với kiểu xã hội phương Đông là chủ yếu. lOMoAR cPSD| 61463864
Câu 2: Trình bày đặc trưng và chức năng của văn hóa *Đặc trưng của văn hóa
Các nhà nghiên cứu về văn hóa trong và ngoài nước đúc kết thành nhiều đặc trưng của văn hóa,
trong đó nổi bật nhất là bốn đặc trưng cơ bản sau: -
Một là, tính hệ thống. Văn hóa là một hệ thống hữu cơ các giá trị về văn hóa vật chất, văn
hóa xã hội và văn hóa tinh thần của cộng đồng người. Từ những thành tố căn bản này đã nẩy
sinh và bao gồm những tập hợp nhỏ nhiều tầng bậc khác nhau tạo thành một tổng thể phức tạp, phong phú. -
Hai là, tính giá trị. Văn hóa bao gồm các giá trị (giá trị thuộc về đời sống vật chất, giá trị
thuộc về đời sống tinh thần) trở thành thước đo về mức độ nhân bản của xã hội và con người.
Trong lịch sử phát triển của nhân loại có giá trị của văn hóa để tồn tại và có giá trị của văn hóa để phát triển. -
Ba là, tính lịch sử. Văn hóa bao giờ cũng được hình thành qua một quá trình và được tích
lũy qua nhiều thế hệ, là những thành tựu do cộng đồng người trong quá trình tương tác với môi
trường tự nhiên và xã hội mà được sáng tạo và luôn hướng tới sự hoàn thiện để đạt đến tính giá trị. -
Bốn là, tính nhân sinh. Văn hóa là một hiện tượng thuộc về xã hội loài người, gắn liền với
hoạt động thực tiễn của con người, là những giá trị do một cộng đồng người sáng tạo ra, thuộc
về con người, ở trong con người và mang dấu ấn người. Điều đó cho thấy, con người vừa là chủ
thể của văn hóa, đồng thời là khách thể của văn hóa, lại vừa là sản phẩm văn hóa.
*Chức năng của văn hóa:
+ Chức năng tổ chức xã hội
+ Chức năng điều chỉnh xã hội + Chức năng giao tiếp + Chức năng giáo dục
*Phân tích một đặc trưng và chức năng của văn hóa: -
Đặc trưng quan trọng của văn hóa là tính giá trị. Văn hóa theo nghĩa đen nghĩa là “trở
thành đẹp, thành có giá trị”, tính giá trị cần để phân biệt giá trị với phi Nó là thước đo mức độ
giá trị. nhân bản của xã hội và con người.
Các giá trị văn hóa, theo mục đích cố thể chia thành giá trị vật chất (phục vụ cho nhu cầu vật
chất) và giá trị tinh thần (phục vụ cho nhu cầu tinh thần), theo ý nghĩa có thể chia thành giá trị sử
dụng, giá trị đạo đức và giá trị thấm mĩ theo thời gian có thể phân hiệt các giá trị vĩnh cừu và giá
trị nhất thời. Sự phân biệt các giá trị theo thời gian cho phép ta có đươc cái nhìn hiện chứng và
khách quan trong việc đánh giá tính giá trị của sự vật, hiện tượng; tránh được những xu hướng
cực đoan phủ nhận sạch trơn hoặc tán dương hết lời.
Vì vậy mà, về mặt đồng đại, cùng một hiện tượng có thể có giá trị nhiều hay ít tùy theo góc nhìn,
theo bình diện được xem xét. Muốn kết luận một hiện tượng có thuộc phạm trù văn hóa hay
không phải xem xét mối tương quan giữa các mức độ “giá trị” và “phi giá trị” của nó. Về mặt lịch
đại, cùng một hiện tượng sẽ có thể có giá trị hay không tùy thuộc vào chuẩn mực văn hóa của
từng giai đoạn lịch sử. Áp dụng vào Việt Nam, việc đánh giá chế độ phong kiến, vai trò của Nho
giáo, các triều đại nhà Hồ, nhà Nguyễn… đều đòi hỏi một tư duy biện chứng như thế. lOMoAR cPSD| 61463864
Nhờ thường xuyên xem xét các giá trị mà văn hóa thực hiện được chức năng quan trọng thứ hai
là chức năng điều chỉnh xã hội, giúp cho xã hội duy trì được trạng thái cân bằng động, không
ngừng tự hoàn thiện và thích ứng với những biến đổi của môi trường, giúp định hướng các chuẩn
mực, làm động lực cho sự phát triển của xã hội.
Câu 3: Văn hóa Việt Nam thuộc về loại hình văn hóa gốc nông nghiệp trồng trọt điển hình
với những đặc trưng chủ yếu sau đây: -
Do vị trí địa lý nằm ở góc tận cùng phía Đông-Nam Châu Á nên Việt Nam thuộc loại hình
văn hóa gốc nông nghiệp trồng trọt điển hình. Tất cả những đặc trưng của loại hình văn hóa gốc
nông nghiệp trồng trọt đều được thể hiện rất rõ nét trong đặc trưng văn hóa Việt Nam. -
Trong ứng xử với môi trường tự nhiên luôn có ý thức tôn trọng và sống hòa hợp với thiên
nhiên, tôn sùng thiên nhiên, thể hiện đức hiếu sinh
+ Cư dân Việt Nam chủ yếu sinh sống bằng nghề nông, trong cách ứng xử với tự nhiên, do nghề
trồng trọt buộc người dân phải sống định cư để chờ cây cối lớn lên, đơm hoa, kết trái và thu
hoạch, từ đó ưa thích lối sống ổn định, cho rằng” An cư lạc nghiệp” . Do sống phụ thuộc vào thiên
nhiên nên cư dân nông nghiệp có ý thức tôn trọng và ước vọng sống hòa hợp với thiên nhiên.
Người Việt Nam mở miệng ra là nói “ nhờ trời”, “lạy trời”… Các tín ngưỡng và lễ hội sung bái tự
nhiên rất phổ biến ở các tộc người trên khắp mọi vùng đât nước. -
Vì sống bằng kinh tế nông nghiệp, nhất là nông nghiệp lúa nước, ở đó con người có sự
phụ thuộc vào các hiện tượng tự nhiên (như trời, đất, nước, nắng, mưa...), nên trong nhận thức
đã hình thành một lối tư duy tổng hợp, trọng quan hệ, trọng tình biện chứng, thiên về kinh nghiệm,
trực giác, cảm tính và duy linh (linh cảm).
+ Vì nghề nông, nhất là nghề nông nghiệp lúa nước, cùng một lúc phụ thuộc vào nhiều yếu tố
thiên nhiên như : thời tiết, nước, khí hậu,... “ trông trời, trông đất, trông mây; trông mưa, trông
gió, trông ngày, trông đêm…” nên về mặt nhận thức, hình thành nên lối tư duy tổng hợp- biện
chứng, nặng về kinh nghiệm chủ quan cảm tính: sống lâu lên lão làng, trăm hay không bằng tay
quen… Người làm nông quan tâm không phải là từng yếu tố riêng lẻ mà là những mối quan hệ
giữa chúng. Người Việt tích lũy được một kho kinh nghiệm hết sức phong phú về các loại quan
hệ này: Quạ tắm thì ráo, sáo tắm thì mưa; Được mùa lúa thì úa mùa cau, được mùa cau thì đau
mùa lúa; Chuồn chuồn bay thấp thì mưa, bay cao thì nắng, bay vừa thì râm… -
Trong tổ chức cộng đồng, con người nông nghiệp ưa tổ chức xã hội theo nguyên tắc trọng
tình, chuộng sự hòa thuận, tương trợ, quan tâm đến những láng giềng.
+ Lối sống trọng tình đưa đến thái độ trọng đức, trọng văn, trọng Mẫu đề cao nguyên lý Mẹ.
+ Nguyên tắc trọng tình cũng là cơ sở của tâm lí hiếu hòa, chuộng sự bình đẳng, dân chủ, đề cao
tính cộng đồng, tính tập thể. -
Về mặt tổ chức cộng đồng, người Việt có lỗi sống cố định lâu dài nên cũng hình thành lối
sống tự trị, khép kín, hướng nội. Trong ngôi nhà của người Việt rất coi trọng gian bếp, thể hiện
sự coi trọng phụ nữ. Người Việt coi: Nhất vợ nhì trời; Lệnh ông không bằng cồng bà… Người
phụ nữ cũng được xem là người có vai trò quyết định trong việc giáo dục con cái: Phúc đức tại
mẫu; Con dại cái mang… Sự gắn bó cộng đồng tạo nên lối sống trọng tình nghĩa: Lá lành đùm lá
rách; Bầu ơi thương lấy bí cùng…; các quan hệ ứng xử thường đặt lý cao hơn tình: Một bồ cái lý
không bằng một tí cái tình. lOMoAR cPSD| 61463864 -
Tư duy tổng hợp và phong cách linh hoạt của văn hóa nông nghiệp còn quy định thái độ
dung hợp trong tiếp nhận các yếu tố khoan dung trong ứng xử, mềm dẻo trong đối phó. -
Lối tư duy tổng hợp – biện chứng, luôn đắn đo cân nhắc của người làm nông nghiệp cộng
với nguyên tắc trọng tình đã dẫn đên lối sống linh hoạt, luôn thay đổi để thích hợp với từng hoàn
cảnh: Ở bầu thì tròn, ở ống thì dài; Đi với bụt mặc áo cà sa, đi với ma mặc áo giấy; … Mặt trái
của tính linh hoạt là thói tùy tiện biểu hiện ở tật co giãn giờ giấc, sự thiếu tôn trọng pháp luật, tệ
đi “ cửa sau” để giải quyết công việc( Nhất quen, nhì thân, tam thần, tứ thế).
Vì sống theo tình cảm nên mọi người phải biết tôn trọng và cư xử bình đẳng, dân chủ với nhau.
Lối sống trọng tình và cách cư xử dân chủ dẫn đến tâm lý coi trọng cộng đồng, coi trọng tập thể.
Người nông nghiệp làm gì cũng phải tính đến tập thể, luôn có tập thể sau lưng.
Trong lối ứng xử với môi trường xã hội, tư duy tổng hợp và phong cách linh hoạt còn quy định
thái độ dung hợp trong tiếp nhận: ở Việt Nam không những không có chiến tranh tôn giáo mà mọi
tôn giáo đều được tiếp nhận. Đối phó với các cuộc chiến tranh xâm lược người Việt Nam luôn
hết sức mềm dẻo, hiếu hòa.
Như vậy, hầu như tất cả những đặc trưng của loại hình văn hóa gốc nông nghiệp trồng trọt đều
được thể hiện rõ nét trong cách tố chức đời sống, phương thức tư duy, lối ứng xử của người Việt truyền thống. -
Tuy nhiên, mặt trái của tính linh hoạt và trọng tình là nó dẫn đến thái độ tùy tiện, coi thường
tính nguyên tắc, ý thức tổ chức kỷ luật kém.
Văn minh nông nghiệp kéo dài đã làm chậm sự phát triển của tiến trình lịch sử Việt Nam, không
tạo ra được những tiền đề và điều kiện để bức ra khỏi cái khung phong kiến phương Đông, làm
hạn chế tính năng động, sáng tạo của con người Việt Nam và dẫn đến sự trì trệ của xã hội Việt Nam.
Câu 4: Văn hóa là nền tảng, động lực và mục tiêu của sự phát triển: (....)
* Văn hóa là nền tảng tinh thần của xã hội
- Đào tạo con người theo các giá trị chân-thiện-mĩ
- Hình thành trong phẩm chất mọi thành viên trong xã hội ý thức phát huy các tiềm năng về thể
lực, trí lực và nhân cách
- Tích cực xây dựng một môi trường văn hóa lành mạnh để có đủ sức đề kháng đẩy lùi các tiêu
cực xã hội, bài trừ những văn hóa phản tiến bộ.
* Văn hóa là động lực thúc đẩy sự phát triển của xã hội
- Sự phát triển của một dân tộc gắn liền với cái mới nhưng không tách rời cội nguồn, văn hóa
- Con người là nhân tố có vai trò quan trọng và là không thể thiếu trong sự phát triển của kinh tế, xã hội
- Văn hóa có khả năng tiếp thu và cải biên những yếu tố văn hóa ngoại sinh để biến thành ngoạilực
thúc đẩy sự phát triển của kinh tế, xã hội lOMoAR cPSD| 61463864
- Văn hóa sẽ giải phóng và nhân lên mọi tiềm năng sáng tạo của con người trong mọi lĩnh vực
đời sống xã hội mà trước hết là kinh tế
* Văn hóa là mục tiêu của sự phát triển
- Mục tiêu của sự phát triển ở nước ta: “Dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh”
- Phát triển phải hướng tới mục tiêu văn hóa- xã hội mới đảm bảo được sự bền vững và trường
tồn cho sự giàu mạnh của tổ quốc.
- Văn hóa có vai trò đặc biệt quan trọng trong việc bồi dưỡng, phát huy nhân tố con người và xây
dựng xã hội mới.Văn hóa giúp mở rộng hiểu biết, nâng cao dân trí, giúp bồi dưỡng tư tưởng
đúng đắn và tình cảm cao đẹp cho con người, cho nhân dân Việt Nam lí tưởng độc lập dân tộc
gắn với chủ nghĩa xã hội, đồng thời bồi dưỡng phong cách, lối sống lành mạnh, hướng con
người đến chân-thiện-mĩ để hoàn thiện bản thân.
VD: Trong chiến lược phát triển kinh tế 2011-2020:
+ Xác định: phát huy tối đa nhân tố con người, con người là chủ thể, nguồn lực chủ yếu và là mục
tiêu của sự phát triển”
+ Yêu cầu: Tăng trưởng kinh tế kết hợp hài hòa với phát triển văn hóa, thực hiện công bằng xã
hội, không ngừng nâng cao chất lượng cuộc sống của nhân dân”.
Câu 8: Trống đồng Đông Sơn với việc thể hiện văn hóa Văn Lang Âu Lạc:
Trống đồng là sản phẩm của nền văn minh nông nghiệp phát triển, là di vật tiêu biểu cho nền văn
hóa của người Việt cổ thời kỳ dựng nước. Trống đồng Đông Sơn là tên một loại trống đồng tiêu
biểu cho Văn hóa Đông Sơn (700 TCN - 100) của người Việt cổ. Những chiếc trống này với quy
mô đồ sộ, hình dáng cân đối, hài hoà đã thể hiện một trình độ rất cao về kỹ năng và nghệ thuật,
đặc biệt là những hoa văn phong phú được khắc họa, miêu tả chân thật đời sống sinh hoạt của
con người thời kỳ dựng nước.
Vào khoảng thế kỉ VII TCN, các nền văn hóa bộ lạc dần mất tính địa phương, tiến tới chỗ hòa
chung vào một văn hóa thống nhất – văn hóa Đông Sơn. Đó là lúc các nhóm bộ lạc liên kết lại
trong một quốc gia: nước Văn Lang.
Kỹ thuật đúc đồng thau đạt tới đỉnh cao của thời kỳ này với một trình độ điêu luyện đáng kinh
ngạc. Số lượng, loại hình công cụ, vũ khí bằng đồng tăng vọt. Người Đông Sơn đã đúc những
hiện vật bằng đồng kích thước lớn, trang trí hoa văn phong phú : trống đồng, thạp đồng Đông
Sơn đã chứng tỏ trình độ kĩ thuật và bàn tay tài hoa của người thợ Đông Sơn.
Những họa tiết trên trống đồng Đông Sơn; có thể nói chính là bức tranh miêu tả về cuộc sống
sinh hoạt nông nghiệp của người Việt cổ. Với tay nghề điêu luyện của những nghệ nhân, bức
tranh được hiện lên một cách sinh động, hiện thực và ẩn sâu trong đó là sự cách điệu theo thời gian.
Bức tranh lịch sử sinh hoạt nông nghiệp
Chắc hẳn không phải tự nhiên; mà trống đồng Đông Sơn lại được mệnh danh là “bức tranh lịch
sử sinh hoạt nông nghiệp của người Việt cổ. Bởi trên phần mặt trống và thân trống đều là những
hình ảnh được cách điệu; tuy chỉ là những đường nét mộc mạc, giản dị và không quá cầu kỳ;
nhưng qua đó chúng ta có thể hiểu rõ được phần nào về cuộc sống sinh hoạt và lao động hàng
ngày của người Việt cổ. lOMoAR cPSD| 61463864 Hình ảnh ngôi sao
Hình ảnh ngôi sao trên bề mặt trống là biểu tượng cho mặt trời; người Việt cổ rất coi trọng mặt
trời; bởi đây là nguồn năng lượng tự nhiên vô biên giúp đỡ người dân trong quá trình sản xuất lương thực của mình.
Mặc dù thời điểm đó họ chưa có những kiến thức về khoa học; nhưng họ đã biết được tầm quan
trọng của mặt trời đối với mùa màng và cuộc sống hàng ngày. Ánh mặt trời không chỉ giúp soi
sáng mà họ còn rất mong đợi vào việc mưa thuận giúp hòa để giúp cánh tác tươi tốt; và mùa màng bội thu hơn. Hình ảnh con chim
Không phải tự nhiên mà hình ảnh con chim chân cao, mỏ dài và đôi cánh vương cao lại xuất hiện
trên mặt trống. Loài chim này được gọi là chim Lạc; tuy thân hình của chúng rất mảnh mai; nhưng
loài chim này lại là biểu tượng của sức sống mãnh liệt và bền bỉ.
Chim Lạc còn mang tới cho người nhìn cảm giác tự do, tự tại, thoải mái và mang trong mình nhiệt
huyết cháy bỏng; đây cũng chính là khát vọng vươn cao và xa hơn của người Việt Nam ta từ xưa.
Ngày nay, hình ảnh chim Lạc vẫn được sử dụng rất nhiều; có thể nói đây cũng chính là biểu
tượng mang nét đẹp văn hóa của dân tộc Việt Nam đã có từ rất lâu đời.
Nếu để ý kỹ chúng ta sẽ thấy được rằng; những con chim đang chạy theo chiều ngược kim đồng
hồ; đây là hướng trái đất quay từ Tây sang Đông; điều này cũng chứng thực rằng, từ xa xưa
người Việt cổ đã có những kiến thức về thiên văn cao. Hình ảnh nhà sàn
Khi nhìn vào họa tiết nhà sàn trên mặt trống đồng Đông Sơn sẽ thấy có tới 2 ngôi nhà. Những
ngôi nhà này đều có điểm chung; là có 2 cột phía ngoài và thêm 1 cột ở giữa thực chất chiếc cột
ở giữa chính là chiếc thang để đi lên nhà; bởi ngày xưa người ta thường phải làm nhà sàn để tránh thú dữ.
Điểm khác biệt của 2 ngôi nhà này nằm ở mái nhà; nhiều thông tin cho rằng, ngôi nhà có mái
cong chính là nhà ở của người dân; và ngôi nhà mái tròn thường được sử dụng liên quan đến tín ngưỡng và thờ cúng.
Không chỉ tỉ mỉ trong từng hình ảnh; mà ngay đến cả những chi tiết nhỏ trong ngôi nhà cũng được
người Việt cổ khắc họa lại trên bề mặt của trống đồng. Điều này cũng thể hiện sự coi trọng vấn
đề tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên và các vị thần linh của người Việt Nam chúng ta đã có từ rất lâu đời.
Hình ảnh nhạc cụ
Xuất hiện trên mặt trống đồng Đông Sơn chính là nhạc cụ chính được sử dụng vào thời kỳ đó; là
kèn và trống. Đây chính là 2 loại nhạc cụ thường được chơi vào các dịp lễ hội.
Ngoài ra, họa tiết trống gắn với 2 hình ảnh khác nhau; đầu tiên là chiếc trống được một người
dân đang đánh trong nhà hay trên thuyền để giữ nhịp. Và tiếp đó; là chiếc trống được đặt trên giá
sát đất và kèm theo đó là một dàn trống; sẽ có một người cầm chiếc gậy dài đánh theo chiều
đứng; đây là hình ảnh thường xuất hiện trong dịp lễ hội; và cho đến ngày nay hình ảnh này vẫn
có thể thấy trong những ngày hội của người dân tộc Mường ở tỉnh Hòa Bình. lOMoAR cPSD| 61463864 Hình người
Mỗi một người dân được khắc lên mặt trống đồng đều thể hiện một hành động khác nhau; người
thì đua thuyền, người thì thực hiện nghi lễ hiến tế; người lại tham gia đánh trống, đánh chiêng,
nhảy múa; người đang giã gạo, đánh cá, làm ruộng. Hay thậm chí là tục đối đáp; đôi nam nữ ngồi
đối diện nắm tay nhau ca hát, đối đáp.
Đây là những hoạt động thể hiện lối sống sinh hoạt thường ngày của người dân; từ hình ảnh thực
hiện công việc hàng ngày, những thói quen sinh hoạt cho tới những dịp lễ hội đều được khắc họa rất sinh động.
Ngoài ra, mỗi người xuất hiện trên trống đồng đều có trang phục khác nhau: khố, váy, mũ lông
chim, áo hai vạt ngắn dài. Điều này chứng tỏ rằng; ở thời kỳ này mọi người đã biết tới việc trồng
dâu nuôi tằm; và sản xuất ra những trang phục phù hợp với tất cả mọi người.
Hình ảnh chiếc thuyền chở người
Tiếp đến, biểu tượng cho sự phát triển về kỹ thuật quân sự của thời kỳ này chính là những chiếc
thuyền. Ở thời kỳ này, người Việt cổ đã bắt đầu biết sử dụng gỗ để xây dựng nhà ở hay đóng
ghe, thuyền phục vụ cho việc đánh bắt cá. Hay thậm chí là sử dụng để bảo vệ địch xâm phạm
vào lãnh thổ; trên thuyền sẽ xuất hiện hình ảnh người lính cầm đao, giáo, cung tên, trống trận; và
có cả những chú chó săn.
Ngoài ra, còn rất nhiều những họa tiết khác xuất hiện trên bề mặt và thân của trống đồng Đông
Sơn như: con hươu, trâu bò, chim trĩ, con công, chàng bè, chim trích, gà, cóc, các loại cá,… Đây
đều là những con vật quen thuộc trong cuộc sống hàng ngày của người dân.
Trống đồng Đông Sơn không chỉ là vật linh; mà thông qua đó chúng ta đã được sáng tỏ nhiều
vấn đề khoa học mà trống đồng là thông điệp làm nên biểu tượng tập trung nhất những thành tựu
trong sinh hoạt kinh tế, văn hóa, xã hội và quyền uy của một nhà nước được xác lập đầu tiên trên
đất nước ta – Nhà Nước Hùng Vương. Đây là những “vật chứng” khẳng định những giá trị; về
truyền thống, đạo lý nhân văn sâu sắc của dân tộc Việt Nam; trong suốt chiều dài lịch sử dựng
nước và giữ nước với bao biến cố, thăng trầm vẫn hiên ngang đứng vững; và tự hào phát triển đi lên cùng nhân loại.
Câu 9: Trình bày đặc trưng văn hóa làng xã của người Việt?
. Khái niệm: Làng là 1 đơn vị cộng cư có 1 vùng đất chung của cư dân nông nghiệp, một hình
thức tổ chức xã hội nông nghiệp tiểu nông tự cung tự cấp, mặt khác, là mẫu hình xã hội phù hợp,
là cơ chế thích ứng với sản xuất tiểu nông, với gia đình – tông tộc gia trưởng, đảm bảo sự cân
bằng và bền vững của xã hội nông nghiệp ấy.
Trong quá trình tương tác với môi trường tự nhiên và môi trường xã hội, các đặc trưng văn hóa
của người Việt được hình thành, ăn sâu bám rễ vào đời sống làng quê. Các đặc trưng này đã
được nhiều nhà nghiên cứu “ chỉ mặt đặt tên” và được công nhận rộng rãi bởi chính những cư
dân trên mảnh đất này. - Tính cộng đồng:
Biểu tượng: Sân đình, bến nước, cây đa
Thứ nhất, tính cộng đồng được hình thành từ đời sống nông nghiệp lúa nước cần “ đông
tay hơn hay làm” đã tạo ra sự liên kết giữa những con người cùng huyết thống và cùng
nơi tụ cư tạo thành sức mạnh tập thể. lOMoAR cPSD| 61463864
Thứ hai, tính cộng đồng được biểu hiện trong không gian làng với sự liên kết theo chiều
ngang tạo thành xóm làng. Biểu tượng cho tính cộng đồng làng xã là hình ảnh “ cây đa”,
“ bến nước”, “ sân đình”... những nơi cư dân làng xã lấy làm chỗ sinh hoạt chung. Thứ ba,
sự liên kết làng xóm hình thành các tổ chức phường ( liên kết các cá nhân cùng nghề),
hội( liên kết các cá nhân cùng sở thích)
 Tính tích cực của văn hóa làng xã trong đời sống: -
Tinh thần đoàn kết tương trợ: tính cộng đồng trong phạm vi làng xã là cơ sở tạo nên tính
đồng nhất trong nhiều lĩnh vực và tất yếu dẫn đến sự đồng nhất trong phạm vi quốc gia.
Tính đồng nhất đã giúp cho người Việt có tính đoàn kết, gắn bó rất cao, luôn yêu thương
giúp đỡ nhau “ lá lành đùm lá rách”, “ bán anh em xa mua láng giềng gần”.. sự đồng nhất
cũng chính là ngọn nguồn của nếp sống dân chủ, bình đẳng bộc lộ trong các nguyên tắc tổ chức nông thôn. -
Tinh thần tập thể hòa đồng: vì đề cao sự đồng nhất nên người Việt có tinh thần tập thể
cao và rất dễ hòa đồng vào cuộc sống chung. Con người không chỉ gắn bó với nhau bằng
các quan hệ máu mủ mà còn gắn bó bằng những quan hệ sản xuất. Vận hành theo nếp
sống dân chủ, bình đẳng  Tính tiêu cực: -
Thủ tiêu vai trò cá nhân: chính do sự đồng nhất mà ý thức cá nhân của con người bị thủ
tiêu. Từ đó mà người Việt luôn hòa tan vào các mối quan hệ xã hội, luôn giải quyết xung
đột theo lối “ hòa cả làng”, luôn “ dĩ hòa vi quý” vì không muốn mất lòng ai nên ít khi nói ra quan điểm. -
Thói dựa dẫm, ỷ lại tập thể: sự đồng nhất còn dẫn đến thói hay dựa dẫm, ỷ lại: “ nước
chảy thì bèo trôi”, tệ hơn là tình trạng “ cha chung không ai khóc” thờ ơ, vô cảm với những
công việc chung và nghĩ đó là việc của người khác không liên quan đến mình. Bên cạnh
đó còn là tư tưởng cầu an “ an phận thủ thường” và cả nể, làm gì cũng sợ “ rút dây động
rừng” nên mâu thuẫn gì thường chủ trương hòa hoãn “ đóng cửa bảo nhau” thậm chí “ nhắm mắt cho qua” -
Thói cào bằng, đố kị: không muốn cho ai hơn mình ( vì đồng nhất nên tất cả phải giống
nhau) “ chết một đống còn hơn sống một người”. Trong đời sống có nhiều thành phần nảy
sinh lòng ghen ghét, tị nạnh, ích kỷ khi người khác được hưởng quyền lợi còn mình thì không -
Tính chất ưa ổn định và tự trị: -
Biểu tượng: Lũy tre
Thứ nhất, tính chất ưa ổn định được hình thành bởi nguyên do người làm nông nghiệp
lúa nước gieo hạt xuống phải đợi nảy mầm, rồi đợi đơm hoa kết trái và hưởng thụ thành
quả cho nên có xu hướng ở 1 chỗ, bảo vệ thành quả của mình, do đó hình thành tính ưa
ổn định. Tính chất tự trị là làng nào biết làng ấy, tồn tại biệt lập với nhau, mỗi làng là một
“ tiểu vương quốc” khép kín với pháp luật riêng ( hương ước)
Thứ hai, biểu hiện của tính chất này là thiên về tính tự trị, khép kín với biểu tượng “ lũy tre
làng”. Thực hành văn hóa tiêu biểu nhất là hương ước làng xã, thể hiện tinh thần “phép vua
thua lệ làng”. Hương ước là bộ luật của làng xã thể hiện tính tự trị của làng xã đối với nhà nước
phong kiến, là cương lĩnh tinh thần của mọi thành viên trong làng xã.  Tính tích cực: - Tính tự lập:
+ Tính tự trị chú trọng sự khác biệt. Khởi đầu là sự khác biệt của cộng đồng này với cộng
đồng khác. Sự khác biệt là cơ sở của tính tự trị, tạo nên tinh thần tự lập cộng đồng - Nếp
sống tự cấp, tự túc, tính cần cù: lOMoAR cPSD| 61463864
+ Vì phải tự lo liệu nên người Việt Nam có truyền thống cần cù, đàu tắt mặt tối. Nó tạo
nên nếp sống tự cấp, tự túc: mỗi làng tự đáp ứng mọi nhu cầu của làng; mõi nhà có vườn
rau, ao cá, chuồng gà…- tự đảm bảo nhu cầu lương thực, có bụi tre, rặng xoan, gốc mít
– tự đảm bảo nhu cầu về nơi ở -
Tính tự do ngôn luận, nhân quyền, dân chủ:
+ Hương ước vốn là do người dân tự thảo luận, đề ra và cùng với chính quyền thông
qua để thực hành. Hương ước là quy định tự nguyện của người dân, không phải do ai áp đặt
-> bảo về quyền lợi nhân dân  Tính tiêu cực: - Óc tư hữu, ích kỉ:
+ Chính do nhấn mạnh sự khác biệt mà ngừoi Việt dần hình thành thói ích kỉ, đầu óc tư hữu
“thân ai nấy lo”, “ai có bò người nấy giữ”… Óc tư hữu, ích kỷ nảy sinh từ tính tự trị của làng
xã Việt và luôn bị chính người Việt phê phán: “của mình thì giữ bo bo, của người thì để cho bà nó ăn”… -
Óc gia trưởng – tôn ti:
+ Tính tôn ty, sản phẩm của nguyên tắc tổ chức nông thôn thôn theo huyết thống tự thân
nó không phải là xấu nhưng khi gắn với tính gia trưởng tạo nên tâm ý quyền huynh thế
phụ, áp đặt ý muốn của mình vào người khác; tạo nên thế lực vô lý “sống lâu ra lão làng”. -
Sự biến tướng tiêu cực của hương ước làng xã: “Thà thiếu thuế vua hơn thua tục dân”,
“Phép vua thua lệ làng”, “Gông làng vừa mang vừa hát”… -
Tư duy ổn định, ngại thay đổi:
+ Tập quán sản xuất nông nghiệp theo hình thức tiểu nông đã giúp giữ cho làng xã Việt
bình ổn hàng nghìn năm lại chính là lực níu kéo sự phát triển, khi tạo nên tư duy ổn định, ngại thay đổi.
=> Chính những yếu tố đó đã kìm hãm sự phát triển, không thúc đẩy được sự phát triển
kinh tế nên không tạo ra tiềm lực
Câu 10: Văn hóa ở châu thổ Bắc Bộ thời Bắc thuộc:
Quá trình tiếp xúc văn hoá Hoa – Việt lâu dài đã đem đến những thay đổi quan trọng trong
ngành thủ công nghiệp. Bên cạnh những nghề truyền thống, người Việt đã phát triển
những nghề thủ công học từ người Hán như rèn sắt, làm gốm, làm gạch ngói, làm đường,
làm giấy, chế tạo thủy tinh, sản xuất đồ mỹ nghệ, thuộc da, sơn then… Trong từng nghề,
người Việt tiếp thu không chỉ kỹ thuật mà cả phong cách nghệ thuật Hán. Đồ gốm làm ra
trong thời kỳ này đã thấy xuất hiện nhiều loại hoa văn Hán rất đặc thù. Người Việt từ sản
xuất các loại gốm thô đã tiến tới làm ra các sản phẩm gốm tráng men. Nghề làm vật liệu
xây dựng đặc biệt phát triển nhằm phục vụ nhu cầu xây dựng các công trình kiến trúc
thành quách, chùa tháp, mộ táng… của chính quyền cai trị. Nghề làm giấy học được từ
Trung Quốc cũng có những tiến bộ đáng kể; nghề chế tạo thủy tinh cũng đạt nhiều thành
tựu quan trọng với nhiều loại sản phẩm thuỷ tinh có nhiều màu, tinh xảo.
Trong thời kỳ này, chủ yếu có hai luồng giao thương buôn bán là hàng hoá, tiền đồng từ
Trung Quốc đổ vào Việt Nam và nguồn nông, lâm, thổ, hải sản, sản phẩm thủ công từ Việt
Nam chuyển sang Trung Quốc. Hệ thống thuyền buôn Trung Quốc hoạt động mạnh đã nối
kết Việt Nam với nhiều quốc gia Đông Nam Á. Hệ thống giao thông, giao thương đã phát
triển, nối liền các địa phương trong một huyện, quận và nối thông cả 3 quận Giao Chỉ, Cửu Chân, Nhật Nam.
Về văn hoá xã hội, dưới tác động của chính sách đồng hoá, các yếu tố văn hóa Hán ngày
càng ảnh hưởng sâu đậm tại nước ta. Xen kẽ và hoà cùng với các xóm làng người Việt ở
châu thổ sông Hồng, lúc này cũng bắt đầu xuất hiện một số thị trấn, xóm làng của người lOMoAR cPSD| 61463864
Hoa và đồn điền, trại ấp của quan lại, địa chủ gốc Hán. Trải qua quá trình cộng sinh lâu
đời, nhiều người Hoa đã dần dần Việt hoá và trở thành một bộ phận trong cộng đồng người Việt.
Với việc xoá bỏ chế độ Lạc tướng và cơ cấu bộ lạc, nhiều truyền thống của công xã, bộ
lạc người Việt đã bị phá vỡ, phân hoá xã hội ngày càng sâu sắc hơn với những mối quan
hệ xã hội mới ra đời. Tầng lớp hào trưởng người Việt ngày càng có vai trò to lớn trong xã
hội, trong khi đó họ lại bị quan lại đô hộ chèn ép và phân biệt đối xử về cả kinh tế và chính
trị nên mâu thuẫn giữa họ với chính quyền đô hộ càng ngày càng trở nên sâu sắc. Họ dần
trở thành thủ lĩnh đại diện cho phong trào đấu tranh chống lại ách nô dịch và đồng hoá
của chính quyền đô hộ.
Văn hoá, luật tục và thiết chế cổ truyền của người Việt dần dần bị xoá bỏ và bị cải tổ theo
phong hoá Hán. Thậm chí tên họ người Việt đến đây cũng đã được thống nhất đặt theo
cách gọi chung của người Hán. Tuy nhiên nhiều truyền thống vẫn được bảo tồn bền bỉ
như tục thờ cúng tổ tiên, anh hùng có công với cộng đồng, tục xăm mình, nhuộm răng
đen hay các hình thức tín ngưỡng dân gian khác của cộng đồng cư dân nông nghiệp trồng lúa nước.
Quá trình giao lưu tiếp xúc văn hoá mạnh mẽ đã đưa đến sự du nhập của các luồng tư
tưởng, tôn giáo lớn như Nho giáo, Phật giáo, Đạo giáo… Nho giáo vào Việt Nam cùng với
chính sách nô dịch, đồng hoá của chính quyền cai trị nên ít có điều kiện đi sâu vào đời
sống dân chúng, mà dường như mới chỉ dừng lại ảnh hưởng ở những tầng lớp trên trong
xã hội. Trái lại, Phật giáo ngay khi mới vào Việt Nam đã có sự kết hợp với tín ngưỡng dân
gian bản địa một cách tự nhiên. Đây là tôn giáo phát triển nhanh nhất và có ảnh hưởng
mạnh mẽ nhất tại nước ta trong thời Bắc thuộc. Sự phát triển mạnh của tôn giáo này đã
dẫn đến sự hình thành trung tâm Phật giáo Dâu – Luy Lâu phồn thịnh ngay từ những thế
kỷ đầu Công nguyên. Một tôn giáo khác cũng theo bước chân người Hán du nhập vào
nước ta là Đạo giáo. Khoảng cuối thế kỷ II, Đạo giáo đã chính thức được truyền bá và
vượt xa Nho giáo về mức độ ảnh hưởng trong dân chúng. Với tinh thần xuất thế, vô vi,
thoát tục, thuận theo tự nhiên, Đạo giáo đã được người Việt đón nhận nhanh chóng. Sự
xuất hiện và phát triển đồng thời của nhiều tư tưởng, tôn giáo đã tạo nên sắc thái đa
nguyên hỗn hợp trong đời sống văn hoá tín ngưỡng của người Việt. Như vậy, mặc dù phải
chịu đựng ách cai trị tàn bạo và chính sách đồng hoá khốc liệt của các triều đại phong
kiến phương Bắc, nhưng người Việt đã biết tiếp thu, học hỏi những yếu tố tiến bộ trong
văn hoá Hán, tạo nên những chuyển biến to lớn trong nền kinh tế, xã hội, văn hoá. Lối
sống và văn hoá Việt tiếp xúc lâu dài và trực tiếp với văn hoá Hán, đã diễn tiến dưới ảnh
hưởng của văn hoá Hán và dần dần biến đổi từ mô hình Đông Sơn cổ truyền sang mô
thức mới: Việt – Hán.
Các chính quyền phong kiến phương Bắc, mặc dù đã cố gắng tìm mọi cách để đồng hoá
người Việt, song về căn bản trong suốt thời Bắc thuộc vẫn không thể nào trực tiếp với tay
tới và can thiệp làm biến đổi được cơ cấu xóm làng cổ truyền của người Việt. Các xóm
làng dựa trên cơ sở công xã nông thôn vẫn tồn tại như thế giới riêng của người Việt, là
nơi nuôi dưỡng và phát huy những tinh hoa của văn hoá truyền thống làm cơ sở cho cuộc
đấu tranh chống Bắc thuộc, chống đồng hoá.
8, Chọn 1 tín ngưỡng cụ thể: nguồn gốc, chức năng, các thực hành văn hóa, giá
trị ( gợi ý tín ngưỡng thờ Mẫu)
Nguồn gốc của Tín ngưỡng Thờ Mẫu: 
Thờ Mẫu là tập tục thờ cúng các vị nữ thần có từ thời nguyên thuỷ đại diện cho thiên
nhiên như mẹ Đất, mẹ Nước, mẹ Lúa… bởi trong quá trình mưu sinh tìm nguồn sống, lOMoAR cPSD| 61463864
con người luôn phải dựa vào thiên nhiên, đất trời vì vậy họ đã tôn thờ các hiện tượng
tự nhiên như đấng tối cao là Mẫu và thờ Mẫu, với mong muốn Mẫu sẽ bảo trợ và che
chở cho cuộc sống của họ được bình an, no ấm. Do đó, tín ngưỡng thờ Mẫu lúc này
chính là sự tin tưởng, ngưỡng mộ, tôn vinh và thờ phụng các vị nữ thần được cho là
có khả năng siêu phàm, có thể điều khiển được các hiện tượng tự nhiên mang tính
quy luật nhằm bảo trợ và che chở cho sự sống của con người. 
Theo thời gian, khái niệm Mẫu ngày càng được mở rộng bao hàm cả các nữ anh
hùng, hoàng hậu, công chúa, hay bà tổ cô của dòng họ, bà tổ nghề của một làng
nghề…. Còn trong dân gian Mẫu còn là những người phụ nữ nổi lên trong lịch sử với
vai trò người bảo hộ, khi sống tài giỏi, có công với nước, với dân, khi mất hiển linh
phù trợ cho người an, vật thịnh. Những nhân vật này được kính trọng, tôn thờ và cuối
cùng được thần thánh hóa để trở thành một trong các hiện thân của thánh Mẫu. Họ là
những vị thần vừa có quyền năng màu nhiệm vừa là người mẹ bao dung bảo hộ và
che chở, vừa huyền bí lại vừa gần gũi. 
Trải qua lịch sử hình thành và phát triển, tín ngưỡng thờ Mẫu ở Việt Nam đã phát triển
hình thành tín ngưỡng Tam phủ (Thiên phủ, Nhạc phủ, Thoải phủ) rồi đến Tứ Phủ có
thêm Địa Phủ. Vào khoảng thế kỷ XVI, bên cạnh nhu cầu phát triển nội tại của thứ tín
ngưỡng thờ Mẫu đã có từ trước, vừa là mong muốn khát vọng của quần chúng nhân
dân, đạo Mẫu của Việt Nam có thêm sự xuất hiện của Thánh Mẫu Liễu Hạnh. Theo
quan niệm dân gian, bà là tiên nữ giáng trần, sau đó quy y Phật giáo và được tôn vinh
là “Mẫu nghi thiên hạ”, hay hóa thân của Mẫu Thượng Thiên - con gái Ngọc Hoàng
thượng đế. Chính sự xuất hiện của Bà đã khiến cho tín ngưỡng thờ Mẫu Tam Phủ Tứ
Phủ ở nước ta càng phát triển mạnh và nâng lên một trình độ cao hơn, toàn diện hơn.
Ý nghĩa của Tín ngưỡng Thờ Mẫu: Tín ngưỡng thờ Mẫu là nét sinh hoạt có tầm ảnh
hưởng sâu rộng trong đời sống tâm linh người dân Việt trong suốt chiều dài lịch sử dựng
nước và giữ nước, cho đến ngày nay nó vẫn còn nguyên trong mình những giá trị sâu sắc 
Phát huy tinh thần Việt Nam: Thờ Mẫu là tín ngưỡng dan gian, đậm bản chất bản địa
và chứa đựng những giá trị nhân văn, bản sắc văn hóa dân tộc, giúp phát huy tinh
thần đoàn kết dân tộc chống thiên tai, chống giặc ngoại xâm. Cột mốc đánh dấu sự
phát triển của tín ngưỡng thờ Mẫu ở Việt Nam phải kể đến sự xuất hiện của mẹ Âu
Cơ cùng với Lạc Long Quân sinh ra bọc “trăm trứng”. Truyền thuyết này nhằm tôn
vinh người mẹ đối với vấn đề đoàn kết dân tộc, là sự kế thừa tín ngưỡng thờ Mẫu
trong lịch sử, phản ánh nhu cầu đặt ra cho cả cộng đồng người Việt phải đoànkết gắn
bó mới tồn tại và phát triển được. 
Tôn vinh vai trò của người phụ nữ Việt: Nếu như trước kia Việt Nam bị ảnh hưởng rất
nhiều của hệ tư tưởng “trọng nam khinh nữ” của Nho giáo thì ngày nay với sự phát
triển của tín ngưỡng thờ Mẫu đã khiếnnhững quan niệm cổ hủ đó ngày một mất đi,
đời sống con người tiến bộ hơn rất nhiều. 
Thỏa mãn nhu cầu và khát vọng của con người: Sức mạnh và ý nghĩa của tín ngưỡng
Thờ Mẫu chính là thỏa mãn đáp ứng nhu cầu và khát vọng của con người về sức
khỏe, bình an, làm ăn phát đạt, gặp nhiều may mắn… hướng con người ta đến với
lòng từ bi bác ái, là nền tảng của đạo đức xã hội, nguyên tắc ứng xử giữa người với
người. Thông qua các nghi lễ hầu đồng và các yếu tố dân gian như trang phục, âm
nhạc, hát chầu văn, múa, diễn xướng dân gian,... đặc biệt tính tương tác cao giữa
người thực hành nghi lễ - thầy đồng và những người dự hầu để gửi gắm, biểu đạt
những mong muốn, khát vọng gửi đến với thần linh những đấng tối cao. lOMoAR cPSD| 61463864
9, Chọn 1 tôn giáo cụ thể: Nguồn gốc, chức năng, các thực hành văn hóa, giá trị (
gợi ý Phật Giáo) Nguồn gốc
- Ra đời khoảng thế kỉ VI TCN tại Ấn Độ
- Người sáng lập là Siddhartha Gautama hay còn được gọi là Tất Đạt Đạ / Thích Ca Mâu Ni (652-544 TCN)
+ Là thái tử nhưng bất bình với sự phân chia đẳng cấp, kì thị màu da và đồng cảm với nỗi
khổ của muôn dân -> tìm con đường giải thoát
+ Rời nhà lúc 29 tuổi, đến 35 tuổi thì giác ngộ được tư tưởng, tìm ra hướng giải thoát.
Trong suốt 40 năm còn lại của cuộc đời đi các nơi để truyền bá tư tưởng của mìn
Giáo lý: Kinh Phật, được xếp thành 3 tạng
- Kinh tạng: chứa các bài thuyết pháp của Phật và một số đệ tử
- Luật tạng: chứa các lời Phật dạy về thế giới luật và phươngt thức sinh hoạt của chúng tăng
- Luận tang: chứa những lời bàn luận
Nội dung giáo lý : học thuyết về nỗi khổ và sự giải thoát, có cốt lõi là “Tứ diệu đế” (Bốn chân lý kì diệu)
1. Khổ đế: bản chất của nỗi khổ “Bát khổ”: sinh, lão, bệnh, tử, ái biệt ly, oán tăng hội, sở
cầu bất đạt, ngũ thụ uẩn
2. Tập đế: chân lý về nguyên nhân của nỗi khổ Đó là ái dục (tham muốn) và vô minh (kém
sáng suốt). Dục vọng thể hiện hành động gọi là Nghiệp; hành động xấu khiến con người
phải nhận hậu quả của nó (nghiệp báo)
=> Luẩn quẩn trong vòng luân hồi
3. Diệt đế: cảnh giới diệt khổ
Nỗi khổ sẽ được tiêu diệt khi nguyên nhân gây ra khổ bị loại trừ.
Sự tiêu diệt khổ đau gọi là niết bàn (nghĩa đen: không ham muốn, dập tắt)
 Thế giới của sự giác ngộ và giải thoát
4. Đạo đế: con đường diệt khổ “Bát chính đạo” (tám con đường diệt khổ):
-Rèn luyện đạo đức- GIỚI: chánh ngữ, chánh nghiệp, tránh mạng
- Rèn luyện tư tưởng – ĐỊNH: chánh niệm, chánh định
- Khai sáng trí tuệ - TUỆ: chánh kiến, chánh tư duy, chánh tinh tấn Phật giáo có 2 phái:
Đại thừa & Tiểu thừa +Tiểu thừa (“cỗ xe nhỏ” - chở được ít người):
- Theo xu hướng bảo thủ, chủ trương bám sát kinh điển, giữ nghiêm giáo luật - Phật tử
phải tự giác ngộ cho bản thân,
- Chỉ thờ Phật Thích Ca và chỉ tu đến bậc La hán (người đã thoát cảnh luân hồi, đáng được tôn kính)
+ Đại thừa (“cỗ xe lớn” - chở được nhiều người):
- Không cố chấp theo kinh điển, khoan dung đại lượng trong thực hiện giáo luật
- Thu nạp tất cả những ai muốn quy y, giác ngộ giải thoát cho nhiều người
- Thờ nhiều Phật, tu qua các bậc La hán, Bồ Tát đến Phật
Quá trình thâm nhập và phát triển của Phật giáo ở Việt Nam: 4 giai đoạn
Từ đầu công nguyên đến hết thời Bắc thuộc: giai đoạn hình thành và phát triển rộng khắp
- Đầu công nguyên (TK I,II): Du nhập vào Việt Nam qua đường biển, trung tâm là chùa
Dâu (Luy Lâu, Thuận Thành, Bắc Ninh) nhờ 1 số nhà truyền đạo gốc Ấn Độ, Trung Quốc.
Phật giáo lúc này mang màu sắc Tiểu thừa, Bụt như 1 vị thần luôn xuất hiện giúp người
tốt và trừng trị kẻ xấu lOMoAR cPSD| 61463864
- TK IV-V: phật giáo Đại thừa từ Trung Hoa tràn vào vào thay thế luồng Tiểu thừa trước
đó. Từ Buddha được phiên âm thành Phật (theo tiếng Hán) dần thay thế cho Bụt (phiên
âm theo tiếng Phạn). Bụt chỉ còn trong các quán ngữ với nghĩa ban đầu (“Gần chùa gọi
Bụt = anh”) hoặc trong các truyện cổ dân gian (Tấm Cám)
- Có 3 tông phái được truyền vào Việt Nam: Thiền tông, Tịnh độ tông và Mật tông + Thiền
Tông: chủ trương tập trung trí tuệ suy nghĩ để tự mình tìm ra chân lý, đề cao cái tâm
=>Đòi hỏi nhiều công phu, trí tuệ, phổ biến ở giới tri thức thượng lưu
+ Tịnh Độ tông: dựa vào sự giúp đỡ bên ngoài đề cứu chúng sinh thoát khổ  thường
xuyên đi chùa lễ Phật, tụng niệm “Nam mô A-di-đà Phật” =>đơn giản, phổ biến cho mọi người giới bình dân
+ Mật tông: sử dụng những ph p tu luyện bí mật (linh phù, mật chú, ấn quyết,..) để thu
hút tín đồ và mau chóng đạt đến giác ngộ và giải thoát =>Hòa vào dòng tín ngưỡng dân
gian Việt Nam như cầu đồng, dùng pháp thuật, yểm bùa trị ma và chữa bệnh,...
Thời Lí – Trần: giai đoạn cực thịnh
- Nhiều chùa tháp có quy mô to lớn/kiến trúc độc đáo được xây dựng: Chùa Phật Tích,
chàu Dam (chùa Đại Lãm), chùa Diên Hựu (Một Cột), hệ thống chùa Yên Tử,v.v. - Bốn
công trình nghệ thuật lớn thời Lý - Trần mà sách vở Trung Hoa còn truyền tụng là “An Na tứ đại khí”:
+ Tượng Phật chùa Quỳnh Lâm (pho tượng Di lặc bằng đồng cao 6 trượng (24m) đặt trong
một tòa Phật điện cao 7 trượng, xây dựng vào TK XI)
+ Tháp Báo Thiên ( vua Lý Thánh Tông cho xây năm 1057, 12 tầng, 20 trượng, là đệ nhất
danh thắng đế đô một thời, bị phá hủy bởi quân Vương Thông năm 1414, những gì còn
sót lại đã bị Pháp phá hoàn toàn để xây nhà thờ lớn trên nền đất ấy.)
+ Chuông Quy Điền (năm 1101 vua Lý Nhân Tông xuất hàng vạn cân đồng để đúc và dự
định treo tại chùa Diên Hựu nhưng do to và nặng quá không thể treo lên, đành để ngoài
ruộng, rùa bò ra bò vào nên dân gian gọi là chuông Quy Điền (ruộng rùa))
+ Vạc Phổ Minh (thời Trần Nhân Tông, vạc to đến mức nấu được cả 1 con bò mộng, trẻ
con có thể chạy nô đùa trên thành miệng vạc. Nay còn lại 3 trụ đá kê chân vạc trước sân chùa Phổ Minh)
Thời Hậu Lê =>Cuối TK XIX: nhà nước tuyên bố lấy Nho giáo là quốc giáo, Phật giáo
dần suy thoái. Đầu TK XVIII, vua Quang Trung có quan tâ chấn hưng đạo Phật, song vì
vua mất sớm nên việc này ít thu được kết quả  Đầu TK XX => nay: Giai đoạn chấn hưng Phật giáo
- Đầu TK XX, trước trào lưu Âu hóa, phong trào chấn hưng Phật giáo được dấy lên,
khởiđầu từ các đô thị miền Nam. Các hội Phật giáo Nam,Trung, Bắc Kì lần lượt ra đời.
- Đến nay, Phật giáo là tôn giáo có số tín đồ đông nhất ở Việt Nam. Xuất gia khoảng 3
triệu người, thường xuyên đến chùa tham gia các Phật sự khoảng 10 triệu và chịu ảnh
hưởng cũng khoảng vài chục triệu. Đặc điểm của Phật giáo Việt Nam Tính tổng hợp:
+ Hòa nhập với tín ngưỡng dân gian: VD:
- Hệ thống chùa Tứ pháp vẫn chỉ là những miếu dân gian thờ các vị thần tự nhiên: Mây -
Mưa - Sấm - Chớp và thờ đá
- Lối kiến trúc chùa: tiền Phật hậu Thần, đưa cả thần thánh, thành hoàng, thổ địa, các anh
hùng dân tộc vào thờ trong chùa. Hầu như không chùa nào không để bia hậu, bát nhang
cho các linh hồn đã khuất.
+ Tổng hợp các tông phái với nhau: không có tông phái Phật giáo nào là thuần khiết VD:
- phối hợp Thiền Tông với Tịnh Độ tông.
- Bắc: Chùa có nhiều pho tượng Phật, bồ tát, la hán của các tông phái khác nhau. lOMoAR cPSD| 61463864
Tượng Phật Thích ca có tới 5 dạng: Thích ca sơ sinh (Thích Ca Cứu Long), Tuyết Sơn,
Thích Ca đứng thuyết pháp, Thích Ca ngồi tòa sen, Thích Ca nhập niết bàn (lúc sắp mất)
- Nam: chùa mang hình thức Tiểu thừa (thờ Thích Ca, sư mặc áo vàng) nhưng lại theo
giáo lý Đại thừa (cạnh Phật Thích Ca lớn có nhiều tượng nhỏ, ngoài áo vàng có đồ nâu lam)
+ Tổng hợp chặt chẽ với các tôn giáo khác, Phật với Nho, với Đạo.
+ Kết hợp việc đạo với việc đời
VD: Các cao tăng được mời tham chính hoặc cố vấn trong những việc hệ trọng
- Vua Đinh Tiên Hoàng phong đại sư Khuông Việt làm tăng thống, tiếp sứ thần nhà Tống
- Vua Lê Đại Hành hỏi ý kiến sư Vạn Hạnh trước khi xuất quân đánh Tống
- Thời Lý, thiên sư Vạn Hạnh cố vấn mọi mặt cho vua Lý Thái Tổ ..
. Nhiều vua quan quý tộc đi tu Đầu TK XX, Phật tử xuống đường phản đối nền độc tài
của gia đình họ Ngô: hòa thượng Thích Quảng Đức tự thiêu hè 1963.  Khuynh
hướng thiên vềnữ tính (Đặc trưng bản chất của VH nông nghiệp)

+ Các vị Phật Ấn Độ xuất thân là đàn ông, sang VN thành Phật Ông, Phật Bà
VD: - Bồ tát Quan Thế Âm => Phật Bà Quan Âm với nghìn mắt nghìn tay
- Tạo ra Phật bà riêng: Đứa con giá nàng Man, sinh ngày 8/4, được xem là Phật Tổ Việt
Nam, bà Man là Phật Mẫu => 8/4 là ngày Phật Đản; hay Quan Âm Thị Kính, Phật bà
chùa Hương, các thánh mẫu,...
+ Chùa chiền mang tên các bà: Chùa Bà Dâu, chùa Bà Đá, chùa Bà Đanh,...
+ Tuyệt đại bộ phận Phật tử tại gia là các bà: “Trẻ vui nhà, già vui chùa”
Tính linh hoạt
- Tạo ra lịch sử Phật giáo cho riêng mình: nàng Man, cô gái làng Dâu Bắc Ninh, một trong
những đệ tử đầu tiên của Phật giáo, trở thành Phật Mẫu, đứa con gái của nàng hóa thân
vào đá à trở thành Phật Tổ với ngày sinh là ngày Phật Đản 8/4.
- Coi trọng việc sống phúc đức, trung thực hơn là đi chùa: “Thứ nhất là tu tại gia, thứ nhì
tu chợ, thứ 3 tu chùa”hay “Dù xây 9 bậc phù đồ, không = làm phúc cứu cho 1 người”;
Coi trọng truyền thống thờ cha mẹ, ông bà hơn là thờ Phật; đồng nhất cha mẹ, ông bà với Phật
- Đức Phật được đồng nhất với những vị thần trong tín ngưỡng cứu giúp mọi người, làm
mây mưa sấm chớp để mùa màng tốt tươi, ban cho người hiếm muộn có con, ban lộc
cho bình dân để làm ăn phát đạt, cứu độ người chết và giúp họ siêu thoát. - Tượng Phật
mang dáng dấp hiền hòa với những tên gọi rất dân gian: ông Nhịn ăn mà mặc(Tuyết Sơn
gầy ốm), ông Nhịn mặc mà ăn (Di lặc to béo), ông Bụt Ốc (Thích ca tóc quăn),.. ; nhiều
pho tượng tạc theo dáng chân co chân duỗi rất thoải mái, giản dị,... - Chùa thiết kế theo
phong cách ngôi nhà cổ truyền với hình thức mái cong có ba gian hai chái, năm gian hai
chái, trở thành công trình công cộng quan trọng thứ hai của mỗi làng
Phật gíao Hòa Hảo (tổng hớp đạo Phật với đạo ông bà - thờ cúng tổ tiên)
- Lấy pháp môn Tịnh Độ làm căn bản, kết hợp với đạo thờ ông bà tổ tiên đề ra thuyết
“Tứ ân”: Ơn tổ tiên cha mẹ, ơn đất nước, ơn tam bảo, ơn đồng bào và nhân loại . Kết
luận: Phật Giáo từ lâu đã thâm nhập vào tâm hồn, nếp nghĩ, lối sống của dân tộc
Việt Nam, kết hợp hài hòa với tín ngưỡng dân tộc và đã trở thành bản chất và bản
sắc của dân tộc Việt Nam.
lOMoAR cPSD| 61463864
10. Chọn 1 lễ hội cụ thể: nguồn gốc, chức năng , các thực hành văn hóa, giá trị Lễ
hội KHAI ẤN đền Trần Nam Định -
Khai ấn là gì ? “Khai ấn là để báo cho mọi người biết là giờ nghỉ của quan chức,
chính quyền; thời gian nghỉ Tết kết thúc và bắt đầu vào thời gian làm việc. Bây giờ, người
ta hiểu khai ấn theo một cách khác” theo Nhà Sử học Lê Văn Lan -
Kiểu lễ hội: Lễ hội Khai Ấn là Lễ hội dân gian truyền thống, thuộc loại lễ hội liên
quan đến cuộc sống trong mối quan hệ với môi trường xã hội dựa theo cấu trúc của hệ thống văn hóa -
Địa điểm tổ chức:tại Đền Trần hay còn gọi là Trần Miếu. Ngôi đền nằm ở đường
Trần Thừa, phường Lộc Vượng, thành phố Nam Định (sát quốc lộ 10). -
Thờ ai: Ngôi đền này là nơi thờ 14 vị vua nhà Trần cùng các quan lại có công phù
tá - những người đã có công dựng nước khai sông, lấp biển mở mang bờ cõi với hào khí
Đông A sáng ngời, ba lần đánh thắng giặc Nguyên - Mông. -
Thời gian diễn ra lễ hội: từ ngày 11-16 tháng Giêng âm lịch hằng năm -Nguồn
gốc của lễ hội KHAI ẤN đền Trần Nam Định:
+Lễ khai ấn là một tập tục từ thế kỷ XIII, chính xác là vào năm 1239 của triều đại nhà Trần
thực hiện nghi lễ tế tiên tổ. Tại phủ Thiên Trường, vua Trần mở tiệc chiêu đãi và phong
chức cho những quan quân có công. Những năm kháng chiến chống Nguyên- Mông sau
đó, Lễ khai ấn bị gián đoạn cho tới năm 1262 được Thượng hoàng Trần Thánh Tông cho mở lại.
+Thiên Trường không phải là Kinh đô nước Việt nhưng gắn với việc khai ấn là bởi trong
kháng chiến chống Nguyên - Mông, Thăng Long thực hiện vườn không nhà trống, rút lui
chiến lược thì nơi đây là căn cứ địa dễ tiến thoái như một "Thủ đô kháng chiến" theo cách
gọi hiện đại để tận dụng địa thế và huy động sức người sức của cả một vùng trấn Sơn
Nam, phủ Thiên Trường... Vậy nên danh sĩ Phạm Sư Mạnh mới gọi nơi đây là "Hùng thắng
Đông kinh hộ ấn vàng...".
+Trải bao thế kỷ, ấn cũ không còn. Năm 1822, vua Minh Mạng qua Ninh Bình có ghé lại
đây và cho khắc lại. Ấn cũ khắc là "Trần triều chi bảo", ấn mới khắc là "Trần triều điển cố"
để nhắc lại tích cũ. Dưới đó có thêm câu "Tích phúc vô cương".
-Thời khắc KHAI ẤN: vào giờ Tý ngày rằm tháng Giêng (từ 11 giờ đêm 14 đến 1 giờ sáng ngày 15 tháng Giêng)
- Ý nghĩa Ấn đền Trần: Bản chất của bốn chữ “Tích phúc vô cương” trên ấn là Nhà
Trần ban cho con cháu cái phúc, dạy con cháu, bách gia trăm họ phải biết giữ gìn phẩm
chất đạo đức, tích phúc thật tốt, phúc đức càng dầy thì được hưởng lộc càng bền vững.
Đấy là ý nghĩa giáo dục sâu sắc nhất của việc ban ấn.
-Phần Lễ * Nghi lễ diễn ra trong lễ hội
- Tại đền Cố Trạch, thế hệ lão ông, lão bà khoác lên mình áo dài khăn xếp cùng dân làngtề
tựu đông đủ để tham dự lễ tế thánh rồi dự lễ Khai Ấn.
+ Đúng giờ Tý (khoảng 23 giờ - 1 giờ đêm), buổi lễ bắt đầu. Đoàn người rước hòm ấn tiến
sang đền Thiên Trường. Họ dâng hương tế cáo trời đất tại bàn thờ Trung thiên, rồi rước
ấn vào nội cung, đặt ấn tại ban công đồng làm lễ xin khai ấn.
+ Người bồi tế đặt 1 loại giấy dân gian của Việt Nam lên trước tế chính. Giấy sau khi xin
dấu son được chia phát cho những người có mặt trong buổi lễ, đem về treo trong nhà để
lấy may và xua đuổi rủi ro, tà ám.
- Sáng ngày 15 tháng Giêng, dân làng sẽ tổ chức rước nước.
+ Dân làng xin hương rồi nghênh kiệu, làm lễ, tiến ra bờ sông Hồng.
+ Tại bến Hữu Bị dừng kiệu, chèo thuyền ra giữa sông, múc nước trong vào bình sẵn rồi
rước theo đường cũ về đền. Nước trong bình sau đó sẽ được múc ra các bát đặt lên bàn lOMoAR cPSD| 61463864
thờ để tiến hành tế nước. Tế xong thì đưa cho con cháu họ Trần uống ghi nhớ cội nguồn tổ tiên.
- Đến ngày 16 buổi sáng, lễ tế cá sẽ diễn ra tại đền Thiên Trường. Cá được đựng trong
các thúng sơn đỏ có nước gồm cá quả (Triều đẩu), chép (Long ngư), ứng với Trần Kinh
và Trần Lý là hai vị tổ họ Trần. Trước đây cá đựng trong 11 thúng sơn đỏ. Một đôi cá
Triều đẩu nặng chừng 2kg, còn cá chép mỗi con nặng 2kg. Tế cá từ sáng sớm tới trưa,
rồi rước cá thả ra sông Hồng -Phần Hội
Sau phần lễ là phần hội với các sinh hoạt văn hoá khá phong phú và độc đáo như hội diễn
võ củ 3 thế hệ (ông, cha, con) tại sân đền Thiên Trường còn diễn ra cuộc đấu vật, múa
rồng, múa sư tử…hội chọi gà, ném vòng cổ chai, chơi đu, chơi cờ thẻ… Đặc biệt múa bài
Bông một điệu múa mừng chiến thắng của quân dân thời Trần. Tương truyền do thái sư
Trần Quang Khải sáng tác và dạy cho các ca vũ ở cung đình. Sau này dân làng Phường
Bông (Mỹ Trung) vốn xưa là phương múa hát phục vụ cung đình, tập luyệ các điệu múa
này và trình diễn trong các dịp lễ hội đền Trần. Ngoài lễ hội lớn tháng 8 âm lịch hàng năm
đúng vào ngày kỵ Trần Hưng Đạo tại đền Cố Trạch còn có những ngày kỵ giỗ khác như
ngày giỗ của thân Phụ Vương Mẫu, các con các lão tướng Trần Hưng Đạo.
-Tầm quan trọng của lễ hội đền Trần : Đền Trần là một nơi linh thiêng,là niềm tự hào
của người con Nam Định nói riêng và cả dân tộc Việt Nam nói chung. Lễ Khai ấn đền Trần
là một phong tục tốt đẹp,một hoạt động văn hóa mang tính nhân văn sâu sắc thể hiện
truyền thống yêu nước và đạo lí uống nước nhớ nguồn của nhân dân ta.
*Giá trị của Lễ hội: -
VĂN HOÁ: Tưởng nhớ công đức của các bậc tiền nhân, ghi nhớ công lao to lớn
của Vương Triều nhà Trần bảo tồn, phát huy những giá trị văn hóa. -
TINH THẦN: Khơi dậy lòng yêu nước, tình yêu quê hương. Ý thức bảo tồn văn
hoá dân tộc, văn hoá bản địa, tinh thần đoàn kết, giáo dục truyền thống yêu nước chống giặc ngoại xâm -
KINH TẾ: Giúp tăng thêm thu nhập cho con người, địa phương. Tạo việc làm cho
người dân địa phương, nâng cao đời sống mọi mặt cho nhân dân -
DU LỊCH: Từng bước tạo điểm nhấn thu hút khách du lịch đến tham quan hàng
năm. Góp phần đa dạng hoá các loại hình du lịch. Góp phần quảng bá vẻ đẹp của lễ hội,
văn hoá, phong tục của lễ hội và bạn bè quốc tế. Tạo ra những cảnh quan đẹp trong mắt
khách du lịch. Giúp cho đất nước trở nên giàu mạnh hơn, phát triển hơn và được nhiều
người biết đến. Giúp cho ngành du lịch trở nên phát triển thu nhập tăng hàng năm.
11, Văn minh Đại Việt ( thời gian, thành tựu, ý nghĩa trong văn hóa) -
Thời gian: Văn minh Đại Việt là những sáng tạo vật chất và tinh thần tiêu biểu của cộng
đồng các dân tộc sinh sống trên lãnh thổ Việt Nam từ thế kỷ X => giữa TK XIX. - Thành tựu:
+ Trong khoảng thời gian tự trị của mình từ năm 905 đến 1858, nhân dân Đại Việt đã xây
dựng được cho mình một nền văn minh rực rỡ trên các lĩnh vực chính trị, kinh tế, giáo dục
cũng như văn hóa nghệ thuật. a. Thành tựu chính trị: -
Nhà nước xây dựng theo mô hình quân chủ chuyên chế, gồm 2 bộ phận: trung ương và
địa phương. Đứng đầu TW là vua – nắm quyền lực chủ yếu, vua trở thành biểu tượng
của quốc gia theo đúng quan niệm của Nho giáo là “trung quân” là “ ái quốc”. Vua thống
trị theo chế độ cha truyền con nối. Bên cạnh vua có các hệ thống đại thần giúp việc. Ở
địa phương , làng xã vẫn là cơ sở nhưng bên trên đã có 1 hệ thống hành chính; lộ, phú,
châu, huyện. Đều có quan lại và quân đội cai quản mỗi nhóm. lOMoAR cPSD| 61463864 -
Đến thời Trần và thời Lê Sơ, nhà nước quản lý chặt chẽ hơn hệ thống xã -
Đến thế kỉ XV, Đại Việt đã trở thành một khối thống nhất có tổ chức và trật tự do nhà
nước quản lý. Đó là một hệ thống chính quyền phong kiến tập trung cao độ, thể hiện sức
mạnh chi phối của triều đình trung ương xuống các địa phương và quyền chuyên chế
tuyệt đối của nhà vua. b. Luật pháp: -
Thời Khúc, Ngô, Đinh, Tiền Lê chưa có luật nên nhà nước thường xử theo ý vua -
Năm 1002 Lê Hoàn bắt đầu định luật lệ, tuy nhiên đó mới chỉ là nhữung quy chế đầu tiên
của nhà nước trung ương để quản lý đất nước -
Năm 1042, Lý Thái Tông đề ra bộ luật Hình thư – bộ luật thành văn đầu tiên của nước ta,
đã đánh dấu một bước tiến của nền văn minh Đại Việt, xuất hiện từ nhu cầu bảo vệ trị an
của đất nước cũng như bộ máy nhà nước của giai cấp cầm quyền. -
Sau đó có sự xuất hiện của bộ luật Hồng Đức – phản ánh những lợi ích của tầng lớp
thống trị mà còn phản ánh thực tế phong hóa của xã hội đương thời, những quan hệ xã
hội được luật pháp hóa: vua – tôi, quan – dân, cha mẹ - con cái, vợ - chồng, anh – em,
chủ - tớ, quan hệ ruộng đất,... -
Sang TK XIX, dưới thời Nguyễn có sự ra đời của luật Gia Long,nhưng bộ luật này cũng
chỉ củng cố thêm tính chất lạc hậu, thủ cựu của chế độ chính trị làm mất dần bản sắc dân tộc c. Đời sống kinh tế: -
Nông nghiệp: Công cụ sắt thay thế dần công cụ bằng đồng. Nông nghiệp dùng cày và
sức kéo của trâu bò trở thành phổ biến ở vùng đồng bằng. -
Có các chính sách miễn giảm thuế cho dân trong những năm thất thu, nhà nước đặt ra
các chức Hà đê sứ, Khuyến nông sứ - trông coi việc đắp đê và sx nông nghiệp. -
Từ thời Lý - Trần nhân dân Đại Việt đã biết sử dụng kĩ thuật thâm canh trong làm ruộng, một năm hai ba vụ. -
Nhà nước & nhân dân cùng hợp lực khai phá đất hoang, xây dựng làng xóm, mở rộng ruộng đồng. -
Nắm được kỹ thuật nhân giống lúa: trồng được 8 giống lúa chiêm, 27 giống lúa mùa, 29 giống lúa nếp. - Cây ăn quả phát triển -
Tục lệ nhuộm răng ăn trầu phổ biến -
Thủ công nghiệp: Các nghề thủ công cổ truyền như : chăn tằm, ươm tơ, dệt lụa, làm đồ
trang sức bằng vàng, nghề đúc đồng, làm giấy... đều phát triển. -
Nghề làm gốm được phát triển với trình độ ngày càng tinh xảo. -
Nhiều sản phẩm có tính giá trị cao và được xuất khẩu sang phương Tây : chiếu Nga Sơn,
gạch Bát Tràng, lụa Hà Đông.. -
Nghề luyện kim, khai khoáng càng ngày càng được mở rộng -
Ở thời kỳ Đại Việt các ngành nghề thủ công phát triển rộng rãi hơn trước, vừa đáp ứng
tốt hơn nhu cầu của nhân dân trong nước, vừa tạo ra đựơc những mặt hàng quan trọng
để trao đổi với thương nhân nứơc ngoài. Một số nghề mới ra đời, đã đóng góp đáng kể
vào bước tiến của kỹ thuật và văn hoá. d. Khoa học kĩ thuật: -
Từ TK XIV, hình học và số học được dử dụng trong đo đạc ruộng đất và tính toán xây dựng -
Ra đời của thiên văn học -
Thành lập Quốc sử viện – cơ quan viết sử của nhà nước