










Preview text:
lOMoAR cPSD| 61256830
I. Lý luận về kinh tế thị trường
1. Kinh tế hàng hóa -
Căn cứ vào mục đích của sản xuất người ta chia nền sản xuất thành sản xuất tự
cungtự túc (Kinh tế tự nhiên) và sản xuất hàng hóa ( Kinh tế hàng hóa). Kinh tế hàng
hóa là kiểu tổ chức kinh tế mà ở đó sản phẩm sản xuất ra dùng để trao đổi, buôn bán.
Kinh tế hàng hóa đối lập với kinh tế tự nhiên ( Kiểu tổ chức kinh tế mà ở đó sản phẩm
được sản xuất ra dùng để thỏa mãn nhu cầu của người sản xuất ra sản phẩm đó). -
Đặc trưng của kinh tế hàng hóa: có mục đích vì giá trị ( lợi nhuận); quá trình tái
sảnxuất gồm 4 khâu ( sản xuất, phân phối, trao đổi, tiêu dùng); động lực thúc đẩy sản
xuất tăng; nền sản xuất tăng nhanh. -
Kinh tế hàng hóa chỉ ra đời khi có đầy đủ 2 điều kiện: (1) Sự phân công lao động
xã hội- là sự phân công chuyên môn hóa những người sản xuất thành những ngành, nghề
sản xuất khác nhau làm cho mỗi người sản xuất ít loại sản phẩm nhưng nhu cầu con
người cần nhiều loại sản phẩm; muốn đáp ứng nhu cầu đó họ phải trao đổi, buôn bán
với nhau. (2) Sự tách biệt về kinh tế giữa những người sản xuất với nhau. Dựa trên chế
độ tư hữu ( chế độ chiếm hữu tư nhân về tư liệu sản xuất) hoặc những hình thức sở hữu
khác nhau về tư liệu sản xuất. Điều kiện này làm cho tư liệu sản xuất thuộc về từng
người hoặc từng nhóm người trong xã hội. Vì vậy sản phẩm làm ra thuộc về từng người
hoặc từng nhóm người trong xã hội; những người hoặc nhóm người này muốn dùng sản
phẩm của người khác hoặc nhóm khác phải trao đổi, mua bán hàng hóa với nhau. -
Kinh tế hàng hóa ra đời từ khi chế độ cộng sản nguyên thủy tan rã và phát triển
mạnhnhất trong chủ nghĩa tư bản và chủ nghĩa xã hội ( giai đoạn thấp của hình thái kinh
tếxã hội CSCN). Đến chủ nghĩa cộng sản ( giai đoạn cao của hình thái kinh tế- xã hội
CSCN) thì sản xuất hàng hóa tự tiêu vong. -
Kinh tế hàng hóa phát triển qua 2 giai đoạn: (1) Giai đoạn giản đơn- sản xuất
hàng hóa giản đơn là nền sản xuất hàng hóa dựa trên chế độ sở hữu tư nhân tư liệu sản
xuất kết hợp với sức lao động cá nhân của người lao động. Đặc trưng trong giai đoạn
này là người lao động có tư liệu sản xuất, do đó họ tự quyết định, tổ chức quá trình sản
xuất; toàn bộ sản phẩm làm ra thuộc về họ; quy mô sản xuất nhỏ, phân tán; công cụ lao
động chủ yếu là thủ công lạc hậu, năng suất thấp; nền sản xuất phát triển chậm. (2) Giai lOMoAR cPSD| 61256830
đoạn cao- sản xuất hàng hóa phát triển tức là nền sản xuất tập trung quy mô lớn bằng
máy móc, năng suất cao. Nó là đặc trưng của sản xuất tư bản chủ nghĩa và xã hội chủ
nghĩa; luôn vận động theo yêu cầu của các quy luật kinh tế khách quan trên thị trường,
do đó còn gọi là nền kinh tế thị trường. 2. Thị trường:
- Thị trường là tổng hòa các mối quan hệ liên quan đến trao đổi và mua bán. Nó baogồm
các yếu tố cấu thành như hàng hóa và tiền tệ; giá trị, giá cả; người bán, người mua;
quan hệ H-T, quan hệ cung- cầu, quan hệ hợp tác,…
- Dựa trên các cơ sở khác nhau dẫn đến chia thị trường thành nhiều loại:
+ Căn cứ vào đối tượng hàng hóa trong thị trường cạnh tranh: thị trường hàng hóadịch
vụ, thị trường TLSX-TLTD
+ Phạm vi: trong nước ngoài nước
+ tính chất: cạnh tranh hoàn hảo- cạnh tranh không hoàn hảo
+ cơ chế vận hành: tự do- có điều tiết
- Vai trò thị trường: (1) Thực hiện giá trị hàng hóa, là điều kiện, môi trường cho sản xuất
phát triển. (2) Kích thích sự sáng tạo của mọi thành viên trong xã hội, tạo ra cách thức
phân bổ nguồn lực hiệu quả trong nền kinh tế. (3) Gắn kết nền kinh tế thành một chỉnh
thể, gắn kết nền kinh tế quốc gia với nền kinh tế thế giới.
- Cơ chế thị trường: là hình thành các quan hệ kinh tế mang đặc tính tự điều chỉnh cáccán
cân đối của nền kinh tế theo yêu cầu của các quy luật kinh tế khách quan.
3. Nền kinh tế thị trường
a) Khái niệm và đặc trưng của kinh tế thị trường -
Khái niệm: Kinh tế thị trường là nền kinh tế vận hành theo cơ chế thị trường. Đó
lànền kinh tế hàng hoá phát triển cao, ở đó mọi quan hệ sản xuất và trao đổi đều được
thông qua thị trường, chịu sự tác động, điều tiết của các quy luật thị trường. Kinh tế thị
trường là giai đoạn phát triển cao nhất của kinh tế hàng hoá. Dựa vào vai trò nhà nước
trong nền kinh tế thị trường chia kinh tế thị trường thành: kinh tế thị trường thuần tuý (
cổ điển) và kinh tế thị trường hiện đại ( có sự điều tiết của nhà nước) lOMoAR cPSD| 61256830 -
Đặc trưng của nền kinh tế thị trường: Nền kinh tế có nhiều chủ thể kinh tế tham
giadựa trên nhiều hình thức sở hữu và các chủ thể đều được hoạt động kinh doanh bình
đẳng trước pháp luật:
+ Quyết định phân bổ các nguồn lực của xã hội thể hiện thông qua hoạt động của các
loại thị trường như thị trường hàng hoá, dịch vụ, tài chính, BĐS….
+ Giá cả được hình thành trên thị trường và theo nguyên tắc của thị trường: giá trị quyết định giá cả
+ Cạnh tranh vừa là môi trường vừa là động lực của kinh tế thị trường nhưng động lực
trực tiếp của các chủ thể sản xuất kinh doanh là lợi ích kinh tế
+ Nhà nước thực hiện chức năng quản lý nền kinh tế nhằm khắc phục những khuyết tật
của thị trường thông qua các công cụ quản lý nhà nước: pháp luật, chiến lược phát triển
kinh tế, quy hoạch, kế hoạch các chính sách kinh tế và các công cụ khác
+ Kinh tế thị trường là nền kinh tế mở.
b) Ưu thế và khuyết tật của nền kinh tế thị trường -
Ưu thế của nền kinh tế thị trường: (1) Nền kinh tế thị trường luôn tạo ra động lực
cho sự sáng tạo của chủ thể kinh tế. (2) Nền kinh tế thị trường luôn phát huy tốt nhất
tiềm năng của mọi chủ thể, các vùng, miền cũng như lợi thế quốc gia. (3) Nền kinh tế
thị trường luôn tạo ra các phương thức để thoả mãn tối đa nhu cầu của con người, từ đó
thúc đẩy sự tiến bộ, văn minh của xã hội. -
Khuyết tật của nền kinh tế thị trường: (1) Cạnh tranh tự do tất yếu dẫn đến các tổ
chức độc quyền; độc quyền dẫn đến cạnh tranh không hoàn hảo ( cạnh tranh độc quyền).
Điều này gây thiệt hại cho người tiêu dùng và xã hội. (2) Kinh tế thị trường tăng sự ô
nhiễm môi trường khai thác bừa bãi, kiệt quệ tài nguyên thiên nhiên; làm mất cân bằng
sinh thái. (3) Khủng hoảng thất nghiệp, chu kì kinh doanh đầy rẫy sự tăng giảm. (4)
Tăng sự phân hoá giàu nghèo trong xã hội.
c) Một số quy luật kinh tế chủ yếu của nền kinh tế thị trường
*) Quy luật giá trị: là quy luật kinh tế cơ bản của sản xuất hàng hoá ở đâu có sản xuất
hàng hoá ở đó có quy luật giá trị. Nội dung của quy luật giá trị là sản xuất và trao đổi lOMoAR cPSD| 61256830
hàng hoá phải dựa trên cơ sở hao phí lao động xã hội cần thiết. Cơ chế hoạt động quy
luật là quy luật giá trị, phát huy tác dụng qua sự vận động của giá cả. Quy luật giá trị có
3 tác động cơ bản: điều tiết sản xuất và lưu thông hàng hoá; kích thích cải tiến kĩ thuật,
tăng năng suất lao động; phân hoá những người sản xuất.
*) Quy luật cung- cầu: là quy luật phản ánh sự tác động qua lại giữa cung và cầu của
hàng hoá trên thị trường. Sự tác động giữa cung cầu thông qua giá cả luôn hướng tới sự cân bằng cung cầu
- Quy luật lưu thông tiền tệ: là quy luật xây dựng lượng tiền cần thiết trong lưu thông theo công thức: M= P.Q/V
*) Quy luật cạnh tranh: là quy luật kinh tế điều tiết một cách khách quan mối quan hệ
ganh đua kinh tế giữa các chủ thể trong sản xuất và trao đổi hàng hoá. Quy luật cạnh
tranh yêu cầu khi đã tham gia thị trường các chủ thể sản xuất kinh doanh, bên cạnh sự
hợp tác, luôn phải chấp nhận cạnh tranh -
Cạnh tranh nội bộ ngành là cạnh tranh giữa các chủ thể kinh tế trong cùng một
ngànhsản xuất kinh doanh nhằm thu lợi nhuận, giá trị thặng dư cao hơn
+ Biện pháp: là các chủ thể ra sức cải tiến kĩ thuật, tăng năng suất lao động
+ Kết quả: hình thành giá trị thị trường. -
Cạnh tranh giữa các ngành: là cạnh tranh giữa các doanh nghiệp ở các ngành sản
xuấtkinh doanh khác nhau nhằm tìm nơi ( ngành) đầu tư có lợi nhất ( ngành có tỉ suất lợi nhuận cao nhất)
+ Biện pháp: các chủ thể kinh tế tự do di chuyển các nguồn lực và các ngành khác nhau
+ Kết quả: hình thành giá cả sản xuất trung bình.
II. Thực trạng nền kinh tế thị trường Việt Nam 1. Thực trạng
Nền kinh tế thị trường Việt Nam trong thời gian gần đây ( năm 2020,2021,2022; quý
I/2023) phải đối diện với những thách thức lớn, biến động nhanh, khó lường với tính bất
ổn cao. Tiêu biểu là đại dịch Covid-19, tình hình lạm phát, cạnh tranh chính trị, xung
đột quân sự giữa Nga- Ukraine, thiên tai,… đã ảnh hưởng to lớn đến nền kinh tế thị lOMoAR cPSD| 61256830
trường Việt Nam. Dù bị ảnh hưởng không nhỏ nhưng Việt Nam đã cố gắng với quyết
tâm phục hồi và phát triển kinh tế, đề ra những chính sách giúp Việt Nam có thể kiểm
soát được những rủi ro và thách thức khôn lường. Có thể điểm qua tình hình thực tế
chính đã được báo cáo như:
- Tình hình tăng trưởng kinh tế Việt Nam trong một vài năm trở lại đây: Năm 2020, 2021
Việt Nam phải chịu ảnh hưởng của đại dịch Covid-19 khó lường làm tăng trưởng ở hầu
hết các ngành, lĩnh vực chậm lại. Dịch Covid-19 diễn biến phức tạp, ảnh hưởng nghiêm
trọng đến hoạt động thương mại và dịch vụ. Khu vực dịch vụ trong năm 2020 đạt mức
tăng thấp nhất của các năm 2011-2020. Tăng trưởng âm của một số ngành dịch vụ chiếm
tỷ trọng lớn đã làm giảm mức tăng chung của khu vực dịch vụ và toàn bộ nền kinh tế.
Từ năm 2022 nền kinh tế khôi phục trở lại, hoạt động thương mại và dịch vụ tiêu dùng
năm 2022 khôi phục mạnh mẽ khi dịch Covid-19 được kiểm soát. Sản xuất nông, lâm
nghiệp và thủy sản năm 2022 duy trì tăng trưởng ổn định, giữ vững vai trò trụ đỡ của
nền kinh tế. Đến quý I/2023, khu vực dịch vụ thể hiện rõ sự phục hồi nhờ hiệu quả của
các chính sách kích cầu tiêu dùng nội địa, chính sách mở cửa nền kinh tế trở lại, các
hoạt động xúc tiến, quảng bá du lịch Việt Nam tới các nước trên thế giới được đẩy mạnh. Cụ thể:
+ GDP năm 2020 tăng 2,91% trong đó khu vực nông, lâm nghiệp và thủy sản tăng
2,68%, đóng góp 13,5% vào tốc độ tăng tổng giá trị tăng thêm của toàn nền kinh tế; khu
vực công nghiệp và xây dựng tăng 3,98%, đóng góp 53%; khu vực dịch vụ tăng 2,34%, đóng góp 33,5%.
+ GDP năm 2021 tăng 2,58% so với năm trước do dịch Covid-19 ảnh hưởng nghiêm
trọng tới mọi lĩnh vực của nền kinh tế. Trong mức tăng chung của toàn nền kinh tế, khu
vực nông, lâm nghiệp và thủy sản tăng 2,9%, đóng góp 13,97% vào tốc độ tăng tổng giá
trị tăng thêm của toàn nền kinh tế; khu vực công nghiệp và xây dựng tăng 4,05%, đóng
góp 63,80%; khu vực dịch vụ tăng 1,22%, đóng góp 22,23%.
+ GDP năm 2022 tăng 8,02% so với năm trước. Trong mức tăng của tổng giá trị tăng
thêm toàn nền kinh tế, khu vực nông, lâm nghiệp và thủy sản tăng 3,36%, đóng góp lOMoAR cPSD| 61256830
5,11%; khu vực công nghiệp và xây dựng tăng 7,78%, đóng góp 38,24%; khu vực dịch
vụ tăng 9,99%, đóng góp 56,65%.
+ GDP quý I năm 2023 ước tính tăng 3,32% so với cùng kỳ năm trước, chỉ cao hơn tốc
độ tăng 3,21% của quý I năm 2020 trong giai đoạn 2011-2023 . Trong đó, khu vực nông,
lâm nghiệp và thủy sản tăng 2,52%, đóng góp 8,85% vào mức tăng trưởng chung; khu
vực công nghiệp và xây dựng giảm 0,4%, làm giảm 4,76%; khu vực dịch vụ tăng 6,79%, đóng góp 95,91%.
- Thu nhập bình quân đầu người của Việt Nam :
+ Thu nhập bình quân (TNBQ) 1 người 1 tháng chung cả nước năm 2020 theo giá hiện
hành đạt khoảng 4,2 triệu đồng, giảm khoảng 1% so với năm 2019. TNBQ 1 người 1
tháng năm 2020 ở khu vực thành thị đạt 5,6 triệu đồng, cao gấp gần 1,6 lần khu vực
nông thôn (3,5 triệu đồng). Năm 2020 tình hình kinh tế – xã hội nước ta diễn ra trong
bối cảnh dịch bệnh Covid-19 gặp không ít khó khăn, thách thức do vừa phải chống dịch
vừa phải đảm bảo phát triển kinh tế xã hội, thu nhập của dân cư có giảm so với năm
2019. Mức sống vẫn có sự cách biệt giữa thành thị và nông thôn, giữa nhóm dân cư giàu
và nghèo, giữa các vùng.
+ Năm 2021, thu nhập bình quân đầu người vẫn tiếp tục giảm so với năm 2020 do tác
động của đại dịch Covid-19: Thu nhập bình quân 1 người 1 tháng năm 2021 theo giá
hiện hành đạt 4.205 nghìn đồng, giảm 1,1% so với năm 2020. Thu nhập bình quân 1
người 1 tháng năm 2021 ở khu vực thành thị đạt 5.388 nghìn đồng, cao gấp gần 1,5 lần
khu vực nông thôn (3.486 nghìn đồng). Năm 2021, thu nhập bình quân của Việt Nam đã
tăng lên đạt khoảng 3.590 USD, xếp thứ 120 trên thế giới. Thu nhập bình quân (PPP)
của Việt Nam năm 2021 xếp thứ 6 trong khu vực Đông Nam Á và thứ 143 thế giới. So
với năm 2020 Việt Nam nhảy 2 bậc thứ hạng, từ thứ 145 năm 2020 nhảy lên 143 năm 2021.
+ Thu nhập bình quân 1 người 1 tháng năm 2022 theo giá hiện hành đạt 4,67 triệu đồng,
tăng 11,1 điểm % so với năm 2021. Năm 2022 là năm đánh dấu sự khôi phục về kinh tế
và tình hình đời sống dân cư. Sau 2 năm 2019 và 2020, thu nhập bình quân đầu người
giảm liên tiếp do tác động tiêu cực của đại dịch Covid-19, thu nhập bình quân 1 người
1 tháng năm 2022 quay trở lại xu hướng tăng như các năm từ 2019 trở về trước. Thu lOMoAR cPSD| 61256830
nhập tăng đều ở cả thành thị và nông thôn. Thu nhập bình quân 1 người 1 tháng năm
2022 ở khu vực thành thị đạt gần 5,95 triệu đồng (tăng 10,4 điểm % so với năm
2021) cao gấp 1,54 lần thu nhập bình quân ở khu vực nông thôn là 3,86 triệu đồng
(tăng 10,8 điểm % so với năm 2021). - Xuất- nhập khẩu:
+ Năm 2020 ghi nhận nỗ lực mạnh mẽ của hoạt động xuất, nhập khẩu trong bối cảnh
nền kinh tế trong nước cũng như thế giới chịu tác động tiêu cực của dịch Covid-19 và
sự đứt gãy thương mại toàn cầu. Tổng kim ngạch xuất nhập khẩu hàng hóa năm 2020
ước tính đạt 543,9 tỷ USD, tăng 5,1% so với năm trước, trong đó kim ngạch xuất khẩu
hàng hóa đạt 281,5 tỷ USD, tăng 6,5%; nhập khẩu hàng hóa đạt 262,4 tỷ USD, tăng 3,6% .
+ Năm 2021, tổng kim ngạch xuất, nhập khẩu hàng hóa đạt 668,5 tỷ USD, tăng 22,6%
so với năm trước, trong đó xuất khẩu tăng 19%; nhập khẩu tăng 26,5% .
+ Năm 2022, tổng kim ngạch xuất, nhập khẩu hàng hóa ước đạt 732,5 tỷ USD, tăng
9,5% so với năm trước, trong đó xuất khẩu tăng 10,6%; nhập khẩu tăng 8,4% .
+ Tổng kim ngạch xuất, nhập khẩu hàng hóa tháng Ba ước đạt 58,49 tỷ USD, tăng 18,6%
so với tháng trước và giảm 13% so với cùng kỳ năm trước. Tính chung quý I năm 2023,
tổng kim ngạch xuất, nhập khẩu hàng hóa ước đạt 154,27 tỷ USD, giảm 13,3% so với
cùng kỳ năm trước, trong đó xuất khẩu giảm 11,9%; nhập khẩu giảm 14,7%.
2. Đánh giá thực trạng
a) Những kết quả đạt được:
- Trong bối cảnh dịch Covid-19 diễn biến phức tạp, ảnh hưởng tiêu cực tới mọi lĩnhvực
kinh tế - xã hội, thành công lớn của Việt Nam là mức tăng trưởng năm 2020 thuộc
nhóm cao nhất thế giới.
- Kinh tế – xã hội năm 2022 của nước ta khởi sắc trên hầu hết các lĩnh vực, nhiềungành
đã khôi phục mạnh mẽ với mức tăng trưởng cao. Hoạt động sản xuất kinh doanh phục
hồi tích cực ở cả ba khu vực kinh tế. Giai đoạn 2011-2022 (%) lần đầu tiên quy mô lOMoAR cPSD| 61256830
GDP của Việt Nam đạt 409 tỷ USD, tăng 8,02% so với năm 2021 do nền kinh tế được
khôi phục trở lại và đạt mức tăng cao nhất trong giai đoạn 2011 - 2022.
- Tổng kim ngạch xuất nhập khẩu năm 2022, xuất siêu tới 11,2 tỷ USD- một con số rấtấn tượng.
- Kinh tế vĩ mô ổn định, lạm phát được kiểm soát ở mức phù hợp. Cung cầu hàng
hóathiết yếu được bảo đảm, hoạt động mua sắm hàng hóa, tiêu dùng và xuất khẩu tăng
cao. Khu vực dịch vụ được khôi phục và tăng trưởng mạnh mẽ với tốc độ tăng năm
2022 đạt 9,99%, cao nhất trong giai đoạn 2011-2022; đến quý I/2023 đóng góp 95,91%.
- Thu nhập bình quân đầu người của Việt Nam đang được cải thiện hơn, tăng cao hơn.
b) Những hạn chế và nguyên nhân: -
Nền kinh tế thị trường Việt Nam phải chịu ảnh hưởng của đại dịch Covid-19 làm
tấtcả các ngành đều bị trì hoãn khó phát triển. điều này gây khó khăn rất lớn cho sự phát
triển kinh tế Việt Nam. Đồng thời, sự gián đoạn chuỗi cung ứng toàn cầu, cuộc xung đột
Nga - Ukraine… đã đẩy giá năng lượng và hàng hóa cơ bản tăng cao, làm cho lạm phát
không ngừng leo thang gây ra sự suy yếu của thị trường lao động, xuất – nhập khẩu,
dịch vụ … có thể thấy rõ khi xuất – nhập khẩu quý I/2023 giảm mạnh. -
Bên cạnh đó, tỷ lệ thất nghiệp, thiếu việc làm ở mức cao; hạn hán, xâm nhập
mặn,mưa, lũ; các vấn đề địa chính trị khu vực, toàn cầu ảnh hưởng đến năng suất, sản
lượng cây trồng và đời sống nhân dân. -
Lạm phát tăng mạnh ảnh hưởng đến thu nhập thực tế của người tiêu dùng và
việcđồng USD tăng giá so với đa số các đồng tiền khác, nên buộc ngân hàng trung ương
các nước phải liên tục tăng lãi suất lên mức cao kỷ lục so với nhiều năm. Điều này khiến
kinh tế toàn cầu tăng trưởng chậm lại, thậm chí là suy thoái ( có thể thấy khi tốc độ tăng
trưởng quý I/2023 đã có xu hướng chậm đi so với 2022). -
Tại khu vực công nghiệp và xây dựng quý I/2023, trong bối cảnh khó khăn chung
củakinh tế thế giới, sản xuất một số ngành công nghiệp chủ lực suy giảm do chi phí sản
xuất đầu vào tăng cao, số lượng đơn đặt hàng giảm mạnh nên có thể thấy khu vực công
nghiệp thời gian này bị giảm. lOMoAR cPSD| 61256830 -
Trong bối cảnh kinh tế thế giới phục hồi chậm với chính sách thắt chặt tiền tệ ở
nhiềuquốc gia làm suy giảm nhu cầu tiêu dùng của các đối tác thương mại lớn đã ảnh
hưởng đến kim ngạch xuất nhập khẩu hàng hóa của Việt Nam ( Tổng kim ngạch xuất,
nhập khẩu hàng hóa tháng 3/2023 ước đạt 58,49 tỷ USD, tăng 18,6% so với tháng trước
và giảm 13% so với cùng kỳ năm trước). Môi trường quốc tế đang kém thuận lợi; một
số khu vực, quốc gia, đặc biệt là các đối tác kinh tế lớn của Việt Nam có thể rơi vào suy
thoái nhẹ, làm giảm lực cầu xuất khẩu, đầu tư, tiêu dùng và du lịch quốc tế. -
Những tồn tại, hạn chế, bất cập từ nội tại nền kinh tế về cơ cấu kinh tế, năng lực
sảnxuất trong nước, các thị trường tài chính, tiền tệ, bất động sản; quy mô nền kinh tế
nước ta còn khiêm tốn, khả năng cạnh tranh và sức chống chịu trước các cú sốc từ bên ngoài còn hạn chế.
III. Giải pháp chủ yếu nhằm phát triển nền kinh tế thị trường Việt Nam 1.
Tiếp tục ưu tiên giữ vững ổn định kinh tế vĩ mô, kiểm soát lạm phát, thúc đẩy
tăngtrưởng, bảo đảm các cân đối lớn của nền kinh tế thị trường. Chính phủ chỉ đạo các
bộ ngành theo dõi sát diễn biến, tình hình kinh tế, giá cả, lạm phát, thị trường thế giới,
trong nước, kịp thời dự báo, cảnh báo rủi ro để có đối sách phù hợp. Đồng thời, thực
hiện chính sách tiền tệ chắc chắn, chủ động, linh hoạt, hiệu quả, phối hợp hài hòa, hợp
lý, chặt chẽ với thực hiện chính sách tài khóa mở rộng có trọng tâm, trọng điểm và các
chính sách khác. Ổn định thị trường tiền tệ, nâng cao năng lực thích ứng, chống chịu,
bảo đảm sự ổn định của hệ thống tài chính, ngân hàng trong mọi tình huống. Chính phủ
chỉ đạo các bộ ngành chú trọng củng cố, tăng cường nền tảng kinh tế, nâng cao năng lực
nội tại trên cơ sở lành mạnh hoá, tập trung cao độ cho ổn định, phát triển an toàn, bền
vững các thị trường tiền tệ, trái phiếu doanh nghiệp, chứng khoán, bất động sản; bảo vệ
quyền, lợi ích hợp pháp, chính đáng của doanh nghiệp, nhà đầu tư, người dân. 2.
Tiếp tục tập trung phòng, chống, kiểm soát dịch bệnh. Các bộ ngành theo dõi
chặtchẽ tình hình dịch bệnh trên thế giới, rà soát, cập nhật, điều chỉnh các biện pháp
phòng, chống dịch Covid-19, ban hành phương án xử lý có hiệu quả, kịp thời các tình
huống, các biện pháp phòng, chống dịch trong tình hình mới; nỗ lực nghiên cứu, tự sản
xuất các loại thuốc phòng, chống dịch, giữ vững thành quả phòng, chống dịch. Chính
phủ cần yêu cầu các bộ, ngành, địa phương tuyệt đối không được chủ quan, lơ là, mất lOMoAR cPSD| 61256830
cảnh giác và thực hiện hiệu quả các biện pháp phòng, chống dịch; tiếp tục rà soát nhu
cầu vắc xin phòng COVID-19 cho các nhóm đối tượng; theo dõi chặt chẽ, chủ động có
phương án ứng phó, phòng, chống, kiểm soát hiệu quả dịch COVID-19, các loại bệnh
truyền nhiễm, các tình huống dịch bệnh có thể xảy ra; có phương án để ứng phó tình
hình thiên tai, dịch bệnh cây trồng, vật nuôi diễn biến phức tạp. 3.
Chú trọng phát triển nguồn nhân lực, nhất là nhân lực chất lượng cao gắn với
đẩymạnh nghiên cứu, phát triển và ứng dụng khoa học - công nghệ, thúc đẩy đổi mới
sáng tạo, khởi nghiệp. phát huy tối đa nhân tố con người, coi con người là trung tâm,
chủ thể, nguồn lực chủ yếu và mục tiêu của sự phát triển; chú trọng phát triển nguồn
nhân lực chất lượng cao gắn với đẩy mạnh nghiên cứu khoa học, phát triển và ứng dụng
công nghệ, thúc đẩy đổi mới sáng tạo, phong trào khởi nghiệp; lấy giá trị văn hoá, con
người Việt Nam là nền tảng bảo đảm sự phát triển bền vững. Mọi chính sách của Đảng,
Nhà nước phải hướng vào nâng cao đời sống vật chất, tinh thần và hạnh phúc của nhân
dân; nâng cao năng suất, chất lượng, hiệu quả và sức cạnh tranh của nền kinh tế, trong
đó đẩy nhanh việc thành lập các trung tâm khởi nghiệp sáng tạo quốc gia; tăng cường
liên kết các mạng lưới đổi mới sáng tạo trong và ngoài nước. 4.
Chủ động, kiên quyết, kiên trì đấu tranh bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền,
thốngnhất và toàn vẹn lãnh thổ; gắn kết chặt chẽ, hài hoà giữa phát triển kinh tế, văn
hoá, xã hội với củng cố quốc phòng, an ninh, bảo vệ môi trường; giữ vững an ninh chính
trị; bảo đảm trật tự, an toàn xã hội, cuộc sống bình yên, hạnh phúc của nhân dân. Phát
triển toàn diện và đồng bộ các lĩnh vực văn hóa, bảo đảm gắn kết hài hòa giữa phát triển
kinh tế với văn hóa, xã hội; nâng cao đời sống Nhân dân, bảo đảm an sinh xã hội, không
ngừng phát huy giá trị văn hóa, con người Việt Nam, phát triển văn hóa ngang tầm với
kinh tế, chính trị, xã hội. 5.
Cần đẩy mạnh cải thiện môi trường đầu tư, kinh doanh, cải cách thủ tục hành
chính,tăng cường phân cấp đi đôi với kiểm tra, giám sát, nâng cao trách nhiệm người
đứng đầu, siết chặt kỷ luật, kỷ cương công vụ, khắc phục tình trạng né tránh trách nhiệm
trong một bộ phận đội ngũ cán bộ, công chức. Sớm hoàn thiện các quy định pháp luật
bảo đảm tính thống nhất, đồng bộ chặt chẽ và an toàn cho đội ngũ cán bộ, công chức,
viên chức trong thực thi công vụ. Tiếp tục hoàn thiện hệ thống pháp luật, rà soát làm rõ,
báo cáo Quốc hội về những vướng mắc, bất cập, chồng chéo của các luật liên quan hoạt lOMoAR cPSD| 61256830
động đầu tư, sản xuất kinh doanh và kịp thời đề xuất phương án sửa đổi, bổ sung hoặc
ban hành văn bản mới. Tiếp tục giải quyết dứt điểm vấn đề kiểm định xe cơ giới; xử lý
những bất cập trong việc tư vấn đầu tư trái phiếu doanh nghiệp, môi giới, tư vấn phát
hành, hỗ trợ, cam kết mua lại trái phiếu nhằm tháo gỡ khó khăn, vướng mắc, tạo điều
kiện thuận lợi, thông suốt cho hoạt động kinh doanh, sản xuất của doanh nghiệp, người dân. 6.
Đẩy mạnh thực hiện hiệu quả cơ cấu lại nền kinh tế gắn với đổi mới mô hình
tăngtrưởng, nâng cao năng suất, chất lượng, hiệu quả, sức cạnh tranh, tính độc lập, tự
chủ, khả năng thích ứng và sức chống chịu của nền kinh tế. Cần có giải pháp mạnh mẽ,
quyết liệt, sớm khắc phục các tồn tại, hạn chế để đẩy nhanh tiến độ các dự án quan trọng
quốc gia, chương trình, dự án phát triển hạ tầng trọng điểm, tạo động lực phát triển kinh
tế - xã hội. Bên cạnh đó, cần khẩn trương thực hiện cơ cấu lại doanh nghiệp nhà nước
giai đoạn 2021 - 2025 theo Đề án được cấp có thẩm quyền phê duyệt, bảo đảm công
khai, minh bạch. Tập trung tiến hành rà soát, đánh giá toàn diện thực trạng và phân loại
doanh nghiệp, dự án, công trình đầu tư và vốn, tài sản nhà nước để có giải pháp cơ cấu lại, xử lý phù hợp. 7.
Tập trung hoàn thiện hệ thống kết cấu hạ tầng nhất là hạ tầng giao thông; đẩy
nhanhtiến độ một số công trình hạ tầng giao thông trọng điểm, quan trọng quốc gia, có
tính liên vùng và hạ tầng đô thị lớn, nhất là dự án cao tốc Bắc-Nam phía đông, vành đai
4 Thành phố Hà Nội, vành đai 3 Thành phố Hồ Chí Minh, các dự án quan trọng, động
lực về sân bay, đường sắt, đường thủy... các dự án hạ tầng chuyển đổi số, năng lượng,
thương mại, văn hóa, xã hội, nông nghiệp, nông thôn, thích ứng với biến đổi khí hậu...
để tăng cường kết nối, giải tỏa các điểm nghẽn, giảm chi phí vận tải, từng bước đồng bộ
và hiện đại hóa hệ thống cơ sở hạ tầng, tạo dựng các hành lang kinh tế, không gian phát triển mới.
TÀI LIỆU THAM KHẢO:
Giáo trình Kinh tế chính trị Mác- Lênin- NXB chính trị quốc gia sự thật
Bài giảng Kinh tế chính trị Mác- Lênin
Tổng cục thống kê Việt Nam: https://www.gso.gov.vn/ lOMoAR cPSD| 61256830
Trang Thông tin điện tử tổng hợp: https://cafef.vn/
Tạp chí điện tử tài chính và cuộc sống: https://fili.vn/
