Đề cương
Lịch sử Đảng Cộng sản Việt Nam
Mục lục
Nội dung đề cương................................................................................................................... 3
Dạng câu hỏi 1:.........................................................................................................................3
Câu 1: Trình bày sự thay đổi chủ trương của Đảng về nhiệm vụ chủ yếu trong cách mạng
Việt Nam 1930-1945? Rút ra nhận xét.................................................................................3
Câu 2: Theo anh/chị tại sao Nghị quyết (12/1965) Đảng nhận định: mặc dù đế quốc Mỹ
đưa vào miền Nam Việt Nam hàng chục vạn quân viễn chinh nhưng tương quan lực lượng
giữa ta và địch vốn không có sự thay đổi lớn? Ý nghĩa của nhận định này với thắng lợi
của cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước (1954 - 1975)...................................................7
Câu 3: Nguyên nhân thắng lợi Cách mạng Tháng 8. Nguyên nhân nào quan trọng nhất, vì
sao?.......................................................................................................................................8
Câu 4: Nội dung phong trào 1939 - 1945, ý nghĩa đó có tác động như nào đến cuộc tổng
khởi nghĩa Cách mạng Tháng 8?........................................................................................10
Câu 5: Hãy nêu nguyên nhân thắng lợi của cuộc kháng chiến chống Pháp (1945-1954).
Nguyên nhân nào quan trọng nhất ? Vì sao?......................................................................12
Câu 6: Phân tích hoàn cảnh thế giới và Việt Nam sau tháng 8/1945. Khó khăn nào lớn
nhất? Vì sao?...................................................................................................................... 14
Câu 7: Phân tích chỉ thị kháng chiến kiến quốc 25/12/1945 và tại sao mục tiêu xây dựng
và phát triển chính quyền là quan trọng nhất?....................................................................16
Câu 8: Phân tích nguyên nhân thắng lợi của cuộc kháng chiến chống Mỹ (1954-1975),
Nguyên nhân nào quan trọng nhất? Giải thích vì sao?.......................................................18
Câu 9: Cơ sở và nội dung của phương châm kháng chiến toàn dân? Ý nghĩa?.................20
Câu 10: Anh (Chị) làm rõ nội dung Luận cương chính trị tháng 10/1930 của Đảng Cộng
sản Đông Dương và rút ra nhận xét....................................................................................22
Câu 11: Phân tích đường lối đổi mới kinh tế được Đảng đề ra tại Đại hội VI (1986). Theo
Anh (Chị) tại sao Đảng xác định lấy đổi mới kinh tế làm trọng tâm?............................... 23
Câu 12: Phân tích hoàn cảnh quốc tế và Việt Nam giai đoạn sau cách mạng tháng Tám
năm 1945. Đâu là thuận lợi cơ bản nhất? Vì sao?..............................................................25
Câu 13: Cơ sở, nội dung phương châm “kháng chiến toàn diện”. Ý nghĩa thực tiễn đối với
Việt Nam.............................................................................................................................27
Câu 14: Phân tích vai trò của Nguyễn Ái Quốc trong việc thành lập Đảng Cộng Sản Việt
Nam. Con đường cách mạng của Nguyễn Ái Quốc có gì khác với những vị tiền bối trước
đó?...................................................................................................................................... 29
Câu 15: Nội dung của chỉ thị kháng chiến kiến quốc. Tại sao chỉ thị lại đáp ứng đúng yêu
cầu cấp bách của Cách mạng Việt Nam bấy giờ?.............................................................. 32
Câu 16: Trình bày quá trình thay đổi nhiệm vụ của Cách Mạng Việt Nam từ năm
1930-1941, nhận xét...........................................................................................................34
Câu 17: Phân tích ý nghĩa của cuộc kháng chiến chống pháp (1945-1954). Ý nghĩa nào
quan trọng nhất? Vì sao?....................................................................................................36
Câu 18: Phân tích nội dung cương lĩnh Cách mạng đại hội 3 (1960). Tính chất độc lập, tự
chủ, sáng tạo thể hiện như thế nào?....................................................................................38
Câu 19: Anh (Chị) so sánh Cương lĩnh chính trị đầu tiên (2/1930) và Luận cương chính trị
(10/1930) của Đảng. Theo Anh (Chị) nguyên nhân nào dẫn đến sự khác nhau giữa hai văn
kiện trên?............................................................................................................................40
Câu 20: Anh (Chị) hãy làm rõ nguyên nhân Đảng phải để ra đường lối đổi mới toàn diện
Đất Nước vào năm 1986? Tại sao Đảng xác định là đổi mới kinh tế làm trọng tâm?....... 42
Câu 21: Theo Anh (Chị) tại sao Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên
CNXH (2011) của Đảng coi kinh tế tư nhân là một trong những động lực của nền kinh tế?
Liên hệ thực tiễn Việt Nam hiện nay..................................................................................44
Câu 22: Anh (Chị) hãy làm rõ nội dung và ý nghĩa thực tiễn đường lối kháng chiến chống
thực dân Pháp của Đảng trong giai đoạn 1945 - 1950....................................................... 46
Câu 23: Phân tích đặc điểm của cách mạng Việt Nam được chỉ ra trong Đại hội IV (1976)
của Đảng. Theo Anh (Chị) đặc điểm nào quan trọng nhất? Tại sao?.................................48
Câu 24: Theo Anh (Chị) tại sao Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên
CNXH (2011) của Đảng coi con người là trung tâm của chiến lược phát triển, là chủ thể
phát triển? Hãy chỉ ra ưu điểm, nhược điểm của nguồn nhân lực Việt Nam hiện nay.......50
Câu 25: Theo Anh (Chị) tại sao Đại hội VI (1986) của Đảng khẳng định dứt khoát xóa bỏ
cơ chế quản lý kinh tế tập trung quan liêu, hành chính, bao cấp? Cho đến nay tàn dư của
cơ chế này có còn tồn tại không? Vì sao?.......................................................................... 52
Dạng câu hỏi 2:.......................................................................................................................54
Câu 1: Trong thời kỳ đổi mới, tại sao khoa học công nghệ là yếu tố quan trọng để phát
triển nhanh và bền vững? Thành tựu Việt Nam................................................................. 54
Câu 2: Theo anh/chị tại sao Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên Chủ
nghĩa Xã hội (2011) của Đảng lại coi phát triển giáo dục và đào tạo là quốc sách hàng
đầu? Hãy liên hệ thực tiễn với Việt Nam hiện nay? Ưu, nhược điểm của giáo dục Việt
Nam hiện nay? Anh/chị cần làm gì để góp phần nâng cao chất lượng học tập của sinh
viên hiện nay?.....................................................................................................................56
Câu 3: Hoàn cảnh lịch sử sau tháng 7/1954. Theo Anh (Chị) đặc điểm lớn nhất của Việt
Nam lúc đó là gì? Khó khăn lớn nhất là gì, vì sao?............................................................58
Câu 4: Đặc trưng cơ bản của kinh tế tập trung, quan liêu, bao cấp trước thời kỳ đổi mới.
Cơ cấu kinh tế có ảnh hưởng như thế nào trước thời kỳ đổi mới?.....................................60
Câu 5: Tại sao trong công nghiệp hoá, hiện đại hoá, Đảng chỉ ra phát huy nguồn nhân lực
là yếu tố cơ bản để phát triển nhanh và bền vững? Liên hệ thực tiễn Việt Nam? Trình bày
ưu, nhược của nguồn nhân lực hiện nay?...........................................................................61
Câu 6: Phân tích đường lối đổi mới kinh tế thông qua tại đại hội đại biểu toàn quốc lần
thứ VI của Đảng (1986)? Tại sao Đảng ta lại kiên quyết xóa bỏ cơ chế tập trung, quan
liêu, bao cấp?......................................................................................................................62
Câu 7: Hãy giải thích vì sao khoa học công nghệ lại quan trọng trong đường phát triển
của Việt Nam. Nêu những thành tựu cụ thể Việt Nam đạt được trong những năm qua?...64
Câu 8: Phân tích hoàn cảnh lịch sử việt nam và thế giới sau năm 1975. Theo anh chị đâu
2
là hoàn cảnh khó khăn nhất................................................................................................66
Câu 9: Phân tích đặc trưng của xã hội XHCN cương lĩnh 2011. Tại sao Đảng xác định xây
dựng nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa là đặc trưng quan trọng?.............................67
Câu 10: Trong văn kiện thời kỳ đổi mới”toàn cầu hóa diễn ra mạnh mẽ và tác động lớn
đến việt nam”, hãy nêu thời cơ, thuận lợi và thách thức toàn cầu hóa đem lại?................69
Câu 11: Vì sao năm 1986 Đảng cộng sản Việt Nam lại đề ra đường lối đổi mới?.............71
Câu 12: Nêu nội dung bài học kinh nghiệm: Cách mạng là của dân do dân vì dân được
nêu ở cương lĩnh 2011, liên hệ trong thời kỳ đổi mới hiện nay......................................... 72
Câu 13: Phân tích đường lối đổi mới kinh tế được Đảng đề ra tại Đại hội VI (1986). Theo
Anh (Chị) tại sao Đảng xác định coi nền kinh tế có nhiều thành phần là một đặc trưng của
thời kỳ quá độ?...................................................................................................................75
Câu 14: Anh (Chị) hãy làm rõ hoàn cảnh Việt Nam cuối thế kỷ XIX đầu thế kỉ XX. Hoàn
cảnh đó đưa ra yêu cầu gì đối với cách mạng Việt Nam?.................................................. 77
Câu 15: Anh (Chị) hãy làm rõ nội dung của Chỉ thị "Kháng chiến kiến quốc" được Đảng
đề ra vào ngày 25-11-1945. Tại sao trong Chỉ thị đó, Đảng xác định xây dựng và bảo vệ
chính quyền là nhiệm vụ quan trọng nhất?.........................................................................79
Câu 16: Phân tích 3 đặc điểm của cách mạng VN được nêu ra ở đại hội IV(1976) ? Đặc
điểm nào quan trọng nhất? Vì sao?.................................................................................... 81
Câu 17: Anh (Chị) hãy phân tích ba đặc điểm quan trọng của cách mạng Việt Nam được
nêu ra trong Đại hội IV (1976) của Đảng. Theo Anh (Chị) tại sao đặc điểm "Việt Nam
tiến thẳng lên CNXH từ một nền kinh tế còn phổ biến là sản xuất nhỏ, bỏ qua giai đoạn
phát triển TBCN" được coi là đặc điểm lớn nhất?.............................................................84
Câu 18: Anh (Chị) hãy làm rõ chủ trương chiến lược mới của Đảng (1939-1945). Theo
Anh (Chị) chủ trương này có ý nghĩa quyết định như thể nào đến thắng lợi của cách mạng
tháng Tám năm 1945?........................................................................................................87
Câu 19: Anh (Chị) hãy làm rõ cơ sở và nội dung phương châm "kháng chiến toàn diện”
được Đảng đề ra trong đường lối kháng chiến chống thực dân Pháp (1945 -1954). Ý nghĩa
thực tiễn của phương châm này?........................................................................................91
Câu 20: Anh (Chị) hãy làm rõ nội dung và ý nghĩa đường lối kháng chiến chống Mỹ, cứu
nước (1965-1975) được thể hiện trong Nghị quyết 12 (12/1965) của Đảng......................93
3
Nội dung đề cương
Dạng câu hỏi 1:
Câu 1: Trình bày sự thay đổi chủ trương của Đảng về nhiệm vụ chủ yếu trong cách
mạng Việt Nam 1930-1945? Rút ra nhận xét.
Từ năm 1930 đến 1945, cách mạng Việt Nam diễn ra trong bối cảnh một xã hội thuộc
địa nửa phong kiến dưới ách áp bức của thực dân Pháp, đồng thời chịu tác động mạnh mẽ từ
khủng hoảng kinh tế thế giới, sự trỗi dậy của chủ nghĩa phát xít Chiến tranh thế giới thứ
hai. Sự biến động nhanh chóng của tình hình quốc tế – trong nước buộc Đảng Cộng sản Việt
Nam phải thường xuyên điều chỉnh chủ trương để phù hợp với mâu thuẫn chủ yếu của từng
giai đoạn. vậy, nhiệm vụ trung tâm của cách mạng Việt Nam cũng thay đổi linh hoạt qua
từng thời kì, từ ưu tiên đấu tranh giai cấp, chuyển sang dân sinh – dân chủ, và cuối cùng xác
định dứt khoát giải phóng dân tộc là nhiệm vụ tối cao dẫn tới thắng lợi của Cách mạng Tháng
Tám năm 1945.
1930–1935: Từ Cương lĩnh 1930 đến Luận cương 1930 sự khác biệt điều
chỉnh ban đầu
Ngay từ Cương lĩnh chính trị đầu tiên (2/1930), Đảng xác định nhiệm vụ chủ yếu của
cách mạng “đánh đổ đế quốc phong kiến, làm cho nước Nam hoàn toàn độc lập” – tức
đặt nhiệm vụ giải phóng dân tộc lên hàng đầu. Chủ trương này ra đời từ việc Đảng nắm bắt
đúng mâu thuẫn chủ yếu trong hội thuộc địa: mâu thuẫn giữa nhân dân Việt Nam với đế
quốc xâm lược. Cương lĩnh phản ánh tư duy chính trị của Nguyễn Ái Quốc – coi độc lập dân
tộc điều kiện tiên quyết để giải quyết vấn đề giai cấp. Chính chủ trương đúng đắn này đã
tạo được sự đồng thuận mở đường cho sự đoàn kết các tầng lớp nhân dân trong giai đoạn
đầu.
Tuy nhiên, Luận cương chính trị tháng 10/1930 lại nhấn mạnh đấu tranh giai cấp và coi “vấn
đề thổ địa cái cốt của cách mạng”. Đây hệ quả của bối cảnh: phong trào vô sản thế giới
đang dâng cao, Quốc tế Cộng sản chịu ảnh hưởng tả khuynh, Trần Phú tiếp thu tưởng
cách mạng sản chặt chẽ. Luận cương đánh giá chưa đúng mối quan hệ giữa nhiệm vụ dân
tộc nhiệm vụ giai cấp, làm cho chỉ đạo phong trào nghiêng mạnh về đấu tranh ruộng đất.
Tác động của phong trào Xô Viết Nghệ – Tĩnh phát triển rất mạnh nhưng cũng dẫn đến
tổn thất lớn do chưa chú trọng xây dựng mặt trận dân tộc rộng rãi.
Đến giai đoạn 1932–1935, thực tiễn bị khủng bố, phong trào suy yếu buộc Đảng phải
điều chỉnh. Chỉ thị “Hội phản đế đồng minh” (11/1930) và chủ trương khôi phục tổ chức cho
4
thấy Đảng bắt đầu nhận ra sự cần thiết của liên minh các giai cấp, tầng lớp trong dân tộc để
phục hồi phong trào. Việc điều chỉnh này xuất phát từ yêu cầu thực tiễn: nếu tiếp tục đi theo
đường lối tả khuynh sẽ lập lực lượng cách mạng và không thể phát triển phong trào trong
điều kiện đàn áp khốc liệt.
1936–1945: Từ dân sinh – dân chủ đến đặt giải phóng dân tộc là tối cao
Giai đoạn 1936–1939, sự trỗi dậy của chủ nghĩa phát xít thắng lợi của Mặt trận
Nhân dân Pháp khiến tình hình thuộc địa những thay đổi nhất định. Đảng hiểu rằng nếu
tiếp tục đặt nhiệm vụ giành chính quyền ngay lúc này không phù hợp với tình hình quốc
tế. Do đó, Đảng chuyển sang chủ trương đấu tranh dân sinh dân chủ, tập trung vào quyền
lợi trước mắt: chống phát xít, chống khủng bố, đòi tự do dân chủ. Chủ trương mới được đề ra
nhằm:
- Mở rộng lực lượng thông qua các tổ chức công khai và hợp pháp;
- Tạo dựng ảnh hưởng rộng rãi trong quần chúng;
- Tập hợp mọi giai cấp, tầng lớp yêu nước, chuẩn bị lực lượng cho nhiệm vụ chiến
lược sau này.
Tác động của chủ trương này phong trào dân chủ phát triển mạnh, lực lượng quần chúng
đông đảo trở thành chỗ dựa cho quyết sách chuyển hướng chiến lược năm 1939.
Từ 1939 đến 1945, Chiến tranh thế giới thứ hai bùng nổ và Nhật – Pháp cùng thống trị
Đông Dương làm cho mâu thuẫn dân tộc trở nên cực kỳ gay gắt. Trước tình thế đó, Trung
ương Đảng đã tiến hành chuyển hướng chiến lược (1939–1941), xác định giải phóng dân tộc
nhiệm vụ tối cao, phê phán hạn chế của Luận cương 1930 và khẳng định: phải “chọn địch
nhân chính đế quốc xâm lược” để tập trung mũi nhọn chống lại. Việc thành lập Mặt trận
Việt Minh, chủ trương khởi nghĩa trang, chuẩn bị lực lượng toàn dân là hệ quả tất yếu
của tình hình mới. Chủ trương này tác động quyết định đến thắng lợi của Cách mạng Tháng
Tám 1945 vì nó gắn chặt mục tiêu trước mắt (giành chính quyền) với yêu cầu khách quan của
thực tiễn (mâu thuẫn dân tộc lên đến đỉnh điểm, thời cơ cách mạng chín muồi).
Nhìn lại quá trình 1930–1945, thể thấy sự thay đổi trong chủ trương của Đảng
khoa học, tất yếu nhất quán với quy luật phát triển của cách mạng thuộc địa. Đảng đã linh
hoạt điều chỉnh nhiệm vụ tùy theo sự biến đổi của bối cảnh, biết rút kinh nghiệm từ những
hạn chế tả khuynh ban đầu, kịp thời mở rộng lực lượng thông qua phong trào dân chủ và cuối
cùng xác định dứt khoát giải phóng dân tộc nhiệm vụ tối cao. Những điều chỉnh này thể
hiện sự trưởng thành về tư duy lý luận, khả năng nắm bắt thời cơ, và khả năng vận dụng sáng
tạo chủ nghĩa Mác Lênin vào điều kiện Việt Nam. Kết luận lại, sự thay đổi chủ trương của
Đảng giai đoạn 1930–1945 không chỉ giúp Đảng vượt qua sai lầm chiến lược, huy động tối
5
đa sức mạnh toàn dân còn dẫn tới thắng lợi của Cách mạng Tháng Tám 1945, mở ra kỷ
nguyên độc lập dân tộc và chế độ dân chủ nhân dân.
Chủ trương chiến lược của đảng từ 1930 đến 1945 có những cải thiện gì?
Trong giai đoạn 1930–1945, cách mạng Việt Nam diễn ra trong bối cảnh đất nước
một hội thuộc địa nửa phong kiến, chịu sự áp bức của thực dân Pháp và sau đó là phát xít
Nhật, đồng thời chịu tác động mạnh mẽ của khủng hoảng kinh tế thế giới, sự trỗi dậy của chủ
nghĩa phát xít Chiến tranh thế giới thứ hai. Tình hình quốc tế và trong nước biến động sâu
sắc đã đặt ra yêu cầu tất yếu đối với Đảng Cộng sản Việt Nam: phải không ngừng cải thiện
chủ trương chiến lược để đáp ứng kịp thời yêu cầu của cách mạng. Trên thực tế, từ năm 1930
đến 1945, đường lối chiến lược của Đảng nhiều bước phát triển quan trọng, vừa thể hiện
sự vận dụng sáng tạo chủ nghĩa Mác – Lênin, vừa phản ánh sự trưởng thành về lý luận và khả
năng lãnh đạo của Đảng.
Trong giai đoạn 1930–1939, sự cải thiện quan trọng đầu tiên của Đảng thể hiện ở việc
xác định ngày càng đúng đắn nhiệm vụ của cách mạng thuộc địa. Cương lĩnh chính trị đầu
tiên (2/1930) đã đặt nhiệm vụ giải phóng dân tộc lên hàng đầu, thể hiện tư duy chính xác của
Nguyễn Ái Quốc về mâu thuẫn cơ bản của xã hội Việt Nam. Tuy nhiên, Luận cương chính trị
tháng 10/1930 lại chịu ảnh hưởng tưởng tả khuynh trong Quốc tế Cộng sản, nhấn mạnh
đấu tranh giai cấp vấn đề thổ địa, khiến nhiệm vụ giải phóng dân tộc chưa được đặt đúng
vị trí trung tâm. Hạn chế này dẫn đến việc phong trào 1930–1931 tuy bùng nổ mạnh mẽ
nhưng phải chịu tổn thất nặng nề do chưa xây dựng được mặt trận đoàn kết dân tộc rộng rãi.
Từ năm 1932, Đảng đã điều chỉnh dần đường lối, khắc phục khuynh hướng “tả”, mở rộng lực
lượng chuẩn bị cho sự phục hồi của phong trào. Đến phong trào dân chủ 1936–1939,
Đảng bước cải thiện rệt khi tạm thời chuyển sang đấu tranh dân sinh, dân chủ để tranh
thủ môi trường hợp pháp và huy động lực lượng quần chúng đông đảo. Sự chuyển hướng này
vừa phù hợp với bối cảnh quốc tế (Mặt trận Nhân dân Pháp) vừa giúp Đảng tích lũy lực
lượng và tạo tiền đề quan trọng cho giai đoạn cách mạng sau này.
Từ năm 1939 đến 1945, chủ trương chiến lược của Đảng có bước cải thiện mang tính
bước ngoặt khi Đảng tiến hành chuyển hướng toàn diện trước sự bùng nổ của Chiến tranh thế
giới thứ hai sự thống trị tàn bạo của Nhật – Pháp. Phân tích chính xác mâu thuẫn chủ yếu
của xã hội lúc này – mâu thuẫn dân tộc – Đảng khẳng định giải phóng dân tộc là nhiệm vụ tối
cao trước hết, tất cả các nhiệm vụ khác phải tạm gác lại. Trên sở đó, Đảng quyết định
thành lập Mặt trận Việt Minh nhằm tập hợp toàn dân, thể hiện nhận thức sâu sắc rằng lực
lượng cách mạng phải sức mạnh của toàn dân tộc chứ không chỉ giới hạn công nông
như trước. Đồng thời, Đảng xác định con đường khởi nghĩa vũ trang là phương pháp chủ yếu
để giành chính quyền, chuẩn bị toàn diện về lực lượng chính trị, lực lượng trang, căn cứ
địa và tổ chức lãnh đạo. Chủ trương “tích cực chuẩn bị, chờ thời cơ” cho thấy sự chủ động và
bản lĩnh của Đảng trong lãnh đạo cách mạng, đặc biệt khi nắm bắt đúng thời cơ sau sự kiện
6
Nhật đảo chính Pháp (3/1945), dẫn đến thắng lợi nhanh chóng của Tổng khởi nghĩa Tháng
Tám.
Nhìn chung, những cải thiện trong chủ trương chiến lược của Đảng từ 1930 đến 1945
thể hiện sự trưởng thành vượt bậc của Đảng trong duy luận khả năng lãnh đạo
thực tiễn. Đảng đã sớm khẳng định vai trò quyết định của nhiệm vụ giải phóng dân tộc, biết
kịp thời sửa chữa hạn chế tả khuynh, linh hoạt trong việc đề ra các giai đoạn đấu tranh phù
hợp, đồng thời tầm nhìn chiến lược khi chuyển hướng kịp thời trước biến động quốc tế.
Những cải thiện đó không chỉ củng cố sức mạnh của lực lượng cách mạng còn tạo nên
đường lối đúng đắn, đưa đến thắng lợi vĩ đại của Cách mạng Tháng Tám năm 1945, mở ra kỷ
nguyên mới cho dân tộc Việt Nam kỷ nguyên độc lập, tự do quyền làm chủ của nhân
dân.
Câu 2: Theo anh/chị tại sao Nghị quyết (12/1965) Đảng nhận định: mặc dù đế quốc Mỹ
đưa vào miền Nam Việt Nam hàng chục vạn quân viễn chinh nhưng tương quan lực
lượng giữa ta địch vốn không sự thay đổi lớn? Ý nghĩa của nhận định này với
thắng lợi của cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước (1954 - 1975)
Trong năm 1965, chiến tranh Việt Nam bước vào giai đoạn ác liệt và phức tạp hơn khi
Mỹ chuyển chiến lược từ "Chiến tranh đặc biệt" sang "Chiến tranh cục bộ". Thực hiện ý đồ
chiến lược mới, Mỹ ạt đưa quân viễn chinh quân đồng minh vào miền Nam Việt Nam,
với số lượng từ khoảng 23.000 quân đầu năm 1965 tăng lên hơn 184.000 quân vào cuối năm.
Bên cạnh đó, Mỹ còn huy động tối đa sức mạnh không quân hải quân, mở rộng chiến
tranh phá hoại miền Bắc, thực hiện các cuộc càn quét quy mô lớn với mục tiêu “tìm diệt” lực
lượng cách mạng. Những hành động này cho thấy Mỹ quyết tâm giành thắng lợi nhanh,
không để chiến tranh kéo dài. Trước bối cảnh đó, Hội nghị Trung ương Đảng lần thứ 12
(12/1965) ra đời Nghị quyết quan trọng, trong đó Đảng đưa ra nhận định chiến lược: “Mặc
đế quốc Mỹ đưa vào miền Nam Việt Nam hàng chục vạn quân viễn chinh nhưng tương
quan lực lượng giữa ta địch vẫn không sự thay đổi lớn.” Đây sự đánh giá khách
quan, toàn diện về tương quan sức mạnh hai bên, phản ánh duy chiến lược sắc bén của
Đảng trong cuộc kháng chiến chống Mỹ.
Để giải cho nhận định này, trước hết phải thấy rằng tuy Mỹ ưu thế vượt trội về
quân sự, khí, phương tiện chiến tranh hiện đại nhưng điều đó không làm thay đổi bản chất
cuộc chiến Việt Nam. Quân đội Mỹ tuy mạnh nhưng lại tác chiến trong điều kiện địa hình
rừng núi phức tạp, hệ thống sông ngòi chằng chịt – hoàn toàn không phù hợp với lối đánh sở
trường của họ. Các căn cứ quân sự hiện đại của Mỹ vẫn bị lập, dễ bị tấn công do nằm
trong vòng vây của lực lượng cách mạng. Mặt khác, chiến lược “tìm diệt” dựa trên hỏa lực
mạnh của Mỹ không thể đánh bại chiến tranh du kích linh hoạt, cơ động và khó nắm bắt của
quân ta. Sức mạnh công nghệ tuy vượt trội nhưng lại không thể chuyển hóa thành ưu thế
7
chiến trường, bởi quân Mỹ không thể chủ động tìm thấy lực lượng cách mạng vốn dựa vào
dân mà phát triển.
Quan trọng hơn, tương quan lực lượng không thay đổi lớn vì Mỹ thiếu yếu tố mà quân
dân Việt Nam được: ý chí chiến đấu tinh thần yêu nước. Quân đội Mỹ phần lớn là lính
đánh thuê hoặc lính nghĩa vụ, thiếu động chiến đấu, chiến đấu trong tâm trạng xa lạ,
hoang mang trong môi trường chiến trường khắc nghiệt. Trong khi đó, quân dân Việt Nam
chiến đấu bằng tinh thần quật cường của một dân tộc yêu nước, ý chí độc lập và niềm tin tất
thắng. Đây yếu tố tạo nên sự chênh lệch căn bản giữa hai bên. Cùng lúc đó, nhân dân Việt
Nam còn nhận được sự ủng hộ quan trọng của phong trào cộng sản phong trào hòa bình
trên thế giới, đặc biệt là sự giúp đỡ từ Liên Xô, Trung Quốc và các nước xã hội chủ nghĩa. Sự
chi viện vũ khí, trang thiết bị và vật chất giúp ta duy trì sức mạnh chiến đấu lâu dài, trong khi
phong trào phản đối chiến tranh Mỹ làm suy yếu quyết tâm của chính phủ Mỹ. Như vậy,
mặc Mỹ tăng cường quân số hỏa lực nhưng về tổng thể tương quan lực lượng không
nghiêng về Mỹ như họ kỳ vọng.
Nhận định trong Nghị quyết 12/1965 của Đảng không chỉ phản ánh hiện thực chiến
trường còn ý nghĩa chiến lược sâu sắc đối với thắng lợi của cuộc kháng chiến. Trước
hết, nó củng cố niềm tin và tinh thần chiến đấu của quân dân ta, khẳng định con đường kháng
chiến trường kỳ, dựa vào sức mình, đánh bại ý chí xâm lược của đế quốc Mỹ. Nhận định
đúng đắn này giúp quân dân ta không hoang mang trước quy đưa quân ạt của Mỹ, mà
trái lại càng kiên định chiến lược đánh lâu dài để bào mòn ý chí của đối phương. Thứ hai,
nhận định của Đảng giúp định hình phương pháp tác chiến phù hợp: kết hợp chiến tranh du
kích với chiến tranh chính quy, bám dân, bám địa bàn, sử dụng chiến thuật linh hoạt để
hiệu hóa ưu thế hỏa lực của Mỹ. Thực tiễn chiến trường sau đó chứng minh tính đúng đắn
của chiến lược này, đặc biệt qua các chiến thắng như Vạn Tường (1965), Plây Me – Ia Đrăng
(1965), bước ngoặt lớn cuộc Tổng tiến công nổi dậy Tết Mậu Thân 1968. Thứ ba,
nhận định chiến lược này đặt nền tảng cho những thắng lợi quyết định của giai đoạn cuối
chiến tranh, từ kết Hiệp định Paris 1973 đến Chiến dịch Hồ Chí Minh 1975, giải phóng
hoàn toàn miền Nam thống nhất đất nước.
Tóm lại, việc Đảng nhận định “tương quan lực lượng giữa ta và địch không có sự thay
đổi lớn” trong bối cảnh Mỹ ồ ạt đưa quân vào miền Nam là một đánh giá khoa học, chính xác
mang tầm chiến lược. Nhận định này dựa trên sự hiểu rõ bản chất chiến tranh, điểm mạnh
điểm yếu của hai bên và niềm tin vào sức mạnh chính nghĩa của dân tộc Việt Nam. Ý nghĩa
của nhận định không chỉ tạo niềm tin, củng cố ý chí chiến đấu mà còn định hướng chiến lược
quân sự đúng đắn, góp phần quyết định vào thắng lợi cuối cùng của cuộc kháng chiến chống
Mỹ cứu nước.
8
Câu 3: Nguyên nhân thắng lợi Cách mạng Tháng 8. Nguyên nhân nào quan trọng nhất,
vì sao?
Cách mạng Tháng Tám năm 1945 một bước ngoặt đại của lịch sử dân tộc Việt
Nam, đánh dấu sự sụp đổ hoàn toàn của ách thống trị thực dân – phong kiến và sự ra đời của
Nhà nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa. Thắng lợi ấy không chỉ phản ánh sức mạnh yêu
nước truyền thống của nhân dân ta còn kết quả của sự kết hợp giữa những điều kiện
khách quan thuận lợi do tình hình quốc tế đem lại những nhân tố chủ quan do Đảng tạo
dựng và dẫn dắt. Nhận diện đầy đủ các nguyên nhân thắng lợi và xác định nguyên nhân mang
tính quyết định nhất là cơ sở quan trọng để đánh giá giá trị lịch sử của cuộc cách mạng này.
Nhóm nguyên nhân khách quan và chủ quan
Cách mạng Tháng Tám thắng lợi trước hết nhờ vào sự hội tụ của các nguyên nhân
khách quan thuận lợi. Sự bùng nổ kết thúc của Chiến tranh thế giới thứ hai đã làm thay
đổi sâu sắc cục diện quốc tế tạo ra khoảng trống quyền lực quyết định Đông Dương.
Việc Nhật đảo chính Pháp (3/1945) phá vỡ bộ máy cai trị thực dân, và ngay sau đó Nhật đầu
hàng Đồng minh (8/1945), khiến chính quyền phát xít Đông Dương hoàn toàn liệt, tạo
nên thời “ngàn năm một” để nhân dân Việt Nam vùng dậy giành chính quyền. Đồng
thời, chủ nghĩa phát xít bị đánh bại đã mở rộng ảnh hưởng của phong trào dân chủ – tiến bộ
khuyến khích phong trào giải phóng dân tộc trên thế giới phát triển mạnh mẽ. Bối cảnh
quốc tế này tạo điều kiện thuận lợi cho cách mạng Việt Nam cả về tinh thần, tư tưởng và khả
năng tranh thủ sự ủng hộ quốc tế. Tuy nhiên, thắng lợi của Cách mạng Tháng Tám không thể
chỉ giải bằng những nguyên nhân khách quan, bởi bản thân thời chỉ ý nghĩa khi
lực lượng đủ mạnh để nắm bắt. Đó chính các nguyên nhân chủ quan, bắt nguồn từ sự
chuẩn bị chu đáo toàn diện của Đảng Cộng sản Việt Nam. Trong suốt 15 năm lãnh đạo
cách mạng, Đảng đã xây dựng lực lượng chính trị hùng hậu thông qua Mặt trận Việt Minh,
xây dựng lực lượng vũ trang từ du kích đến đội quân chủ lực, hình thành các căn cứ địa chiến
lược phát triển mạng lưới cách mạng rộng khắp cả nước. Quan trọng hơn, Đảng đã đề ra
đường lối đấu tranh đúng đắn, đặc biệt là chuyển hướng chiến lược giai đoạn 1939–1941, đặt
nhiệm vụ giải phóng dân tộc lên hàng đầu, thống nhất lực lượng toàn dân trong một mặt trận
duy nhất chuẩn bị sớm về tư tưởng, lực lượng, tổ chức cho cuộc tổng khởi nghĩa. Nhờ đó,
khi thời cách mạng đến, Đảng đủ khả năng phát động và lãnh đạo một cuộc Tổng khởi
nghĩa diễn ra nhanh chóng, đồng loạt và giành thắng lợi chỉ trong vài ngày.
Nguyên nhân quan trọng nhất
Trong các nguyên nhân nêu trên, nguyên nhân chủ quan – đặc biệt là sự lãnh đạo đúng
đắn, sáng tạo kịp thời của Đảng Cộng sản Việt Nam – là nguyên nhân quan trọng nhất và
mang tính quyết định. Bởi chính Đảng lực lượng duy nhất đã đề ra đường lối giải phóng
dân tộc phù hợp quy luật cách mạng thuộc địa, xác định đúng kẻ thù, đúng nhiệm vụ và đúng
9
phương pháp đấu tranh. Đảng đã vận dụng sáng tạo chủ nghĩa Mác Lênin vào thực tiễn
Việt Nam, khắc phục những hạn chế trong nhận thức trước đây, đồng thời xây dựng chiến
lược huy động toàn dân vào cuộc đấu tranh độc lập. Sự lãnh đạo của Đảng quyết định
chỗ: Đảng chuẩn bị sớm toàn diện cho khởi nghĩa, tổ chức lực lượng chính trị và vũ trang
vững mạnh; Đảng nhìn nhận thời một cách chính xác và táo bạo, kịp thời phát động Tổng
khởi nghĩa trên cả nước; Đảng lực lượng duy nhất khả năng kết hợp đúng đắn các
yếu tố chủ quan với thời cơ khách quan để biến thời cơ thành hiện thực thắng lợi. Nếu không
sự lãnh đạo của Đảng, thời cơ lịch sử dù lớn đến đâu cũng không thể tự chuyển hóa thành
thắng lợi cách mạng, bởi lực lượng yêu nước lúc đó còn rời rạc, thiếu tổ chức, thiếu đường
lối thống nhất thiếu khả năng chỉ đạo tổng lực. Chính vậy, giáo trình Lịch sử Đảng và
Đường lối cách mạng đều khẳng định sự lãnh đạo của Đảng là nhân tố giữ vai trò quyết định
nhất đối với thắng lợi của Cách mạng Tháng Tám.
Kết luận: Thắng lợi của Cách mạng Tháng Tám là kết quả tổng hòa của nhiều nguyên
nhân khách quan chủ quan, nhưng trong đó, sự lãnh đạo đúng đắn sáng tạo của Đảng
Cộng sản Việt Nam nguyên nhân quan trọng nhất, chi phối phát huy hiệu quả của mọi
nguyên nhân khác. Chính nhân tố này đã giúp Đảng nắm bắt thời lịch sử, phát huy sức
mạnh toàn dân tộc lãnh đạo một cuộc khởi nghĩa thần tốc, làm nên thắng lợi đại năm
1945. Cách mạng Tháng Tám thế không chỉ kết quả tất yếu của phong trào cách mạng
Việt Nam, còn minh chứng tiêu biểu cho vai trò quyết định của Đảng trong mọi thắng
lợi của cách mạng Việt Nam.
Câu 4: Nội dung phong trào 1939 - 1945, ý nghĩa đó có tác động như nào đến cuộc tổng
khởi nghĩa Cách mạng Tháng 8?
Giai đoạn 1939–1945 thời kỳ bùng nổ của phong trào giải phóng dân tộc Việt Nam,
dưới sự lãnh đạo trực tiếp của Đảng Cộng sản Đông Dương. Sự thay đổi mạnh mẽ của tình
hình thế giới, sự thống trị tàn bạo của Pháp Nhật đặc biệt sự chuyển hướng chỉ đạo
chiến lược của Đảng đã tạo nên một phong trào cách mạng rộng lớn, sâu sắc mang tính
quyết định. Chính phong trào này đã trực tiếp chuẩn bị mọi điều kiện cho Tổng khởi nghĩa
Tháng Tám năm 1945. Việc phân tích nội dung phong trào cũng như tác động của nó đối với
thắng lợi của cuộc cách mạng sẽ giúp thấy tính tất yếu khoa học trong đường lối của
Đảng.
Nội dung phong trào giải phóng dân tộc 1939–1945
Phong trào giải phóng dân tộc 1939–1945 trước hết gắn liền với chuyển hướng chỉ
đạo chiến lược của Đảng. Trước tình hình Nhật kéo vào Đông Dương, mâu thuẫn dân tộc trở
nên gay gắt nhất, Đảng xác định nhiệm vụ trung tâm và cấp bách nhất của cách mạng là giải
phóng dân tộc khỏi ách thống trị Pháp – Nhật, tạm gác khẩu hiệu cách mạng ruộng đất để tập
trung toàn lực cho mặt trận dân tộc thống nhất. Hội nghị Trung ương 8 (5/1941) hoàn chỉnh
10
đường lối này bằng việc thành lập Mặt trận Việt Minh, tập hợp mọi giai tầng, tôn giáo, dân
tộc vào cuộc đấu tranh chung. Việt Minh trở thành trung tâm chính trị – tổ chức của toàn dân,
đóng vai trò lãnh đạo trực tiếp phong trào giải phóng dân tộc.
Song song với đó, phong trào phát triển mạnh mẽ trong xây dựng lực lượng chính trị
của quần chúng. nông thôn, hàng loạt hội cứu quốc được thành lập như nông dân cứu
quốc, phụ nữ cứu quốc, thanh niên cứu quốc, thiếu niên cứu quốc, biến mỗi làng thành
một “căn cứ chính trị”. đô thị, công nhân, trí thức, học sinh sinh viên đấu tranh chống
phát xít Nhật, chống bắt phu, bắt lính, chống thu thuế, đòi cứu đói. Các phong trào ấy làm
cho uy tín của Việt Minh Đảng tăng cao, củng cố tình cảm gắn giữa quần chúng với
cách mạng. Đặc biệt, trở thành thời điểm cao trào khi khẩu hiệu “phá kho thóc nạn đói 1945
giải quyết nạn đói” lan rộng, nhân dân không chỉ cứu nhau còn tin tưởng tuyệt đối vào
Việt Minh – lực lượng duy nhất đứng ra tổ chức cứu đói.
Một nội dung quan trọng khác của phong trào xây dựng lực lượng trang cách
mạng tiến hành đấu tranh trang từng phần. Từ các đội du kích Bắc Sơn (1940), các đội
Cứu quốc quân, đến sự ra đời của Việt Nam Tuyên truyền Giải phóng quân (12/1944) và sau
đó Việt Nam Giải phóng quân (1945), lực lượng trang trở thành nòng cốt cho khởi
nghĩa. Những trận đánh như Phai Khắt, Ngần, hay hoạt động du kích tại Cao Bắc
Lạng góp phần mở rộng vùng giải phóng, bảo vệ cán bộ nhân dân, tạo điều kiện luyện
quân, rèn cán bộ chủ chốt.
Bên cạnh đó, phong trào đã xây dựng được căn cứ địa cách mạng, tiêu biểu là Căn cứ
địa Việt Bắc. Đây trung tâm quân sự – chính trị của cả nước, nơi Đảng có thể hoạt động bí
mật, chuẩn bị khởi nghĩa, huấn luyện cán bộ, in ấn tài liệu, tích trữ khí vật chất. Tại
đây, Đảng lãnh đạo các cuộc khởi nghĩa từng phần, từng bước giành chính quyền ở nhiều địa
phương trước khi Tổng khởi nghĩa diễn ra.
Cuối cùng, phong trào 1939–1945 thể hiện tiến trình khởi nghĩa từng phần, đặc biệt từ
cuối năm 1944 đến nửa đầu 1945, với sự nổi dậy giành chính quyền nhiều huyện, châu,
tổng. Những sự kiện này cho thấy lực lượng cách mạng đã đang trưởng thành mạnh mẽ,
tạo thế chủ động tuyệt đối của cách mạng khi thời cơ lớn đến.
Như vậy, phong trào giải phóng dân tộc 1939–1945 một quá trình chuẩn bị toàn diện: xây
dựng tổ chức, lực lượng quần chúng, lực lượng vũ trang, căn cứ địa, đường lối và chiến lược,
tạo một nền móng vững chắc cho cuộc Tổng khởi nghĩa.
Tác động và ý nghĩa của phong trào đối với Tổng khởi nghĩa Tháng Tám
Phong trào giải phóng dân tộc 1939–1945 có tác động mang tính quyết định đến thắng
lợi của Tổng khởi nghĩa Tháng Tám, bởi đã tạo ra thế – lực – thời để cách mạng bùng nổ
đúng thời điểm. Trước hết, phong trào đã chuẩn bị vững chắc về chính trị – tư tưởng, làm cho
11
khẩu hiệu “giải phóng dân tộc” thấm sâu vào đời sống quần chúng, thống nhất ý chí toàn dân
trong mục tiêu chống Nhật – Pháp. Mặt khác, phong trào đã tạo ra lực lượng chính trị áp đảo:
hàng triệu quần chúng tổ chức trong các hội cứu quốc, sẵn sàng tham gia khởi nghĩa khi
thời đến. Lực lượng trang cách mạng cũng trưởng thành vượt bậc qua đấu tranh từng
phần, trở thành nòng cốt của khởi nghĩa, góp phần quyết định vào việc tấn công tiêu diệt các
cơ quan chủ chốt của địch.
Ngoài ra, phong trào đã hình thành vùng giải phóng rộng lớn, nơi Đảng hoạt động công khai,
trực tiếp chỉ huy khởi nghĩa triển khai các kế hoạch toàn quốc. Những vùng này trở thành
“bàn đạp chiến lược”, giúp khởi nghĩa lan rộng giành chính quyền thần tốc. Đặc biệt,
phong trào chống Nhật trong nạn đói đã tạo niềm tin tuyệt đối của quần chúng vào Việt
Minh, làm cho lực lượng cách mạng trở thành địa chỉ duy nhất người dân tin theo khi
Nhật đầu hàng Đồng minh.
Khi chính quyền Nhật Pháp rơi vào khủng hoảng toàn diện tháng 8/1945, những thành quả
tích lũy từ phong trào 1939–1945 đã đưa cách mạng vào thế chủ động hoàn toàn. Chính nhờ
lực lượng, căn cứ địa uy tín chính trị đã được chuẩn bị từ trước, Đảng có thể ra lệnh Tổng
khởi nghĩa đúng lúc, huy động nhân dân cả nước đứng lên, giành chính quyền trong vòng 15
ngày – một kỳ tích lịch sử không phải quốc gia thuộc địa nào cũng đạt được.
Kết luận: Phong trào giải phóng dân tộc 1939–1945 quá trình chuẩn bị đầy đủ,
khoa học hệ thống cho Cách mạng Tháng Tám. Với việc xây dựng lực lượng chính trị
quân sự, căn cứ địa, tổ chức quần chúng phát triển phong trào đấu tranh trong cả nước,
Đảng đã tạo ra thế chủ động tuyệt đối để chớp thời cơ lịch sử. Chính vì vậy, thắng lợi Tháng
Tám năm 1945 không phải sự bùng nổ ngẫu nhiên, kết tinh tất yếu của một phong
trào cách mạng rộng lớn và mạnh mẽ dưới sự lãnh đạo của Đảng.
Câu 5: Hãy nêu nguyên nhân thắng lợi của cuộc kháng chiến chống Pháp (1945-1954).
Nguyên nhân nào quan trọng nhất ? Vì sao?
Cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp can thiệp Mỹ (1945–1954) một trong
những cuộc chiến tranh giải phóng dân tộc đại nhất của nhân dân Việt Nam trong thế kỷ
XX. Từ thế yếu ban đầu, phải đối diện với một kẻ thù có tiềm lực quân sự – kinh tế vượt trội,
nhân dân ta dưới sự lãnh đạo của Đảng đã từng bước đánh bại mọi chiến lược quân sự của
Pháp, tiến tới chiến thắng quyết định tại Điện Biên Phủ năm 1954, buộc Pháp Hiệp định
Genève. Thắng lợi ấy nhiều nguyên nhân, bao gồm cả yếu tố chủ quan lẫn khách quan,
nhưng tất cả đều quy tụ vào vai trò lãnh đạo đúng đắn của Đảng. Việc nhận diện đầy đủ các
nguyên nhân thắng lợi xác định nguyên nhân quan trọng nhất cần thiết để hiểu quy
luật thắng lợi của cuộc kháng chiến.
Các nguyên nhân thắng lợi của kháng chiến chống Pháp
12
Thắng lợi của cuộc kháng chiến chống Pháp trước hết bắt nguồn từ đường lối kháng chiến
đúng đắn của Đảng. Ngay từ cuối năm 1946, Đảng đã xác định đường lối “toàn dân, toàn
diện, lâu dài, tự lực cánh sinh”, kết hợp đấu tranh quân sự, chính trị, ngoại giao; vừa kháng
chiến vừa kiến quốc; vừa xây dựng hậu phương, vừa phát triển lực lượng vũ trang. Đường lối
này phù hợp với điều kiện đất nước, phát huy tối đa sức mạnh tổng hợp của dân tộc, tạo thế
chiến lược để ta vượt qua giai đoạn cực kỳ khó khăn ban đầu.
Thứ hai, khối đại đoàn kết toàn dân tộc được củng cố thông qua Mặt trận Liên Việt sau
này Mặt trận Tổ quốc Việt Nam. Nhân dân ở mọi giai tầng, dân tộc, tôn giáo, từ nông dân,
công nhân đến trí thức, sản dân tộc đều hướng vào mục tiêu độc lập dân tộc, trở thành
nguồn lực chính trị – tinh thần vô cùng to lớn của cuộc kháng chiến.
Thứ ba, nhân dân ta đã xây dựng hậu phương kháng chiến vững mạnh. Miền Bắc trở thành
căn cứ địa của cả nước, phát triển kinh tế kháng chiến, cải cách ruộng đất từng bước, phát
triển giáo dục – văn hóa, sản xuất vũ khí và chi viện cho các chiến trường. Hậu phương mạnh
giúp duy trì sức chiến đấu lâu dài và tạo điều kiện tổ chức các chiến dịch ngày càng lớn.
Thứ tư, lực lượng trang nhân dân trưởng thành nhanh chóng, gồm bộ đội chủ lực, bộ đội
địa phương dân quân du kích. Trải qua các chiến dịch lớn như Việt Bắc 1947, Biên giới
1950, Hòa Bình, Tây Bắc, Thượng Lào, chiến dịch Điện Biên Phủ 1954…, ta ngày càng nâng
cao trình độ tác chiến, từ du kích tiến lên chính quy hiện đại, làm phá sản từng bước chiến
lược quân sự của Pháp và Mỹ.
Thứ năm, sự phối hợp của phong trào cách mạng thế giới, đặc biệt là sự giúp đỡ của Liên Xô,
Trung Quốc các nước hội chủ nghĩa, tạo ra nguồn viện trợ vật chất kỹ thuật quan
trọng giúp nâng cao sức mạnh của kháng chiến. Chính sự mở rộng mặt trận quốc tế và uy tín
của Việt Nam trong phong trào giải phóng dân tộc đã góp phần tạo thế thuận lợi trên bàn
ngoại giao Geneva. Cuối cùng, kẻ thù mang trong mình nhiều yếu tố suy yếu: Pháp phải gánh
nặng chiến tranh của cả hệ thống thuộc địa, chậm phát triển về kinh tế; chính trị nước Pháp
bất ổn; quân đội Pháp sa lầy về chiến lược thiếu lực lượng bổ sung; nhân dân Pháp ngày
càng phản đối chiến tranh. Mỹ can thiệp sâu nhưng chưa trực tiếp đưa quân nên không cứu
vãn được thất bại của Pháp.
Nguyên nhân quan trọng nhất
Trong tất cả các nguyên nhân nêu trên, nguyên nhân quan trọng nhất sự lãnh đạo
đúng đắn, sáng suốt kiên định của Đảng Cộng sản Việt Nam. Đây nguyên nhân mang
tính quyết định, chi phối và phát huy hiệu quả của mọi nguyên nhân khác.
Thứ nhất, chỉ Đảng mới xác định đúng bản chất cuộc chiến tranh, đề ra đường lối kháng
chiến khoa học phù hợp: “toàn dân toàn diện lâu dài dựa vào sức mình”, đồng thời
kết hợp linh hoạt giữa quân sự, chính trị ngoại giao. Nếu không đường lối này, nhân
13
dân sẽ không thể phát huy hết tiềm lực, hậu phương không thể xây dựng, lực lượng vũ trang
không thể trưởng thành, và cuộc kháng chiến khó có thể kéo dài tới thắng lợi.
Thứ hai, chính Đảng lực lượng tổ chức quy tụ khối đại đoàn kết toàn dân, biến sức
mạnh của quần chúng thành sức mạnh có tổ chức, có sự chỉ huy thống nhất.
Thứ ba, Đảng đưa ra những quyết định chiến lược tính bước ngoặt như mở chiến dịch
Biên giới 1950, quyết tâm tiêu diệt tập đoàn cứ điểm Điện Biên Phủ, mở ra thời cơ kết thúc
chiến tranh.
Thứ tư, Đảng cũng lực lượng duy nhất biết kết hợp chặt chẽ giữa đấu tranh quân sự
ngoại giao, tạo điều kiện để ta giành thắng lợi trên chiến trường buộc đối phương phải
đàm phán theo thế lợi cho ta. Nói cách khác, đường lối của Đảng là kim chỉ nam cho mọi
hoạt động của kháng chiến, nhân tố điều phối, kết nối, định hướng cả những nguyên nhân
khách quan lẫn chủ quan khác. vậy, giáo trình khẳng định đây là nguyên nhân có ý nghĩa
quyết định nhất đối với thắng lợi của cuộc kháng chiến chống Pháp.
Kết luận: Thắng lợi của cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp (1945–1954) kết
quả tổng hòa của nhiều nguyên nhân cả chủ quan lẫn khách quan, từ đường lối đúng đắn của
Đảng, khối đoàn kết toàn dân, hậu phương vững mạnh, lực lượng vũ trang trưởng thành đến
sự giúp đỡ quốc tế những mâu thuẫn, suy yếu của đối phương. Tuy nhiên, nguyên nhân
quyết định nhất sự lãnh đạo đúng đắn của Đảng Cộng sản Việt Nam, bởi chỉ có đường lối
chiến lược sáng suốt của Đảng mới thể biến tiềm năng của dân tộc thành sức mạnh hiện
thực, đưa kháng chiến vượt qua mọi khó khăn, đánh bại thực dân Pháp và can thiệp Mỹ, tạo
tiền đề cho sự nghiệp giải phóng hoàn toàn miền Nam sau này.
Câu 6: Phân tích hoàn cảnh thế giới Việt Nam sau tháng 8/1945. Khó khăn nào lớn
nhất? Vì sao?
Sau thắng lợi của Cách mạng Tháng Tám 1945, nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa ra
đời, mở ra kỷ nguyên độc lập dân tộc và tự chủ của nhân dân Việt Nam. Tuy nhiên, ngay khi
chính quyền cách mạng được thành lập, đất nước lập tức phải đối mặt với hàng loạt khó khăn
cùng nghiêm trọng cả từ thế giới trong nước. Những thử thách ấy diễn ra trong bối
cảnh quốc tế đầy biến động sau Chiến tranh thế giới thứ hai trong tình thế nước nhà vừa
giành độc lập nhưng nền tảng kinh tế xã hội hết sức kiệt quệ. Việc phân tích hoàn cảnh thế
giới Việt Nam sau tháng 8/1945, đồng thời xác định khó khăn lớn nhất, sở quan
trọng để hiểu sao Đảng ta đã xác định được nhiệm vụ cấp bách nhất của cách mạng và
lựa chọn những quyết sách đúng đắn giúp chính quyền non trẻ vượt qua “tình thế ngàn cân
treo sợi tóc”.
Hoàn cảnh thế giới và Việt Nam sau tháng 8/1945
14
Sau Chiến tranh thế giới thứ hai, cục diện quốc tế thay đổi sâu sắc, chuyển từ trật tự
nhiều cực sang thế đối đầu giữa hai siêu cường Liên Xô và Hoa Kỳ, khiến tình hình chính trị
thế giới trở nên căng thẳng phức tạp. Các nước đế quốc, trong đó Pháp Anh, tích
cực tìm cách khôi phục hệ thống thuộc địa đã mất trong chiến tranh; đồng thời các lực lượng
đế quốc đều chưa sẵn sàng công nhận các chính quyền cách mạng mới giành độc lập. Riêng
tại Đông Dương, Pháp ráo riết chuẩn bị quay lại Việt Nam để tái lập ách thống trị. Theo
quyết định của Hội nghị Potsdam, quân Tưởng Giới Thạch được đưa xuống miền Bắc để giải
giáp quân Nhật, trong khi quân Anh vào miền Nam, tạo nên một tình thế phức tạp khi nhiều
lực lượng quốc tế cùng xuất hiện trên lãnh thổ Việt Nam. Điều này khiến nước Việt Nam Dân
chủ Cộng hòa, tuy vừa ra đời, đã lập tức rơi vào trạng thái bị bao vây và chịu sức ép từ nhiều
phía.
Trong nước, khó khăn càng chồng chất hơn. Trước hết, chính quyền cách mạng vừa
được thành lập còn rất non trẻ, bộ máy nhà nước chưa hoàn chỉnh, chưa được quốc tế công
nhận, phải đối mặt cùng lúc với nhiều thế lực thù địch. Ở miền Bắc, quân Tưởng kéo vào
kèm theo các tổ chức phản động như Việt Quốc, Việt Cách tìm cách lật đổ chính quyền.
miền Nam, quân Anh dung túng cho Pháp quay lại xâm lược, nổ súng mở đầu cuộc chiến
tranh xâm lược lần thứ hai. Tàn quân Nhật vẫn còn khí có thể trở thành mối nguy nếu
không được xử đúng cách. Kinh tế đất nước kiệt quệ, công thương nghiệp đình đốn, ruộng
đồng bị bỏ hoang. Ngân sách Nhà nước gần như trống rỗng, nhiều khoản chi thiết yếu không
thể đáp ứng. Nạn đói 1945 để lại hậu quả cùng nặng nề: hơn hai triệu người chết và hàng
triệu người khác suy kiệt, làm cho đời sống nhân dân cùng thảm khốc và đe dọa trực tiếp
sự ổn định của chính quyền mới. Bên cạnh đó, hơn 90% dân số chữ, văn hóa lạc hậu, ý
thức công dân thấp, khiến việc xây dựng chế độ mới gặp rất nhiều trở ngại. Lực lượng
trang cách mạng tuy tinh thần chiến đấu cao nhưng trang bị thô sơ, quân số ít, không thể
so sánh với quân Pháp Anh – Tưởng về mặt vật chất. Tất cả những yếu tố ấy kết hợp tạo ra
hoàn cảnh cùng hiểm nghèo cho chính quyền cách mạng, được giáo trình mô tả bằng cụm
từ “tình thế ngàn cân treo sợi tóc”.
Khó khăn lớn nhất
Trong các khó khăn trên, khó khăn lớn nhất nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa
phải đối mặt sau tháng 8/1945 chính sự đe dọa trực tiếp từ các thế lực thù trong giặc
ngoài, đặc biệt âm mưu trở lại xâm lược của thực dân Pháp kết hợp với sự chiếm đóng và
gây rối của quân Tưởng miền Bắc. Đây khó khăn mang tính chất quyết định, bởi nó đe
dọa ngay lập tức sự tồn tại của chính quyền cách mạng. Trong khi các khó khăn kinh tế, tài
chính, văn hóa thể giải quyết từng bước trong dài hạn, thì mối nguy tái xâm lược hoặc bị
lật đổ bởi các lực lượng phản động có thể khiến thành quả của Cách mạng Tháng Tám bị xóa
sổ chỉ trong thời gian ngắn. Thực dân Pháp với ý đồ khôi phục thuộc địa đã liên tục gây sức
ép quân sự và chính trị, trong khi quân Tưởng vào miền Bắc vừa vơ vét, vừa gây sức ép buộc
15
ta phải nhượng bộ, lại hậu thuẫn cho các tổ chức phản động chống phá chính quyền cách
mạng. Cùng lúc, miền Nam lại bị Pháp tấn công bằng quân sự, làm bùng nổ cuộc kháng
chiến Nam Bộ chỉ vài tuần sau ngày độc lập. Sự phối hợp của nhiều thế lực quốc tế, mỗi
lực lượng mục tiêu và chiến lược riêng, khiến chính quyền cách mạng đứng trước nguy cơ
bị tiêu diệt nếu không đường lối đối phó đúng đắn linh hoạt. Đặc biệt, thời điểm đó
quân đội ta còn nhỏ, trang bị thô sơ, chưa đủ sức đối đầu trực tiếp với các đạo quân mạnh
hơn nhiều lần, nên việc xử quan hệ với Pháp, Tưởng Nhật trở thành vấn đề sống còn.
vậy, khó khăn lớn nhất chính nguy bị xâm lược và bị lật đổ bởi các lực lượng ngoại
bang kết hợp với phản động trong nước mối đe dọa trực tiếp đối với sự sống còn của Nhà
nước non trẻ.
Kết luận: Hoàn cảnh thế giới và trong nước sau Cách mạng Tháng Tám đặt nước Việt
Nam Dân chủ Cộng hòa vào tình thế cùng hiểm nghèo. Mặc dù phải đối mặt với nạn đói,
kiệt quệ tài chính, trình độ dân trí thấp nền kinh tế hoang tàn sau chiến tranh, nhưng khó
khăn lớn nhất vẫn sự bao vây, đe dọa của thù trong giặc ngoài, đặc biệt âm mưu quay lại
xâm lược của thực dân Pháp và hoạt động phá hoại của quân Tưởng. Đây là nguy cơ trực tiếp
đối với sự tồn tại của chính quyền cách mạng. Việc Đảng ta kịp thời đánh giá đúng tình hình,
xác định đúng khó khăn lớn nhất và đề ra đường lối giải quyết phù hợp là nhân tố quyết định
giúp nước Việt Nam non trẻ vượt qua được thử thách lịch sử của những năm đầu độc lập.
Câu 7: Phân tích chỉ thị kháng chiến kiến quốc 25/12/1945 và tại sao mục tiêu xây dựng
và phát triển chính quyền là quan trọng nhất?
Sau Cách mạng Tháng Tám năm 1945, chính quyền cách mạng non trẻ đứng trước
tình thế cùng hiểm nghèo: thù trong giặc ngoài bao vây, kinh tế kiệt quệ, nạn đói
chữ đe dọa sự ổn định của đất nước. Trong bối cảnh ấy, ngày 25/12/1945, Ban Thường vụ
Trung ương Đảng đã ban hành Chỉ thị Kháng chiến Kiến quốc, một văn kiện ý nghĩa
chiến lược, xác định nhiệm vụ trước mắt lâu dài của cách mạng Việt Nam. Chỉ thị vừa
thể hiện sự nhạy bén của Đảng trong việc nhận diện “kẻ thù chính”, “nhiệm vụ cấp bách”,
vừa đề ra phương hướng đúng đắn để giữ vững chính quyền chuẩn bị cho cuộc kháng
chiến chống Pháp. Việc phân tích chỉ thị làm sao nhiệm vụ xây dựng phát triển
chính quyền được đặt lên hàng đầu giúp thấy bản lĩnh trí tuệ lãnh đạo của Đảng trong
thời điểm sống còn của dân tộc.
Nội dung Chỉ thị Kháng chiến – Kiến quốc (25/12/1945)
Chỉ thị Kháng chiến Kiến quốc được ban hành trong bối cảnh đất nước phải đối mặt
với nhiều nguy cùng lúc: quân Tưởng và các đảng phái tay sai ở miền Bắc tìm cách lật đổ
chính quyền; quân Anh dung túng Pháp quay lại xâm lược miền Nam; tàn quân Nhật còn
khí; kinh tế kiệt quệ; nạn đói và mù chữ lan rộng. Trên cơ sở đánh giá toàn diện tình hình,
Đảng xác định thực dân Pháp là kẻ thù chính của dân tộc Việt Nam, bởi chúng đã nổ súng tái
16
chiếm Nam Bộ ráo riết chuẩn bị mở rộng chiến tranh ra toàn quốc. Việc nhận diện đúng
kẻ thù chính giúp Đảng hoạch định chiến lược linh hoạt: tạm thời hòa hoãn với quân Tưởng
để tránh đối đầu cùng lúc nhiều lực lượng, tập trung mũi nhọn vào chống Pháp lực lượng
đe dọa trực tiếp nền độc lập vừa giành được.
Chỉ thị nêu mục tiêu của cách mạng Việt Nam trong giai đoạn này là củng cố chính
quyền cách mạng, chống thực dân Pháp xâm lược, trấn áp bọn phản cách mạng, cải thiện đời
sống nhân dân, phát triển kinh tế – văn hóa. Đây là sự kết hợp chặt chẽ giữa nhiệm vụ kháng
chiến (đối phó với thù trong giặc ngoài) và nhiệm vụ kiến quốc (xây dựng nền móng vật chất
tinh thần của nhà nước mới). Để thực hiện mục tiêu này, Đảng đề ra nhiều nhiệm vụ cụ
thể: xây dựng khối đại đoàn kết toàn dân thông qua Mặt trận Việt Minh; củng cố lực lượng
trang an ninh; phát động phong trào tăng gia sản xuất để chống đói; tổ chức lại tài
chính ngân sách; mở phong trào diệt giặc đói, giặc dốt, giặc ngoại xâm; và từng bước xây
dựng bộ máy chính quyền từ trung ương đến địa phương.
Một điểm then chốt của chỉ thị là yêu cầu động viên toàn dân tham gia kháng chiến và
kiến quốc, biến mỗi người dân thành một chiến sĩ bảo vệ Tổ quốc và xây dựng đời sống mới.
Chỉ thị cũng nhấn mạnh sự cần thiết của việc kết hợp đấu tranh chính trị, quân sự ngoại
giao, trong đó ngoại giao được xác định mặt trận quan trọng để tranh thủ thời gian, phân
hóa kẻ thù giữ thế chủ động chiến lược. Tất cả những nội dung này phản ánh tư duy chiến
lược của Đảng: vừa kiên trì bảo vệ chính quyền, vừa chủ động chuẩn bị lực lượng cho cuộc
kháng chiến chống Pháp không thể tránh khỏi.
Tại sao xây dựng và phát triển chính quyền là nhiệm vụ quan trọng nhất?
Trong tất cả các nhiệm vụ của Chỉ thị Kháng chiến Kiến quốc, xây dựng phát
triển chính quyền cách mạng được đặt lên hàng đầu vì đây là yếu tố quyết định sự tồn tại của
nhà nước Việt Nam mới ra đời. Trước hết, chính quyền sau Cách mạng Tháng Tám còn rất
non trẻ, chưa được quốc tế công nhận, chưa bộ máy hành chính hoàn chỉnh và bị bao vây
từ nhiều phía. Nếu chính quyền sụp đổ, mọi thành quả của cuộc cách mạng sẽ bị xóa bỏ, và
dân tộc nguy trở lại ách nô lệ. Vì vậy, nhiệm vụ số một lúc này là giữ vững và củng cố
chính quyền, bảo đảm sự lãnh đạo thống nhất và hiệu lực của Nhà nước trong mọi hoạt động
quân sự, chính trị, kinh tế và đối ngoại.
Thứ hai, chỉ khi chính quyền vững mạnh thì Đảng mới có công cụ để tổ chức kháng chiến
huy động sức mạnh toàn dân. Chính quyền trung tâm của đoàn kết dân tộc, là cơ quan
tổ chức, điều phối mọi nguồn lực về tài chính, lương thực, nhân lực tinh thần cho cuộc
kháng chiến. Một chính quyền mạnh mới có khả năng đàm phán ngoại giao, tạo thế cân bằng
tạm thời với các thế lực quốc tế, tránh nguy bị tấn công đồng thời từ nhiều phía. Thứ ba,
việc xây dựng chính quyền còn gắn liền với nhiệm vụ cấp bách giải quyết nạn đói, chống
chữ, ổn định đời sống hội. Nếu những vấn đề này không được xử lý, quần chúng sẽ
17
mất niềm tin vào chính quyền cách mạng, các lực lượng phản cách mạng sẽ dễ dàng lợi
dụng để kích động chống đối.
Cuối cùng, xây dựng phát triển chính quyền là điều kiện để thực hiện mục tiêu lâu dài của
cách mạng: xây dựng một hội dân chủ, độc lập, tiến bộ. Chính quyền mạnh đảm bảo pháp
luật được thi hành, an ninh được giữ vững, và nền tảng kinh tế – xã hội mới được hình thành.
Do đó, Đảng xác định đây nhiệm vụ quan trọng nhất, “trọng tâm của mọi trọng tâm”,
bởi nếu không chính quyền, không thể kháng chiến; còn nếu chính quyền được củng
cố, thì dù kẻ thù mạnh đến đâu, dân tộc vẫn có thể đứng vững và tiến tới thắng lợi.
Kết luận: Chỉ thị Kháng chiến Kiến quốc (25/12/1945) một văn kiện mang tính
chiến lược, góp phần định hướng nhiệm vụ cấp bách của cách mạng Việt Nam trong bối cảnh
thù trong giặc ngoài đe dọa nước nhà. Chỉ thị đã xác định đúng kẻ thù chính thực dân
Pháp, đồng thời đề ra nhiệm vụ kết hợp hài hòa giữa kháng chiến kiến quốc. Trong đó,
xây dựng và phát triển chính quyền được đặt lên vị trí quan trọng nhất vì đây là điều kiện tiên
quyết bảo đảm sự tồn tại của nhà nước cách mạng, sở để huy động sức mạnh toàn dân
nền tảng để đối phó với mọi âm mưu của kẻ thù. Chính việc xác định đúng nhiệm vụ
trọng tâm này đã giúp Đảng ta chèo lái đất nước vượt qua thử thách, giữ vững độc lập
chuẩn bị lực lượng cho cuộc kháng chiến chống Pháp sau này.
Câu 8: Phân tích nguyên nhân thắng lợi của cuộc kháng chiến chống Mỹ (1954-1975),
Nguyên nhân nào quan trọng nhất? Giải thích vì sao?
Cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước (1954–1975) cuộc chiến đấu lâu dài, gian
khổ và phức tạp nhất trong lịch sử hiện đại Việt Nam. Với tiềm lực kinh tế, quân sự vượt trội,
Mỹ đã tiến hành chiến tranh bằng nhiều chiến lược khác nhau, từ “chiến tranh đặc biệt”,
“chiến tranh cục bộ” đến “Việt Nam hóa chiến tranh”, hòng đè bẹp ý chí chiến đấu của nhân
dân Việt Nam. Tuy nhiên, dưới sự lãnh đạo của Đảng, nhân dân ta đã đánh bại mọi âm mưu
của đế quốc Mỹ, tiến tới thắng lợi trọn vẹn bằng Chiến dịch Hồ Chí Minh lịch sử năm 1975.
Việc phân tích nguyên nhân thắng lợi xác định nguyên nhân quan trọng nhất giúp thấy rõ
quy luật thành công của cuộc kháng chiến vĩ đại này.
Nguyên nhân thắng lợi của cuộc kháng chiến chống Mỹ (1954–1975)
Thắng lợi của cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước bắt nguồn trước hết từ đường lối lãnh
đạo đúng đắn, sáng tạo của Đảng. Đảng đã vận dụng sáng tạo chủ nghĩa Mác Lênin
tưởng Hồ Chí Minh để xây dựng đường lối kháng chiến toàn dân, toàn diện, lâu dài, đồng
thời kết hợp linh hoạt giữa đấu tranh quân sự, chính trị, ngoại giao, binh vận. Đặc biệt, Đảng
khẳng định con đường cách mạng Việt Nam con đường độc lập dân tộc gắn liền với chủ
nghĩa hội, với phương châm “đánh địch bằng ba mũi giáp công: quân sự chính trị
ngoại giao”, “tiến công nổi dậy”, kết hợp “hai miền” trong một chiến lược chung nhằm
18
mục tiêu thống nhất đất nước. Đường lối đó phù hợp thực tiễn, phát huy tối đa sức mạnh dân
tộc và sức mạnh thời đại.
Nguyên nhân quan trọng thứ hai sức mạnh của khối đại đoàn kết toàn dân tộc, được phát
huy thông qua Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam sau này Chính phủ Cách mạng
lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam. Nhân dân cả hai miền, từ công nhân, nông dân
đến trí thức, học sinh, sinh viên, tôn giáo, dân tộc thiểu số đều đóng góp cho kháng chiến
bằng nhiều hình thức. Khối đoàn kết ấy tạo nên sức mạnh chính trị tinh thần song
Mỹ không thể khuất phục.
Thứ ba, Miền Bắc xã hội chủ nghĩa đóng vai trò hậu phương lớn. Nhờ xây dựng kinh tế – văn
hóa quốc phòng vững mạnh, miền Bắc không chỉ đảm bảo nhu cầu trong nước mà còn chi
viện khổng lồ về người, vật chất, khí, trang thiết bị cho miền Nam. Miền Bắc trở thành
điểm tựa chiến lược, nhân tố quyết định trong việc duy trì sức mạnh lâu dài của cuộc
chiến.
Một nguyên nhân quan trọng nữa sự trưởng thành vượt bậc của lực lượng vũ trang ba thứ
quân cả hai miền. Quân giải phóng miền Nam và Quân đội nhân dân Việt Nam đã sáng tạo
nhiều chiến thuật phù hợp điều kiện cụ thể, làm thất bại hàng loạt chiến lược chiến tranh của
Mỹ. Các chiến dịch lớn như Ấp Bắc, Tổng tiến công và nổi dậy Tết Mậu Thân 1968, Đường
9 Nam Lào 1971, Điện Biên Phủ trên không 1972 đặc biệt Chiến dịch Hồ Chí Minh
1975 đã chứng minh sự áp đảo về nghệ thuật quân sự, ý chí chiến đấu và tinh thần cách mạng
của quân dân Việt Nam.
Ngoài ra, thắng lợi của ta còn nguyên nhân từ sự ủng hộ rộng rãi của phong trào cách
mạng thế giới. Liên Xô, Trung Quốc các nước hội chủ nghĩa đã viện trợ lớn về vật
chất, quân sự, trong khi phong trào phản chiến tại Mỹ và phong trào hòa bình quốc tế gây áp
lực mạnh mẽ buộc Mỹ phải xuống thang chiến tranh. Đồng thời, Mỹ gặp phải nhiều mâu
thuẫn nội tại: chiến tranh kéo dài, hao người tốn của, kinh tế suy giảm, xã hội Mỹ chia rẽ sâu
sắc, quân đội Mỹ đánh mất tinh thần chiến đấu. Tất cả những yếu tố đó góp phần quan trọng
vào thất bại của Mỹ và thắng lợi của nhân dân Việt Nam.
Nguyên nhân quan trọng nhất và lý do
Trong tất cả các nguyên nhân trên, nguyên nhân quan trọng nhất sự lãnh đạo đúng
đắn, sáng suốt kiên định của Đảng Cộng sản Việt Nam. Đây là nhân tố quyết định, xuyên
suốt và mang tính chi phối toàn bộ tiến trình cuộc kháng chiến.
Trước hết, chỉ Đảng mới đề ra được đường lối chiến lược tổng thể, khoa học, phù hợp với
quy luật cách mạng Việt Nam tương quan lực lượng giữa ta địch. Từ quyết định phát
động chiến tranh nhân dân miền Nam, đến chủ trương xây dựng miền Bắc XHCN làm hậu
phương lớn, hay những quyết sách táo bạo như mở đường Trường Sơn, phát động Tổng tiến
19
công Mậu Thân 1968, tiến công chiến lược 1972 cuối cùng Tổng tiến công và nổi dậy
mùa Xuân 1975 – tất cả đều cho thấy tầm nhìn chiến lược của Đảng.
Thứ hai, sự lãnh đạo của Đảng đảm bảo sự thống nhất tuyệt đối giữa ý chí dân tộc mục
tiêu chiến lược của cách mạng. Không sự lãnh đạo đó, sức mạnh quần chúng không thể
phát huy tối đa, lực lượng trang không thể phối hợp nhịp nhàng, miền Bắc khó có thể
đóng vai trò hậu phương lớn cho miền Nam. Thứ ba, Đảng đã khéo léo kết hợp các hình thức
đấu tranh, đặc biệt kết hợp chặt chẽ giữa quân sự và ngoại giao, tạo nên bước ngoặt quyết
định tại Hiệp định Paris 1973, buộc Mỹ phải rút quân, tạo thời chiến lược để giải phóng
hoàn toàn miền Nam. Như vậy, chính đường lối đúng đắn của Đảng là nhân tố quyết định tập
hợp, tổ chức huy động sức mạnh tổng hợp của dân tộc, biến tiềm năng thành sức mạnh
hiện thực để giành thắng lợi cuối cùng.
Kết luận: Thắng lợi của cuộc kháng chiến chống Mỹ (1954–1975) là kết quả tổng hợp
của nhiều nguyên nhân: đường lối đúng đắn của Đảng, sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc,
vai trò hậu phương lớn của miền Bắc, sự trưởng thành của lực lượng trang, sự ủng hộ
quốc tế những sai lầm chiến lược của Mỹ. Tuy nhiên, nguyên nhân quan trọng nhất là sự
lãnh đạo đúng đắn, sáng suốt và kiên định của Đảng Cộng sản Việt Nam, bởi Đảng là nhân tố
quyết định định hướng chiến lược, tổ chức lực lượng, phát huy sức mạnh toàn dân và kết hợp
sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại để đi tới thắng lợi trọn vẹn mùa Xuân 1975. Đây
chính là yếu tố then chốt làm nên kỳ tích vĩ đại của lịch sử dân tộc Việt Nam.
Câu 9: Cơ sở và nội dung của phương châm kháng chiến toàn dân? Ý nghĩa?
Trong cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược (1945–1954), Đảng đã đề ra
đường lối kháng chiến đúng đắn, trong đó phương châm toàn dân, toàn diện, lâu dài, dựa vào
sức mình giữ vai trò nền tảng. Phương châm kháng chiến toàn dân là điểm xuất phát quan
trọng để huy động sức mạnh của nhân dân, biến cả nước thành trận tuyến chiến đấu, bảo đảm
thắng lợi của cuộc kháng chiến trường kỳ. Việc phân tích sở hình thành, nội dung ý
nghĩa của phương châm này giúp lý giải sức mạnh của chiến tranh nhân dân Việt Nam và vai
trò lãnh đạo đúng đắn của Đảng trong thời kỳ kháng chiến chống Pháp.
Cơ sở và nội dung của phương châm kháng chiến toàn dân
Phương châm kháng chiến toàn dân bắt nguồn từ sở luận, sở thực tiễn trong
nước bối cảnh quốc tế sau năm 1945. Trước hết, về luận, Đảng vận dụng sáng tạo
tưởng Hồ Chí Minh và quan điểm của chủ nghĩa Mác – Lênin về vai trò của quần chúng nhân
dân trong cách mạng. Theo Đảng, sức mạnh quyết định của kháng chiến không chỉ nằm
quân đội toàn thể nhân dân được tổ chức và giác ngộ, biết chiến đấu vì độc lập dân tộc.
Về thực tiễn trong nước, sau Cách mạng Tháng Tám, Việt Nam là một nước nông nghiệp lạc
hậu, kinh tế kiệt quệ, chính quyền còn non trẻ, lực lượng vũ trang vừa hình thành. Để đối đầu
20

Preview text:

Đề cương
Lịch sử Đảng Cộng sản Việt Nam Mục lục
Nội dung đề cương................................................................................................................... 3
Dạng câu hỏi 1:.........................................................................................................................3
Câu 1: Trình bày sự thay đổi chủ trương của Đảng về nhiệm vụ chủ yếu trong cách mạng
Việt Nam 1930-1945? Rút ra nhận xét.................................................................................3
Câu 2: Theo anh/chị tại sao Nghị quyết (12/1965) Đảng nhận định: mặc dù đế quốc Mỹ
đưa vào miền Nam Việt Nam hàng chục vạn quân viễn chinh nhưng tương quan lực lượng
giữa ta và địch vốn không có sự thay đổi lớn? Ý nghĩa của nhận định này với thắng lợi
của cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước (1954 - 1975)................................................... 7
Câu 3: Nguyên nhân thắng lợi Cách mạng Tháng 8. Nguyên nhân nào quan trọng nhất, vì
sao?.......................................................................................................................................8
Câu 4: Nội dung phong trào 1939 - 1945, ý nghĩa đó có tác động như nào đến cuộc tổng
khởi nghĩa Cách mạng Tháng 8?........................................................................................10
Câu 5: Hãy nêu nguyên nhân thắng lợi của cuộc kháng chiến chống Pháp (1945-1954).
Nguyên nhân nào quan trọng nhất ? Vì sao?......................................................................12
Câu 6: Phân tích hoàn cảnh thế giới và Việt Nam sau tháng 8/1945. Khó khăn nào lớn
nhất? Vì sao?...................................................................................................................... 14
Câu 7: Phân tích chỉ thị kháng chiến kiến quốc 25/12/1945 và tại sao mục tiêu xây dựng
và phát triển chính quyền là quan trọng nhất?....................................................................16
Câu 8: Phân tích nguyên nhân thắng lợi của cuộc kháng chiến chống Mỹ (1954-1975),
Nguyên nhân nào quan trọng nhất? Giải thích vì sao?.......................................................18
Câu 9: Cơ sở và nội dung của phương châm kháng chiến toàn dân? Ý nghĩa?................. 20
Câu 10: Anh (Chị) làm rõ nội dung Luận cương chính trị tháng 10/1930 của Đảng Cộng
sản Đông Dương và rút ra nhận xét....................................................................................22
Câu 11: Phân tích đường lối đổi mới kinh tế được Đảng đề ra tại Đại hội VI (1986). Theo
Anh (Chị) tại sao Đảng xác định lấy đổi mới kinh tế làm trọng tâm?............................... 23
Câu 12: Phân tích hoàn cảnh quốc tế và Việt Nam giai đoạn sau cách mạng tháng Tám
năm 1945. Đâu là thuận lợi cơ bản nhất? Vì sao?..............................................................25
Câu 13: Cơ sở, nội dung phương châm “kháng chiến toàn diện”. Ý nghĩa thực tiễn đối với
Việt Nam.............................................................................................................................27
Câu 14: Phân tích vai trò của Nguyễn Ái Quốc trong việc thành lập Đảng Cộng Sản Việt
Nam. Con đường cách mạng của Nguyễn Ái Quốc có gì khác với những vị tiền bối trước
đó?...................................................................................................................................... 29
Câu 15: Nội dung của chỉ thị kháng chiến kiến quốc. Tại sao chỉ thị lại đáp ứng đúng yêu
cầu cấp bách của Cách mạng Việt Nam bấy giờ?.............................................................. 32
Câu 16: Trình bày quá trình thay đổi nhiệm vụ của Cách Mạng Việt Nam từ năm
1930-1941, nhận xét...........................................................................................................34
Câu 17: Phân tích ý nghĩa của cuộc kháng chiến chống pháp (1945-1954). Ý nghĩa nào
quan trọng nhất? Vì sao?....................................................................................................36
Câu 18: Phân tích nội dung cương lĩnh Cách mạng đại hội 3 (1960). Tính chất độc lập, tự
chủ, sáng tạo thể hiện như thế nào?....................................................................................38
Câu 19: Anh (Chị) so sánh Cương lĩnh chính trị đầu tiên (2/1930) và Luận cương chính trị
(10/1930) của Đảng. Theo Anh (Chị) nguyên nhân nào dẫn đến sự khác nhau giữa hai văn
kiện trên?............................................................................................................................ 40
Câu 20: Anh (Chị) hãy làm rõ nguyên nhân Đảng phải để ra đường lối đổi mới toàn diện
Đất Nước vào năm 1986? Tại sao Đảng xác định là đổi mới kinh tế làm trọng tâm?....... 42
Câu 21: Theo Anh (Chị) tại sao Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên
CNXH (2011) của Đảng coi kinh tế tư nhân là một trong những động lực của nền kinh tế?
Liên hệ thực tiễn Việt Nam hiện nay..................................................................................44
Câu 22: Anh (Chị) hãy làm rõ nội dung và ý nghĩa thực tiễn đường lối kháng chiến chống
thực dân Pháp của Đảng trong giai đoạn 1945 - 1950....................................................... 46
Câu 23: Phân tích đặc điểm của cách mạng Việt Nam được chỉ ra trong Đại hội IV (1976)
của Đảng. Theo Anh (Chị) đặc điểm nào quan trọng nhất? Tại sao?.................................48
Câu 24: Theo Anh (Chị) tại sao Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên
CNXH (2011) của Đảng coi con người là trung tâm của chiến lược phát triển, là chủ thể
phát triển? Hãy chỉ ra ưu điểm, nhược điểm của nguồn nhân lực Việt Nam hiện nay.......50
Câu 25: Theo Anh (Chị) tại sao Đại hội VI (1986) của Đảng khẳng định dứt khoát xóa bỏ
cơ chế quản lý kinh tế tập trung quan liêu, hành chính, bao cấp? Cho đến nay tàn dư của
cơ chế này có còn tồn tại không? Vì sao?.......................................................................... 52
Dạng câu hỏi 2:.......................................................................................................................54
Câu 1: Trong thời kỳ đổi mới, tại sao khoa học công nghệ là yếu tố quan trọng để phát
triển nhanh và bền vững? Thành tựu Việt Nam................................................................. 54
Câu 2: Theo anh/chị tại sao Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên Chủ
nghĩa Xã hội (2011) của Đảng lại coi phát triển giáo dục và đào tạo là quốc sách hàng
đầu? Hãy liên hệ thực tiễn với Việt Nam hiện nay? Ưu, nhược điểm của giáo dục Việt
Nam hiện nay? Anh/chị cần làm gì để góp phần nâng cao chất lượng học tập của sinh
viên hiện nay?.....................................................................................................................56
Câu 3: Hoàn cảnh lịch sử sau tháng 7/1954. Theo Anh (Chị) đặc điểm lớn nhất của Việt
Nam lúc đó là gì? Khó khăn lớn nhất là gì, vì sao?............................................................58
Câu 4: Đặc trưng cơ bản của kinh tế tập trung, quan liêu, bao cấp trước thời kỳ đổi mới.
Cơ cấu kinh tế có ảnh hưởng như thế nào trước thời kỳ đổi mới?.....................................60
Câu 5: Tại sao trong công nghiệp hoá, hiện đại hoá, Đảng chỉ ra phát huy nguồn nhân lực
là yếu tố cơ bản để phát triển nhanh và bền vững? Liên hệ thực tiễn Việt Nam? Trình bày
ưu, nhược của nguồn nhân lực hiện nay?...........................................................................61
Câu 6: Phân tích đường lối đổi mới kinh tế thông qua tại đại hội đại biểu toàn quốc lần
thứ VI của Đảng (1986)? Tại sao Đảng ta lại kiên quyết xóa bỏ cơ chế tập trung, quan
liêu, bao cấp?......................................................................................................................62
Câu 7: Hãy giải thích vì sao khoa học công nghệ lại quan trọng trong đường phát triển
của Việt Nam. Nêu những thành tựu cụ thể Việt Nam đạt được trong những năm qua?...64
Câu 8: Phân tích hoàn cảnh lịch sử việt nam và thế giới sau năm 1975. Theo anh chị đâu 2
là hoàn cảnh khó khăn nhất................................................................................................ 66
Câu 9: Phân tích đặc trưng của xã hội XHCN cương lĩnh 2011. Tại sao Đảng xác định xây
dựng nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa là đặc trưng quan trọng?.............................67
Câu 10: Trong văn kiện thời kỳ đổi mới”toàn cầu hóa diễn ra mạnh mẽ và tác động lớn
đến việt nam”, hãy nêu thời cơ, thuận lợi và thách thức toàn cầu hóa đem lại?................ 69
Câu 11: Vì sao năm 1986 Đảng cộng sản Việt Nam lại đề ra đường lối đổi mới?.............71
Câu 12: Nêu nội dung bài học kinh nghiệm: Cách mạng là của dân do dân vì dân được
nêu ở cương lĩnh 2011, liên hệ trong thời kỳ đổi mới hiện nay......................................... 72
Câu 13: Phân tích đường lối đổi mới kinh tế được Đảng đề ra tại Đại hội VI (1986). Theo
Anh (Chị) tại sao Đảng xác định coi nền kinh tế có nhiều thành phần là một đặc trưng của
thời kỳ quá độ?................................................................................................................... 75
Câu 14: Anh (Chị) hãy làm rõ hoàn cảnh Việt Nam cuối thế kỷ XIX đầu thế kỉ XX. Hoàn
cảnh đó đưa ra yêu cầu gì đối với cách mạng Việt Nam?.................................................. 77
Câu 15: Anh (Chị) hãy làm rõ nội dung của Chỉ thị "Kháng chiến kiến quốc" được Đảng
đề ra vào ngày 25-11-1945. Tại sao trong Chỉ thị đó, Đảng xác định xây dựng và bảo vệ
chính quyền là nhiệm vụ quan trọng nhất?.........................................................................79
Câu 16: Phân tích 3 đặc điểm của cách mạng VN được nêu ra ở đại hội IV(1976) ? Đặc
điểm nào quan trọng nhất? Vì sao?.................................................................................... 81
Câu 17: Anh (Chị) hãy phân tích ba đặc điểm quan trọng của cách mạng Việt Nam được
nêu ra trong Đại hội IV (1976) của Đảng. Theo Anh (Chị) tại sao đặc điểm "Việt Nam
tiến thẳng lên CNXH từ một nền kinh tế còn phổ biến là sản xuất nhỏ, bỏ qua giai đoạn
phát triển TBCN" được coi là đặc điểm lớn nhất?............................................................. 84
Câu 18: Anh (Chị) hãy làm rõ chủ trương chiến lược mới của Đảng (1939-1945). Theo
Anh (Chị) chủ trương này có ý nghĩa quyết định như thể nào đến thắng lợi của cách mạng
tháng Tám năm 1945?........................................................................................................ 87
Câu 19: Anh (Chị) hãy làm rõ cơ sở và nội dung phương châm "kháng chiến toàn diện”
được Đảng đề ra trong đường lối kháng chiến chống thực dân Pháp (1945 -1954). Ý nghĩa
thực tiễn của phương châm này?........................................................................................91
Câu 20: Anh (Chị) hãy làm rõ nội dung và ý nghĩa đường lối kháng chiến chống Mỹ, cứu
nước (1965-1975) được thể hiện trong Nghị quyết 12 (12/1965) của Đảng......................93 3 Nội dung đề cương Dạng câu hỏi 1:
Câu 1: Trình bày sự thay đổi chủ trương của Đảng về nhiệm vụ chủ yếu trong cách
mạng Việt Nam 1930-1945? Rút ra nhận xét.
Từ năm 1930 đến 1945, cách mạng Việt Nam diễn ra trong bối cảnh một xã hội thuộc
địa nửa phong kiến dưới ách áp bức của thực dân Pháp, đồng thời chịu tác động mạnh mẽ từ
khủng hoảng kinh tế thế giới, sự trỗi dậy của chủ nghĩa phát xít và Chiến tranh thế giới thứ
hai. Sự biến động nhanh chóng của tình hình quốc tế – trong nước buộc Đảng Cộng sản Việt
Nam phải thường xuyên điều chỉnh chủ trương để phù hợp với mâu thuẫn chủ yếu của từng
giai đoạn. Vì vậy, nhiệm vụ trung tâm của cách mạng Việt Nam cũng thay đổi linh hoạt qua
từng thời kì, từ ưu tiên đấu tranh giai cấp, chuyển sang dân sinh – dân chủ, và cuối cùng xác
định dứt khoát giải phóng dân tộc là nhiệm vụ tối cao dẫn tới thắng lợi của Cách mạng Tháng Tám năm 1945.
● 1930–1935: Từ Cương lĩnh 1930 đến Luận cương 1930 – sự khác biệt và điều chỉnh ban đầu
Ngay từ Cương lĩnh chính trị đầu tiên (2/1930), Đảng xác định nhiệm vụ chủ yếu của
cách mạng là “đánh đổ đế quốc và phong kiến, làm cho nước Nam hoàn toàn độc lập” – tức
đặt nhiệm vụ giải phóng dân tộc lên hàng đầu. Chủ trương này ra đời từ việc Đảng nắm bắt
đúng mâu thuẫn chủ yếu trong xã hội thuộc địa: mâu thuẫn giữa nhân dân Việt Nam với đế
quốc xâm lược. Cương lĩnh phản ánh tư duy chính trị của Nguyễn Ái Quốc – coi độc lập dân
tộc là điều kiện tiên quyết để giải quyết vấn đề giai cấp. Chính chủ trương đúng đắn này đã
tạo được sự đồng thuận và mở đường cho sự đoàn kết các tầng lớp nhân dân trong giai đoạn đầu.
Tuy nhiên, Luận cương chính trị tháng 10/1930 lại nhấn mạnh đấu tranh giai cấp và coi “vấn
đề thổ địa là cái cốt của cách mạng”. Đây là hệ quả của bối cảnh: phong trào vô sản thế giới
đang dâng cao, Quốc tế Cộng sản chịu ảnh hưởng tả khuynh, và Trần Phú tiếp thu tư tưởng
cách mạng vô sản chặt chẽ. Luận cương đánh giá chưa đúng mối quan hệ giữa nhiệm vụ dân
tộc và nhiệm vụ giai cấp, làm cho chỉ đạo phong trào nghiêng mạnh về đấu tranh ruộng đất.
Tác động của nó là phong trào Xô Viết Nghệ – Tĩnh phát triển rất mạnh nhưng cũng dẫn đến
tổn thất lớn do chưa chú trọng xây dựng mặt trận dân tộc rộng rãi.
Đến giai đoạn 1932–1935, thực tiễn bị khủng bố, phong trào suy yếu buộc Đảng phải
điều chỉnh. Chỉ thị “Hội phản đế đồng minh” (11/1930) và chủ trương khôi phục tổ chức cho 4
thấy Đảng bắt đầu nhận ra sự cần thiết của liên minh các giai cấp, tầng lớp trong dân tộc để
phục hồi phong trào. Việc điều chỉnh này xuất phát từ yêu cầu thực tiễn: nếu tiếp tục đi theo
đường lối tả khuynh sẽ cô lập lực lượng cách mạng và không thể phát triển phong trào trong
điều kiện đàn áp khốc liệt.
● 1936–1945: Từ dân sinh – dân chủ đến đặt giải phóng dân tộc là tối cao
Giai đoạn 1936–1939, sự trỗi dậy của chủ nghĩa phát xít và thắng lợi của Mặt trận
Nhân dân Pháp khiến tình hình thuộc địa có những thay đổi nhất định. Đảng hiểu rằng nếu
tiếp tục đặt nhiệm vụ giành chính quyền ngay lúc này là không phù hợp với tình hình quốc
tế. Do đó, Đảng chuyển sang chủ trương đấu tranh dân sinh – dân chủ, tập trung vào quyền
lợi trước mắt: chống phát xít, chống khủng bố, đòi tự do dân chủ. Chủ trương mới được đề ra nhằm:
- Mở rộng lực lượng thông qua các tổ chức công khai và hợp pháp;
- Tạo dựng ảnh hưởng rộng rãi trong quần chúng;
- Tập hợp mọi giai cấp, tầng lớp yêu nước, chuẩn bị lực lượng cho nhiệm vụ chiến lược sau này.
Tác động của chủ trương này là phong trào dân chủ phát triển mạnh, lực lượng quần chúng
đông đảo trở thành chỗ dựa cho quyết sách chuyển hướng chiến lược năm 1939.
Từ 1939 đến 1945, Chiến tranh thế giới thứ hai bùng nổ và Nhật – Pháp cùng thống trị
Đông Dương làm cho mâu thuẫn dân tộc trở nên cực kỳ gay gắt. Trước tình thế đó, Trung
ương Đảng đã tiến hành chuyển hướng chiến lược (1939–1941), xác định giải phóng dân tộc
là nhiệm vụ tối cao, phê phán hạn chế của Luận cương 1930 và khẳng định: phải “chọn địch
nhân chính là đế quốc xâm lược” để tập trung mũi nhọn chống lại. Việc thành lập Mặt trận
Việt Minh, chủ trương khởi nghĩa vũ trang, và chuẩn bị lực lượng toàn dân là hệ quả tất yếu
của tình hình mới. Chủ trương này tác động quyết định đến thắng lợi của Cách mạng Tháng
Tám 1945 vì nó gắn chặt mục tiêu trước mắt (giành chính quyền) với yêu cầu khách quan của
thực tiễn (mâu thuẫn dân tộc lên đến đỉnh điểm, thời cơ cách mạng chín muồi).
Nhìn lại quá trình 1930–1945, có thể thấy sự thay đổi trong chủ trương của Đảng là
khoa học, tất yếu và nhất quán với quy luật phát triển của cách mạng thuộc địa. Đảng đã linh
hoạt điều chỉnh nhiệm vụ tùy theo sự biến đổi của bối cảnh, biết rút kinh nghiệm từ những
hạn chế tả khuynh ban đầu, kịp thời mở rộng lực lượng thông qua phong trào dân chủ và cuối
cùng xác định dứt khoát giải phóng dân tộc là nhiệm vụ tối cao. Những điều chỉnh này thể
hiện sự trưởng thành về tư duy lý luận, khả năng nắm bắt thời cơ, và khả năng vận dụng sáng
tạo chủ nghĩa Mác – Lênin vào điều kiện Việt Nam. Kết luận lại, sự thay đổi chủ trương của
Đảng giai đoạn 1930–1945 không chỉ giúp Đảng vượt qua sai lầm chiến lược, huy động tối 5
đa sức mạnh toàn dân mà còn dẫn tới thắng lợi của Cách mạng Tháng Tám 1945, mở ra kỷ
nguyên độc lập dân tộc và chế độ dân chủ nhân dân.
★ Chủ trương chiến lược của đảng từ 1930 đến 1945 có những cải thiện gì?
Trong giai đoạn 1930–1945, cách mạng Việt Nam diễn ra trong bối cảnh đất nước là
một xã hội thuộc địa nửa phong kiến, chịu sự áp bức của thực dân Pháp và sau đó là phát xít
Nhật, đồng thời chịu tác động mạnh mẽ của khủng hoảng kinh tế thế giới, sự trỗi dậy của chủ
nghĩa phát xít và Chiến tranh thế giới thứ hai. Tình hình quốc tế và trong nước biến động sâu
sắc đã đặt ra yêu cầu tất yếu đối với Đảng Cộng sản Việt Nam: phải không ngừng cải thiện
chủ trương chiến lược để đáp ứng kịp thời yêu cầu của cách mạng. Trên thực tế, từ năm 1930
đến 1945, đường lối chiến lược của Đảng có nhiều bước phát triển quan trọng, vừa thể hiện
sự vận dụng sáng tạo chủ nghĩa Mác – Lênin, vừa phản ánh sự trưởng thành về lý luận và khả
năng lãnh đạo của Đảng.
Trong giai đoạn 1930–1939, sự cải thiện quan trọng đầu tiên của Đảng thể hiện ở việc
xác định ngày càng đúng đắn nhiệm vụ của cách mạng thuộc địa. Cương lĩnh chính trị đầu
tiên (2/1930) đã đặt nhiệm vụ giải phóng dân tộc lên hàng đầu, thể hiện tư duy chính xác của
Nguyễn Ái Quốc về mâu thuẫn cơ bản của xã hội Việt Nam. Tuy nhiên, Luận cương chính trị
tháng 10/1930 lại chịu ảnh hưởng tư tưởng tả khuynh trong Quốc tế Cộng sản, nhấn mạnh
đấu tranh giai cấp và vấn đề thổ địa, khiến nhiệm vụ giải phóng dân tộc chưa được đặt đúng
vị trí trung tâm. Hạn chế này dẫn đến việc phong trào 1930–1931 tuy bùng nổ mạnh mẽ
nhưng phải chịu tổn thất nặng nề do chưa xây dựng được mặt trận đoàn kết dân tộc rộng rãi.
Từ năm 1932, Đảng đã điều chỉnh dần đường lối, khắc phục khuynh hướng “tả”, mở rộng lực
lượng và chuẩn bị cho sự phục hồi của phong trào. Đến phong trào dân chủ 1936–1939,
Đảng có bước cải thiện rõ rệt khi tạm thời chuyển sang đấu tranh dân sinh, dân chủ để tranh
thủ môi trường hợp pháp và huy động lực lượng quần chúng đông đảo. Sự chuyển hướng này
vừa phù hợp với bối cảnh quốc tế (Mặt trận Nhân dân Pháp) vừa giúp Đảng tích lũy lực
lượng và tạo tiền đề quan trọng cho giai đoạn cách mạng sau này.
Từ năm 1939 đến 1945, chủ trương chiến lược của Đảng có bước cải thiện mang tính
bước ngoặt khi Đảng tiến hành chuyển hướng toàn diện trước sự bùng nổ của Chiến tranh thế
giới thứ hai và sự thống trị tàn bạo của Nhật – Pháp. Phân tích chính xác mâu thuẫn chủ yếu
của xã hội lúc này – mâu thuẫn dân tộc – Đảng khẳng định giải phóng dân tộc là nhiệm vụ tối
cao và trước hết, tất cả các nhiệm vụ khác phải tạm gác lại. Trên cơ sở đó, Đảng quyết định
thành lập Mặt trận Việt Minh nhằm tập hợp toàn dân, thể hiện nhận thức sâu sắc rằng lực
lượng cách mạng phải là sức mạnh của toàn dân tộc chứ không chỉ giới hạn ở công – nông
như trước. Đồng thời, Đảng xác định con đường khởi nghĩa vũ trang là phương pháp chủ yếu
để giành chính quyền, chuẩn bị toàn diện về lực lượng chính trị, lực lượng vũ trang, căn cứ
địa và tổ chức lãnh đạo. Chủ trương “tích cực chuẩn bị, chờ thời cơ” cho thấy sự chủ động và
bản lĩnh của Đảng trong lãnh đạo cách mạng, đặc biệt khi nắm bắt đúng thời cơ sau sự kiện 6
Nhật đảo chính Pháp (3/1945), dẫn đến thắng lợi nhanh chóng của Tổng khởi nghĩa Tháng Tám.
Nhìn chung, những cải thiện trong chủ trương chiến lược của Đảng từ 1930 đến 1945
thể hiện rõ sự trưởng thành vượt bậc của Đảng trong tư duy lý luận và khả năng lãnh đạo
thực tiễn. Đảng đã sớm khẳng định vai trò quyết định của nhiệm vụ giải phóng dân tộc, biết
kịp thời sửa chữa hạn chế tả khuynh, linh hoạt trong việc đề ra các giai đoạn đấu tranh phù
hợp, đồng thời có tầm nhìn chiến lược khi chuyển hướng kịp thời trước biến động quốc tế.
Những cải thiện đó không chỉ củng cố sức mạnh của lực lượng cách mạng mà còn tạo nên
đường lối đúng đắn, đưa đến thắng lợi vĩ đại của Cách mạng Tháng Tám năm 1945, mở ra kỷ
nguyên mới cho dân tộc Việt Nam – kỷ nguyên độc lập, tự do và quyền làm chủ của nhân dân.
Câu 2: Theo anh/chị tại sao Nghị quyết (12/1965) Đảng nhận định: mặc dù đế quốc Mỹ
đưa vào miền Nam Việt Nam hàng chục vạn quân viễn chinh nhưng tương quan lực
lượng giữa ta và địch vốn không có sự thay đổi lớn? Ý nghĩa của nhận định này với
thắng lợi của cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước (1954 - 1975)
Trong năm 1965, chiến tranh Việt Nam bước vào giai đoạn ác liệt và phức tạp hơn khi
Mỹ chuyển chiến lược từ "Chiến tranh đặc biệt" sang "Chiến tranh cục bộ". Thực hiện ý đồ
chiến lược mới, Mỹ ồ ạt đưa quân viễn chinh và quân đồng minh vào miền Nam Việt Nam,
với số lượng từ khoảng 23.000 quân đầu năm 1965 tăng lên hơn 184.000 quân vào cuối năm.
Bên cạnh đó, Mỹ còn huy động tối đa sức mạnh không quân và hải quân, mở rộng chiến
tranh phá hoại miền Bắc, thực hiện các cuộc càn quét quy mô lớn với mục tiêu “tìm diệt” lực
lượng cách mạng. Những hành động này cho thấy Mỹ quyết tâm giành thắng lợi nhanh,
không để chiến tranh kéo dài. Trước bối cảnh đó, Hội nghị Trung ương Đảng lần thứ 12
(12/1965) ra đời Nghị quyết quan trọng, trong đó Đảng đưa ra nhận định chiến lược: “Mặc
dù đế quốc Mỹ đưa vào miền Nam Việt Nam hàng chục vạn quân viễn chinh nhưng tương
quan lực lượng giữa ta và địch vẫn không có sự thay đổi lớn.” Đây là sự đánh giá khách
quan, toàn diện về tương quan sức mạnh hai bên, phản ánh tư duy chiến lược sắc bén của
Đảng trong cuộc kháng chiến chống Mỹ.
Để lý giải cho nhận định này, trước hết phải thấy rằng tuy Mỹ có ưu thế vượt trội về
quân sự, vũ khí, phương tiện chiến tranh hiện đại nhưng điều đó không làm thay đổi bản chất
cuộc chiến ở Việt Nam. Quân đội Mỹ tuy mạnh nhưng lại tác chiến trong điều kiện địa hình
rừng núi phức tạp, hệ thống sông ngòi chằng chịt – hoàn toàn không phù hợp với lối đánh sở
trường của họ. Các căn cứ quân sự hiện đại của Mỹ vẫn bị cô lập, dễ bị tấn công do nằm
trong vòng vây của lực lượng cách mạng. Mặt khác, chiến lược “tìm diệt” dựa trên hỏa lực
mạnh của Mỹ không thể đánh bại chiến tranh du kích linh hoạt, cơ động và khó nắm bắt của
quân ta. Sức mạnh công nghệ tuy vượt trội nhưng lại không thể chuyển hóa thành ưu thế 7
chiến trường, bởi quân Mỹ không thể chủ động tìm thấy lực lượng cách mạng vốn dựa vào dân mà phát triển.
Quan trọng hơn, tương quan lực lượng không thay đổi lớn vì Mỹ thiếu yếu tố mà quân
dân Việt Nam có được: ý chí chiến đấu và tinh thần yêu nước. Quân đội Mỹ phần lớn là lính
đánh thuê hoặc lính nghĩa vụ, thiếu động cơ chiến đấu, chiến đấu trong tâm trạng xa lạ,
hoang mang trong môi trường chiến trường khắc nghiệt. Trong khi đó, quân dân Việt Nam
chiến đấu bằng tinh thần quật cường của một dân tộc yêu nước, ý chí độc lập và niềm tin tất
thắng. Đây là yếu tố tạo nên sự chênh lệch căn bản giữa hai bên. Cùng lúc đó, nhân dân Việt
Nam còn nhận được sự ủng hộ quan trọng của phong trào cộng sản và phong trào hòa bình
trên thế giới, đặc biệt là sự giúp đỡ từ Liên Xô, Trung Quốc và các nước xã hội chủ nghĩa. Sự
chi viện vũ khí, trang thiết bị và vật chất giúp ta duy trì sức mạnh chiến đấu lâu dài, trong khi
phong trào phản đối chiến tranh ở Mỹ làm suy yếu quyết tâm của chính phủ Mỹ. Như vậy,
mặc dù Mỹ tăng cường quân số và hỏa lực nhưng về tổng thể tương quan lực lượng không
nghiêng về Mỹ như họ kỳ vọng.
Nhận định trong Nghị quyết 12/1965 của Đảng không chỉ phản ánh hiện thực chiến
trường mà còn có ý nghĩa chiến lược sâu sắc đối với thắng lợi của cuộc kháng chiến. Trước
hết, nó củng cố niềm tin và tinh thần chiến đấu của quân dân ta, khẳng định con đường kháng
chiến trường kỳ, dựa vào sức mình, đánh bại ý chí xâm lược của đế quốc Mỹ. Nhận định
đúng đắn này giúp quân dân ta không hoang mang trước quy mô đưa quân ồ ạt của Mỹ, mà
trái lại càng kiên định chiến lược đánh lâu dài để bào mòn ý chí của đối phương. Thứ hai,
nhận định của Đảng giúp định hình phương pháp tác chiến phù hợp: kết hợp chiến tranh du
kích với chiến tranh chính quy, bám dân, bám địa bàn, sử dụng chiến thuật linh hoạt để vô
hiệu hóa ưu thế hỏa lực của Mỹ. Thực tiễn chiến trường sau đó chứng minh tính đúng đắn
của chiến lược này, đặc biệt qua các chiến thắng như Vạn Tường (1965), Plây Me – Ia Đrăng
(1965), và bước ngoặt lớn là cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Tết Mậu Thân 1968. Thứ ba,
nhận định chiến lược này đặt nền tảng cho những thắng lợi quyết định của giai đoạn cuối
chiến tranh, từ ký kết Hiệp định Paris 1973 đến Chiến dịch Hồ Chí Minh 1975, giải phóng
hoàn toàn miền Nam thống nhất đất nước.
Tóm lại, việc Đảng nhận định “tương quan lực lượng giữa ta và địch không có sự thay
đổi lớn” trong bối cảnh Mỹ ồ ạt đưa quân vào miền Nam là một đánh giá khoa học, chính xác
và mang tầm chiến lược. Nhận định này dựa trên sự hiểu rõ bản chất chiến tranh, điểm mạnh
– điểm yếu của hai bên và niềm tin vào sức mạnh chính nghĩa của dân tộc Việt Nam. Ý nghĩa
của nhận định không chỉ tạo niềm tin, củng cố ý chí chiến đấu mà còn định hướng chiến lược
quân sự đúng đắn, góp phần quyết định vào thắng lợi cuối cùng của cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước. 8
Câu 3: Nguyên nhân thắng lợi Cách mạng Tháng 8. Nguyên nhân nào quan trọng nhất, vì sao?
Cách mạng Tháng Tám năm 1945 là một bước ngoặt vĩ đại của lịch sử dân tộc Việt
Nam, đánh dấu sự sụp đổ hoàn toàn của ách thống trị thực dân – phong kiến và sự ra đời của
Nhà nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa. Thắng lợi ấy không chỉ phản ánh sức mạnh yêu
nước truyền thống của nhân dân ta mà còn là kết quả của sự kết hợp giữa những điều kiện
khách quan thuận lợi do tình hình quốc tế đem lại và những nhân tố chủ quan do Đảng tạo
dựng và dẫn dắt. Nhận diện đầy đủ các nguyên nhân thắng lợi và xác định nguyên nhân mang
tính quyết định nhất là cơ sở quan trọng để đánh giá giá trị lịch sử của cuộc cách mạng này.
● Nhóm nguyên nhân khách quan và chủ quan
Cách mạng Tháng Tám thắng lợi trước hết nhờ vào sự hội tụ của các nguyên nhân
khách quan thuận lợi. Sự bùng nổ và kết thúc của Chiến tranh thế giới thứ hai đã làm thay
đổi sâu sắc cục diện quốc tế và tạo ra khoảng trống quyền lực quyết định ở Đông Dương.
Việc Nhật đảo chính Pháp (3/1945) phá vỡ bộ máy cai trị thực dân, và ngay sau đó Nhật đầu
hàng Đồng minh (8/1945), khiến chính quyền phát xít ở Đông Dương hoàn toàn tê liệt, tạo
nên thời cơ “ngàn năm có một” để nhân dân Việt Nam vùng dậy giành chính quyền. Đồng
thời, chủ nghĩa phát xít bị đánh bại đã mở rộng ảnh hưởng của phong trào dân chủ – tiến bộ
và khuyến khích phong trào giải phóng dân tộc trên thế giới phát triển mạnh mẽ. Bối cảnh
quốc tế này tạo điều kiện thuận lợi cho cách mạng Việt Nam cả về tinh thần, tư tưởng và khả
năng tranh thủ sự ủng hộ quốc tế. Tuy nhiên, thắng lợi của Cách mạng Tháng Tám không thể
chỉ lý giải bằng những nguyên nhân khách quan, bởi bản thân thời cơ chỉ có ý nghĩa khi có
lực lượng đủ mạnh để nắm bắt. Đó chính là các nguyên nhân chủ quan, bắt nguồn từ sự
chuẩn bị chu đáo và toàn diện của Đảng Cộng sản Việt Nam. Trong suốt 15 năm lãnh đạo
cách mạng, Đảng đã xây dựng lực lượng chính trị hùng hậu thông qua Mặt trận Việt Minh,
xây dựng lực lượng vũ trang từ du kích đến đội quân chủ lực, hình thành các căn cứ địa chiến
lược và phát triển mạng lưới cách mạng rộng khắp cả nước. Quan trọng hơn, Đảng đã đề ra
đường lối đấu tranh đúng đắn, đặc biệt là chuyển hướng chiến lược giai đoạn 1939–1941, đặt
nhiệm vụ giải phóng dân tộc lên hàng đầu, thống nhất lực lượng toàn dân trong một mặt trận
duy nhất và chuẩn bị sớm về tư tưởng, lực lượng, tổ chức cho cuộc tổng khởi nghĩa. Nhờ đó,
khi thời cơ cách mạng đến, Đảng có đủ khả năng phát động và lãnh đạo một cuộc Tổng khởi
nghĩa diễn ra nhanh chóng, đồng loạt và giành thắng lợi chỉ trong vài ngày.
● Nguyên nhân quan trọng nhất
Trong các nguyên nhân nêu trên, nguyên nhân chủ quan – đặc biệt là sự lãnh đạo đúng
đắn, sáng tạo và kịp thời của Đảng Cộng sản Việt Nam – là nguyên nhân quan trọng nhất và
mang tính quyết định. Bởi chính Đảng là lực lượng duy nhất đã đề ra đường lối giải phóng
dân tộc phù hợp quy luật cách mạng thuộc địa, xác định đúng kẻ thù, đúng nhiệm vụ và đúng 9
phương pháp đấu tranh. Đảng đã vận dụng sáng tạo chủ nghĩa Mác – Lênin vào thực tiễn
Việt Nam, khắc phục những hạn chế trong nhận thức trước đây, đồng thời xây dựng chiến
lược huy động toàn dân vào cuộc đấu tranh vì độc lập. Sự lãnh đạo của Đảng quyết định ở
chỗ: Đảng chuẩn bị sớm và toàn diện cho khởi nghĩa, tổ chức lực lượng chính trị và vũ trang
vững mạnh; Đảng nhìn nhận thời cơ một cách chính xác và táo bạo, kịp thời phát động Tổng
khởi nghĩa trên cả nước; và Đảng là lực lượng duy nhất có khả năng kết hợp đúng đắn các
yếu tố chủ quan với thời cơ khách quan để biến thời cơ thành hiện thực thắng lợi. Nếu không
có sự lãnh đạo của Đảng, thời cơ lịch sử dù lớn đến đâu cũng không thể tự chuyển hóa thành
thắng lợi cách mạng, bởi lực lượng yêu nước lúc đó còn rời rạc, thiếu tổ chức, thiếu đường
lối thống nhất và thiếu khả năng chỉ đạo tổng lực. Chính vì vậy, giáo trình Lịch sử Đảng và
Đường lối cách mạng đều khẳng định sự lãnh đạo của Đảng là nhân tố giữ vai trò quyết định
nhất đối với thắng lợi của Cách mạng Tháng Tám.
Kết luận: Thắng lợi của Cách mạng Tháng Tám là kết quả tổng hòa của nhiều nguyên
nhân khách quan và chủ quan, nhưng trong đó, sự lãnh đạo đúng đắn và sáng tạo của Đảng
Cộng sản Việt Nam là nguyên nhân quan trọng nhất, chi phối và phát huy hiệu quả của mọi
nguyên nhân khác. Chính nhân tố này đã giúp Đảng nắm bắt thời cơ lịch sử, phát huy sức
mạnh toàn dân tộc và lãnh đạo một cuộc khởi nghĩa thần tốc, làm nên thắng lợi vĩ đại năm
1945. Cách mạng Tháng Tám vì thế không chỉ là kết quả tất yếu của phong trào cách mạng
Việt Nam, mà còn là minh chứng tiêu biểu cho vai trò quyết định của Đảng trong mọi thắng
lợi của cách mạng Việt Nam.
Câu 4: Nội dung phong trào 1939 - 1945, ý nghĩa đó có tác động như nào đến cuộc tổng
khởi nghĩa Cách mạng Tháng 8?
Giai đoạn 1939–1945 là thời kỳ bùng nổ của phong trào giải phóng dân tộc Việt Nam,
dưới sự lãnh đạo trực tiếp của Đảng Cộng sản Đông Dương. Sự thay đổi mạnh mẽ của tình
hình thế giới, sự thống trị tàn bạo của Pháp – Nhật và đặc biệt là sự chuyển hướng chỉ đạo
chiến lược của Đảng đã tạo nên một phong trào cách mạng rộng lớn, sâu sắc và mang tính
quyết định. Chính phong trào này đã trực tiếp chuẩn bị mọi điều kiện cho Tổng khởi nghĩa
Tháng Tám năm 1945. Việc phân tích nội dung phong trào cũng như tác động của nó đối với
thắng lợi của cuộc cách mạng sẽ giúp thấy rõ tính tất yếu và khoa học trong đường lối của Đảng.
● Nội dung phong trào giải phóng dân tộc 1939–1945
Phong trào giải phóng dân tộc 1939–1945 trước hết gắn liền với chuyển hướng chỉ
đạo chiến lược của Đảng. Trước tình hình Nhật kéo vào Đông Dương, mâu thuẫn dân tộc trở
nên gay gắt nhất, Đảng xác định nhiệm vụ trung tâm và cấp bách nhất của cách mạng là giải
phóng dân tộc khỏi ách thống trị Pháp – Nhật, tạm gác khẩu hiệu cách mạng ruộng đất để tập
trung toàn lực cho mặt trận dân tộc thống nhất. Hội nghị Trung ương 8 (5/1941) hoàn chỉnh 10
đường lối này bằng việc thành lập Mặt trận Việt Minh, tập hợp mọi giai tầng, tôn giáo, dân
tộc vào cuộc đấu tranh chung. Việt Minh trở thành trung tâm chính trị – tổ chức của toàn dân,
đóng vai trò lãnh đạo trực tiếp phong trào giải phóng dân tộc.
Song song với đó, phong trào phát triển mạnh mẽ trong xây dựng lực lượng chính trị
của quần chúng. Ở nông thôn, hàng loạt hội cứu quốc được thành lập như nông dân cứu
quốc, phụ nữ cứu quốc, thanh niên cứu quốc, thiếu niên cứu quốc, biến mỗi làng xã thành
một “căn cứ chính trị”. Ở đô thị, công nhân, trí thức, học sinh – sinh viên đấu tranh chống
phát xít Nhật, chống bắt phu, bắt lính, chống thu thuế, đòi cứu đói. Các phong trào ấy làm
cho uy tín của Việt Minh và Đảng tăng cao, củng cố tình cảm gắn bó giữa quần chúng với
cách mạng. Đặc biệt, nạn đói 1945 trở thành thời điểm cao trào khi khẩu hiệu “phá kho thóc
giải quyết nạn đói” lan rộng, nhân dân không chỉ cứu nhau mà còn tin tưởng tuyệt đối vào
Việt Minh – lực lượng duy nhất đứng ra tổ chức cứu đói.
Một nội dung quan trọng khác của phong trào là xây dựng lực lượng vũ trang cách
mạng và tiến hành đấu tranh vũ trang từng phần. Từ các đội du kích Bắc Sơn (1940), các đội
Cứu quốc quân, đến sự ra đời của Việt Nam Tuyên truyền Giải phóng quân (12/1944) và sau
đó là Việt Nam Giải phóng quân (1945), lực lượng vũ trang trở thành nòng cốt cho khởi
nghĩa. Những trận đánh như Phai Khắt, Nà Ngần, hay hoạt động du kích tại Cao – Bắc –
Lạng góp phần mở rộng vùng giải phóng, bảo vệ cán bộ và nhân dân, tạo điều kiện luyện
quân, rèn cán bộ chủ chốt.
Bên cạnh đó, phong trào đã xây dựng được căn cứ địa cách mạng, tiêu biểu là Căn cứ
địa Việt Bắc. Đây là trung tâm quân sự – chính trị của cả nước, nơi Đảng có thể hoạt động bí
mật, chuẩn bị khởi nghĩa, huấn luyện cán bộ, in ấn tài liệu, tích trữ vũ khí và vật chất. Tại
đây, Đảng lãnh đạo các cuộc khởi nghĩa từng phần, từng bước giành chính quyền ở nhiều địa
phương trước khi Tổng khởi nghĩa diễn ra.
Cuối cùng, phong trào 1939–1945 thể hiện tiến trình khởi nghĩa từng phần, đặc biệt từ
cuối năm 1944 đến nửa đầu 1945, với sự nổi dậy giành chính quyền ở nhiều huyện, châu,
tổng. Những sự kiện này cho thấy lực lượng cách mạng đã và đang trưởng thành mạnh mẽ,
tạo thế chủ động tuyệt đối của cách mạng khi thời cơ lớn đến.
Như vậy, phong trào giải phóng dân tộc 1939–1945 là một quá trình chuẩn bị toàn diện: xây
dựng tổ chức, lực lượng quần chúng, lực lượng vũ trang, căn cứ địa, đường lối và chiến lược,
tạo một nền móng vững chắc cho cuộc Tổng khởi nghĩa.
● Tác động và ý nghĩa của phong trào đối với Tổng khởi nghĩa Tháng Tám
Phong trào giải phóng dân tộc 1939–1945 có tác động mang tính quyết định đến thắng
lợi của Tổng khởi nghĩa Tháng Tám, bởi nó đã tạo ra thế – lực – thời để cách mạng bùng nổ
đúng thời điểm. Trước hết, phong trào đã chuẩn bị vững chắc về chính trị – tư tưởng, làm cho 11
khẩu hiệu “giải phóng dân tộc” thấm sâu vào đời sống quần chúng, thống nhất ý chí toàn dân
trong mục tiêu chống Nhật – Pháp. Mặt khác, phong trào đã tạo ra lực lượng chính trị áp đảo:
hàng triệu quần chúng có tổ chức trong các hội cứu quốc, sẵn sàng tham gia khởi nghĩa khi
thời cơ đến. Lực lượng vũ trang cách mạng cũng trưởng thành vượt bậc qua đấu tranh từng
phần, trở thành nòng cốt của khởi nghĩa, góp phần quyết định vào việc tấn công tiêu diệt các
cơ quan chủ chốt của địch.
Ngoài ra, phong trào đã hình thành vùng giải phóng rộng lớn, nơi Đảng hoạt động công khai,
trực tiếp chỉ huy khởi nghĩa và triển khai các kế hoạch toàn quốc. Những vùng này trở thành
“bàn đạp chiến lược”, giúp khởi nghĩa lan rộng và giành chính quyền thần tốc. Đặc biệt,
phong trào chống Nhật trong nạn đói đã tạo niềm tin tuyệt đối của quần chúng vào Việt
Minh, làm cho lực lượng cách mạng trở thành địa chỉ duy nhất mà người dân tin theo khi
Nhật đầu hàng Đồng minh.
Khi chính quyền Nhật – Pháp rơi vào khủng hoảng toàn diện tháng 8/1945, những thành quả
tích lũy từ phong trào 1939–1945 đã đưa cách mạng vào thế chủ động hoàn toàn. Chính nhờ
lực lượng, căn cứ địa và uy tín chính trị đã được chuẩn bị từ trước, Đảng có thể ra lệnh Tổng
khởi nghĩa đúng lúc, huy động nhân dân cả nước đứng lên, giành chính quyền trong vòng 15
ngày – một kỳ tích lịch sử không phải quốc gia thuộc địa nào cũng đạt được.
Kết luận: Phong trào giải phóng dân tộc 1939–1945 là quá trình chuẩn bị đầy đủ,
khoa học và có hệ thống cho Cách mạng Tháng Tám. Với việc xây dựng lực lượng chính trị
– quân sự, căn cứ địa, tổ chức quần chúng và phát triển phong trào đấu tranh trong cả nước,
Đảng đã tạo ra thế chủ động tuyệt đối để chớp thời cơ lịch sử. Chính vì vậy, thắng lợi Tháng
Tám năm 1945 không phải là sự bùng nổ ngẫu nhiên, mà là kết tinh tất yếu của một phong
trào cách mạng rộng lớn và mạnh mẽ dưới sự lãnh đạo của Đảng.
Câu 5: Hãy nêu nguyên nhân thắng lợi của cuộc kháng chiến chống Pháp (1945-1954).
Nguyên nhân nào quan trọng nhất ? Vì sao?
Cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp và can thiệp Mỹ (1945–1954) là một trong
những cuộc chiến tranh giải phóng dân tộc vĩ đại nhất của nhân dân Việt Nam trong thế kỷ
XX. Từ thế yếu ban đầu, phải đối diện với một kẻ thù có tiềm lực quân sự – kinh tế vượt trội,
nhân dân ta dưới sự lãnh đạo của Đảng đã từng bước đánh bại mọi chiến lược quân sự của
Pháp, tiến tới chiến thắng quyết định tại Điện Biên Phủ năm 1954, buộc Pháp ký Hiệp định
Genève. Thắng lợi ấy có nhiều nguyên nhân, bao gồm cả yếu tố chủ quan lẫn khách quan,
nhưng tất cả đều quy tụ vào vai trò lãnh đạo đúng đắn của Đảng. Việc nhận diện đầy đủ các
nguyên nhân thắng lợi và xác định nguyên nhân quan trọng nhất là cần thiết để hiểu rõ quy
luật thắng lợi của cuộc kháng chiến.
● Các nguyên nhân thắng lợi của kháng chiến chống Pháp 12
Thắng lợi của cuộc kháng chiến chống Pháp trước hết bắt nguồn từ đường lối kháng chiến
đúng đắn của Đảng. Ngay từ cuối năm 1946, Đảng đã xác định đường lối “toàn dân, toàn
diện, lâu dài, tự lực cánh sinh”, kết hợp đấu tranh quân sự, chính trị, ngoại giao; vừa kháng
chiến vừa kiến quốc; vừa xây dựng hậu phương, vừa phát triển lực lượng vũ trang. Đường lối
này phù hợp với điều kiện đất nước, phát huy tối đa sức mạnh tổng hợp của dân tộc, tạo thế
chiến lược để ta vượt qua giai đoạn cực kỳ khó khăn ban đầu.
Thứ hai, khối đại đoàn kết toàn dân tộc được củng cố thông qua Mặt trận Liên Việt và sau
này là Mặt trận Tổ quốc Việt Nam. Nhân dân ở mọi giai tầng, dân tộc, tôn giáo, từ nông dân,
công nhân đến trí thức, tư sản dân tộc đều hướng vào mục tiêu độc lập dân tộc, trở thành
nguồn lực chính trị – tinh thần vô cùng to lớn của cuộc kháng chiến.
Thứ ba, nhân dân ta đã xây dựng hậu phương kháng chiến vững mạnh. Miền Bắc trở thành
căn cứ địa của cả nước, phát triển kinh tế kháng chiến, cải cách ruộng đất từng bước, phát
triển giáo dục – văn hóa, sản xuất vũ khí và chi viện cho các chiến trường. Hậu phương mạnh
giúp duy trì sức chiến đấu lâu dài và tạo điều kiện tổ chức các chiến dịch ngày càng lớn.
Thứ tư, lực lượng vũ trang nhân dân trưởng thành nhanh chóng, gồm bộ đội chủ lực, bộ đội
địa phương và dân quân du kích. Trải qua các chiến dịch lớn như Việt Bắc 1947, Biên giới
1950, Hòa Bình, Tây Bắc, Thượng Lào, chiến dịch Điện Biên Phủ 1954…, ta ngày càng nâng
cao trình độ tác chiến, từ du kích tiến lên chính quy hiện đại, làm phá sản từng bước chiến
lược quân sự của Pháp và Mỹ.
Thứ năm, sự phối hợp của phong trào cách mạng thế giới, đặc biệt là sự giúp đỡ của Liên Xô,
Trung Quốc và các nước xã hội chủ nghĩa, tạo ra nguồn viện trợ vật chất – kỹ thuật quan
trọng giúp nâng cao sức mạnh của kháng chiến. Chính sự mở rộng mặt trận quốc tế và uy tín
của Việt Nam trong phong trào giải phóng dân tộc đã góp phần tạo thế thuận lợi trên bàn
ngoại giao Geneva. Cuối cùng, kẻ thù mang trong mình nhiều yếu tố suy yếu: Pháp phải gánh
nặng chiến tranh của cả hệ thống thuộc địa, chậm phát triển về kinh tế; chính trị nước Pháp
bất ổn; quân đội Pháp sa lầy về chiến lược và thiếu lực lượng bổ sung; nhân dân Pháp ngày
càng phản đối chiến tranh. Mỹ can thiệp sâu nhưng chưa trực tiếp đưa quân nên không cứu
vãn được thất bại của Pháp.
● Nguyên nhân quan trọng nhất
Trong tất cả các nguyên nhân nêu trên, nguyên nhân quan trọng nhất là sự lãnh đạo
đúng đắn, sáng suốt và kiên định của Đảng Cộng sản Việt Nam. Đây là nguyên nhân mang
tính quyết định, chi phối và phát huy hiệu quả của mọi nguyên nhân khác.
Thứ nhất, chỉ Đảng mới xác định đúng bản chất cuộc chiến tranh, đề ra đường lối kháng
chiến khoa học và phù hợp: “toàn dân – toàn diện – lâu dài – dựa vào sức mình”, đồng thời
kết hợp linh hoạt giữa quân sự, chính trị và ngoại giao. Nếu không có đường lối này, nhân 13
dân sẽ không thể phát huy hết tiềm lực, hậu phương không thể xây dựng, lực lượng vũ trang
không thể trưởng thành, và cuộc kháng chiến khó có thể kéo dài tới thắng lợi.
Thứ hai, chính Đảng là lực lượng tổ chức và quy tụ khối đại đoàn kết toàn dân, biến sức
mạnh của quần chúng thành sức mạnh có tổ chức, có sự chỉ huy thống nhất.
Thứ ba, Đảng đưa ra những quyết định chiến lược có tính bước ngoặt như mở chiến dịch
Biên giới 1950, quyết tâm tiêu diệt tập đoàn cứ điểm Điện Biên Phủ, mở ra thời cơ kết thúc chiến tranh.
Thứ tư, Đảng cũng là lực lượng duy nhất biết kết hợp chặt chẽ giữa đấu tranh quân sự và
ngoại giao, tạo điều kiện để ta giành thắng lợi trên chiến trường và buộc đối phương phải
đàm phán theo thế có lợi cho ta. Nói cách khác, đường lối của Đảng là kim chỉ nam cho mọi
hoạt động của kháng chiến, là nhân tố điều phối, kết nối, định hướng cả những nguyên nhân
khách quan lẫn chủ quan khác. Vì vậy, giáo trình khẳng định đây là nguyên nhân có ý nghĩa
quyết định nhất đối với thắng lợi của cuộc kháng chiến chống Pháp.
Kết luận: Thắng lợi của cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp (1945–1954) là kết
quả tổng hòa của nhiều nguyên nhân cả chủ quan lẫn khách quan, từ đường lối đúng đắn của
Đảng, khối đoàn kết toàn dân, hậu phương vững mạnh, lực lượng vũ trang trưởng thành đến
sự giúp đỡ quốc tế và những mâu thuẫn, suy yếu của đối phương. Tuy nhiên, nguyên nhân
quyết định nhất là sự lãnh đạo đúng đắn của Đảng Cộng sản Việt Nam, bởi chỉ có đường lối
chiến lược sáng suốt của Đảng mới có thể biến tiềm năng của dân tộc thành sức mạnh hiện
thực, đưa kháng chiến vượt qua mọi khó khăn, đánh bại thực dân Pháp và can thiệp Mỹ, tạo
tiền đề cho sự nghiệp giải phóng hoàn toàn miền Nam sau này.
Câu 6: Phân tích hoàn cảnh thế giới và Việt Nam sau tháng 8/1945. Khó khăn nào lớn nhất? Vì sao?
Sau thắng lợi của Cách mạng Tháng Tám 1945, nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa ra
đời, mở ra kỷ nguyên độc lập dân tộc và tự chủ của nhân dân Việt Nam. Tuy nhiên, ngay khi
chính quyền cách mạng được thành lập, đất nước lập tức phải đối mặt với hàng loạt khó khăn
vô cùng nghiêm trọng cả từ thế giới và trong nước. Những thử thách ấy diễn ra trong bối
cảnh quốc tế đầy biến động sau Chiến tranh thế giới thứ hai và trong tình thế nước nhà vừa
giành độc lập nhưng nền tảng kinh tế – xã hội hết sức kiệt quệ. Việc phân tích hoàn cảnh thế
giới và Việt Nam sau tháng 8/1945, đồng thời xác định khó khăn lớn nhất, là cơ sở quan
trọng để hiểu rõ vì sao Đảng ta đã xác định được nhiệm vụ cấp bách nhất của cách mạng và
lựa chọn những quyết sách đúng đắn giúp chính quyền non trẻ vượt qua “tình thế ngàn cân treo sợi tóc”.
● Hoàn cảnh thế giới và Việt Nam sau tháng 8/1945 14
Sau Chiến tranh thế giới thứ hai, cục diện quốc tế thay đổi sâu sắc, chuyển từ trật tự
nhiều cực sang thế đối đầu giữa hai siêu cường Liên Xô và Hoa Kỳ, khiến tình hình chính trị
thế giới trở nên căng thẳng và phức tạp. Các nước đế quốc, trong đó có Pháp và Anh, tích
cực tìm cách khôi phục hệ thống thuộc địa đã mất trong chiến tranh; đồng thời các lực lượng
đế quốc đều chưa sẵn sàng công nhận các chính quyền cách mạng mới giành độc lập. Riêng
tại Đông Dương, Pháp ráo riết chuẩn bị quay lại Việt Nam để tái lập ách thống trị. Theo
quyết định của Hội nghị Potsdam, quân Tưởng Giới Thạch được đưa xuống miền Bắc để giải
giáp quân Nhật, trong khi quân Anh vào miền Nam, tạo nên một tình thế phức tạp khi nhiều
lực lượng quốc tế cùng xuất hiện trên lãnh thổ Việt Nam. Điều này khiến nước Việt Nam Dân
chủ Cộng hòa, tuy vừa ra đời, đã lập tức rơi vào trạng thái bị bao vây và chịu sức ép từ nhiều phía.
Trong nước, khó khăn càng chồng chất hơn. Trước hết, chính quyền cách mạng vừa
được thành lập còn rất non trẻ, bộ máy nhà nước chưa hoàn chỉnh, chưa được quốc tế công
nhận, và phải đối mặt cùng lúc với nhiều thế lực thù địch. Ở miền Bắc, quân Tưởng kéo vào
kèm theo các tổ chức phản động như Việt Quốc, Việt Cách tìm cách lật đổ chính quyền. Ở
miền Nam, quân Anh dung túng cho Pháp quay lại xâm lược, nổ súng mở đầu cuộc chiến
tranh xâm lược lần thứ hai. Tàn quân Nhật vẫn còn vũ khí và có thể trở thành mối nguy nếu
không được xử lý đúng cách. Kinh tế đất nước kiệt quệ, công thương nghiệp đình đốn, ruộng
đồng bị bỏ hoang. Ngân sách Nhà nước gần như trống rỗng, nhiều khoản chi thiết yếu không
thể đáp ứng. Nạn đói 1945 để lại hậu quả vô cùng nặng nề: hơn hai triệu người chết và hàng
triệu người khác suy kiệt, làm cho đời sống nhân dân vô cùng thảm khốc và đe dọa trực tiếp
sự ổn định của chính quyền mới. Bên cạnh đó, hơn 90% dân số mù chữ, văn hóa lạc hậu, ý
thức công dân thấp, khiến việc xây dựng chế độ mới gặp rất nhiều trở ngại. Lực lượng vũ
trang cách mạng tuy có tinh thần chiến đấu cao nhưng trang bị thô sơ, quân số ít, không thể
so sánh với quân Pháp – Anh – Tưởng về mặt vật chất. Tất cả những yếu tố ấy kết hợp tạo ra
hoàn cảnh vô cùng hiểm nghèo cho chính quyền cách mạng, được giáo trình mô tả bằng cụm
từ “tình thế ngàn cân treo sợi tóc”. ● Khó khăn lớn nhất
Trong các khó khăn trên, khó khăn lớn nhất mà nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa
phải đối mặt sau tháng 8/1945 chính là sự đe dọa trực tiếp từ các thế lực thù trong – giặc
ngoài, đặc biệt là âm mưu trở lại xâm lược của thực dân Pháp kết hợp với sự chiếm đóng và
gây rối của quân Tưởng ở miền Bắc. Đây là khó khăn mang tính chất quyết định, bởi nó đe
dọa ngay lập tức sự tồn tại của chính quyền cách mạng. Trong khi các khó khăn kinh tế, tài
chính, văn hóa có thể giải quyết từng bước trong dài hạn, thì mối nguy tái xâm lược hoặc bị
lật đổ bởi các lực lượng phản động có thể khiến thành quả của Cách mạng Tháng Tám bị xóa
sổ chỉ trong thời gian ngắn. Thực dân Pháp với ý đồ khôi phục thuộc địa đã liên tục gây sức
ép quân sự và chính trị, trong khi quân Tưởng vào miền Bắc vừa vơ vét, vừa gây sức ép buộc 15
ta phải nhượng bộ, lại hậu thuẫn cho các tổ chức phản động chống phá chính quyền cách
mạng. Cùng lúc, miền Nam lại bị Pháp tấn công bằng quân sự, làm bùng nổ cuộc kháng
chiến ở Nam Bộ chỉ vài tuần sau ngày độc lập. Sự phối hợp của nhiều thế lực quốc tế, mỗi
lực lượng có mục tiêu và chiến lược riêng, khiến chính quyền cách mạng đứng trước nguy cơ
bị tiêu diệt nếu không có đường lối đối phó đúng đắn và linh hoạt. Đặc biệt, thời điểm đó
quân đội ta còn nhỏ, trang bị thô sơ, chưa đủ sức đối đầu trực tiếp với các đạo quân mạnh
hơn nhiều lần, nên việc xử lý quan hệ với Pháp, Tưởng và Nhật trở thành vấn đề sống còn.
Vì vậy, khó khăn lớn nhất chính là nguy cơ bị xâm lược và bị lật đổ bởi các lực lượng ngoại
bang kết hợp với phản động trong nước – mối đe dọa trực tiếp đối với sự sống còn của Nhà nước non trẻ.
Kết luận: Hoàn cảnh thế giới và trong nước sau Cách mạng Tháng Tám đặt nước Việt
Nam Dân chủ Cộng hòa vào tình thế vô cùng hiểm nghèo. Mặc dù phải đối mặt với nạn đói,
kiệt quệ tài chính, trình độ dân trí thấp và nền kinh tế hoang tàn sau chiến tranh, nhưng khó
khăn lớn nhất vẫn là sự bao vây, đe dọa của thù trong giặc ngoài, đặc biệt âm mưu quay lại
xâm lược của thực dân Pháp và hoạt động phá hoại của quân Tưởng. Đây là nguy cơ trực tiếp
đối với sự tồn tại của chính quyền cách mạng. Việc Đảng ta kịp thời đánh giá đúng tình hình,
xác định đúng khó khăn lớn nhất và đề ra đường lối giải quyết phù hợp là nhân tố quyết định
giúp nước Việt Nam non trẻ vượt qua được thử thách lịch sử của những năm đầu độc lập.
Câu 7: Phân tích chỉ thị kháng chiến kiến quốc 25/12/1945 và tại sao mục tiêu xây dựng
và phát triển chính quyền là quan trọng nhất?
Sau Cách mạng Tháng Tám năm 1945, chính quyền cách mạng non trẻ đứng trước
tình thế vô cùng hiểm nghèo: thù trong giặc ngoài bao vây, kinh tế kiệt quệ, nạn đói và mù
chữ đe dọa sự ổn định của đất nước. Trong bối cảnh ấy, ngày 25/12/1945, Ban Thường vụ
Trung ương Đảng đã ban hành Chỉ thị Kháng chiến – Kiến quốc, một văn kiện có ý nghĩa
chiến lược, xác định rõ nhiệm vụ trước mắt và lâu dài của cách mạng Việt Nam. Chỉ thị vừa
thể hiện sự nhạy bén của Đảng trong việc nhận diện “kẻ thù chính”, “nhiệm vụ cấp bách”,
vừa đề ra phương hướng đúng đắn để giữ vững chính quyền và chuẩn bị cho cuộc kháng
chiến chống Pháp. Việc phân tích chỉ thị và làm rõ vì sao nhiệm vụ xây dựng – phát triển
chính quyền được đặt lên hàng đầu giúp thấy rõ bản lĩnh và trí tuệ lãnh đạo của Đảng trong
thời điểm sống còn của dân tộc.
● Nội dung Chỉ thị Kháng chiến – Kiến quốc (25/12/1945)
Chỉ thị Kháng chiến – Kiến quốc được ban hành trong bối cảnh đất nước phải đối mặt
với nhiều nguy cơ cùng lúc: quân Tưởng và các đảng phái tay sai ở miền Bắc tìm cách lật đổ
chính quyền; quân Anh dung túng Pháp quay lại xâm lược ở miền Nam; tàn quân Nhật còn
vũ khí; kinh tế kiệt quệ; nạn đói và mù chữ lan rộng. Trên cơ sở đánh giá toàn diện tình hình,
Đảng xác định thực dân Pháp là kẻ thù chính của dân tộc Việt Nam, bởi chúng đã nổ súng tái 16
chiếm Nam Bộ và ráo riết chuẩn bị mở rộng chiến tranh ra toàn quốc. Việc nhận diện đúng
kẻ thù chính giúp Đảng hoạch định chiến lược linh hoạt: tạm thời hòa hoãn với quân Tưởng
để tránh đối đầu cùng lúc nhiều lực lượng, tập trung mũi nhọn vào chống Pháp – lực lượng
đe dọa trực tiếp nền độc lập vừa giành được.
Chỉ thị nêu rõ mục tiêu của cách mạng Việt Nam trong giai đoạn này là củng cố chính
quyền cách mạng, chống thực dân Pháp xâm lược, trấn áp bọn phản cách mạng, cải thiện đời
sống nhân dân, phát triển kinh tế – văn hóa. Đây là sự kết hợp chặt chẽ giữa nhiệm vụ kháng
chiến (đối phó với thù trong giặc ngoài) và nhiệm vụ kiến quốc (xây dựng nền móng vật chất
và tinh thần của nhà nước mới). Để thực hiện mục tiêu này, Đảng đề ra nhiều nhiệm vụ cụ
thể: xây dựng khối đại đoàn kết toàn dân thông qua Mặt trận Việt Minh; củng cố lực lượng
vũ trang và an ninh; phát động phong trào tăng gia sản xuất để chống đói; tổ chức lại tài
chính – ngân sách; mở phong trào diệt giặc đói, giặc dốt, giặc ngoại xâm; và từng bước xây
dựng bộ máy chính quyền từ trung ương đến địa phương.
Một điểm then chốt của chỉ thị là yêu cầu động viên toàn dân tham gia kháng chiến và
kiến quốc, biến mỗi người dân thành một chiến sĩ bảo vệ Tổ quốc và xây dựng đời sống mới.
Chỉ thị cũng nhấn mạnh sự cần thiết của việc kết hợp đấu tranh chính trị, quân sự và ngoại
giao, trong đó ngoại giao được xác định là mặt trận quan trọng để tranh thủ thời gian, phân
hóa kẻ thù và giữ thế chủ động chiến lược. Tất cả những nội dung này phản ánh tư duy chiến
lược của Đảng: vừa kiên trì bảo vệ chính quyền, vừa chủ động chuẩn bị lực lượng cho cuộc
kháng chiến chống Pháp không thể tránh khỏi.
● Tại sao xây dựng và phát triển chính quyền là nhiệm vụ quan trọng nhất?
Trong tất cả các nhiệm vụ của Chỉ thị Kháng chiến – Kiến quốc, xây dựng và phát
triển chính quyền cách mạng được đặt lên hàng đầu vì đây là yếu tố quyết định sự tồn tại của
nhà nước Việt Nam mới ra đời. Trước hết, chính quyền sau Cách mạng Tháng Tám còn rất
non trẻ, chưa được quốc tế công nhận, chưa có bộ máy hành chính hoàn chỉnh và bị bao vây
từ nhiều phía. Nếu chính quyền sụp đổ, mọi thành quả của cuộc cách mạng sẽ bị xóa bỏ, và
dân tộc có nguy cơ trở lại ách nô lệ. Vì vậy, nhiệm vụ số một lúc này là giữ vững và củng cố
chính quyền, bảo đảm sự lãnh đạo thống nhất và hiệu lực của Nhà nước trong mọi hoạt động
quân sự, chính trị, kinh tế và đối ngoại.
Thứ hai, chỉ khi có chính quyền vững mạnh thì Đảng mới có công cụ để tổ chức kháng chiến
và huy động sức mạnh toàn dân. Chính quyền là trung tâm của đoàn kết dân tộc, là cơ quan
tổ chức, điều phối mọi nguồn lực về tài chính, lương thực, nhân lực và tinh thần cho cuộc
kháng chiến. Một chính quyền mạnh mới có khả năng đàm phán ngoại giao, tạo thế cân bằng
tạm thời với các thế lực quốc tế, tránh nguy cơ bị tấn công đồng thời từ nhiều phía. Thứ ba,
việc xây dựng chính quyền còn gắn liền với nhiệm vụ cấp bách là giải quyết nạn đói, chống
mù chữ, ổn định đời sống xã hội. Nếu những vấn đề này không được xử lý, quần chúng sẽ 17
mất niềm tin vào chính quyền cách mạng, và các lực lượng phản cách mạng sẽ dễ dàng lợi
dụng để kích động chống đối.
Cuối cùng, xây dựng và phát triển chính quyền là điều kiện để thực hiện mục tiêu lâu dài của
cách mạng: xây dựng một xã hội dân chủ, độc lập, tiến bộ. Chính quyền mạnh đảm bảo pháp
luật được thi hành, an ninh được giữ vững, và nền tảng kinh tế – xã hội mới được hình thành.
Do đó, Đảng xác định đây là nhiệm vụ quan trọng nhất, là “trọng tâm của mọi trọng tâm”,
bởi nếu không có chính quyền, không thể có kháng chiến; còn nếu chính quyền được củng
cố, thì dù kẻ thù mạnh đến đâu, dân tộc vẫn có thể đứng vững và tiến tới thắng lợi.
Kết luận: Chỉ thị Kháng chiến – Kiến quốc (25/12/1945) là một văn kiện mang tính
chiến lược, góp phần định hướng nhiệm vụ cấp bách của cách mạng Việt Nam trong bối cảnh
thù trong giặc ngoài đe dọa nước nhà. Chỉ thị đã xác định đúng kẻ thù chính là thực dân
Pháp, đồng thời đề ra nhiệm vụ kết hợp hài hòa giữa kháng chiến và kiến quốc. Trong đó,
xây dựng và phát triển chính quyền được đặt lên vị trí quan trọng nhất vì đây là điều kiện tiên
quyết bảo đảm sự tồn tại của nhà nước cách mạng, là cơ sở để huy động sức mạnh toàn dân
và là nền tảng để đối phó với mọi âm mưu của kẻ thù. Chính việc xác định đúng nhiệm vụ
trọng tâm này đã giúp Đảng ta chèo lái đất nước vượt qua thử thách, giữ vững độc lập và
chuẩn bị lực lượng cho cuộc kháng chiến chống Pháp sau này.
Câu 8: Phân tích nguyên nhân thắng lợi của cuộc kháng chiến chống Mỹ (1954-1975),
Nguyên nhân nào quan trọng nhất? Giải thích vì sao?
Cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước (1954–1975) là cuộc chiến đấu lâu dài, gian
khổ và phức tạp nhất trong lịch sử hiện đại Việt Nam. Với tiềm lực kinh tế, quân sự vượt trội,
Mỹ đã tiến hành chiến tranh bằng nhiều chiến lược khác nhau, từ “chiến tranh đặc biệt”,
“chiến tranh cục bộ” đến “Việt Nam hóa chiến tranh”, hòng đè bẹp ý chí chiến đấu của nhân
dân Việt Nam. Tuy nhiên, dưới sự lãnh đạo của Đảng, nhân dân ta đã đánh bại mọi âm mưu
của đế quốc Mỹ, tiến tới thắng lợi trọn vẹn bằng Chiến dịch Hồ Chí Minh lịch sử năm 1975.
Việc phân tích nguyên nhân thắng lợi và xác định nguyên nhân quan trọng nhất giúp thấy rõ
quy luật thành công của cuộc kháng chiến vĩ đại này.
● Nguyên nhân thắng lợi của cuộc kháng chiến chống Mỹ (1954–1975)
Thắng lợi của cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước bắt nguồn trước hết từ đường lối lãnh
đạo đúng đắn, sáng tạo của Đảng. Đảng đã vận dụng sáng tạo chủ nghĩa Mác – Lênin và tư
tưởng Hồ Chí Minh để xây dựng đường lối kháng chiến toàn dân, toàn diện, lâu dài, đồng
thời kết hợp linh hoạt giữa đấu tranh quân sự, chính trị, ngoại giao, binh vận. Đặc biệt, Đảng
khẳng định con đường cách mạng Việt Nam là con đường độc lập dân tộc gắn liền với chủ
nghĩa xã hội, với phương châm “đánh địch bằng ba mũi giáp công: quân sự – chính trị –
ngoại giao”, “tiến công và nổi dậy”, kết hợp “hai miền” trong một chiến lược chung nhằm 18
mục tiêu thống nhất đất nước. Đường lối đó phù hợp thực tiễn, phát huy tối đa sức mạnh dân
tộc và sức mạnh thời đại.
Nguyên nhân quan trọng thứ hai là sức mạnh của khối đại đoàn kết toàn dân tộc, được phát
huy thông qua Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam và sau này là Chính phủ Cách mạng
lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam. Nhân dân ở cả hai miền, từ công nhân, nông dân
đến trí thức, học sinh, sinh viên, tôn giáo, dân tộc thiểu số đều đóng góp cho kháng chiến
bằng nhiều hình thức. Khối đoàn kết ấy tạo nên sức mạnh chính trị – tinh thần vô song mà
Mỹ không thể khuất phục.
Thứ ba, Miền Bắc xã hội chủ nghĩa đóng vai trò hậu phương lớn. Nhờ xây dựng kinh tế – văn
hóa – quốc phòng vững mạnh, miền Bắc không chỉ đảm bảo nhu cầu trong nước mà còn chi
viện khổng lồ về người, vật chất, vũ khí, trang thiết bị cho miền Nam. Miền Bắc trở thành
điểm tựa chiến lược, là nhân tố quyết định trong việc duy trì sức mạnh lâu dài của cuộc chiến.
Một nguyên nhân quan trọng nữa là sự trưởng thành vượt bậc của lực lượng vũ trang ba thứ
quân ở cả hai miền. Quân giải phóng miền Nam và Quân đội nhân dân Việt Nam đã sáng tạo
nhiều chiến thuật phù hợp điều kiện cụ thể, làm thất bại hàng loạt chiến lược chiến tranh của
Mỹ. Các chiến dịch lớn như Ấp Bắc, Tổng tiến công và nổi dậy Tết Mậu Thân 1968, Đường
9 – Nam Lào 1971, Điện Biên Phủ trên không 1972 và đặc biệt là Chiến dịch Hồ Chí Minh
1975 đã chứng minh sự áp đảo về nghệ thuật quân sự, ý chí chiến đấu và tinh thần cách mạng của quân dân Việt Nam.
Ngoài ra, thắng lợi của ta còn có nguyên nhân từ sự ủng hộ rộng rãi của phong trào cách
mạng thế giới. Liên Xô, Trung Quốc và các nước xã hội chủ nghĩa đã viện trợ lớn về vật
chất, quân sự, trong khi phong trào phản chiến tại Mỹ và phong trào hòa bình quốc tế gây áp
lực mạnh mẽ buộc Mỹ phải xuống thang chiến tranh. Đồng thời, Mỹ gặp phải nhiều mâu
thuẫn nội tại: chiến tranh kéo dài, hao người tốn của, kinh tế suy giảm, xã hội Mỹ chia rẽ sâu
sắc, quân đội Mỹ đánh mất tinh thần chiến đấu. Tất cả những yếu tố đó góp phần quan trọng
vào thất bại của Mỹ và thắng lợi của nhân dân Việt Nam.
● Nguyên nhân quan trọng nhất và lý do
Trong tất cả các nguyên nhân trên, nguyên nhân quan trọng nhất là sự lãnh đạo đúng
đắn, sáng suốt và kiên định của Đảng Cộng sản Việt Nam. Đây là nhân tố quyết định, xuyên
suốt và mang tính chi phối toàn bộ tiến trình cuộc kháng chiến.
Trước hết, chỉ có Đảng mới đề ra được đường lối chiến lược tổng thể, khoa học, phù hợp với
quy luật cách mạng Việt Nam và tương quan lực lượng giữa ta và địch. Từ quyết định phát
động chiến tranh nhân dân ở miền Nam, đến chủ trương xây dựng miền Bắc XHCN làm hậu
phương lớn, hay những quyết sách táo bạo như mở đường Trường Sơn, phát động Tổng tiến 19
công Mậu Thân 1968, tiến công chiến lược 1972 và cuối cùng là Tổng tiến công và nổi dậy
mùa Xuân 1975 – tất cả đều cho thấy tầm nhìn chiến lược của Đảng.
Thứ hai, sự lãnh đạo của Đảng đảm bảo sự thống nhất tuyệt đối giữa ý chí dân tộc và mục
tiêu chiến lược của cách mạng. Không có sự lãnh đạo đó, sức mạnh quần chúng không thể
phát huy tối đa, lực lượng vũ trang không thể phối hợp nhịp nhàng, và miền Bắc khó có thể
đóng vai trò hậu phương lớn cho miền Nam. Thứ ba, Đảng đã khéo léo kết hợp các hình thức
đấu tranh, đặc biệt là kết hợp chặt chẽ giữa quân sự và ngoại giao, tạo nên bước ngoặt quyết
định tại Hiệp định Paris 1973, buộc Mỹ phải rút quân, tạo thời cơ chiến lược để giải phóng
hoàn toàn miền Nam. Như vậy, chính đường lối đúng đắn của Đảng là nhân tố quyết định tập
hợp, tổ chức và huy động sức mạnh tổng hợp của dân tộc, biến tiềm năng thành sức mạnh
hiện thực để giành thắng lợi cuối cùng.
Kết luận: Thắng lợi của cuộc kháng chiến chống Mỹ (1954–1975) là kết quả tổng hợp
của nhiều nguyên nhân: đường lối đúng đắn của Đảng, sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc,
vai trò hậu phương lớn của miền Bắc, sự trưởng thành của lực lượng vũ trang, sự ủng hộ
quốc tế và những sai lầm chiến lược của Mỹ. Tuy nhiên, nguyên nhân quan trọng nhất là sự
lãnh đạo đúng đắn, sáng suốt và kiên định của Đảng Cộng sản Việt Nam, bởi Đảng là nhân tố
quyết định định hướng chiến lược, tổ chức lực lượng, phát huy sức mạnh toàn dân và kết hợp
sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại để đi tới thắng lợi trọn vẹn mùa Xuân 1975. Đây
chính là yếu tố then chốt làm nên kỳ tích vĩ đại của lịch sử dân tộc Việt Nam.
Câu 9: Cơ sở và nội dung của phương châm kháng chiến toàn dân? Ý nghĩa?
Trong cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược (1945–1954), Đảng đã đề ra
đường lối kháng chiến đúng đắn, trong đó phương châm toàn dân, toàn diện, lâu dài, dựa vào
sức mình giữ vai trò nền tảng. Phương châm kháng chiến toàn dân là điểm xuất phát quan
trọng để huy động sức mạnh của nhân dân, biến cả nước thành trận tuyến chiến đấu, bảo đảm
thắng lợi của cuộc kháng chiến trường kỳ. Việc phân tích cơ sở hình thành, nội dung và ý
nghĩa của phương châm này giúp lý giải sức mạnh của chiến tranh nhân dân Việt Nam và vai
trò lãnh đạo đúng đắn của Đảng trong thời kỳ kháng chiến chống Pháp.
● Cơ sở và nội dung của phương châm kháng chiến toàn dân
Phương châm kháng chiến toàn dân bắt nguồn từ cơ sở lý luận, cơ sở thực tiễn trong
nước và bối cảnh quốc tế sau năm 1945. Trước hết, về lý luận, Đảng vận dụng sáng tạo tư
tưởng Hồ Chí Minh và quan điểm của chủ nghĩa Mác – Lênin về vai trò của quần chúng nhân
dân trong cách mạng. Theo Đảng, sức mạnh quyết định của kháng chiến không chỉ nằm ở
quân đội mà ở toàn thể nhân dân được tổ chức và giác ngộ, biết chiến đấu vì độc lập dân tộc.
Về thực tiễn trong nước, sau Cách mạng Tháng Tám, Việt Nam là một nước nông nghiệp lạc
hậu, kinh tế kiệt quệ, chính quyền còn non trẻ, lực lượng vũ trang vừa hình thành. Để đối đầu 20