lOMoARcPSD| 61464806
ĐỀ CƯƠNG CSVH VN (Tự làm)
Chương I: VĂN HÓA HỌC VĂN HÓA VIỆT NAM
1. Khái niệm:
Theo Phương Đông: văn hoa văn/nét đẹp, văn chương, chế độ lễ nghi… Hóa:
là trở thành, biến cái, làm cho trở nên...
==> Văn hóa: làm cho...trở nên đẹp, có giá trị
Theo UNESCO: văn hóa không phải một lĩnh vực đặc biệt. Đó là tổng thể các giá
trị vật chất tinh thần do con người sáng tạo, phục vụ cho sự phát triển của
hội. Văn hóa đã cấu thành nên một hệ thống các giá trị truyền thống, thẩm
lối sống mà từng dân tộc dựa vào đó để khẳng định bản sắc riêng của mình
Theo Hồ Chí Minh: “Vì lẽ sinh tồn cũng như mục đích của cuộc sống, loài người
mới sáng tạo và phát minh ra ngôn ngữ, chữ viết, đạo đức, pháp luật, khoa học, tôn
giáo, văn học, nghệ thuật, những công cụ cho sinh hoạt hằng ngày về mặc, ăn, ở và
các phương thức sử dụng. Toàn bộ những sáng tạo và phát minh đó văn hóa. Văn
hóa sự tổng hợp của mọi phương thức sinh hoạt cùng với những biểu hiện của
nó mà loài người đã sản sinh ra nhằm thích ứng với những nhu cầu đời sống và đòi
hỏi sự sinh tồn”
*Phân tích quan niệm:
- Quan niệm đã nêu ra cấu trúc của văn hóa, bao gồm:
+Văn hóa vật chất
+Văn hóa tinh thần
+Tổng hợp phương thức sinh hoạt
- Quan niệm bàn đến đặc trưng của văn a: tính vị nhân sinh, được thể hiện hai
phương diện: con người chủ thể sáng tạo ra văn hóa, đồng thời cũng chủ thể
hưởng thụ văn hóa.
- Nhấn mạnh chức năng của văn hóa, trong đó có hai chức năng quan trọng là: duy trì
đời sống hội, phục vụ đời sống của con người từ đó nâng cao giá trị của cuộc
sống.
Nhìn nhận các vấn đề trong quan hệ logic tổng hợp.
- Về hình thức: phát biểu mang tính chất quan niệm, không phải học thuật.
2. Đặc trưng văn hóa
a) Tính hệ thống
lOMoARcPSD| 61464806
+ 1 tổ hợp hữu cơ, bao gồm nhiều thành tố có quan hệ khăng khít với nhau, tương
tác, chi phối chế ước lẫn nhau. Văn hóa bao trùm mọi lĩnh vực hoạt động của con
người hội, sở tồn tại và phát triển của hội...Văn hóa là sản phẩm mang
tính xã hội cao do mọi người cùng chung sức tạo ra.
+ Xác nhận mỗi hiện tượng chỉ tồn tại và được lý giải sự tồn tại trong hệ thống của nó.
tính hệ thống cần được hiểu hệ thống mở, tức hiện tượng cũ có thể mất hoặc
thay đổi, hiện tượng mới có thể thêm vào
b) Tính lịch sử
+ Một nền văn hóa bao giờ cũng cũng được hình thành qua nhiều thế hệ trên chiều dài
lịch sử. Văn hóa 1 quá trình vận động liên tục, không gián đoạn, không ngừng tích
lũy, đổi mới. Nó là sản phẩm của 1 xã hội, 1 thời đại nhất định, là di sản của xã hội đó.
+ Mỗi htg vh đồng thời htg mang tính lịch sử nhưng không nghĩa htg lịch sử
nào cũng là htg văn hóa, sẽ có hiện tượng phi văn hóa như: chủ nghĩa Apacthai, chế độ
Hit-le...
+ Khi quan sát tính lịch sử của htg vh cần nhìn nhận 2 chiều
Chiều cạnh lịch đại: biến thiên, vận động theo lịch sử
Chiều cạnh đồng đại: cùng thời đại
+ Bị quy định bởi tính giá trị duy trì bằng truyền thống văn hóa. Truyền thống văn
hóa những giá trị được tích lũy và tái tạo trong cộng đồng người qua không gian, thời
gian, được đúc kết thành khuôn mẫu xã hội và cố định dưới dạng ngôn ngữ, phong tục,
tập quán, luật pháp...
c) Tính giá trị
+ Văn hóa bao gồm các giá trị trở thành thước đo về mức độ nhân bản của hội
con người. Trong lịch sử phát triển của nhân loại có giá trị của văn hóa để tồn tại và có
giá trị của văn hóa để phát triển.
+ Các giá trị văn hóa không bao giờ tồn tại riêng lẻ mà luôn tồn tại trong hệ thống, gọi
là hệ giá trị. VD nhất nước, nhì phân, tam cần, tứ giống...
+ Có rất nhiều loại giá trị khác nhau
Căn cứ tính chất giá trị
Giá trị vật chất
Giá trị tinh thần
Căn cứ tính tồn tại
Giá trị vĩnh cửu
Giá trị nhất thời
Căn cứ phạm vi tính giá trị
Giá trị phổ quát
Giá trị đặc thù
d) Tính nhân sinh
lOMoARcPSD| 61464806
+ Là đặc trưng quan trọng nhất của văn hóa. Văn hóa không tách rời con người và con
người cũng không thể thiếu văn hóa.Văn hóa sản phẩm của trình độ phát triển bản
chất người, là nơi hình thành, nuôi dưỡng nhân cách con người.
+ Văn hóa được tạo thành bởi các giá trị vật chất và tinh thần do con người sáng tạo ra.
Thuộc tính này cho phép phân biệt văn hóa như 1 hiện tượng xã hội với những sản vật
tự nhiên chưa qua bàn tay sáng tạo của con người.Theo đó,1 đất nước thể giàu
khoáng sản,dầu mỏ,các nguồn lợi thiên nhiên nhưng chưa hẳn giàu có về văn hóa.
+ Con người động lực của văn a bởi nhu cầu của con người sẽ thúc đẩy văn hóa
phát triển. Những thành quả ấy phải phục vụ sự phát triển toàn diện của con người,
phục vụ cuộc sống hạnh phúc trong an toàn của toàn thể xã hội.
+ Con người là chủ thể sáng tạo ra văn hóa nhưng chính văn hóa cũng tạo ra con người,
biến con người thành người có văn hóa. ==> con người nhân văn hơn
3. Chức năng của văn hóa
(tương ứng lần lượt vs 4 đặc trưng)
a) Chức năng tổ chức xã hội
+ Nhờ tính hệ thống văn a với cách là một thực thể bao trùm mọi hoạt động
của xã hội, thực hiện chức năng tổ chức xã hội. Chính văn hóa thường xuyên làm tăng
độ ổn định của xã hội, cung cấp cho hội mọi phương tiện cần thiết để ứng phó với
môi trường tự nhiên và xã hội của mình. Văn hóa là nền tảng của xã hội.
+ Chức năng này duy trì kết cấu xã hội, thực hiện sự liên kết và tổ chức đời sống cộng
đồng thông qua các thiết chế xã hội-văn hóa.Thiết chế xã hội là 1 chức năng hoạt động
xã hội được đặt ra để duy trì và phát triển các chức năng của xã hội, còn được xem như
là đại diện của hệ thống chuẩn mực xã hội, vận hành trong mọi sinh hoạt kinh tế,chính
trị, pháp luật,tôn giáo,văn hóa-xã hội…
b) Chức năng giáo dục
+ Truyền thống văn hóa tồn tại nhờ giáo dục.Văn hóa thực hiện chức năng giáo dục
không chỉ bằng những giá trị đã ổn định mà còn bằng cả những giá trị đang được hình
thành. Hai loại giá trị này đang là chuẩn mực mà con người hướng tới.Nhờ nó mà văn
hóa đóng vai trò quyết định trong việc giáo dục và hình thành nhân cách trồng người.
+ Nhân cách con người được tạo dựng hun đúc, trước hết bởi các giá trị văn hóa
truyền thống của cộng đồng. Một đứa trẻ mới sinh chưa thực sự con người bởi
chưa tiếp nhận được 1 phẩm chất hội nào của loài người truyền cho cả. Đúng như
nhà xã hội học người Mĩ R.E Pacco đã nói :” Người k đẻ ra người. Đứa trẻ chỉ trở nên
người trong quá trình giáo dục. Truyền thống văn hóa luôn thực hiện chức năng giáo
dục của mình đối với con người. Bằng con đường giáo dục hữu thức và vô thức từ khi
lOMoARcPSD| 61464806
chào đời cho đến khi trưởng thành, con người nhận được sự dạy bảo của truyền thống
văn hóa”.
+ Trong các chức năng của văn hóa thì chức năng giáo dục là chức năng bao trùm nhất.
đóng vai trò định hướng giá trị, chuẩn mực hội cho con người, quyết định việc
hình thành và phát triển nhân cách con người.Từ chức năng này văn hóa phát sinh
thêm chức năng đảm bảo nh kế tục lịch sử. Nó thứ “gen” được hội di truyền
phẩm chất con người lại cho thế hệ mai sau. Các chức năng khác như nhận thức, thẩm
mĩ, dự báo, giải trí thể coi như những tiểu chức năng hỗ trợ cho việc thực hiện
chức năng giáo dục của văn hóa.
c) Chức năng điều tiết xã hội
+ Nhờ thường xuyên xem xét các giá trị mà văn hóa thực hiện chức năng điều chỉnh xã
hội, giúp hội duy trì được trạng thái cân bằng động, không ngừng hoàn thiện thích
ứng với những biến đổi của môi trường, giúp định hướng các chuẩn mực, làm động lực
cho sự phát triển của xã hội.
+ Hiểu một cách ngắn gọn thì giá trị là những chuẩn mực được cộng đồng thừa nhận
theo đuổi.Giá trị là nhân tố quan trọng của hành vi cá nhân. Nó điều chỉnh các nguyện
vọng hành động của 1 con người, là cơ sở để đánh giá nh vi và định đoạt lợi ích
hội của các thành viên trong cộng đồng. Do đó giá trị xác định các tiêu chuẩn của
thang bậc xã hội, làm nền tảng cho cuộc sống chung.
+ Trong cuộc sống hằng ngày, mỗi nhân hay nhóm hội nhiều nhu cầu họ
phải thường xuyên lựa chọn các phương thức ứng xử thích hợp nhằm thỏa mãn các nhu
cầu của mình. Sự lựa chọn đó giống như 1 hành động giá trị có liên quan mật thiết với
tiêu chuẩn của khung giá trị chung của cộng đồng. Với mức ổn định lớn, khung giá trị
này sở để các thành viên trong cộng đồng lựa chọn các phương thức hoạt động,
điều chỉnh hành vi của nh cho phù hợp với yêu cầu chuẩn mực của hội.Nền
văn hóa nào cũng 1 bảng giá trị được coi như bộ chỉnh của hội. Bảng giá trị
hội làm nhiệm vụ định hướng cho mục tiêu phấn đấu của mỗi các nhân cộng
đồng…Căn cứ vào đó mà hội thường xuyên chấp nhận, sàng lọc điều chỉnh để duy
trì sự ổn định và không ngừng tự hoàn thiện, văn hóa thực hiện được chức năng quan
trọng là điều tiết xã hội.
d) Chức năng giao tiếp
+ Đây thuộc tính cốt lõi của văn hóa.Nó cho phép phân biệt văn hóa như 1 hiện tượng
xã hội với các giá trị tự nhiên. văn hóa là cái tự nhiên được biến đổi bởi con người. Sự
tác động của con người vào tự nhiên thể mang tính chất như khai khoáng, đẽo gỗ
hoặc tinh thần như đặt tên, tạo truyền thống cho các cảnh quan thiên nhiên.
+ Do gắn liền với con người hoạt động của con người trong xã hội, văn hóa trở thành
1 công cụ giao tiếp quan trọng. Thông qua ngôn ngữ, chữ viết, con người tiếp xúc, trao
đổi thông báo cho nhau, yêu cầu hoặc tiếp nhận nhau các thông tin cần thiết v
hoạt động của cộng đồng... Cùng với ngôn ngữ và vượt lên trên tính trực tiếp của ngôn
ngữ, văn hóa bằng hệ thống các giá trị chi phối cách ứng xử giao tiếp của nhân
với bản thân, gia đình cộng đồng. Mọi nền văn hóa đều hướng đến con người,vì cuộc
lOMoARcPSD| 61464806
sống của con người và cộng đồng. Nhờ đặc điểm chung này, văn hóa còn đóng vai trò
chiếc cầu nối giữa các thế hệ, các dân tộc, quốc gia, tạo nên sự tiếp xúc, giao lưu giữa
các nền văn hóa. Bằng tính vị nhân sinh, văn hóa thực hiện được chức năng thứ 4 của
mình đó là chức năng giao tiếp. Nếu ngôn ngữ là hình thức của giao tiếp thì văn hóa là
nội dung của nó. Văn hóa được coi sợi dây nối liền nhân dân các nước các dân
tộc…
4. Phân biệt Văn hóa với Văn minh, văn hiến, văn vật
a) Văn hóa với văn minh
Lâu nay, không ít người vẫn sử dụng “văn minh” như môt đồng nghĩa với “văn
hóa”. Thực ra đây là những khái niêm g
ần gũi, có liên quan mât thị ết với
nhau, song không đồng nhất. Chúng cùng một nét nghĩa chung “trình độ phát
triển”
Văn Hóa
Văn Minh
- Tính giá trị: chứa cả giá trị vật chất
tinh thần
- Tính giá trị: thiên về giá trị vật chất-kĩ
thuật
- Tính lịch sử: Văn hóa đặc trưng lịch
sử truyền thống với bề dày của quá khứ.
Ta thể chứng minh qua nền văn hóa Việt
Nam giàu truyền thống lịch sử: truyền
thống yêu nước, uống nước nhớ nguồn,
yêu thương đồng loại…
-Tính lịch sử: Văn minh gắn với thành tựu
khoa học thuật hiện đại. Nói đến n
minh, ta thường nhớ đến một nét nghĩa
chung “trình độ phát triển”, một lát cắt
đồng đại, cho biết trình độ phát triển văn
hóa từng giai đoạn. dụ nếu như vào
thế k XIX, chiếc đầu máy hơi nước đã
từng biểu tượng của văn minh thì sang
thế k XX, nó trở thành biểu tượng của sự
lạc hâu, nhự ờng chỗ cho tên lửa vũ trụ và
máy vi tính.
Môt dân tộ c c
ó trình đô văn minh cao  ẫn có thể có môt  ền văn hóa rất ngho nàn,
và ngược lại, môt dân tộ c  ạc hâu  ẫn có thể có môt  ền văn hóa phong phú.
-Là một quá trình tích lũy được sàng lọc
lâu dài của cả dân tộc. Văn hóa Việt Nam
trải qua mấy ngàn năm đã giữ lại được
nhiều nét văn hóa đẹp, giàu bản sắc và loại
bỏ đi những văn hóa cổ hủ, không theo kịp
thời đại(trọng nam khinh nữ, tảo hôn,..)
-Là những sáng tạo, phát kiến mang tính
nhân. dụ như Thomas Edison phát
minh ra bóng đn, Anbe phát minh ra chiếc
máy tính đầu tiên…
-Mang tính cộng đồng, dân tộc, bản sắc:
cái tinh thần và cái lịch sử là của riêng,
-Mang tính quốc tế: giá trị vật chất phổ
thông toàn nhân loại. Văn minh mang nét
lOMoARcPSD| 61464806
không dễ gì mua bán hoăc thay đ
ổi được.
Văn hóa Việt Nam không được tạo từ một
người, hay một nhóm người thành
quả chung của cộng đồng người Việt, từ
nhiều dân tộc Việt. vậy trở nên
cùng đa dạng và đậm đà bản sắc.
nghĩa rộng lớn, là thành quả của toàn nhân
loại, được toàn thể con người công nhận
và sử dụng.
-Được bảo lưu, duy trì, ổn định, gắn với
thói quen, tập quán, tâm linh. Dân tộc Việt
Nam duy trì được nhiều nét đẹp văn hóa
như thờ cúng tổ tiên, biết ơn,…
-Thay đổi liên tục để phù hợp với sự thay
đổi của hội. Trước kia,con người luôn
cho rằng trái đất đứng yên nhưng đến thế
kỉ 17,con người đã thay đổi cách nhìn
cho rằng trái đất quay quanh mặt trời.
-Văn hóa gắn với nhiều hơn với phương
Đông nông nghiệp (4 nền văn hóa cổ đại:
ai cập, lưỡng hà, ấn độ, trung hoa) Văn
hóa Việt Nam được hình thành ven lưu vực
các con sông lớn, thuận lợi cho sản xuất
nông nghiệp
-Văn minh gắn nhiều hơn với phương
Tây đô thị (nền văn hóa Hi-La). Phương
Tây có nhiều phát minh hiện đại.
Như vậy, có thể khẳng định, văn minh nằm trong văn hóa.
b) Văn hóa với văn hiến và văn vật
n hiến truyền thống văn hóa lâu đời, thể hiện tính dân tộc, tính lịch sử
nét. Văn hóa văn hiến, do vậy, 2 khái niệm tương đồng khi người ta dùng để chỉ
đời sống tinh thần của hội. Song chúng khác nhau về tính lịch sử phạm vi bao
quát. Văn hóa là khái niệm rộng hơn văn hiến vì nó còn hàm nghĩa văn hóa vật thể.
n vật là truyền thống văn hóa biểu hiện ở nhiều nhân tài và di tích lịch sử vì vậy
văn vật thiên về giá trị vật chất. Văn vật cũng thể hiện sâu sắc tính dân tộc và tính lịch
sử nhưng khi so sánh với khái niệm văn hóa, ta thấy văn vật cũng ở trong tương quan
tựa như văn hiến nhưng từ một phía khác
Chung quy, văn minh, văn hiến, văn vật đều là những khái niệm bộ phận của văn
hóa. Bởi vì văn hóa bao giờ cũng được dùng với một hàm nghĩa bao quát hơn.
5. Ví dụ chứng minh
Nhắc đến văn hoá từ Giai đoạn văn hoá Văn Lang – Âu Lạc, từ gần năm 3000 đến
cuối thiên niên k 1 trước Công nguyên vào thời đại đồ đồng khai, trải 18 đời vua
Hùng, được coi đỉnh cao thứ nhất của lịch sử văn hoá Việt Nam, với sáng tạo tiêu
biểu là trống đồng Đông Sơn kỹ thuật trồng lúa nước ổn định. Đến bây giờ nét đẹp
văn hoá này vẫn được Việt nam ta tiếp tục pháp huy, kế truyền.
lOMoARcPSD| 61464806
Hoặc nhắc đến văn hoá của Việt Nam trong tín ngưỡng sùng bái con người phải
kể đến việc cả nước Việt nam cùng thờ vua tổ, có ngày giỗ tổ chung là Hội đền Hùng.
Đặc biệt việc thờ Tứ Bất Tử thờ những giá trị rất đẹp của dân tộc: Thánh Tản Viên
chống lụt, Thánh Gióng chống ngoại xâm, Chử Đồng Tử nhà ngho cùng vợ ngoan
cường xây dựng nghiệp giàu có, bà Chúa Liễu Hạnh - công chúa con Trời từ bỏ
Thiên đình xuống trần làm người phụ nữ khát khao hạnh phúc bình thường.
Văn hóa Việt Nam thể kể đến áo dài, khi nói đến áo dài người ta sẽ nghĩ đến
nét văn hóa về trang phục của Việt Nam, nói đến Kimono nghĩ đến đến nét văn hóa
về trang phục của Nhật Bản hoặc khi nhắc đến Hanbok bạn snghĩ ngay đến nét văn
hóa về trang phục của Hàn Quốc. Bản sắc văn hóa thhiện nét riêng nét đặc
trưng mà chỉ cần nhắc đến người ta sẽ nghĩ ngay đến một địa điểm cụ thể nào đó tồn tại
bản sắc văn hóa đó.
==> Tất cả những điều đó đều những nét đẹp văn hoá, nét đẹp dân tộc luôn
trường tồn, đi cùng dân tộc từ những thời kỳ dựng nước, giữ nước cho đến hiện tại
nét đẹp này vẫn luôn được phát huy và trở thành nét đẹp thời đại của cả một dân tộc.
*Văn hóa là nền tảng tinh thần của xã hội
- Đào tạo con người theo các giá trị chân-thiện-
- Hình thành trong phẩm chất mọi thành viên trong hội ý thức phát huy các tiềm
năng về thể lực, trí lực và nhân cách
- Tích cực xây dựng một môi trường văn hóa lành mạnh để có đủ sức đề kháng đẩy lùi
các tiêu cực hội, bài trnhững văn hóa phản tiến bộ. *Văn hóa động lực thúc
đẩy sự phát triển của xã hội
- Sự phát triển của một dân tộc gắn liền với cái mới nhưng không tách rời cội nguồn,
văn hóa
- Con người nhân tố vai trò quan trọng không thể thiếu trong sự phát triển
của kinh tế, xã hội
- Văn hóa khả năng tiếp thu cải biến những yếu tố văn hóa ngoại sinh để biến
thành ngoại lực thúc đẩy sự phát triển của kinh tế, xã hội
- Văn hóa sẽ giải phóng nhân lên mọi tiềm năng sáng tạo của con người trong mọi
lĩnh vực đời sống xã hội mà trước hết là kinh tế
- Văn hóa đường dẫn để kết nối giữa tăng trưởng kinh tế với thực hiện tiến bộ
công bằng xã hội. Đây chính là một trong các tiền đề để phát triển kinh tế - xã hội bền
vững.
- Khơi dậy khát vọng phát triển đất nước, tinh thần yêu nước, ý chí tự cường dân tộc
trong phát triển kinh tế. "Khát vọng và ý chí phát triển là động lực hết sức quan trọng
để đưa mọi dân tộc đi tới thịnh vượng và thành công". Khát vọng về một đất nước độc
lập, hòa bình, phồn vinh, hạnh phúc đã hun đúc nên ý chí, dẫn dắt c thế hệ người
6
. Vai trò văn hóa
lOMoARcPSD| 61464806
Việt Nam vượt thoát khỏi bao cuộc thử thách hiểm ngho của lịch sử, giành lại độc
lập chung tay xây dựng đất nước. Lịch sử đã chứng minh rằng những giá trị văn
hóa được khơi dậy đúng mức sẽ biến thành sức mạnh to lớn.
*Văn hóa là mục tiêu của sự phát triển
- Mục tiêu của sự phát triển ở nước ta: “Dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn
minh”
- Trong chiến lược phát triển kinh tế 2011-2020:
+ Xác định: phát huy tối đa nhân tố con người, con người là chủ thể, nguồn lực chủ yếu
và là mục tiêu của sự phát triển
+ Yêu cầu: Tăng trưởng kinh tế kết hợp hài hòa với phát triển văn hóa, thực hiện công
bằng xã hội, không ngừng nâng cao chất lượng cuộc sống của nhân dân.
- Phát triển phải hướng tới mục tiêu văn hóa - hội mới đảm bảo được sự bền vững
và trường tồn cho sự giàu mạnh của tổ quốc.
Văn hóa vai trò đặc biệt quan trọng trong việc bồi dưỡng, phát huy nhân tố con
người và xây dựng xã hội mới.Văn hóa giúp mở rộng hiểu biết, nâng cao dân trí, giúp
bồi dưỡng tưởng đúng đắn nh cảm cao đẹp cho con người, cho nhân dân Việt
Nam tưởng độc lập dân tộc gắn với chủ nghĩa hội, đồng thời bồi dưỡng phong
cách, lối sống lành mạnh, hướng con người đến chân-thiện-mĩ để hoàn thiện bản thân.
7. Định vị văn hóa VN
- Loại hình văn hóa khái niệm để phân loại c văn hóa dựa trên phương thức kinh
tế.
- Do tận cùng phía đông nam nên VN thuộc loại văn hóa gốc nông nghiệp điển
hình
Văn hóa gốc nông nghiệp
Đặc trưng gốc
Khí hậu
Nắng nóng lắm, mưa ẩm nhiều
Nghề chính
Nông nghiệp trồng lúa nước
nghề trồng trọt buộc người dân phải sống định cư để chờ cây
cối lớn lên, ra hoa kêt trái thu hoạch. Do sống phụ thuộc
nhiều vào thiên nhiên nên dân nông nghiệp ý thức tôn trọng
ước vọng sống hòa hợp với thiên nhiên. Người Việt
Nam mở miệng là nói “lạy trời”, “nhờ trời”, “ơn trời”…
Lối tư duy tổng hợp và biện chứng: Tổng hợp là bao quát
lOMoARcPSD| 61464806
được mọi yếu tố, còn biện chứng chú trọng đến các mối
quan hệ giữa chúng. Người Việt tích lũy được một kho kinh
nghiệm hết sức phong phú về các loại quan hệ này: Quạ tắm
thì ráo, sáo tắm thì mưa; Ráng mỡ gà, ai có nhà phải chống;
Được mùa lúa thì úa a cau, được mùa cau thì đau mùa
lúa…
Tổ chức cộng đồng
Nguyên tắc
- nguyên tắc trọng tình: Hàng xóm sống cố định lâu dài vớ
i
nhau phải tạo ra một cuộc sống hòa thuận trên cơ sở lấy tình
nghĩa làm đầu “một bồ cái lí không bằng một tí cái tình”
- thái độ trọng đức, trọng văn, trọng phụ nữ (xứ sở Mẫu h)
Cách thức
- linh hoạt và dân chủ: ở bầu thì tròn, ở ống thì dài; đi với
bụt mặc áo cà-sa, đi với ma mặc áo giấy...
- trọng tập thể, cộng đồng
- dung hợp trong tiếp nhận: tiếp nhận các tôn giáo như
Nho giáo, đạo giáo, phật giáo...
- mềm dẻo, hiếu hòa: khi chiến thắng giặc ngoại xâm thì
luôn cầu hòa để mở đường cho chúng rút lui trong danh dự
- Như vậy, hầu như tất cả những đặc trưng của loại hình văn hóa gốc nông nghiệp trồng
trọt đều được thể hiện rõ nét trong cách tố chức đời sống, phương thức tư duy, lối ứng
xử của người Việt truyền thống.
- Tuy nhiên, mặt trái của tính linh hoạt trọng tình dẫn đến thái độ tùy tiện,
coithường tính nguyên tắc, ý thức tổ chức k luật kém.Văn minh nông nghiệp kéo dài
đã làm chậm sự phát triển của tiến trình lịch sử Việt Nam, không tạo ra được những
tiền đề điều kiện để bức ra khỏi i khung phong kiến phương Đông, làm hạn chế
tính năng động, sáng tạo của con người Việt Nam dẫn đến sự trì trệ của xã hội Việt
Nam.
8. Tiến trình văn hóa Việt Nam
5 thời kỳ :
+ tiền và sơ sử
+ bắc thuộc và chống bắc thuộc
+ quân chủ (phong kiến tự chủ_
+ Pháp thuộc và chống Pháp thuộc
+ Nhà nước dân chủ nhân dân từ 1945 cho đến nay
lOMoARcPSD| 61464806
1) Thời kỳ tiền sử và sơ sử
- Thời kì tiền sử (còn gọi là thời kì nguyên thủy): là thời kì đầu tiên và cũng là kéo dài
nhất trong lịch sử phát triển của hội loài người, tính từ khi con người xuất hiện
đến hết thời đại đồ đá.
- Thời sử: ứng với thời đại kim khí theo phân kỳ khảo cổ học, bao gồm cả thời
đại đồ đồng cho đến sơ kỳ thời đại đồ sắt.
a) Thời kì Tiền sử
THỜI ĐẠI ĐÁ CŨ
* Sơ kì = Sự xuất hiện dấu tích người tối cổ (hay người vượn)
- Di chỉ An Khê:
+ Cách ngày nay 80 vạn đến gần 1 triệu năm.
+ Công cụ tìm thấy: rìu đá gh đặc trưng - Di
chỉ Thẩm Khuyên - Thẩm Hai:
+ Cách ngày nay trên dưới 40 vạn năm.
+ Dấu tích tìm được: 10 chiếc răng của người tối cổ (Homo Erectus)
- Di chỉ Núi Đọ:
+ Cách ngày nay khoảng 30 vạn năm
+ Hiện vật tìm được: Hàng vạn mảnh tước, công cụ chặt đập thô sơ (ví như “di chỉ xưởng”)
- Các di chỉ khác: Núi Nuông (Thanh Hóa), Xuân Lộc (Đồng Nai), An Lộc (Bình Phước)
*Niên đại:
+ Bắt đầu: Cách ngày này khoảng 80 vạn đến gần 1 triệu năm
+ Kết thúc: Cách ngày nay khoảng 4000 năm (khi chấm dứt thời kì đồ đá).
*Đặc trưng: sự xuất hiện của người nguyên thủy với việc chế tác công cụ đồ đá.
*Lưu ý: Quan niệm Việt Nam là một trong những cái nôi của loài người không đủ cơ sở.
Nên nhận thức: Việt Nam trong bối cảnh Đông Nam Á địa bàn đã chứng kiến sự xuất
hiện từ khá sớm của những cá thể người đầu tiên- người tối cổ. * Hậu kì = Sự xuất hiện
người tinh khôn (hay người hiện đại) - Thời gian:
+ Mở đầu: khoảng 1.5-2 vạn năm cách ngày nay (di chỉ Hang Hùm, Thẩm Ồm)
+ Chính thức: Văn hóa Ngườm (Thái Nguyên), Sơn Vi (Phú Thọ) - Đặc trưng:
+ Không gian sinh sống: Đồi gò, trung du Bắc Bộ và Bắc Trung Bộ.
+ Công cụ: đá gh đẽo, hạch đá, mảnh tước
+ Đời sống kinh tế: săn bắt, hái lượm chủ yếu (“kinh tế tước đoạt tự nhiên”)
+ Tổ chức: công xã thị tộc, sống theo gia đình (2-3 thế hệ già trẻ)
THỜI ĐẠI ĐÁ MỚI
- Thời gian:
+ Sơ kì (hơn 1 vạn năm đến 7000-8000 năm): Văn hóa Hòa Bình, Bắc Sơn
lOMoARcPSD| 61464806
+ Hậu kì (khoảng 5000-6000 năm): Văn hóa Hà Giang, Mai Pha, Hạ Long, Bàu Tró...
- Đặc trưng chung:
+ Không gian sinh sống: mở rộng thêm (cả đồng bằng, ven biển)
+ Công cụ: đá mài (giai đoạn hậu kí kĩ thuật chế tác phát triển cao nên còn gọi là cách mạng
đá mới), xuất hiện đồ gốm
+ Đời sống kinh tế: săn bắn, hái lượm đàn thứ yếu, dần sự xuất hiện nông nghiệp trồng
lúa (khoảng 5000 năm cách ngày nay).
+ Tổ chức: công xã tộc, có sự phân công lao động rõ nét...
b) Thời kỳ sơ sử
THỜI ĐẠI KIM KHÍ (ĐỒ ĐỒNG VÀ ĐỒ SẮT)
- Thời gian:
+ Mở đầu: 4000 năm cách ngày nay.
+ Kết thúc: thế kỉ I-II công nguyên.
(Xuất hiện 3 khu vực Bắc - Trung - Nam không hoàn toàn giống nhau)
- Đặc trưng chung:
+ Không gian sinh sống: đa dạng tất cả vùng địa hình
+ Công cụ: đồ đồng, sau đồ sắt dần xuất hiện thay thế cho đồ đá (VD ở miền Bắc: Phùng
Nguyên: mới xuất hiện xỉ/rỉ đồng) => Đồng Đậu 20% đồ đồng: Gò Mun >50% đồ đồng
=> Đông Sơn: tuyệt đại đồ đồng và sắt)
+ Đời sống kinh tế: “kinh tế sản xuất” hoàn toàn thay “kinh tế tước đoạt”
+ Tổ chức đời sống: Công xã thị tộc phụ hệ (Bắc Bộ và Bắc Trung Bộ); Công xã nông nông
thôn ra đời
+ Biến đổi xã hội: “Nguyên tắc vàng” của xã hội nguyên thủy dần phá vỡ, xã hội có giai cấp
xuất hiện
+ Gắn liền với sự xuất hiện của đồ kim khí (đồng, sắt) trên cả 3 miền (Bắc, Trung, Nam)
+ Trên cơ sở các nền văn hóa kim khí tiêu biểu 3 miền đã đưa đến sự ra đời của 3 nhà nước
cổ đại đầu tiên:
Nền văn hóa
Đông Sơn
Sa Huỳnh
Đồng Nai (giai đoạn
cuối là Óc Eo)
Niên đại
TK VIII, VII TCN -
TK I, II
TK V TCN - TK I,
II
TK I- VII
Khu vực
Bắc Bộ và Bắc Trung
Bộ
Nam Trung Bộ
Nam Bộ
lOMoARcPSD| 61464806
sở ra đời
nhà nước
Văn Lang (nối tiếp
sau là Âu Lạc)
Lâm Ấp (sau đổi là
Chămpa)
Phù Nam
- Nền văn hóa thuộc thời đại đồ sắt, niên đại mở đầu tương ứng với niên đại ra đời
của nhà nước Văn Lang.
- Thời kì văn hóa Đông Sơn gắn với giai đoạn tồn tại của nhà nước Văn Lang - Âu Lạc
+ Văn Lang: TK VII TCN đến TK III TCN
+ Âu Lạc: từ năm 208 đến năm 179 TCN
(Quan điểm 4000 năm lịch sử dựng nước không đúng)
- Văn hóa Đông Sơn đã đưa người Việt cổ bước vào thời đại văn minh đầu tiên trong
lịch sử.
- Tên gọi: + văn minh sông Hồng (địa bàn chủ yếu của nền vm)
+ văn minh Việt Cổ (chủ nhân của nền vm)
+ văn minh Văn Lang - Âu Lạc (diễn biến phát triển)
+ văn minh Đông Sơn (tên nề văn hóa phát triển đỉnh cao)
- Điều kiện kinh tế:
+ Sự phát triển của kĩ thuật luyện kim ở thời kì Đông Sơn => dùng cày đồng sắt giúp
nông nghiệp phát triển
+ Cùng với sự chuyển biến của kinh tế nông nghiệp là sự phát triển của các nghề gốm,
luyện kim, dệt..
- Điều kiện cư dân - xã hội:
+ Sự liên kết giữa các nhóm cư dân/bộ lạc trên cơ sở cùng chung nhu cầu trị thủy, thủy
lợi, tự vệ...
+ Các công xã nông thôn hình thành (kẻ/chiềng/chạ)
=> Cơ sở định hình tổ chức xã hội truyền thống theo mô hình nhà-làng-nước của
người Việt. - Đời sống vật chất
+ Ăn: mô hình bữa ăn “cơm - rau - cá”
Lương thực: gạo tẻ, gạo nếp,
Thực phẩm: mắm, cá, nhuyễn thể, gia súc thuần dưỡng (P.s. riêng nuôi chó để đi săn
là chủ yếu) + Mặc:
Ngày thường: đàn ông đóng khố, phụ nữ mặc váy
Lễ hội: đội mũ lông chim, đeo trang sức (vòng tay, hạt chuỗi, khuyên tai,...)
+ Ở: nhà sàn, nhà mái cong
+ Đi lại: đi bộ, dùng thuyền, b, mảng
Văn hóa ĐÔNG SƠN
lOMoARcPSD| 61464806
- Đời sống tinh thần
+ Tín ngưỡng: sùng bái tự nhiên, thờ cúng tổ tiên, phồn thực...
+ Phong tục tập quán: nhộm răng ăn trầu, làm bánh chưng bánh dày, các lễ hội gắn với
nông nghiệp...
+ Nghệ thuật tạo hình, trang trí, duy hình khối, lưỡng hợp hình thành (thể hiện
nhất qua các họa tiết trang trí trên trống đồng)...
- Giá trị kết tinh thời kì văn hóa Đông Sơn để lại
+ Thời đánh dấu mở đầu thời dựng nước trong lịch sử dân tộc, đưa người Việt
bước vào thời đại văn minh đầu tiên.
+ Đây nền văn hóa bản địa Đông Sơn, góp phần định hình những giá trị cốt lõi văn
hóa mang tính bản địa về sau.
+ Lưu ý các giá trị kết tinh từ thời văn hóa Đông Sơn còn lại đến ngày nay:
Nền kinh tế nông nghiệp trồng lúa nước (hiện vẫn là thế mạnh của Việt Nam).
Kĩ thuật đúc đồng thau đạt đến đỉnh cao (trống Ngọc Lũ, thạp Đào Thịnh)
Khả năng phòng thủ quân sự (mũi tên đồng, thành Cổ Loa), + Mô hình nhà nước đầu
tiên với ý niệm về đồng bào, tổ quốc
Các phong tục tập quán bản địa giản dị, đậm bản sắc...
- Nền văn hóa thuộc khu vực miền Trung, được gọi theo tên địa điểm khảo cổ học
Quảng Ngãi.
- Niên đại mở đầu cách ngày nay khoảng 2500 năm (tồn tại từ TK V TCN đến TK I,
II)
- Chủ nhân nói tiếng Nam Đảo hay Malai - Pôlinêdi với nhiều yếu tố Nam Á. Một bộ
phận về sau là cư dân Chămpa cổ
- Đời sống vật chất
+ Hoạt động kinh tế đa dạng: ngoài nông nghiệp còn sản xuất các mặt hàng thủ công
(đặc biệt chế tác đồ sắt); khai thác các nguồn lợi tự nhiên trên rừng + biển (trầm hương,
kì nam,...)
+ Cư dân Sa Huỳnh (một bộ phận sau là người Chăm cổ) giỏi nghề đi biển và sớm biết
khai thác biển.
Lưu ý: khác với cư dân Việt cổ ở Bắc Bộ Bắc Trung Bộ chủ yếu trồng lúa nước... =>
Dấu ấn của rừng và biển trong văn hóa Sa Huỳnh rõ rệt.
- Đời sống tinh thần
+ Khiếu thẩm mĩ phát triển cao, ưa dùng đồ trang sức: vòng, nhẫn, khuyên tai bằng mã
não, đá
+ Sản phẩm đặc thù: Khuyên tai hai đầu thú, ba mấu
Văn hóa SA HUỲNH
lOMoARcPSD| 61464806
+ Táng thức: nhiều dạng, tiêu biểu nhất là mai táng bằng mộ chum km đồ tùy táng
(hình dạng vò, chum đa dạng)
- Nền văn hóa thuộc thời đại đồng thau và sắt sớm, sinh sống ở các tiểu vùng sinh thái
khác nhau thuộc Đông Nam Bộ.
- Dù đã chuyển sang thời đại kim khí nhưng đồ đá vẫn phổ biến và chiếm số lượng lớn
với các bộ công cụ đá mang tính chuyên môn hóa cao.
- Đàn đá sản phẩm đặc thù, mặt nhiều di tích (Suối Chồn, Dốc Chùa, Cái Vạn...),
niên đại cách ngày nay khoảng 3000 năm.
- Đời sống vật chất
+ Đồ đá chủ yếu là vũ khí, công cụ sản xuất (rìu, bôn, cuốc) và vòng đá
+ Đồ gốm và nghề gốm xuất hiện khá sớm (vỏ bát, bàn xoa, dọi xe chỉ...). Gốm có họa
tiết đơn giản song có độ nung cao.
+ Bộ sưu tập công cụ bằng gỗ, xương phong phú về loại hình.
+ Kinh tế truyền thống: trồng lúa cạn không dùng sức kéo; chăn nuôi, săn bắn, hái lượm,
đánh bắt nhuyễn thể.
- Đời sống tinh thần
+ Ý niệm nghệ thuật bước đầu hình thành: sưu tầm thẻ đeo bằng đá cuội mài dẹt hình
ovan; tượng rùa và chó săn mồi bằng đồng.
+ sự giao lưu văn a với các vùng khác: tìm thấy khuyên tai hai đầu thú của văn
hóa Sa Huỳnh; trống đồng giống kiểu loại văn hóa Đông Sơn.
Những thành tựu của Văn minh Văn Lang – Âu Lạc.
Nền văn minh sông Hồng được hình thành cùng với sự ra đời của nhà nước Văn
Lang Âu Lạc sự phát triển của đời sống vật chất tinh thần của người Việt cổ.
Trên cơ sở một nền kinh tế phát triển mạnh và phạm vi lãnh thổ được mở rộng từ vùng
đồi núi, trung du đến vùng đồng bằng rộng lớn của sông Hồng, sông Mã, sông Cả,…
đời sống vật chất, tinh thần được nâng cao rệt; tổ chức hội đạt đến một trình độ
cao hơn, vượt khỏi thời nguyên thu, bước sang thời đại văn minh đầu tiên của người
Việt cổ – nền văn minh sông Hồng.
* Đời sống vật chất
- Sản xuất: Thóc gạo nguồn lương thực chính của dân Văn Lang Âu Lạc, chủ
yếu gạo nếp dùng để thổi cơm, xôi, làm bánh chưng, bánh giầy. Ngoài thóc gạo
nguồn lương thực chính, dân Văn Lang Âu Lạc còn sử dụng các loại hoa màu,
rau qu, nhất các loại cây củ cung cấp chất bột như củ từ, khoai lang, sắn, củ
mài, khoai sọ. Lúc thiếu thốn, người ta còn dùng c loại cây bột khác như cây
quang lang, búng, báng.
Văn hóa ĐỒNG NAI
lOMoARcPSD| 61464806
- Thức ăn cũng khá phong phú, gồm các loại cá, tôm, cua, ốc hến, ba ba, các loại rau
củ (bầu, bí, cà, đậu…). Thức ăn được chế biến theo nhiều cách khác nhau theo sở thích
từng vùng, từng gia đình (đun nấu, nướng, muối, ăn sống…) Nghề chăn nuôi săn
bắn phát triển đã cung cấp thêm nguồn thức ăn cho mỗi gia đình. dân bấy giờ đã
biết chăn nuôi nhiều loại gia súc, gia cầm (trâu, bò, lợn, gà, chó…). Trong thức ăn quen
thuộc của cư dân Văn Lang Âu Lạc còn nhiều loại hoa quả vùng nhiệt đới như:
vải, nhãn, mơ, mận, chuối, dưa hấu, cam, quýt,… Người ta cũng đã biết sử dụng nhiều
thứ gia vị có nguồn gốc thực vật như gừng, hẹ,… Nguồn lương thực thực phẩm của
người Việt cổ rất phong phú, đa dạng rất giàu chất bột, chất đạm các chất bổ khác.
Đây là một biểu hiện của cuộc sống vật chất được nâng cao, của sự phát triển kỹ thuật
canh tác nông nghiệp của cư dân bấy giờ .
- Tập quán ăn uống: Người Việt cổ bấy giờ tục uống rượu gạo ăn trầu. Rượu
được nhắc đến nhiều trong các thư tịch cổ, truyện dân gian. Người Đông Sơn thói
quen ăn trầu, nhuộm răng đen. Dấu tích hạt cau, quả cau đã được tìm thấy ở Đông Sơn.
- Trang phục của cư dân Văn Lang – Âu Lạc đã phản ánh một phần trình độ phát triển,
óc thẩm mỹ và bản sắc văn hoá của người Việt cổ. Do nghề dệt phát triển, người Việt
cổ đã sản xuất được nhiều loại vải khác nhau từ sợi đay, gai, tằm, bông, nên đã
đáp ứng được nhu cầu may mặc của nhân dân. Trong sinh hoạt đời thường, nam thường
đóng khố, nữ mặc váy. Vào các ngày lễ hội, trang phục của nam nữ đẹp đẽ hơn: có
mũ lông chim, váy xòe kết bằng lông chim hoặc lá cây và mang nhiều đồ trang sức đẹp
(khuyên tai, hạt chuỗi, nhẫn, vòng tay, vòng cổ chân bằng đá, đồng).
- Về đầu tóc, người bấy giờ bốn kiểu: kiểu tóc cắt ngắn, búi tóc, tết bím tóc
quấn ngược lên đỉnh đầu. Trên thạp đồng Đào Thịnh (Yên Bái) có tượng nam tóc cắt
ngắn ngang vai để xoã. Ở trống đồng Cổ Loa cũng có hiện tượng tương tự. Lối cắt tóc
ngắn đến ngang lưng, để xoã khá phổ biến nam giới thời bấy giờ. Búi tóc cũng rất
phổ biến cả nam giới và nữ giới. Nhiều người còn có kiểu chít một dải khăn nhỏ giữa
trán chân tóc, hoặc đuôi khăn thả dài phía sau. thể nói, kiểu tóc cắt ngắn buông
xoã sau lưng và búi tóc cao sau đầu là hai kiểu tóc phổ biến nhất của người Đông Sơn.
Người Việt cổ bấy giờ còn có tục xăm mình.
- Nhà ở có nhiều kiểu như nhà sàn, nhà mái cong làm bằng gỗ, tre, nứa. Trên trống
đồng Đông Sơn ta thấy 2 kiểu nhà: nhà sàn mái cong hình thuyền và mái tròn hình
mui thuyền, sàn thấp, mái rủ xuống như mái tranh đến gần sàn, có cầu thang lên xuống.
Mỗi công nông thôn bao gồm một số nhà sàn quần tụ bên nhau trong một địa vực,
hình thành những xóm làng định cư lâu dài mà thời đó thường gọi là kẻ, chiềng tức
nơi chốn, chạ tức tục kết đôi làng quê. Các vật dụng trong sinh hoạt gia đình rất
phong phú như bình, vò, thạp, mâm, chậu, bát bằng đồ gốm hay bằng đồng. Ngoài ra,
có những đồ dùng làm bằng tre, nứa, mây, vỏ bầu,…
- Phương tiện giao thông chủ yếu thuyền . Thuyền thuyền độc mộc, thuyền
ván với các kiểu loại khác nhau: thuyền chiến, thuyền tải, thuyền bơi trải. Trên bộ còn
sử dụng súc vật như voi, trâu, bò, ngựa.
* Đời sống tinh thần
lOMoARcPSD| 61464806
dân Văn Lang Âu Lạc đã đạt đến một trình độ thẩm mỹ, duy khá cao.
Những sản phẩm đẹp, tiêu biểu như trống đồng, thạp đồng, trang sức bằng đồng nói lên
kỹ thuật luyện đồng đã đạt đến đỉnh cao (từ cách xây dựng các đúc, khuôn đúc,
nguyên liệu pha chế hợp kim, làm hoa văn,…). Người xưa tuỳ theo chức năng sử dụng
của từng loại công cụ mà tạo nên một hợp kim hay t lệ giữa các hợp kim cho phù hợp
với cách chế tạo đồ đồng của người Đông Sơn, thể hiện khá rõ nét trình độ tư duy khá
cao của người Việt cổ. Điều này còn được thể hiện trình độ luyện sắt bấy giờ với
phương pháp hoàn nguyên trực tiếp thành loại sắt xốp.
Trong quá trình quy tụ các bộ lạc sống trên cùng một phạm vi đất đai đã hình
thành lãnh thổ chung, đã nổi lên xu hướng thống nhất, đoàn kết, hoà hợp trước yêu cầu
trị thủy, làm thu lợi để phát triển nông nghiệp và chống ngoại xâm.
Từ ý thức cộng đồng đã nảy sinh tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên, sùng bái các anh
hùng, các thủ lĩnh. Cụ thể, trong ý thức tư tưởng của cư dân bấy giờ, là các cộng đồng
n của nước Văn Lang Âu Lạc đều cùng chung một cội nguồn, một tổ tiên.
Nhiều phong tục tập quán được định hình đã nói lên sự phong phú và phát triển của đời
sống tinh thần trong xã hội Hùng Vương như tục ăn đất, uống nước bằng mũi, tục giã
cối (để làm hiệu lệnh, truyền tin), tục cưới xin, ăn hỏi, ma chay, chôn cất người chết
trong mộ đất, mộ quan tài hình thuyền, chôn chồng lên nhau, chôn trong nồi úp
nhau, chôn theo đồ tuỳ táng bằng hiện vật.
Lễ hội bấy giờ rất phổ biến, thịnh hành, một phần quan trọng trong đời sống
tinh thần của người Văn Lang Âu Lạc. Lễ hội được tiến hành rải rác quanh năm, trong
đó đặc sắc nhất ngày hội mùa với nhiều nghi lễ như đâm trâu, các hình thức
diễn xướng dân gian (đoàn người hoá trang, vừa đi vừa múa, tay cầm giáo, lao, nhạc
cụ…). Bên cạnh đó, còn có những hội thi tài, thi sức khoẻ, hội đâm trâu, hội cầu nước,
hội mừng năm mới…
Đồ trang sức, công cụ lao động đồ dùng sinh hoạt cũng như khí không
những hết sức phong phú còn đạt đến trình độ kỹ thuật mỹ thuật rất cao, những
thứ có thể xem như những tác phẩm nghệ thuật. Nghệ thuật Đông Sơn trở thành đỉnh
cao của nghệ thuật tạo hình thời Hùng Vương, vừa phản ánh cuộc sống thường nhật
của cư dân Việt cổ, vừa thể hiện mối quan hệ giữa con người với thế giới chung quanh.
Nghệ thuật âm nhạc cũng phát triển. nhiều nhạc cụ được chế tạo sử dụng
bộ gõ trống đồng, trống da, chuông nhạc, phách, bộ hơi (khn). Trong các nhạc cụ,
tiêu biểu nhất là trống đồng. Cư dân bấy giờ biết sử dụng nhiều nhạc cụ phối hợp trong
các lễ hội. Trên trống đồng Đông Sơn có cảnh sử dụng dàn trống đồng từ 2 đến 4 chiếc,
dàn cồng từ 6 đến 8 chiếc và một tốp người vừa múa vừa sử dụng những nhạc khí khác
nhau như chuông, khn, sênh. Trên trống đồng có hình ảnh người nhảy múa hoá trang
và múa vũ trang.
Cùng với trống đồng di vật tiêu biểu của nền văn hóa Đông Sơn văn minh
sông Hồng, công trình kiến trúc thành Cổ Loa cũng biểu hiện trình độ phát triển cao
của cư dân thời Văn Lang – Âu Lạc.
* Tổ chức xã hội
lOMoARcPSD| 61464806
Đứng đầu nhà nước Văn Lang Âu Lạc là nhà vua, cha truyền con nối. Giúp
việc cho nhà vua các Lạc hầu, Lạc tướng. Nhà nước văn lang đã một đội quan
thường trực với vũ khí bằng đồng, như: dìu chiến, giáo mác, dao găm. Đặc biệt, họ biết
sử dụng thành thạo các loại cung nỏ, có loại bắn một lần được nhiều mũi tên. Thời Âu
Lạc, nhà vua đóng đô ở thành Cổ Loa.
Đơn vị hội sở của người Việt cổ các làng bản, đứng đầu các Bố chính
(thường một người già làng), Bình dân làng gọi Lạc dân. Trong ng xã, tinh
thần cộng đồng rất sâu đậm. Họ sống quây quần giúp đỡ lẫn nhau, đoàn kết cùng chống
kẻ thù đến xâm lấn.
* Tổ chức gia đình: phụ quyền.
9. Giao lưu và tiếp biến văn hóa Việt Nam
* Khái niệm: Hiện tượng này xảy ra khi những nhóm người văn hóa khác nhau giao
lưu tiếp xúc với nhau tạo nên sự biến đổi về văn hóa của một hoặc cả hai nhóm. Giao
lưu văn hóa tạo nên sự dung hợp, tổng hợp và tích hợp văn hóa ở các cộng đồng. Ở đó
sự kết hợp giữa các yếu tố nội sinh với yếu tố ngoại sinh tạo nên sự phát triển văn
hóa phong phú, đa dạng và tiến bộ hơn.
- Giao lưu và tiếp biến văn hóa là sự tiếp nhậnn hóa nước ngoài bởi dân tộc chủ thể.
Quá trình này luôn đặt mỗi dân tộc phải xử lý tốt mối quan hệ biện chứng giữa yếu tố
nội sinh và ngoại sinh
*Quá trình giao lưu tiếp biến văn hóa thường diễn ra theo hai hình thức:
- Hình thức tự nguyện: Thông qua các hoạt động như buôn bán, thăm hỏi, du lịch, hôn
nhân, quà tặng... mà văn hóa được trao đổi trên tinh thần tự nguyện.
- Hình thức cưỡng bức: thường gắn liền với các cuộc chiến tranh xâm lược, thôn tính
đất đai và đồng hóa văn hóa của một quốc gia này đối với một quốc gia khác.
*Giao lưu và tiếp biến văn hóa tại Việt Nam 1. Với văn hóa Đông
Nam Á
- Hai giai đoạn:
+ giai đoạn thứ nhất, trước nền văn hóa Đông Sơn
+ giai đoạn thứ hai là từ văn hóa Đông Sơn (thiên niên k thứ I TCN) trở đi đến thế k
cuối của thiên niên k thứ I TCN
Giai đoạn thứ nhất:
- Việc tiếp xúc giao lưu văn hóa chủ yếu diễn ra giữa các bộ lạc hay nhóm bộ lạc
trong phạm vi lãnh thổ Việt Nam, có những nét tương đồng như:
+ Đông Nam Á một phức thể văn hóa lúa nước với ba yếu tố: văn hóa núi, văn hóa
đồng bằng, văn hóa biển, trong đó yếu tố đồng bằng ra đời sau, chiếm diện tích không
lOMoARcPSD| 61464806
lớn nhưng đóng vai trò chủ đạo. Đông Nam Á trong lịch sử đã từng được mệnh danh
cái nôi của cây lúa nước và là một trong 5 trung tâm cây trồng lớn nhất trên thế giới.
+ Trong cấu gia đình truyền thống Đông Nam Á, người phụ nữ vai trò quyết định.
Đây cũng một đặc trưng tạo nên dấu ấn riêng của văn hóa Đông Nam Á so với các
quốc gia trong khu vực văn hóa phương Đông và phương Tây.
+ Về mặt văn hóa tinh thần, ngay từ thuở khai cư dân Đông Nam Á đã hình thành
cho mình một diện mạo văn hóa tinh thần khá phong phú và phát triển ở trình độ cao.
thể hiện sự phát triển của duy nhận thức về hội thế giới, quan niệm về
tính chất lương phân, lưỡng hợp của thế giới, v.v… Tín ngưỡng khu vực Đông Nam Á
đặc biệt là tín ngưỡng phồn thựcthờ cúng tổ tiên.
Giai đoạn thứ hai: vào thời kỳ Đông Sơn.
- Giữa các nền văn hóa Đông Sơn, văn hóa Sa Huỳnhvăn hóa Đồng Nai không chỉ
sự trao đổi, tiếp xúc lẫn nhau, các nền văn hóa này đã trao đổi tiếp xúc khá
mạnh mẽ với văn hóa Đông Nam Á. Bằng chứng là, người ta tìm thấy khá nhiều trống
đồng Đông Sơn Thái Lan, Lai, In-đô-nê-xi-a miền nam Trung Quốc (thuộc
khu vực văn hóa Đông Nam Á).
- Vào thời kỳ sử, người Việt đã tạo dựng cho mình một nền văn hóa bản địa đặc
trưng riêng biệt: văn a Đông Sơn văn minh sông Hồng trước khi tiếp xúc giao
lưu với văn hóa Trung Hoa và Ấn Độ. Điều này được thể hiện ở một số điểm sau:
+ Địa bàn cư trú của người Việt đã tương đối ổn định, theo mô hình làng.
+ Phương thức sản xuất chính nông nghiệp, trồng trọt, kết hợp với chăn nuôi và đánh
bắt thủy hải sản. Nổi bật là nền văn minh lúa nước, dùng sức kéo là trâu bò.
+ Trình độ luyện kim đồng, sắt, chế tác các dụng cụ lao động, vật dụng, đồ trang sức
bằng đồng, sắt đạt đến trình độ điêu luyện và có cá tính văn hóa Việt.
+ Đã có tiếng nói tương đối ổn định, đó là hệ ngôn ngữ Việt-Mường.
2. Với văn hoa Trung Hoa
Hai tính chất: giao lưu cưỡng bức và giao lưu tự nguyện.
- Giao lưu cưỡng bức diễn ra hai giai đoạn lịch sđiển hình: từ thế k I đến thế k
X và từ 1407 đến 1427.
+ Suốt thiên niên k thứ nhất sau Công nguyên, các đế chế phương Bắc ra sức thực hiện
các chính sách đồng hóa về phương diện văn a nhằm biến lãnh thổ Việt Nam trở
thành một quận, huyện của Trung Hoa.
+ Từ 1407 đến 1427 là giai đoạn nhà Minh xâm lược Đại Việt. Trong số các thế lực từ
phương Bắc, Đại Minh là thế lực tàn bạo nhất đối với văn hóa Đại Việt.
lOMoARcPSD| 61464806
- Giao lưu tiếp biến văn hóa một cách tự nguyện là dạng thức thứ hai của quan hệ giữa
văn hóa Việt Nam và văn hóa Trung Hoa. Trước thời kỳ Bắc thuộc đã từng diễn ra giao
lưu tự nhiên giữa tộc người Hán với dân Bách Việt, đó sự giao lưu tiếp xúc hai
chiều học hỏi lẫn nhau giữa c nền văn hóa. Hiện nay đã phát hiện được trống đồng
nhiều đồ đồng Đông Sơn trên đất Trung Hoa, đồng thời cũng phát hiện nhiều vật
phẩm mang dấu ấn Trung Hoa trong các di chỉ khảo cổ học ở Việt Nam.
- Về văn hóa vật thể, người Việt đã tiếp nhận một số kỹ thuật trong sản xuất như: kỹ
thuật rn đúc sắt gang để làm ra công cụ sản xuất và sinh hoạt, kỹ thuật ng phân để
tăng độ màu mỡ cho đất, dân gian gọi là “phân Bắc”, kỹ thuật xây cất nơi ở bằng gạch
ngói…
- Về văn hóa phi vật thể, Việt Nam tiếp nhận ngôn ngữ của người Trung Hoa (cả từ
vựng chữ viết), tiếp thu hệ tưởng Trung Hoa cổ đại (Nho gia, Đạo gia) trên tinh
thần hỗn dung, hòa hợp với tín ngưỡng bản địa và các hệ tư tưởng khác, tiếp nhận một
số phong tục Lễ Tết, lễ hội, v.v…
3. Với văn hóa Ấn Độ (maybe x)
- Ấn Độmột trung tâm văn hóa văn minh lớn của khu vực phương Đông và thế giới.
Văn minh Ấn Độ lan tỏa khắp khu vực Đông Nam Á trên nhiều bình diện ảnh
hưởng sâu đậm đến văn hóa Việt Nam bằng nhiều hình thức, chủ yếu diễn ra bằng con
đường hòa bình. Các thương gia, các nhàẤn Độ đến Việt Nam với mục đích thương
mại, truyền bá văn hóa, tôn giáo.
- thiên niên k đầu Công nguyên, trên lãnh thổ Việt Nam hiện nay ba nền văn
hóa: văn hóa vùng châu thổ Bắc Bộ, văn hóa Chăm Pa văn hóa Óc Eo. Ảnh hưởng
của văn hóa Ấn Độ đến ba vùng văn hóa này khác nhau, trong đó văn hóa Óc Eo
chịu ảnh hưởng của văn hóa Ấn Độ khá toàn diện.
- Trước khi tiếp xúc với văn hóa Ấn Độ, văn hóa của người Việt đã định hình và phát
triển. Dưới thời Bắc thuộc, người Việt tiếp nhận văn hóa Ấn Độ vừa trực tiếp qua các
thương gia, nhà từ Ấn Độ sang lại vừa gián tiếp qua con đường Trung Hoa.Vùng
châu thổ Bắc Bộ trở thành địa bàn trung chuyển văn hóa Ấn Độ, đặc biệt tôn giáo.
Giao Châu trở thành trung tâm Phật giáo lớn ở Đông Nam Á. Cùng với đạo Phật, một
tổng thể văn hóa Ấn Độ đã ảnh hưởng đến Việt Nam như: ngôn ngữ, âm nhạc, vũ đạo,
nghệ thuật… Ngoài ra cũng đã hình thành ở Việt Nam những công trình văn hóa, nghệ
thuật có giá trị như hệ thống chùa, tháp…
4. Với văn hóa phương Tây
- Giao lưu và tiếp biến với văn hóa phương Tây đặc biệt ở nửa sau của thế k XIX đã
tạo bước chuyển có tính chất bước ngoặt trong sự phát triển của văn hóa Việt Nam.
- Việc giao lưu văn hóa toàn diện thực sự diễn ra là khi Pháp xâm lược Việt Nam. Pháp
sau khi đã lập được ách đô hộ ở Việt Nam, họ rất có ý thức dùng văn hóa như một công
cụ để cai trị. Tuy nhiên, họ đã gặp phải sự chống trả quyết liệt của người Việt Nam trên
cả phương diện chính trị văn hóa như thái độ không tiếp nhận chữ Quốc ngữ thuở
ban đầu, ý thức không học tiếng Tây, không dùng hàng Tây… Tuy nhiên, bằng thái độ
lOMoARcPSD| 61464806
mềm dẻo, cởi mở, dần dần họ đã tiếp nhận những giá trị văn hóa mới để phát triển văn
hóa dân tộc mình.
- giai đoạn 1858-1954: người Việt cấu trúc lại nền văn hóa của mình, đi vào guồng
quay của văn minh công nghiệp phương Tây. Diện mạo văn hóa Việt Nam thay đổi trên
các phương diện: Thứ nhất chữ Quốc ngữ. Thứ hai sự xuất hiện của các phương
tiện văn hóa như nhà in, máy in ở Việt Nam… Thứ ba là sự xuất hiện của báo chí, nhà
xuất bản. Thứ sự xuất hiện của một loạt các thể loại, loại hình văn nghệ mới như
tiểu thuyết, thơ mới, điện ảnh, kịch nói, hội họa
5. Giai đoạn hiện nay
- Hiện nay, Việt Nam đang bước vào cuộc hội nhập lần thứ ba, hướng tới mục tiêu xây
dựng một nền văn hóa "tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc". Cách mạng tháng 8 năm
1945 thành công đặc biệt sau cột mốc 1975, toàn bộ lãnh thổ Việt Nam được thống
nhất quy về một mối, việc giao lưu tiếp biến văn hóa sthay đổi về chất so với
các thời kỳ lịch sử trước đó. Trong công cuộc Đổi Mới hiện nay, vấn đề giao lưu kinh
tế và văn hóa là vô cùng quan trọng và mang tính chất sống còn đối với quốc gia. Đảng
Cộng sản Việt Nam đã thực hiện mở rộng giao u văn hóa với các nước trên thế giới
dưới nhiều hình thức khác nhau, bao gồm việc giới thiệu rộng rãi các giá trị văn hóa
của dân tộc Việt Nam với nước ngoài, đồng thời mở rộng hoạt động văn hóa quốc tế
dưới nhiều hình thức hợp tác, trao đổi, học tập lẫn nhau. Nó tạo nên sự chuyển biến văn
hóa trên tất cả c lĩnh vực của đời sống hội, đặc biệt lĩnh vực khoa học công
nghệ, giáo dụcđào tạo, v.v...
- Giai đoạn hiện nay nổi lên nhiều trào lưu học thuật và các tiểu văn hóa mới, dưới sự
hỗ trợ đắc lực của mạng Internet toàn cầu, các tiểu văn hóa giới trẻ với những phong
cách, hành vi, phát ngôn sở thích riêng biệt cũng góp phần quan trọng trong việc cấu
tạo nên một nền văn hóa Việt Nam hiện đại, ví dụ như Kpop Hàn quốc...
10. Tọa độ văn hóa Việt Nam
Tọa độ văn hóa là phương pháp nghiên cứu văn hóa theo 3 trục: thời gian văn hóa,
không gian văn hóa và chủ thể văn hóa.
Thời gian văn hóa: được xác định từ một nền văn hóa hình thành đến khi tàn lụi.
Thời điểm của một nền văn hóa do thời điểm hình thành dân tộc (chủ thể văn
hóa) quy định
Giai đoạn văn hóa tiền sử (vài nghìn năm trước CN) của cư dân Nam Á với sự
hình thành nghề nông nghiệp trồng lúa nước.
Giai đoạn văn hóa Văn Lang Âu Lạc (giữa thiên niên k thứ III TCN) ứng với
thời đại đồ đồng, là thời điểm hình thành chủng Nam Á (Bách Việt). Giai đoạn
này gắn với truyền thuyết Họ Hồng Bàng. Thành tựu chủ yếu nông nghiệp
lúa nước; luyện kim đồng (Đông Sơn). Giai đoạn này đã tạo nên đỉnh cao rực
rỡ trong lịch sử văn hóa dân tộc và có ảnh hưởng đến toàn khu vực.

Preview text:

lOMoAR cPSD| 61464806
ĐỀ CƯƠNG CSVH VN (Tự làm)
Chương I: VĂN HÓA HỌC VÀ VĂN HÓA VIỆT NAM 1. Khái niệm:
 Theo Phương Đông: văn là hoa văn/nét đẹp, văn chương, chế độ lễ nghi… Hóa:
là trở thành, biến cái, làm cho trở nên...
==> Văn hóa: làm cho...trở nên đẹp, có giá trị
 Theo UNESCO: văn hóa không phải một lĩnh vực đặc biệt. Đó là tổng thể các giá
trị vật chất và tinh thần do con người sáng tạo, phục vụ cho sự phát triển của xã
hội. Văn hóa đã cấu thành nên một hệ thống các giá trị truyền thống, thẩm mĩ và
lối sống mà từng dân tộc dựa vào đó để khẳng định bản sắc riêng của mình
 Theo Hồ Chí Minh: “Vì lẽ sinh tồn cũng như mục đích của cuộc sống, loài người
mới sáng tạo và phát minh ra ngôn ngữ, chữ viết, đạo đức, pháp luật, khoa học, tôn
giáo, văn học, nghệ thuật, những công cụ cho sinh hoạt hằng ngày về mặc, ăn, ở và
các phương thức sử dụng. Toàn bộ những sáng tạo và phát minh đó là văn hóa. Văn
hóa là sự tổng hợp của mọi phương thức sinh hoạt cùng với những biểu hiện của
nó mà loài người đã sản sinh ra nhằm thích ứng với những nhu cầu đời sống và đòi hỏi sự sinh tồn”
*Phân tích quan niệm:
- Quan niệm đã nêu ra cấu trúc của văn hóa, bao gồm: +Văn hóa vật chất +Văn hóa tinh thần
+Tổng hợp phương thức sinh hoạt
- Quan niệm bàn đến đặc trưng của văn hóa: tính vị nhân sinh, được thể hiện ở hai
phương diện: con người là chủ thể sáng tạo ra văn hóa, đồng thời cũng là chủ thể hưởng thụ văn hóa.
- Nhấn mạnh chức năng của văn hóa, trong đó có hai chức năng quan trọng là: duy trì
đời sống xã hội, phục vụ đời sống của con người và từ đó nâng cao giá trị của cuộc sống.
Nhìn nhận các vấn đề trong quan hệ logic tổng hợp.
- Về hình thức: phát biểu mang tính chất quan niệm, không phải học thuật.
2. Đặc trưng văn hóa a) Tính hệ thống lOMoAR cPSD| 61464806
+ Là 1 tổ hợp hữu cơ, bao gồm nhiều thành tố có quan hệ khăng khít với nhau, tương
tác, chi phối và chế ước lẫn nhau. Văn hóa bao trùm mọi lĩnh vực hoạt động của con
người và xã hội, là cơ sở tồn tại và phát triển của xã hội...Văn hóa là sản phẩm mang
tính xã hội cao do mọi người cùng chung sức tạo ra.
+ Xác nhận mỗi hiện tượng chỉ tồn tại và được lý giải sự tồn tại trong hệ thống của nó.
Và tính hệ thống cần được hiểu là hệ thống mở, tức là hiện tượng cũ có thể mất hoặc
thay đổi, hiện tượng mới có thể thêm vào b) Tính lịch sử
+ Một nền văn hóa bao giờ cũng cũng được hình thành qua nhiều thế hệ trên chiều dài
lịch sử. Văn hóa là 1 quá trình vận động liên tục, không gián đoạn, không ngừng tích
lũy, đổi mới. Nó là sản phẩm của 1 xã hội, 1 thời đại nhất định, là di sản của xã hội đó.
+ Mỗi htg vh đồng thời là htg mang tính lịch sử nhưng không có nghĩa là htg lịch sử
nào cũng là htg văn hóa, sẽ có hiện tượng phi văn hóa như: chủ nghĩa Apacthai, chế độ Hit-le...
+ Khi quan sát tính lịch sử của htg vh cần nhìn nhận 2 chiều
 Chiều cạnh lịch đại: biến thiên, vận động theo lịch sử
 Chiều cạnh đồng đại: cùng thời đại
+ Bị quy định bởi tính giá trị và duy trì bằng truyền thống văn hóa. Truyền thống văn
hóa là những giá trị được tích lũy và tái tạo trong cộng đồng người qua không gian, thời
gian, được đúc kết thành khuôn mẫu xã hội và cố định dưới dạng ngôn ngữ, phong tục, tập quán, luật pháp... c) Tính giá trị
+ Văn hóa bao gồm các giá trị trở thành thước đo về mức độ nhân bản của xã hội và
con người. Trong lịch sử phát triển của nhân loại có giá trị của văn hóa để tồn tại và có
giá trị của văn hóa để phát triển.
+ Các giá trị văn hóa không bao giờ tồn tại riêng lẻ mà luôn tồn tại trong hệ thống, gọi
là hệ giá trị. VD nhất nước, nhì phân, tam cần, tứ giống...
+ Có rất nhiều loại giá trị khác nhau
Căn cứ tính chất giá trị Giá trị vật chất Giá trị tinh thần Căn cứ tính tồn tại Giá trị vĩnh cửu Giá trị nhất thời
Căn cứ phạm vi tính giá trị Giá trị phổ quát Giá trị đặc thù d) Tính nhân sinh lOMoAR cPSD| 61464806
+ Là đặc trưng quan trọng nhất của văn hóa. Văn hóa không tách rời con người và con
người cũng không thể thiếu văn hóa.Văn hóa là sản phẩm của trình độ phát triển bản
chất người, là nơi hình thành, nuôi dưỡng nhân cách con người.
+ Văn hóa được tạo thành bởi các giá trị vật chất và tinh thần do con người sáng tạo ra.
Thuộc tính này cho phép phân biệt văn hóa như 1 hiện tượng xã hội với những sản vật
tự nhiên chưa qua bàn tay sáng tạo của con người.Theo đó,1 đất nước có thể giàu
khoáng sản,dầu mỏ,các nguồn lợi thiên nhiên nhưng chưa hẳn giàu có về văn hóa.
+ Con người là động lực của văn hóa bởi nhu cầu của con người sẽ thúc đẩy văn hóa
phát triển. Những thành quả ấy phải phục vụ sự phát triển toàn diện của con người,
phục vụ cuộc sống hạnh phúc trong an toàn của toàn thể xã hội.
+ Con người là chủ thể sáng tạo ra văn hóa nhưng chính văn hóa cũng tạo ra con người,
biến con người thành người có văn hóa. ==> con người nhân văn hơn
3. Chức năng của văn hóa
(tương ứng lần lượt vs 4 đặc trưng)
a) Chức năng tổ chức xã hội
+ Nhờ có tính hệ thống mà văn hóa với tư cách là một thực thể bao trùm mọi hoạt động
của xã hội, thực hiện chức năng tổ chức xã hội. Chính văn hóa thường xuyên làm tăng
độ ổn định của xã hội, cung cấp cho xã hội mọi phương tiện cần thiết để ứng phó với
môi trường tự nhiên và xã hội của mình. Văn hóa là nền tảng của xã hội.
+ Chức năng này duy trì kết cấu xã hội, thực hiện sự liên kết và tổ chức đời sống cộng
đồng thông qua các thiết chế xã hội-văn hóa.Thiết chế xã hội là 1 chức năng hoạt động
xã hội được đặt ra để duy trì và phát triển các chức năng của xã hội, còn được xem như
là đại diện của hệ thống chuẩn mực xã hội, vận hành trong mọi sinh hoạt kinh tế,chính
trị, pháp luật,tôn giáo,văn hóa-xã hội…
b) Chức năng giáo dục
+ Truyền thống văn hóa tồn tại nhờ giáo dục.Văn hóa thực hiện chức năng giáo dục
không chỉ bằng những giá trị đã ổn định mà còn bằng cả những giá trị đang được hình
thành. Hai loại giá trị này đang là chuẩn mực mà con người hướng tới.Nhờ nó mà văn
hóa đóng vai trò quyết định trong việc giáo dục và hình thành nhân cách trồng người.
+ Nhân cách con người được tạo dựng và hun đúc, trước hết bởi các giá trị văn hóa
truyền thống của cộng đồng. Một đứa trẻ mới sinh chưa thực sự là con người bởi nó
chưa tiếp nhận được 1 phẩm chất xã hội nào của loài người truyền cho cả. Đúng như
nhà xã hội học người Mĩ R.E Pacco đã nói :” Người k đẻ ra người. Đứa trẻ chỉ trở nên
người trong quá trình giáo dục. Truyền thống văn hóa luôn thực hiện chức năng giáo
dục của mình đối với con người. Bằng con đường giáo dục hữu thức và vô thức từ khi lOMoAR cPSD| 61464806
chào đời cho đến khi trưởng thành, con người nhận được sự dạy bảo của truyền thống văn hóa”.
+ Trong các chức năng của văn hóa thì chức năng giáo dục là chức năng bao trùm nhất.
Nó đóng vai trò định hướng giá trị, chuẩn mực xã hội cho con người, quyết định việc
hình thành và phát triển nhân cách con người.Từ chức năng này mà văn hóa phát sinh
thêm chức năng là đảm bảo tính kế tục lịch sử. Nó là thứ “gen” được xã hội di truyền
phẩm chất con người lại cho thế hệ mai sau. Các chức năng khác như nhận thức, thẩm
mĩ, dự báo, giải trí có thể coi như là những tiểu chức năng hỗ trợ cho việc thực hiện
chức năng giáo dục của văn hóa.
c) Chức năng điều tiết xã hội
+ Nhờ thường xuyên xem xét các giá trị mà văn hóa thực hiện chức năng điều chỉnh xã
hội, giúp xã hội duy trì được trạng thái cân bằng động, không ngừng hoàn thiện và thích
ứng với những biến đổi của môi trường, giúp định hướng các chuẩn mực, làm động lực
cho sự phát triển của xã hội.
+ Hiểu một cách ngắn gọn thì giá trị là những chuẩn mực được cộng đồng thừa nhận và
theo đuổi.Giá trị là nhân tố quan trọng của hành vi cá nhân. Nó điều chỉnh các nguyện
vọng và hành động của 1 con người, là cơ sở để đánh giá hành vi và định đoạt lợi ích
xã hội của các thành viên trong cộng đồng. Do đó giá trị xác định các tiêu chuẩn của
thang bậc xã hội, làm nền tảng cho cuộc sống chung.
+ Trong cuộc sống hằng ngày, mỗi cá nhân hay nhóm xã hội có nhiều nhu cầu và họ
phải thường xuyên lựa chọn các phương thức ứng xử thích hợp nhằm thỏa mãn các nhu
cầu của mình. Sự lựa chọn đó giống như 1 hành động giá trị có liên quan mật thiết với
tiêu chuẩn của khung giá trị chung của cộng đồng. Với mức ổn định lớn, khung giá trị
này là cơ sở để các thành viên trong cộng đồng lựa chọn các phương thức hoạt động,
điều chỉnh hành vi của mình cho phù hợp với yêu cầu và chuẩn mực của xã hội.Nền
văn hóa nào cũng có 1 bảng giá trị được coi như bộ chỉnh của xã hội. Bảng giá trị xã
hội làm nhiệm vụ định hướng cho mục tiêu phấn đấu của mỗi các nhân và cộng
đồng…Căn cứ vào đó mà xã hội thường xuyên chấp nhận, sàng lọc điều chỉnh để duy
trì sự ổn định và không ngừng tự hoàn thiện, văn hóa thực hiện được chức năng quan
trọng là điều tiết xã hội.
d) Chức năng giao tiếp
+ Đây là thuộc tính cốt lõi của văn hóa.Nó cho phép phân biệt văn hóa như 1 hiện tượng
xã hội với các giá trị tự nhiên. văn hóa là cái tự nhiên được biến đổi bởi con người. Sự
tác động của con người vào tự nhiên có thể mang tính chất như khai khoáng, đẽo gỗ
hoặc tinh thần như đặt tên, tạo truyền thống cho các cảnh quan thiên nhiên.
+ Do gắn liền với con người và hoạt động của con người trong xã hội, văn hóa trở thành
1 công cụ giao tiếp quan trọng. Thông qua ngôn ngữ, chữ viết, con người tiếp xúc, trao
đổi và thông báo cho nhau, yêu cầu hoặc tiếp nhận ở nhau các thông tin cần thiết về
hoạt động của cộng đồng... Cùng với ngôn ngữ và vượt lên trên tính trực tiếp của ngôn
ngữ, văn hóa bằng hệ thống các giá trị chi phối cách ứng xử và giao tiếp của cá nhân
với bản thân, gia đình và cộng đồng. Mọi nền văn hóa đều hướng đến con người,vì cuộc lOMoAR cPSD| 61464806
sống của con người và cộng đồng. Nhờ đặc điểm chung này, văn hóa còn đóng vai trò
là chiếc cầu nối giữa các thế hệ, các dân tộc, quốc gia, tạo nên sự tiếp xúc, giao lưu giữa
các nền văn hóa. Bằng tính vị nhân sinh, văn hóa thực hiện được chức năng thứ 4 của
mình đó là chức năng giao tiếp. Nếu ngôn ngữ là hình thức của giao tiếp thì văn hóa là
nội dung của nó. Văn hóa được coi là sợi dây nối liền nhân dân các nước và các dân tộc…
4. Phân biệt Văn hóa với Văn minh, văn hiến, văn vật
a) Văn hóa với văn minh
Lâu nay, không ít người vẫn sử dụng “văn minh” như môt ṭ ừ đồng nghĩa với “văn
hóa”. Thực ra đây là những khái niêm g ̣
ần gũi, có liên quan mât thị ết với
nhau, song không đồng nhất. Chúng cùng có một nét nghĩa chung là “trình độ phát triển” Văn Hóa Văn Minh
- Tính giá trị: chứa cả giá trị vật chất và - Tính giá trị: thiên về giá trị vật chất-kĩ tinh thần thuật
- Tính lịch sử: Văn hóa có đặc trưng lịch -Tính lịch sử: Văn minh gắn với thành tựu
sử truyền thống với bề dày của quá khứ. khoa học kĩ thuật hiện đại. Nói đến văn
Ta có thể chứng minh qua nền văn hóa Việt minh, ta thường nhớ đến một nét nghĩa
Nam giàu truyền thống lịch sử: truyền chung là “trình độ phát triển”, một lát cắt
thống yêu nước, uống nước nhớ nguồn, đồng đại, cho biết trình độ phát triển văn
yêu thương đồng loại…
hóa ở từng giai đoạn. Ví dụ nếu như vào
thế kỷ XIX, chiếc đầu máy hơi nước đã
từng là biểu tượng của văn minh thì sang
thế kỷ XX, nó trở thành biểu tượng của sự
lạc hâu, nhự ờng chỗ cho tên lửa vũ trụ và máy vi tính.
Môt dân tộ c c ̣ ó trình đô văn minh cao ṿ ẫn có thể có môt ṇ ền văn hóa rất nghèo nàn,
và ngược lại, môt dân tộ c ḷ ạc hâu ṿ ẫn có thể có môt ṇ ền văn hóa phong phú.
-Là một quá trình tích lũy và được sàng lọc -Là những sáng tạo, phát kiến mang tính
lâu dài của cả dân tộc. Văn hóa Việt Nam cá nhân. Ví dụ như Thomas Edison phát
trải qua mấy ngàn năm đã giữ lại được minh ra bóng đèn, Anbe phát minh ra chiếc
nhiều nét văn hóa đẹp, giàu bản sắc và loại máy tính đầu tiên…
bỏ đi những văn hóa cổ hủ, không theo kịp
thời đại(trọng nam khinh nữ, tảo hôn,..)
-Mang tính cộng đồng, dân tộc, bản sắc: -Mang tính quốc tế: giá trị vật chất phổ
cái tinh thần và cái lịch sử là của riêng,
thông toàn nhân loại. Văn minh mang nét lOMoAR cPSD| 61464806
không dễ gì mua bán hoăc thay đ ̣ ổi được. nghĩa rộng lớn, là thành quả của toàn nhân
Văn hóa Việt Nam không được tạo từ một loại, được toàn thể con người công nhận
người, hay một nhóm người mà là thành và sử dụng.
quả chung của cộng đồng người Việt, từ
nhiều dân tộc Việt. Vì vậy mà trở nên vô
cùng đa dạng và đậm đà bản sắc.
-Được bảo lưu, duy trì, ổn định, gắn với -Thay đổi liên tục để phù hợp với sự thay
thói quen, tập quán, tâm linh. Dân tộc Việt đổi của xã hội. Trước kia,con người luôn
Nam duy trì được nhiều nét đẹp văn hóa cho rằng trái đất đứng yên nhưng đến thế
như thờ cúng tổ tiên, biết ơn,…
kỉ 17,con người đã thay đổi cách nhìn và
cho rằng trái đất quay quanh mặt trời.
-Văn hóa gắn bó với nhiều hơn với phương -Văn minh gắn bó nhiều hơn với phương
Đông nông nghiệp (4 nền văn hóa cổ đại: Tây đô thị (nền văn hóa Hi-La). Phương
ai cập, lưỡng hà, ấn độ, trung hoa) Văn Tây có nhiều phát minh hiện đại.
hóa Việt Nam được hình thành ven lưu vực
các con sông lớn, thuận lợi cho sản xuất nông nghiệp
Như vậy, có thể khẳng định, văn minh nằm trong văn hóa.
b) Văn hóa với văn hiến và văn vật
Văn hiến là truyền thống văn hóa lâu đời, thể hiện tính dân tộc, tính lịch sử rõ
nét. Văn hóa và văn hiến, do vậy, là 2 khái niệm tương đồng khi người ta dùng để chỉ
đời sống tinh thần của xã hội. Song chúng khác nhau về tính lịch sử và phạm vi bao
quát. Văn hóa là khái niệm rộng hơn văn hiến vì nó còn hàm nghĩa văn hóa vật thể.
Văn vật là truyền thống văn hóa biểu hiện ở nhiều nhân tài và di tích lịch sử vì vậy
văn vật thiên về giá trị vật chất. Văn vật cũng thể hiện sâu sắc tính dân tộc và tính lịch
sử nhưng khi so sánh với khái niệm văn hóa, ta thấy văn vật cũng ở trong tương quan
tựa như văn hiến nhưng từ một phía khác
Chung quy, văn minh, văn hiến, văn vật đều là những khái niệm bộ phận của văn
hóa. Bởi vì văn hóa bao giờ cũng được dùng với một hàm nghĩa bao quát hơn.
5. Ví dụ chứng minh
Nhắc đến văn hoá từ Giai đoạn văn hoá Văn Lang – Âu Lạc, từ gần năm 3000 đến
cuối thiên niên kỷ 1 trước Công nguyên vào thời đại đồ đồng sơ khai, trải 18 đời vua
Hùng, được coi là đỉnh cao thứ nhất của lịch sử văn hoá Việt Nam, với sáng tạo tiêu
biểu là trống đồng Đông Sơn và kỹ thuật trồng lúa nước ổn định. Đến bây giờ nét đẹp
văn hoá này vẫn được Việt nam ta tiếp tục pháp huy, kế truyền. lOMoAR cPSD| 61464806
Hoặc nhắc đến văn hoá của Việt Nam trong tín ngưỡng sùng bái con người phải
kể đến việc cả nước Việt nam cùng thờ vua tổ, có ngày giỗ tổ chung là Hội đền Hùng.
Đặc biệt việc thờ Tứ Bất Tử là thờ những giá trị rất đẹp của dân tộc: Thánh Tản Viên
chống lụt, Thánh Gióng chống ngoại xâm, Chử Đồng Tử nhà nghèo cùng vợ ngoan
cường xây dựng cơ nghiệp giàu có, bà Chúa Liễu Hạnh - công chúa con Trời từ bỏ
Thiên đình xuống trần làm người phụ nữ khát khao hạnh phúc bình thường.
Văn hóa Việt Nam có thể kể đến áo dài, khi nói đến áo dài người ta sẽ nghĩ đến
nét văn hóa về trang phục của Việt Nam, nói đến Kimono là nghĩ đến đến nét văn hóa
về trang phục của Nhật Bản hoặc khi nhắc đến Hanbok bạn sẽ nghĩ ngay đến nét văn
hóa về trang phục của Hàn Quốc. Bản sắc văn hóa là thể hiện nét riêng và là nét đặc
trưng mà chỉ cần nhắc đến người ta sẽ nghĩ ngay đến một địa điểm cụ thể nào đó tồn tại bản sắc văn hóa đó.
==> Tất cả những điều đó đều là những nét đẹp văn hoá, nét đẹp dân tộc luôn
trường tồn, đi cùng dân tộc từ những thời kỳ dựng nước, giữ nước và cho đến hiện tại
nét đẹp này vẫn luôn được phát huy và trở thành nét đẹp thời đại của cả một dân tộc.
6 . Vai trò văn hóa
*Văn hóa là nền tảng tinh thần của xã hội
- Đào tạo con người theo các giá trị chân-thiện-mĩ
- Hình thành trong phẩm chất mọi thành viên trong xã hội ý thức phát huy các tiềm
năng về thể lực, trí lực và nhân cách
- Tích cực xây dựng một môi trường văn hóa lành mạnh để có đủ sức đề kháng đẩy lùi
các tiêu cực xã hội, bài trừ những văn hóa phản tiến bộ. *Văn hóa là động lực thúc
đẩy sự phát triển của xã hội

- Sự phát triển của một dân tộc gắn liền với cái mới nhưng không tách rời cội nguồn, văn hóa
- Con người là nhân tố có vai trò quan trọng và là không thể thiếu trong sự phát triển của kinh tế, xã hội
- Văn hóa có khả năng tiếp thu và cải biến những yếu tố văn hóa ngoại sinh để biến
thành ngoại lực thúc đẩy sự phát triển của kinh tế, xã hội
- Văn hóa sẽ giải phóng và nhân lên mọi tiềm năng sáng tạo của con người trong mọi
lĩnh vực đời sống xã hội mà trước hết là kinh tế
- Văn hóa là đường dẫn để kết nối giữa tăng trưởng kinh tế với thực hiện tiến bộ và
công bằng xã hội. Đây chính là một trong các tiền đề để phát triển kinh tế - xã hội bền vững.
- Khơi dậy khát vọng phát triển đất nước, tinh thần yêu nước, ý chí tự cường dân tộc
trong phát triển kinh tế. "Khát vọng và ý chí phát triển là động lực hết sức quan trọng
để đưa mọi dân tộc đi tới thịnh vượng và thành công". Khát vọng về một đất nước độc
lập, hòa bình, phồn vinh, hạnh phúc đã hun đúc nên ý chí, dẫn dắt các thế hệ người lOMoAR cPSD| 61464806
Việt Nam vượt thoát khỏi bao cuộc thử thách hiểm nghèo của lịch sử, giành lại độc
lập và chung tay xây dựng đất nước. Lịch sử đã chứng minh rằng những giá trị văn
hóa được khơi dậy đúng mức sẽ biến thành sức mạnh to lớn.
*Văn hóa là mục tiêu của sự phát triển
- Mục tiêu của sự phát triển ở nước ta: “Dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh”
- Trong chiến lược phát triển kinh tế 2011-2020:
+ Xác định: phát huy tối đa nhân tố con người, con người là chủ thể, nguồn lực chủ yếu
và là mục tiêu của sự phát triển
+ Yêu cầu: Tăng trưởng kinh tế kết hợp hài hòa với phát triển văn hóa, thực hiện công
bằng xã hội, không ngừng nâng cao chất lượng cuộc sống của nhân dân.
- Phát triển phải hướng tới mục tiêu văn hóa - xã hội mới đảm bảo được sự bền vững
và trường tồn cho sự giàu mạnh của tổ quốc.
Văn hóa có vai trò đặc biệt quan trọng trong việc bồi dưỡng, phát huy nhân tố con
người và xây dựng xã hội mới.Văn hóa giúp mở rộng hiểu biết, nâng cao dân trí, giúp
bồi dưỡng tư tưởng đúng đắn và tình cảm cao đẹp cho con người, cho nhân dân Việt
Nam lí tưởng độc lập dân tộc gắn với chủ nghĩa xã hội, đồng thời bồi dưỡng phong
cách, lối sống lành mạnh, hướng con người đến chân-thiện-mĩ để hoàn thiện bản thân.
7. Định vị văn hóa VN
- Loại hình văn hóa là khái niệm để phân loại các văn hóa dựa trên phương thức kinh tế.
- Do ở tận cùng phía đông nam nên VN thuộc loại văn hóa gốc nông nghiệp điển hình Tiêu chí
Văn hóa gốc nông nghiệp Đặc trưng gốc Khí hậu
Nắng nóng lắm, mưa ẩm nhiều Nghề chính
Nông nghiệp trồng lúa nước
nghề trồng trọt buộc người dân phải sống định cư để chờ cây
cối lớn lên, ra hoa kêt trái và thu hoạch. Do sống phụ thuộc
nhiều vào thiên nhiên nên dân nông nghiệp có ý thức tôn trọng
ước vọng sống hòa hợp với thiên nhiên. Người Việt
Nam mở miệng là nói “lạy trời”, “nhờ trời”, “ơn trời”…
Ứng xử với môi trường tự nhiên Lối nhận thức, tư duy
Lối tư duy tổng hợp và biện chứng: Tổng hợp là bao quát lOMoAR cPSD| 61464806
được mọi yếu tố, còn biện chứng là chú trọng đến các mối
quan hệ giữa chúng. Người Việt tích lũy được một kho kinh
nghiệm hết sức phong phú về các loại quan hệ này: Quạ tắm
thì ráo, sáo tắm thì mưa; Ráng mỡ gà, ai có nhà phải chống;
Được mùa lúa thì úa mùa cau, được mùa cau thì đau mùa lúa…
- nguyên tắc trọng tình: Hàng xóm sống cố định lâu dài vớ i
nhau phải tạo ra một cuộc sống hòa thuận trên cơ sở lấy tình
nghĩa làm đầu “một bồ cái lí không bằng một tí cái tình”
- thái độ trọng đức, trọng văn, trọng phụ nữ (xứ sở Mẫu hệ) Nguyên tắc -
linh hoạt và dân chủ: ở bầu thì tròn, ở ống thì dài; đi với
bụt mặc áo cà-sa, đi với ma mặc áo giấy... Cách thức -
trọng tập thể, cộng đồng Tổ chức cộng đồng
Ứng xử với môi trường xã hội -
dung hợp trong tiếp nhận: tiếp nhận các tôn giáo như
Nho giáo, đạo giáo, phật giáo... -
mềm dẻo, hiếu hòa: khi chiến thắng giặc ngoại xâm thì
luôn cầu hòa để mở đường cho chúng rút lui trong danh dự
- Như vậy, hầu như tất cả những đặc trưng của loại hình văn hóa gốc nông nghiệp trồng
trọt đều được thể hiện rõ nét trong cách tố chức đời sống, phương thức tư duy, lối ứng
xử của người Việt truyền thống.
- Tuy nhiên, mặt trái của tính linh hoạt và trọng tình là nó dẫn đến thái độ tùy tiện,
coithường tính nguyên tắc, ý thức tổ chức kỷ luật kém.Văn minh nông nghiệp kéo dài
đã làm chậm sự phát triển của tiến trình lịch sử Việt Nam, không tạo ra được những
tiền đề và điều kiện để bức ra khỏi cái khung phong kiến phương Đông, làm hạn chế
tính năng động, sáng tạo của con người Việt Nam và dẫn đến sự trì trệ của xã hội Việt Nam.
8. Tiến trình văn hóa Việt Nam 5 thời kỳ : + tiền và sơ sử
+ bắc thuộc và chống bắc thuộc
+ quân chủ (phong kiến tự chủ_
+ Pháp thuộc và chống Pháp thuộc
+ Nhà nước dân chủ nhân dân từ 1945 cho đến nay lOMoAR cPSD| 61464806
1) Thời kỳ tiền sử và sơ sử
- Thời kì tiền sử (còn gọi là thời kì nguyên thủy): là thời kì đầu tiên và cũng là kéo dài
nhất trong lịch sử phát triển của xã hội loài người, tính từ khi có con người xuất hiện
đến hết thời đại đồ đá.
- Thời kì sơ sử: ứng với thời đại kim khí theo phân kỳ khảo cổ học, bao gồm cả thời
đại đồ đồng cho đến sơ kỳ thời đại đồ sắt.
a) Thời kì Tiền sử
THỜI ĐẠI ĐÁ CŨ
* Sơ kì = Sự xuất hiện dấu tích người tối cổ (hay người vượn) - Di chỉ An Khê:
+ Cách ngày nay 80 vạn đến gần 1 triệu năm.
+ Công cụ tìm thấy: rìu đá ghè đặc trưng - Di
chỉ Thẩm Khuyên - Thẩm Hai:
+ Cách ngày nay trên dưới 40 vạn năm.
+ Dấu tích tìm được: 10 chiếc răng của người tối cổ (Homo Erectus) - Di chỉ Núi Đọ:
+ Cách ngày nay khoảng 30 vạn năm
+ Hiện vật tìm được: Hàng vạn mảnh tước, công cụ chặt đập thô sơ (ví như “di chỉ xưởng”)
- Các di chỉ khác: Núi Nuông (Thanh Hóa), Xuân Lộc (Đồng Nai), An Lộc (Bình Phước) *Niên đại:
+ Bắt đầu: Cách ngày này khoảng 80 vạn đến gần 1 triệu năm
+ Kết thúc: Cách ngày nay khoảng 4000 năm (khi chấm dứt thời kì đồ đá).
*Đặc trưng: sự xuất hiện của người nguyên thủy với việc chế tác công cụ đồ đá.
*Lưu ý: Quan niệm Việt Nam là một trong những cái nôi của loài người không đủ cơ sở.
Nên nhận thức: Việt Nam trong bối cảnh Đông Nam Á là địa bàn đã chứng kiến sự xuất
hiện từ khá sớm của những cá thể người đầu tiên- người tối cổ. * Hậu kì = Sự xuất hiện
người tinh khôn (hay người hiện đại)
- Thời gian:
+ Mở đầu: khoảng 1.5-2 vạn năm cách ngày nay (di chỉ Hang Hùm, Thẩm Ồm)
+ Chính thức: Văn hóa Ngườm (Thái Nguyên), Sơn Vi (Phú Thọ) - Đặc trưng:
+ Không gian sinh sống: Đồi gò, trung du Bắc Bộ và Bắc Trung Bộ.
+ Công cụ: đá ghè đẽo, hạch đá, mảnh tước
+ Đời sống kinh tế: săn bắt, hái lượm chủ yếu (“kinh tế tước đoạt tự nhiên”)
+ Tổ chức: công xã thị tộc, sống theo gia đình (2-3 thế hệ già trẻ)
THỜI ĐẠI ĐÁ MỚI - Thời gian:
+ Sơ kì (hơn 1 vạn năm đến 7000-8000 năm): Văn hóa Hòa Bình, Bắc Sơn lOMoAR cPSD| 61464806
+ Hậu kì (khoảng 5000-6000 năm): Văn hóa Hà Giang, Mai Pha, Hạ Long, Bàu Tró... - Đặc trưng chung:
+ Không gian sinh sống: mở rộng thêm (cả đồng bằng, ven biển)
+ Công cụ: đá mài (giai đoạn hậu kí kĩ thuật chế tác phát triển cao nên còn gọi là cách mạng
đá mới), xuất hiện đồ gốm
+ Đời sống kinh tế: săn bắn, hái lượm đàn thứ yếu, dần có sự xuất hiện nông nghiệp trồng
lúa (khoảng 5000 năm cách ngày nay).
+ Tổ chức: công xã tộc, có sự phân công lao động rõ nét...
b) Thời kỳ sơ sử
THỜI ĐẠI KIM KHÍ (ĐỒ ĐỒNG VÀ ĐỒ SẮT) - Thời gian:
+ Mở đầu: 4000 năm cách ngày nay.
+ Kết thúc: thế kỉ I-II công nguyên.
(Xuất hiện ở 3 khu vực Bắc - Trung - Nam không hoàn toàn giống nhau) - Đặc trưng chung:
+ Không gian sinh sống: đa dạng tất cả vùng địa hình
+ Công cụ: đồ đồng, sau là đồ sắt dần xuất hiện và thay thế cho đồ đá (VD ở miền Bắc: Phùng
Nguyên: mới xuất hiện xỉ/rỉ đồng) => Đồng Đậu 20% đồ đồng: Gò Mun >50% đồ đồng
=> Đông Sơn: tuyệt đại đồ đồng và sắt)
+ Đời sống kinh tế: “kinh tế sản xuất” hoàn toàn thay “kinh tế tước đoạt”
+ Tổ chức đời sống: Công xã thị tộc phụ hệ (Bắc Bộ và Bắc Trung Bộ); Công xã nông nông thôn ra đời
+ Biến đổi xã hội: “Nguyên tắc vàng” của xã hội nguyên thủy dần phá vỡ, xã hội có giai cấp xuất hiện
+ Gắn liền với sự xuất hiện của đồ kim khí (đồng, sắt) trên cả 3 miền (Bắc, Trung, Nam)
+ Trên cơ sở các nền văn hóa kim khí tiêu biểu ở 3 miền đã đưa đến sự ra đời của 3 nhà nước cổ đại đầu tiên: Nền văn hóa Đông Sơn Sa Huỳnh Đồng Nai (giai đoạn cuối là Óc Eo) Niên đại
TK VIII, VII TCN - TK V TCN - TK I, TK I- VII TK I, II II Khu vực
Bắc Bộ và Bắc Trung Nam Trung Bộ Nam Bộ Bộ lOMoAR cPSD| 61464806
Cơ sở ra đời Văn Lang (nối tiếp Lâm Ấp (sau đổi là Phù Nam nhà nước sau là Âu Lạc) Chămpa) Văn hóa ĐÔNG SƠN
- Nền văn hóa thuộc thời đại đồ sắt, có niên đại mở đầu tương ứng với niên đại ra đời của nhà nước Văn Lang.
- Thời kì văn hóa Đông Sơn gắn với giai đoạn tồn tại của nhà nước Văn Lang - Âu Lạc
+ Văn Lang: TK VII TCN đến TK III TCN
+ Âu Lạc: từ năm 208 đến năm 179 TCN
(Quan điểm 4000 năm lịch sử dựng nước không đúng)
- Văn hóa Đông Sơn đã đưa người Việt cổ bước vào thời đại văn minh đầu tiên trong lịch sử.
- Tên gọi: + văn minh sông Hồng (địa bàn chủ yếu của nền vm)
+ văn minh Việt Cổ (chủ nhân của nền vm)
+ văn minh Văn Lang - Âu Lạc (diễn biến phát triển)
+ văn minh Đông Sơn (tên nề văn hóa phát triển đỉnh cao)
- Điều kiện kinh tế:
+ Sự phát triển của kĩ thuật luyện kim ở thời kì Đông Sơn => dùng cày đồng và sắt giúp nông nghiệp phát triển
+ Cùng với sự chuyển biến của kinh tế nông nghiệp là sự phát triển của các nghề gốm, luyện kim, dệt..
- Điều kiện cư dân - xã hội:
+ Sự liên kết giữa các nhóm cư dân/bộ lạc trên cơ sở cùng chung nhu cầu trị thủy, thủy lợi, tự vệ...
+ Các công xã nông thôn hình thành (kẻ/chiềng/chạ)
=> Cơ sở định hình tổ chức xã hội truyền thống theo mô hình nhà-làng-nước của
người Việt. - Đời sống vật chất
+ Ăn: mô hình bữa ăn “cơm - rau - cá”
Lương thực: gạo tẻ, gạo nếp,
Thực phẩm: mắm, cá, nhuyễn thể, gia súc thuần dưỡng (P.s. riêng nuôi chó để đi săn là chủ yếu) + Mặc:
Ngày thường: đàn ông đóng khố, phụ nữ mặc váy
Lễ hội: đội mũ lông chim, đeo trang sức (vòng tay, hạt chuỗi, khuyên tai,...)
+ Ở: nhà sàn, nhà mái cong
+ Đi lại: đi bộ, dùng thuyền, bè, mảng lOMoAR cPSD| 61464806
- Đời sống tinh thần
+ Tín ngưỡng: sùng bái tự nhiên, thờ cúng tổ tiên, phồn thực...
+ Phong tục tập quán: nhộm răng ăn trầu, làm bánh chưng bánh dày, các lễ hội gắn với nông nghiệp...
+ Nghệ thuật tạo hình, trang trí, tư duy hình khối, lưỡng hợp hình thành (thể hiện rõ
nhất qua các họa tiết trang trí trên trống đồng)...
- Giá trị kết tinh thời kì văn hóa Đông Sơn để lại
+ Thời kì đánh dấu mở đầu thời kì dựng nước trong lịch sử dân tộc, đưa người Việt
bước vào thời đại văn minh đầu tiên.
+ Đây là nền văn hóa bản địa Đông Sơn, góp phần định hình những giá trị cốt lõi văn
hóa mang tính bản địa về sau.
+ Lưu ý các giá trị kết tinh từ thời văn hóa Đông Sơn còn lại đến ngày nay:
 Nền kinh tế nông nghiệp trồng lúa nước (hiện vẫn là thế mạnh của Việt Nam).
 Kĩ thuật đúc đồng thau đạt đến đỉnh cao (trống Ngọc Lũ, thạp Đào Thịnh)
 Khả năng phòng thủ quân sự (mũi tên đồng, thành Cổ Loa), + Mô hình nhà nước đầu
tiên với ý niệm về đồng bào, tổ quốc
 Các phong tục tập quán bản địa giản dị, đậm bản sắc... Văn hóa SA HUỲNH
- Nền văn hóa thuộc khu vực miền Trung, được gọi theo tên địa điểm khảo cổ học ở Quảng Ngãi.
- Niên đại mở đầu cách ngày nay khoảng 2500 năm (tồn tại từ TK V TCN đến TK I, II)
- Chủ nhân nói tiếng Nam Đảo hay Malai - Pôlinêdi với nhiều yếu tố Nam Á. Một bộ
phận về sau là cư dân Chămpa cổ
- Đời sống vật chất
+ Hoạt động kinh tế đa dạng: ngoài nông nghiệp còn sản xuất các mặt hàng thủ công
(đặc biệt chế tác đồ sắt); khai thác các nguồn lợi tự nhiên trên rừng + biển (trầm hương, kì nam,...)
+ Cư dân Sa Huỳnh (một bộ phận sau là người Chăm cổ) giỏi nghề đi biển và sớm biết khai thác biển.
Lưu ý: khác với cư dân Việt cổ ở Bắc Bộ và Bắc Trung Bộ chủ yếu trồng lúa nước... =>
Dấu ấn của rừng và biển trong văn hóa Sa Huỳnh rõ rệt.
- Đời sống tinh thần
+ Khiếu thẩm mĩ phát triển cao, ưa dùng đồ trang sức: vòng, nhẫn, khuyên tai bằng mã não, đá
+ Sản phẩm đặc thù: Khuyên tai hai đầu thú, ba mấu lOMoAR cPSD| 61464806
+ Táng thức: nhiều dạng, tiêu biểu nhất là mai táng bằng mộ chum kèm đồ tùy táng
(hình dạng vò, chum đa dạng) Văn hóa ĐỒNG NAI
- Nền văn hóa thuộc thời đại đồng thau và sắt sớm, sinh sống ở các tiểu vùng sinh thái
khác nhau thuộc Đông Nam Bộ.
- Dù đã chuyển sang thời đại kim khí nhưng đồ đá vẫn phổ biến và chiếm số lượng lớn
với các bộ công cụ đá mang tính chuyên môn hóa cao.
- Đàn đá là sản phẩm đặc thù, có mặt ở nhiều di tích (Suối Chồn, Dốc Chùa, Cái Vạn...),
niên đại cách ngày nay khoảng 3000 năm.
- Đời sống vật chất
+ Đồ đá chủ yếu là vũ khí, công cụ sản xuất (rìu, bôn, cuốc) và vòng đá
+ Đồ gốm và nghề gốm xuất hiện khá sớm (vỏ bát, bàn xoa, dọi xe chỉ...). Gốm có họa
tiết đơn giản song có độ nung cao.
+ Bộ sưu tập công cụ bằng gỗ, xương phong phú về loại hình.
+ Kinh tế truyền thống: trồng lúa cạn không dùng sức kéo; chăn nuôi, săn bắn, hái lượm, đánh bắt nhuyễn thể.
- Đời sống tinh thần
+ Ý niệm nghệ thuật bước đầu hình thành: sưu tầm thẻ đeo bằng đá cuội mài dẹt hình
ovan; tượng rùa và chó săn mồi bằng đồng.
+ Có sự giao lưu văn hóa với các vùng khác: tìm thấy khuyên tai hai đầu thú của văn
hóa Sa Huỳnh; trống đồng giống kiểu loại văn hóa Đông Sơn.
Những thành tựu của Văn minh Văn Lang – Âu Lạc.
Nền văn minh sông Hồng được hình thành cùng với sự ra đời của nhà nước Văn
Lang – Âu Lạc và sự phát triển của đời sống vật chất và tinh thần của người Việt cổ.
Trên cơ sở một nền kinh tế phát triển mạnh và phạm vi lãnh thổ được mở rộng từ vùng
đồi núi, trung du đến vùng đồng bằng rộng lớn của sông Hồng, sông Mã, sông Cả,…
đời sống vật chất, tinh thần được nâng cao rõ rệt; tổ chức xã hội đạt đến một trình độ
cao hơn, vượt khỏi thời nguyên thuỷ, bước sang thời đại văn minh đầu tiên của người
Việt cổ – nền văn minh sông Hồng.
* Đời sống vật chất
- Sản xuất: Thóc gạo là nguồn lương thực chính của cư dân Văn Lang – Âu Lạc, chủ
yếu là gạo nếp dùng để thổi cơm, xôi, làm bánh chưng, bánh giầy. Ngoài thóc gạo là
nguồn lương thực chính, cư dân Văn Lang – Âu Lạc còn sử dụng các loại hoa màu,
rau quả
, nhất là các loại cây có củ cung cấp chất bột như củ từ, khoai lang, sắn, củ
mài, khoai sọ.
Lúc thiếu thốn, người ta còn dùng các loại cây có bột khác như cây quang lang, búng, báng. lOMoAR cPSD| 61464806
- Thức ăn cũng khá phong phú, gồm các loại cá, tôm, cua, ốc hến, ba ba, các loại rau
củ (bầu, bí, cà, đậu…). Thức ăn được chế biến theo nhiều cách khác nhau theo sở thích
từng vùng, từng gia đình (đun nấu, nướng, muối, ăn sống…) Nghề chăn nuôi và săn
bắn phát triển
đã cung cấp thêm nguồn thức ăn cho mỗi gia đình. Cư dân bấy giờ đã
biết chăn nuôi nhiều loại gia súc, gia cầm (trâu, bò, lợn, gà, chó…). Trong thức ăn quen
thuộc của cư dân Văn Lang – Âu Lạc còn có nhiều loại hoa quả vùng nhiệt đới như:
vải, nhãn, mơ, mận, chuối, dưa hấu, cam, quýt,… Người ta cũng đã biết sử dụng nhiều
thứ gia vị có nguồn gốc thực vật như gừng, hẹ,… Nguồn lương thực và thực phẩm của
người Việt cổ rất phong phú, đa dạng và rất giàu chất bột, chất đạm và các chất bổ khác.
Đây là một biểu hiện của cuộc sống vật chất được nâng cao, của sự phát triển kỹ thuật
canh tác nông nghiệp của cư dân bấy giờ .
- Tập quán ăn uống: Người Việt cổ bấy giờ có tục uống rượu gạo và ăn trầu. Rượu
được nhắc đến nhiều trong các thư tịch cổ, truyện dân gian. Người Đông Sơn có thói
quen ăn trầu, nhuộm răng đen. Dấu tích hạt cau, quả cau đã được tìm thấy ở Đông Sơn.
- Trang phục của cư dân Văn Lang – Âu Lạc đã phản ánh một phần trình độ phát triển,
óc thẩm mỹ và bản sắc văn hoá của người Việt cổ. Do nghề dệt phát triển, người Việt
cổ đã sản xuất được nhiều loại vải khác nhau từ sợi đay, gai, tơ tằm, bông, … nên đã
đáp ứng được nhu cầu may mặc của nhân dân. Trong sinh hoạt đời thường, nam thường
đóng khố, nữ mặc váy
. Vào các ngày lễ hội, trang phục của nam nữ đẹp đẽ hơn: có
mũ lông chim, váy xòe kết bằng lông chim hoặc lá cây và mang nhiều đồ trang sức đẹp
(khuyên tai, hạt chuỗi, nhẫn, vòng tay, vòng cổ chân bằng đá, đồng).
- Về đầu tóc, người bấy giờ có bốn kiểu: kiểu tóc cắt ngắn, búi tóc, tết bím và tóc
quấn ngược lên đỉnh đầu. Trên thạp đồng Đào Thịnh (Yên Bái) có tượng nam tóc cắt
ngắn ngang vai để xoã. Ở trống đồng Cổ Loa cũng có hiện tượng tương tự. Lối cắt tóc
ngắn đến ngang lưng, để xoã khá phổ biến ở nam giới thời bấy giờ. Búi tóc cũng rất
phổ biến ở cả nam giới và nữ giới. Nhiều người còn có kiểu chít một dải khăn nhỏ giữa
trán và chân tóc, hoặc có đuôi khăn thả dài phía sau. Có thể nói, kiểu tóc cắt ngắn buông
xoã sau lưng và búi tóc cao sau đầu là hai kiểu tóc phổ biến nhất của người Đông Sơn.
Người Việt cổ bấy giờ còn có tục xăm mình.
- Nhà ở có nhiều kiểu như nhà sàn, nhà mái cong làm bằng gỗ, tre, nứa. Trên trống
đồng Đông Sơn ta thấy có 2 kiểu nhà: nhà sàn mái cong hình thuyền và mái tròn hình
mui thuyền, sàn thấp, mái rủ xuống như mái tranh đến gần sàn, có cầu thang lên xuống.
Mỗi công xã nông thôn bao gồm một số nhà sàn quần tụ bên nhau trong một địa vực,
hình thành những xóm làng định cư lâu dài mà thời đó thường gọi là kẻ, chiềng – tức
là nơi chốn, chạ tức là tục kết đôi làng quê. Các vật dụng trong sinh hoạt gia đình rất
phong phú như bình, vò, thạp, mâm, chậu, bát bằng đồ gốm hay bằng đồng. Ngoài ra,
có những đồ dùng làm bằng tre, nứa, mây, vỏ bầu,…
- Phương tiện giao thông chủ yếu là thuyền bè. Thuyền có thuyền độc mộc, thuyền
ván với các kiểu loại khác nhau: thuyền chiến, thuyền tải, thuyền bơi trải. Trên bộ còn
sử dụng súc vật như voi, trâu, bò, ngựa.
* Đời sống tinh thần lOMoAR cPSD| 61464806
Cư dân Văn Lang – Âu Lạc đã đạt đến một trình độ thẩm mỹ, tư duy khá cao.
Những sản phẩm đẹp, tiêu biểu như trống đồng, thạp đồng, trang sức bằng đồng nói lên
kỹ thuật luyện đồng đã đạt đến đỉnh cao (từ cách xây dựng các lò đúc, khuôn đúc,
nguyên liệu pha chế hợp kim, làm hoa văn,…). Người xưa tuỳ theo chức năng sử dụng
của từng loại công cụ mà tạo nên một hợp kim hay tỷ lệ giữa các hợp kim cho phù hợp
với cách chế tạo đồ đồng của người Đông Sơn, thể hiện khá rõ nét trình độ tư duy khá
cao của người Việt cổ. Điều này còn được thể hiện ở trình độ luyện sắt bấy giờ với
phương pháp hoàn nguyên trực tiếp thành loại sắt xốp.
Trong quá trình quy tụ các bộ lạc sống trên cùng một phạm vi đất đai đã hình
thành lãnh thổ chung, đã nổi lên xu hướng thống nhất, đoàn kết, hoà hợp trước yêu cầu
trị thủy, làm thuỷ lợi để phát triển nông nghiệp và chống ngoại xâm.
Từ ý thức cộng đồng đã nảy sinh tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên, sùng bái các anh
hùng, các thủ lĩnh. Cụ thể, trong ý thức tư tưởng của cư dân bấy giờ, là các cộng đồng
cư dân của nước Văn Lang – Âu Lạc đều có cùng chung một cội nguồn, một tổ tiên.
Nhiều phong tục tập quán được định hình đã nói lên sự phong phú và phát triển của đời
sống tinh thần trong xã hội Hùng Vương như tục ăn đất, uống nước bằng mũi, tục giã
cối (để làm hiệu lệnh, truyền tin), tục cưới xin, ăn hỏi, ma chay, chôn cất người chết
trong mộ đất, mộ có quan tài hình thuyền, chôn chồng lên nhau, chôn trong nồi vò úp
nhau, chôn theo đồ tuỳ táng bằng hiện vật.
Lễ hội bấy giờ rất phổ biến, thịnh hành, là một phần quan trọng trong đời sống
tinh thần của người Văn Lang – Âu Lạc. Lễ hội được tiến hành rải rác quanh năm, trong
đó đặc sắc nhất là ngày hội mùa với nhiều nghi lễ như đâm trâu, bò và các hình thức
diễn xướng dân gian (đoàn người hoá trang, vừa đi vừa múa, tay cầm giáo, lao, nhạc
cụ…). Bên cạnh đó, còn có những hội thi tài, thi sức khoẻ, hội đâm trâu, hội cầu nước, hội mừng năm mới…
Đồ trang sức, công cụ lao động và đồ dùng sinh hoạt cũng như vũ khí không
những hết sức phong phú mà còn đạt đến trình độ kỹ thuật và mỹ thuật rất cao, có những
thứ có thể xem như là những tác phẩm nghệ thuật. Nghệ thuật Đông Sơn trở thành đỉnh
cao của nghệ thuật tạo hình thời Hùng Vương, vừa phản ánh cuộc sống thường nhật
của cư dân Việt cổ, vừa thể hiện mối quan hệ giữa con người với thế giới chung quanh.
Nghệ thuật âm nhạc cũng phát triển. Có nhiều nhạc cụ được chế tạo và sử dụng
bộ gõ có trống đồng, trống da, chuông nhạc, phách, bộ hơi (khèn). Trong các nhạc cụ,
tiêu biểu nhất là trống đồng. Cư dân bấy giờ biết sử dụng nhiều nhạc cụ phối hợp trong
các lễ hội. Trên trống đồng Đông Sơn có cảnh sử dụng dàn trống đồng từ 2 đến 4 chiếc,
dàn cồng từ 6 đến 8 chiếc và một tốp người vừa múa vừa sử dụng những nhạc khí khác
nhau như chuông, khèn, sênh. Trên trống đồng có hình ảnh người nhảy múa hoá trang và múa vũ trang.
Cùng với trống đồng – di vật tiêu biểu của nền văn hóa Đông Sơn và văn minh
sông Hồng, công trình kiến trúc thành Cổ Loa cũng biểu hiện trình độ phát triển cao
của cư dân thời Văn Lang – Âu Lạc.
* Tổ chức xã hội lOMoAR cPSD| 61464806
Đứng đầu nhà nước Văn Lang – Âu Lạc là nhà vua, cha truyền con nối. Giúp
việc cho nhà vua có các Lạc hầu, Lạc tướng. Nhà nước văn lang đã có một đội quan
thường trực với vũ khí bằng đồng, như: dìu chiến, giáo mác, dao găm. Đặc biệt, họ biết
sử dụng thành thạo các loại cung nỏ, có loại bắn một lần được nhiều mũi tên. Thời Âu
Lạc, nhà vua đóng đô ở thành Cổ Loa.
Đơn vị xã hội cơ sở của người Việt cổ là các làng bản, đứng đầu là các Bố chính
(thường là một người già làng), Bình dân làng xã gọi là Lạc dân. Trong làng xã, tinh
thần cộng đồng rất sâu đậm. Họ sống quây quần giúp đỡ lẫn nhau, đoàn kết cùng chống kẻ thù đến xâm lấn.
* Tổ chức gia đình: phụ quyền.
9. Giao lưu và tiếp biến văn hóa Việt Nam
* Khái niệm: Hiện tượng này xảy ra khi những nhóm người có văn hóa khác nhau giao
lưu tiếp xúc với nhau tạo nên sự biến đổi về văn hóa của một hoặc cả hai nhóm. Giao
lưu văn hóa tạo nên sự dung hợp, tổng hợp và tích hợp văn hóa ở các cộng đồng. Ở đó
có sự kết hợp giữa các yếu tố nội sinh với yếu tố ngoại sinh tạo nên sự phát triển văn
hóa phong phú, đa dạng và tiến bộ hơn.
- Giao lưu và tiếp biến văn hóa là sự tiếp nhận văn hóa nước ngoài bởi dân tộc chủ thể.
Quá trình này luôn đặt mỗi dân tộc phải xử lý tốt mối quan hệ biện chứng giữa yếu tố nội sinh và ngoại sinh
*Quá trình giao lưu tiếp biến văn hóa thường diễn ra theo hai hình thức:
- Hình thức tự nguyện: Thông qua các hoạt động như buôn bán, thăm hỏi, du lịch, hôn
nhân, quà tặng... mà văn hóa được trao đổi trên tinh thần tự nguyện.
- Hình thức cưỡng bức: thường gắn liền với các cuộc chiến tranh xâm lược, thôn tính
đất đai và đồng hóa văn hóa của một quốc gia này đối với một quốc gia khác.
*Giao lưu và tiếp biến văn hóa tại Việt Nam 1. Với văn hóa Đông Nam Á - Hai giai đoạn:
+ giai đoạn thứ nhất, trước nền văn hóa Đông Sơn
+ giai đoạn thứ hai là từ văn hóa Đông Sơn (thiên niên kỷ thứ I TCN) trở đi đến thế kỷ
cuối của thiên niên kỷ thứ I TCN
 Giai đoạn thứ nhất:
- Việc tiếp xúc và giao lưu văn hóa chủ yếu diễn ra giữa các bộ lạc hay nhóm bộ lạc
trong phạm vi lãnh thổ Việt Nam, có những nét tương đồng như:
+ Đông Nam Á là một phức thể văn hóa lúa nước với ba yếu tố: văn hóa núi, văn hóa
đồng bằng, văn hóa biển, trong đó yếu tố đồng bằng ra đời sau, chiếm diện tích không lOMoAR cPSD| 61464806
lớn nhưng đóng vai trò chủ đạo. Đông Nam Á trong lịch sử đã từng được mệnh danh là
cái nôi của cây lúa nước và là một trong 5 trung tâm cây trồng lớn nhất trên thế giới.
+ Trong cơ cấu gia đình truyền thống Đông Nam Á, người phụ nữ có vai trò quyết định.
Đây cũng là một đặc trưng tạo nên dấu ấn riêng của văn hóa Đông Nam Á so với các
quốc gia trong khu vực văn hóa phương Đông và phương Tây.
+ Về mặt văn hóa tinh thần, ngay từ thuở sơ khai cư dân Đông Nam Á đã hình thành
cho mình một diện mạo văn hóa tinh thần khá phong phú và phát triển ở trình độ cao.
Nó thể hiện ở sự phát triển của tư duy nhận thức về xã hội và thế giới, quan niệm về
tính chất lương phân, lưỡng hợp của thế giới, v.v… Tín ngưỡng khu vực Đông Nam Á
đặc biệt là tín ngưỡng phồn thực và thờ cúng tổ tiên.
 Giai đoạn thứ hai: vào thời kỳ Đông Sơn.
- Giữa các nền văn hóa Đông Sơn, văn hóa Sa Huỳnh và văn hóa Đồng Nai không chỉ
có sự trao đổi, tiếp xúc lẫn nhau, mà các nền văn hóa này đã có trao đổi tiếp xúc khá
mạnh mẽ với văn hóa Đông Nam Á. Bằng chứng là, người ta tìm thấy khá nhiều trống
đồng Đông Sơn ở Thái Lan, Mã Lai, In-đô-nê-xi-a và miền nam Trung Quốc (thuộc
khu vực văn hóa Đông Nam Á).
- Vào thời kỳ sơ sử, người Việt đã tạo dựng cho mình một nền văn hóa bản địa đặc
trưng riêng biệt: văn hóa Đông Sơn – văn minh sông Hồng trước khi tiếp xúc và giao
lưu với văn hóa Trung Hoa và Ấn Độ. Điều này được thể hiện ở một số điểm sau:
+ Địa bàn cư trú của người Việt đã tương đối ổn định, theo mô hình làng.
+ Phương thức sản xuất chính là nông nghiệp, trồng trọt, kết hợp với chăn nuôi và đánh
bắt thủy hải sản. Nổi bật là nền văn minh lúa nước, dùng sức kéo là trâu bò.
+ Trình độ luyện kim đồng, sắt, chế tác các dụng cụ lao động, vật dụng, đồ trang sức…
bằng đồng, sắt đạt đến trình độ điêu luyện và có cá tính văn hóa Việt.
+ Đã có tiếng nói tương đối ổn định, đó là hệ ngôn ngữ Việt-Mường.
2. Với văn hoa Trung Hoa
Hai tính chất: giao lưu cưỡng bức và giao lưu tự nguyện.
- Giao lưu cưỡng bức diễn ra ở hai giai đoạn lịch sử điển hình: từ thế kỷ I đến thế kỷ X và từ 1407 đến 1427.
+ Suốt thiên niên kỷ thứ nhất sau Công nguyên, các đế chế phương Bắc ra sức thực hiện
các chính sách đồng hóa về phương diện văn hóa nhằm biến lãnh thổ Việt Nam trở
thành một quận, huyện của Trung Hoa.
+ Từ 1407 đến 1427 là giai đoạn nhà Minh xâm lược Đại Việt. Trong số các thế lực từ
phương Bắc, Đại Minh là thế lực tàn bạo nhất đối với văn hóa Đại Việt. lOMoAR cPSD| 61464806
- Giao lưu tiếp biến văn hóa một cách tự nguyện là dạng thức thứ hai của quan hệ giữa
văn hóa Việt Nam và văn hóa Trung Hoa. Trước thời kỳ Bắc thuộc đã từng diễn ra giao
lưu tự nhiên giữa tộc người Hán với cư dân Bách Việt, đó là sự giao lưu tiếp xúc hai
chiều học hỏi lẫn nhau giữa các nền văn hóa. Hiện nay đã phát hiện được trống đồng
và nhiều đồ đồng Đông Sơn trên đất Trung Hoa, đồng thời cũng phát hiện nhiều vật
phẩm mang dấu ấn Trung Hoa trong các di chỉ khảo cổ học ở Việt Nam.
- Về văn hóa vật thể, người Việt đã tiếp nhận một số kỹ thuật trong sản xuất như: kỹ
thuật rèn đúc sắt gang để làm ra công cụ sản xuất và sinh hoạt, kỹ thuật dùng phân để
tăng độ màu mỡ cho đất, dân gian gọi là “phân Bắc”, kỹ thuật xây cất nơi ở bằng gạch ngói…
- Về văn hóa phi vật thể, Việt Nam tiếp nhận ngôn ngữ của người Trung Hoa (cả từ
vựng và chữ viết), tiếp thu hệ tư tưởng Trung Hoa cổ đại (Nho gia, Đạo gia) trên tinh
thần hỗn dung, hòa hợp với tín ngưỡng bản địa và các hệ tư tưởng khác, tiếp nhận một
số phong tục Lễ Tết, lễ hội, v.v…
3. Với văn hóa Ấn Độ (maybe x)
- Ấn Độ là một trung tâm văn hóa văn minh lớn của khu vực phương Đông và thế giới.
Văn minh Ấn Độ lan tỏa khắp khu vực Đông Nam Á và trên nhiều bình diện có ảnh
hưởng sâu đậm đến văn hóa Việt Nam bằng nhiều hình thức, chủ yếu diễn ra bằng con
đường hòa bình. Các thương gia, các nhà sư Ấn Độ đến Việt Nam với mục đích thương
mại, truyền bá văn hóa, tôn giáo.
- Ở thiên niên kỷ đầu Công nguyên, trên lãnh thổ Việt Nam hiện nay có ba nền văn
hóa: văn hóa vùng châu thổ Bắc Bộ, văn hóa Chăm Pa và văn hóa Óc Eo. Ảnh hưởng
của văn hóa Ấn Độ đến ba vùng văn hóa này có khác nhau, trong đó văn hóa Óc Eo
chịu ảnh hưởng của văn hóa Ấn Độ khá toàn diện.
- Trước khi tiếp xúc với văn hóa Ấn Độ, văn hóa của người Việt đã định hình và phát
triển. Dưới thời Bắc thuộc, người Việt tiếp nhận văn hóa Ấn Độ vừa trực tiếp qua các
thương gia, nhà sư từ Ấn Độ sang lại vừa gián tiếp qua con đường Trung Hoa.Vùng
châu thổ Bắc Bộ trở thành địa bàn trung chuyển văn hóa Ấn Độ, đặc biệt là tôn giáo.
Giao Châu trở thành trung tâm Phật giáo lớn ở Đông Nam Á. Cùng với đạo Phật, một
tổng thể văn hóa Ấn Độ đã ảnh hưởng đến Việt Nam như: ngôn ngữ, âm nhạc, vũ đạo,
nghệ thuật… Ngoài ra cũng đã hình thành ở Việt Nam những công trình văn hóa, nghệ
thuật có giá trị như hệ thống chùa, tháp…
4. Với văn hóa phương Tây
- Giao lưu và tiếp biến với văn hóa phương Tây đặc biệt ở nửa sau của thế kỷ XIX đã
tạo bước chuyển có tính chất bước ngoặt trong sự phát triển của văn hóa Việt Nam.
- Việc giao lưu văn hóa toàn diện thực sự diễn ra là khi Pháp xâm lược Việt Nam. Pháp
sau khi đã lập được ách đô hộ ở Việt Nam, họ rất có ý thức dùng văn hóa như một công
cụ để cai trị. Tuy nhiên, họ đã gặp phải sự chống trả quyết liệt của người Việt Nam trên
cả phương diện chính trị và văn hóa như thái độ không tiếp nhận chữ Quốc ngữ thuở
ban đầu, ý thức không học tiếng Tây, không dùng hàng Tây… Tuy nhiên, bằng thái độ lOMoAR cPSD| 61464806
mềm dẻo, cởi mở, dần dần họ đã tiếp nhận những giá trị văn hóa mới để phát triển văn hóa dân tộc mình.
- giai đoạn 1858-1954: người Việt cấu trúc lại nền văn hóa của mình, đi vào guồng
quay của văn minh công nghiệp phương Tây. Diện mạo văn hóa Việt Nam thay đổi trên
các phương diện: Thứ nhất là chữ Quốc ngữ. Thứ hai là sự xuất hiện của các phương
tiện văn hóa như nhà in, máy in ở Việt Nam… Thứ ba là sự xuất hiện của báo chí, nhà
xuất bản. Thứ tư là sự xuất hiện của một loạt các thể loại, loại hình văn nghệ mới như
tiểu thuyết, thơ mới, điện ảnh, kịch nói, hội họa…
5. Giai đoạn hiện nay
- Hiện nay, Việt Nam đang bước vào cuộc hội nhập lần thứ ba, hướng tới mục tiêu xây
dựng một nền văn hóa "tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc". Cách mạng tháng 8 năm
1945 thành công và đặc biệt là sau cột mốc 1975, toàn bộ lãnh thổ Việt Nam được thống
nhất và quy về một mối, việc giao lưu tiếp biến văn hóa có sự thay đổi về chất so với
các thời kỳ lịch sử trước đó. Trong công cuộc Đổi Mới hiện nay, vấn đề giao lưu kinh
tế và văn hóa là vô cùng quan trọng và mang tính chất sống còn đối với quốc gia. Đảng
Cộng sản Việt Nam đã thực hiện mở rộng giao lưu văn hóa với các nước trên thế giới
dưới nhiều hình thức khác nhau, bao gồm việc giới thiệu rộng rãi các giá trị văn hóa
của dân tộc Việt Nam với nước ngoài, đồng thời mở rộng hoạt động văn hóa quốc tế
dưới nhiều hình thức hợp tác, trao đổi, học tập lẫn nhau. Nó tạo nên sự chuyển biến văn
hóa trên tất cả các lĩnh vực của đời sống xã hội, đặc biệt là lĩnh vực khoa học – công
nghệ, giáo dục – đào tạo, v.v...
- Giai đoạn hiện nay nổi lên nhiều trào lưu học thuật và các tiểu văn hóa mới, dưới sự
hỗ trợ đắc lực của mạng Internet toàn cầu, các tiểu văn hóa giới trẻ với những phong
cách, hành vi, phát ngôn và sở thích riêng biệt cũng góp phần quan trọng trong việc cấu
tạo nên một nền văn hóa Việt Nam hiện đại, ví dụ như Kpop Hàn quốc...
10. Tọa độ văn hóa Việt Nam
 Tọa độ văn hóa là phương pháp nghiên cứu văn hóa theo 3 trục: thời gian văn hóa,
không gian văn hóa và chủ thể văn hóa.
 Thời gian văn hóa: được xác định từ một nền văn hóa hình thành đến khi tàn lụi.
Thời điểm của một nền văn hóa là do thời điểm hình thành dân tộc (chủ thể văn hóa) quy định •
Giai đoạn văn hóa tiền sử (vài nghìn năm trước CN) của cư dân Nam Á với sự
hình thành nghề nông nghiệp trồng lúa nước. •
Giai đoạn văn hóa Văn Lang – Âu Lạc (giữa thiên niên kỷ thứ III TCN) ứng với
thời đại đồ đồng, là thời điểm hình thành chủng Nam Á (Bách Việt). Giai đoạn
này gắn với truyền thuyết Họ Hồng Bàng. Thành tựu chủ yếu là nông nghiệp
lúa nước; luyện kim đồng (Đông Sơn). Giai đoạn này đã tạo nên đỉnh cao rực
rỡ trong lịch sử văn hóa dân tộc và có ảnh hưởng đến toàn khu vực.