lOMoARcPSD| 61256830
Kinh tế chính trị
1. Nghiên cứu 2 điều kiện ra đời tồn tại sản xuất hàng hóa? 2 điều kiện đó Việt Nam hiên
nay như thế nào?
Điều kiện ra đời và tồn tại của sản xuất hàng hóa
Sản xuất hàng hoá chỉ ra đời, khi có đủ hai điều kiện sau đây:
a) Phân công lao động xã hội
Phân công lao động xã hội là sự phân chia lao động trong hội vào các ngành, nghề khác nhau
trong đó mỗi người chỉ sản xuất ra một hoặc một vài sản phẩm nhất định.
Phân công lao động hội tạo ra sự chuyên môn hoá lao động, do đó dẫn đến chuyên môn hoá sản
xuất thành những ngành nghề khác nhau khiến cho hội ngày càng nhiều ngành nghề Phân
công lao động sở, tiền đề của sản xuất hàng hóa. Do phân công lao động hội nên mỗi
người sản xuất chỉ tạo ra một hoặc một vài loại sản phẩm nhất định. Song, nhu cầu tiêu dùng trên
thực tế lại cần đến rất nhiều loại sản phẩm khác nhau. Để thomãn nhu cầu đòi hỏi họ phải có mối
liên hệ phụ thuộc vào nhau, trao đổi sản phẩm cho nhau.
Tuy nhiên, phân công lao động hội chỉ mới điều kiện cần nhưng chưa đủ. C. Mác đã chứng
minh rằng, trong công thị tộc ấn Độ thời cổ, đã sự phân công lao động khá chi tiết, nhưng
sản phẩm lao động chưa trở thành hàng hoá. Bởi vì tư liệu sản xuất là của chung nên sản phẩm và
từng nhóm sản xuất chuyên môn hoá cũng của chung; công phân phối trực tiếp cho từng
thành viên để thoả mãn nhu cầu. C. Mác viết: "Chỉ có sản phẩm của những lao động tư nhân độc
lập không phụ thuộc vào nhau mới đối diện với nhau như những hàng hoá" Vậy muốn sản
xuất hàng hoá ra đời và tồn tại phải có điều kiện thứ hai nữa.
b) Sự tách biệt tương đối về mặt kinh tế của những người sản xuất
Sự tách biệt tương đối về mặt kinh tế của những người sản xuất làm cho những người sản xuất có
quyền độc lập , tự chủ trong việc sản xuất kinh doanh và phân phối sản phẩm. Khi đó sự trao đổi
sản phẩm giữa người sản xuất sẽ được thực hiện dưới hình thức trao đổi mua bán.
Sự tách biệt này là do có sở hữu nhân về tư liệu sản xuất chế độ tư hữu về liệu sản xuất.
Cá nhân quyền sở hữu liệu sản xuất nên quyền sở hữu sản phẩm lao động. Do đó người
khác muốn sản phẩm ấy phải thông qua sự mua- bán hàng hóa, tức là phải trao đổi dưới những
hình thái hàng hóa.
Ở Việt Nam, sự tách biệt này còn do sự tách biệt giữa quyền sử dụng quyền sở hữu trong
hình thức sở hữu nhà nước. Trong xã hội có sự đa dạng hóa sở hữu, thừa nhận sở hữu tư nhân. Tuy
nhiên nhà nước nắm giữ quyền sở hữu còn trao quyền sử dụng cho doanh nghiệp để doanh nghiệp
được độc lập sản xuất phân phối sản phẩm. Từ đó cũng hình thành nên sự trao đổi mua bán
hàng hóa theo nguyên tắc thuận mua vừa bán.
Đây là điều kiện đủ cho sự ra đời của sản xuất hàng hóa. Vậy, sản xuất hàng hoá chỉ ra đời khi có
đồng thời hai điều kiện nói trên, nếu thiếu một trong hai điều kiện ấy thì không có sản xuất hàng
hoá và sản phẩm lao động không mang hình thái hàng hoá.
lOMoARcPSD| 61256830
Hai điều kiện này ở Việt Nam hiện nay:
a) Phân công lao động
- Khi sản xuất hàng hoá ra đời, phát triển đến mức cao điển hình hội bản thì đòi
hỏi sự phân công lao động sâu sắc đđi vào chuyên môn hoá cao, đáp ng nhu cầu, yêu
cầu của nền kinh tế thị trường, từ trước tới nay trong xã hội đã xuất hiện ba lần phân công
lao đọng xã họi lớn :
- Chăn nuôi tách ra khỏi trồng trọt
- Xuất hiên nhiều ngành thủ công nghiệp
- Xuất hiện thương nghiệp
- ở nước ta muốn phát triển kinh tế hàng hoá phải phân công lại lao động xã hội cả trên mối
quan hệ kinh tế quốc tế và trong nước.
- Đối với trong nước : tất yếu phải tiến hành phân ng lao động hội trên phạm vi cả nước
cũng như từng ngành, từng sở. Sự phân công lao động hội trong quá trình chuyển
sang cơ chế thị trường cần chú trọng các quy luật:
- Tỷ lệ và số tuyệt đối của lao động trong nông nghiệp giảm xuống, tỷ lệ và số tuyệt đối của
lao động trong công nghiệp tăng lên .
- Tỷ lệ lao động trí óc ngày càng tăng lên và chiếm phần lớn trong tổng lao động xã hội .
- Tốc độ tăng lao động trong các ngành sản xuất phi vật chất ( dịch vụ, thương nghiệp ....)
tăng nhanh hơn tốc độ tăng lao động trong các ngành sản xuất vật chất .
b) Sự tách biệt tương đối về mặt kinh tế của những người sản xuất
+ Thực hiện đa dạng hóa các hình thức sở hữu, thừa nhận sở hữu tư nhân
+ Tách quyền sử dụng ra khỏi quyền sở hữu đối với sở hữu Nhà Nước
2. Phân biệt giá trị hội và giá trị biệt của hàng hóa, giá trị hội của hàng hóa được
hình thành như thế nào? Sự khác nhau giữa quá trình hình thành giá trị hội của hàng a
trong lĩnh vực sản xuất công nghiệp với quá trình hình thành giá trị hội của hàng hóa
trong lĩnh vực sản xuất nông nghiệp (phần này cô đã nói kỹ trong mục Địa tô TBCN)
- Giá trị xã hội và giá trị cá biệt của hàng hoá:
dụ: cùng sản xuất giày, nhà sản xuất A mất 3 giờ để sản xuất 1 đôi, nếu chi phí bằng tiền
300.000đ; nhà sản xuất B mất 4 giờ đsản xuất 1 đôi, nếu chi phí bằng tiền 400.000đ;
nhà sản xuất C mất tới 5 giờ để sản xuất 1 đôi, nếu chi phí bằng tiền là 500.000đ
+ Giá trị biệt biểu hiện hao phí lao động biệt của nhà sản xuất. Theo dụ trên, giá
trị cá biệt của nhà sản xuất A là 3 giờ khi dùng thước đo là thời gian và 300.000đ khi dùng
thước đo là tiền tệ; tương tự là giá trị các biệt của B và C.
lOMoARcPSD| 61256830
+ Giá trị xã hội biểu hiện mức hao phí lao động trung bình của xã hội. Theo ví dụ trên, giá
trị xã hội là 4 giờ, nó là trung bình cộng của thời gian lao động sản xuất ra 1 sản phẩm [(3
giờ + 4 giờ _ 5 giờ) : 3 = 4 giờ]; tương tự, tính theo tiền thì giá trị xã hội là 400.000đ.
- Giá trị xã hội của hàng hoá hình thành:
Giá trị xã hội của hàng hóa là giá trị được xác định bởi thời gian lao động xã hội cần thiết
để sản xuất ra hàng hóa đó. Đây thời gian trung bình một người lao động với trình
độ thành thạo trung bình, cường độ lao động trung bình, trong điều kiện sản xuất bình
thường cần để sản xuất ra một đơn vị hàng hóa.
Công thức tính giá trị xã hội của hàng hóa: W = c + v + m
Trong đó:
+ W: Giá trị xã hội của hàng hóa.
+ c: Chi phí tư bản bất biến (chi phí nguyên liệu, máy móc, thiết bị).
+ v: Chi phí tư bản khả biến (chi phí lao động, tiền công).
+ m: Giá trị thặng dư (giá trị mới do lao động tạo ra ngoài chi phí lao động cần thiết).
- Sự khác nhau giữa quá trình hình thành giá trị xã hội của hàng hóa trong lĩnh vực sản xuất
công nghiệp với quá trình hình thành giá trị hội của hàng hóa trong nh vực sản xuất
nông nghiệp.
Sự khác nhau trong hình thành giá trị xã hội giữa công nghiệp và nông nghiệp:
1. Trong lĩnh vực sản xuất công nghiệp:
- Giá trị xã hội được xác định bởi điều kiện sản xuất trung bình (những doanh nghiệp chiếm tỷ
trọng sản lượng lớn)
- Các doanh nghiệp có thể chủ động thay đổi và cải tiến điều kiện sản xuất thông qua:
+ Đầu tư máy móc thiết bị hiện đại
+ Áp dụng công nghệ mới
+ Cải tiến quy trình sản xuất
+ Nâng cao tay nghề người lao động
- Không phụ thuộc nhiều vào điều kiện tự nhiên
- Có thể mở rộng quy mô sản xuất linh hoạt theo nhu cầu thị trường
2. Trong lĩnh vực sản xuất nông nghiệp: khác với các chủ thể kinh doanh khác, nhà tư bản kinh
doanh trên lĩnh vực nông nghiệp phải trả một lượng tiền cho địa chủ vì đã thuê đất của họ. Để
tiền trả cho địa chủ, ngoài số lợi nhuận bình quân thu được ương tự như kinh doanh trên
lOMoARcPSD| 61256830
các lĩnh vực khác, nhà bản kinh doanh trên nh vực nông nghiệp còn thu thêm được một
phần giá trị thặng dư dôi ra ngoài lợi nhuận bình quân, tức lợi nhuận siêu ngạch, lợi nhuận
siêu ngạch này phải trả cho địa chủ dưới dạng địa tô.
- Giá trị xã hội được xác định bởi điều kiện sản xuất trên những ruộng đất xấu nhất nhưng vẫn
cần thiết để đáp ứng nhu cầu xã hội
- Điều kiện sản xuất bị chi phối mạnh mẽ bởi các yếu tố tự nhiên:
+ Chất lượng đất đai
+ Điều kiện thời tiết, khí hậu
+ Vị trí địa lý
- Khó có thể thay đổi hoặc cải thiện một số điều kiện sản xuất cơ bản
- Việc mở rộng sản xuất bị giới hạn bởi quỹ đất nông nghiệp
- Thời gian sản xuất phụ thuộc vào quy luật sinh trưởng tự nhiên của cây trồng, vật nuôi
Sự khác biệt cơ bản này dẫn đến:
1. Trong công nghiệp: Các doanh nghiệp điều kiện sản xuất kém hơn mức trung bình sẽ
bịthua lỗ và bị đào thải.
2. Trong nông nghiệp: Những người sản xuất trên ruộng đất tốt vẫn thu được lợi nhuận cao
hơn (tạo ra địa chênh lệch) dù giá trị hội được xác định theo điều kiện sản xuất trên
ruộng đất xấu.
3. 2 Phương pháp sản xuất giá trị thặng dư để chỉ ra điểm khác nhau giữa 2 phương pháp sản
xuất giá trị thặng dư? Vì sao sản xuất giá trị thặng tương đối phương pháp bóc lột
tinh vi?
2 Phương pháp sản xuất giá trị thặng dư:
*Phương pháp sản xuất giá trị thặng dư tuyệt đối
Khái niệm: Là phương pháp kéo dài ngày lao động một cách tuyệt đối vượt quá thời gian lao
động cần thiết trong điều kiện năng suất lao động không đổi, thời gian lao động cần thiết
không đổi.
Ví dụ; Ngày lao động là 8 giờ,
+ Thời gian lao động cần thiết là 4 giờ,
+ Thời gian lao động thặng dư 4 giờ
Ta có tỷ suất giá trị thặng dư
4
m' = 100% = 100%
4
Nếu ngày lao động được kéo dài ra 12 giờ, thời gian lao động cần thiết không đổi, ngày
lao động sẽ đươch chia như sau:
+ Thời gian lao động cần thiết: 4 giờ
lOMoARcPSD| 61256830
+ Thời gian lao động thặng dư: 8 giờ
Tỷ suất giá trị thặng dư: 200% Trong
phương pháp này
Những nhân tố cố định
+ Năng suất lao động không đổi
+ Thời gian lao động cần thiết không đổi
Những nhân tố biến đổi
+ Ngày lao động được kéo dài ra (cường độ lao động tăng lên)
+ Thời gian lao động thặng dư tăng lên
+ Tỷ suất giá trị thặng dư tăng lên
+ Làm kiệt quệ sức lao động của công nhân
Phương pháp này được áp dụng trong giai đoạn đầu của chủ nghĩa bản, sản xuất chủ yếu
bằng công cụ thủ công, năng suất lao động xã hội thấp.
Tuy nhiên, phương pháp này gặp phải giới hạn
+ Thời gian lao động cần thiết ≤ Ngày lao động ≤ 24 giờ.
+ Phong trào đấu tranh của công nhân.
Vậy, giá trị thặng tương đối là giá trị thặng dư thu được do kéo dài ngày lao động một cách
tuyệt đối vượt quá thời gian lao động cần thiết.
Khi sản xuất TBCN phát triển, năng suất lao động hội tăng, các nhà bản chuyển sang
phương thức bóc lột dựa trên sở tăng năng suất lao động. Đó phương pháp sản xuất giá
trị thặng dư tương đối.
* Phương pháp sản xuất giá trị thặng dư tương đối
Khái niệm: Là phương pháp rút ngắn thời gian lao động cần thiết trong điều kiện độ dài ngày
lao động không đổi, nhờ đó kéo dài một cách tương ứng thời gian lao động thặng dư.
Ví dụ: Ngày lao động 8 giờ
+ Thời gian lao động cần thiết: 4 giờ
+ Thời gian lao động thặng dư: 4 giờ
Tỷ suất giá trị thặng dư m'= 100%
Nêu năng suất lao động tăng lên gấp đôi
Ngày lao động 8 giờ
+ Thời gian lao động cần thiết: 2 giờ
+ Thời gian lao động thặng dư: 6 giờ
Tỷ suất giá trị thặng m'= 300% Trong
phương pháp này
Những nhân tố cố định
+ Ngày lao động không đổi
+ Cường độ lao động không đổi
Nhân tố biến đổi
+Năng suất lao động tăng lên
lOMoARcPSD| 61256830
+ Thời gian lao động cần thiết giảm xuống +Thời
gian lao động thặng dư tăng lên.
+ Tỷ suất giá trị thặng dư tăng lên.
+ Sức lao động được giảm nhẹ
Vậy, Giá trị thặng dư tương đối là giá trị thặng dư thu được do rút ngắn thời gian lao động
cần thiết trong điều kiện độ dài ngày lao động không đổi.
- Điểm khác nhau giữa 2 phương pháp sản xuất giá trị thặng dư 1. Giống nhau:
- Nhằm mục đích tăng tỷ suất và khối lượng giá trị thặng dư.
- Tăng thời gian lao động thặng dư của công nhân, không chỉ đủ nuôi sống mình mà còntạo
ra phần thặng dư.
- Nhà tư bản sử dụng để bóc lột công nhân nhằm tạo giá trị thặng dư.
- Dựa trên cơ sở thời gian lao động thặng dư được kéo dài
- Đòi hỏi độ dài ngày lao động nhất định, cường độ lao động và năng suất lao động nhấtđịnh.
- Sản xuất giá trị thặng dư tương đối là phương pháp bóc lột tinh vi vì:
Thời gian lao động tất yếu có quan hệ với giá trị sức lao động. Muốn rút ngắn thời gian lao động
tất yếu phải giảm giá trị sức lao động. Để hạ thấp được giá trị sức lao động thì phải giảm được giá
trị các tư liệu sinh hoạt và dịch vụ cần thiết để tái sản xuất sức lao động, do đó phải tăng năng suất
lao động trong các ngành sản xuất ra tư liệu sinh hoạt.
Lịch sử phát triển của lực lượng sản xuất và của năng suất lao động xã hội dưới chủ nghĩa tư bản
đã trải qua ba giai đoạn: hợp tác giản đơn, công trường thủ công đại công nghiệp khí, đó
cũng là quá trình nâng cao trình độ bóc lột giá trị thặng dư tương đối.
4. bản bất biến? Tư bản khả biến? Ý nghĩa của việc phân chia tư bản thành tư bản bất biến
và tư bản khả biến?
lOMoARcPSD| 61256830
- Tư bản bất biến (c)
+ Khái niệm: Bộ phận tư bản biến thành liệu sản xuất, khi tham gia vào quá trình sản
xuất giá trị của nó được bảo tồn và chuyển vào sản phẩm, tức là không có sự biến đổi về
lượng gọi là tư bản bất biến.
+ Tư bản bất biến bao gồm: Máy móc và nguyên vật liệu
+ Ví dụ: tiền bông 20$, khấu hao máy móc 4$. Tổng tư bản bất biến là 24$
+ Như vậy; bản bất biến đóng vai trò điều kiện cần thiết trong quá trình sản xuất giá
trị thặng dư (C.Mác ví nó như chiếc bình cổ cong trong phản ứng hóa học, nó không tham
gia vào phản ứng nhưng nếu thiếu nó thì phản ứng không thể thức hiện được).
- Tư bản khả biến (v)
+ Khái niệm: Bộ phận tư bản biến thành sức lao động không tái hiện ra nhưng thông qua
lao động trừu tượng của người công nhân làm thuê mà tăng lên tức là sự biến đổi về lượng gọi
là tư bản khả biến.
+ Tư bản khả đóng vai trò quyết định sản xuất ra giá trị thặng dư, điều kiện không thể
thiếu để sản xuất giá trị thặng dư.
- Ý nghĩa của việc phân chia tư bản thành tư bản bất biến và tư bản khả biến:
C.Mác phân chia bản thành bản bất biến bản khả biến đã vạch bản chất bóc lột
của CNTB. Chỉ có lao động làm thuê của công nhân mới tạo ra giá trị thặng dư cho các nhà tư
bản.
5. Đặc trưng của cách mạng công nghiệp lần thứ 3 gì? Tác động của CM công nghiệp lần
thứ 3 đến sự phát triển của LLSX ở Việt Nam như thế nào?
- Đặc trưng của cách mạng công nghiệp lần thứ 3 là gì:
Đặc trưng cơ bản của cuộc cách mạng này sự xuất hiện công nghệ thông tin, tự động hoá
sản xuất. Cách mạng công nghiệp lần thứ 3 diễn ra khi các tiến bộ về hạ tầng điện tử,
máy tính số hoá được xúc tác bởi sự phát triển của chất bán dẫn, siêu máy tính,
máy tính cá nhân và internet. Cuộc cách mạng lần thứ 3 đã đưa tới những tiến bộ kĩ thuật,
công nghệ nổi bật trong giai đoạn này là: hệ thống mạng, máy tính cá nhân, thiết bị điện tử
sử dụng công nghệ số và robot công nghiệp.
- Tác động của CM công nghiệp lần thứ 3 đến sự phát triển của LLSX ở Việt Nam:
Cuộc Cách mạng Công nghiệp lần thứ 3 đã có tác động mạnh mẽ đến sự phát triển của lực lượng
sản xuất (LLSX) ở Việt Nam, đặc biệt trong việc hiện đại hóa công nghiệp. Các công nghệ như tự
động hóa, máy tính, Internet đã nâng cao năng suất lao động, cải thiện hiệu quả sản xuất,
thúc đẩy sự xuất hiện của các ngành nghề mới, như công nghệ thông tin, viễn thông, sản xuất
điện tử. Tuy nhiên, Việt Nam vẫn đối mặt với những hạn chế về trình độ công nghệ, sự thiếu hụt
nguồn nhân lực chất lượng cao, và đầu tư chưa đủ mạnh để phát triển hạ tầng kỹ thuật, khiến cho
khoảng cách công nghvới các nước tiên tiến ngày càng rệt. ([Viện Hàn lâm KHXH Việt
Nam](https://vass.gov.vn))
lOMoARcPSD| 61256830
6. Cách mạng công nghiệp lần thứ 4 (4.0) là gì? Thách thức đặt ra đối với thương mại truyền
thống trước sự phát triển của thương mại điện tử hiện nay?
- Cách mạng công nghiệp lần thứ được gọi Công nghiệp 4.0. Công nghiệp 4.0 tập
trung vào công nghệ kỹ thuật số từ những thập kỷ gần đây lên một cấp độ hoàn toàn mới
với sự trợ giúp của kết nối thông qua Intern et vạn vật, truy cập dữ liệu thời gian thực và
giới thiệu các hthống vật không gian mạng. Công nghiệp 4.0 cung cấp một cách tiếp
cận liên kết và toàn diện hơn cho sản xuất. kết nối vật lý với kỹ thuật số cho phép
cộng tác truy cập tốt hơn giữa các bộ phận, đối tác, nhà cung cấp, sản phẩm con
người. Công nghiệp 4.0 trao quyền cho các chủ doanh nghiệp kiểm soát hiểu hơn mọi
khía cạnh hoạt động của họ và cho phép họ tận dụng dữ liệu tức thời để tăng năng suất, cải
thiện quy trình và thúc đẩy tăng trưởng.
- Thách thức đặt ra đối với thương mại truyền thống trước sự phát triển của thương mại điện
tử hiện nay
Chi phoạt động cao: Duy trì cửa hàng vật cần chi phí lớn như thuê mặt bằng, trả
lương nhân viên, vận hành. Trong khi đó, thương mại điện tử giúp tiết kiệm đáng kể nhờ
việc giảm thiểu nhu cầu về không gian vật lý.
Hạn chế về phạm vi tiếp cận: Các cửa hàng truyền thống bị giới hạn bởi địa lý, chỉ phục
vụ trong phạm vi khu vực, trong khi thương mại điện tử tiếp cận khách hàng trên toàn cầu
24/7.
Thay đổi hành vi tiêu dùng: Khách hàng ngày càng ưa chuộng sự tiện lợi của việc mua
sắm trực tuyến, bao gồm giao hàng tận nơi, tùy chọn thanh toán đa dạng, và chính sách đổi trả
dễ dàng.
Khả năng cạnh tranh giá cả: Do không gánh nhiều chi phí trung gian, thương mại điện
tử thường có lợi thế về giá cả, tạo sức ép lớn đối với các mô hình bán lẻ truyền thống.
Hạn chế công nghệ: Nhiều doanh nghiệp truyền thống chưa sẵn sàng số hóa, dẫn đến khó
khăn trong việc cạnh tranh với các đối thủ sử dụng công nghệ hiện đại để tối ưu hóa vận hành.
Chậm đổi mới hình kinh doanh: Một số doanh nghiệp truyền thống khó thích nghi
với xu hướng tích hợp kênh bán hàng trực tuyến và ngoại tuyến.
7. Vì sao Việt Nam phải CNH, HĐH gắn với phát triển Kinh tế tri thức? Người lao động phái
làm gì để đám ứng yêu cầu của nền kinh tế tri thức?
* Vì sao CNH, HĐH gắn liền với phát triển Kinh tế tri thức:
CNH là một giai đoạn tất yếu của mỗi quốc gia. Đối với đất nước ta từ một nước nông nghiệp lạc
hậu đi lên chủ nghĩa hội (CNXH) bỏ qua chế độ bản chủ nghĩa nên thiếu đi sở vật chất
lOMoARcPSD| 61256830
kỹ thuật hiện đại. Khi chuyển sang thời kỳ đổi mới với sự phát triển của khoa học công nghệ đặc
biệt cách mạng thông tin, tri thức đã cho ra đời các ngành công nghệ cao. Để bước tới công
nghiệp hóa hiện đại hóa Đảng và Nhà nước luôn nhấn mạnh và chú trọng nền kinh tế tri thức.
Nền kinh tế tri thức là gì?
Nền kinh tế tri thức là nền kinh tế trong đó có sự sản sinh, phổ cập, sử dụng tri thức để tạo
ra của cải nâng cao chất lượng cuộc sống, giữ vai trò quyết định đối với sự phát triển kinh tế. Nền
kinh tế tri thức kinh tế phát triển dựa vào sức mạnh của tri thức với nguồn lực chuyên môn
cao để tạo ra nhiều của cải vật chất, nâng cao đời sống người dân, dần hướng tới toàn cầu hóa nền
kinh tế.
Lý do công nghiệp hóa, hiện đại hóa gắn liền với kinh tế tri thức
Tri thức là lực lượng sản xuất trực tiếp: tri thức đóng vai trò quan trọng đòi hỏi lực lượng
lao động phải tay nghề, kỹ thuật, chất xám thể áp dụng được vào sản xuất, sử dụng công
nghệ cao, phát triển nền kinh tế.
Nền kinh tế tri thức dựa vào khoa học công nghệ: cần có những nghiên cứu, sáng tạo, để
tạo ra những công nghệ mới trong khi kinh tế công nghiệp chỉ là tối ưu và hoàn thiện những công
nghệ có sẵn.
Nền kinh tế tri thức lao động trí tuệ tạo ra được các sản phẩm có giá trị cao chỉ cần trong
thời gian ngắn.
Kinh tế tri thức có sự sáng tạo được coi trọng, có năng lực đổi mới, nguồn lực về trí tuệ là
yếu tố then chốt giúp nâng cao sự cạnh tranh, phát triển và thịnh vượng của một nước.
Nền kinh tế tri thức là nền kinh tế toàn cầu: Các quốc gia hiện nay luôn cố gắng tạo ra các
côngdân toàn cầu, có thể làm việc ở bất cứ nước nào có cùng trình độ tiến tới toàn cầu hóa.
* Người lao động phái làm gì để đáp ứng yêu cầu của nền kinh tế tri thức
Để đáp ứng yêu cầu của nền kinh tế tri thức, người lao động cần tập trung vào các yếu tố sau:
1. Nâng cao trình độ chuyên môn kỹ năng: Đào tạo liên tục cập nhật kiến thức, đặc
biệttrong các lĩnh vực công nghệ thông tin, quản trị dữ liệu, trí tuệ nhân tạo (AI), và quản trị
đổi mới.
2. Tích lũy kỹ năng mềm: Tăng cường các kỹ năng ngiao tiếp, làm việc nhóm, tư duy phản
biện, giải quyết vấn đề, và khả năng thích nghi với môi trường thay đổi.
3. Khả năng sử dụng công nghệ: Làm quen và thành thạo các công cụ công nghệ, phần mềm
quản lý hệ thống kỹ thuật số, đây là yếu tố quyết định hiệu quả làm việc trong nền kinh
tế tri thức.
lOMoARcPSD| 61256830
4. Học tập suốt đời: Duy trì tinh thần học hỏi liên tục thông qua các khóa học ngắn hạn, chứng
chỉ nghề nghiệp hoặc các chương trình đào tạo chuyên biệt nhằm nâng cấp bản thân phù hợp
với nhu cầu mới của thị trường lao động.
5. Tư duy sáng tạo và đổi mới: Khuyến khích bản thân tìm kiếm các phương pháp, quy trình,
hoặc ý tưởng mới để nâng cao hiệu quả và giá trị lao động.
6. Phát triển kỹ năng ngoại ngữ: Ngoại ngữ, đặc biệt là tiếng Anh, giúp mở rộng cơ hội việc
làm và hợp tác quốc tế trong bối cảnh toàn cầu hóa.
7. Khả năng tự quản linh hoạt: Rèn luyện khả năng tự kỷ luật, sắp xếp công việc và
thờigian hiệu quả, đồng thời sẵn sàng thích nghi với môi trường làm việc mới như làm việc từ
xa.
8. Kết nối mạng lưới nghề nghiệp: Xây dựng mối quan hệ trong lĩnh vực nghề nghiệp để học
hỏi kinh nghiệm, tìm kiếm cơ hội hợp tác và phát triển.
Những kỹ năng này giúp người lao động không chỉ thích nghi còn phát triển bền vững
trong bối cảnh nền kinh tế tri thức, nơi tri thức và sáng tạo là động lực chính.
Là trí thức thì mỗi chúng em cần phải có trách nhiệm
*Là trí thức thì mỗi chúng em cần phải trách nhiệm hơn để góp phần (kết hợp công
nghiệp hóa, hiện đại hóa với phát triển kinh tế tri thức) thông qua những hành động
việc làm cụ thể sau:
+ Ra sức học tập và rèn luyện kiến thức thông qua sách vở, thầy cô, bạn bè và nhà trường.
+ Bên cạnh đó, tăng cường những kỹ năng mềm trong các hoạt động hội, hoạt động
thiện nguyện (giúp đỡ trẻ em nghèo, người già neo đơn, v.v.).
+ Thích ứng và thay đổi theo những nh huống của thời kỳ mới, và đưa ra những giải pháp
thích hợp để giải quyết.
+ Nhanh chóng tiếp cận những nền tảng khoa học kỹ thuật công nghệ tiên tiến trên thế
giới để vận dụng vào công việc, học tập, đời sống.
+ Tiếp thu có chọn lọc những điều tốt, những tiên tiến, văn minh, hiện đại và hơn hết phải
giữ gìn, bảo tồn những giá trị tinh hoa bền vững của dân tộc mình.
Sản xuất tự cung tự cấp, sản xuất ra sản phẩm để Tiêu
dùng trực tiếp cho người sản xuất.
Giải thích: Còn sản xuất tự cung tự cấp với mục đích sản xuất ra những giá trị sử dụng để thỏa
mãn nhu cầu tiêu dùng của chính người sản xuất, nên không tạo ra động lực thúc đẩy sản xuất phát
triển.
Vì sao vàng có thể đóng vai trò tiền
lOMoARcPSD| 61256830
Về tự nhiên: Vàng là kim loại thuần nhất về chất, dễ dát mỏng, dễ chia nhỏ, không
bị hỏng, dẫn điện, dẫn nhiệt tốt, không bị oxy hóa... - Về hội: Vàng hàng
hóa có giá trị và giá trị sử dụng
+ GTSD: Dùng làm đồ trang sức, trang trí, răng, dùng trong các thiết bị thông minh...
+ GT: 1 lượng vàng nhỏ nhưng chứa đựng một giá trị lớn.
Ưu thế của sản xuất hàng hóa
- Khai thác lợi thế từ phân công lao động
Sản xuất hàng hóa dựa trên phân công lao động xã hội và chuyên môn a, khai thác tối đa các lợi
thế tự nhiên, xã hội, kỹ thuật của từng người, cơ sở và vùng địa phương.
- Tác động của sản xuất hàng hóa đến phân công lao động
Sản xuất hàng hóa thúc đẩy phân công lao động và chuyên môn a ngày càng sâu rộng, mở rộng
và làm sâu sắc mối quan hệ giữa các ngành, các vùng.
- Gia tăng năng suất lao động và đáp ứng nhu cầu xã hội
Phân công lao động hội làm năng suất lao động tăng nhanh, đáp ứng đầy đủ hơn nhu cầu
hội.
- Quy mô sản xuất mở rộng nhờ nền sản xuất hàng hóa
Quy mô sản xuất vượt qua giới hạn cá nhân, gia đình hay vùng, dựa trên nhu cầu và nguồn lực xã
hội, thúc đẩy ứng dụng KH–KT, chuyển từ sản xuất nhỏ sang sản xuất lớn.
- Đòi hỏi đổi mới trong sản xuất để cạnh tranh
Người sản xuất cần năng động, cải tiến kỹ thuật, hợp hóa sản xuất để tăng năng suất, giảm chi
phí, đáp ứng nhu cầu người tiêu dùng, từ đó phát triển lực lượng sản xuất và hiệu quả kinh tế.
- Tác động tổng thể đến đời sống
Sản xuất hàng hóa phát triển, mở rộng kinh tế giao lưu, không chỉ nâng cao đời sống vật chất
mà còn làm phong phú đời sống văn hóa, tinh thần.
Chi phí sản xuất tư bản chủ nghĩa là chi phí để:
Chi phí sản xuất của bản chủ nghĩa chính là những chi phí lao động thực tế của hội để
sản xuất hàng hóa. Đối với tư bản, để sản xuất hàng hóa, họ chỉ cần chi phí một lượng tư bản
để mua tư liệu sản xuất và mua sức lao động. Chi phí này được định nghĩa là chi phí sản xuất
tư bản chủ nghĩa. Mác ký hiệu chi phí sản xuất tư bản chủ nghĩa là k.
Đối với nhà tư bản, chi phí sản xuất tư bản chủ nghĩa là giới hạn hiệu quả sản xuất kinh doanh của
nhà tư bản. Sxuất hiện khái niệm này đã xóa đi ranh giới giữa tư bản bất biến và tư bản khả biến,
che dấu đi nguồn gốc của giá trị thặng dư (đó là tư bản khả biến).
Phạm trù giá trị thặng dư
lOMoARcPSD| 61256830
Giá trị thặng dư là một khái niệm trong lý thuyết kinh tế của C.Mác, chỉ phần giá trị mà công nhân
làm thuê tạo ra ngoài giá trị sức lao động của họ, nhưng bị nhà bản chiếm đoạt không trả
cho họ. Giá trị thặng dư là nguồn gốc của lợi nhuận và là biểu hiện của sự bóc lột lao động trong
chủ nghĩa tư bản.
Cấu tạo hữu cơ của tư bản là
Tỷ lệ giữa số lượng tư bản bất biến trên số lượng tư bản khả biến
là cấu tạo giá trị của tư bản do cấu tạo kỹ thuật của tư bản quyết định và phản ánh sự biến đổi của
cấu tạo kỹ thuật
Trong nông nghiệp giá trị xã hội(thị trường của hang hóa được quyết định bới điều kiện sản xuất
xấu nhất của xã hội
Do nông nghiệp ruộng đất thì hạn không sản xuất ra được, trong khi đó dân số lại tăng nhanh,
vì vậy, để đáp ứng nhu cầu nông sản cho xã hội phải canh tác cả trên ruộng đất xấu nhất. Các nhà
bản kinh doanh trên ruộng đất xấu nhất phải thu được lợi nhuận bình quân (nếu không họ sẽ
chuyển sang kinh doanh lĩnh vực khác), vậy giá cả sản xuất trong nông nghiệp (còn gọi giá
cả sản xuất chung) do ruộng đất xấu quyết định. Do đó, các nhà tư bản sản xuất trên ruộng đất có
điều kiện sản xuất thuận lợi hơn sẽ có giá cả sản xuất cá biệt thấp hơn nên họ thu được lợi nhuận
siêu ngạch.
Quy luật kinh tế tuyệt đối của chủ nghĩa tư bản là
Sản xuất ra giá trị thặng dư là quy luật kinh tế tuyệt đối của chủ nghĩa tư bản, là cơ sở của sự tồn
tại và phát triển của chủ nghĩa tư bản.
Nội dung của nó là sản xuất ra giá trị thặng dư tối đa bằng cách tăng cường bóc lột công nhân làm
thuê. Quy luật giá trị thặng dư ra đời và tồn tại cùng với sự ra đời và tồn tại của chủ nghĩa tư bản.
quyết định các mặt chủ yếu, các quá trình kinh tế chủ yếu của chủ nghĩa bản. động
lực vận động, phát triển của chủ nghĩa tư bản, đồng thời nó cũng làm cho mọi mâu thuẫn của chủ
nghĩa bản, đặc biệt mâu thuẫn bản của chủ nghĩa bản ngày càng sâu sắc, đưa đến sự
thay thế tất yếu chủ nghĩa tư bản bằng một xã hội cao hơn
Tiền công danh nghĩa
Tiền công danh nghĩa số lượng tiền tệ người công nhân nhận được do bán sức
lao động của mình cho nhà bản. Tiền công được sử dụng để tái sản xuất sức lao
động, nên tiền công danh nghĩa phải được chuyển hóa thành tiền công thực tế.
Tư bản thương nghiệp là một bộ phận của
bản thương nghiệp một bộ phận bản công nghiệp tách ra chuyên đảm
nhận khâu lưu thông hàng hóa. Trong tư bản thương nghiệp thì hoạt động của tư
lOMoARcPSD| 61256830
bản thương nghiệp chỉ là những hoạt động phục vụ cho quá trình thực hiện giá trị
hàng hóa của tư bản công nghiệp. Đây chính là một bộ phận tư bản công nghiệp
tách ra chuyên đảm nhận khâu lưu thông hàng hóa. Như vậy nên với các hoạt
động của bản thương nghiệp chỉ những hoạt động phục vụ cho quá trình
thực hiện giá trị hàng hóa của tư bản công nghiệp. Công thức vận động của nó là:
T H – T’.

Preview text:

lOMoAR cPSD| 61256830 Kinh tế chính trị
1. Nghiên cứu 2 điều kiện ra đời và tồn tại sản xuất hàng hóa? 2 điều kiện đó ở Việt Nam hiên nay như thế nào?
Điều kiện ra đời và tồn tại của sản xuất hàng hóa
Sản xuất hàng hoá chỉ ra đời, khi có đủ hai điều kiện sau đây:
a) Phân công lao động xã hội
Phân công lao động xã hội là sự phân chia lao động trong xã hội vào các ngành, nghề khác nhau
trong đó mỗi người chỉ sản xuất ra một hoặc một vài sản phẩm nhất định.
Phân công lao động xã hội tạo ra sự chuyên môn hoá lao động, do đó dẫn đến chuyên môn hoá sản
xuất thành những ngành nghề khác nhau khiến cho xã hội ngày càng có nhiều ngành nghề Phân
công lao động là cơ sở, tiền đề của sản xuất hàng hóa. Do phân công lao động xã hội nên mỗi
người sản xuất chỉ tạo ra một hoặc một vài loại sản phẩm nhất định. Song, nhu cầu tiêu dùng trên
thực tế lại cần đến rất nhiều loại sản phẩm khác nhau. Để thoả mãn nhu cầu đòi hỏi họ phải có mối
liên hệ phụ thuộc vào nhau, trao đổi sản phẩm cho nhau.
Tuy nhiên, phân công lao động xã hội chỉ mới là điều kiện cần nhưng chưa đủ. C. Mác đã chứng
minh rằng, trong công xã thị tộc ấn Độ thời cổ, đã có sự phân công lao động khá chi tiết, nhưng
sản phẩm lao động chưa trở thành hàng hoá. Bởi vì tư liệu sản xuất là của chung nên sản phẩm và
từng nhóm sản xuất chuyên môn hoá cũng là của chung; công xã phân phối trực tiếp cho từng
thành viên để thoả mãn nhu cầu. C. Mác viết: "Chỉ có sản phẩm của những lao động tư nhân độc
lập và không phụ thuộc vào nhau mới đối diện với nhau như là những hàng hoá" Vậy muốn sản
xuất hàng hoá ra đời và tồn tại phải có điều kiện thứ hai nữa.
b) Sự tách biệt tương đối về mặt kinh tế của những người sản xuất
Sự tách biệt tương đối về mặt kinh tế của những người sản xuất làm cho những người sản xuất có
quyền độc lập , tự chủ trong việc sản xuất kinh doanh và phân phối sản phẩm. Khi đó sự trao đổi
sản phẩm giữa người sản xuất sẽ được thực hiện dưới hình thức trao đổi mua bán.
Sự tách biệt này là do có sở hữu tư nhân về tư liệu sản xuất và chế độ tư hữu về tư liệu sản xuất.
Cá nhân có quyền sở hữu tư liệu sản xuất nên có quyền sở hữu sản phẩm lao động. Do đó người
khác muốn có sản phẩm ấy phải thông qua sự mua- bán hàng hóa, tức là phải trao đổi dưới những hình thái hàng hóa.
Ở Việt Nam, có sự tách biệt này còn do sự tách biệt giữa quyền sử dụng và quyền sở hữu trong
hình thức sở hữu nhà nước. Trong xã hội có sự đa dạng hóa sở hữu, thừa nhận sở hữu tư nhân. Tuy
nhiên nhà nước nắm giữ quyền sở hữu còn trao quyền sử dụng cho doanh nghiệp để doanh nghiệp
được độc lập sản xuất và phân phối sản phẩm. Từ đó cũng hình thành nên sự trao đổi mua bán
hàng hóa theo nguyên tắc thuận mua vừa bán.
Đây là điều kiện đủ cho sự ra đời của sản xuất hàng hóa. Vậy, sản xuất hàng hoá chỉ ra đời khi có
đồng thời hai điều kiện nói trên, nếu thiếu một trong hai điều kiện ấy thì không có sản xuất hàng
hoá và sản phẩm lao động không mang hình thái hàng hoá. lOMoAR cPSD| 61256830
Hai điều kiện này ở Việt Nam hiện nay: a) Phân công lao động
- Khi sản xuất hàng hoá ra đời, phát triển đến mức cao điển hình là ở xã hội tư bản thì đòi
hỏi sự phân công lao động sâu sắc để đi vào chuyên môn hoá cao, đáp ứng nhu cầu, yêu
cầu của nền kinh tế thị trường, từ trước tới nay trong xã hội đã xuất hiện ba lần phân công lao đọng xã họi lớn :
- Chăn nuôi tách ra khỏi trồng trọt
- Xuất hiên nhiều ngành thủ công nghiệp
- Xuất hiện thương nghiệp
- ở nước ta muốn phát triển kinh tế hàng hoá phải phân công lại lao động xã hội cả trên mối
quan hệ kinh tế quốc tế và trong nước.
- Đối với trong nước : tất yếu phải tiến hành phân công lao động xã hội trên phạm vi cả nước
cũng như từng ngành, từng cơ sở. Sự phân công lao động xã hội trong quá trình chuyển
sang cơ chế thị trường cần chú trọng các quy luật:
- Tỷ lệ và số tuyệt đối của lao động trong nông nghiệp giảm xuống, tỷ lệ và số tuyệt đối của
lao động trong công nghiệp tăng lên .
- Tỷ lệ lao động trí óc ngày càng tăng lên và chiếm phần lớn trong tổng lao động xã hội .
- Tốc độ tăng lao động trong các ngành sản xuất phi vật chất ( dịch vụ, thương nghiệp ....)
tăng nhanh hơn tốc độ tăng lao động trong các ngành sản xuất vật chất .
b) Sự tách biệt tương đối về mặt kinh tế của những người sản xuất +
Thực hiện đa dạng hóa các hình thức sở hữu, thừa nhận sở hữu tư nhân +
Tách quyền sử dụng ra khỏi quyền sở hữu đối với sở hữu Nhà Nước
2. Phân biệt giá trị xã hội và giá trị cá biệt của hàng hóa, giá trị xã hội của hàng hóa được
hình thành như thế nào? Sự khác nhau giữa quá trình hình thành giá trị xã hội của hàng hóa
trong lĩnh vực sản xuất công nghiệp với quá trình hình thành giá trị xã hội của hàng hóa
trong lĩnh vực sản xuất nông nghiệp (phần này cô đã nói kỹ trong mục Địa tô TBCN)
- Giá trị xã hội và giá trị cá biệt của hàng hoá:
Ví dụ: cùng sản xuất giày, nhà sản xuất A mất 3 giờ để sản xuất 1 đôi, nếu chi phí bằng tiền
là 300.000đ; nhà sản xuất B mất 4 giờ để sản xuất 1 đôi, nếu chi phí bằng tiền là 400.000đ;
nhà sản xuất C mất tới 5 giờ để sản xuất 1 đôi, nếu chi phí bằng tiền là 500.000đ
+ Giá trị cá biệt biểu hiện hao phí lao động cá biệt của nhà sản xuất. Theo ví dụ trên, giá
trị cá biệt của nhà sản xuất A là 3 giờ khi dùng thước đo là thời gian và 300.000đ khi dùng
thước đo là tiền tệ; tương tự là giá trị các biệt của B và C. lOMoAR cPSD| 61256830
+ Giá trị xã hội biểu hiện mức hao phí lao động trung bình của xã hội. Theo ví dụ trên, giá
trị xã hội là 4 giờ, nó là trung bình cộng của thời gian lao động sản xuất ra 1 sản phẩm [(3
giờ + 4 giờ _ 5 giờ) : 3 = 4 giờ]; tương tự, tính theo tiền thì giá trị xã hội là 400.000đ.
- Giá trị xã hội của hàng hoá hình thành:
Giá trị xã hội của hàng hóa là giá trị được xác định bởi thời gian lao động xã hội cần thiết
để sản xuất ra hàng hóa đó. Đây là thời gian trung bình mà một người lao động với trình
độ thành thạo trung bình, cường độ lao động trung bình, và trong điều kiện sản xuất bình
thường cần để sản xuất ra một đơn vị hàng hóa.
Công thức tính giá trị xã hội của hàng hóa: W = c + v + m Trong đó:
+ W: Giá trị xã hội của hàng hóa.
+ c: Chi phí tư bản bất biến (chi phí nguyên liệu, máy móc, thiết bị).
+ v: Chi phí tư bản khả biến (chi phí lao động, tiền công).
+ m: Giá trị thặng dư (giá trị mới do lao động tạo ra ngoài chi phí lao động cần thiết).
- Sự khác nhau giữa quá trình hình thành giá trị xã hội của hàng hóa trong lĩnh vực sản xuất
công nghiệp với quá trình hình thành giá trị xã hội của hàng hóa trong lĩnh vực sản xuất nông nghiệp.
Sự khác nhau trong hình thành giá trị xã hội giữa công nghiệp và nông nghiệp:
1. Trong lĩnh vực sản xuất công nghiệp:
- Giá trị xã hội được xác định bởi điều kiện sản xuất trung bình (những doanh nghiệp chiếm tỷ trọng sản lượng lớn)
- Các doanh nghiệp có thể chủ động thay đổi và cải tiến điều kiện sản xuất thông qua:
+ Đầu tư máy móc thiết bị hiện đại
+ Áp dụng công nghệ mới
+ Cải tiến quy trình sản xuất
+ Nâng cao tay nghề người lao động
- Không phụ thuộc nhiều vào điều kiện tự nhiên
- Có thể mở rộng quy mô sản xuất linh hoạt theo nhu cầu thị trường
2. Trong lĩnh vực sản xuất nông nghiệp: khác với các chủ thể kinh doanh khác, nhà tư bản kinh
doanh trên lĩnh vực nông nghiệp phải trả một lượng tiền cho địa chủ vì đã thuê đất của họ. Để
có tiền trả cho địa chủ, ngoài số lợi nhuận bình quân thu được ương tự như kinh doanh trên lOMoAR cPSD| 61256830
các lĩnh vực khác, nhà tư bản kinh doanh trên lĩnh vực nông nghiệp còn thu thêm được một
phần giá trị thặng dư dôi ra ngoài lợi nhuận bình quân, tức là lợi nhuận siêu ngạch, lợi nhuận
siêu ngạch này phải trả cho địa chủ dưới dạng địa tô.
- Giá trị xã hội được xác định bởi điều kiện sản xuất trên những ruộng đất xấu nhất nhưng vẫn
cần thiết để đáp ứng nhu cầu xã hội
- Điều kiện sản xuất bị chi phối mạnh mẽ bởi các yếu tố tự nhiên:
+ Chất lượng đất đai
+ Điều kiện thời tiết, khí hậu + Vị trí địa lý
- Khó có thể thay đổi hoặc cải thiện một số điều kiện sản xuất cơ bản
- Việc mở rộng sản xuất bị giới hạn bởi quỹ đất nông nghiệp
- Thời gian sản xuất phụ thuộc vào quy luật sinh trưởng tự nhiên của cây trồng, vật nuôi
Sự khác biệt cơ bản này dẫn đến:
1. Trong công nghiệp: Các doanh nghiệp có điều kiện sản xuất kém hơn mức trung bình sẽ
bịthua lỗ và bị đào thải.
2. Trong nông nghiệp: Những người sản xuất trên ruộng đất tốt vẫn thu được lợi nhuận cao
hơn (tạo ra địa tô chênh lệch) dù giá trị xã hội được xác định theo điều kiện sản xuất trên ruộng đất xấu.
3. 2 Phương pháp sản xuất giá trị thặng dư để chỉ ra điểm khác nhau giữa 2 phương pháp sản
xuất giá trị thặng dư? Vì sao sản xuất giá trị thặng dư tương đối là phương pháp bóc lột tinh vi?
2 Phương pháp sản xuất giá trị thặng dư:
*Phương pháp sản xuất giá trị thặng dư tuyệt đối
Khái niệm: Là phương pháp kéo dài ngày lao động một cách tuyệt đối vượt quá thời gian lao
động cần thiết trong điều kiện năng suất lao động không đổi, thời gian lao động cần thiết không đổi.
Ví dụ; Ngày lao động là 8 giờ,
+ Thời gian lao động cần thiết là 4 giờ,
+ Thời gian lao động thặng dư 4 giờ
Ta có tỷ suất giá trị thặng dư 4 m' = 100% = 100% 4
Nếu ngày lao động được kéo dài ra 12 giờ, thời gian lao động cần thiết không đổi, ngày
lao động sẽ đươch chia như sau:
+ Thời gian lao động cần thiết: 4 giờ lOMoAR cPSD| 61256830
+ Thời gian lao động thặng dư: 8 giờ
Tỷ suất giá trị thặng dư: 200% Trong phương pháp này
Những nhân tố cố định
+ Năng suất lao động không đổi
+ Thời gian lao động cần thiết không đổi
Những nhân tố biến đổi
+ Ngày lao động được kéo dài ra (cường độ lao động tăng lên)
+ Thời gian lao động thặng dư tăng lên
+ Tỷ suất giá trị thặng dư tăng lên
+ Làm kiệt quệ sức lao động của công nhân
Phương pháp này được áp dụng trong giai đoạn đầu của chủ nghĩa tư bản, sản xuất chủ yếu
bằng công cụ thủ công, năng suất lao động xã hội thấp.
Tuy nhiên, phương pháp này gặp phải giới hạn
+ Thời gian lao động cần thiết ≤ Ngày lao động ≤ 24 giờ.
+ Phong trào đấu tranh của công nhân.
Vậy, giá trị thặng dư tương đối là giá trị thặng dư thu được do kéo dài ngày lao động một cách
tuyệt đối vượt quá thời gian lao động cần thiết.
Khi sản xuất TBCN phát triển, năng suất lao động xã hội tăng, các nhà tư bản chuyển sang
phương thức bóc lột dựa trên cơ sở tăng năng suất lao động. Đó là phương pháp sản xuất giá
trị thặng dư tương đối.
* Phương pháp sản xuất giá trị thặng dư tương đối
Khái niệm: Là phương pháp rút ngắn thời gian lao động cần thiết trong điều kiện độ dài ngày
lao động không đổi, nhờ đó kéo dài một cách tương ứng thời gian lao động thặng dư.
Ví dụ: Ngày lao động 8 giờ
+ Thời gian lao động cần thiết: 4 giờ
+ Thời gian lao động thặng dư: 4 giờ
Tỷ suất giá trị thặng dư m'= 100%
Nêu năng suất lao động tăng lên gấp đôi Ngày lao động 8 giờ
+ Thời gian lao động cần thiết: 2 giờ
+ Thời gian lao động thặng dư: 6 giờ
Tỷ suất giá trị thặng dư là m'= 300% Trong phương pháp này
Những nhân tố cố định
+ Ngày lao động không đổi
+ Cường độ lao động không đổi
Nhân tố biến đổi
+Năng suất lao động tăng lên lOMoAR cPSD| 61256830
+ Thời gian lao động cần thiết giảm xuống +Thời
gian lao động thặng dư tăng lên.
+ Tỷ suất giá trị thặng dư tăng lên.
+ Sức lao động được giảm nhẹ
Vậy, Giá trị thặng dư tương đối là giá trị thặng dư thu được do rút ngắn thời gian lao động
cần thiết trong điều kiện độ dài ngày lao động không đổi.
- Điểm khác nhau giữa 2 phương pháp sản xuất giá trị thặng dư 1. Giống nhau:
- Nhằm mục đích tăng tỷ suất và khối lượng giá trị thặng dư.
- Tăng thời gian lao động thặng dư của công nhân, không chỉ đủ nuôi sống mình mà còntạo ra phần thặng dư.
- Nhà tư bản sử dụng để bóc lột công nhân nhằm tạo giá trị thặng dư.
- Dựa trên cơ sở thời gian lao động thặng dư được kéo dài
- Đòi hỏi độ dài ngày lao động nhất định, cường độ lao động và năng suất lao động nhấtđịnh.
- Sản xuất giá trị thặng dư tương đối là phương pháp bóc lột tinh vi vì:
Thời gian lao động tất yếu có quan hệ với giá trị sức lao động. Muốn rút ngắn thời gian lao động
tất yếu phải giảm giá trị sức lao động. Để hạ thấp được giá trị sức lao động thì phải giảm được giá
trị các tư liệu sinh hoạt và dịch vụ cần thiết để tái sản xuất sức lao động, do đó phải tăng năng suất
lao động trong các ngành sản xuất ra tư liệu sinh hoạt.
Lịch sử phát triển của lực lượng sản xuất và của năng suất lao động xã hội dưới chủ nghĩa tư bản
đã trải qua ba giai đoạn: hợp tác giản đơn, công trường thủ công và đại công nghiệp cơ khí, đó
cũng là quá trình nâng cao trình độ bóc lột giá trị thặng dư tương đối.
4. Tư bản bất biến? Tư bản khả biến? Ý nghĩa của việc phân chia tư bản thành tư bản bất biến và tư bản khả biến? lOMoAR cPSD| 61256830 - Tư bản bất biến (c)
+ Khái niệm: Bộ phận tư bản biến thành tư liệu sản xuất, khi tham gia vào quá trình sản
xuất giá trị của nó được bảo tồn và chuyển vào sản phẩm, tức là không có sự biến đổi về
lượng gọi là tư bản bất biến
.
+ Tư bản bất biến bao gồm: Máy móc và nguyên vật liệu
+ Ví dụ: tiền bông 20$, khấu hao máy móc 4$. Tổng tư bản bất biến là 24$
+ Như vậy; tư bản bất biến đóng vai trò là điều kiện cần thiết trong quá trình sản xuất giá
trị thặng dư (C.Mác ví nó như chiếc bình cổ cong trong phản ứng hóa học, nó không tham
gia vào phản ứng nhưng nếu thiếu nó thì phản ứng không thể thức hiện được).
- Tư bản khả biến (v)
+ Khái niệm: Bộ phận tư bản biến thành sức lao động không tái hiện ra nhưng thông qua
lao động trừu tượng của người công nhân làm thuê mà tăng lên tức là có sự biến đổi về lượng gọi
là tư bản khả biến.

+ Tư bản khả đóng vai trò quyết định sản xuất ra giá trị thặng dư, là điều kiện không thể
thiếu để sản xuất giá trị thặng dư.
- Ý nghĩa của việc phân chia tư bản thành tư bản bất biến và tư bản khả biến:
C.Mác phân chia tư bản thành tư bản bất biến và tư bản khả biến đã vạch rõ bản chất bóc lột
của CNTB. Chỉ có lao động làm thuê của công nhân mới tạo ra giá trị thặng dư cho các nhà tư bản.
5. Đặc trưng của cách mạng công nghiệp lần thứ 3 là gì? Tác động của CM công nghiệp lần
thứ 3 đến sự phát triển của LLSX ở Việt Nam như thế nào?
- Đặc trưng của cách mạng công nghiệp lần thứ 3 là gì:
Đặc trưng cơ bản của cuộc cách mạng này là sự xuất hiện công nghệ thông tin, tự động hoá
sản xuất. Cách mạng công nghiệp lần thứ 3 diễn ra khi có các tiến bộ về hạ tầng điện tử,
máy tính và số hoá vì nó được xúc tác bởi sự phát triển của chất bán dẫn, siêu máy tính,
máy tính cá nhân và internet. Cuộc cách mạng lần thứ 3 đã đưa tới những tiến bộ kĩ thuật,
công nghệ nổi bật trong giai đoạn này là: hệ thống mạng, máy tính cá nhân, thiết bị điện tử
sử dụng công nghệ số và robot công nghiệp.
- Tác động của CM công nghiệp lần thứ 3 đến sự phát triển của LLSX ở Việt Nam:
Cuộc Cách mạng Công nghiệp lần thứ 3 đã có tác động mạnh mẽ đến sự phát triển của lực lượng
sản xuất (LLSX) ở Việt Nam, đặc biệt trong việc hiện đại hóa công nghiệp. Các công nghệ như tự
động hóa, máy tính, và Internet đã nâng cao năng suất lao động, cải thiện hiệu quả sản xuất, và
thúc đẩy sự xuất hiện của các ngành nghề mới, như công nghệ thông tin, viễn thông, và sản xuất
điện tử. Tuy nhiên, Việt Nam vẫn đối mặt với những hạn chế về trình độ công nghệ, sự thiếu hụt
nguồn nhân lực chất lượng cao, và đầu tư chưa đủ mạnh để phát triển hạ tầng kỹ thuật, khiến cho
khoảng cách công nghệ với các nước tiên tiến ngày càng rõ rệt. ([Viện Hàn lâm KHXH Việt Nam](https://vass.gov.vn)) lOMoAR cPSD| 61256830
6. Cách mạng công nghiệp lần thứ 4 (4.0) là gì? Thách thức đặt ra đối với thương mại truyền
thống trước sự phát triển của thương mại điện tử hiện nay?
- Cách mạng công nghiệp lần thứ tư được gọi là Công nghiệp 4.0. Công nghiệp 4.0 tập
trung vào công nghệ kỹ thuật số từ những thập kỷ gần đây lên một cấp độ hoàn toàn mới
với sự trợ giúp của kết nối thông qua Intern et vạn vật, truy cập dữ liệu thời gian thực và
giới thiệu các hệ thống vật lý không gian mạng. Công nghiệp 4.0 cung cấp một cách tiếp
cận liên kết và toàn diện hơn cho sản xuất. Nó kết nối vật lý với kỹ thuật số và cho phép
cộng tác và truy cập tốt hơn giữa các bộ phận, đối tác, nhà cung cấp, sản phẩm và con
người. Công nghiệp 4.0 trao quyền cho các chủ doanh nghiệp kiểm soát và hiểu rõ hơn mọi
khía cạnh hoạt động của họ và cho phép họ tận dụng dữ liệu tức thời để tăng năng suất, cải
thiện quy trình và thúc đẩy tăng trưởng.
- Thách thức đặt ra đối với thương mại truyền thống trước sự phát triển của thương mại điện tử hiện nay
Chi phí hoạt động cao: Duy trì cửa hàng vật lý cần chi phí lớn như thuê mặt bằng, trả
lương nhân viên, và vận hành. Trong khi đó, thương mại điện tử giúp tiết kiệm đáng kể nhờ
việc giảm thiểu nhu cầu về không gian vật lý.
Hạn chế về phạm vi tiếp cận: Các cửa hàng truyền thống bị giới hạn bởi địa lý, chỉ phục
vụ trong phạm vi khu vực, trong khi thương mại điện tử tiếp cận khách hàng trên toàn cầu 24/7.
Thay đổi hành vi tiêu dùng: Khách hàng ngày càng ưa chuộng sự tiện lợi của việc mua
sắm trực tuyến, bao gồm giao hàng tận nơi, tùy chọn thanh toán đa dạng, và chính sách đổi trả dễ dàng.
Khả năng cạnh tranh giá cả: Do không gánh nhiều chi phí trung gian, thương mại điện
tử thường có lợi thế về giá cả, tạo sức ép lớn đối với các mô hình bán lẻ truyền thống.
Hạn chế công nghệ: Nhiều doanh nghiệp truyền thống chưa sẵn sàng số hóa, dẫn đến khó
khăn trong việc cạnh tranh với các đối thủ sử dụng công nghệ hiện đại để tối ưu hóa vận hành.
Chậm đổi mới mô hình kinh doanh: Một số doanh nghiệp truyền thống khó thích nghi
với xu hướng tích hợp kênh bán hàng trực tuyến và ngoại tuyến.
7. Vì sao Việt Nam phải CNH, HĐH gắn với phát triển Kinh tế tri thức? Người lao động phái
làm gì để đám ứng yêu cầu của nền kinh tế tri thức?
* Vì sao CNH, HĐH gắn liền với phát triển Kinh tế tri thức:
CNH là một giai đoạn tất yếu của mỗi quốc gia. Đối với đất nước ta từ một nước nông nghiệp lạc
hậu đi lên chủ nghĩa xã hội (CNXH) bỏ qua chế độ tư bản chủ nghĩa nên thiếu đi cơ sở vật chất lOMoAR cPSD| 61256830
kỹ thuật hiện đại. Khi chuyển sang thời kỳ đổi mới với sự phát triển của khoa học công nghệ đặc
biệt là cách mạng thông tin, tri thức đã cho ra đời các ngành công nghệ cao. Để bước tới công
nghiệp hóa hiện đại hóa Đảng và Nhà nước luôn nhấn mạnh và chú trọng nền kinh tế tri thức.
Nền kinh tế tri thức là gì?
Nền kinh tế tri thức là nền kinh tế trong đó có sự sản sinh, phổ cập, sử dụng tri thức để tạo
ra của cải nâng cao chất lượng cuộc sống, giữ vai trò quyết định đối với sự phát triển kinh tế. Nền
kinh tế tri thức là kinh tế phát triển dựa vào sức mạnh của tri thức với nguồn lực có chuyên môn
cao để tạo ra nhiều của cải vật chất, nâng cao đời sống người dân, dần hướng tới toàn cầu hóa nền kinh tế.
Lý do công nghiệp hóa, hiện đại hóa gắn liền với kinh tế tri thức –
Tri thức là lực lượng sản xuất trực tiếp: tri thức đóng vai trò quan trọng đòi hỏi lực lượng
lao động phải có tay nghề, kỹ thuật, chất xám có thể áp dụng được vào sản xuất, sử dụng công
nghệ cao, phát triển nền kinh tế. –
Nền kinh tế tri thức dựa vào khoa học công nghệ: cần có những nghiên cứu, sáng tạo, để
tạo ra những công nghệ mới trong khi kinh tế công nghiệp chỉ là tối ưu và hoàn thiện những công nghệ có sẵn. –
Nền kinh tế tri thức có lao động trí tuệ tạo ra được các sản phẩm có giá trị cao chỉ cần trong thời gian ngắn. –
Kinh tế tri thức có sự sáng tạo được coi trọng, có năng lực đổi mới, nguồn lực về trí tuệ là
yếu tố then chốt giúp nâng cao sự cạnh tranh, phát triển và thịnh vượng của một nước. –
Nền kinh tế tri thức là nền kinh tế toàn cầu: Các quốc gia hiện nay luôn cố gắng tạo ra các
côngdân toàn cầu, có thể làm việc ở bất cứ nước nào có cùng trình độ tiến tới toàn cầu hóa.
* Người lao động phái làm gì để đáp ứng yêu cầu của nền kinh tế tri thức
Để đáp ứng yêu cầu của nền kinh tế tri thức, người lao động cần tập trung vào các yếu tố sau:
1. Nâng cao trình độ chuyên môn và kỹ năng: Đào tạo liên tục và cập nhật kiến thức, đặc
biệttrong các lĩnh vực công nghệ thông tin, quản trị dữ liệu, trí tuệ nhân tạo (AI), và quản trị đổi mới.
2. Tích lũy kỹ năng mềm: Tăng cường các kỹ năng như giao tiếp, làm việc nhóm, tư duy phản
biện, giải quyết vấn đề, và khả năng thích nghi với môi trường thay đổi.
3. Khả năng sử dụng công nghệ: Làm quen và thành thạo các công cụ công nghệ, phần mềm
quản lý và hệ thống kỹ thuật số, vì đây là yếu tố quyết định hiệu quả làm việc trong nền kinh tế tri thức. lOMoAR cPSD| 61256830
4. Học tập suốt đời: Duy trì tinh thần học hỏi liên tục thông qua các khóa học ngắn hạn, chứng
chỉ nghề nghiệp hoặc các chương trình đào tạo chuyên biệt nhằm nâng cấp bản thân phù hợp
với nhu cầu mới của thị trường lao động.
5. Tư duy sáng tạo và đổi mới: Khuyến khích bản thân tìm kiếm các phương pháp, quy trình,
hoặc ý tưởng mới để nâng cao hiệu quả và giá trị lao động.
6. Phát triển kỹ năng ngoại ngữ: Ngoại ngữ, đặc biệt là tiếng Anh, giúp mở rộng cơ hội việc
làm và hợp tác quốc tế trong bối cảnh toàn cầu hóa.
7. Khả năng tự quản lý và linh hoạt: Rèn luyện khả năng tự kỷ luật, sắp xếp công việc và
thờigian hiệu quả, đồng thời sẵn sàng thích nghi với môi trường làm việc mới như làm việc từ xa.
8. Kết nối mạng lưới nghề nghiệp: Xây dựng mối quan hệ trong lĩnh vực nghề nghiệp để học
hỏi kinh nghiệm, tìm kiếm cơ hội hợp tác và phát triển.
Những kỹ năng này giúp người lao động không chỉ thích nghi mà còn phát triển bền vững
trong bối cảnh nền kinh tế tri thức, nơi tri thức và sáng tạo là động lực chính.
Là trí thức thì mỗi chúng em cần phải có trách nhiệm
*Là trí thức thì mỗi chúng em cần phải có trách nhiệm hơn để góp phần (kết hợp công
nghiệp hóa, hiện đại hóa với phát triển kinh tế tri thức) thông qua những hành động và việc làm cụ thể sau:
+ Ra sức học tập và rèn luyện kiến thức thông qua sách vở, thầy cô, bạn bè và nhà trường.
+ Bên cạnh đó, tăng cường những kỹ năng mềm trong các hoạt động xã hội, hoạt động
thiện nguyện (giúp đỡ trẻ em nghèo, người già neo đơn, v.v.).
+ Thích ứng và thay đổi theo những tình huống của thời kỳ mới, và đưa ra những giải pháp
thích hợp để giải quyết.
+ Nhanh chóng tiếp cận những nền tảng khoa học kỹ thuật và công nghệ tiên tiến trên thế
giới để vận dụng vào công việc, học tập, đời sống.
+ Tiếp thu có chọn lọc những điều tốt, những tiên tiến, văn minh, hiện đại và hơn hết phải
giữ gìn, bảo tồn những giá trị tinh hoa bền vững của dân tộc mình.
Sản xuất tự cung tự cấp, sản xuất ra sản phẩm để Tiêu
dùng trực tiếp cho người sản xuất.
Giải thích: Còn sản xuất tự cung tự cấp với mục đích sản xuất ra những giá trị sử dụng để thỏa
mãn nhu cầu tiêu dùng của chính người sản xuất, nên không tạo ra động lực thúc đẩy sản xuất phát triển.
Vì sao vàng có thể đóng vai trò tiền lOMoAR cPSD| 61256830
Về tự nhiên: Vàng là kim loại thuần nhất về chất, dễ dát mỏng, dễ chia nhỏ, không
bị hư hỏng, dẫn điện, dẫn nhiệt tốt, không bị oxy hóa... - Về xã hội: Vàng là hàng
hóa có giá trị và giá trị sử dụng
+ GTSD: Dùng làm đồ trang sức, trang trí, răng, dùng trong các thiết bị thông minh...
+ GT: 1 lượng vàng nhỏ nhưng chứa đựng một giá trị lớn.
Ưu thế của sản xuất hàng hóa
- Khai thác lợi thế từ phân công lao động
Sản xuất hàng hóa dựa trên phân công lao động xã hội và chuyên môn hóa, khai thác tối đa các lợi
thế tự nhiên, xã hội, kỹ thuật của từng người, cơ sở và vùng địa phương.
- Tác động của sản xuất hàng hóa đến phân công lao động
Sản xuất hàng hóa thúc đẩy phân công lao động và chuyên môn hóa ngày càng sâu rộng, mở rộng
và làm sâu sắc mối quan hệ giữa các ngành, các vùng.
- Gia tăng năng suất lao động và đáp ứng nhu cầu xã hội
Phân công lao động xã hội làm năng suất lao động tăng nhanh, đáp ứng đầy đủ hơn nhu cầu xã hội.
- Quy mô sản xuất mở rộng nhờ nền sản xuất hàng hóa
Quy mô sản xuất vượt qua giới hạn cá nhân, gia đình hay vùng, dựa trên nhu cầu và nguồn lực xã
hội, thúc đẩy ứng dụng KH–KT, chuyển từ sản xuất nhỏ sang sản xuất lớn.
- Đòi hỏi đổi mới trong sản xuất để cạnh tranh
Người sản xuất cần năng động, cải tiến kỹ thuật, hợp lý hóa sản xuất để tăng năng suất, giảm chi
phí, đáp ứng nhu cầu người tiêu dùng, từ đó phát triển lực lượng sản xuất và hiệu quả kinh tế.
- Tác động tổng thể đến đời sống
Sản xuất hàng hóa phát triển, mở rộng kinh tế và giao lưu, không chỉ nâng cao đời sống vật chất
mà còn làm phong phú đời sống văn hóa, tinh thần.
Chi phí sản xuất tư bản chủ nghĩa là chi phí để:
Chi phí sản xuất của tư bản chủ nghĩa chính là những chi phí lao động thực tế của xã hội để
sản xuất hàng hóa. Đối với tư bản, để sản xuất hàng hóa, họ chỉ cần chi phí một lượng tư bản
để mua tư liệu sản xuất và mua sức lao động. Chi phí này được định nghĩa là chi phí sản xuất
tư bản chủ nghĩa. Mác ký hiệu chi phí sản xuất tư bản chủ nghĩa là k.
Đối với nhà tư bản, chi phí sản xuất tư bản chủ nghĩa là giới hạn hiệu quả sản xuất kinh doanh của
nhà tư bản. Sự xuất hiện khái niệm này đã xóa đi ranh giới giữa tư bản bất biến và tư bản khả biến,
che dấu đi nguồn gốc của giá trị thặng dư (đó là tư bản khả biến).
Phạm trù giá trị thặng dư lOMoAR cPSD| 61256830
Giá trị thặng dư là một khái niệm trong lý thuyết kinh tế của C.Mác, chỉ phần giá trị mà công nhân
làm thuê tạo ra ngoài giá trị sức lao động của họ, nhưng bị nhà tư bản chiếm đoạt mà không trả
cho họ. Giá trị thặng dư là nguồn gốc của lợi nhuận và là biểu hiện của sự bóc lột lao động trong chủ nghĩa tư bản.
Cấu tạo hữu cơ của tư bản là
Tỷ lệ giữa số lượng tư bản bất biến trên số lượng tư bản khả biến
là cấu tạo giá trị của tư bản do cấu tạo kỹ thuật của tư bản quyết định và phản ánh sự biến đổi của cấu tạo kỹ thuật
Trong nông nghiệp giá trị xã hội(thị trường của hang hóa được quyết định bới điều kiện sản xuất xấu nhất của xã hội
Do nông nghiệp ruộng đất thì có hạn và không sản xuất ra được, trong khi đó dân số lại tăng nhanh,
vì vậy, để đáp ứng nhu cầu nông sản cho xã hội phải canh tác cả trên ruộng đất xấu nhất. Các nhà
tư bản kinh doanh trên ruộng đất xấu nhất phải thu được lợi nhuận bình quân (nếu không họ sẽ
chuyển sang kinh doanh lĩnh vực khác), vì vậy giá cả sản xuất trong nông nghiệp (còn gọi là giá
cả sản xuất chung) do ruộng đất xấu quyết định. Do đó, các nhà tư bản sản xuất trên ruộng đất có
điều kiện sản xuất thuận lợi hơn sẽ có giá cả sản xuất cá biệt thấp hơn nên họ thu được lợi nhuận siêu ngạch.
Quy luật kinh tế tuyệt đối của chủ nghĩa tư bản là
Sản xuất ra giá trị thặng dư là quy luật kinh tế tuyệt đối của chủ nghĩa tư bản, là cơ sở của sự tồn
tại và phát triển của chủ nghĩa tư bản.
Nội dung của nó là sản xuất ra giá trị thặng dư tối đa bằng cách tăng cường bóc lột công nhân làm
thuê. Quy luật giá trị thặng dư ra đời và tồn tại cùng với sự ra đời và tồn tại của chủ nghĩa tư bản.
Nó quyết định các mặt chủ yếu, các quá trình kinh tế chủ yếu của chủ nghĩa tư bản. Nó là động
lực vận động, phát triển của chủ nghĩa tư bản, đồng thời nó cũng làm cho mọi mâu thuẫn của chủ
nghĩa tư bản, đặc biệt là mâu thuẫn cơ bản của chủ nghĩa tư bản ngày càng sâu sắc, đưa đến sự
thay thế tất yếu chủ nghĩa tư bản bằng một xã hội cao hơn Tiền công danh nghĩa
Tiền công danh nghĩa là số lượng tiền tệ mà người công nhân nhận được do bán sức
lao động của mình cho nhà tư bản. Tiền công được sử dụng để tái sản xuất sức lao
động, nên tiền công danh nghĩa phải được chuyển hóa thành tiền công thực tế.
Tư bản thương nghiệp là một bộ phận của Tư bản công nghiệp
Tư bản thương nghiệp là một bộ phận tư bản công nghiệp tách ra chuyên đảm
nhận khâu lưu thông hàng hóa. Trong tư bản thương nghiệp thì hoạt động của tư lOMoAR cPSD| 61256830
bản thương nghiệp chỉ là những hoạt động phục vụ cho quá trình thực hiện giá trị
hàng hóa của tư bản công nghiệp. Đây chính là một bộ phận tư bản công nghiệp
tách ra chuyên đảm nhận khâu lưu thông hàng hóa. Như vậy nên với các hoạt
động của tư bản thương nghiệp chỉ là những hoạt động phục vụ cho quá trình
thực hiện giá trị hàng hóa của tư bản công nghiệp. Công thức vận động của nó là: T – H – T’.