






Preview text:
lOMoAR cPSD| 61463864
Đề cương Cơ sở văn hoá 1,Khái niệm văn hoá? ⁃
Quan niệm văn hoá là gì? Đn Trần Ngọc Thêm ⁃ Loại hình văn hoá ⁃
Phân biệt Văn hoá - văn minh - văn hiến ⁃
Đặc trưng chức năng cơ bản của văn hoá (4-4) 2, Diễn trình văn hoá ⁃
Thành tựu cơ bản của văn minh Đại Việt (kể: Nho giáo, vh chữ viết) ⁃
Giao lưu và tiếp biến vh: •
TQ ( mô hình nhà nước, Nho giáo, pháp luật, lễ tiết) , Ấn độ ( tôn giáo,
kiến trúc, điêu khắc ở Nam Trung Bộ và Nam Bộ) thời kì Trung Đại •
Phương Tây (Pháp- luồng gió mới với sự tiếp xúc về ngôn ngữ- chữ
quốc ngữ, thay đổi qn về nhân sinh, nghệ thuật vị nghệ thuật, chủ nghĩa lãng mạn
trong vh VN- thơ mới) thời kì cận đại. •
TQ là ảnh hưởng khá lâu dài và sâu sắc, Ấn độ là bao phủ bên ngoài
3, Vấn đề vh VN đương đại ⁃
Hội nhập và toàn cầu hóa (chủ trương nnc) Đọc: Văn hoá phát triển ⁃ Chủ nghĩa yêu nước VN •
Là gì? Thiêng liêng nhất •
Cơ sở? Bắt nguồn từ đâu? Yếu tố ảnh hưởng ( bối cảnh lịch sử: dựng
nước đi đôi với giữ nước - tôi rèn thử thách; đặc trưng gốc vh nông nghiệp VN,
truyền thống cộng đồng làng ,mang tính cộng đồng, truyền thống đoàn kết) •
Biểu hiện (trước đây: chiến đấu bảo vệ Tổ quốc: ptrao ba sẵn sàng của
thanh niên, ptrao ba đảm đang của phụ nữ, xả thân vì độc lập tự do; đoàn kết, đùm
bọc, nhường cơm sẻ áo; tinh thần tự hào dân tộc, khẳng định rõ ràng về chủ quyền
dân tộc, giữ gìn bản sắc văn hoá) (hiện nay: thi đua làm tốt nhất công việc của mình, lOMoAR cPSD| 61463864
phục vụ cho đất nước; phấn đấu học tập rèn luyện trở thành công dân VN hiện đại,
công dân toàn cầu; mỗi người dân là một xứ giả văn hoá- truyền bá hình ảnh tốt đẹp
về đnc; khát vọng VN hùng cường, giàu đẹp, văn minh) •
Văn hoá làng trong thời đại hiện nay ( đặc trưng: tính cộng đồng và tính
tự trị) ( quá trình đô thị hoá của văn hoá làng - phố) 4, Thành tố văn hoá VN ⁃
Tín ngưỡng tôn giáo (Phật giáo, thờ cúng tổ tiên, thờ mẫu) ⁃ Phong tục tập quán ⁃
Lễ hội (đặc trưng: phần lễ, phần hội; bảo tồn, lấy ví dụ một lễ hội cụ thể) lOMoAR cPSD| 61463864
Văn hóa Việt Nam thuộc về loại hình văn hóa gốc nông nghiệp điển hình với những đặc trưng chủ yếu sau đây: -
Trong ứng xử với môi trường tự nhiên luôn có ý thức tôn trọng và sống hòa hợp với
thiên nhiên, tôn sùng thiên nhiên, thể hiện đức hiếu sinh. -
Vì sống bằng kinh tế nông nghiệp, nhất là nông nghiệp lúc nước, ở đó con người có
sự phụ thuộc vào các hiện tượng tự nhiên (như trời, đất, nước, nắng, mưa...), nên trong
nhận thức đã hình thành một lối tư duy tổng hợp, trọng quan hệ, trọng tình biện chứng,
thiên về kinh nghiệm, trực giác, cảm tính và duy linh (linh cảm). -
Trong tổ chức cộng đồng, con người nông nghiệp ưa tổ chức xã hội theo nguyên
tắc trọng tình, chuộng sự hòa thuận, tương trợ, quan tâm đến những láng giềng. -
Lối sống trọng tình đưa đến thái độ trọng đức, trọng văn, trọng Mẫu đề cao nguyên lý Mẹ. -
Nguyên tắc trọng tình cũng là cơ sở của tâm lí hiếu hòa, chuộng sự bình đẳng, dân
chủ, đề cao tính cộng đồng, tính tập thể. -
Lối tư duy tổng hợp biện chứng, cộng với nguyên tắc trọng tình dẫn đến lối sống
linh hoạt, luôn ứng biến cho phù hợp với từng hoàn cảnh cụ thể. -
Tư duy tổng hợp và phong cách linh hoạt của văn hóa nông nghiệp còn quy định
thái độdung hợp trong tiếp nhận các yếu tố khoan dung trong ứng xử, mềm dẻo trong đối
phó. - Tuy nhiên, mặt trái của tính linh hoạt và trọng tình là nó dẫn đến thái độ tùy tiện,
coi thường tính nguyên tắc, ý thức tổ chức kỷ luật kém.
Văn minh nông nghiệp kéo dài đã làm chậm sự phát triển của tiến trình lịch sử Việt Nam,
không tạo ra được những tiền đề và điều kiện để bức ra khỏi cái khung phong kiến phương
Đông, làm hạn chế tính năng động, sáng tạo của con người Việt Nam và dẫn đến sự trì trệ của xã hội Việt Nam.
Trong cách ứng xử với môi trường tự nhiên, nghề trồng trọt buộc ngươi dân phải sống
định cư để chờ cây cối lớn lên, ra hoa kêt trái và thu hoạch. Do sống phụ thuộc nhiều vào
thiên nhiên nên dân nông nghiệp có ý thức tôn trọng và ươc vọng sống hòa hợp vời thiên
nhiên. Người Việt Nam mở miệng là nói “lạy trời”, “nhờ trời”, “ơn trời”…
Vì nghề nông, nhât là nghề nông nghiệp lúa nước, cùng một lúc phụ thuộc vào tất cả mọi
hiện tượng thiên nhiên (Trông trời trong đất, trông mây; Trông mưa, trông gió, trông ngày,
trông đêm…) cho nên, về mặt nhận thức, hình thành lối tư duy tổng hợp. Tổng hợp kéo
theo hiện chứng – cái mà người nông nghiệp quan tâm không phải là các yếu tố riêng rẽ,
mà là những mối quan hệ qua lại giữa chúng. Tổng hợp là bao quát được mọi yếu tố, còn
biện chứng là chú trọng đến các mối quan hệ giữa chúng. Người Việt tích lũy được một
kho kinh nghiệm hết sức phong phú về các loại quan hệ này: Quạ tắm thì ráo, sáo tắm thì
mưa; Ráng mỡ gà, ai có nhà phải chống; Được mùa lúa thì úa mùa cau, được mùa cau thì đau mùa lúa… lOMoAR cPSD| 61463864
về mặt tổ chức cộng đồng, con người nông nghiệp ưa sống theo nguyên tắc trọng tình.
Hàng xóm sống cố định lâu dài với nhau phải tạo ra một cuộc sống hòa thuận trên cơ sở
lấy tình nghĩa làm đầu
Trong truyền thống Việt Nam, tinh thần coi trọng ngôi nhà à coi trọng cái bếp à coi trọng
người phụ nữ là hoàn toàn nhất quán và rõ nét: Phụ nữ Việt Nam là người quản lí kinh tế,
tài chính trong gia đình – người nắm tay hòm chìa khóa. Chính bởi vậy mà người Việt Nam
coi Nhất vợ nhì trời; Lệnh ông không bằng cồng bà…; còn theo kinh nghiệm dân gian thì
Ruộng sâu trâu nái, không bằng con gái đầu lòng. Phụ nữ Việt Nam cũng chính là người
có vai trò quyết định trong việc giáo dục con cái: Phúc đức tại mẫu, Con dại cái mang. Vì
tầm quan trọng của người mẹ cho nên trong tiếng Việt, từ cái với nghĩa là “mẹ” đã mang
thêm nghĩa “chính, quan trọng”: sông cái, đường cái, đũa cái, cột cái, trống cái, ngón tay
cái, máy cái…Tư tưởng coi thường phụ nữ là từ Trung Hoa truyền vào (Nhất nam viết hữu,
thập nữ viết vô; Nam tôn nữ ti; Tam tòng); đến khi ảnh hưởng này trở nên đậm nét (từ lúc
nhà Lê tôn Nho giáo làm quốc giáo), người dân đã phản ứng dữ dội về việc đề cao “Bà
chúa Liễu” cùng những câu ca dao như: Ba đồng một mớ đàn ông, Đem bỏ vào lồng cho
kiến nó tha, Ba trăm một mụ đàn bà, Đem về mà trải chiếu hoa cho ngồi!
Không phải ngẫu nhiên mà vùng nông nghiệp Đông Nam Á này được nhiều học giả phương
Tây gọi là “xứ sở Mẫu hệ” (le Pays du Matriarcat). Cho đến tận bây giờ, ở các dân tộc ít
chịu ảnh hưởng của văn hóa Trung Hoa như Chàm hoặc hoàn toàn không chịu ảnh hưởng
như nhiều dân tộc Tây Nguyên (Êđê, Giarai…), vai trò của người phụ nữ vẫn rất lớn: phụ
nữ chủ động trong hôn nhân, chồng về ở đằng nhà vợ, con cái đặt tên theo họ mẹ… Cũng
không phải ngẫu nhiên mà cho đến nay, người Khmer vẫn gọi người đứng đầu phum, sóc
của họ là mê phum, mê sóc (mê=mẹ), bất kể đó là đàn ông hay đàn bà.
Lối tư duy tổng hợp và biện chứng, luôn đắn đo cân nhắc của người làm nông nghiệp
cộng với nguyên tắc trọng tình đã dẫn đến lối sống linh hoạt, luôn biến báo cho thích hợp
với từng hoàn cảnh cụ thể, dẫn đến triết lí sống Ở bầu thì tròn, ở ống thì dài; Đi với Bụt
mặc áo cà-sa, đi với ma mặc áo giấy…
Sống theo tình cảm, con người còn phải biết tôn trọng và cư xử bình đẳng, dân chủ với
nhau. Đó là nền dân chủ làng mạc, nó có trước nền quân chủ phong kiến phương Đông và
nền dân chủ tư sản phương Tây. Lối sống trọng tình và cách cư xử dân chủ dẫn đến tâm lí
coi trọng cộng đồng, tập thể. Người nông nghiệp làm gì cũng phải tính đến tập thể, luôn có tập thể đứng sau.
Mặt trái của tính linh hoạt là thói tùy tiện biểu hiện ở tật co giãn giờ giấc (giờ cao su), sự
thiếu tôn trọng pháp luật… Lối sống trọng tình làm cho thói tùy tiện càng trở nên trầm
trọng hơn: Một bồ cái lí không bằng một tí cái tình… Nó dẫn đến tệ “đi cửa sau” trong giải
quyết công việc: Nhất quen, nhì thân, tam thần, tứ thế… Trọng tình và linh hoạt làm cho
tính tổ chức của người nông nghiệp kém hơn so với cư dân các nền văn hóa gốc du mục. lOMoAR cPSD| 61463864
Trong lối ứng xử với môi trường xã hội, tư duy tổng hợp và phong cách linh hoạt còn
quy định thái độ dung hợp trong tiếp nhận: ở Việt Nam không những không có chiến tranh
tôn giáo mà, ngược lại, mọi tôn giáo thế giới (Nho giáo, Phật giáo, Đạo giáo, Thiên chúa
giáo…) đều được tiếp nhận. Đối phó với các cuộc chiến tranh xâm lược, người Việt Nam
luôn hết sức mềm dẻo, hiếu hòa. Ngày xưa, trong kháng chiến chống ngoại xâm, mỗi khi
thế thắng đã thuộc về ta một cách rõ ràng, cha ông ta thường dừng lại chủ động cầu hòa,
“trải chiếu hoa” cho giặc về, mở đường cho chúng rút lui trong danh dự.
ĐẶC TRƯNG CỦA VĂN HÓA GỐC NÔNG NGHIỆP
Việt Nam ta từ xưa tới nay luôn được biết tới là một quốc gia có nên văn
hóa vô cùng phong phú và đa dạng trên tất cả các khía cạnh. Sự khác biệt
về cấu trúc địa hình, khí hậu, phân bố dân tộc, dân cư và sự khác nhau về
lối sống, lối sản xuất đã tạo ra nhiều vùng văn hóa có những nét đặc trưng
riêng tại Việt Nam.Và đó cũng là nguyên do hình thành nên loại hình văn
hóa gốc nông nghiệp mà hôm nay chúng ta sẽ cùng đi tìm hiểu. Việt Nam
là quốc gia nằm ở khu vực Đông Nam Á - khu vực điển hình của vùng văn
hóa Phương Đông. Môi trường sống của cư dân phương Đông là xứ nóng
sinh ra mưa nhiều (ẩm) tạo nên các con sông lớn với những vùng đồng
bằng trú phú nên đã hình thành nghề trồng trọt. Chính vì vậy mà chúng ta
có những đặc trưng của nền văn hóa gốc nông nghiệp:
Trong cách ứng xử với môi trường tự nhiên, nghề trồng trọt buộc lOMoAR cPSD| 61463864
Trong cách ứng xử với môi trường: nghề trồng trọt đã buộc ngươi dân phải sống định cư
để chờ cây cối lớn lên, ra hoa kêt trái và thu hoạch. Do sống phụ thuộc nhiều vào thiên
nhiên nên dân nông nghiệp có ý thức tôn trọng và ươc vọng sống hòa hợp vời thiên nhiên.
Người Việt Nam mở miệng là nói “lạy trời”, “nhờ trời”, “ơn trời”…
Người nông dân Việt trong tâm thức luôn coi trời là chỗ dựa cho nên có
những câu ca dao rất gần gũi như: “Lạy trời mưa xuống Lấy nước tôi uống Lấy ruộng tôi cày Lấy đầy bát cơm Lấy rơm đun bếp” Hay như:
“Ơn trời mưa nắng phải thì Nơi
thì bừa cạn nơi thì cày sâu”
Trong tư duy: Vì nghề nông,
nhât là nghề nông nghiệp lúa nước,
Trong tư duy: Vì nghề nông, nhât là nghề nông nghiệp lúa nước,cùng một lúc phụ thuộc
vào tất cả mọi hiện tượng thiên nhiên: đất, nước, mưa, nắng…Nắng, mưa nhiều quá hoặc
không nắng, không mưa đều nguy hiểm cả. Nên Người Việt có câu:
“Trông trời, trông đất, trông mây
Trông mưa, trông gió, trông ngày, trông đêm.” Hay:
“Trông cho chân cứng đá mềm
Trời yên biển lặng mới yên tấm lòng”
Cho nên trong nhận thức của người dân dần hình thành lối tư duy tổng hợp,
bao quát thiên về kinh nghiệm, trực giác, cảm tính và duy linh (linh
cảm).Tổng hợp kéo theo hiện chứng – cái mà người nông nghiệp quan tâm
không phải là các yếu tố riêng rẽ, mà là những mối quan hệ qua lại
giữa chúng. Tổng hợp là bao quát được mọi yếu tố, còn biện chứng là chú
trọng đến các mối quan hệ giữa chúng. Người nông dân ta quan sát từng yếu
tố, hiện tượng của tự nhiên để đúc kết ra kinh nghiệm trong sản xuất, trồng
trọt. Và để có thể nhớ một cách dễ dàng, có thể truyền lại cho nhiều đời, cha lOMoAR cPSD| 61463864
ông ta đã chuyển thể những kinh nghiệm khô khan đó thành những câu ca
dao, tục ngữ, thành ngữ gần gũi, giản dị, và xúc tích. Ví dụ như:
“Quạ tắm thì ráo, sáo tắm thì mưa”
“Cơn đằng Đông vừa trông vừa trông vừa chạy Cơn
đằng Nam vừa làm vừa chơi.
Cơn đằng Bắc, đổ thóc ra phơi
Cơn đằng Tây, mưa ngu bão ngáo.” “Đêm
tháng năm chưa nằm đã sáng
Ngày tháng mười chưa cười đã tối.”
Đó chính là đặc trưng tư duy của văn hóa gốc nông nghiệp mà nông
nghiệp lúa nước là điển hình
Trong tổ chức cộng đồng,
con người nông nghiệp ưa tổ chức xã hội
Trong tổ chức cộng đồng, con người nông nghiệp ưa tổ chức xã hội theo nguyên tắc trọng
tình, chuộng sự hòa thuận, tương trợ, quan tâm đến những láng giềng. Hàng xóm sống cố
định lâu dài với nhau phải tạo ra một cuộc sống hòa thuận trên cơ sở lấy tình nghĩa làm
đầu. Điều này cũng đã được đề cập rất nhiều trong ca dao, tục ngữ Việt Nam như:
“Bán anh em xa, mua láng giềng gần”
“Hàng xóm tối lửa tắt đèn có nhau”
Không chỉ là tình làng nghĩa xóm, dân ta còn luôn ưa chuộng hòa bình,
luôn có thái độ sống hòa thuận, tương trợ nước láng giềng. Từ xưa, khi
đất nước còn nghèo khó, vừa thoát khỏi chiến tranh, dân ta, bộ đội ta đã
không ngại ngần giúp đỡ nước bạn khi họ cần. Điển hình là sự kiện:
“Tháng 12/1978, trước lời kêu gọi của Mặt trận Đoàn kết dân tộc cứu
nước Campuchia, quân và dân Việt Nam đã phối hợp với các lực lượng
vũ trang cách mạng Campuchia tiến hành các cuộc tấn công Khmer Đỏ,
giải phóng hoàn toàn Campuchia”.
Hay như đến hiện tại, Việt Nam vẫn luôn giữ thái độ thân thiện, hòa đồng
không chỉ với các nước anh em láng giềng mà còn với tất cả các quốc gia trên thế giới