



















Preview text:
lOMoAR cPSD| 61464806 I. KHÁI NIỆM VĂM HÓA
1. Quan niệm về văn hóa a) Phương Đông
- Văn: hoa văn/ nét vằn, đẹp, văn tự, văn chương, chế độ lễ nghĩ… -
Hoá: trở thành, biến cải, làm cho trở nên.
Văn hoá: làm cho … trở nên đẹp/có giá trị
- Được người Nhật sử dụng để dịch từ Cultus.
b) Phương Tây: bắt nguồn từ thuật ngữ Latin cultus – nghĩa gốc là trồng trọt
Theo nghĩa gốc ( cả phương Tây và phương Đông ): văn hoá gắn liền với
giáo dục, bồi dưỡng tâm hồn, trí tuệ, đào tạo con người, làm cho xã hội và
tự nhiên trở nên tốt đẹp, chuẩn mực c) Việt Nam
- Từ “ văn hoá” xuất hiện vào khoảng đầu thế kỉ XX (“Việt Nam văn hoá sử cương” – Đào Duy Anh)
- Thế kỉ XV, Nguyễn Trãi trong “Bình Ngô đại cáo” dùng “văn hiến” +
“phong tục” – tương đương với nghĩa văn hoá: Như nước Đại Việt ta từ
trước, Vốn xưng nền văn hiến đã lâu”
- Hiệu chỉnh, bàn luận về cách dùng/cách hiểu thuật ngữ “văn hoá” hiện nay
2. Định nghĩa văn hóa
Có rất nhiều định nghĩa khác nhau về văn hóa của Hồ Chí Minh, Từ Chi, Trần
Quốc Vượng,...nhưng ở đây em xin đưa ra định nghĩa về văn hóa của giáo sư Trần Ngọc Thêm:
“ Văn hóa là một hệ thống hữu cơ các giá trị vật chất và tinh thần do con người
sáng tạo và tích lũy qua quá trình hoạt động thực tiễn, trong sự tương tác giữa
con người với môi trường tự nhiên và xã hội.”
- Khái niệm này đã nêu ra 4 đặc trưng cơ bản của văn hóa là tính hệ thống,
tính giá trị, tính lịch sử và tính nhân sinh. Định nghĩa từ cách tiếp cận cấu trúc • Chủ thể: con người
• Nhấn mạnh tính lịch sử, thực tiễn của quá trình sáng tạo ra văn hoá
• Nhìn văn hoá trong tổng thể 2 mối quan hệ cơ bản của con người
3. Phân biệt văn hóa, văn minh, văn hiến a) Khái niệm - Văn minh:
• Ở phương tây, trong tiếng Anh, tiếng Pháp: bắt nguồn từ chữ cái gốc
Latin Civitas – có nghĩa là đô thị, thành phố. lOMoAR cPSD| 61464806
• Ở phương đông, trong Hán Việt: văn là vẻ đẹp, minh là sáng. Văn
minh là ánh sáng rạng rỡ (của nhân sinh), biểu hiện ở khoa học, kĩ
thuật, chính trị, pháp luật, văn học, nghệ thuật,…
• Ở từ điển Tiếng Việt: Văn minh là trình độ phát triển đạt đến một
mức độ nhất định của xã hội loài người, có nền văn hoá vật chất và
tinh thần với những đặc trưng riêng.
Một cách chung nhất, có thể hiểu văn minh là trạng thái tiến bộ cả về vật
chất và tinh thần của xã hội loài người. Văn minh còn có thể hiểu là giai
đoạn phát triển cao của văn hoá cũng như hành vi hợp lí của con người.
Văn hoá và Văn minh: Đồng nhất + Đối lực + Tạm phân định
• VD: văn minh lúa nước, văn minh cơ khí, văn minh châu Âu - Văn hiến
• Văn là sách vở, thư tịch; hiến là hiền tài. Văn hiến thiên về các giá
trị tinh thần do hiền tài sáng tạo ra.
• Đời Lê (thế kỷ xv), Nguyễn Trãi viết trong “Bình Ngô đại cáo”: “
Như nước Đại Việt ta từ trước, vốn xưng nền văn hiến đã lâu”
Văn hiến ở đây chỉ một nền văn hoá cao – gần với nghĩa “trình độ phát triển
văn hoá” của từ văn minh – trong đó các giá trị tinh thần được chú trọng.
• VD: chữ viết, thơ văn, phong tục tập quán - Văn vật
• Văn là vẻ đẹp, tinh thần,..; vật là vật chất, vật thể
• Đào Duy Anh: văn vật là những sản vật của văn hoá như lễ nhạc, chế độ.
• Trần Ngọc Thêm: văn vật là truyền thống văn hoá tốt đẹp biểu hiện
ở nhiều di tích lịch sử và nhiều nhân tài trong lịch sử.
Văn vật thiên về những giá trị văn hóa vật chất. Biểu hiện ở những công
trình, hiện vật có giá trị nghệ thuật và lịch sử.
Văn vật, văn hiến chỉ là 1 bộ phận của văn hoá
• VD: Phở Hà Nội, Cốm Làng Vòng, Gốm Bát Tràng b) So sánh - Tính giá trị:
• Văn hóa: bao gồm cả giá trị vật chất và giá trị tinh thần
• Văn hiến: thiên về giá trị tinh thần
• Văn vật: thiên về giá trị vật chất
• Văn minh: thiên về giá trị vật chất – kĩ thuật - Tính lịch sử:
• Văn hóa, văn hiến, văn vật: có bề dày lịch sử lOMoAR cPSD| 61464806
• Văn minh: là một lát cắt đồng đại tại một khoảng thời gian nhất định - Phạm vi:
• Văn hóa, văn hiến, văn vật: mang tính dân tộc Văn minh:
mang tính siêu dân tộc (khu vực, quốc tế) - Nguồn gốc:
• Văn hóa, văn hiến, văn vật: gắn bó nhiều hơn với phương Đông nông nghiệp
• Văn minh: gắn bó nhiều hơn với phương Tây đô thị
4. Loại hình văn hóa
Loại hình văn hóa là lí thuyết được đưa ra để lí giải sự tương đồng và khác
biệt giữa các nền văn hóa. Lí thuyết loại hình văn hoá được phân biệt dựa
trên sự tương đồng và khác biệt trong điều kiện tự nhiên, môi trường,
phương thức sản xuất, phương thức sinh hoạt, điều kiện lịch sử-xã hội tạo ra
nét khác biệt về ngoại hình giữa các nền văn hóa của cộng đồng, quốc gia và
khu vực. Theo Trần Ngọc Thêm có 2 loại hình như sau: văn hoá gốc nông
nghiệp và văn hoá gốc du mục (tương ứng là các nền văn hoá phương Đông và phương Tây).
Do vị trí địa lý nằm ở góc tận cùng phía Đông-Nam Châu Á nên Việt Nam
thuộc loại hình văn hóa gốc nông nghiệp trồng trọt điển hình. Tất cả những
đặc trưng của loại hình văn hóa gốc nông nghiệp trồng trọt đều được thể hiện
rất rõ nét trong đặc trưng văn hóa Việt Nam. Đặc trưng chung là lo tạo dựng
một cuộc sống ổn định, lâu dài, không xáo trộn, mang tính chất trọng tĩnh;
gồm 4 yếu tố: lối ứng xử với môi trường tự nhiên, lối tư duy nhận thức, tổ
chức cộng đồng và lối ứng xử với môi trường xã hội.
- Trong lối ứng xử với môi trường tự nhiên, nghề trồng trọt buộc người dân
phải sống định cư để chờ cây cối lớn lên, ra hoa kết trái và thu hoạch. Do
sống phụ thuộc nhiều vào thiên nhiên nên dân nông nghiệp có ý thức tôn
trọng và ước vọng sống hòa hợp với thiên nhiên. Người Việt Nam mở
miệng là nói “lạy trời”, “nhờ trời”, “ơn trời”…Người nông dân Việt trong
tâm thức luôn coi trời là chỗ dựa cho nên có những câu ca dao rất gần gũi như: “Lạy trời mưa xuống Lấy nước tôi uống Lấy ruộng tôi cày Lấy đầy bát cơm Lấy rơm đun bếp”
- Trong nhận thức tư duy, vì nghề nông, nhất là nghề nông nghiệp lúa nước,
cùng một lúc phụ thuộc vào tất cả mọi hiện tượng thiên nhiên: đất, nước,
mưa, nắng…Nắng, mưa nhiều quá hoặc không nắng, không mưa đều nguy lOMoAR cPSD| 61464806
hiểm cả. Cho nên trong nhận thức của người dân dần hình thành lối tư duy
tổng hợp, bao quát thiên về kinh nghiệm, trực giác, cảm tính và duy linh.
Tổng hợp kéo theo hiện chứng – cái mà người nông nghiệp quan tâm không
phải là các yếu tố riêng rẽ, mà là những mối quan hệ qua lại giữa chúng.
Tổng hợp là bao quát được mọi yếu tố, còn biện chứng là chú trọng đến
các mối quan hệ giữa chúng. Người nông dân ta quan sát từng yếu tố, hiện
tượng của tự nhiên để đúc kết ra kinh nghiệm trong sản xuất, trồng trọt. Và
để có thể nhớ một cách dễ dàng, có thể truyền lại cho nhiều đời, cha ông ta
đã chuyển thể những kinh nghiệm khô khan đó thành những câu ca dao,
tục ngữ, thành ngữ gần gũi, giản dị, và xúc tích. Ví dụ như:
“Đêm tháng năm chưa nằm đã sáng
Ngày tháng mười chưa cười đã tối.”
- Trong tổ chức cộng đồng, con người nông nghiệp ưa sống theo nguyên tắc
trọng tình chuộng sự hòa thuận, tương trợ, quan tâm đến những láng giềng.
Hàng xóm sống cố định lâu dài với nhau phải tạo ra một cuộc sống hòa
thuận trên cơ sở lấy tình nghĩa làm đầu. Lối sống trọng tình cảm tất yếu
dẫn đến thái độ trọng đức, trọng văn, trọng phụ nữ. Không phải ngẫu nhiên
mà vùng nông nghiệp Đông Nam Á này được nhiều học giả phương tây
gọi là “xứ sở Mẫu hệ”. Cho đến tận bây giờ, ở các dân tộc ít chịu ảnh hưởng
của văn hóa Trung Hoa hoặc hoàn toàn không chịu ảnh hưởng, vai trò của
phụ nữ vẫn rất lớn: phụ nữ chủ động trong hôn nhân, chồng về ở đằng nhà
vợ, con cái đặt tên theo họ mẹ,...Lối tư duy tổng hợp và biện chứng, luôn
đắn đo cân nhắc của người làm nông nghiệp cộng với nguyên tắc trọng tình
đã dẫn đến lối sống linh hoạt, luôn biến báo cho thích hợp với từng hoàn
cảnh cụ thể dẫn đến triết lí sống:
“Đi với bụt mặc áo cà sa, đi với ma mặc áo giấy”
Sống theo tình cảm con người phải biết tôn trọng và cư xử, bình đẳng, dân
chủ với nhau. Đó là nền dân chủ làng mạc, nó có trước nền quân chủ phong
kiến phương đông và nền dân chủ tư sản phương tây. Lối sống trọng tình
và cách cư xử dân chủ dẫn đến tâm lí coi trọng cộng đồng, tập thể. Người
nông nghiệp làm gì cũng phải tính đến tập thể, luôn có tập thể đứng sau.
Mặt trái của tính linh hoạt là thói tùy tiện biểu hiện ở tật co giãn giờ giấc,
sự thiếu tôn trọng pháp luật… Nó dẫn đến tệ “đi cửa sau” trong giải quyết
công việc: “Nhất quen, nhì thân, tam thần, tứ thế”…Ví dụ như người Việt
chúng ta thường có thói quen vi phạm các quy tắc giao thông như vượt đèn
đỏ, không đội mũ bảo hiểm khi tham gia giao thông hay gian lận điểm thi THPTQG ở tỉnh Hà Giang. lOMoAR cPSD| 61464806
- Trong lối ứng xử với môi trường xã hội, tư duy tổng hợp và phong cách
linh hoạt của văn hóa nông nghiệp còn quy định thái độ dung hợp trong
tiếp nhận các yếu tố: ở Việt Nam không những không có chiến tranh tôn
giáo mà, ngược lại, mọi tôn giáo thế giới (Nho giáo, Phật giáo, Đạo giáo,
Thiên chúa giáo…) đều được tiếp nhận và đều bình đẳng giữa các tôn giáo.
Việt Nam là một nước đa tôn giáo với khoảng 13 đạo khác nhau. Tất cả các
tôn giáo được Nhà nước công nhận thì đều bình đẳng trước pháp luật và
điều này đã được ghi lại tại điều 24 Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ
nghĩa Việt Nam. Đối phó với các cuộc chiến tranh xâm lược, người Việt
Nam luôn hết sức mềm dẻo, hiếu hòa. Ngày xưa, trong kháng chiến chống
ngoại xâm, mỗikhi thế thắng đã thuộc về ta một cách rõ ràng, cha ông ta
thường dừng lại chủ động cầu hòa,“trải chiếu hoa” cho giặc về, mở đường
cho chúng rút lui trong danh dự.
5. Tọa độ văn hóa
a)Không gian văn hóa
- Không gian văn hóa: những không gian lãnh thổ với các đặc trưng của nó,
là nơi mà chủ nhân, chủ thể văn hóa đã nhận tác động để từ đó kiến tạo
nên nề văn hóa của riêng mình.
- Không gian địa lý và không gian văn hóa không hoàn toàn trùng khít lên nhau.
- Vùng văn hóa: Những vùng lãnh thổ có tương đồng về mặt tự nhiên; cộng
đồng cư dân có những mối liên hệ về nguồn gốc, có sự tương đồng về
trình độ phát triển kinh tế - xã hội, giữa họ đã có những giao lưu ảnh
hưởng qua lại. Biểu hiện thành những đặc trưng chung trong văn hóa vật
chất và văn hóa tinh thần, có thể phân biệt với vùng văn hóa khác
- Không gian văn hóa Việt Nam:
• Không gian gốc: Nằm trong khu vực cư trú của người Nam Á (Bách
Việt). Một hình tam giác với cạnh đáy là vùng Dương Tử và đỉnh là
vùng Bắc Trung Bộ Việt Nam
• Phạm vi rộng hơn: Khu vực cư trú của người Indonesien lục địa.
Một tam giác rộng lớn hơn trùm ra ngoài hình tam giác thứ nhất với
cạnh đáy vẫn là sông Dương Tử ở phía Bắc nhưng hình thì kéo tới
vùng đồng bằng sông Mê Kông ở phía Nam
b) Thời gian văn hóa
- Thời gian văn hóa được xác định từ lúc một nền văn hóa hình thành, trải
qua một diễn trình. Thời điểm khởi đầu của một nền văn hóa do thời điểm
hình thành chủ thể văn hóa (thời điểm hình thành dân tộc) quy định
=> Thời gian văn hóa không đồng nhất với lịch sử quốc gia/ dân tộc lOMoAR cPSD| 61464806
- Thời gian văn hóa của một nền văn hóa và mối quan hệ với lịch sử văn hóa của một dân tộc
- Thời gian văn hóa và chủ thể văn hóa; tuy hai mà là một
- Thời gian văn hóa Việt Nam
• Thời kỳ tiền sử và sơ sử
• Thời kỳ hình thành quốc gia dân tộc
• Thời kỳ phong kiến tự chủ
• Thời kỳ Pháp thuộc và chống Pháp thuộc • Thời kỳ dân chủ
Thời gian văn hóa Việt Nam được tính từ khi con người bắt đầu có mặt trên lãnh thổ Việt Nam
Tương ứng theo đó: Lịch sử văn hóa Việt Nam
c) Chủ nhân, chủ thể của văn hóa
- Khái niệm: cộng đồng người/ dân tộc đã sáng tạo ra văn hóa, có sự khác
biệt về chủng, đại chủng, tộc người,...
- Vấn đề xác định chủ thể văn hóa: chủ thể gốc và diễn trình hình thành quốc gia dân tộc
- Xác định đặc điểm của chủ thể văn hóa
- Đặc trưng thời gian văn hóa và chủ thể văn hóa Việt Nam:
• Tính bản địa, nội sinh. Thuộc trung tâm hình thành loài người ở phía Đông, Đông Nam
• Cội nguồn lâu đời, “nguyên viễn lưu trường”
• Tuyệt đại bộ phận các tộc người trong thành phần 54 dân tộc ở Việt
Nam đều có cùng một nguồn gốc chung. Chính điều đó đã tạo nên tính
thống nhất cao thống nhất trong đa dạng - của con người và văn hóa Việt Nam.
6. Đặc trưng và chức năng của văn hóa
a) Tính hệ thống và chức năng tổ chức xã hội - Tính hệ thống:
• Là 1 tổ hợp hữu cơ, bao gồm nhiều thành tố có quan hệ khăng khít với
nhau, tương tác, tương thành, chi phối và chế ước lẫn nhau.
• Văn hóa bao trùm mọi lĩnh vực hoạt động của con người và xã hội, là
cơ sở tồn tại và phát triển của xã hội; là sản phẩm mang tính xã hội cao
do mọi người cùng chung sức tạo ra.
• Là cơ sở để giữa các nền văn hóa, các quốc gia, các dân tộc,... có thể giao lưu, tiếp biến.
- Chức năng tổ chức xã hội: lOMoAR cPSD| 61464806
• Mục đích: duy trì kết cấu xã hội, thực hiện liên kết và tổ chức đời sống
cộng đồng Biểu hiện:
Thông qua các thiết chế xã hội: hệ thống chính trị, luật pháp
Thông qua các thiết chế văn hóa: gia đình, làng xóm, trường học
Tạo nên tính cố kết cộng đồng, sự ổn định xã hội và cung cấp cách ứng xử
thích hợp với môi trường tự nhiên và xã hội.
b) Tính lịch sử và chức năng điều chỉnh xã hội - Tính lịch sử:
• Tính lịch sử được hình thành trong một quá trình và được tích lũy qua nhiều thế hệ
• Văn hóa có một bề dày truyền thống, một chiều sâu giá trị và các lớp trầm tích văn hóa
• Tính lịch sử của văn hóa cũng quy định mỗi hiện tượng văn hóa đồng
thời cũng là một hiện tượng lịch sử
• Đặc trưng của truyền thống lại biểu hiện ở tính di tồn và tính cộng đồng
- Chức năng điều chỉnh xã hội:
• Mục đích: hướng tới sự chuẩn mực, điều tiết xã hội, giúp xã hội duy
trì trạng thái cân bằng động, không ngừng thích ứng với những biến
đổi của môi trường và xã hội Biểu hiện:
Thông qua các bảng giá trị -> Định hướng cho phương thức hành động
và mục tiêu phấn đấu của mỗi cá nhân và toàn thể cộng đồng Căn cứ
vào các thang giá trị -> Các cá nhân không ngừng hoàn thiện bản thân
-> Duy trì ổn định xã hội
c) Tính giá trị và chức năng giáo dục - Tính giá trị:
• Giá trị như là những quan niệm về cái đáng mong muốn, ảnh hưởng tới
hành vi lựa chọn. Tính giá trị là thước đo mức độ nhân bản của xã hội và con người
• Nói đến văn hóa là nói đến giá trị. Những giá trị này hàm chứa trong
nghiên cứu thành phẩm văn hóa (vật chất cũng như tinh thần) vốn là
kết quả của những hoạt động có ý thức của con người tác động vào thế giới.
• Tính giá trị từ góc nhìn văn hóa:
Những chuẩn mực được cộng đồng thừa nhận, theo đuổi, mong muốn đạt được.
Cơ sở đánh giá hành vi và quyết định lợi ích của con người trong cộng đồng lOMoAR cPSD| 61464806
Giá trị xác định các tiêu chuẩn của bậc thang xã hội, là nền tảng cho sự điều tiết xã hội. - Chức năng giáo dục:
• Là chức năng bao trùm của văn hóa, các chức năng khác về một mặt
nào đó cũng phục vụ chức năng giáo dục.
• Hình thành nhân cách, trí tuệ, tư duy … của một con người; truyền
thống văn hóa tồn tại và phát triển nhờ giáo dục; tạo nên sự phát triển
liên tục của lịch sử nhân loại và lịch sử mỗi dân tộc
Con người không thể tách khỏi tiến trình lịch sử
Không thể tách con người ra khỏi quỹ đạo của văn hóa
d) Tính nhân sinh và chức năng giao tiếp - Tính nhân sinh: •
Tính nhân sinh của văn hóa: giá trị nhân văn, nhân loại tính phổ quát •
Tính nhân sinh là một thuộc tính cốt lõi của văn hóa, nó cho phép
phân biệt văn hóa như một hiện tượng xã hội với các giá trị tự nhiên •
Giá trị nhân văn là thực chất của văn hóa, là cái tạo nên nội dung,
bản chất của 1 nền văn hóa - Chức năng giao tiếp: •
Mục đích, ý nghĩa: giúp kết nối các dân tộc, quốc gia, các nền văn
hóa; giúp con người hiểu biết và cảm thông với nhau hơn Phương tiện:
Giao tiếp thông qua hệ thống ký hiệu, biểu tượng của văn hóa
Ngôn ngữ là “vỏ” giao tiếp thì văn hóa là nội dung của nó
Giao tiếp thông qua hệ giá trị, các chuẩn mực xã hội
Các xã hội khác nhau, dân tộc khác nhau… có cách giao tiếp khác nhau II. DIỄN RÌNH VĂN HÓA
1. Thành tựu cơ bản của văn minh Đại Việt
Việc dời đô về Đại La và đổi tên thành Thăng Long, nhà Lý đã mở đầu một
giai đoạn phục hưng văn hóa Đại Việt. Nhà Trần tiếp tục sự nghiệp của nhà
Lý, đưa đất nước tiếp tục phát triển về mọi mặt. - Chính trị:
• Tiếp thu mô hình thiết chế chính trị quân chủ trung ương tập quyền của phong kiến Trung Quốc
• Các vương triều Đại Việt chú trọng xây dựng pháp luật
• Ý nghĩa: thiết chế ngày càng được hoàn thiện qua các triều đại Lý, Trần
và đạt đến đỉnh cao triều đại Lê Sơ; các bộ luật như Hình thư thời Lý, Hình luật thời Trần. lOMoAR cPSD| 61464806 - Kinh tế:
• Nông nghiệp lúa nước, khai hoang, mở rộng diện tích canh tác
• Nhiều nghề thủ công phát triển
• Các triều đại đều cho các loại tiền kim loại riêng
• Ý nghĩa: kỹ thuật thâm canh cây lúa nước có nhiều tiến bộ; sản xuất các
mặt hàng thủ công có trình độ cao. Một số làng nghề thủ công vẫn được
duy trì đến ngày nay; buôn bán nhộn nhịp ở khắp cả nước - Tín ngưỡng, tôn giáo:
• Thời kì này các sư tăng và tín đồ phật giáo phát triển cả về số lượng lẫn
chất lượng. Nho sĩ còn thưa thớt, vì thế nhà chùa cũng là nơi đào tạo ra
những sư tăng đồng thời là những trí thức thời đại. Những trí thức Phật
giáo này đã nối liền Phật giáo với Nho giáo và Đạo giáo.
Chính họ là người đã đặt nền cho chính sách tam giáo đồng nguyên.
Phật giáo tham gia vào sự nghiệp giải phóng và xây dựng đất nước.
Phật giáo còn có tác động đến tư tưởng tâm lí phong tuc và nếp sống
của đông đảo nhân dân ở các làng xã. Việc mở Quốc Tử Giám, mở các
khoa thi đã khiến Nho giáo bắt đầu có địa vị trong xã hội.
• Tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên, thờ cúng các vị anh hùng, người có công
với đất nước tiếp tục được duy trì.
• Ý nghĩa: Trở thành hệ tư tưởng chính thống của nhà nước quân chủ,
hòa quyện với tín ngưỡng bản địa. Ngày nay, một số tín ngưỡng
truyền thống vẫn được duy trì.
- Giáo dục, khoa cử:
• Bắt đầu được triển khai từ thời nhà Lý. Đến thời Trần, khoa cử được tổ
chức đều đặn và quy củ hơn. Từ thời Lê Sơ, khoa cử Nho học phát triển
thịnh đạt. Các triều đại đều có chính sách nhằm khuyến khích giáo dục và khoa cử.
• Nhiều người đỗ đạt, làm quan, trở thành các nhà văn hóa lớn của dân tộc.
- Văn học, chữ viết:
• Chữ Hán là văn tự chính thức. Trên cơ sở chữ Hán, chữ Nôm được
người Việt sáng tạo và sử dụng rộng rãi từ TK XIII. Các tác giả có văn
thơ Nôm thời kì này là Trần Nhân Tông, Mạc Đình Chi, Nguyễn
Thuyên...Sự xuất hiện của văn học chữ viết (Hán và Nôm) là bước phát
triển cả về chất và lượng của nền văn hóa. lOMoAR cPSD| 61464806
• Văn học phong phú, đa dạng, gồm 2 bộ phận: văn học dân gian, văn
học viết được tạo ra từ hai nguồn: tri thức Phật giáo và tri thức Nho giáo.
• Ý nghĩa: có chữ viết riêng thể hiện bản sắc riêng, Được lưu truyền và
bổ sung qua thời gian, phản ánh đời sống xã hội. - Kiến trúc:
• Phát triển đạt đến trình độ cao, thể hiện qua những tác phẩm chạm khắc
trên các công trình kiến trúc, điêu khắc tượng, các công trình kiến trúc.
• Ý nghĩa: Nhiều công trình kiến trúc: chùa, tháp, đền, đình, miếu…
được xây dựng ở khắp cả nước. Các loại hình nghệ thuật dân gian (ca
trù, hát văn,...) còn được lưu giữ.
2. Giao lưu và tiếp biến văn hóa
Nếu quy luật kế thừa là sự khái quát hoá quá trình phát triển văn hoá diễn ra
theo trục thời gian thì giao lưu và tiếp biến văn hoá nhìn nhận sự phát triển
văn hoá trong mối quan hệ không gian với nhiều phạm vi rộng hẹp khác nhau,
tuỳ trình độ phát triển và đặc điểm riêng của mỗi dân tộc. a) Khái niệm
- Giao lưu văn hoá là quá trình trao đổi thành tựu, thực hành văn hóa giữa
các nền văn hóa. Quá trình tiếp xúc và giao lưu văn hoá thường diễn ra theo hai hình thức:
• Hình thức tự nhiên: thông qua các hoạt động như buôn bán, thăm hỏi,
du lịch, hôn nhân, quà tặng...mà văn hoá được trao đổi trên tinh thần tự
nguyện. Ví dụ: tự nguyện có tiếp nhân văn hóa ăn đồ ăn nhanh của Mỹ,
văn hóa phong cách ăn mặc của Hàn Quốc,...
• Hình thức cưỡng bức: thường gắn liền với các cuộc chiến tranh xâm
lược thôn tính đất đai và đồng hoá văn hoá của một quốc gia này đối
với một quốc gia khác. Ví dụ: cưỡng bức có tiếng Hán, nho giáo của
Trung Quốc, công trình kiến trúc tây phongw của Pháp,...
Giao lưu văn hóa vừa là kết quả của sự trao đổi vừa là chính bản thân sự
trao đổi. Có hiểu như vậy mới thấy hết tầm quan trọng của giao lưu văn
hóa trong lịch sử nhân loại, vì sản xuất, trao đổi là một động lực thúc đẩy
sự phát triển của lịch sử.
- Tiếp biến văn hóa là quá trình tiếp thu có cải biến những thành tựu văn hóa
có nguồn gốc ngoại sinh để yếu tố văn hóa mới không xung đột với yếu tố cũ.
- Giao lưu và tiếp biến văn hoá là sự gặp gỡ, thâm nhập và học hỏi lẫn nhau
giữa các nền văn hóa. Trong quá trình này, các nền văn hoá bổ sung, tiếp lOMoAR cPSD| 61464806
nhận và làm giàu cho nhau, dẫn đến sự biến đổi, phát triển và tiến bộ văn
hoá. Quá trình giao lưu và tiếp biến đòi hỏi mỗi nền văn hoá phải biết dựa
trên cái nội sinh để lựa chọn tiếp nhận cái ngoại sinh, từng bước bản địa
hoá nó để làm giàu, phát triển văn hoá dân tộc. Trong tiếp nhận các yếu tố
văn hoá ngoại sinh, hệ giá trị xã hội và tâm thức dân tộc có vai trò rất quan
trọng. Nó là "màng lọc" để tiếp nhận những yếu tố văn hoá của các dân tộc
khác, giúp cho văn hoá dân tộc phát triển mà vẫn giữ được sắc thái riêng
của mình. Sự phát triển của cái cải biến đến mức độ nào đó sẽ làm thay đổi
chính thực thể văn hóa, giống như quy luật lượng đổi dẫn đến chất đổi.
Như vậy quá trình giao lưu và tiếp biến văn hóa diễn ra ở hầu khắc các nền
văn hóa. Nó là quy luật phát triển của văn hóa, quy luật tất yếu của đời
sống, một nhu cầu tự nhiên của con người hiện tại.
b) Giao lưu và tiếp biến văn hóa Trung Quốc thời kỳ trung đại
Trung Hoa là một trong những trung tâm văn hóa lớn ở phương Đông,
có nền văn hóa lâu đời và phát triển rực rỡ. Do nằm trên ngã ba ở đại lục Châu
Á và miền bình nguyên Âu - Á, nên văn hóa Trung Hoa vừa mang những đặc
điểm văn hóa du mục của dân cư phương bắc và tây bắc, vừa thấu hiểu tinh
hoa văn hóa nông nghiệp trồng lúa nước của các dân cư phương Nam. Lịch
sử hình thành và phát triển của văn hóa Trung Hoa gắn liền với lịch sử mở
rộng lãnh thổ bằng các cuộc chinh phạt về mặt quân sự và truyền bá văn hóa
của tổ tiên người Trung Hoa. Cùng với sự bành trướng về phương nam, Trung
hoa thâu hóa, Hán hóa các nền văn hóa phương nam. Vị trí địa lí và những
diễn biến của lịch sử đã tạo các điều kiện gặp gỡ và tiếp xúc thường xuyên
giữa văn hóa Việt Nam và văn hóa Trung Hoa. Ngày nay, không thể phủ nhận
sự ảnh hưởng của văn hóa Trung Hoa đối với văn hóa Việt Nam là rất lớn.
Sự giao lưu tiếp biến giữa văn hóa Việt Nam và văn hóa Trung Hoa là
một sự giao lưu, tiếp biến lâu dài qua nhiều thời kỳ lịch sử VN. Cho đến nay,
không một nhà văn hóa nào phủ nhận sự ảnh hưởng của văn hóa Trung Hoa
đến văn hóa VN. Quá trình giao lưu tiếp biến ấy diễn ra theo cả hai đường
cưỡng bức và tự nguyện:
- Giao lưu cưỡng bức diễn ra ở hai giai đoạn lịch sử điển hình: từ thế kỉ I
đến thế kỹ thứ X và từ năm 1407 đến năm 1427 sau công nguyên, các đế
chế Phương Bắc ra sức thực hiện các chính sách đồng hóa về phương diện
văn hóa nhằm biến nước ta trở thành một quận, huyện của Trung Hoa. Từ
năm 1407 đến năm 1427 là giai đoạn nhà Minh xâm chiếm Đại Việt, từ đó
nền văn hóa Việt Nam thay đổi, có sự thâm nhập của nền van hóa Trung Hoa. lOMoAR cPSD| 61464806
- Giao lưu và tiếp biến văn hóa tự nguyện là dạng thức thứ hai của quan hệ
giữa văn hóa Việt Nam và văn hóa Trung Hoa. Trước thời kỳ Bắc thuộc đã
từng diễn ra giao lưu tự nhiên giữa dân tộc người Hán với cư dân Bách
Việt. Theo nghiên cứu lịch sử, ở Trung Hoa người ta thấy có nhiều yếu tố
văn hóa phương Nam đã được người Hán tiếp nhận từ cổ đại, những yếu
tố này nhập sâu vào văn hóa Hán, được hệ thống hóa rồi truyền bá trở lại
phương nam dưới dáng vẻ mới. Đó là sự giao lưu tiếp xúc hai chiều học
hỏi lẫn nhau giữa các nền văn hóa. Hiện nay đã phát hiện được trống đồng
và nhiều đồ đồng Đông Sơn trên đất Trung Hoa, đồng thời cũng phát hiện
nhiều vật phẩm mang dấu ấn Trung Hoa trong các di chỉ khảo cổ học ở Việt Nam.
Cả 2 dạng thức của giao lưu và tiếp biến văn hóa cưỡng bức và tự nguyện
giữa văn hóa Việt Nam và văn hóa Trung Hoa đều là nhân tố cho sự vận động
của văn hóa Việt Nam trong diễn trình lịch sử, người Việt luôn có ý thức vượt
lên, thâu hóa những giá trị văn hóa Trung Hoa để làm giàu cho văn hóa dân
tộc và đã đạt được những thành tựu đáng kể trong giao lưu tiếp biến với văn hóa Trung Hoa.
- Về văn hóa vật thể, người Việt đã tiếp nhận một số kỹ thuật trong sản xuất
như: kỹ thuật rẽ, đúc sắt, gang để làm ra công cụ sản xuất và sinh hoạt, kỹ
thuật dùng phân để làm tăng độ màu mỡ cho đất, kỹ thuật xây cất nơi ở
bằng gạch ngói. Người Việt cũng học được kinh nghiệm dùng đá đắp để
ngắn sóng biển, cải biến kỷ làm đồ gốm,...
- Về văn hóa phi vật thể, Việt Nam tiếp nhận ngôn ngữ của người Trung
Hoa, tiếp thu hệ tư tưởng Trung Hoa cổ đại ( nho gia, đạo gia) trên tinh
thần hỗn dung, hóa hợp với tín ngưỡng bản địa và các hệ tư tưởng khác,
tiếp nhận một số phong tục lễ tết lễ hội,...
c) Giao lưu và tiếp biến văn hóa Ấn Độ thời trung đại
Ấn Độ là một trung tâm văn hóa văn minh lớn, của khu vực phương đông
và thế giới. Văn minh Ấn Độ lan tỏa khắp khu vực Đông Nam Á và trên nhiền
bình diện có ảnh hưởng sâu đậm đến văn hóa Việt Nam bằng nhiều hình thức.
Khác với Trung Hoa, Ấn Độ không có đường biên giới chung với VN. Do
đó Ấn Độ không có con đường tiếp xúc trực tiếp với văn hóa VN, tuy nhiên
sự ảnh hưởng của văn hóa Ấn Độ tới VN không hề nhỏ. Sự tiếp xúc này diễn
ra theo nhiều con đường chủ yếu bình và trải rộng trên ba nền văn hóa chính
của VN: văn hóa Việt pở Bắc Bộ, văn hóa Óc Eo ở Nam Bộ, văn hóa Chăm
pa ở Trung Bộ. Trên nền tảng văn hóa bản địa các đạo sĩ bà la môn đến từ ấn
độ đã tổ chức, xây dựng một quốc gia mô phỏng mô hình của ấn độ ở tất cả lOMoAR cPSD| 61464806
các mặt: tổ chức chính trị, thiết chế xã hội, đô thị, giao thông cùng với việc
truyền bá các thành tố văn hóa tinh thần như chữ viết, tôn giáo...
- Văn hóa Ấn Độ đã góp phần quan trọng vào quá trình hình thành vương
quốc chăm pa và một nền văn hóa chăm pa phát triển rực rỡ và đầy bản
sắc. Người chămpa đã tiếp nhận mô hình văn hóa ấn độ từ việc tổ chức nhà
nước cho đến việc tạo dựng và phát triển các thành tố văn hóa họ đã rất
linh hoạt trong tiếp biến văn hóa ấn độ để tạo dụng nên nền văn hóa chăm
pa với những sắc thái văn hóa đan xen giữa ấn độ đông nam á và văn hóa
bản địa chăm pa đặc sắc.
- Giao lưu và tiếp biến với văn hóa ấn độ của người việt ở vùng châu thổ bắc
bộ lại diễn ra trong đặc điểm hoàn cảnh lịch sử riêng. Trước khi tiếp xúc
với văn hóa ấn độ, văn hóa của người việt đã định hình và phát triển. Dưới
thời bắc thuộc, người việt tiếp nhận văn hóa ấn độ vừa trực tiếp qua các
thương gia, các nhà sư từ ấn độ sang và vừa gián tiếp qua trung hoa. Những
thế kỷ đầu công nguyên người Việt tiếp nhận văn hóa ấn độ trong hoàn
cảnh đặc biệt: nước mất, phải đối mặt với văn hóa Hán. Bởi vậy, ảnh hưởng
của văn hóa ấn độ không chỉ diễn ra trong tầng lớp dân chúng mà còn có
sức phát triển lớn. Vùng châu thố bắc bộ trở thành địa bàn trung chuyển
văn hóa ấn độ, đặc biệt là ở tôn giáo.
Tiếp nhận văn hóa ấn độ ở thời kỳ bắc thuộc có thể xem là một đối trọng với
ảnh hưởng của văn hóa Hán, thể hiện tinh thần chống đồng hóa văn hóa của người việt.
d) Giao lưu và tiếp biến văn hóa phương Tây thời kỳ cận đại
Giao lưu và tiếp biến với văn hóa phương Tây đặc biệt ở nửa sau của thế
kỷ XII đã tạo bước chuyển có tính chất bước ngoặt trong sự phát triển của văn hóa Việt Nam.
Giao lưu với văn hóa phương Tây đã từng phát triển rất sớm trong lịch
sử. Nghiên cứu văn hóa khảo cổ người ta thấy trong văn hóa Óc Eo có nhiều
di vật của cư dân La Mã cổ đại, chứng tổ họ đã có những quan hệ thương mại
quốc tế rộng rãi. Thế kỷ XVI, các linh mục phương Tây đã vào truyền giáo ở
vùng Hải Hậu và chúa Trịnh vua Lê ở Đàng ngoài cũng như các chúa Nguyễn
ở Đàng Trong, rồi nhà Tây Sơn đều có quan hệ với phương Tây. Tuy nhiên,
giao lưu văn hóa toàn diện thực sự diễn ra khi Pháp xâm lược Việt Nam. Qua
trình giao lưu văn hóa VN và văn hóa phương Tây giai đoạn này đã khiến
người VN thay đổi lại trúc nền văn hóa của mình và đi vào vòng quay văn
minh công nghiệp. Diện mạo văn hóa VN thay đổi theo các phương diện: lOMoAR cPSD| 61464806
- Chữ Quốc ngữ: chữ Quốc ngữ ra đời, từ chỗ là chữ để các giáo sĩ truyền
bá đạo Thiên chúa đã trở thành loại chữ được sử dụng phổ biến trong nhân dân.
- Sự xuất hiện của các phương tiện văn hóa như: nhà in, máy in ở VN... -
Sự xuất hiện của báo chí, nhà xuất bản
- Sự xuất hiện của một loạt các thể loại loại hình văn nghệ mới như tiểu
thuyết, thơ mới, điện ảnh, kịch nói, hội họa...
Điều đáng quan tâm ở đây là sự tiếp xúc này xảy ra trong điều kiện nước ta
vừa phải đánh đuổi quân xâm lược, vừa phải tiếp nhận nền văn hóa Tây
phương tiên tiến đế hiện đại hóa đất nước. Chỉ trong một thời gian ngắn mà
diện mạo đất nước đã thay đổi hẳn, rời bỏ phương thức sản xuất châu Á.
III. VẤN ĐỀ CỦA VĂN HÓA VIỆT NAM THỜI KỲ ĐƯƠNG ĐẠI
1. Vấn đề phát triển và hội nhập
Trong thời kì đương đại, văn hóa Việt Nam đang trải qua quá trình phát triển
và hội nhập với thế giới. Dưới đây là một số vấn đề quan trọng liên quan đến vấn đề này:
- Phát triển văn hóa đa dạng: Với sự phát triển của xã hội, văn hóa Việt Nam
đang trở nên đa dạng hơn bao giờ hết. Các ngành nghệ thuật, âm nhạc, điện
ảnh, văn học và thể thao đang phát triển mạnh mẽ, mang lại nhiều giá trị
và niềm tự hào cho đất nước.
- Hội nhập văn hóa quốc tế: Việt Nam đang ngày càng tham gia tích cực vào
các hoạt động văn hóa quốc tế. Sự hội nhập này không chỉ giúp đất nước
tiếp thu và truyền bá các giá trị văn hóa của mình mà còn tạo điều kiện cho
người dân tiếp cận và hòa nhập với văn hóa thế giới.
- Bảo tồn và phát huy giá trị văn hóa truyền thống: Trong quá trình hội nhập,
việc bảo tồn và phát huy giá trị văn hóa truyền thống của Việt Nam là một
vấn đề quan trọng. Điều này đảm bảo rằng văn hóa Việt Nam không bị mai
một và vẫn giữ được bản sắc riêng.
- Tương tác văn hóa và công nghệ: Sự phát triển của công nghệ thông tin và
truyền thông đã tạo ra một sự tương tác mạnh mẽ giữa văn hóa và công
nghệ. Việc sử dụng công nghệ để phát huy và truyền bá văn hóa đã mở ra
nhiều cơ hội mới cho văn hóa Việt Nam.
- Thách thức và cơ hội: Trong quá trình phát triển và hội nhập, văn hóa
Việt Nam đối mặt với nhiều thách thức như sự mất cân bằng giữa văn
hóa truyền thống và văn hóa hiện đại, sự thay đổi nhanh chóng của xã hội
và sự ảnh hưởng của văn hóa nước ngoài. Tuy nhiên, những thách thức này
cũng mang lại cơ hội để văn hóa Việt Nam phát triển và thể hiện bản sắc riêng. lOMoAR cPSD| 61464806
Tóm lại, vấn đề phát triển và hội nhập của văn hóa Việt Nam thời kì đương
đại là một quá trình phức tạp và đa chiều. Việc bảo tồn giá trị văn hóa
truyền thống, hội nhập với văn hóa quốc tế và tận dụng công nghệ là những
yếu tố quan trọng để văn hóa Việt Nam phát triển và tồn tại trong thế giới đa văn hóa ngày nay.
2. Vấn đề toàn cầu hóa
Xuất hiện từ những năm 1950, thuật ngữ toàn cầu hoá đã mau chóng trở thành
xu thế thời đại. Có thể nói, toàn cầu hoá là một hiện tượng đột phá, mang tính
cách mạng, làm thay đổi tư duy, nhận thức của nhân loại trên mọi phương
diện: kinh tế, chính trị, văn hoá, xã hội…
Toàn cầu hóa có thể hiểu là sự kết nối về nhiều mặt giữa các quốc gia, thường
chia làm 3 thể thức chính: toàn cầu hóa kinh tế, toàn cầu hóa chính trị, toàn cầu hóa văn hóa
Vấn đề toàn cầu hóa đã có ảnh hưởng đáng kể đến văn hóa Việt Nam trong thời kì đương đại.
- Sự lan truyền của văn hóa phương Tây: Toàn cầu hóa đã mang đến sự tiếp
cận rộng rãi với văn hóa phương Tây thông qua phương tiện truyền thông
và internet. Văn hóa phương Tây, như âm nhạc, phim ảnh, thời trang và
phong cách sống, đã trở thành một phần không thể thiếu trong cuộc sống
hàng ngày của nhiều người Việt Nam.
- Thay đổi trong giá trị và quan niệm: Toàn cầu hóa đã góp phần thay đổi
giá trị và quan niệm của người Việt Nam. Sự tiếp xúc với các giá trị và
quan niệm mới từ các nền văn hóa khác nhau đã tạo ra sự đa dạng và mở
rộng tư duy của người dân Việt Nam.
- Tiếp cận với văn hóa đa dạng: Toàn cầu hóa đã mở ra cánh cửa cho việc
tiếp xúc với văn hóa đa dạng từ các quốc gia khác nhau. Người Việt Nam
có cơ hội học hỏi và chia sẻ với những người khác về các nền văn hóa khác
nhau, từ đó làm giàu thêm kiến thức và hiểu biết về thế giới.
- Thách thức đối với bản sắc văn hóa: Tuy nhiên, toàn cầu hóa cũng đặt ra
thách thức đối với bản sắc văn hóa của Việt Nam. Sự tiếp thu mạnh mẽ của
văn hóa phương Tây có thể làm mất đi một phần trong những giá trị và
truyền thống đặc trưng của văn hóa Việt Nam.
Tóm lại, toàn cầu hóa đã có ảnh hưởng tích cực và tiêu cực đến văn hóa
Việt Nam trong thời kì đương đại. Điều quan trọng là duy trì sự cân bằng giữa
việc tiếp thu và bảo tồn bản sắc văn hóa của quốc gia. 3. Chủ nghĩa yêu nước lOMoAR cPSD| 61464806 a) Khái niệm
- Yêu nước là trạng thái tình cảm xã hội mang tính phổ biến vốn có ở mọi
quốc gia, dân tộc trên thế giới
- Chủ nghĩa yêu nước không thuần túy chỉ là tư tưởng yêu nước, tình cảm
yêu nước hay lòng yêu nước nói chung. Nó cũng không đồng nhất với tinh
thần yêu nước, hay truyền thống yêu nước. Chủ nghĩa yêu nước chính là
sự kết hợp chặt chẽ giữa lý trí yêu nước và tình cảm yêu nước của con
người, là sự phát triển ở trình độ cao của tư tưởng yêu nước, là tinh thần
yêu nước đạt đến sự tự giác
b) Chủ nghĩa yêu nước Việt Nam
- Chủ nghĩa yêu nước Việt Nam là tổng hòa các yếu tố tri thức, tình cảm, ý
chí của con người Việt Nam, tạo thành động lực tinh thần to lớn thúc đẩy
họ sẵn sàng cống hiến sức lực, trí tuệ, xả thân vì sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc
- Chủ nghĩa yêu nước Việt Nam chính là cội nguồn sức mạnh, là động lực
tinh thần to lớn, là “bệ phóng” đưa dân tộc Việt Nam vượt qua muôn vàn
sóng gió, thử thách, có ý nghĩa quyết định tạo nên sức mạnh nội sinh để
dân tộc ta trường tồn và phát triển.
- Chủ nghĩa yêu nước Việt Nam là nội dung cốt lõi của tư tưởng Việt Nam,
của nhân sinh quan và thế giới quan Việt Nam, là hạt nhân của khối đại
đoàn kết toàn dân tộc.
- Chủ nghĩa yêu nước là giá trị thiêng liêng chung của dân tộc Việt Nam, trở
thành đặc trưng tiêu biểu của tính cách con người Việt Nam
c) Sự hình thành chủ nghĩa yêu nước
- Lịch sử dựng nước - sự gắn bó của mỗi người với thiên nhiên, quê hương, xứ sở:
• Lòng yêu nước thường bắt nguồn từ tình yêu quê hương xứ sở, nơi sinh
ra, lớn lên của mỗi người; từ sự gắn bó giữa những thành viên của gia
đình, cộng đồng làng xã, rồi đến quốc gia, dân tộc.
• Nền kinh tế của Việt Nam chủ yếu là kinh tế nông nghiệp trồng lúa
nước, phụ thuộc nhiều vào thiên nhiên, cần có sự hợp sức của cả cộng
đồng. Điều đó tự nó tạo nên sự gắn bó rất chặt chẽ giữa con người với
thiên nhiên, với xóm làng, với mảnh đất mà mình đã sinh sống, đang canh tác.
- Quá trình hình thành và thống nhất sớm của quốc gia - dân tộc Việt Nam lOMoAR cPSD| 61464806
• Quá trình thống nhất quốc gia và hình thành dân tộc sớm ở Việt Nam
có tác động sâu sắc đến sự phát triển của tinh thần yêu nước, ý thức
cộng đồng, tinh thần đoàn kết, sự cố kết cộng đồng.
• Cùng với quá trình thống nhất quốc gia là quá trình hình thành, thống
nhất dân tộc, tức quá trình các cộng đồng dân cư gắn bó với nhau trên
một cơ sở của tư tưởng, tình cảm chung, trong một nền văn hóa chung.
- Lịch sử chống ngoại xâm hào hùng và anh dũng của dân tộc
• Việt Nam nằm ở vị trí chiến lược quan trọng trong khu vực và thế giới,
cùng với nguồn tài nguyên thiên nhiên dồi dào và phong phú nên luôn
là mục tiêu nhòm ngó, lăm le xâm lược và thôn tính của các đế quốc ngoại bang.
• Trong các cuộc chiến tranh chống ngoại xâm, dân tộc ta thường phải
đương đầu với kẻ địch mạnh hơn gấp nhiều lần.
• Sự gắn bó mật thiết giữa bảo vệ đất nước đi liền với bảo vệ giống nòi,
bảo vệ bản sắc dân tộc.
- Sự hình thành nền văn hóa thống nhất, đa dạng của cộng đồng các dân tộc Việt Nam
• Trong thời kỳ cổ đại, trên lãnh thổ Việt Nam hiện nay đã có các nền văn
hóa phát triển, dẫn đến sự ra đời của các nhà nước sơ khai.
• Trải qua nhiều biến thiên của lịch sử, các dòng văn hóa và lịch sử đó đã
hòa nhập vào dòng chảy chung của văn hóa Việt Nam.
d) Vai trò của chủ nghĩa yêu nước
- Cần phải khẳng định chủ nghĩa yêu nước là một giá trị bền vững, là nhân
tố quan trọng hàng đầu tác động sâu sắc đến đời sống văn hóa tinh thần và
đã trở thành truyền thống, bản lĩnh Việt Nam trong suốt quá trình hình
thành và phát triển của dân tộc qua các thời kỳ lịch sử; là cơ sở vững chắc
gắn kết khối đại đoàn kết toàn dân tộc.
- Chủ nghĩa yêu nước Việt Nam là giá trị thiêng liêng chung của toàn dân
Việt Nam, của tất cả các dân tộc anh em hiện đang sinh sống trên lãnh thổ
Việt Nam, cùng cộng đồng người Việt Nam đang sinh sống ở nước ngoài,
trở thành đặc trưng tiêu biểu cho tích cách con người Việt Nam.
- Chủ nghĩa yêu nước Việt Nam là động lực tinh thần to lớn của toàn dân
tộc, là yếu tố hàng đầu, có ý nghĩa quyết định tạo nên sức mạnh nội sinh
để dân tộc ta trường tồn và phát triển
Như vậy, phát huy vai trò của chủ nghĩa yêu nước Việt Nam trong thời kỳ
hiện nay chính là nhằm khơi dậy và phát huy tinh thần và nghị lực, trí lOMoAR cPSD| 61464806
tuệ và tài năng của mỗi người và toàn thể cộng đồng để tập trung phát triển
kinh tế, xây dựng đất nước ngày càng giàu mạnh, bảo vệ vững chắc Tổ
quốc thân yêu và thành quả cách mạng, gắn độc lập dân tộc với chủ nghĩa
xã hội, giữ vững định hướng xã hội chủ nghĩa, bảo vệ và giữ gìn bản sắc
văn hóa dân tộc, nâng cao uy tín và vị thế của Việt Nam trên trường quốc tế.
4. Văn hóa làng và vai trò của tổ chức làng trong thời đại mới - Khái niệm
• Làng: đình làng, giếng làng, lũy tre làng hay “một miếng giữa làng bằng
1 sàng giữa chợ” là những điều quen thuộc, đã ăn sâu vào tiềm thức với
hầu hết người dân Việt Nam. Làng là đơn vị cư trú cơ bản của nông
thôn người Việt đã được hình thành từ rất sớm. Làng ra đời sớm, gắn
bó thân thiết với nghề trồng lúa nước, bền vững với thời gian với thăng
trầm lịch sử. Làng Việt gắn kết con người cùng huyết thống và ko cùng
huyết thống trong sinh hoạt cộng đồng.
• Làng có hai đặc trưng cơ bản: tính cộng đồng và tính tự trị. Tính cộng
đồng là sự liên kết các thành viên trong làng lại với nhau, mỗi người
đều hướng tới những người khác- nó là đặc trưng dương tính, hướng
ngoại; biểu tượng truyền thống của tính cộng đồng là sân đình-bến nước-cây đa.
Tính tự trị là làng nào biết làng ấy, các làng tồn tại khá biệt lập với nhau
và phần nào độc lập với triều đình phong kiến. Mỗi làng là một “vương
quốc” nhỏ khép kín với luật pháp riêng (hương ước) và “tiểu triều đình”
riêng; biểu tượng truyền thống của tính tự trị là lũy tre
- Văn hóa làng bao gồm tổng thể các giá trị vật chất và tinh thần do cộng
đồng dân cư ở các làng quê sáng tạo ra trong quá trình tồn tại và phát triển.
Văn hóa làng là một phần quan trọng của văn hóa dân tộc Việt Nam.
- Tổ chức làng là một cơ quan quản lý và điều hành các hoạt động trong
làng. Vai trò của tổ chức làng trong thời đại mới bao gồm:
• Bảo tồn và phát huy văn hóa làng: Tổ chức làng đóng vai trò quan trọng
trong việc bảo tồn và phát huy văn hóa làng. Họ có trách nhiệm duy trì
và truyền đạt những giá trị truyền thống, tập quán và tư tưởng của làng
cho thế hệ sau. Điều này giúp duy trì sự đa dạng văn hóa và tạo ra một
môi trường sống động và đáng sống.
• Quản lý và giải quyết các vấn đề trong làng: Tổ chức làng có nhiệm vụ
quản lý và giải quyết các vấn đề trong làng. Họ đóng vai trò như một
cầu nối giữa cư dân và các cơ quan chính quyền. Tổ chức làng có thể lOMoAR cPSD| 61464806
giúp đỡ cư dân trong việc giải quyết các vấn đề như an ninh, hòa bình, kinh tế và xã hội.
• Thúc đẩy phát triển kinh tế và du lịch: Tổ chức làng có thể đóng vai trò
quan trọng trong việc thúc đẩy phát triển kinh tế và du lịch trong làng.
Họ có thể tổ chức các hoạt động kinh doanh, triển khai các dự án phát
triển và quảng bá làng đến du khách. Điều này giúp tạo ra cơ hội việc
làm và tăng thu nhập cho cư dân làng.
• Đại diện và bảo vệ quyền lợi của cư dân làng: Tổ chức làng đại diện
cho cư dân làng và bảo vệ quyền lợi của họ. Họ có thể tham gia vào các
cuộc họp, đàm phán và thương lượng với các cơ quan chính quyền để
đảm bảo quyền lợi và lợi ích của cư dân làng được bảo vệ.
• Tổ chức làng vẫn đóng vai trò quan trọng trong việc bảo tồn và phát
triển văn hóa làng trong thời đại mới. Sự hợp tác giữa tổ chức làng và
các cơ quan chính quyền, cộng đồng và du khách là cần thiết để đảm
bảo sự phát triển bền vững và bảo tồn văn hóa làng của Việt Nam. IV.
CÁC THÀNH TỐ VĂN HÓA VIỆT NAM
1. Chức năng của phong tục, tập quán
- Phong tục tập quán là thói quen sinh hoạt trong đời sống được cộng đồng
thừa nhận, được truyền từ đời này sang đời khác. Phong tục tập quán có
thể thay đổi được tùy theo thời gian có tính tùy thuộc vào từng cộng đồng văn hóa.
- Phong tục và tập quán là những yếu tố quan trọng trong văn hóa Việt Nam.
Chúng có vai trò quy định và hướng dẫn cách cư xử, giao tiếp và sống trong xã hội. - Chức năng:
• Gìn giữ và truyền thống: Phong tục và tập quán giúp gìn giữ và truyền
thống các giá trị văn hóa từ thế hệ này sang thế hệ khác. Chúng là cầu
nối giữa quá khứ và hiện tại, giúp duy trì sự liên kết và nhận thức về
lịch sử và truyền thống của dân tộc.
• Xác định vai trò và quyền lợi: Phong tục và tập quán xác định vai trò
và quyền lợi của mỗi cá nhân trong xã hội. Chúng quy định các quy tắc
và trách nhiệm xã hội, giúp duy trì trật tự và sự cân bằng trong cộng đồng.
• Tạo ra sự đoàn kết và tương tác: Phong tục và tập quán tạo ra sự đoàn
kết và tương tác giữa các thành viên trong xã hội. Chúng tạo ra một
môi trường xã hội ổn định và hòa hợp, thúc đẩy sự hợp tác và sự hiểu
biết giữa các thành viên. lOMoAR cPSD| 61464806
• Bảo vệ giá trị và đạo đức: Phong tục và tập quán giúp bảo vệ và thúc
đẩy các giá trị và đạo đức trong xã hội. Chúng khuyến khích sự tôn
trọng, lòng biết ơn, lòng nhân ái và sự chia sẻ, đồng thời đánh giá cao
sự công bằng và trung thực.
• Tạo ra sự đẹp và tinh tế: Phong tục và tập quán đóng vai trò quan trọng
trong việc tạo ra sự đẹp và tinh tế trong cuộc sống hàng ngày. Chúng
thể hiện qua nghệ thuật, kiến trúc, trang phục và cách sống, tạo nên một
phần không gian văn hóa độc đáo của Việt Nam.
Tóm lại, phong tục và tập quán trong văn hóa Việt Nam có chức năng gìn
giữ và truyền thống, xác định vai trò và quyền lợi, tạo ra sự đoàn kết và
tương tác, bảo vệ giá trị và đạo đức, cũng như tạo ra sự đẹp và tinh tế trong cuộc sống hàng ngày.
2. Phân tích một lễ hội LỄ HỘI HÙNG VƯƠNG
Hình thức tín ngưỡng thờ cúng các vua Hùng - các vị vua của nhà nước Văn
Lang đầu tiên trong lịch sử Việt Nam - diễn ra vào ngày mùng 10 tháng 3 âm lịch hàng năm.
- Lễ được tiến hành tại không gian chính là Đền Hùng (Việt Trì, Phú Thọ)
và tại nhiều đền miếu thờ Hùng Vương trên khắp cả nước.
- Nghi lễ tri ân, tưởng nhớ công lao các vị tổ tiên đã tạo dựng nước Việt,
khẳng định về nguồn gốc lâu đời của người Việt, xác tín niềm tin thiêng
liêng về thủy tổ của dân tộc (các vua Hùng và nòi giống Tiên Rồng).
- Lễ hội Đền Hùng gắn liền với truyện Họ Hồng Bàng kể về nguồn gốc Hùng Vương
- Nguồn gốc lễ hội: dựa trên các tư liệu, khó có thể khẳng định chính xác về
thời điểm ra đời của lễ hội Hùng Vương. Tục thờ cúng các vua Hùng đã
xuất hiện từ lâu tại địa phương. Sau năm 1945, Nhà nước luôn coi trọng lễ
hội Hùng Vương và việc tế lễ tại Đền Hùng. Năm 1995 Lễ hội Hùng Vương
được nâng lên thành Quốc lễ. Năm 2007 người lao động được nghỉ việc
trong ngày Giỗ Tổ. Ngày 6.12.2012, tín ngưỡng thờ cúng Hùng Vương
được UNESCO ghi danh di sản văn hóa phi vật thể của nhân loại. - Diễn trình:
• Tổ chức từ mùng 1 – 10/3 âm lịch hàng năm
• Người dân mọi miền hành hương về Đền Hùng làm lễ, dâng cúng các
sản vật. Các nghi thức tưởng nhớ các vua Hùng đồng thời được tiến hành
tại khắp các đền miếu thờ cúng Hùng Vương và các không gian công cộng trên cả nước.