
ĐỀ CƯƠNG CHÍNH TRỊ HỌC
Câu 1: Chính trị là gì? Chính trị học là gì? Trình bày đối tượng nghiên cứu
của chính trị học?
1. Chính trị là gì?
Chính trị:
- là hoạt động trong lĩnh vực quan hệ giữa các giai cấp, các dân tộc và các
quốc gia với vấn đề giành, giữ, tổ chức và sử dụng quyền lực nhà nước.
- là sự tham gia của nhân dân vào công việc nhà nước và xã hội.
- là hoạt động thực tiễn của các giai cấp, đảng phái, nhà nước nhằm tìm kiếm
khả năng thực hiện đường lối và những mục tiêu đã đề ra nhằm thỏa mãn
lợi ích.
2. Chính trị học là gì?
Chính trị học là khoa học nghiên cứu về lĩnh vực chính trị nhằm làm
sáng tỏ những quy luật, tính quy luật của đời sống chính trị - xã hội, cùng
những thủ thuật chính trị để hiện thực hóa những quy luật, tính quy luật
trong xã hội có giai cấp và được tổ chức thành nhà nước.
3. Đối tượng nghiên cứu của chính trị học:
- Mọi khoa học, như Ph.Ăngghen khẳng định, đều có đối tượng nghiên
cứu riêng là những quy luật, tính quy luật thuộc khách thể nghiên cứu của
nó. Điều đó cũng hoàn toàn đúng với Chính trị học, khoa học lấy lĩnh vực
chính trị làm khách thể nghiên cứu.
- Cùng một khách thể, có thể có nhiều khoa học nghiên cứu. Lĩnh vực
chính trị là khách thể nghiên cứu của: chủ nghĩa xã hội khoa học, nhà nước
và pháp luật, luật học, xã hội học, xây dựng Đảng… Sự phân biệt Chính trị
học với các khoa học chính trị khác trước hết là ở đối tượng nghiên cứu.
- Chính trị học nghiên cứu khái quát đời sống chính trị của xã hội nhằm
đạt được những tri thức mang tính bản chất, từ đó làm cơ sở cho việc nhận

thức đúng đắn những quy luật, tính quy luật chi phối toàn bộ đời sống
chính trị, là khoa học nghiên cứu đời sống chính trị xoay quanh vấn đề
trung tâm, then chốt là quyền lực chính trị. Từ đó có thể xác định: Chính trị
học là khoa học nghiên cứu chính trị như một chỉnh thể nhằm nhận thức và
vận dụng những quy luật và tính quy luật chung nhất của đời sống chính
trị. Đối tượng nghiên cứu của Chính trị học là những quy luật, tính quy luật
chung nhất của đời sống chính trị xã hội, những cơ chế tác động, cơ chế
vận dụng, những phương thức, thủ thuật, công nghệ chính trị để hiện thực
hóa những quy luật, tính quy luật đó.
- Để khái quát hóa những quy luật, tính quy luật chung nhất của đời sống
chính trị, Chính trị học đi sâu nghiên cứu các hình thức hoạt động xã hội
đặc biệt có liên quan đến nhà nước.
+ Hoạt động xác định mục tiêu chính trị trước mắt, mục tiêu triển vọng
dưới dạng khả năng và hiện thực, cũng như những con đường giải quyết
các mục tiêu đó có tính đến tương quan lực lượng xã hội, khả năng xã hội
ở giai đoạn phát triển tương ứng của nó.
+ Hoạt động tìm kiếm, thực thi các phương pháp, phương tiện, những
thủ thuật, những hình thức tổ chức có hiệu quả đạt mục tiêu đã đề ra.
+ Việc lựa chọn, tổ chức, sắp xếp những cán bộ thích hợp nhằm hiện
thực hóa có hiệu quả mục tiêu.
- Đồng thời, với việc nghiên cứu các hoạt động của các chủ thể, Chính
trị học còn nghiên cứu các quan hệ giữa các chủ thể chính trị:
+ Quan hệ giữa các giai cấp, thực chất là quan hệ giữa các lợi ích
chính trị mà các giai cấp theo đuổi để hình thành lý luận về liên minh giai
cấp, đấu tranh và hợp tác các giai cấp vì yêu cầu chính trị.
+ Quan hệ giữa các chủ thể trong hệ thống tổ chức quyền lực: đảng
chính trị, nhà nước, các tổ chức chính trị - xã hội để hình thành lý luận về
đảng chính trị, nhà nước pháp quyền, và về hệ thống chính trị và cơ chế
thực thi quyền lực chính trị.

+ Quan hệ giữa các dân tộc để hình thành lý luận chính trị về vấn đề
dân tộc trong sự vận dụng vào điều kiện cụ thể của mỗi quốc gia dân tộc.
+ Quan hệ giữa các quốc gia để hình thành học thuyết về chính trị
quốc tế trong thời đại quốc tế hóa hiện nay.
Câu 2: Trình bày nội dung tư tưởng chính trị của phái Nho gia sơ kỳ? Phân
tích mặt tích cực và hạn chế của nó? Liên hệ với Việt Nam?
Chính trị là hoạt động trong lĩnh vực quan hệ giữa các giai cấp, các dân
tộc và các quốc gia với vấn đề giành, giữ, tổ chức và sử dụng quyền lực
nhà nước, là sự tham gia của nhân dân vào công việc nhà nước và xã hội,
là hoạt động thực tiễn của các giai cấp, đảng phái, nhà nước nhằm thực
hiện đường lối và những mục tiêu đã đề ra nhằm thỏa mãn lợi ích.
1. Nội dung tư tưởng chính trị của phái Nho gia sơ kỳ:
Tư tưởng Nho gia chiếm vị trí đặc biệt quan trọng trong lịch sử tư tưởng
chính trị Trung Quốc. Nó đã ảnh hưởng sâu sắc mọi mặt của đời sống xã
hội Trung Quốc và các nước láng giềng trong suốt hơn 2000 năm lịch sử.
Hai nhân vật tiêu biểu của trường phái Nho gia là Khổng Tử và Mạnh Tử.
a. Khổng Tử:
* Tiểu sử: Khổng Tử là người sáng lập ra trường phái Nho gia. Ông tên là
Khâu, tự là Trọng Ni, sinh ra trong một gia đình quý tộc nhỏ ở nước Lỗ.
Thời trẻ, ông đã từng mở trường dạy học, ra làm quan. Vì không được
trọng dụng, ông dẫn các học trò đi chu du các nước hơn 10 năm. Cuối đời,
ông trở về nước Lỗ tiếp tục dạy học và chỉnh lý, san định các thư tịch cổ
như ngũ kinh: Thi, Thư, Lễ, Nhạc, Dịch và viết kinh Xuân Thu. Luận ngữ
là bộ sách do học trò của Khổng Tử ghi lại.
* Tư tưởng chính trị của Khổng Tử trước hết là vì sự bình ổn xã hội – một
xã hội “thái bình thịnh trị”. Theo ông, chính trị là chính đạo, đạo của người
làm chính trị phải ngay thẳng, phải lấy chính trị để dẫn dắt dân, nhà Nho
phải tham chính… Từ nhận thức đó, Khổng Tử cho rằng, xã hội loạn lạc là
do mỗi người không ở đúng vị trí của mình, Lễ bị xem nhẹ. Để thiên hạ có
“đạo”, quay về Lễ, phải củng cố điều Nhân, coi trọng Lễ nghĩa, mỗi người

phải hành động trong khuôn khổ của mình, từ đó xã hội sẽ ổn định. Để
thực hiện lý tưởng chính trị của mình, ông đề ra học thuyết “Nhân – Lễ -
Chính danh”
- Nhân là phạm trù trung tâm trong học thuyết chính trị của Khổng Tử.
Nó là thước đo, là chuẩn mực quyết định thành hay bại, tốt hay xấu của
chính trị. Nội dung điều Nhân rất rộng, bao hàm các vấn đề về đạo đức, lý
luận xã hội. Trong chính trị, điều Nhân thể hiện ở các nội dung:
+ Thương yêu con người, trong đó thương yêu người thân của mình
hơn và yêu người nhân đức hơn. Từ thương người đi đến hai nguyên tắc:
“Điều mình không muốn thì đừng đối xử với người khác” và “Mình muốn
thành đạt thì phải làm cho người khác thành đạt”
+ Tu dưỡng bản thân, sử mình theo lễ.
+ Tôn trọng và sử dụng người hiền.
Nhân là trung thành, là vị tha. Người có Nhân phải thực hiện 5 điều:
Cung kính, khoan nhượng, giữ chữ tín, siêng năng, làm lợi cho người khác.
Hiều với cha mẹ và hữu ái là gốc của đức Nhân.
=> Như vậy, nội dung Nhân là nhân đạo, yêu thương con người, coi
người như mình, giúp đỡ lân nhau. Khi điều Nhân đã bao trùm thì không
còn mâu thuẫn, xung đột, lễ nhà Chu được phục tùng, xã hội sẽ tự ổn định.
Theo Khổng Tử, đạo Nhân không phải để cho tất cả mọi người mà chỉ có ở
người “quân tử” (quý tộc, trí thức thuộc giai cấp thống trị), còn kẻ “tiểu
nhân” (người lao động, giai cấp bị trị) thì không bao giờ có. Để đạt được
điều Nhân, cần phải có Lễ.
- Lễ vốn là những quy định, nghi thức trong cúng tế. Khổng Tử đã lý
luận hóa, biến Lễ thành những quy định, trật tự phân chia thứ bậc trong xã
hội, được thể hiện trong phong cách sinh hoạt: hành vi, ngôn ngữ, trang
phục, nhà cửa…
+ Lễ là chuẩn mực đạo đức, là khuôn mẫu cho mọi hành động của cá
nhân và các tầng lớp trong xã hội. Lúc này, Lễ mang tính pháp lý, có tác
dụng khống chế các hoạt động thái quá. Ai ở địa vị nào thì chỉ được dùng

Lễ ấy, tùy vào tính chất công việc khác nhau. Lễ là bộ phận của Nhân. Lễ
là ngọn, Nhân là gốc. Người có đức Nhân là người “không nhìn cái không
hợp Lễ, không nghe cái không hợp Lễ, không nói những điều không hợp
Lễ, không làm những điều không hợp Lễ”…
+ Lễ tạo cho con người biết phân biệt trên dưới, biết thân phận, vai trò,
địa vị của mình trong xã hội, biết phục tùng làm theo điều lành và xa rời
điều ác.
+ Theo Khổng Tử, Lễ quy định chuẩn mực cho các đối tượng quan hệ
cơ bản: vua – tôi, cha – con, chồng – vợ, anh – em, bạn bè. Các quan hệ
này đều có hai chiều, phụ thuộc vào nhau. “Vua sai khiến bề tôi phải theo
Lễ, bề tôi thờ vua theo đạo trung, cha đối với con phải nhân từ, con thờ cha
phải hiếu thảo…” Nhưng ông cũng coi việc bề dưới lật đổ bề trên là hợp
lý, khi bề trên không xứng đáng với danh vị của mình nữa. Việc vua Kiệt
nhà Hạ, vua Trụ nhà Thương bị lật đổ là hợp mệnh trời, vì đó là những ông
vua ác, thất nhân tâm.
+ Khổng Tử xem Lễ như luật lệ. “Một ngày sửa mình theo Lễ thì thiên
hạ sẽ theo về”. Lễ không phải dùng cho tất cả mọi người mà chỉ đem áp
dụng cho người có Nhân. Cung kính là gốc của Lễ. Nhân có trước, Lễ có
sau.
- Chính danh là danh phận đúng đắn, ngay thẳng. Đây là phạm trù cơ
bản trong học thuyết chính trị của Khổng Tử. Chính danh là xác định và
phân biệt quan hệ danh phận, đẳng cấp giữa các giai cấp, thực chất là
khẳng định tính hợp lý của giai cấp quý tộc trong việc thực thi quyền lực
của mình. Nó vừa là điều kiện, vừa là mục đích của chính trị. Chính danh
thể hiện ở các nội dung:
+ Xác định danh phận, đẳng cấp và vị trí của từng cá nhân, tầng lớp
trong xã hội. Ai ở vị trí nào thì làm tròn bổn phận ở vị trí ấy: vua phải giữ
đúng đạo làm vua, tôi phải giữ đúng đạo làm tôi, cha phải giữ đúng đạo
làm cha, con phải giữ đúng đạo làm con; không được làm quá chức năng,
bổn phận của mình.

+ “Danh” phải phù hợp với “thực”, nội dung phải phù hợp với hình
thức. Trong chính trị, lời nói phải đi đôi với việc làm.
+ Đặt con người vào đúng vị trí và chức năng. Phải xác định “danh”
trước khi có “thực” vì “danh” là điều kiện thi hành “thực”. Khi có danh thì
thực mới có ý nghĩa “danh không chính thì ngôn không thuận, ngôn không
thuận thì việc không thành”.
+ Giữa Chính danh và Lễ có mối quan hệ chặt chẽ với nhau: muốn
“danh” được “chính” (đúng đắn, phù hợp với thực) thì phải thực hiện Lễ.
Chính danh là điều kiện để thực hiện, trau dồi Lễ.
+ Chính danh là một biện pháp quy định và giúp mọi người nhận rõ
cương vị, quyền hạn và nghĩa vụ của mình trong quan hệ với chức vụ và
đẳng cấp tương ứng. Có xác định được danh phận thì mới điều hòa được
các mối quan hệ. Đây là vấn đề cơ bản của cách ứng xử chính trị.
=> Học thuyết chính trị của Khổng Tử được xây dựng trên ba phạm trù
cơ bản: Nhân – Lễ - Chính danh. Nhân là cốt lõi của vấn đề, vừa là điểm
xuất phát nhưng cũng là mục đích cuối cùng của hệ thống. Do vậy, có thể
gọi học thuyết của chính trị của Khổng Tử là “đức trị” vì lấy đạo đức làm
gốc hay “nhân trị”. Điều nhân được biểu hiện thông qua lễ, chính danh là
con đường đạt đến điều nhân. Ba yếu tố đó có quan hệ biện chứng với
nhau, tạo nên tính chặt chẽ của học thuyết. Về bản chất, học thuyết chính
trị của Khổng Tử là duy tâm và phản động, vì nó không tính đến các yếu tố
vật chất của xã hội mà chỉ khai thác yếu tố tinh thần – đạo đức. Mục đích
của học thuyết này là bảo vệ chế độ đẳng cấp, củng cố địa vị thống trị của
giai cấp quý tộc đã lỗi thời, đưa xã hội trở về thời Tây Chu.
b. Mạnh Tử:
Mạnh Tử là người nước Trâu. Ông đã kế thừa và phát triển sáng tạo
những tư tưởng của Khổng Tử, xây dựng học thuyết “Nhân chính” (chính
trị nhân nghĩa) của mình. Tư tưởng chính trị của ông có những nội dung cơ
bản sau:

- Thuyết tính thiện: Theo Mạnh Tử, bản tính tự nhiên của con người là
thiện. Con người có lòng trắc ẩn thì tự nhiên biết xấu hổ, nhường nhịn, biết
phải trái. Lòng trắc ẩn là nhân, biết xấu hổ là nghĩa, biết nhường nhịn là lễ,
biết phải trái là trí. Nhân, lễ, nghĩa, trí là bốn thứ vốn có ở tâm ta. Con
người trở thành ác vì không biết tu tâm, dưỡng tính, để cho vật dục chi
phối, chạy theo lợi ích cá nhân.
- Quan niệm về vua – tôi – dân: Mạnh Tử cho rằng, Thiên từ là do mệnh
trời trao cho thánh nhân và vận mệnh trời nhất trí với ý dân. Trời ngấm
ngầm trao quyền cho người có đức, hợp lòng dân. Quan hệ vua – tôi là
quan hệ hai chiều: “Vua coi bầy tôi như chân tay thì bầy tôi coi vua như
ruột thịt, vua coi bầy tôi như chó ngựa thì bầy tôi coi vua như người dưng,
vua coi bầy tôi như cỏ rác thì bầy tôi coi vua như cừu địch”. Tiến thêm một
bước, ông cho rằng: “Ta phải hiểu là giết thằng Trụ chứ không nên hiểu là
giết vua vậy”. Mạnh Tử đề xuất tư tưởng “nhường ngôi”. Thiên tử có thể
nhường ngôi cho vua chư hầu, căn cứ vào đức hạnh và khăn năng thực
hành nhân chính của ông ta.
+ Mạnh Tử là người đầu tiên đưa ra luận điểm tôn trọng nhân dân:
“Dân là quý nhất, quốc gia đứng thứ hai, vua là không đáng trọng”. Như
dân ở đây là chỉ thần dân, kẻ phụ thuộc, bị thống trị. Coi trọng dân chỉ là
thủ đoạn chính trị để thống trị tốt hơn mà thôi.
- Quan niệm về quân tử - tiểu nhân: Quân tử là hạng người lao tâm, cai
trị và được cung phụng. Tiểu nhân là hạng người bạo lực, bị cai trị và phải
cung phụng người. Mạnh Tử đề xuất chủ trương dùng người hiền để thực
hành chính trị nhân nghĩa. Trị nước là nghề cao quý và quan trọng nhất,
nên người cai trị phải được tuyển chọn công phu, chu đáo. Nhưng bất đắc
dĩ mới để cho có ngoại lệ “kẻ hèn vượt người tôn quý”.
- Chủ trương vương đạo: Mạnh Tử kịch liệt phản đối chiến tranh, bạo
lực, nguồn gốc của mọi rối ren, loạn lạc. Chính trị “vương đạo” là nhân
chính, lấy dân làm gốc. “Vương đạo” chỉ nhằm vào nhân nghĩa để mỗi
người “tự nuôi lấy bản thân mà chờ số mệnh” thì thiên hạ sẽ bình yên vô
sự. Muốn cho tâm trí dân ổn định không làm loạn, thì phải tạo điều kiện
cho họ có một mức sống vật chất tối thiểu. Thực chất của “”vương đạo” là

người cai trị phải giáo dục dân tuyệt đối phục tùng bề trên, thực hiện “tam
cương, ngũ thường”, trói buộc ý thức và luân lý Nho giáo để dễ bề cai trị
họ.
=> Học thuyết “chân chính” của Mạnh Tử có nhiều tiến bộ hơn so với
Khổng Tử. Tuy vẫn đứng trên lập trường của giai cấp thống trị, nhưng ông
đã nhìn thấy được sức mạnh của nhân dân, chủ trương thi hành nhân chính,
vương đạo. Đó là những yếu tố dân chủ, tiến bộ. Điểm hạn chế của ông là
còn tin vào mệnh trời và tính thần bí trong lý giải vấn đề quyền lực.
3, Liên hệ với Việt Nam:
Nho gia Trung Quốc tác động tới Việt Nam trên mọi phương diện: thể
chế chính trị, giáo dục, đao đức, văn học, nghệ thuật, phong tục… Nho gia
ảnh hưởng lớn đến đời sống văn hóa xã hội Việt Nam:
- Ban đầu khi được truyền bá vào Việt Nam, Nho gia đã được sử dụng
như một thứ vũ khí để thể hiện sức mạnh và tham vọng đồng hóa người
phương Nam của phong kiến phương Bắc. Tuy nhiên, Nho giáo được
người Việt tiếp biến có chọn lọc và mang những nội hàm mới.
- Tư tưởng chính trị của Nho gia góp phần xây dựng nên nhà nước
phong kiến Việt Nam vững mạnh (là nền tảng lý luận để tổ chức nhà nước,
pháp luật, phát triển kinh tế - xã hội). Thời nhà Lê, vua Lê Thánh Tông đưa
Nho giáo thành quốc giáo ở nước ta. Ông tổ chức nhiều khoa thi để tuyển
chọn nhân tài vào làm việc trong bộ máy nhà nước. Ông tiến hành cải cách
bộ máy hành chính, xây dựng hệ thống chính trị chặt chẽ từ cơ sở đến
trung ương, hoàn chỉnh hệ thống luật pháp, đưa pháp luật vào đời sống,
thay thế các tục lệ cũ.
- Nho gia không chú ý đến khoa học tự nhiên, khoa học kỹ thuật là kìm
hãm đất nước ta nhiều thế kỷ.
- Nho gia được Việt Nam hóa đã có những đóng góp đáng kể vào việc
củng cố những truyền thống tốt đẹp của dân tộc. Đặc biệt, trong bối cảnh
hội nhập và sự thay đổi trong định hướng giá trị nhân cách cỉa người Việt
Nam, việc phát triển con người Việt Nam bền vững cần có Nho gia là cơ sở

triết học vững chắc nhằm đảm bảo, duy trì các giá trị đạo đức truyền thống
tốt đẹp mà vẫn chứa đựng những yếu tố năng động, hiện đại.
2. Ảnh hưởng của tư tưởng đạo đức Nho giáo ở nước ta hiện nay
Nho giáo được du nhập vào nước ta và đã tồn tại trong suốt thời kỳ
phong kiến. Trong khoảng thời gian không ngắn đó, lịch sử tư tưởng Việt
Nam đã tiếp thu nhiều tư tưởng khác như Phật giáo, Đạo giáo…. Đã có
thời kỳ Phật giáo giữ vai trò chính yếu, nhưng nhìn chung càng về sau Nho
giáo càng chiếm ưu thế và trở thành công cụ tư tưởng cho các triều đại
phong kiến Việt Nam. Do có thời gian tồn tại lâu dài, do được các triều đại
phong kiến tiếp thu và sử dụng có mục đích, cho nên Nho giáo có ảnh
hưởng sâu rộng ở nhiều lĩnh vực. Đặc biệt, tư tưởng đạo đức Nho giáo đã
trở thành cơ sở cho đạo đức thời phong kiến Việt Nam và ngày nay ảnh
hưởng của nó vẫn còn.
Đức Nhân, Nghĩa của Nho giáo đã làm cho con người có sự đối xử
nhân ái, khoan dung, độ lượng với nhau. Đức lễ, với hệ thống các qui định
chặt chẽ đã giúp con người có thái độ và hành vi ứng xử với nhau theo thứ
bậc, theo khuôn phép. Xét theo phương diện pháp luật thì lễ của Nho giáo
có tác dụng tích cực trong việc duy trì trật tự, kỷ cương của xã hội, ngày
nay chúng ta có thể kế thừa. Nho giáo quan niệm trong nước cần phải có
pháp lễ (luật pháp) thì nước mới nghiêm; trong gia đình phải có gia pháp
thì mới có trên có dưới. Điều này đã tạo cho con người nếp sống trên kính
dưới nhường. Tư tưởng chính danh giúp cho con người xác định được
nghĩa vụ và trách nhiệm của mình để từ đó suy nghĩ và xử thế đúng trong
các quan hệ xã hội.
Nét đặc sắc của Nho giáo là chú trọng đến vấn đề tu dưỡng đạo đức
cá nhân, đặc biệt là chú ý đến đạo đức người cầm quyền (những người có
chức, quyền). G.S. Vũ Khiêu đã nhận xét: Ở đây Nho giáo đã nhận thức
được một thực tế là những người trong bộ máy nhà nước mà mất đạo đức
thì không thể cai trị được nhân dân. Cho nên đạo đức là một phương tiện

để tranh thủ được lòng dân. Theo Nho giáo, đạo đức người cầm quyền có
ảnh hưởng lớn đến sự hưng vong của một triều đại. Vì vậy, Khổng Tử
khuyên người cầm quyền phải “tu thân” để làm tấm gương cho người
dưới. Với việc đề cao tu thân, coi đây là cái gốc trong rèn luyện nhân cách,
Nho giáo đã tạo nên một lớp người sống có đạo đức. Trong lịch sử dân tộc
Việt nam đã có nhiều tấm gương sáng ngời về đạo đức của các vị vua, của
các anh hùng hào kiệt. Theo các nhà kinh điển của Nho giáo, người làm
quan phải có đức, phải lấy nhân nghĩa, lấy chữ tín làm mục tiêu để cảm
hóa lòng người, để cai trị. Muốn vậy, phải đặt lợi ích của thiên hạ lên trên
lợi ích của vua quan. Thiết nghĩ, ngày nay tư tưởng nêu trên vẫn còn
nguyên giá trị. Người cán bộ trong bộ máy nhà nước phải có đức, đó là
điều kiện đầu tiên để dân tin yêu, kính phục. Nho giáo coi những người
làm quan mà hà hiếp dân là độc ác, để dân đói rét là nhà vua có tội. Nho
giáo đã đề cao việc cai trị dân bằng đạo đức, bằng nhân nghĩa, bằng lễ
giáo. Muốn thực hiện được đường lối đức trị, người cầm quyền phải luôn
“tu, tề, trị, bình”.
Bên cạnh ảnh hưởng tích cực, Nho giáo cũng có một số tác động
tiêu cực, cụ thể là:
Một số người do quá “trọng đức”, “duy tình” trong khi xử lý các
công việc và các mối quan hệ xã hội, dẫn đến buông lỏng kỷ cương phép
nước và vi phạm pháp luật. Coi trọng đạo đức là cần thiết nhưng vì tuyệt
đối hóa vai trò của đạo đức mà quên pháp luật là sai lầm. Tiếp thu truyền
thống trọng đức của phương Đông, nhấn mạnh quan hệ đạo đức “thân
thân”, “thân hiền” của Nho giáo, nhiều người khi có chức quyền đã kéo bè
kéo cánh, đưa người thân, anh em họ hàng vào cơ quan mình đang quản
lý. Sắp xếp và bố trí cán bộ không theo năng lực, trình độ và đòi hỏi của
công việc mà dựa vào sự thân thuộc, gần gũi trong quan hệ tông tộc, dòng
họ. Trong công tác tổ chức cán bộ, vì đề cao quan hệ thân thích dẫn đến tư
tưởng cục bộ địa phương. Nhiều người vì quan hệ thân thuộc mà không
dám đấu tranh với những sai lầm của người khác. Do quan niệm sai lệch
về đức Nhân Nghĩa với nội dung đền ơn trả nghĩa mà trong thực tế một số
cán bộ có thái độ ban ơn, cố tình lợi dụng kẽ hở của chính sách và luật

pháp để trục lợi, móc ngoặc, hối lộ, cửa quyền….Thậm chí, một số người
dùng tư tưởng gia trưởng để giải quyết các công việc chung. Một trong
những phẩm chất của người lãnh đạo là tính quyết đoán. Nhưng quyết
đoán theo kiểu độc đoán, chuyên quyền là biểu hiện của thói gia trưởng.
Việc coi trọng lễ và cách giáo dục con người theo lễ một cách cứng
nhắc, bảo thủ là cơ sở cho tư tưởng tôn ti, tư tưởng bè phái, cục bộ, đề cao
địa vị, coi thường lớp trẻ, trọng nam khinh nữ… hiện nay vẫn còn tồn tại
trong suy nghĩ và hành động của không ít người. Những tư tưởng trên
phản ánh cơ sở hạ tầng của xã hội phong kiến phụ quyền gia trưởng:
Đứng đầu gia đình là người cha, người chồng gọi là gia trưởng, đứng đầu
dòng họ là trưởng họ, đại diện cho cả làng là ông lý, cả tổng là ông chánh,
hệ thống quan lại là cha mẹ dân và cao nhất là vua (thiên tử - gia trưởng
của gia đình lớn – quốc gia, nước). Vì vậy, mọi người có nghĩa vụ theo và
lệ thuộc vào “gia trưởng”.
Thực chất đạo cương – thường của Nho giáo là bắt bề dưới phải
phục tùng bề trên đã tạo nên thói gia trưởng. Thói gia trưởng biểu hiện ở
quan hệ xã hội, ở tổ chức nhà nước. Trong gia đình là quyền quyết định
của người cha, người chồng :”cha mẹ đặt đâu con ngồi đấy”; “phu xướng
phụ tòng” (chồng đề xướng, vợ phải theo). Ở cơ quan là quyền duy nhất là
của lãnh đạo. Ở đâu vẫn còn có cán bộ mang tư tưởng gia trưởng, bè phái
thì ở đó quần chúng nhân dân sẽ không phát huy được khả năng sáng tạo,
chủ động được. Ngày nay, trong thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện
đại hóa đất nước đang rất cần những con người năng động, sáng tạo, dám
nghĩ, dám làm và dám chịu trách nhiệm.
Cũng từ việc coi trọng lễ giáo, coi trọng quan hệ gia đình thân thuộc
nên nhiều người đã đưa quan hệ gia đình vào cơ quan hình thành nên quan
hệ “chú cháu”, “anh em” khiến cho người cấp dưới không dám góp ý và
đấu tranh với khuyết điểm của họ vì vị nể bậc cha chú. Từ việc xem xét và
giải quyết các vấn đề của xã hội thông qua lăng kính gia đình nhiều khi
dẫn đến những quyết định thiếu khách quan, không công bằng. Tư tưởng
trọng nam khinh nữ đã dẫn đến một số người lãnh đạo không tin vào khả
năng của phụ nữ, ngại tiếp nhận nữ giới vào cơ quan hoặc cho rằng họ chỉ

là người thừa hành mà không được tham gia góp ý kiến…là những trở ngại
cho việc đấu tranh vì quyền bình đẳng giới. Vì quan hệ thứ bậc đã tạo nên
quan niệm chạy theo chức quyền. Trong xã hội phong kiến, địa vị luôn gắn
với danh vọng và quyền lợi. Địa vị càng cao thì quyền và lợi càng lớn. Hơn
nữa, khi có chức, không những bản thân được vinh hoa phú quý mà “một
người làm quan cả họ được nhờ”. Hám danh, tìm mọi cách để có danh, để
thăng quan, tiến chức đã trở thành lẽ sống của một số người. Thạm chí
việc học tập theo họ cũng là “học để làm quan”.
Sự giáo dục và tu dưỡng đạo đức của Nho giáo còn mang tính cứng
nhắc đã tạo nên những con người sống theo khuôn mẫu, hành động một
cách thụ động. Những tàn dư tư tưởng trên đang làm cản trở và gây khó
khăn cho việc xây đựng đạo đức mới và xã hội mới ở nước ta hiện nay.
Qua những điều phân tích ở trên có thể thấy rằng, tư tưởng đạo đức
Nho giáo đã có ảnh hưởng đáng kể ở nước ta. Sự tác động, ảnh hưởng này
ở hai mặt vừa có tính tích cực, vừa có những hạn chế nhất định.
Để xây dựng đạo đức mới cho cơn người Việt Nam hiện nay chúng ta
cần kế thừa mặt tích cực, đồng thời khắc phục và xóa bỏ dần những ảnh
hưởng tiêu cực của tư tưởng đạo đức Nho giáo. Công việc này phải được
tiến hành thường xuyên, kiên trì và lâu dài.
Câu 3: Trình bày nội dung tư tưởng chính trị của Pháp gia? Liên hệ với
Việt Nam.
Chính trị là hoạt động trong lĩnh vực quan hệ giữa các giai cấp, các dân
tộc và các quốc gia với vấn đề giành, giữ, tổ chức và sử dụng quyền lực
nhà nước, là sự tham gia của nhân dân vào công việc nhà nước và xã hội,
là hoạt động thực tiễn của các giai cấp, đảng phải, nhà nước nhằm tìm kiếm
những khả năng thực hiện đường lối và những mục tiêu đã đề ra nhằm thỏa
mãn lợi ích.
1. Nội dung tư tưởng của Pháp gia:

Vào cuối thời Chiến quốc, quá trình phát triển kinh tế - xã hội mạnh mẽ
cùng với sự phân hóa giai cấp ngày càng sâu sắc đã cho ra đời một tầng lớp
mới là địa chủ mới và thương nhân. Do áp dụng phương thức sản xuất tiến
bộ và chính sách kinh tế phù hợp nên tầng lớp này đã nắm giữ, chi phối
nền kinh tế đất nước. Tuy vậy, tầng lớp quý tộc cũ nắm giữ quyền lực
chính trị và đang trở thành vật cản của phát triển xã hội. Yêu cầu bức xúc
lúc này là tập phân trung kinh tế và quyền lực để kết thúc tình trạng phân
tranh, cát cứ, mở đường cho lực lượng sản xuất phát triển. Pháp gia ra đời
đã đáp ứng được yêu cầu trên. Tư tưởng Pháp gia được áp dụng thành công
và đưa vào thời Tần trở thành bá chủ, thống nhất Trung Quốc vào năm 221
trước Công Nguyên
Phái Pháp gia gồm nhiều nhà tư tưởng, nhiều trường phái khác nhau như
phái trọng pháp, phái trọng thuật, phái trọng thế. Hàn Phi Tử là người tổng
kết và phát triển tư tưởng của những nhà Pháp gia tiền bôi, hoàn chỉnh học
thuyết này.
Hàn Phi Tử (khoảng 280 – 233 TCN) là nhà tư tưởng cuối cùng của thời
Tiên Tần, là con của công tử (con vua) nước Hàn. Ông cùng với Lý Tư (Tể
tưởng của Tần Thủy Hoàng) là học trò của Tuân Tử, nhà tư tưởng lớn nhất
đương thời. Ông muốn dùng học thuyết của mình để giúp vua làm cho đất
nước phú cường, nhưng không được vua Hàn trọng dụng. Đến nước Tần,
ông bị Lý Tư hãm hại buộc phải tự sát trong ngục. Tác phẩm Hàn Phi Tử
của ông là tác phẩm kinh điển của phái Pháp gia.
Hàn Phi Tử cho rằng, xã hội loài người luôn biến đổi, phát triển theo
hướng đi lên. Bản tính con người là ham lợi. Điều lợi ảnh hưởng và chi
phối các mối quan hệ trong xã hội. Chính trị đương thời không nên bàn
chuyện nhân nghĩa cao xa mà cần có biện pháp cụ thể, cứng rắn, kiên
quyết. Từ nhận thức đó, học thuyết chính trị của ông được xây dựng trên
cơ sở thống nhất pháp – thuật – thế:
- Pháp luật là những quy ước, khuôn mẫu, chuẩn mực do vua ban ra,
được phổ biến rộng rãi để nhân dân thực hiện. Pháp luật phải hợp thời, đáp
ứng được những yêu cầu, không phát triển của xã hội, rõ ràng, dễ hiểu, phù
hợp với trình độ dân chúng. Pháp luật phải công bằng, để kẻ mạnh không

lấn át kẻ yếu, đám đông hiếp áp số yếu. Quyền lực cần phải tập trung vào
một người là vua. Vua đề ra pháp luật, quan lại theo dõi việc thực hiện, dân
là người thi hành pháp luật.
- Thuật là thủ đoạn hay thuật cai trị của người làm vua, để kiểm tra,
giám sát, điều khiển bầy tôi. Thuật là phương pháp tuyển chọn, sử dụng
người đúng chức năng, tạo cho họ làm tròn bổn phận của mình. Như vậy,
thuật là yếu tố cần thiết, bổ trợ và làm cho pháp luật được thi hành nghiêm
chỉnh. Thuật phải được giữ bí mật, kín đáo, không được tiết lộ với bất cứ
ai. Vua không được để lộ sự yêu ghét của mình, đề phòng quần thần lợi
dụng. Ông ta không phải làm gì mà bắt các quan phải làm việc cai trị dân
chúng.
- Thế là uy thế, quyền lực của người cầm quyền. Quần thần phục tùng
nhà vua không phải theo tình cốt nhục, mà chịu sự ràng buộc bởi quyền
lực. Yếu tố để quẩn thần buộc phải tuân theo đó là thế. Thế là quyền lực
đảm bảo cho việc thi hành pháp luật. Thế phải tuân thủ theo nguyên tắc tập
trung, không được chia sẻ, không được để rơi vào tay người khác. Vua
phải nắm chắc hai phương tiện cưỡng chế, đó là “nhị bính”: thưởng và
phạt. Thưởng, phạt phải căn cứ vào cơ sở pháp luật chứ không thể tùy tiện,
Vua cũng phải phục tùng pháp luật. Khi có thể, quyền uy của vua cũng sẽ
tăng lên, lời nói có thêm sức mạnh.
- Hàn Phi Tử cho rằng: “pháp”, “thuật”, “thế” cần phải kết hợp làm một,
trong đó “pháp” là trung tâm, “thuật” và “thế” là những điều kiện tất yếu
trong việc thi hành luật. Pháp luật phải vì lẽ phải và phục vụ lợi ích chung,
“việc phạt tội không trừ bậc đại thần, việc thưởng công không bỏ sót kẻ
thất phu”
- “Pháp trị” đối lập với “Nhân trị” của Nho gia. Theo Hàn Phi Tử, nguồn
gốc làm rối loạn pháp luật là do bọn du sĩ và các học thuyết chính trị đua
nhau làm hỏng pháp độ, cho nên phải dùng pháp luật để ngăn cấm và
không cho họ tham gia chính trị.
=> Như vậy, đứng trên lập trường của giai cấp địa chủ mới, tư tưởng
Pháp gia đã khai thông các bế tắc xã hội, tạo điều kiện cho lực lượng sản

xuất phát triển. Tư tưởng Pháp gia đã phục vụ đắc lực cho chế độ phong
kiến trung ương tập quyền, góp phần không nhỏ trong việc củng cố chế độ
phong kiến đời Tần. Tuy nhiên, học thuyết Pháp trị bị giai cấp cầm quyền
cực đoan hóa, dẫn đến sự thống trị hà khắc tàn bạo (như vụ án lịch sử Tần
Thủy Hoàng ra lệnh đốt sách, chôn kẻ sỹ).
3. Liên hệ với Việt Nam:
Đối với Việt Nam, tư tưởng Pháp gia của Hàn Phi Tử chiếm một ý nghĩa
quan trọng trong đời sống chính trị.
- Từ thời phong kiến, các vua chúa Việt Nam bị ảnh hưởng bởi tư tưởng
cai trị phương Bắc, trong đó, biết đề ra các quy tắc, chuẩn mực xã hội,
buộc mọi người phải tuân theo nhằm ổn định xã hội (Luật Hình thư, Luật
Hồng Đức, Luật Gia Long…)
- Biểu hiện thời hiện đại: Việc xây dựng Hiến pháp, pháp luật, xây dựng
nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa.
Câu 4: Trình bày nội dung tư tưởng chính trị Hy Lạp – La Mã cổ đại?
Chính trị là hoạt động trong lĩnh vực quan hệ giữa các giai cấp, các dân
tộc, các quốc gia với vấn đề giành, giữ, tổ chức và sử dụng quyền lực nhà
nước, là sự tham gia của nhân dân vào công việc nhà nước và xã hội, là
hoạt động thực tiễn của các giai cấp, đảng phái, nhà nước nhằm tìm kiếm
những khả năng thực hiện đường lỗi và những mục đích đã đề ra nhằm
thỏa mãn lợi ích.
Văn minh Hy Lạp cổ đại đã tạo tiền đề hình thành và phát triển khá sớm
những tư tưởng chính trị của nhân loại. Những vấn đề căn bản của chính
trị, tư duy chính trị đã được đặt ra và luận giải trên những nét chính ngay ở
thời kỳ này. Trong quá trình phát triển từ chế độ cộng sản nguyên thủy
sáng chiếm hữu nô lệ, ở Hy Lạp đã xuất hiện các quốc gia thành thị chiếm
hữu nô lệ. Mâu thuẫn xã hội giữa các tập đoàn trong giai cấp chủ nô nhằm
tranh giành quyền lực và mâu thuẫn giữa chủ nô với nô lệ và tầng lớp thị

dân tự do ngày càng gay gắt dẫn đến hình thành các phe phái chính trị và
xuất hiện những chính trị gia xuất sắc.
1. Hêrêđốt (484 – 425 TCN)
Hêrêđốt được coi là người cha của chính trị học. Ông là người đầu tiên
phân biệt và so sánh các thể chế chính trị khác nhau. Theo ông, có ba thể
chế chính trị: quân chủ, quý tộc và dân chủ.
- Quân chủ: là thể chế độc quyền của một người là vua. Vua có công lập
quốc, sống vì nước, vì dân. Vua có quyền cấm tất cả những ý kiến phản
biện, phản kháng. Đặc quyền và lạm dụng quyền lực khiến vua dễ trở
thành tội lỗi.
- Quý tộc: là thể chế được xây dựng trên cơ sở cầm quyền của một nhóm
người ưu tú nhất của đất nước, vì lợi ích chung. Tuy nhiên, thể chế này dễ
có sự khác biệt, bất hòa, chia bè kéo phái dẫn đến tranh giành, tàn sát lẫn
nhau.
- Dân chủ: là thể chế mà quyền lực do đông đảo nhân dân nắm bằng con
đường bỏ phiếu để trao những chức vụ công cộng một cách đúng đắn và
ngăn chặn sự lạm dụng quyền lực, xây dựng nhà nước trên nguyên tắc cơ
bản: tất cả đều bình đẳng trước pháp luật. Nhưng khi dân chúng có trình độ
thấp thì dễ bầu ra những người lãnh đạo kém hiểu biết. Họ dễ bị kích động
bởi các cá nhân cầm quyền, từ đó xảy ra tình trạng vô chính phủ.
2. Xênôphôn (khoảng 427 – 355 TCN)
- Ông thuộc tầng lớp quý tộc. Khi bàn về chính trị, ông bàn về cách cai
trị và cách quản lý. Ông thấy chính trị có một nghệ thuật thực hành, nghệ
thuật cao nhất – nghệ thuật của bậc đế vương. Ai nhận thức được các vấn
đề chính trị sẽ trở thành người trung thực, người tốt. Ai ngu dốt về chính trị
sẽ rơi vào hàng nô lệ.
- Tư tưởng chính trị của ông thể hiện ở quan điểm về thủ lĩnh chính trị.
Theo ông, thủ lĩnh chính trị là người biết chỉ huy, giỏi kỹ thuật, giỏi thuyết
phục, biết cảm hóa người khác. Nhưng người thủ lĩnh cũng phải có những

phẩm chất đặc biệt như biết bảo vệ lợi ích chung, có khả năng tập hợp sức
mạnh của quần chúng. Thiên tài của thủ lĩnh không phải tự nhiên mà có.
Nó sinh ra từ sự kiên nhẫn, từ khả năng chịu đựng lớn vể mặt thể chất, với
ý chí sống và rèn luyện theo phong cách thanh liêm.
3. Platôn (428 – 347 TCN)
- Platôn là nhà triết học thiên tài, đồng thời còn là nhà chính trị xuất sắc.
Tư tưởng chính trị của ông được phản ánh trong tác phẩm: “Nước cộng
hòa”, “Các đạo luật và Nền chính trị”. Ông là người đầu tiên đạt tới quan
niệm giá trị phổ biến, tầm vĩ mô của chính trị và hoạt động chính trị, tiêu
chuẩn của nền chính trị đích thực.
- Khi bàn về khái niệm chính trị, Platôn cho rằng chính trị là sự thống trị
của trí tuệ tối cao, là nghệ thuật dẫn dắt xã hội con người. Chính trị tự phân
chia thành pháp lý, hành chính, tư pháp, ngoại giao… Chính trị là nghệ
thuật cai trị. Cai trị bằng sức mạnh là độc tài, cai trị bằng thuyết phục mới
đích thực là chính trị. Chính trị phải là sự chuyên chế, tất cả các cá nhân
phải phục tùng quyền uy. Tự do chỉ dẫn đến hỗn loạn, gây tai họa cho đời
sống công dân.
- Xã hội lý tưởng của Platôn là xã hội được trị vì bởi sự thông thái. Ông
chia xã hội thành ba hạng người:
+ Các nhà triết học thông thái đảm nhận vai trò lãnh đạo, cai trị, quản
lý nhà nước.
+ Tầng lớp chiến binh bảo vệ an ninh xã hội.
+ Tầng lớp nông dân, thợ thủ công làm ra của cải, vật chất, đảm bảo
cuộc sống cho xã hội.
- Công lý là ở chỗ, mỗi hạng người làm hết trách nhiệm của mình, hoạt
động phù hợp với chức năng của mình. Theo Platôn, điều kiện và cơ sở để
duy trì một xã hội được cai trị bởi những người thông thái là phải thực hiện
cộng đồng về tài sản và hôn nhân. Ông chủ trương xóa bỏ sở hữu cá nhân
(vì nó là nguồn gốc sinh ra cái ác) và tình yêu gia đình, thay vào đó là
những tổ chức cộng đồng. Như vậy, xóa cá nhân vì một xã hội lý tưởng,

Platôn đã biến phương tiện thành mục đích. Đó là khởi nguồn của “chủ
nghĩa cộng sản không tưởng”. Ông cho rằng, khi lãnh đạo nhà nước, cần
gạt sang một bên ý chí cá nhân, trước tiên phải dựa vào tôn giáo và pháp
luật. Sự chuyển hóa quyền lực trong xã hội là do có sự đối kháng về quyền
lợi và những vận động về chính trị.
=> Quan điểm chính trị của Platôn còn nhiều mâu thuẫn: vừa đòi hỏi xóa
bỏ tư hữu, vừa muốn duy trì chế độ đẳng cấp. Ông đưa ra mô hình xã hội
lý tưởng và công lý nhưng đồng thời lại bảo vệ lợi ích của tầng lớp quý
tộc, chủ nô. Tuy nhiên, ông đã có những quan niệm cụ thể và hệ thống về
chính trị và sự phát triển của xã hội nói chung.
4. Arixtốt (384 – 322 TCN)
- Arixtốt là nhà bác học vĩ đại của văn minh Hy Lạp. Trong hai công
trình nghiên cứu và chính trị là “Chính trị” và “Hiến pháp Aten”, ông đã
tổng kết và phát triển tài tình các kết luận của các bậc tiền bối về nguồn
gốc và bản chất, hình thức và vai trò của nhà nước pháp quyền.
- Theo Arixtốt, nhà nước xuất hiện tự nhiên, được hình thành do lịch sử.
Con người là “động vật chính trị” Bản tính của con người là sống trong
cộng đồng. Hình thức tổ chức cuộc sống cộng đồng trong một thể chế xã
hội nhất định được gọi là nhà nước. Nhà nước ra đời trên cơ sở gia đình,
chính quyền nhà nước và sự tiếp tục chính quyền trong gia đình. Nhà nước
không phải là kết quả của sự thỏa thuận giữa mọi người với nhau dựa trên
ý chí của họ. Nó được phát triển từ gia đình và làng xã. Thể chế chính trị là
trật tự làm cơ sở để phân bố chính quyền nhà nước. Thể chế chính trị điều
hành, quản lý xã hội về ba phương diện: lập pháp, hành pháp và phân xử.
Sứ mệnh của nhà nước là lãnh đạo tập thể các công dân, quan tâm tới các
quyền chung của công dân, làm cho mọi người sống hạnh phúc. Điều đó lại
chính là bản chất và chức năng của pháp luật. Công lý chính là hành động
một cách công bằng theo pháp luật. Thông qua pháp luật, các quyền chung
của công dân được thể hiện và củng cố.
- Ông cho rằng, không một loại hình chính phủ nào là duy nhất có thể
phù hợp với tất cả mọi thời đại và các nước. Ông phân loại chính phủ theo

tiêu chuẩn số lượng (người cầm quyền) và chất lượng (mục đích của sự
cầm quyền). Kết hợp hai mặt đó, có thể sắp xếp chính phủ theo hai loại:
chính phủ chân chính là: quân chủ, quý tộc, cộng hòa, chính phủ biến chất
là: độc tài, quả đầu, dân trị. Ông nhiệt thành ủng hộ chế độ quân chủ, coi
như hình thức tổ chức nhà nước thần thánh và ưu việt nhất.
=> Tư tưởng chính trị của Arixtốt chứa đựng những giá trị tích cực sau:
- Con người có khuynh hướng tự nhiên gắn bó với nhau thành xã hội.
Do đó, con người là động vật công dân, động vật chính trị, sống có trách
nhiệm với cộng đồng.
- Chính trị là làm sao trong đời sống cộng đồng, cái chung cao cả hơn
cái cá nhân riêng biệt, con người sống ngày càng tốt hơn.
- Chính trị phải giáo dục đạo đức và phẩm chất cao thượng cho công
dân.
- Chính trị là khoa học lãnh đạo con người, khoa học kiến trúc xã hội
của mọi công dân.
- Chế độ dân chủ sẽ chuyển thành chế độ mị dân hoặc độc tài nếu: ý chí
cá nhân thay thế pháp luật, chế độ bị trao cho những tên nịnh bợ, gian xảo,
ham quyền lực…
- Không thể hoạt động chính trị nếu bị dục vọng của cải chi phối và sự
dốt nát chế ngự.
- Chế độ quân chủ là hình thức sơ khai vì không có ai uy tín bằng lãnh tụ
chiến thắng. Nhưng khi xã hội phát triển, người tốt, người giỏi có nhiều thì
chế độ chính trị phải thay đổi.
Mặc dù hạn chế bởi mục tiêu giai cấp, bởi quan điểm cổ đại hẹp hòi về
quyền tự do cá nhân cho những người nô lệ và lao động… song với nhãn
quan uyên thâm và sâu sắc, tư tưởng chính trị của Arixtốt có ý nghĩa là sự
tổng hợp và khái quát hóa những giá trị cơ bản của tư tưởng chính trị Hy
Lạp cổ đại.

Câu 5: Trình bày sự hình thành và phát triển của thuyết: “Tam quyền phân
lập”?
Tam quyền phân lập hay còn hiểu theo nghĩa phân chia quyền lực là một
mô hình quản lý nhà nước với mục tiêu kiềm chế quyền lực để hạn chế lạm
quyền, bảo vệ tự do và công bằng pháp luật. Mô hình và khái niệm này
được biết đến từ lâu, ít nhất là từ thời La Mã cổ đại và được thể chế hóa
trong hiến pháp hiện đại của nhiều quốc gia, trong đó có Hiến pháp Hoa
Kỳ, Hiến pháp CHLB Đức hay các nước cộng sản khác. Trong mô hình
này, quyền lập pháp, quyền hành pháp và quyền tư pháp được tách biệt và
giao cho 3 cơ quan độc lập khác nhau thực hiện và qua đó ràng buộc, kiểm
tra và giám sát hoạt động lẫn nhau. Theo thể chế này, không một cơ quan
hay cá nhân nào có quyền lực tuyệt đối trong sinh hoạt chính trị của một
quốc gia.
Trước chế độ dân chủ tư sản và dân chủ xã hội chủ nghĩa, mọi quyền lực
nhà nước đều tập trung vào trong tay một cá nhân. Chính đây là căn
nguyên cho mọi hành vi độc tài, chuyên chế của các công việc nhà nước.
Vì vậy, muốn chống chế độ này, một lý thuyết của nhiều học giả tư sản đã
được nêu ra, đó là thuyết phân chia quyền lực.
Cội nguồn của tư tưởng phân quyền đã có từ thời cổ đại ở Phương Tây
mà điển hình là nhà nước cộng hòa La Mã. Cộng hòa La Mã hàng năm đã
bầu lãnh sự đã được lựa chọn bởi một cơ thể của công dân, Thượng viện
quản lý pháp luật, nghị định được ban hành bởi các viên chức lãnh sự và
ban hành nghị quyết về những vấn đề quan trọng và cũng tham gia vào các
quan hệ đối ngoại, và các hội đồng đã được thực hiện bởiCông dân có vai
trò khác nhau trong chính phủ.Các viên chức lãnh sự phụ trách của chính
phủ và của quân đội. Có 300 công dân Thượng viện khuyên họ ở tất cả các
lần. Trong lịch sử của Cộng hòa La Mã Thượng viện luôn luôn là nhóm
mạnh nhất. Chỉ có Đại hội có thể chấp thuận hoặc không chấp thuận của
pháp luật và chỉ có ứng cử đại biểu được bầu chọn cho văn phòng của lãnh
sự.Hiến pháp của La Mã luôn luôn là một khái niệm cơ bản của kiểm tra và
cân bằng.
Bấm Tải xuống để xem toàn bộ.