











Preview text:
lOMoAR cPSD| 61463864
* Phần Văn hóa và văn hóa học. Định vị văn hóa Việt Nam 1.
Định nghĩa tiêu biểu về văn hóa:
- Theo GS Trần Ngọc Thêm: “Văn hóa là 1 hệ thống hữu cơ các giá trị vật chất và tinh thần
do con người sáng tạo và tích lũy qua quá trình hoạt động thực tiễn trong sự tương tác giữa
con người với Môi trường tự nhiên và Môi trường xã hội”. Khái niệm này đã nêu ra 4 đặc
trưng cơ bản của văn hóa là tính hệ thống, tính giá trị, tính lịch sử và tính nhân sinh.
Kết luận: Các định nghĩa về văn hóa tóm lại có thể quy về 2 cách hiểu. Đó là những lối
sống, cách suy nghĩ, ứng xử (khi được hiểu theo nghĩa rộng) và là những phương diện văn
học, văn nghệ, học vấn (khi được hiểu theo nghĩa hẹp)
VD: Tục nhuộm răng, ăn trầu, xăm mình, tổ chức lễ hội ngày mùa, trang phục truyền thống
… (theo nghĩa rộng) hoặc đi đường đâm vào người khác không xin lỗi thiếu văn hóa ;
trình độ văn hóa trình độ học vấn (theo nghĩa hẹp)
2. Phân biệt văn minh, văn hiến và văn vật: Văn minh Văn hiến Văn vật Văn hóa - Văn minh - Văn hiến là -
Văn vật là - Văn hóa có đặc
chỉ trình độ văn hóa truyền thống văn những
truyền trưng lịch sử truyền
về phương diện vật hóa lâu đời, là một thống văn hóa thống. Ta có thể
trong những khái được biểu hiện ở chất, đặc trưng cho chứng minh qua
niệm bộ phận của nhiều nhân tài và di
1 khu vực rộng lớn, văn hóa.
tích lịch sử và là nền văn hóa Việt 1 thời đại hoặc cả
một trong những Nam giàu truyền nhân loại. Văn -
Văn hiến là khái niệm bộ phận thống lịch sử:
minh có thể so sánh văn hóa thiên về của văn hóa. truyền thống yêu
cao thấp, văn hóa truyền thống lâu nước, uống nước đời còn được lưu - Văn vật là chỉ là sự khác biệt. nhớ nguồn, yêu
giữ, là các giá trị văn hóa thiên về thương đồng loại… - Văn
tinh thần được bảo các giá trị vật chất. minh
vệ đến tận bây giờ. Ví dụ: Nhân tài, di -Là một quá trình
(civilization) gốc Ví dụ: phong tục tích, hiện vật. tích lũy và được
La tinh là “civitas”, tập quán, chữ viết... sang lọc lâu dài. nghĩa là “đô thị”, Văn hóa Việt Nam hàm ý một giai trải qua mấy ngàn đoạn con người đã
năm đã giữ lại được thoát khỏi tình nhiều nét văn hóa trạng cư trú tự đẹp, giàu bản nhiên sang cư trú có bố trí quy lOMoAR cPSD| 61463864 hoạch, mang nhiều sắc và loại bỏ đi yếu tố nhân tạo. - những văn hóa cổ Do vậy khái niệm hủ, không theo kịp văn minh chỉ khía thời đại(trọng nam cạnh vật chất, kĩ khinh nữ, tảo thuật. Văn minh là hôn,..) những thành tựu đã - Mang tính đạt được khi văn cộng đồng, dân tộc, hóa phát triển đến bản sắc. Văn hóa một mức độ nhất Việt Nam không định của một không được tạo từ một gian xã hội nhất người, hay một định. nhóm người mà là Ví dụ: văn minh Ai Cập cổ đại, văn thành quả chung minh Địa Trung của cộng đồng Hải, văn minh Hoa- người Việt, từ nhiều Hạ, văn minh trống dân tộc Việt. Vì vậy đồng, văn minh cơ mà trở nên vô cùng khí, văn minh châu đa dạng và đậm dà Âu... bản sắc. - Được bảo lưu, duy trì, ổn định, gắn với thói quen, tập quán, tâm linh. Dân tộc Việt Nam duy trì được nhiều nét đẹp văn hóa như thờ cúng tổ tiên, biết ơn,… - Văn hóa gắn bó với nhiều hơn vơi phương Đông nông nghiệp. Văn hóa Việt Nam được lOMoAR cPSD| 61463864 hình thành ven lưu vực các con song lớn, thuân lợi cho sản xuất nông nghiệp. Văn hóa
Văn hiến Văn vâṭ Văn minh Đối Vât cḥ ất
và Thiên về tinh Thiên về vâṭ Thiên về yếu tố vât cḥ ất tượng tinh thần thần chất khoa học kĩ thuâṭ
Chỉ sự phát triển, mang tính Tính lịch sử Tính chất giai đoạn Tính dân tôc ̣ Tính quốc tế Kiểu xã Phương Đông Phương Tây hôị
- Đặc trưng và chức năng của văn hóa. a. Đặc trưng:
• Tính hệ thống: đặc trưng này cần để phân biệt giữa hệ thống và tập hợp, nó
giúp phát hiện những mối liên hệ mật thiết giữa các hiện tượng,sự kiện thuộc
nền văn hóa,phát hiện các đặc trưng, những quy luật hình thành và phát triển của nó.
• Tính giá trị: văn hóa theo nghĩa đen là “trở thành đẹp có giá trị”.tính giá trị
là thước đo nhân bản của xã hội và con người. Nó cần để phân biệt giữa giá trị và phi giá trị.
• Tính nhân sinh: cho phép phân biệt văn hóa như một hiện tượng xã hội do
con người sáng tạo ra với các giá trị tự nhiên.
• Tính lịch sử: cho phép phân biệt văn hóa như một sản phẩm của quá trình và
được tích lũy qua nhiều thế hệ, chỉ ra trình độ phát triển của từng giai đoạn.
Tính lịch sử tạo nên văn hóa một bề dày, có chiều sâu và được duy trì bằng truyền thống văn hóa.
-truyền thống văn hóa là những giá trị tương đối ổn định được tích lũy và tái
tạo trong cộng đồng người qua không gian và thời gian,được đúc kết thành
những khuôn mẫu xã hội và cố định dưới dạng ngôn ngữ,chữ viết,nghi lễ,luật pháp,dư luận... b. Chức năng: lOMoAR cPSD| 61463864
Nhờ có tính hệ thống mà văn hóa với tư cách là một thực thể bao trùm mọi hoạt
động của xã hội,thực hiện chức năng tổ chức xã hội.Chính văn hóa thường xuyên
làm tăng độ ổn định của xã hội,cung cấp cho xã hội mọi phương tiện cần thiết để
ứng phó với môi trường tự nhiên và xã hội của mình.VĂn hóa là nền tảng của xã hội.
Nhờ thường xuyên xem xét các giá trị mà văn hóa thực hiện chức năng điều chỉnh
xã hội,giúp xã hội duy trì được trạng thái cân bằng động,không ngừng hoàn thiện
và thích ứng với những biến đổi của môi trường,giúp định hướng các chuẩn mực,làm
động lực cho sự phát triển của xã hội.
Do mang giá trị nhân sinh,văn hóa trở thành sợi dây nối liền con người với con
người,thực hiện chức năng giao tiếp và có tác dụng liên kết họ lại với nhau.Nếu
ngôn ngữ là hình thức thì văn hóa là nội dung của nó.
Truyền thống văn hóa tồn tại nhờ giáo dục.Văn hóa thực hiện chức năng giáo dục
không chỉ bằng những giá trị đã ổn định mà còn bằng cả những giá trị đang được
hình thành.Hai loại giá trị này đang là chuẩn mực mà con người hướng tới.Nhờ nó
mà văn hóa đóng vai trò quyết định trong việc hình thành nhân cách trồng người.Từ
chức năng giáo dục,văn hóa còn có chức năng phát sinh là đảm bảo tính kế tục của lịch sử.
- Tọa độ, loại hình văn hóa Việt Nam:
- Loại hình văn hóa gốc nông nghiệp Việt Nam: đặc trưng, mặt tích cực và hạn chế.
Do vị trí địa lý nằm ở góc tận cùng phía Đông-Nam Châu Á nên Việt Nam thuộc
loại hình văn hóa gốc nông nghiệp trồng trọt điển hình. Tất cả những đặc trưng của
loại hình văn hóa gốc nông nghiệp trồng trọt đều được thể hiện rất rõ nét trong đặc trưng văn hóa Việt Nam.
-Trong ứng xử với môi trường tự nhiên luôn có ý thức tôn trọng và sống hòa hợp
với thiên nhiên, tôn sùng thiên nhiên, thể hiện đức hiếu sinh. Do sống phụ thuộc vào
thiên nhiên nên cư dân nông nghiệp có ý thức tôn trọng và ước vọng sống hòa hợp
với thiên nhiên. Người Việt Nam mở miệng ra là nói “ nhờ trời”, “lạy trời”… Các
tín ngưỡng và lễ hội sung bái tự nhiên rất phổ biến ở các tộc người trên khắp mọi vùng đât nước.
- Vì sống bằng kinh tế nông nghiệp, nhất là nông nghiệp lúc nước, ở đó con ngườicó
sự phụ thuộc vào các hiện tượng tự nhiên (như trời, đất, nước, nắng, mưa...), nên lOMoAR cPSD| 61463864
trong nhận thức đã hình thành một lối tư duy tổng hợp, trọng quan hệ, trọng tình
biện chứng, thiên về kinh nghiệm, trực giác, cảm tính và duy linh (linh cảm).
- Trong tổ chức cộng đồng, con người nông nghiệp ưa tổ chức xã hội theo nguyêntắc
trọng tình, chuộng sự hòa thuận, tương trợ, quan tâm đến những láng giềng.
- Lối sống trọng tình đưa đến thái độ trọng đức, trọng văn, trọng Mẫu đề caonguyên lý Mẹ.
- Nguyên tắc trọng tình cũng là cơ sở của tâm lí hiếu hòa, chuộng sự bình đẳng,dân
chủ, đề cao tính cộng đồng, tính tập thể.
Về mặt tổ chức cộng đồng, người Việt có lỗi sống cố định lâu dài nên tạo ra những
mối quan hệ tình cảm thân thiết, gắn bó, hình thành nên lối sống trọng tình.. Nhưng
cũng từ đây hình thành lối sống tự trị, khép kín, hướng nội. Lối sống trọng tình cảm
tất yếu dẫn đến thái độ trọng đức, trọng văn, trọng phụ nữ. Người Việt coi: Nhất vợ
nhì trời; Lệnh ông không bằng cồng bà… Người phụ nữ cũng được xem là người
có vai trò quyết định trong việc giáo dục con cái: Phúc đức tại mẫu; Con dại cái
mang… Sự gắn bó cộng đồng tạo nên lối sống trọng tình nghĩa: Lá lành đùm lá rách;
Bầu ơi thương lấy bí cùng…; các quan hệ ứng xử thường đặt lý cao hơn tình: Một
bồ cái lý không bằng một tí cái tình.
- Lối tư duy tổng hợp biện chứng, cộng với nguyên tắc trọng tình dẫn đến lối
sốnglinh hoạt, luôn ứng biến cho phù hợp với từng hoàn cảnh cụ thể. - Tư duy tổng
hợp và phong cách linh hoạt của văn hóa nông nghiệp còn quy định thái độ dung
hợp trong tiếp nhận các yếu tố khoan dung trong ứng xử, mềm dẻo trong đối phó.
Vì sống theo tình cảm nên mọi người phải biết tôn trọng và cư xử bình đẳng, dân
chủ với nhau. Lối sống trọng tình và cách cư xử dân chủ dẫn đến tâm lý coi trọng
cộng đồng, coi trọng tập thể. Người nông nghiệp làm gì cũng phải tính đến tập thể,
luôn có tập thể sau lưng.
Như vậy, hầu như tất cả những đặc trưng của loại hình văn hóa gốc nông nghiệp
trồng trọt đều được thể hiện rõ nét trong cách tố chức đời sống, phương thức tư duy,
lối ứng xử của người Việt truyền thống.
- Tuy nhiên, mặt trái của tính linh hoạt và trọng tình là nó dẫn đến thái độ tùy tiện,
coi thường tính nguyên tắc, ý thức tổ chức kỷ luật kém. lOMoAR cPSD| 61463864
Văn minh nông nghiệp kéo dài đã làm chậm sự phát triển của tiến trình lịch sử Việt
Nam, không tạo ra được những tiền đề và điều kiện để bức ra khỏi cái khung phong
kiến phương Đông, làm hạn chế tính năng động, sáng tạo của con người Việt Nam
và dẫn đến sự trì trệ của xã hội Việt Nam.
* Phần diễn trình văn hóa Việt Nam
- Văn minh Đại Việt: những thành tựu, giá trị kết tinh và đặc điểm. * Đặc điểm:
1. Tín ngưỡng tôn giáo
Dưới thời các triều đình Lý-Trần-Hồ, văn hóa Đại Việt đã có sự pha trộn và kết hợp
hài hòa giữa những yếu tố Nam Á và Đông Á trong một vị thế cân bằng văn hóa.
Sự cân bằng đó được thể hiện trong tính đối trọng lưỡng nguyên và đan xen giữa
Phật, Đạo và Nho, giữa văn hóa dân gian làng xã và văn hóa quan liêu cung đình. 2. Giáo dục
Khi nhắc đến văn hóa Đại Việt thì không thể không nhắc đến giáo dục. Nền giáo
dục Đại Việt phát triển từ thời Phật giáo nhưng có sự hưng thịnh và phát triển mạnh
mẽ nhất vào thời kỳ Nho giáo.
Giáo dục Nho học đã có nhiều tiến bộ dưới thời Trần và minh chứng cho việc đó là
sự ra đời của Quốc Tử Giám, hay còn được gọi với các tên khác như Quốc tử viện,
Quốc học viện. Năm 1236 là thời điểm đặt chức Thượng thư tri viện Quốc tử viện,
đưa con em văn thần và tụng thần (chức quan tư pháp) vào học. 3. Kiến trúc
Kiến trúc là một trong những yếu tố quan trọng góp phần tạo nên sự độc đáo. ấn
tượng và phóng phú cho nền văn hóa Đại Việt. Dưới thời Lý-Trần-Hồ, các công
trình về nghệ thuật kiến trúc-điêu khắc được xuất hiện rộng rãi, Nhìn chung, kiến
trúc thời Lý mang tính hoành tráng, quy mô còn kiến trúc mang tính thực dụng,
khỏe khoắn. Công trình kiến lớn nhất thời Lý-Trần là thành Thăng Long với 3 vòng
thành Đại La, Hoàng thành và Cấm thành. *Thành tựu. Lĩnh vực Thành tựu lOMoAR cPSD| 61463864
- Nông nghiệp là ngành kinh tế chủ đạo và được các triều đại quan tâm. Kinh tế
- Thủ công nghiệp và thương nghiệp phát triển.
- Nhà nước quân chủ chuyên chế trung ương tập quyền được xây dựng và Chính trị
phát triển đến đỉnh cao dưới thời Lê Thánh Tông. -
Tư tưởng: dân tộc và thân dân. -
Tín ngưỡng thờ cúng Hùng Vương và tổ tiên: tín ngưỡng này tạo nên
Tư tưởng, tinhthần cởi mở, hòa đông tôn giáo của người Việt. tôn giáo -
Phật giáo, Đạo giáo, Thiên Chúa giáo có điều kiện phát triển ở Việt Nam ở từng thời kì -
Chữ Nôm đánh dấu bước phát triển của nền văn hóa dân tộc, ý thức
Giáo dục và tự cường và khẳng định vai trò, địa vị của tiếng Việt. văn học -
Văn học chữ Hán, văn học chữ Nôm và văn học dân gian tiếp tục phát triển. Khoa học -
Sử học: đã hình thành nên các cơ quan chép sử của nhà nước được
gọi là Quốc sử, nhiều bộ sử được biên soạn. -
Địa lý học: công trình như Dư địa chí, Hồng Đức bản đồ sách, Đại
Nam nhất thống chí, Gia Định thành thông chí,… -
Toán học: tác phẩm như Lập thành toán pháp, Toán pháp đại thành, Khải minh toán học,… -
Khoa học quân sự: có sự phát triển mạnh mẽ với nhiều phát minh
như súng đại bác, thuyền chiến có pháo. Tư tưởng quân sự cũng được xây dựng và hoàn thiện.
-Y học: bộ sách Nam dược thần hiệu, Hồng nghĩa giác tư y thư, Hải
Thương y tông tâm lĩnh,…Có nhiều danh y như Nguyễn Bá Tĩnh, Lê Hữu Trác,… lOMoAR cPSD| 61463864 - Âm nhạc:
+ Phát triển với nhiều thể loại: múa rối nước, ca đối đáp, hát ví giặm,… +
Từ thời Lê, âm nhạc cung đình có vai trò quan trọng, gắn liền với quốc thể.
+ Nhiều lễ hội được tổ chức hằng năm đã trở thành truyền thống chung của
Nghệ thuật các cộng đồng dân tộc Việt Nam. - Nghệ thuật:
+ Kiến trúc phát triển mạnh dưới thời Lý – Trần.
+ Điêu khắc trên đá, trên gốm rất độc đáo, mang đậm đà bản sắc dân tộc và
có sự tiếp thu nghệ thuật điêu khắc của Trung Quốc và Chăm-pa.
- Văn hóa Việt Nam thời cận đại: dấu ấn và ảnh hưởng của văn hóa phương Tây
trong tiếp biến văn hóa.
* Phần các thành tố văn hóa Việt Nam
- Tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên.
- Phật giáo/Nho giáo với văn hóa Việt Nam.
- Phong tục tập quán: khái niệm, chức năng và một số phong tục tiêu biểu.
+ Khái niệm: gắn liền với tín ngưỡng là phong tục. Đó là những thói quen ăn sâu
vào đời sống xã hội từ lâu, được đại đa số mọi người thừa nhận và làm theo. Phong
tục có trong mặt đời sống ở đây tập trung theo 3 nhóm chủ yếu: hôn nhân, tang ma và lễ hội/ lễ Tết.
+ Phong tục mang lại nhiều ý nghĩa đối với đời sống xã hội và đối với chế độ quản lý của Nhà nước: –
Phong tục làm cho sắc thái văn hóa trở nên đa dạng, giúp chúng ta phân biệt
được cộng đồng, dân tộc, đất nước. Có thể nói, phong tục là nét đặc trưng của một
quốc gia, một dân tộc, thậm chí là một làng, một xã, một thôn, một gia đình,… –
Phong tục là một trong những “thiết chế” tự sinh nhằm giúp cho hệ thống
những người có cùng phong tục hình thành nên cùng một thói quen, một lối sống
được xem là nền nếp, đạo đức, văn minh, tiến bộ. lOMoAR cPSD| 61463864 –
Phong tục được hình thành từ đời này sang đời khác, từ thế hệ này sang thế
hệ khác, tạo nên sự duy trì về những giá trị tốt đẹp, để những thói quen tốt được
không bị mai mọt mà được lưu giữ và phát triển ngàn năm. Chính vì lẽ đó mà phong
tục ngày càng phát triển, không chỉ giới hạn trong một phạm vi cộng đồng dân cư
cụ thể mà có còn lan truyền và được tiếp thu từ thôn này sang thôn khác, xã này
sang xã khác, huyện này sang huyện khác, tỉnh, thành phố này sang tỉnh, thành phố
khác, từ miền này sang miền khác,…. –
Phong trào xây dựng nếp sống văn hóa mới hiện nay, không chỉ đơn thuần
dựa vào ý nghĩ chủ quan mà phải biết vận dụng thuần phong mỹ tục vào nếp sống,
nếp suy nghĩ, hành động, cách đối nhân xử thế, hợp với trào lưu tiến hóa. –
Phong tục cũng góp phần không nhỏ trong ổn định trật tự xã hội, đóng góp
một phần lớn trong việc quản lý và quán triệt đời sống xã hội của những người đứng
đầu trong một nhóm cộng đồng dân cư.
*Một số những phong tục tiêu biểu: phong tục thờ cúng tổ tiên, những phong tục
trong hôn nhân, tục nhai trầu, giao thiệp hay các dịp lễ Tết như Tết Nguyên Tiêu,
Nguyên Đán, Tiết Thanh Minh,..v..v
* Phần Văn hóa và phát triển
- Vai trò của văn hóa với sự phát triển.
+ Khái niệm: Văn hóa là tất cả những gì con người tạo ra để phục vụ cuộc sống. Vậy
văn hóa là gì? Bạn có thể hiểu sơ lược văn hóa là tất cả những giá trị vật thể do con
người sáng tạo ra trên nền của thế giới tự nhiên. Văn hóa có liên quan đến mọi mặt
đời sống vật chất và tinh thần của con người. Bao gồm tất cả những sản phẩm của con người.
+ Vai trò của văn hóa: Văn hóa là một phạm trù rộng lớn bao gồm nhiều khía cạnh
khác nhau. Trong đời sống xã hội nền văn hóa cũng có nhiều vai trò to lớn. Cụ thể như: –
Văn hóa góp phần làm ổn định tình trạng xã hội: Bởi nó là những thứ đã tồn
tại thời gian dài, đi sâu vào trong nhận thức của từng người dân. Do vậy mọi hành lOMoAR cPSD| 61463864
vi của người dân đều chịu sự điều chỉnh. Bởi một khuôn khổ tập quán, đạo đức của dân tộc. –
Văn hóa đã góp phần làm cải thiện các mối quan hệ trong xã hội. Chúng đem
lại chất lượng sống tốt hơn cho người dân về cả mặt vật chất và tinh thần. –
Văn hóa được chia thành văn hóa vật thể và văn hóa phi vật thể: Vai trò này
đem lại được những giá trị lợi ích về tinh thần và vật chất cho con người. Từ đó tạo
dựng lên những nét đẹp truyền thống mang đậm dấu ấn của dân tộc Việt Nam.
- Vấn đề giữ gìn bản sắc văn hóa dân tộc trong thời kì hội nhập hiện nay.
Giữ gìn bản sắc văn hoá dân tộc là một tư tưởng luôn được đề cao trong lịch sử xây
dựng và phát triển đất nước của nhân dân Việt Nam. Trong bối cảnh hội nhập quốc
tế sôi động hiện nay, đây lại càng là vấn đề quan trọng. Ý thức giữ gìn bản sắc văn
hoá dân tộc của thế hệ trẻ, một lực lượng đông đảo và hùng hậu đang là điều được
quan tâm đặc biệt của xã hội.
Hơn bất kì ai, thanh niên, thiếu niên là những đối tượng bén nhạy nhất với các yếu
tố văn hoá. Nhìn vào thế hệ trẻ hôm nay, đặc biệt là thành viên của thế hệ 8X, 9X
người ta thấy biểu hiện một ý thức đối với bản sắc văn hoá dân tộc. Thế hệ trẻ bây
giờ nhanh nhạy hơn, năng động hơn, hiện đại hơn, đó là dấu hiệu đáng mừng, bởi
nó chứng tỏ tuổi trẻ Việt Nam luôn nắm bắt và theo kịp những yêu cầu của thời đại.
Thế nhưng, hãy quan sát kĩ một chút, chúng ta sẽ thấy trong cái năng động, hiện đại
đó còn có rất nhiều điều đáng suy ngẫm.
Đầu tiên là từ những cái dễ thấy nhất như đi đứng, nói năng, ăn mặc, phục trang. Xu
hướng chung của giới trẻ là bắt chước, học theo phim nước ngoài, theo các diễn
viên, các ca sĩ nổi tiếng. Những mái tóc nhuộm nhiều màu, những bộ quần áo cộc
cỡn, lạ mắt, những cử chỉ đầy kiểu cách, những câu nói lẫn lộn Tiếng Anh, Tiếng
Việt… Đây là biểu hiện của một thứ văn hoá đua đòi phù phiếm. Sự chân phương,
giản dị mà lịch lãm, trang nhã vốn là biểu hiện truyền thống của người Việt Nam đã
không được nhiều bạn trẻ quan tâm, để ý. Chạy theo những hình thức như vậy cũng
là biểu hiện của việc quay lưng lại với bản sắc văn hoá dân tộc. Ở một chiều sâu
khó thấy hơn là quan niệm, cách nghĩ, lối sống. Rất nhiều thanh, thiếu niên Việt
Nam không nắm được lịch sử dân tộc dù đã được học rất nhiều.
Trong khi đó lại thuộc lòng vanh vách tiểu sử, đời tư của các diễn viên, ca sĩ; không
biết, không hiểu và không quan tâm tới các lễ hội dân gian vốn là sinh hoạt văn hoá
truyền thống lâu đời của nhân dân trong khi rất sành về “chát”, về ca nhạc, cà phê.
Ngày lễ, tết họ đến nhà thờ hoặc vào chùa hái lộc nhưng không biết bàn thờ gia tiên lOMoAR cPSD| 61463864
đã có những gì. Họ coi sự cần cù, chăm chỉ là biểu hiện của sự cũ kỹ, lạc hậu… Tất
cả đều là biểu hiện của một sự thiếu ý thức trong giữ gìn bản sắc văn hoá dân tộc.
Tiếp xúc với nhiều công dân trẻ tuổi, người ta thấy dấu ấn của bản sắc văn hoá Việt
Nam là rất mờ nhạt, mà đậm nét lại là một thứ văn hoá ngoại lai hỗn tạp. Đó là một
thực trạng đang khá phổ biến hiện nay.
Có hai nguyên nhân cơ bản dẫn đến tình trạng trên: nguyên nhân khách quan và
nguyên nhân chủ quan. Về phía khách quan, đó chính là tác động của môi trường
sống, của bối cảnh thời đại. Thời đại đất nước mở cửa giao lưu, hội nhập với thế
giới cho nên văn hoá bên ngoài theo đó mà tràn vào Việt Nam. Đâu đâu cũng có thể
dễ dàng bắt gặp hình ảnh của một thứ văn hoá mới, hiện đại và đầy quyến rũ. Trong
một không gian chung như vậy, những nét văn hoá cổ truyền của người Việt dường
như đang có nguy cơ trở nên yếu thế.
Về chủ quan, thế hệ trẻ ngày nay ít quan tâm để ý đến vấn đề bản sắc văn hoá. Họ
thiếu ý thức giữ gìn, bởi thực chất là họ không hiểu được bản sắc văn hoá dân tộc là
gì và cũng không cần hiểu.
Những công dân trẻ Việt Nam sinh ra và lớn lên trên mảnh đất Việt Nam nhưng lại
không giống một người dân nước Việt. Họ có bề rộng nhưng thiếu chiều sâu, chiều
sâu của một tâm hồn Việt, một tính cách Việt. Văn hoá dân tộc là cội rễ bền vững
của tâm hồn mỗi con người, không lớn lên và bám chắc vào cội rễ đó, mỗi con người
chỉ còn là một cá nhân lạc loài giữa cộng đồng của mình. Đó là hậu quả đầu tiên
dành cho chính mỗi người, đặc biệt là những người trẻ tuổi. Và hãy tưởng tượng,
nếu thế hệ hôm nay quên đi bản sắc văn hoá dân tộc mình thì trong một tương lai
không xa chúng ta sẽ còn lại gì? Và những thế hệ tiếp nối sau này sẽ ra sao? Bản
sắc văn hoá là linh hồn, là gương mặt riêng của mỗi dân tộc, là yếu tố quan trọng để
khẳng định vị thế của dân tộc đó ở giữa cộng đồng thế giới. Đánh mất bản sắc riêng
trong nền văn hoá của mình là đánh mất quá khứ, mất lịch sử, mất cội nguồn và
chúng ta chỉ còn là một con số không ở giữa nhân loại. Thế hệ trẻ là những người
nắm giữ tương lai của đất nước, bởi vậy, nâng cao ý thức giữ gìn bản sắc văn hoá
dân tộc là một điều vô cùng cần thiết.
Vậy thì cần làm gì để thực hiện được điều đó. Trước hết, là phải từ sự tự giác ý thức
của mỗi người. Mỗi thanh niên, thiếu niên phải thực sự thấy được giá trị của văn
hoá dân tộc - những giá trị được chắt lọc và đúc kết từ ngàn đời, được gìn giữ, kế
thừa qua bao thăng trầm của lịch sử, đã và đang ăn sâu trong máu thịt của mỗi người
dân để dù có đi đâu, sống ở nơi nào, con người đó vẫn luôn là người dân nước Việt. lOMoAR cPSD| 61463864
Gia đình, cộng đồng xã hội cũng phải chung sức, chung lòng để tô đậm thêm nữa
những giá trị văn hoá đó trong sự trà trộn phức tạp của những luồng văn hoá khác.
Mặt khác, cũng cần phải thấy rằng, giữ gìn ở đây không có nghĩa là khư khư ôm lấy
cái đã có. Cần phải kế thừa phát huy nhưng đồng thời cũng phải phát triển nó lên
bằng cách kết hợp có lựa chọn với những yếu tố văn hoá mới tích cực. Từ đó hình
thành một nền văn hoá Việt Nam vừa truyền thống, vừa hiện đại, đa dạng, vừa thống
nhất, đảm bảo được yêu cầu “hoà nhập nhưng không hoà tan” trong một thời đại
mới. Thực hiện điều này là trọng trách, là nghĩa vụ của mỗi công dân, của mỗi thanh, thiếu niên hôm nay.
Giữ gìn bản sắc văn hoá dân tộc là đóng góp có ý nghĩa đầu tiên cho đất nước mà
mỗi thanh thiếu niên có thể làm và hãy làm bắt đầu từ việc điều chỉnh, uốn nắn chính
những hành vi, ý thức của bản thân mình.