



















Preview text:
lOMoAR cPSD| 61464806
Đề cương cơ sở văn hóa Việt Nam
Câu 1:Phân tích một quan niệm về văn hóa mà anh/chị cho là tiêu biểu nhất? Phân
biệt văn hóa với văn minh, lấy ví dụ cụ thể từ nền văn hóa Việt Nam. A,
*Quan niệm về văn hóa của Hồ Chí Minh:”Vì lẽ sinh tồn cũng như mục đích của cuộc
sống, loài người mới sáng tạo và phát minh ra ngôn ngữ, chữ viết, đạo đức, pháp luật,
khoa học, tôn giáo, văn học, nghệ thuật, những công cụ cho sinh hoạt hằng ngày về ăn,
mặc, ở và các phương thức sử dụng toàn bộ những sáng tạo và phát minh đó tức là văn
hóa. Văn hóa là sự tổng hợp của mọi phương thức sinh hoạt cùng với biểu hiện của nó
mà loài người đã sản sinh ra nhằm thích ứng những nhu cầu đời sống và đòi hỏi của sự sinh tồn”. *Phân tích quan niệm:
-Quan niệm đã nêu ra cấu trúc của văn hóa, bao gồm: +Văn hóa vật chất +Văn hóa tinh thần
+Tổng hợp phương thức sinh hoạt
-Quan niệm bàn đến đặc trưng của văn hóa: tính vị nhân sinh, được thể hiện ở hai
phương diện: con người là chủ thể sáng tạo ra văn hóa, đồng thời cũng là chủ thể hưởng thụ văn hóa.
-Nhấn mạnh chức năng của văn hóa, trong đó có hai chức năng quan trọng là: duy trì
đời sống xã hội, phục vụ đời sống của con người và từ đó nâng cao giá trị của cuộc sống.
-Nhìn nhận các vấn đề trong quan hệ logic tổng hợp.
-Về hình thức: phát biểu mang tính chất quan niệm, không phải học thuật.
B, Phân biệt văn hóa với văn minh: Văn hóa Văn minh
-Văn hóa có đặc trưng lịch sử truyền -Văn minh gắn với hiện đại và thành tựu
thống. Ta có thể chứng minh qua nền văn khoa học kĩ thuật hiện đại. Nói dến văn
hóa Việt Nam giàu truyền thống lịch sử: minh, ta thường nhớ đến một nét nghĩa
truyền thống yêu nước, uống nước nhớ chung là “trình độ phát triển”, một lát cắt
nguồn, yêu thương đồng loại… lOMoAR cPSD| 61464806
đồng đại. Ví dụ nền ta nói văn minh nhân
loại phát triển rực rỡ với sự ra đời của
điện và hệ thống máy móc hiện đại. -Là
-Là một quá trình tích lũy và được sang những sáng tạo, phát kiến mang tính cá
lọc lâu dài. Văn hóa Việt Nam trải qua nhân. Ví dụ như Thomas Edison phát
mấy ngàn năm đã giữ lại được nhiều nét minh ra bóng đèn, Anbe phát minh ra
văn hóa đẹp, giàu bản sắc và loại bỏ đi chiếc máy tính đầu tiên…
những văn hóa cổ hủ, không theo kịp -Mang giá trị phổ thông toàn nhân loại,
thời đại(trọng nam khinh nữ, tảo hôn,..) quốc tế. Văn minh mang nét nghĩa rộng
-Mang tính cộng đồng, dân tộc, bản sắc. lớn, là thành quả của toàn nhân loại, được
Văn hóa Việt Nam không được tạo từ toàn thể con người công nhận và sử dụng.
một người, hay một nhóm người mà là -Thay đổi liên tục. Để phù hợp với sự thay
thành quả chung của cộng đồng người đổi của xã hội, văn minh biến đổi theo.
Việt, từ nhiều dân tộc Việt. Vì vậy mà trở Trước kia,con người luôn cho rằng trái đất
nên vô cùng đa dạng và đậm dà bản sắc đứng yên nhưng đến thế kỉ 17,con người
-Được bảo lưu, duy trì, ổn định, gắn với đã thay đổi cách nhìn và cho rằng trái đất quay quanh mặt trời.
thói quen, tập quán, tâm linh. Dân tộc
Việt Nam duy trì được nhiều nét đẹp văn -Văn minh gắn bó nhiều hơn với phương
hóa như thờ cúng tổ tiên, biết ơn,… -Văn Tây đô thị. Phương Tây có nhiều phát
hóa gắn bó với nhiều hơn vơi phương minh hiện đại.
Đông nông nghiệp. Văn hóa Việt Nam
được hình thành ven lưu vực các con
song lớn, thuân lợi cho sản xuất nông nghiệp.
Câu 2: Trình bày đặc trưng và chức năng của văn hóa *Đặc trưng của văn hóa
Các nhà nghiên cứu về văn hóa trong và ngoài nước đúc kết thành nhiều đặc trưng của
văn hóa, trong đó nổi bật nhất bà bốn đặc trưng cơ bản sau:
- Một là, tính hệ thống. Văn hóa là một hệ thống hữu cơ các giá trị về văn hóa vật
chất, văn hóa xã hội và văn hóa tinh thần của cộng đồng người. Từ những thành tố căn
bản này đã nẩy sinh và bao gồm những tập hợp nhỏ nhiều tầng bậc khác nhau tạo thành
một tổng thể phức tạp, phong phú.
Một là tính hệ thống. Văn hoá là hệ thống hữu cơ các giá trị về văn hoá vật chất, văn
hoá xã hội, văn hoá tinh thần của cộng đồng người. từ những thành tố căn bản này đã lOMoAR cPSD| 61464806
nảy sinh và bao gồm những tập hợp nhiều tầng bậc khác nhau tạo thành một tổng thể phức tạp, phong phú
Đặc trưng này giúp chúng ta phân biệt hệ thống với tập hợp, nó giúp phát hiện mối liên
hệ mật thiết giữa các hiện tượng, sự kiện thuộc 1 nền văn hoá, các quy luật, đặc trưng của văn hoá
- Hai là, tính giá trị. Văn hóa bao gồm các giá trị (giá trị thuộc về đời sống vật chất,
giá trị thuộc về đời sống tinh thần) trở thành thước đó về mức độ nhân bản của xã hội
và con người. Trong lịch sử phát triển của nhân loại có giá trị của văn hóa để tồn tại và
có giá trị của văn hóa để phát triển.
Văn hoá bao gồm các giá trị thuộc về đời sống vật chất và các giá trị thuộc về đời sống
tinh thần. Nó là thước đo mức độ nhân bản của xã hội và con người, phân biệt giữa giá
trị và phi giá trị. Trong lịch sử phát triển của nhân loại, có giá trị của văn hoá để tồn tại
và có giá trị của văn hoá để phát triển.
- Ba là, tính lịch sử. Văn hóa bao giờ cũng được hình thành qua một quá trình và được
tích lũy qua nhiều thế hệ, là những thành tựu do cộng đồng người trong quá trình tương
tác với môi trường tự nhiên và xã hội mà được sáng tạo và luôn hướng tới sự hoàn thiện
để đạt đến tính giá trị.
Văn hoá bao giờ cũng được hình thành qua một quá trình và được tích luỹ qua nhiều
thế hệ, là những thành tựu do cộng đồng người trong quá trình tương tác với môi trường
tự nhiên và xã hội được sáng tạo và luôn hướng tới sự hoàn thiện để đạt đến tính giá
trị. Tính lịch sử tạo cho văn hoá bề dày, chiều sâu, nó buộc văn hoá thường xuyên tự
điều chỉnh, tiến hành phân loại và tự phân bố lại các giá trị.
- Bốn là, tính nhân sinh. Văn hóa là một hiện tượng thuộc về xã hội loài người, gắn
liền với hoạt động thực tiễn của con người, là những giá trị do một cộng đồng người
sáng tạo ra, thuộc về con người, ở trong con người và mang dấu ấn người. Điều đó cho
thấy, con người vừa là chủ thể của văn hóa, đồng thời là khách thể của văn hóa, lại vừa là sản phẩm văn hóa.
Văn hoá là một hiện tượng thuộc về xã hội loài người, gắn liền với hoạt động thực tiễn
của con người, là những giá trị do một cộng đồng người sáng tạo ra, thuộc về con người,
ở trong con người và mang dấu ấn của người. điều đó cho thấy, con người vừa là chủ
thể của văn hoá, vừa là khách thể vừa là sản phẩm của văn hoá. *Chức năng của văn hóa:
+Chức năng tổ chức xã hội
+Chức năng điều chỉnh xã hội +Chức năng giao tiếp +Chức năng giáo dục lOMoAR cPSD| 61464806
*Phân tích một đặc trưng và chức năng của văn hóa:
Đặc trưng quan trọng của văn hóa là tính giá trị. Văn hóa theo nghĩa đen nghĩa là “trở
thành đẹp, thành có giá trị”, tính giá trị cần để phân biệt giá trị với phi giá trị. Nó là
thước đo mức độ nhân bản của xã hội và con người.
Các giá trị văn hóa, theo muc đích cố thể chia thành giá trị vật chất (phục vụ cho nhu
cầu vật chất) và giá trị tinh thần (phục vụ cho nhu cầu tinh thần), theo ý nghĩa có thể
chia thành giá trị sử dụng, giá trị đạo đức và giá trị thấm mĩ theo thời gian có thể phân
hiệt các giá trị vĩnh cừu và giá trị nhất thời. Sự phân biệt các giá trị theo thời gian cho
phép ta có đươc cái nhìn hiện chứng– và khách quan trong việc đánh giá tính giá trị của
sự vật, hiện tượng; tránh được những xu hướng cực đoan – phủ nhận sạch trơn hoặc tán dương hết lời.
Vì vậy mà, về mặt đồng đại, cùng một hiện tượng có thể có giá trị nhiều hay ít tùy theo
góc nhìn, theo bình diện được xem xét. Muốn kết luận một hiện tượng có thuộc phạm
trù văn hóa hay không phải xem xét mối tương quan giữa các mức độ “giá trị” và “phi
giá trị” của nó. về mặt lịch đại, cùng một hiện tượng sẽ có thể có giá trị hay không tùy
thuộc vào chuẩn mực văn hóa cùa từng giai đoạn lịch sử. Áp dụng vào Việt Nam, việc
đánh giá chế độ phong kiến, vai trò của Nho giáo, các triều đại nhà Hồ, nhà Nguyễn…
đều đòi hỏi một tư duy biện chứng như thế.
Nhờ thường xuyên xem xét các giá trị mà văn hóa thực hiện được chức năng quan trọng
thứ hai là chức năng điều chỉnh xã hội, giúp cho xã hội duy trì được trạng thái cân bằng
động, không ngừng tự hoàn thiện và thích ứng với những biến đổi của môi trường, giúp
định hướng các chuẩn mực, làm động lực cho sự phát triển của xã hội. *Lấy ví dụ chứng minh
Câu 3:Văn hóa Việt Nam thuộc về loại hình văn hóa gốc nông nghiệp điển hình
với những đặc trưng chủ yếu sau đây:
Do vị trí địa lý nằm ở góc tận cùng phía Đông-Nam Châu Á nên Việt Nam thuộc loại
hình văn hóa gốc nông nghiệp trồng trọt điển hình. Tất cả những đặc trưng của loại
hình văn hóa gốc nông nghiệp trồng trọt đều được thể hiện rất rõ nét trong đặc trưng văn hóa Việt Nam.
-Trong ứng xử với môi trường tự nhiên luôn có ý thức tôn trọng và sống hòa hợp với
thiên nhiên, tôn sùng thiên nhiên, thể hiện đức hiếu sinh
Cư dân Việt Nam chủ yếu sinh sống bằng nghề nông, trong cách ứng xử với tự nhiên,
do nghề trồng trọt buộc người dân phải sống định cư để chờ cây cối lớn lên, đơm hoa,
kết trái và thu hoạch, từ đó ưa thích lối sống ổn định, cho rằng” An cư lạc nghiệp” . Do
sống phụ thuộc vào thiên nhiên nên cư dân nông nghiệp có ý thức tôn trọng và ước
vọng sống hòa hợp với thiên nhiên. Người Việt Nam mở miệng ra là nói “ nhờ trời”, lOMoAR cPSD| 61464806
“lạy trời”… Các tín ngưỡng và lễ hội sung bái tự nhiên rất phổ biến ở các tộc người
trên khắp mọi vùng đât nước.
- Vì sống bằng kinh tế nông nghiệp, nhất là nông nghiệp lúc nước, ở đó con người
cósự phụ thuộc vào các hiện tượng tự nhiên (như trời, đất, nước, nắng, mưa...), nên
trong nhận thức đã hình thành một lối tư duy tổng hợp, trọng quan hệ, trọng tình biện
chứng, thiên về kinh nghiệm, trực giác, cảm tính và duy linh (linh cảm).
Vì nghề nông, nhất là nghề nông nghiệp lúa nước, cùng một lúc phụ thuộc vào nhiều
yếu tố thiên nhiên như : thời tiết, nước, khí hậu,... “ trông trời, trông đất, trông mây;
trông mưa, trông gió, trông ngày, trông đêm…” nên về mặt nhận thức, hình thành nên
lối tư duy tổng hợp- biện chứng, nặng về kinh nghiệm chủ quan cảm tính: sống lâu lên
lão làng, trăm hay không bằng tay quen… Người làm nông quan tâm không phải là
từng yếu tố riêng lẻ mà là những mối quan hệ giữa chúng. Người Việt tích lũy được
một kho kinh nghiệm hết sức phong phú về các loại quan hệ này: Quạ tắm thì ráo, sáo
tắm thì mưa; Được mùa lúa thì úa mùa cau, được mùa cau thì đau mùa lúa; Chuồn
chuồn bay thấp thì mưa, bay cao thì nắng, bay vừa thì râm…
-Trong tổ chức cộng đồng, con người nông nghiệp ưa tổ chức xã hội theo nguyên tắc
trọng tình, chuộng sự hòa thuận, tương trợ, quan tâm đến những láng giềng.
- Lối sống trọng tình đưa đến thái độ trọng đức, trọng văn, trọng Mẫu đề cao nguyênlý Mẹ.
- Nguyên tắc trọng tình cũng là cơ sở của tâm lí hiếu hòa, chuộng sự bình đẳng,
dânchủ, đề cao tính cộng đồng, tính tập thể.
Về mặt tổ chức cộng đồng, người Việt có lỗi sống cố định lâu dài nên tạo ra những mối
quan hệ tình cảm thân thiết, gắn bó, hình thành nên lối sống
trọng tình.. Nhưng cũng từ đây hình thành lối sống tự trị, khép kín, hướng nội. Lỗi sống
trọng tình cảm tất yếu dẫn đến thái độ trọng đức, trọng văn, trọng phụ nữ. Trong ngôi
nhà của người Việt rất coi trọng gian bếp, thể hiện sự coi trọng phụ nữ. Người Việt coi:
Nhất vợ nhì trời; Lệnh ông không bằng cồng bà… Người phụ nữ cũng được xem là
người có vai trò quyết định trong việc giáo dục con cái: Phúc đức tại mẫu; Con dại cái
mang… Sự gắn bó cộng đồng tạo nên lối sống trọng tình nghĩa: Lá lành đùm lá rách;
Bầu ơi thương lấy bí cùng…; các quan hệ ứng xử thường đặt lý cao hơn tình: Một bồ
cái lý không bằng một tí cái tình.
- Lối tư duy tổng hợp biện chứng, cộng với nguyên tắc trọng tình dẫn đến lối sốnglinh
hoạt, luôn ứng biến cho phù hợp với từng hoàn cảnh cụ thể. - Tư duy tổng hợp và phong
cách linh hoạt của văn hóa nông nghiệp còn quy định thái độ dung hợp trong tiếp nhận
các yếu tố khoan dung trong ứng xử, mềm dẻo trong đối phó.
Lối tư duy tổng hợp – biện chứng, luôn đắn đo cân nhắc của người làm nông nghiệp
cộng với nguyên tắc trọng tình đã dẫn đên lối sống linh hoạt, luôn thay đổi để thích hợp
với từng hoàn cảnh: Ở bầu thì tròn, ở ống thì dài; Đi với bụt mặc áo cà sa, đi với ma lOMoAR cPSD| 61464806
mặc áo giấy; … Mặt trái của tính linh hoạt là thói tùy tiện biểu hiện ở tật co giãn giờ
giấc, sự thiếu tôn trọng pháp luật, tệ đi “ cửa sau” để giải quyết công việc( Nhất quen,
nhì thân, tam thần, tứ thế).
Vì sống theo tình cảm nên mọi người phải biết tôn trọng và cư xử bình đẳng, dân chủ
với nhau. Lối sống trọng tình và cách cư xử dân chủ dẫn đến tâm lý coi trọng cộng
đồng, coi trọng tập thể. Người nông nghiệp làm gì cũng phải tính đến tập thể, luôn có tập thể sau lưng.
Trong lối ứng xử với môi trường xã hội, tư duy tổng hợp vfa phong cách linh hoạt còn
quy định thái độ dung hợp trong tiếp nhận: ở Việt Nam không những không có chiến
tranh tôn giáo mà mọi tôn giáo đều được tiếp nhận. Đối phó với các cuộc chiến tranh
xâm lược người Việt Nam luôn hết sức mềm dẻo, hiếu hòa.
Như vậy, hầu như tất cả những đặc trưng của loại hình văn hóa gốc nông nghiệp trồng
trọt đều được thể hiện rõ nét trong cách tố chức đời sống, phương thức tư duy, lối ứng
xử của người Việt truyền thống.
- Tuy nhiên, mặt trái của tính linh hoạt và trọng tình là nó dẫn đến thái độ tùy tiện, coi
thường tính nguyên tắc, ý thức tổ chức kỷ luật kém.
Văn minh nông nghiệp kéo dài đã làm chậm sự phát triển của tiến trình lịch sử Việt
Nam, không tạo ra được những tiền đề và điều kiện để bức ra khỏi cái khung phong
kiến phương Đông, làm hạn chế tính năng động, sáng tạo của con người Việt Nam và
dẫn đến sự trì trệ của xã hội Việt Nam.
Câu 4: Vai trò của văn hóa trong sự phát triển
*Văn hóa là nền tảng tinh thần của xã hội
-Đào tạo con người theo các giá trị chân-thiện-mĩ
-Hình thành trong phẩm chất mọi thành viên trong xã hội ý thức phát huy các tiềm năng
về thể lực, trí lực và nhân cách
-Tích cực xây dựng một môi trường văn hóa lành mạnh để có đủ sức đề kháng đẩy lùi
các tiêu cực xã hội, bài trừ những văn hóa phản tiến bộ.
*Văn hóa là động lực thúc đẩy sự phát triển của xã hội
-Sự phát triển của một dân tộc gắn liền với cái mới nhưng không tách rời cội nguồn, văn hóa
-Con người là nhân tố có vai trò quan trọng và là không thể thiếu trong sự phát triển của kinh tế, xã hội
-Văn hóa có khả năng tiếp thu và cải biên những yếu tố văn hóa ngoại sinh để biến
thành ngoại lực thúc đẩy sự phát triển của kinh tế, xã hội
-Văn hóa sẽ giải phóng và nhân lên mọi tiềm năng sáng tạo của con người trong mọi
lĩnh vực đời sống xã hội mà trước hết là kinh tế lOMoAR cPSD| 61464806
*Văn hóa là mục tiêu của sự phát triển
-Mục tiêu của sự phát triển ở nước ta: “Dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh”
Trong chiến lược phát triển kinh tế 2011-2020:
-Xác định: phát huy tối đa nhân tố con người, con người là chủ thể, nguồn lực chủ yếu
và là mục tiêu của sự phát triển”
-Yêu cầu: Tăng trưởng kinh tế kết hợp hài hòa với phát triển văn hóa, thực hiện công
bằng xã hội, không ngừng nâng cao chất lượng cuộc sống của nhân dân”.
*Văn hóa là mục tiêu của sự phát triển
-Phát triển phải hướng tới mục tiêu văn hóa- xã hội mới đảm bảo được sự bền vững và
trường tồn cho sự giàu mạnh của tổ quốc.
🡪Văn hóa có vai trò đặc biệt quan trọng trong việc bồi dưỡng, phát huy nhân tố con
người và xây dựng xã hội mới.Văn hóa giúp mở rộng hiểu biết, nâng cao dân trí, giúp
bồi dưỡng tư tưởng đúng đắn và tình cảm cao đẹp cho con người, cho nhân dân Việt
Nam lí tưởng độc lập dân tộc gắn với chủ nghĩa xã hội, đồng thời bồi dưỡng phong
cách, lối sống lành mạnh, hướng con người đến chân-thiện-mĩ để hoàn thiện bản thân.
Câu 5: Trình bày vai trò của Phật giáo trong đời sống văn hóa Việt Nam
Đạo Phật truyền bá ở Việt Nam tính đến nay đã gần 2000 năm, trải qua các thời
kỳ lịch sử của đất nước, Phật giáo từ lâu vốn đã đi sâu vào quần chúng nhân dân
Việt Nam, gắn bó với sinh hoạt cộng đồng của người Việt, một sự gắn bó tự nhiên
không do áp đặt của chính quyền, cả khi Phật giáo được tôn là Quốc giáo...
Nguồn gốc đạo Phật
Đạo Phật là một trong những tôn giáo lớn của thế giới, được ra đời vào khoảng thế kỷ
VI trước công nguyên, ở vùng phía Tây Bắc Ấn do thái tử Tất Đạt Đa sáng lập, hiệu là
Sakyamuni (Thích Ca Mâu Ni).
Đạo Phật ra đời trong hoàn cảnh rối ren của xã hội Ấn Độ bấy giờ. Thế kỷ VI trước
Công nguyên, lúc này Ấn Độ đang trong thời kỳ chiếm hữu nô lệ. Sự phân chia đẳng
cấp ngặt nghèo sâu sắc. Thời kỳ này xã hội Ấn Độ chia làm bốn đẳng cấp cách biệt
nhau…. Đẳng cấp Bà la môn (địa vị cao nhất); đẳng cấp Sát đế lỵ (dòng họ vua quan,
quý tộc); đẳng cấp Vệ xá (gần những người giàu có, buôn bán thủ công), đẳng cấp
Thủ đà la (nô lệ). Ngoài ra còn có một tầng lớp người thuộc hàng cùng khổ dưới đáy
xã hội, bị mọi người khinh rẻ. Trước khi có sự ra đời của đạo Phật, mâu thuẫn giữa
các đẳng cấp trên hết sức gay gắt được thể hiện trong những cuộc đấu tranh mang tính
chất toàn xã hội. Cùng thời điểm này Ấn Độ đã và đang diễn ra cuộc đấu tranh giữa
các nhà duy vật và duy tâm, đấu tranh giữa các tôn giáo, bởi lẽ bên cạnh sự thống trị lOMoAR cPSD| 61464806
của đạo Bà la môn còn có sự hiện diện của Phệ đà giáo và một số giáo phái khác, đồng
thời tư tưởng duy vật thô sơ và tư duy biện chứng đã xuất hiện.
Hoàn cảnh xã hội và những tư tưởng quan niệm trên đã trực tiếp hoặc gián tiếp
góp phần thúc đẩy sự ra đời của đạo Phật.
Bỏ qua những truyền thuyết về Tất Đạt Đa tìm đường cứu khổ cho chúng sinh mà
sáng lập ra đạo Phật thì có thể thấy rằng thực chất Phật giáo ra đời là do kết quả của
cuộc đấu tranh gay gắt giữa các giai cấp, đấu tranh giữa thần quyền và thế quyền,
giữa những người nắm kinh tế của xã hội và những người nắm tư tưởng xã hội. Cuộc
đấu tranh ấy đã lôi kéo đông đảo quần chúng nghèo khổ tham gia, thay bằng thành
quả bình đẳng thật sự nơi trần gian, quần chúng đã nhận được sự bình đẳng trong tư
tưởng, nơi gọi là cõi Niết bàn của nhà Phật.
Giáo lý của đạo Phật tập trung vào hai vấn đề, một là sự khổ não, hai là sự giải thoát ra
khỏi khổ não ấy. Khổ não là bởi sự luân hồi, thoát khỏi vòng luân hồi thì khỏi khổ, mà
muốn thoát khỏi vòng luân hồi thì phải bỏ hết tham, sân, si trên trần thế. Khi thoát khỏi
vòng luân hồi con người mới chứng được trạng thái Niết bàn, Cực lạc.
Đạo Phật là một tôn giáo vô thần, không cùng bản chất như mọi tôn giáo khác. Đạo
Phật còn có một số đặc điểm riêng: Đạo Phật không quan niệm về đấng sáng tạo ra thế
giới. Thế giới tự nó vận động, phát triển thông qua luật vô thường nhân quả. Sự vận
động ấy diễn ra trong không gian và thời gian, đạo Phật sơ kỳ ở Tiểu thừa mang nhiều
tính duy vật những quan niệm của đạo Phật về thế giới về con người, về vận động mang
hình thức biện chứng. Các giáo lý đạo Phật chứa đựng nhiều nội dung đạo đức, hướng
thiện. Đồng thời cũng phủ nhận một cách gián tiếp những mâu thuẫn, xung đột xã hội.
Đạo Phật Việt Nam
Có tính tổng hợp, tính linh hoạt, thiên về nữ tính
Với những đặc điểm đó, cùng với giáo lý của mình đạo Phật đã tìm được chỗ đứng của
mình trong lòng xã hội Việt Nam.
Đạo Phật được truyền bá vào Việt Nam ngay từ đầu Công nguyên bằng hai con đường;
đường thủy thông qua con đường buôn bán với thương gia Ấn Độ. Đường bộ thông
qua giao lưu văn hóa với Trung Quốc mà Trung Quốc khi ấy cũng tiếp nhận Phật giáo
được truyền bá từ Ấn Độ. Như vậy Phật giáo Việt Nam mang cả sắc thái Phật giáo Ấn Độ và Trung Quốc.
Đạo Phật truyền vào Việt Nam không phải thông qua con đường chiếm lược, không
phải do sự cưỡng chế của Trung Hoa mà thông qua đường giao thương buôn bán. Đạo
Phật đến bằng con đường hòa bình, những giáo lý của đạo Phật về bình đẳng, bắc ái,
cứu khổ cứu nạn…gần gũi với cư dân Việt Nam do đó dễ được chấp nhận. Mặt khác
thời kỳ này còn có các tín ngưỡng bản địa của cư dân nông nghiệp lúa nước, cộng với
sự tồn tại của Nho giáo, đạo lão được Trung Quốc truyền vào, tuy nhiên các tín ngưỡng,
tôn giáo đó còn có nhiều mặt khuyết thiếu đối với đời sống tâm linh cộng đồng và đạo lOMoAR cPSD| 61464806
Phật đã bổ sung vào chỗ thiếu hụt đấy. Vì vậy đạo Phật ở Việt Nam được giao thoa bởi
các tín ngưỡng bản địa.
Đạo Phật truyền bá ở Việt Nam tính đến nay đã gần 2000 năm, trải qua các thời kỳ
lịch sử của đất nước, Phật giáo từ lâu vốn đã đi sâu vào quần chúng nhân dân Việt
Nam, gắn bó với sinh hoạt cộng đồng của người Việt, một sự gắn bó tự nhiên không
do áp đặt của chính quyền, cả khi Phật giáo được tôn là Quốc giáo. Sự tồn tại lâu
dài của Phật giáo trong đời sống kinh tế, chính trị, xã hội đã đem lại những đóng góp
đáng kể cho văn hóa, tư tưởng, kinh tế, chính trị trong diễn trình lịch sử Việt Nam.
Người ta thường xếp tôn giáo vào phạm trù văn hóa, Phật giáo là một sự kiện tôn giáo,
cũng là một sự kiện văn hóa. Phật giáo truyền từ Ấn Độ sang Việt Nam vốn không
phải là một sự kiện đơn độc, mà kéo theo nó (hoặc trước, hoặc sau, hoặc đồng thời
với nó) là cái ảnh hưởng của tổng thể văn hóa Ấn Độ đối với văn hóa Việt Cổ, ảnh
hưởng ấy diễn ra trên nhiều lĩnh vực như: Nông nghiệp, y dược, âm nhạc vũ đạo ngôn ngữ…
Điều quan trọng là văn hóa Việt cổ tiếp thu một lượng quan trọng ảnh hưởng của văn
hóa Ân Độ qua ngả đường Phật giáo vào suốt thời Bắc thuộc, khi ảnh hưởng của văn
minh Trung Hoa tràn lên trên đất Việt và mang khuynh hướng đồng hóa rõ rệt. Ngoài
đóng góp làm cho văn hóa Việt Nam thêm phong phú, khách quan mà nói ảnh hưởng
của văn hóa Ấn Độ là một đối trọng của ảnh hưởng văn hóa Trung Hoa trên đất Việt.
Nó có tác dụng trung hòa ảnh hưởng quá mạnh mẽ vào nền văn minh Trung Hoa; nó
góp sức cùng cơ tầng văn hóa Việt cổ ngăn chặn khuynh hướng đồng hóa của văn minh
Trung Hoa, nó được hội nhập vào văn hóa Việt Nam làm giàu thêm nền văn hóa Việt,
góp phần làm nên cái khác của văn hóa Việt so với văn hóa Trung Hoa.
Lấy một ví dụ cụ thể: Ở Thăng Long đời Lý, Hoàng Thành Thăng Long mở 4 cửa, nếu
ở phía cửa Bắc thờ thánh Trấn Vũ – Trấn Vũ là một vị thần linh Trung Hoa được hội
nhập vào đất Việt thì ở cửa Đông lại thờ thần Bạch Mã là ảnh hưởng của Ấn Độ, và
cửa Tây Long thành được mang tên “Quảng Phúc Môn”, mở ra phía Tây để mong phúc
lớn rộng “phúc đẳng hà sa” của đức Phật ở Tây Thiên.
Và đạo Phật trong buổi đầu thời Bắc thuộc và chống Bắc thuộc là một đối tượng của
Nho giáo mà Trung Hoa đem sang Việt Nam. Khi mà Phật giáo bị suy sút ở thượng
tầng, thì ở chốn làng quê “cơ sở hạ tầng” Phật giáo lại tỏa ra dân chúng. Thời Lý Trần
Phật giáo là Phật giáo quý tộc, còn sang thời Lê Nguyễn Phật giáo là Phật giáo dân
gian, nhân gian (hay là được dân gian hóa – từ sau thế kỷ XV). Nếu như Quân chủ Việt
Nam dựng ra cái đình ở làng quê với tư cách như một “tiểu triều đình” trọng nam khinh
nữ ở chốn đình Trung, thì dân dã quê Việt Nam vẫn giữ và dựng cái chùa, cái “chùa
làng” của dân gian chứ không phải cái quốc tự của triều đình và những ai trước hết là
nữ giới bị loại bỏ khỏi sinh hoạt đình Trung thì đã có một tổ chức, một trung tâm sinh
hoạt tâm linh là ngôi chùa. Thời nhà Lê, Nguyễn “đất vua, chùa làng” (đất của vua, lOMoAR cPSD| 61464806
chùa của làng) tức “chùa làng” đã trở thành đối trọng của đình làng, và bảo trợ cho một
quá nửa lực lượng của dân tộc là “đàn bà”. Chính từ sự bảo trợ này mà Phật giáo Việt
Nam có được chỗ đứng thêm vững vàng trên đất Việt.
Khi đạo Phật vào Việt Nam, nếu nó chỉ có một kinh điển bất động không thôi thì sẽ
không có tác dụng chủ yếu nào cả, mà tác dụng của nó như thế nào là do sự tổ chức,
tuyên truyền giáo dục cải tạo của những người tiên phong thấm nhuần sâu sắc học
thuyết Phật giáo. Lúc bấy giờ đã có những vị thiền sư Việt Nam ý thức và chấp nhận
tính nhân đạo đại trí, đại dũng của Phật giáo, phù hợp với tinh thần anh dũng bất khuất,
lòng thương người khổ đau và đặc tính phân biệt thiện ác, chánh tà của quần chúng
nhân dân Việt Nam ta. Từ sự thấm nhuần tư tưởng Phật giáo xây dựng con
người tốt cá biệt gắn liền với phát huy bản chất con người xã hội
“Chư ác mạc tác – chúng thiện phụng hành
Tự tịnh kỳ ý – Thị chư Phật giáo”
Không hành ác tức không làm cho mình trở thành một tội khổ cho mình và cho người
khác, là lời khuyên đầu tiên của đức Phật, tiếp theo là sự hành thiện, là hãy trở nên một
phúc báu cho mình và cho người khác, lời kêu gọi cuối cùng là tự giữ tư tưởng cho
trong sáng, đó là các điều giáo dục của Phật. Đối với các quốc gia dân tộc khác, lời dạy
của Phật trên đây có thể chỉ có tầm giáo dục về tâm lý hay luân lý thông thường. Nhưng
đối với hoàn cảnh và tình hình đất nước ta ngay từ xa xưa luôn địch họa rình rập, thì
lời giáo dục ấy của Phật qua khí tiết, tính Việt Nam đã làm cho Phật giáo Việt Nam lại
mang theo một ý nghĩa sâu sắc khác.
Không làm các việc ác cũng có nghĩa là chống ác, làm các việc lành, có đức cũng có
nghĩa là liên minh với chân chính với thiện mỹ với chính nghĩa của nhân dân. Phật giáo
du nhập vào Việt Nam rất sớm, với tinh thần “Từ bi – hỷ xả - vô ngã – vị tha”, năng
động hóa bởi đạo lý Bát chính đạo, là điều giáo dục phổ biến đối với dân tộc ta, dân
tộc thường xuyên bị những thế lực xâm lược đem theo sự thống trị đầy rãy những cái
ác bất nhân, gieo mầm bất nghĩa, trái đạo lý dân tộc. Bởi thế Phật giáo phương xa đến
Việt Nam đã đương nhiên trở thành Phật giáo Việt Nam với tư tưởng yêu nước là chủ
yếu. Tư tưởng yêu nước này được xác minh qua nhiều thế hệ, suốt dòng lịch sử tranh
đấu giữ nước và dựng nước của dân tộc ta, phù hợp với tư tưởng “Chư ác mạc tác” và
nghĩa vụ “Chúng thiện phụng hành” của giáo lý nhà Phật.
Phật giáo Việt Nam nhập thế
Từ các vị thiền sư Việt Nam đến không ít các vị vua, các anh hùng dân tộc Phật tử đã
thấm nhuần tư tưởng yêu nước, trở thành mối quan hệ khăng khít giữa Phật giáo Việt
Nam với lịch sử tư tưởng Việt Nam. Hơn nữa trong suốt hai cuộc kháng chiến chống
Pháp và chống Mỹ cứu nước, nhiều chùa chiền Phật giáo Việt Nam là cơ sở bao che
nuôi dưỡng cán bộ, chiến sĩ cách mạng, những Tăng, Ni, Phật tử nằm trong các đoàn
thể cứu quốc, đoàn thể Phật giáo yêu nước, hòa mình vào các sinh hoạt cách mạng. lOMoAR cPSD| 61464806
Phật giáo Việt Nam vừa là một học thuyết giải thoát về thuật sống lương thiện tốt đẹp
cho con người Việt Nam, vừa là một học thuyết qua tinh thần Tứ ân có ơn với tổ quốc
là trọng đại – đã thực sự góp phần trong việc hình thành nền tư tưởng Việt Nam, văn
hóa dân tộc Việt Nam, trong đó tư tưởng yêu nước là chủ yếu.
Phật giáo đã có rất nhiều đóng góp to lớn cho nền tảng tư tưởng văn hóa Việt Nam.
Trước hết Phật giáo đã đóng vai trò tích cực trong các cuộc đấu tranh giải phóng dân
tộc của nhân dân Việt Nam, góp phần làm phong phú thêm tâm hồn, đạo đức, hành vi
cư xử của người Việt, làm phong phú thêm nền văn hóa dân tộc. Trước sự đòi hỏi của
dân tộc, của tín đồ Phật giáo, Phật giáo Việt Nam đã đóng góp tích cực cho nền văn hóa nước nhà.
Dân tộc Việt Nam có cái duyên là đã được tiếp nhận đạo Phật, đạo Phật có cái duyên
là tìm được chỗ đứng cho mình trong cộng đồng người Việt Nam. Cái cộng đồng dựa
trên nền tảng kinh tế tự nhiên, tự cấp, tự túc, với quan niệm làng xã cổ truyền, với tín
ngưỡng đa thần đã tiếp nhận đạo Phật và cải biến nó cho ít nhiều phù hợp với cộng đồng ấy.
Cộng đồng người Việt tiếp nhận Phật giáo, đồng thời tiếp nhận những tư tưởng bình
đẳng, bắc ái, vô ngã, vô thường…ở đạo Phật, những tư tưởng này cùng với những tư
tưởng cộng đồng cổ truyền đã làm cản trở cho quá trình phân hóa giai cấp, làm dịu
những xung đột giai cấp trong xã hội. Trong thời gian tới, Phật giáo tồn tại và thậm
chí tiếp tục phát triển mạnh ở Việt Nam. Phật giáo đóng góp phần tích cực của nó
bằng cách tự làm trong sạch bản thân, xóa bỏ những yếu tố mê tín lỗi thời. Phật giáo
góp phần cân bằng cuộc sống ngày càng quay cuồng với nhịp độ cao và Phật giáo góp
phần hướng thiện cho con người.
Việc cải tiến nghi lễ, và hiện đại hóa là một xu hướng tất yếu, là điều cần thiết của
đạo Phật, điều đó có từ trong lịch sử Phật giáo của Việt Nam. Đạo Phật còn có vai trò
to lớn trong đời sống tình cảm, tâm linh của người Việt Nam, người dân của đất nước
đã trải qua nhiều đau thương và đang còn nhiều khó khăn trong đời sống xã hội.
Xin mượn lời của cố giáo sư Trần Quốc Vượng trong (Mấy ý kiến về Phật giáo và văn
hóa dân tộc – Mấy vấn đề Phật giáo và tư tưởng Việt Nam) để khẳng định những giá
trị văn hóa của đạo Phật “Đạo Phật có thể mất đi như mọi hiện tượng vô thường. Song
cái tinh túy của văn hóa Phật giáo đã được dân tộc hóa và dân gian hóa thì mãi mãi trường tồn”.
Ngày nay để tiếp tục phát huy những giá trị tích cực của mình, Phật giáo phải biết tự
giữ gìn, bồi đắp và đổi mới cho phù hợp với thời đại nhằm góp phần thực hiện mục
tiêu “dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ và văn minh” như trước đây đã
từng đóng góp cho “quốc thái dân an”.
Trong điều kiện xã hội hiện nay, những di sản văn hóa của Phật giáo đang tiếp tục phát
huy tác dụng, tạo nên sắc thái dân tộc, góp phần làm phong phú bản sắc văn hóa Việt
Nam. Gần đây, nhiều tổ chức và cá nhân đã quyên góp, công đức tiền của để khôi phục, lOMoAR cPSD| 61464806
tôn tạo chùa chiền, xây cất tịnh xá, niệm Phật đường, đúc chuông, đắp tượng, dựng
tháp… Ngoài ý nghĩa tâm linh, nhiều ngôi chùa đã trở thành những danh thắng nổi
tiếng để du khách đến chiêm ngưỡng. Những giá trị văn hóa Phật giáo không chỉ tồn
tại trong tư tưởng, mà còn đang hiện diện thông qua sự nỗ lực của hàng triệu tín đồ
nhằm vươn tới một lẽ sống vì Tổ quốc giàu mạnh, nhân sinh hạnh phúc. Điều đó càng
khẳng định được vị trí, vai trò của Phật giáo trong suốt quá trình đồng hành cùng dân ta. Câu 6:
Nho giáo được xem là hệ tư tưởng có ảnh hưởng sâu rộng và lâu dài đến xã hội Việt
Nam, là nền tảng đạo đức giáo dục con người, đóng góp to lớn vào việc tổ chức nhà
nước, duy trì trật tự xã hội, phát triển kinh tế, sáng tác văn học trong các triều đại quân
chủ như Nhà Lý, Nhà Trần, Nhà Lê, Nhà Nguyễn, trong suốt chiều dài lịch sử phù hợp
và dung hòa với đời sống người Việt hình thành nền Nho giáo bản sắc Việt Nam nôm
na gọi là Việt Nho ... Ảnh hưởng của Nho giáo đối với Việt Nam sâu sắc là nền tảng
của nền văn minh tại Việt Nam và xếp Việt Nam vào các nước ảnh hưởng nền Văn
minh Trung Hoa gọi là Vùng văn hóa Đông Á. Từng bước hình thành nên lối sống, sinh
hoạt, đạo đức đối nhân xử thế trong xã hội của người Việt. Ngày nay Việt nho ít được
xem trọng kèm những khía cạnh suồng sã, tiêu cực trong văn hóa phương tây ảnh hưởng
đang làm đạo đức một bộ phận giới trẻ xuống cấp.
*Sự hình thành và phát triển
Cơ sở của Nho giáo được hình thành từ thời Tây Chu, đặc biệt với sự đóng góp của
Chu Công Đán, còn gọi là Chu Công. Đến thời Xuân Thu, xã hội loạn lạc, Khổng Tử
(sinh năm 551 trước công nguyên) phát triển tư tưởng của Chu Công, hệ thống hóa và
tích cực truyền bá các tư tưởng đó. Chính vì thế mà người đời sau coi ông là người sáng lập ra Nho giáo.
Cũng giống như nhiều nhà tư tưởng khác trên thế giới như Thích Ca Mầu Ni, Giêxu,...
người đời sau không thể nắm bắt các tư tưởng của Khổng tử một cách trực tiếp mà chỉ
được biết các tư tưởng của ông bằng các ghi chép do các học trò của ông để lại. Khó
khăn nữa là thời kỳ "đốt sách, chôn Nho" của nhà Tần,vào khoảng hai trăm năm sau
khi Khổng Tử qua đời, khiến cho việc tìm hiểu tư tưởng gốc của Khổng Tử càng khó
khăn. Tuy nhiên, các nhà nghiên cứu đời sau vẫn cố gắng tìm hiểu và hệ thống các tư
tưởng và cuộc đời của ông. Nho giáo nguyên thủy
Thời Xuân Thu, Khổng Tử đã san định, hiệu đính và giải thích bộ Lục kinh gồm có
Kinh Thi, Kinh Thư, Kinh Lễ, Kinh Dịch, Kinh Xuân Thu và Kinh Nhạc. Về sau Kinh
Nhạc bị thất lạc nên chỉ còn năm bộ kinh thường được gọi là Ngũ kinh. Sau khi Khổng lOMoAR cPSD| 61464806
Tử mất, học trò của ông tập hợp các lời dạy để soạn ra cuốn Luận ngữ. Học trò xuất
sắc nhất của Khổng Tử là Tăng Sâm, còn gọi là Tăng Tử, dựa vào lời thầy mà soạn ra
sách Đại học. Sau đó, cháu nội của Khổng Tử là Khổng Cấp, còn gọi là Tử Tư viết ra
cuốn Trung Dung. Đến thời Chiến Quốc, Mạnh Tử đưa ra các tư tưởng mà sau này học
trò của ông chép thành sách Mạnh Tử. Từ Khổng Tử đến Mạnh Tử hình thành nên Nho
giáo nguyên thủy, còn gọi là Nho giáo tiền Tần (trước đời Tần), Khổng giáo hay "tư
tưởng Khổng-Mạnh". Từ đây mới hình thành hai khái niệm, Nho giáo và Nho gia. Nho
gia mang tính học thuật, nội dung của nó còn được gọi là Nho học; còn Nho giáo mang
tính tôn giáo. Ở Nho giáo, Văn Miếu trở thành thánh đường và Khổng Tử trở thành
giáo chủ, giáo lý chính là các tín điều mà các nhà Nho cần phải thực hành. Hán Nho
Đến đời Hán, Đại Học và Trung Dung được gộp vào Lễ Ký. Hán Vũ Đế đưa Nho giáo
lên hàng quốc giáo và dùng nó làm công cụ thống nhất đất nước về tư tưởng. Và từ đây,
Nho giáo trở thành hệ tư tưởng chính thống bảo vệ chế độ phong kiến Trung Hoa trong
suốt hai ngàn năm. Nho giáo thời kỳ này được gọi là Hán Nho. Điểm khác biệt so với
Nho giáo nguyên thủy là Hán Nho đề cao quyền lực của giai cấp thống trị, Thiên Tử là
con trời, dùng "lễ trị" để che đậy "pháp trị". Tống Nho
Đến đời Tống, Đại Học, Trung Dung được tách ra khỏi Lễ Ký và cùng với Luận ngữ
và Mạnh Tử tạo nên bộ Tứ Thư. Lúc đó, Tứ Thư và Ngũ Kinh là sách gối đầu giường
của các nhà Nho. Nho giáo thời kỳ nay được gọi là Tống nho, với các tên tuổi như Chu
Hy (thường gọi là Chu Tử), Trình Hạo, Trình Di. (Ở Việt Nam, thế kỷ thứ 16, Nguyễn
Bỉnh Khiêm rất giỏi Nho học nên được gọi là "Trạng Trình"). Phương Tây gọi Tống
nho là "Tân Khổng giáo". Điểm khác biệt của Tống nho với Nho giáo trước đó là việc
bổ sung các yếu tố "tâm linh" (lấy từ Phật giáo) và các yếu tố "siêu hình" (lấy từ Đạo
giáo) phục vụ cho việc đào tạo quan lại và cai trị. Đặc điểm
Về nội dung học tập, Nho giáo chỉ nói đến "trí dục" và "đức dục" mà không xét đến
mặt "thể dục" là mặt cũng rất cần cho sự phát triển toàn diện con người. Những kiến
thức về giới tự nhiên và về sản xuất vật chất không được Nho giáo đề cập (bởi ở thời
của Khổng Tử, khoa học kỹ thuật và nền sản xuất chưa phát triển). Do vậy, người học
tuy thấm nhuần tư tưởng Nho học về đạo đức, tinh thông cổ văn, nhưng kiến thức về
khoa học tự nhiên, sản xuất thực tiễn thì lại không phát triển. Cả hai mặt tiến bộ và hạn
chế của Nho giáo đều để lại dấu ấn trên Nho sĩ. Khi tiếp xúc với nền văn minh phương
Tây mạnh về khoa học kỹ thuật, nếu người xuất thân Nho học biết tiếp thu những kiến
thức khoa học và sản xuất thì sẽ khắc phục được mặt hạn chế, trở nên "Vừa có tài vừa
có đức", ngược lại nếu tiếp thu không có chọn lọc thì không những không khắc phục
được hạn chế mà những giá trị đạo đức của nền Nho học cũng bị đánh mất. lOMoAR cPSD| 61464806
Nhược điểm nghiêm trọng hơn nữa là Nho giáo Việt Nam thiếu sự xuất hiện các trường
phái học thuật nên vận động trong sự đơn điệu và một chiều, chứ không được phong
phú và đa dạng như Nho giáo Trung Quốc. Nho giáo Việt Nam thiếu sự vận động bên
trong, thiếu sự phản tỉnh nên trì trệ. Đa số nhà Nho Việt Nam chỉ đặt cho mình mục
đích học là để đi thi, thi đỗ thì ra làm quan để được giàu sang, sung sướng. Đạt được
mục đích đó thì xem như việc học tập đã kết thúc. Ít người có chí cao xa, như học để
tham gia tranh luận những vấn đề mang tầm khu vực, học để kinh bang tế thế hoặc để
phát triển văn hoá, đạt đến những tầm cao tư tưởng. Cũng có một số Nho sĩ quan tâm
đến học thuật, nhưng thường là các vấn đề chính trị và đạo đức, ít bàn đến vấn đề siêu
hình, một lĩnh vực thuần túy triết học làm nền tảng cho khả năng nhận thức sâu sắc thế
giới và hành động sáng tạo. Thậm chí, họ còn biến những vấn đề siêu hình thành cái
thực tế, thực dụng. Vì học tập và tư duy như thế nên họ ít có cống hiến to lớn trong lĩnh
vực học thuật có thể so sánh với các nước khác cũng chịu ảnh hưởng của Nho giáo.
Nền giáo dục Nho giáo Việt Nam chỉ sản sinh ra được một tầng lớp quan lại có nền
tảng Nho học còn các loại hình trí thức then chốt của một tầng lớp trí thức thực thụ thì
xuất hiện thưa thớt, mờ nhạt, hoặc hoàn toàn vắng bóng trong một số lĩnh vực như triết học.
Một số nhà Nho uyên thâm của Việt Nam khi đứng trước kho tàng đồ sộ và uyên bác
của Nho giáo Trung Quốc thường tóm lược lấy những điều cốt yếu, biên soạn lại thành
những tài liệu đơn giản và ngắn gọn để dạy học trò. Có thể liệt kê các sách Nho học
như “Tứ thư tập chú” của Chu Hy, “Tứ thư đại toàn” của Tống, Nguyên, Minh, Thanh
Nho, sang Việt Nam chỉ còn là “Thuyết ước” (tóm lược học thuyết) và “Ước giải” (giải
thích tóm tắt); hoặc như cuốn “Tính lý đại toàn” của Hồ Quảng thời Minh, sang Việt
Nam chỉ còn “Tiết yếu”. Đây là hiện tượng chung của nhiều triều đại quân chủ Việt
Nam. Nếu ở triều Trần có “Tứ thư thuyết ước” của Chu Văn An, thì ở triều Lê - Trịnh
có “Tứ thư ước giải” của Lê Quý Đôn, triều Nguyễn có “Tứ thư trích giảng” của
Nguyễn Văn Siêu; nếu ở triều Lê - Trịnh có cuốn “Tính lý tiết yếu” của Bùi Huy Bích,
thì ở triều Nguyễn cuốn đó vẫn còn được xem là cuốn sách giáo khoa mẫu mực. Chính
điều này đã lược bớt rất nhiều điều, làm mất rất nhiều điểm có khả năng gợi mở, giản
đơn hoá nội dung phong phú và súc tích của học thuyết khiến người học không lĩnh hội
được chiều sâu của Nho giáo. Người được truyền đạt cũng hài lòng với cách làm đó thì
mọi lối tư duy, mọi đường sáng tạo đều bị thu hẹp lại. Bên cạnh đó, Nho giáo Việt Nam
đã pha trộn với tư tưởng của Phật giáo, Đạo giáo và các tín ngưỡng dân gian khác.
Nhưng hạn chế lớn nhất là tập quán sùng bái thánh hiền, giáo điều và máy móc của
giới Nho sĩ Việt Nam. Trong khi đó bên cạnh Nho giáo còn có nhiều trường phái tư
tưởng khác như Đạo gia, Mặc gia, Pháp gia... Giữa các trường phái này luôn có sự
tranh luận, phản bác nhau. Điều này khiến sự phát triển của Nho giáo Việt Nam hạn
chế. Nó chỉ đạt đến mức độ tiếp thu một số tín điều từ Nho giáo Trung Hoa, chưa tạo
được lý luận riêng, chưa xuất hiện các học phái khác nhau. Phương pháp tư duy của nó
thiên về bảo thủ, giáo điều lOMoAR cPSD| 61464806
3. Quá trình thâm nhập của Nho giáo vào Việt Nam
3.1. Hán Nho đã được các quan lại Trung Hoa như Tích Quang, Nhâm Diên, Sỹ Nhiếp
ra sức truyền bá từ đầu Công nguyên. Tuy nhiên, vì đây là thứ văn hóa do kẻ xâm lược
áp đặt cho nên, suốt cả giai đoạn chống Bắc thuộc, Nho giáo chưa có chỗ đứng trong
xã hội Việt Nam. Đến năm 1070, với sự kiện Lí Thánh Tông cho lập Văn Miếu thờ Chu
Công, Khổng Tử, mới có thể xem là Nho giáo được tiếp nhận thính thức. Chính vì vậy
mà Nho giáo ở Việt Nam chủ yếu là Tống Nho chứ không phải Hán Nho, Đường Nho hay Minh Nho, Thanh Nho.
Đời Trần có Chu Văn An đào tạo được khá đông học trò. Các nhà nho những lớp đầu
tiên này ra sức bài xích Phật giáo để khẳng định chỗ đứng của mình. Tuy nhiên, cho
đến gần cuối đời Trần, Nho giáo vẫn chưa được chấp nhận rộng rãi.
Trong cuộc kháng chiến 10 năm chống quân Minh (1418- 1408), các nhà nho Việt
Nam tập hợp dưới cờ Lê Lợi đã có những đóng góp to lớn. Sự lớn mạnh của Nho giáo
Việt Nam (điều kiện chủ quan) cùng với nhu cầu cải cách quản lí đất nước (yêu cầu
khách quan) đã dẫn đến việc triều Lê đưa Nho giáo thành quốc giáo: sự phát triển của
Nho giáo chuyển sang giai đoạn mới – giai đoạn Nho giáo độc tôn. Từ đó, Nho giáo
thịnh suy theo bước thăng trầm của triều đình: Thời Lê sơ thì Nho giáo thịnh, chí sĩ đua
nhau đi thi để ra làm việc nước. Thời Lê mạt thì Nho giáo suy, nhiều nhà nhà xuất sắc
(như Nguyễn Bình Khiêm) lui về ở ẩn. Nhà Nguyễn lên cầm quyền, địa vị Nho giáo
một lần nữa được khẳng định để rồi mất hẳn khi phải đối mặt với sự tấn công của văn hóa phương Tây.
*Vai trò, ảnh hưởng
Tính từ khi bắt đầu du nhập cho đến lúc suy vong, Nho giáo đã có lịch sử 1900 năm
truyền bá ở Việt Nam. Thời Bắc thuộc, trong những thế kỷ đầu công nguyên, các quan
cai trị người Hán như Tích Quang (1 - 5), Nhâm Diên (29 - 33), Sĩ Nhiếp (187 226),
Đỗ Tuệ Độ (đầu thế kỷ V) đã ra sức truyền bá Nho giáo ở Giao Châu. Cũng trong thời
kỳ này, các đoàn người Hán di thực và tị nạn nối tiếp nhau kéo xuống Giao Châu, mang
theo văn hóa Hán. Tuy nhiên, đây là thời kỳ mà văn hóa Việt - Mường đã đạt tới những
thành tựu đỉnh cao, có sức mạnh văn hóa nội tại, và có khả năng chọn lọc, chuyển hóa
những yếu tố văn hóa mới du nhập để bồi bổ cho sức mạnh văn hóa nội tại của mình.
Trong khi đó, Nho giáo là công cụ củng cố thể chế nhà nước của quân xâm lược. Vì
vậy, trải qua cả nghìn năm, Nho giáo vẫn không thâm nhập được vào văn hóa Việt -
Mường. Cư dân Việt - Mường vẫn bảo tồn được văn hóa tộc người, ý thức tộc người,
ý chí quật cường và nhu cầu đấu tranh vì độc lập tự do.
Phải đến thời kỳ tự chủ, từ thế kỷ XI trở đi, Nho giáo mới được Nhà nước phong kiến
chú trọng đề cao. Để xây dựng, hoàn thiện thể chế nhà nước, giai cấp phong kiến đã
tìm thấy ở Nho giáo những lợi khí mà Phật giáo và Đạo giáo đương thời không có: sự lOMoAR cPSD| 61464806
thần bí hóa vương quyền, sự thiêng liêng hóa quan hệ quân thần, những chuẩn mực và
nội dung đào tạo quan lại thích hợp để nối dài cánh tay quyền lực của nhà vua. Đến
thời Hậu Lê, Nho giáo vươn lên chiếm địa vị độc tôn trong văn hóa cung đình, đẩy Phật
giáo và Đạo giáo xuống hàng tôn giáo dân gian. Nhưng Nho giáo có vị trí hàng “Quốc
giáo” thật sự ở triều Nguyễn, một triều đại tập quyền tuyệt đối và triệt để khai thác đạo
lý tam cương, ngũ luân của Nho giáo để bảo vệ tôn ti quân thần và quyền thống trị vĩnh
viễn của tông tộc nhà vua. Trên đỉnh cao quyền lực, Nho giáo đã phát tác tối đa sức
mạnh kìm hãm của nó, trở thành nguyên nhân sâu xa của tình trạng loạn lạc và trì trệ
kéo dài suốt thế kỷ XIX cho đến khi mất nước về tay Pháp. Từ đầu thế kỷ XX, cùng
với sự suy tàn của nhà nước phong kiến và giai cấp phong kiến, Nho giáo đã không còn
là ý thức hệ chính thống và cũng không còn đóng vai trò một tôn giáo chính thống điều
chỉnh hành vi và đạo đức như trước nữa. Sự đột khởi của phong trào Duy Tân - Đông
Du (1905 - 1908) đã đóng cây đinh cuối cùng vào nắp quan tài của Nho giáo ở Việt Nam.
Điểm sơ qua như vậy, có thể thấy rằng, giai cấp phong kiến Việt Nam thượng tôn Nho
giáo không chỉ do nhu cầu xây dựng quốc gia, mà còn vì và chủ yếu là vì Nho giáo có
ích đối với việc cai trị nhân dân. Vì vậy, tuy có lúc thăng lúc trầm, nhưng bao giờ Nho
giáo cũng là chiếc phao chống đắm của các triều đại phong kiến Việt Nam, kể từ khi
vua Lý Thánh Tông dựng Văn Miếu ở Thăng Long năm 1070, cho đến khi triều đình
Huế ký Hòa ước Quý Mùi (năm 1883) giao chủ quyền quốc gia cho Pháp.
Do sự truyền bá chủ động và kiên trì của giai cấp phong kiến, trong thời trung đại, Nho
giáo đã thẩm thấu vào một một bộ phận của chủ thể văn hóa Việt Nam là giai cấp quý
tộc, quan lại và tầng lớp nho sĩ, quan viên. Nho giáo cũng bén rễ vào một bộ phận văn
hóa tinh thần của xã hội, làm hình thành dòng văn hóa quan phương chính thống bên
cạnh các hoạt động văn hóa tinh thần của dân gian. Bằng cách đó, văn hóa tinh thần
của Việt Nam đã bị Hán hóa một phần. Cũng bằng cách đó, Nho giáo đã được Việt hóa
một phần trong quá trình thâm nhập vào văn hóa Việt Nam.
Do tác động từ Nho giáo nên sự phân hóa xã hội ở Việt Nam thêm sâu sắc, chủ thể văn
hóa Việt Nam bị chia đôi; hình thành tầng lớp nho sĩ, giai cấp quý tộc, quan lại theo
hình mẫu Nho giáo, tồn tại bên cạnh các giai cấp, tầng lớp sẵn có của xã hội Việt Nam
xưa (nông dân, thợ thủ công, thương nhân). Tầng lớp nho sĩ và quan lại ấy có trách
nhiệm kinh bang tế thế, trị quốc an dân, và tùy theo thời thế mà chọn lựa cách ứng xử,
xuất và xử, hành và tàng. Còn các giai cấp, tầng lớp lao động thì có trách nhiệm bảo
đảm nhu cầu vật chất cho các giai cấp, tầng lớp bên trên và cho bản thân mình.
Lịch sử Việt Nam có rất nhiều nhà nho có phẩm hạnh, khí tiết cao cả, như Mạc Đĩnh
Chi, Chu Văn An, Nguyễn Trãi, Nguyễn Bỉnh Khiêm, Võ Trường Toản, Ngô Tùng lOMoAR cPSD| 61464806
Châu, Trịnh Hoài Đức, Lê Quang Định, Ngô Nhân Tĩnh, Nguyễn Công Trứ, Phan
Thanh Giản, Trần Tiễn Thành, Nguyễn Đình Chiểu, Nguyễn Khuyến, Nguyễn Huy
Đức, Nguyễn Thức Tự, Khiếu Năng Tĩnh, Trần Đình Phong, Lương Văn Can, Phan Bội
Châu, Đặng Nguyên Cẩn, Ngô Đức Kế, Phan Châu Trinh, Huỳnh Thúc Kháng, Trần
Quý Cáp,... Những nhà nho này, dù lúc bình thời hay khi vận nước gian nan, vẫn tỏ rõ
khí tiết và phẩm hạnh, đồng thời có thái độ và hành động vì nước, vì dân.
Trong các hoạt động văn hóa, Nho giáo tác động chủ yếu vào các hoạt động văn hóa
tinh thần. Trong văn hóa tổ chức cộng đồng, ở cấp độ gia đình, Nho giáo phối hợp với
văn hóa Hán làm hình thành chế độ gia đình phụ hệ đi đôi với nam quyền cực đoan,
tồn tại song hành với truyền thống trọng nam đi đôi với trọng nữ của văn hóa dân gian.
Trong gia đình, gia tộc, quốc gia, Nho giáo trực tiếp làm hình thành chế độ tông pháp,
trao quyền thừa kế, thừa tự cho con trai trưởng chính dòng, song hành với tập quán trao
quyền thừa kế, thừa tự cho con trai út của dân gian. Trên bình diện quốc gia, Nho giáo
là cơ sở làm hình thành tổ chức nhà nước của Đại Việt, bao gồm hệ thống hành chính,
tổ chức quân sự, quan chế, lương bổng... mô phỏng Trung Hoa, tồn tại song hành với
tổ chức cộng đồng cấp làng quê ra đời từ thời Văn Lang - Âu Lạc.
Về tín ngưỡng, nhà nho Việt Nam coi Nho giáo như là tôn giáo; gạt bỏ, bài xích các tôn
giáo khác ngoại trừ những nội dung được Nho giáo chấp nhận và khuyến khích, như
lòng tin vào thiên mệnh, việc tế lễ, việc thờ cúng tổ tiên... Vì vậy, trong Nho giáo là tôn
giáo của đàn ông người Việt, bên cạnh các tôn giáo dành cho các bà các cô như đạo Phật, đạo Mẫu...
Về phong tục, sự tác động của Nho giáo và văn hóa Hán đã làm Hán hóa một phần các
phong tục vòng đời, đặc biệt là phong tục hôn nhân, phong tục tang ma. Trong thời
trung đại, các phong tục này đều lấy hình mẫu của Nho giáo và văn hóa Hán làm chuẩn
mực. Chính vì vậy mà cho đến ngày nay, vẫn còn nhiều người viết sách mô tả các phong
tục và nghi thức ấy trong văn hóa Việt Nam hiện đại như thể chúng là bản sao của
phong tục Trung Hoa trung đại! Thật ra, bên cạnh các phong tục hôn nhân, phong tục
tang ma theo hình mẫu của Nho giáo và văn hóa Hán trước đây, người Việt ở các vùng
miền khác nhau và các tôn giáo ở Việt Nam đều có cách thức riêng để thực hiện các phong tục ấy.
Trong giáo dục, Nho giáo là cơ sở hình thành hệ thống giáo dục chính thống của Việt
Nam trung đại ở bốn cấp kinh đô - tỉnh/đạo - phủ - huyện/châu, và chế độ thi tuyển
gồm bốn cấp khảo hạch - thi Hương - thi Hội - thi Đình, để đào tạo ra quan lại nhà
nước, quan viên làng xã. Hệ thống giáo dục chính thống này tồn tại song hành với mạng
lưới giáo dục dân gian trong gia đình, làng xóm, làng nghề, nhằm giáo dục cách ứng
xử với gia đình, cha mẹ, ông bà, tổ tiên, họ hàng, làng xóm, thần linh... Trong lịch sử lOMoAR cPSD| 61464806
844 năm khoa cử Hán học ở Việt Nam (1075 - 1919), nền giáo dục Nho giáo đã tạo ra
hàng nghìn ông Nghè, ông Cử, ông Tú mà trong số đó nhiều người đã nổi lên thành nhà
văn hóa hay nhà khoa học, như nhà sử học Lê Văn Hưu, danh nhân văn hóa thế giới
Nguyễn Trãi, nhà sử học Ngô Sĩ Liên, Trạng Lường Lương Thế Vinh, Trạng Trình
Nguyễn Bỉnh Khiêm, Trạng Bùng Phùng Khắc Khoan, nhà bác học Lê Quý Đôn, thi
hào Nguyễn Du, nhà bác học Phan Huy Chú…
Về văn học và nghệ thuật, Nho giáo đã góp phần làm hình thành các thể văn khoa cử
(kinh nghĩa, chiếu, biểu, luận, văn sách, thơ, phú...), các thể loại văn học mô phỏng
Trung Hoa (thơ Đường luật, phú, từ, đối...), các điển tích văn học, các sách giáo khoa
truyền thụ Nho giáo, các tác phẩm văn học và nghệ thuật chịu ảnh hưởng của Nho giáo.
Những sản phẩm ấy làm thành dòng văn học nghệ thuật quan phương chính thống, tồn
tại song hành với dòng văn học dân gian, nghệ thuật dân gian.
Về ngôn ngữ và văn tự, quá trình tiếp biến văn hóa Hán nói chung, Nho giáo nói riêng
đã để lại dấu ấn sâu đậm trong ngôn ngữ và chữ viết ở Việt Nam. Về ngữ âm, tiếng
Việt, tiếng Mường đã biến đổi các phụ âm cuối, hình thành thanh điệu và rơi rụng các
âm tiết phụ của thời Môn - Khơme; riêng tiếng Việt hiện đại còn rơi rụng các tổ hợp
phụ âm đầu. Về ngữ pháp, tiếng Việt, tiếng Mường đã rơi rụng các phụ tố tạo từ của
thời Môn - Khơme; riêng tiếng Việt hiện đại còn hình thành các phụ tố tạo từ gốc Hán
- Việt, và mượn nhiều cách diễn đạt của tiếng Hán. Về từ vựng, trong tiếng Việt, tiếng
Mường đều có nhiều yếu tố gốc Hán; riêng tiếng Việt có đến 70% từ gốc Hán. Hiện
nay, tiếng Việt đang sử dụng một bộ phận từ vựng gốc Hán có số lượng và tần suất sử
dụng rất lớn, bao gồm Hán - Việt cổ, Hán - Việt trung đại, Hán - Việt cận đại (khẩu ngữ
của người Hoa Nam bộ), từ ngữ có yếu tố Hán - Việt. Trong vốn từ tiếng Việt, đặc biệt
là lớp từ vựng văn hóa, số lượng các yếu tố gốc Hán chiếm một tỷ lệ áp đảo, cả ở ba
cấp độ: từ, ngữ, phụ tố. Bộ phận từ vựng gốc Hán này bao gồm hầu hết các bình diện
văn hóa mà cư dân Việt chịu ảnh hưởng của văn hóa Hán, trong đó ảnh hưởng rõ rệt
nhất là các hoạt động văn hóa tinh thần: cách thức tổ chức xã hội cổ truyền (con người,
họ tên, quan hệ thân tộc, tổ chức hành chính, tổ chức quân sự, bộ máy quan lại...); tín
ngưỡng, phong tục, lễ hội (tín ngưỡng, tôn giáo, giáo dục, khoa cử, phong tục vòng đời,
lễ hội...); văn học, nghệ thuật (thuật ngữ, các thể văn hành chính và khoa cử, các thể
loại văn học bác học, một số loại hình sân khấu...); ngôn ngữ (đặt địa danh, vay mượn
và sao phỏng từ ngữ, cấu tạo từ mới từ các yếu tố gốc Hán...). Quá trình tiếp biến văn
hóa Hán và Nho giáo trong ngôn ngữ ấy tồn tại song hành với quá trình bảo tồn ngữ
âm, ngữ pháp, từ vựng gốc Môn - Khơme, và tiếp biến các ngôn ngữ Tày, Chăm, Hoa,
Khơme, Pháp trong tiếng Việt. lOMoAR cPSD| 61464806
Về văn tự, chữ Hán là văn tự chính thức của Việt Nam trong suốt thời phong kiến tự
chủ, và vì là phương tiện chuyên dùng chuyển tải Nho giáo, nên chữ Hán thường được
gọi là chữ Nho, chữ Thánh hiền. Quá trình tiếp biến văn hóa Hán và Nho giáo trong
chữ viết ấy tồn tại song hành với quá trình Việt hóa các văn tự ngoại lai. Từ khi ra đời
dưới thời Trần, chữ Nôm, loại văn tự phái sinh từ chữ Hán, vừa được dùng để chuyển
tải văn hóa dân gian, vừa được dùng để chuyển tải văn hóa quan phương chính thống
theo Nho giáo. Và đến đầu thế kỷ XX, với phong trào Duy Tân - Đông Du, chữ Quốc
ngữ, hình thành từ thế kỷ XVII, đã phát triển thành văn tự của toàn dân, giúp chuyển
tải những tư tưởng, tri thức mới, thoát ly Nho giáo.
Như vậy, trong chặng đường hơn 2000 năm tiếp xúc văn hóa Hán của Việt Nam, Nho
giáo đã thật sự tác động mạnh vào xã hội Việt Nam trong hai giai đoạn: Hậu Lê (1428
- 1527) và Nguyễn sơ (1802 - 1883). Hai đối tượng chịu ảnh hưởng rõ nhất của Nho
giáo và văn hóa Hán là chủ thể văn hóa và văn hóa tinh thần. Trong chủ thể văn hóa,
Nho giáo đã tác động chủ yếu đến các giai cấp, tầng lớp trên trong xã hội, chứ không
ăn sâu bén rễ vào các giai cấp, tầng lớp dưới. Đối với văn hóa tinh thần, Nho giáo đã
góp phần làm hình thành dòng văn hóa quan phương chính thống, chứ không thay thế
được dòng văn hóa dân gian vốn có một bề dày lịch sử gắn với ý thức tộc người, làm
nên cốt lõi của văn hóa tộc người. Tức là, Nho giáo đã làm tách đôi kiến trúc thượng
tầng của xã hội Việt Nam, làm hình thành dòng văn hóa quan phương theo Nho giáo,
song hành và đối lập với dòng văn hóa dân gian bản địa. Hai dòng văn hóa này dung
hợp lẫn nhau, ảnh hưởng lẫn nhau. Nho giáo ở Việt Nam được Việt hóa một phần, khác
với Nho giáo ở Trung Hoa. Văn hóa dân gian Việt cũng bị Nho giáo hóa một phần,
nhiều phong tục gốc Hán và gốc Việt tồn tại song song. Cho nên, sẽ rất sai lầm nếu
quan niệm hoặc mô tả văn hóa Việt như một bản sao của văn hóa Hán.
Vả chăng, ảnh hưởng của Nho giáo và văn hóa Hán đối với văn hóa Việt Nam cũng chỉ
kéo dài đến cuối thế kỷ XIX. Trong nền văn hóa Việt Nam đương đại, Nho giáo không
còn là tôn giáo, ý thức hệ hay học thuyết chính thống, chỉ là tàn dư trong một số phong tục và nghi lễ.
Những tác hại chính yếu của Nho giáo đối với văn hóa Việt Nam
Trước hết là những tác hại trong lĩnh vực giáo dục. Trong thời Minh thuộc (1407 -
1428), giặc Minh xóa bỏ nền độc lập của Đại Việt, hủy diệt triệt để tất cả các di sản văn
hóa của các triều đại Lý - Trần, áp đặt nền giáo dục Tống nho cho nho sinh, nho sĩ Đại
Việt. Lý do là vào đầu thế kỷ XV, các nho gia đời Minh chưa xuất hiện, di sản được tôn
sùng nhất của Nho giáo đương thời là Tống nho, với các đại biểu lớn như Chu Đôn Di,
Trương Tái, Trình Hạo, Trình Di, Chu Hi... Sau khi Lê Thái Tổ giành lại độc lập, di sản lOMoAR cPSD| 61464806
văn hóa Lý - Trần chỉ còn là mảnh vụn, nên việc giáo dục của triều Hậu Lê cũng phải
dùng tài liệu của Tống nho.
Về chính trị, tư tưởng trung quân của Nho giáo khiến cho nhiều nho thần, nho sĩ Đại
Việt đều dốc sức bảo vệ ngai vàng, khôi phục ngai vàng cho những dòng vua, những
ông vua ăn hại, bù nhìn. Thay vì làm cho non sông nhất thống, họ lại làm cho chính sự
suy đồi, đất nước loạn lạc, dân chúng lầm than. Nhà Mạc giết vua cướp ngôi, sau khi
mất nước lại dấy binh làm loạn, vẫn được nhiều người tôn phò để tái lập vương triều ở Cao Bằng
Về kinh tế, sự độc tôn Nho giáo đã kiềm hãm kinh tế Việt Nam, làm suy yếu các nguồn
nội lực, là một trong những nguyên nhân làm cho Việt Nam mất nước. Do ý thức hệ
Nho giáo, một số nghề nghiệp trong xã hội Việt Nam đã bị coi khinh, mặc dù cần thiết,
có ích cho cuộc sống của con người như nghề xướng ca, nghề thương mại..
Về xã hội, quan điểm bất bình đẳ ng của Nho giáo đã chà đạp phụ nữ Việt Nam xuống
đất đen. “Đạo” mà Nho giáo dành cho người phụ nữ là đạo tam tòng: “Tại gia tòng phụ,
xuất giá tòng phu, phu tử tòng tử”. “Đức” mà Nho giáo dạy cho phụ nữ là tứ đức:
“Công, dung, ngôn, hạnh”. Tất cả là để cho người phụ nữ làm tròn chức trách phục vụ
đàn ông. Đã thế, nền giáo dục và khoa cử theo Nho giáo cũng chỉ dành cho nam giới;
gần 100% phụ nữ Việt Nam bị gạt ra ngoài, chỉ được thụ hưởng giáo dục gia đình, giáo
dục dân gian, rất hiếm người được học chữ, học hỏi kiến thức qua Nho giáo. Vì vậy mà
trong suốt thời trung đại, toàn bộ việc làng, việc nước là việc của đàn ông. Việc của
phụ nữ chỉ là “tề gia, nội trợ”, có thể kiêm thêm việc chạy chợ, chạy đồng, đầu tắt mặt
tối, nhưng không vì thế mà địa vị trong gia đình, xã hội của họ được nâng lên. Kết luận
Nho giáo đã làm cho văn hóa tinh thần của Việt Nam thời trung đại bị Hán hóa một
phần đáng kể. Nho giáo ảnh hưởng cả trong văn hóa tinh thần lẫn văn hóa vật chất của
Việt Nam. Nho giáo có mặt trái, gây hại cho văn hóa Việt Nam. Văn hóa Việt Nam
trước kia có rất nhiều lúc, nhiều nơi không cần Nho giáo. Văn hóa Việt Nam ngày nay
càng không cần Nho giáo. Để hình thành các chuẩn mực đạo đức cho những con người
mới ở Việt Nam, chúng ta cần những cơ sở lý thuyết và những giá trị tinh thần kết hợp
truyền thống và hiện đại. Trong những giá trị tinh thần truyền thống, cần chú ý tìm hiểu,
phát huy những giá trị truyền thống bản địa Việt Nam, thay vì cố đào xới lại nấm mồ
Nho giáo như một số người vọng ngoại và hoài cổ đã làm. Như ý kiến của nhà nghiên
cứu Quang Đạm: “Nói tóm lại, đạo lý Nho giáo thường xuyên kìm hãm xã hội chúng
ta thuở trước ở một trạng thái thấp kém. Trong khuôn khổ thiên hạ của đạo lý Nho giáo
không có con đường nào tốt hơn con đường tìm hướng quay ngược trở về với Tây Chu,
với Đường, Ngu. Trong khi đó, truyền thống Việt Nam vì độc lập của Tổ quốc và vì