ĐỀ CƯƠNG MÔN KINH TẾ VI MÔ
Câu 1: Trình bày về nội dung, các yếu tố hình thành cầu?
Cầu (trong tiếng anh Demand) khối lượng hàng hóa, dịch vụ
người tiêu dùng sẵn lòng mua trong một khoảng thời gian nhất định tương ứng
với giá cả và thu nhập xác định.
Cầu gồm có cầu nhâncầu thị trường. Cầunhân số lượng hàng
hóa mà người tiêu dùng muốn mua ứng với mức giá nhất định, cầu thị trường
cầu của toàn thể các cá nhân đối với một mặt hàng hóa trong nền kinh tế vĩ mô.
Quy luật cầu: Khi giá hàng hóa dịch vụ tăng lên (trong điều kiện các
yếu tố khác không đổi) thì lượng cầu mặt hàng đó sẽ có xu hướng giảm xuống.
rất nhiều yếu tố trong nền kinh tế thể ảnh hưởng đến cầu. Vậy
những yếu tố nào sau đây ảnh hưởng đến cầu? Giá cả hàng hóadịch vụ, thu
nhập của người tiêu dùng, dân số, chính sách của Chính phủ, kỳ vọng của thị
trường hay tâm lý, tập quán và thị hiếu của người tiêu dùng.
1. Thu nhập của người tiêu dùng
Thu nhập của người tiêu dùng một trong những yếu tố ảnh hưởng đến
cầu quan trọng nhất trong một khoảng thời gian nào đó. Bởi thu nhập tỉ lệ
thuận với nhu cầu tiêu dùng khả năng chi trả, mua sắm của người tiêu dùng.
Khi thu nhập tăng lên thì nhu cầu mua sắm tăng, khi thu nhập giảm thì ngược
lại, nhu cầu hàng hóa sẽ giảm.
2. Giá cả hàng hóa và dịch vụ
Giá cả hàng hóa dịch vụ yếu tố quan trọng quyết định đến chi tiêu
của người tiêu dùng, do vậy, sẽ ảnh hưởng mạnh tới cầu hàng hóa. Khi giá
một mặt hàng nào đó tăng, rất thể cầu sẽ giảm. Còn nếu giá một mặt hàng
tăng làm tăng cầu của mặt hàng khác, hàng hóa này gọi hàng hóa bổ sung.
Hoặc khi giá một mặt hàng làm giảm lượng cầu của loại hàng hóa khác đó gọi
là hàng hóa thay thế.
3. Chính sách của Chính phủ
Chính phủ là chủ thể tham gia vào nền kinh tế nhằm sử dụng các công cụ
tài chính kinh tế để điều tiết nền kinh tế mô. Các chính sách của chính phủ
như thuế giá trị gia tăng, thuế thu nhập sẽ ảnh hưởng trực tiếp đến thu nhập
giá cả hàng hóa, từ đó sẽ ảnh hưởng gián tiếp tới cầu.
4. Kỳ vọng thị trường
Kỳ vọng của người tiêu dùng về giá cả hàng hóa trong tương lai cũng
một trong những yếu tố ảnh hưởng đến cung. Nếu giá cả một mặt hàng nào đó
được dự kiến s giảm trong tương lai gần, thể người tiêu dùng sẽ ít mua
loại hàng đó hơn. Hoặc nếu giá một loại hàng hóa nào đó dự kiến tăng trong
thời gian tới, người tiêu dùng sẽ xu hướng mua nhiều loại hàng đó hơn. Giả
sử dự kiến tháng tới giá tăng sẽ tăng lên, thì người dân sẽ ùn ùn đi mua xăng,
khiến cho cung tăng lên.
5. Tâm lý, tập quán và thị hiếu của người tiêu dùng
Tâm thích hàng hóa rẻ, đẹp, ưa chuộng các loại hàng hóa nào đó ảnh
hưởng tới quyết định tiêu dùng, do vậy, nó sẽ ảnh hưởng trực tiếp tới cầu.
Tâm ưa thích một loại hàng nào đó sẽ khiến người tiêu dùng hàng
động ưu tiên mua loại hàng đó hơn các mặt hàng khác không khác nhau về
bao bì, chất lượng và nhà cung cấp sản phẩm.
Đánh giá một cách khách quan, theo những nghiên cứu của lĩnh vực tâm
học thì thói quen, thị hiếu của người tiêu dùng cùng phức tạp khó
hiểu. Điều này một trong những vấn đề nan giải, gây khó khăn cho các nhà
kinh tế học khi phân tích sự ảnh hưởng của nó tới cầu.
6. Dân số
Dân số chính lực lượng tiêu thụ các sản phẩm, hàng hóa dịch vụ.
Nhu cầu hàng hóa trong nền kinh tế bị ảnh hưởng trực tiếp khi nhu cầu nhân
tăng lên hoặc người tiêu dùng khả năng tài chính để chi trả nhiều mức giá
khác nhau cho cùng một mặt hàng.
Dân số càng đông, người tiêu dùng hàng hóa càng cao, nhu cầu của thị
trường ngày càng phát triển, số lượng người mua hàng tăng cầu hàng hóa
cũng có chiều hướng tăng theo.
Câu 2: Trình bày nội dung, các yếu tố hình thành cung?
Cung (tiếng anh: Supply) biểu thị lượng hàng hóa hay dịch vụ
người bán khả năng bán sẵn sàng bán các mức giá khác nhau trong một
khoảng thời gian nhất định.
Trong kinh tế học, nguồn cung một khái niệm bản tả tổng số
lượng hàng hóa hoặc dịch vụ nhất định sẵn cho người tiêu dùng. Người tiêu
dùng thể hiện nhu cầu đối với một loại hàng hóa hoặc dịch vụ nào đó sau đó
làm cạn kiệt nguồn cung sẵn có, điều này thường sẽ dẫn đến sự gia tăng trong
nhu cầu.
Nguồn cung thể bị ảnh hưởng bởi các yếu tố quyết định nguồn cung.
Nhìn chung, việc cung cấp một sản phẩm phụ thuộc vào giá của các biến
khác như chi phí sản xuất.
1. Giá bán
Giá thể được hiểu những người tiêu dùng sẵn sàng trả để nhận
được hàng hóa hoặc dịch vụ. Đây yếu tố chính ảnh hưởng đến nguồn cung
cấp sản phẩm. Trong nguyên cung cầu, khi giá của sản phẩm tăng lên, nguồn
cung của sản phẩm cũng tăng ngược lại. Đây thể hiểu sự dịch chuyển
về giá. Trái lại, khi bất kỳ dấu hiệu nào về việc tăng giá của sản phẩm trong
tương lai, thì nguồn cung trên thị trường thời điểm hiện tại sẽ giảm để thu
được nhiều lợi nhuận hơn sau này. Ngược lại, nếu giá bán dự kiến giảm, nguồn
cung trên thị trường hiện tại sẽ tăng mạnh.
Bên cạnh đó, giá bán của hàng hóa thay thế hàng hóa bổ sung cũng
ảnh hưởng đến nguồn cung cấp sản phẩm. dụ, nếu giá lúa tăng, nông dân
sẽ có xu hướng trồng nhiều lúa mì hơn lúa gạo. Điều này có thể làm giảm nguồn
cung gạo trên thị trường. Nhìn chung, giá cả yếu tố ảnh hưởng lớn nhất đến
sản phẩm.
2. Chi phí sản xuất
Việc cung cấp sản phẩm chi phí sản xuất mối quan hệ trái ngược
với nhau. Đối với các công ty, nếu chi phí sản xuất tăng, việc cung cấp sản
phẩm sẽ phải thu hẹp lại để tiết kiệm tài nguyên. Ví dụ, trong trường hợp chi phí
nhân công cao, điều kiện tự nhiên thuận lợi, chi phí nguyên liệu, thuế, chi phí
vận chuyển, chi phí sản xuất tăng lên, các nhà quản s quyết định cung cấp
một lượng sản phẩm thấp hơn cho thị trường hoặc dự trữ sản phẩm cho đến khi
giá thị trường ổn định.
3. Công nghệ
Sự thay đổi trong nguồn cung cũng thể nhờ những tiến bộ trong
công nghệ giúp giảm chi phí sản xuất. Sự phát triển về khoa học công nghệ
thể cải thiện hiệu quả sản xuất giúp cắt giảm chi phí sản xuất. Máy tính, tivi
thiết bị chụp ảnh những dụ điển hình về tác động của công nghệ tới
đường cung. Một chiếc máy tính bàn kích thước lớn từng giá vài nghìn đô
giờ đây thể được mua với giá vài trăm đô với sự cải tiến về lưu trữ bộ xử
lý. Trong trường hợp này, nguồn cung cho máy tính trong thời đại ngày nay sẽ
cao hơn nhiều so với trước đây.
4. Chính sách của Chính phủ
Với vai trò điều tiết bảo vệ nền kinh tế, chính phủ ảnh hưởng lớn
đến nguồn cung cấp sản phẩm. Thuế càng thấp, nguồn cung của sản phẩm đó
càng cao. Mặt khác, nếu các quy định nghiêm ngặt được đề ra thuế tiêu thụ
đặc biệt được thêm vào, nguồn cung cấp sản phẩm sẽ giảm.
5. Điều kiện vận chuyển
Chuỗi cung ứng phụ thuộc nhiều vào việc quản nguồn cung
logistics hiệu quả để vận chuyển nguyên liệu thành phẩm từ nơi này đến nơi
khác. luôn gắn liền với việc cung cấp sản phẩm, các sảnGiao thông vận tải
phẩm sẽ không thể có sẵn đúng thời hạn khi nghèo nàn.điều kiện vận chuyển
Nếu không quản tốt , doanh nghiệp không thể vậnđội xe chở hàng
chuyển nguyên liệu kịp thời tới nhà máy trong tình trạng tốt. Thiếu sự quản
về vận tải cũng sẽ ngăn công ty phân phối sản phẩm của mình cho người tiêu
dùng khi nhu cầu bất ngờ tăng vọt. Điều này sẽ không chỉ làm giảm lợi nhuận
của công ty mà còn gây hại cho khả năng cạnh tranh của công ty đối với các đối
thủ trên thị trường.
Với các tình huống như thế này, sẽ rất tốt nếu doanh nghiệp sử dụng
phần mềm quảnvận chuyển và tối ưu hóa tuyến đường giao hàng. Bằng cách
sử dụng thuật toán tối ưu hóa tuyến đường, Abivin vRoute cung cấp giải pháp
quản vận chuyển tối ưu nhất giúp quá trình giao hàng tốt hơn đảm bảo
giao hàng đúng thời gian.
Câu 3: Phân loại về cấu trúc thị trường sản phẩm. Nêu đặc điểm của thị
trường doanh nghiệp, của các loại thị trường?
Trong phạm vi kinh tế học, thị trường là tổng thể các quan hệ kinh tế giữa
các chủ thể mua, chủ thể bán, xác định giá cả, lượng cung, lượng cầu các hàng
hóa dịch vụ; quá đó sẽ xác định việc phân bổ sử dụng tài nguyên khan
hiếm của xã hội.
*Phân loại thị trường
Khi xem xét trên góc độ cạnh tranh hay độc quyền, tức xem xét hành vi của
thị trường, các nhà kinh tế học phân loại thị trường như sau:
Thị trường cạnh tranh hoàn hảo
Thị trường độc quyền thuần túy
Thị trường cạnh tranh không hoàn hảo ( bao gồm cạnh tranh độc quyền và độc
quyền tập đoàn)
Khi phân loại thị trường các nhà kinh tế học thường chú ý tới những tiêu thức
cơ bản như:
– Số lượng người sản xuất
– Chủng loại sản phẩm
– Sức mạnh của hãng sản xuất
– Các trở ngại xâm nhập thị trường òa
– Hình thức cạnh tranh phi giá cả
2. Đặc điểm các loại thị trường:
2.1. Thị trường cạnh tranh hoàn hảo:
Thị trường cạnh tranh hoàn hảo dạng thị trường trên đó nhiều doanh
nghiệp cùng hoạt động, đồng thời mỗi doanh nghiệp không khả năng chi
phối hay ảnh hưởng đến giá cả thị trường.
Một thị trường được coi cạnh tranh hoàn hảo khi thỏa mãn các điều kiện
sau đây:
– Có vô số người mua và người bán độc lập với nhau.
Số người bán, mua được gọinhiều, khi những giao dịch bình thường của một
người mua hoặc một người bán không ảnh hưởng đến giá đó các giao
dịch được thực hiện (không có hiện tượng kiểm soát giá).
Toàn bộ sản phẩm đồng nhất, có thể thay thế cho nhau một cách hoàn hảo
Nếu điều này không được đảm bảo, một khi doanh nghiệp cung ứng ra thị
trường một loại sản phẩm khác biệt so với các đối thủ, ít nhiều vẫn thể
ảnh hưởng đến giá cả. Khi đó thị trường không còn thị trường cạnh tranh
hoàn hảo.
Tất cả người mua, người bán đều thông tin đầy đủ về thị trường (giá cả,
chất lượng hàng hóa,…)
Đây cũng là một điều kiện để buộc mỗi doanh nghiệp phải chấp nhận giá chung
trên thị trường.
Các doanh nghiệp không bị cản trở, được tự do ra nhập hoặc rút lui ra khỏi
ngành.
Thị trường cạnh tranh hoàn hảo ở mỗi thời điểm, mỗi người đều phải được tự do
trở thành người mua hoặc người bán, được tự do gia nhập thị trường được
trao đổi ở mức giá như những người trao đổi hiện hành. Tương tự, nó không đòi
hỏi trở ngại nào ngăn không cho một người nào đó thôi không người mua
hoặc người bán trong thị trường và vì thế rút ra khỏi thị trường.
Ngoài những điều kiện đặc trưng riêng biệt trên, thì thị trường cạnh tranh hoàn
hảo còn có các đặc điểm sau:
Đường cầu doanh nghiệp cạnh tranh hoàn hảo đối diện một đường nằm
ngang.
Khi doanh nghiệp cạnh tranh hoàn hảo người chấp nhận giá, một mặt
thể bán được tất cả hàng hóa mà mình sản xuất ra với mức giá hiện hành trên thị
trường, mặt khác sự tăng, giảm sản lượng của doanh nghiệp không ảnh hưởng
đến mức giá chung này. Cần phân biệt đường cầu thị trường với đường cầu
mỗi doanh nghiệp cụ thể phải đối mặt.
Tại mọi mức sản lượng, doanh thu biên doanh nghiệp thu được luông
không đổi và bằng mức giá (MR=P).
Trong phạm vi quy sản lượng của mình, việc một doanh nghiệp độc lập
tăng, giảm sản lượng không làm mức giá chung trên thị trường thay đổi; do đó,
doanh thu thu thêm được khi sản xuất bán ra thêm một đơn vị sản
phẩm chính bằng mức giá đó. Điều này đúng ở mọi điểm sản lượng.
2.1. Thị trường độc quyền thuần túy:
Thị trường độc quyền là loại thị trường mà ở đó có một doanh nghiệp hoạt động
cung ứng một hàng hóa duy nhất, về bản không mặt hàng thay thế. Ví
dụ, điện thoại sản phẩm độc quyền chức năng truyền đạt thông tin, điện
dùng để thắp sáng và xem vô tuyến…
Các nguyên nhân dẫn đến độc quyền:
– Bằng sáng chế (bản quyền): Một hãng có thể thu được vị trí độc quyền nhờ có
được bản quyền đối với sản phầm hoặc quy trình công nghệ nhất định.
Kiểm soát các yếu tố đầu vào: Một hang thể trở thành độc quyền khi
kiểm soát được toàn bộ nguồn cung cấp các nguyên liệu để chế tạo ra một sản
phẩm nào đó.
Quy định của Chính phủ: Chính phủ thể ủy thác cho một hãng nào đó
quyền được bán hoặc cung cấp những loại sản phẩm hoặc dịch vụ nhất định.
Độc quyền tự nhiên: Một số ngành sản xuất tính kinh tế của quy mô. Điều
đó nghĩa khi quy tăng lên thì chi phí bình quân sẽ giảm xuống. Tính
kinh tế của quy cho phép một hãng lớn lợi thế hơn các hãng nhỏ. do
vậy, tính kinh tế của quy sẽ “Hàng rào tự nhiên” đối với việc xâm nhập
thị trường.
Thị trường độc quyền có những đặc điểm sau:
Do doanh nghiệp độc quyền nhà sản xuất duy nhất nên đường cầu dốc
xuống mà doanh nghiệp đối diện cũng chính là đường cầu thị trường.
Trong điều kiện độc quyền để bán được số lượng hàng hóa nhiều hơn thì giá
bán sẽ giảm xuống theo quy luật cầu. lượng hàng hóa được bán thêm chỉ khi
giá hạ nên doanh thu cận biên luôn nhỏ hơn giá bán ở mọi sản lượng.
Do không đối thủ cạnh tranh, doanh nghiệp độc quyền thường quyền lực
thị trường lớn.
Để tìm kiếm thêm lợi nhuận, trong trường hợp người tiêu dùng khó khả
năng chuyển nhượng hàng hóa cho nhau, doanh nghiệp độc quyền thể áp
dụng chiến lược phân biệt đối xử về giá
2.3. Thị trường cạnh tranh không hoàn hảo:
a.Cạnh tranh độc quyền
Cạnh tranh độc quyền một thị trường trong đó nhiều hãng sản xuất các
hàng hóa dịch vụ, nhưng mỗi hãng chỉ khả năng kiểm soát một cách độc
lập đối với giá cả của họ
Thị trường cạnh tranh độc quyền có 2 đặc trưng then chốt
Các doanh nghiệp cạnh tranh với nhau bằng việc bán các sản phẩm phân
biệt(đã được làm khác đối với sản phẩm của các doanh nghiệp khác). Các sản
phẩm này thể thay thế cho nhau mức độ cao, nhưng không phải thay thế
hoàn hảo. Nói cách khác, độ co dãn của cầu theo giá chéo coa nhưng không
phải vô cùng.
sự tự do gia nhập rút khỏi thị trường. Doanh nghiệp mới gia nhập thị
trường tương đối dễ dàng và các doanh nghiệp ở trong ngành rời bỏ cũng tương
đối dễ dàng nếu các sản phẩm của họ trở nên không có lãi
Trong cạnh tranh độc quyền mỗi hãng sản xuất ra các sản phẩm khác nhau do
đó đường cầu đối với từng hãng đường nghiêng dốc xuống dưới về phía bên
phải. Nghĩa nếu hãng nâng giá lên đôi chút thì hãng sẽ mất đi một ít khách
hàng chứ không phải toàn bộ ngược lại nếu hãng giảm giá đi một chút thì
hãng sẽ thu được thêm một ít khách hàng chứ không phải là toàn bộ khách hàng
của đối thủ. Một hãng cạnh tranh độc quyền sẽ sản xuất mức sản lượng tai đó
chi phí cận biên bằng doanh thu cận biên.
.Độc quyền tập đoàn
Độc quyền tập đoàn một thị trường trong đó một vài hãng sản xuất toàn bộ
hay hầu hết mức cung của thị trường về một loại sản phẩm hoặc dịch vụ nào đó.
Đặc điểm:
Một đặc điểm của độc quyền tập đoàn là cản trở đối với xâm nhập và rút khỏi
thị trường là tương đối lớn (có thể là vốn, công nghệ sản xuất)
Sự phụ thuộc lẫn nhau của các hãng tham gia thị trường này đặc điểm nổi
bật nhất. Mỗi hãng này xây dựng chính sách đều chú ý đến hành vi của các đối
thủ. Vì thị trường độc quyền tập đoàn bao gồm một số ít hãng do đó mỗi sự thay
đổi về giá, sản lượng của một hãng sẽ tức khắc dẫn đến sự thay đổi của các hãng
đối thủ.
Trong thị trường độc quyền tập đoàn vài hãng chia nhau phần lớn lượng cung
của thị trường. Tuy nhiên tất cả mọi hãng đều muốn thu được nhiều lợi nhuận
hơn, chiếm được tỉ trọng lớn hơn chính điều đó dẫn đến sự gãy khúc của
đường cầu.
Câu 4: Nêu những trục trặc (khuyết tật) của thị trường?
1. Kinh tế thị trường:
Nền kinh tế thị trường nền kinh tế được vận hành theo chế thị
trường. Đó là nền kinh tế hàng hóa phát triển cao,đó mọi quan hệ sản xuất và
trao đổi đều được thông qua thị trường, chịu sự tác động, điều tiết của các quy
luật thị trường.
2. Khuyết tật của nền kinh tế thị trường:
2.1. Trong nền kinh tế thị trường luôn tiềm ẩn những rủi ro khủng hoảng:
Trong nền kinh tế thị trường, chế thị trường không phải lúc nào cũng
tạo ra sự cân đối về giá cả sản lượng hàng hóa, do đó, luôn tiềm ẩn những
nguy cơ khủng hoảng.
Khủng hoảng có thể diễn ra cục bộ đối với một số loại hàng hóa hay thậm
chí xảy ra trên phạm vi tổng thể nền kinh tế. Khủng hoảng có thể xảy ra với mọi
loại hình thị trường. Sự khó khăn đối với các nền kinh tế thị trường thể hiện
chỗ, các quốc gia rất khó dự báo chính xác thời điểm xảy ra khủng hoảng (như
dịch bệnh covid, chiến tranh giữa Nga và Ukraina,…) .
2.2. Nền kinh tế thị trường không thể khắc phục được xu hướng cạn kiệt
tài nguyên không thể tái tạo, suy thoái môi trường tự nhiên, môi trường xã hội:
Do các chủ thể sản xuất trong nền kinh tế thị trường luôn đặt mục tiêu tối
đa hóa lợi nhuận nên thể khai thác cạn kiệt nguồn tài nguyên và gây nên suy
thoái môi trường tự nhiên. Cũng vì động cơ lợi nhuận, các chủ thể sản xuất kinh
doanh thể vi phạm cả nguyên tắc đạo đức để chạy theo mục tiêu làm giàu
bằng cách thức phi pháp, p phny ra s xói mòn đạo đức kinh doanh, thm
chí cđạo đức xã hội.
Tự bản thân nền kinh tế thị trường thì không thể tự khắc phục được các
khuyết tật này. Cho nên, chính phủ cần can thiệp vào nền kinh tế bằng những
công cụ thể chế để hạn khuyết tật của kinh tế thị thị trường.
2.3. Nền kinh tế thị trường không tự khắc phục được hiện tượng phân hóa
sâu sắc trong xã hội:
Trong nền kinh tế thị trường, hiện tượng phân hóa hội về thu nhập, về
hội tất yếu. Các chủ thể kinh tế được tự do cạnh tranh với nhau, kết quả
của sự cạnh tranh gay gắt dẫn đến hình thành bộ phận người giàu những
người sở hữu tư liệu sản xuất hoặc chiếm lĩnh được thị trường và bộ phận người
nghèo là những người không có tư liệu sản xuất hoặc thất bại trong cạnh tranh.
dụ: việc cạnh tranh để tìm kiếm một hội công việc tốt, thu nhập
cao khả năng thăng tiến tất yếu. Kết quả của quá trình cạnh tranh này
thể sẽ phân hóa thành người lao động có thu nhập cao người lao động thu
nhập thấp.
Nếu sự phân hóa này trở nên thái quá, tức là khoảng cách chênh lệch giàu
nghèo ngày càng tăng thì thể dẫn đến căng thẳng về mặt hội, đấu tranh
giai cấp xuất hiện. vậy chính phủ phải can thiệp bằng nhiều công cụ, chính
sách điều hòa mâu thuẫn lợi ích kinh tế.
Câu 5: Vai trò của Chính phủ trong việc hạn chế, khắc phục những khuyết
tật của thị trường?
1. Bảo vệ lợi ích hợp pháp, tạo môi trường thuận lợi cho hoạt động tìm
kiếm lợi ích của các chủ thể kinh tế:
Các hoạt động king tế bao giờ cũng diễn ra trong một môi trường nhất
định. Môi trường càng thuận lợi thì hoạt động kinh tế càng hiệu quả không
ngừng mở rộng. Môi trường vĩ mô không tự hình thành, mà phải được nhà nước
tạo lập. Tạo lập môi trường thuận lợi cho các hoạt động kinh tế đòi hỏi phải xây
dựng được môi trường pháp luật thông thoáng, bảo vệ lợi ích chính đáng của
các chủ thể kinh tế trong ngoài nước, đặc biệt lợi ích đất nước. Trong bối
cảnh hội nhập quốc tế, hệ thống pháp luật của mỗiquốc gia phải tuân thủ các
thông lệ quốc tế. Tạo lập môi trường thuận lợi cho các hoạt động kinh tế tất yếu
phải đầu tư xây dựng kết cấu hạ tầng của nền kinh tế. Tạo lập môi trường thuận
lợi cho các hoạt động kinh tế còn là tạo lập môi trường văn hóa phù hợp với yêu
cầu phát triển kinh tế thị trường.
2. Điều hòa lợi ích giữa cá nhân – doanh nghiệp – xã hội:
Do mâu thuẫn về lợi ích kinh tế giữa các chủ thể tác động của các quy
luật thị trường, sự phân hóa về thu nhập giữa các tầng lớp xã hội làm cho lợi ích
kinh tế của một bộ phận dân gặp khó khăn. vậy, nhà nước cần chính
sách phân phối thu nhập nhằm bảo đảm hài hòa các lợi ích kinh tế.
Chính phủ cần phải thừa nhận sự chênh lệch về mức thu nhập giữa các
tập thể, các nhân khách quan; đồng thời phải ngăn chặn sự chênh lệch thu
nhập quá đáng. Sự phân hóa xã hội thái quá có thể dẫn đến căng thẳng, thậm chí
xung đột hội. Đó những vấn đề chính sách phân phối thu nhập phải
tính đến
3. Kiểm soát, ngăn ngừa các quan hệ lợi ích ảnh hưởng tiêu cực đối
với sự phát triển xã hội:
Nhà nước phải giúp người dân đạt được mức sống tối thiểu. Để làm được
điều này, nhà nước cần thực hiện hiệu quả các chính sách xóa đói, giảm
nghèo, tạo hội tiếp cận các nguồn lực phát triển, hưởng thụ các dịch vụ
hội bản. Tuyên truyền, giáo dục để nâng cao nhận thức, hiểu biết về phân
phối thu nhập cho các chủ thể kinh tế - hội giải pháp cần thiết để loại bỏ
những vấn đề về thu nhập.
Các hot đng trái pháp lut gia tăng sẽ càng làm tổn hại lợi ích kinh tế của
các chủ thlàm ăn chân chính. Nhà nưc cn nghiêm khc cm các hình thức tạo ra
thu nhập bất hợp pháp, mi vi phạm phi đưc nghm túc xét xử theo quy đnh ca
pháp luật.

Preview text:

ĐỀ CƯƠNG MÔN KINH TẾ VI MÔ
Câu 1: Trình bày về nội dung, các yếu tố hình thành cầu?
Cầu (trong tiếng anh là Demand) là khối lượng hàng hóa, dịch vụ mà
người tiêu dùng sẵn lòng mua trong một khoảng thời gian nhất định tương ứng
với giá cả và thu nhập xác định.
Cầu gồm có cầu cá nhân và cầu thị trường. Cầu cá nhân là số lượng hàng
hóa mà người tiêu dùng muốn mua ứng với mức giá nhất định, cầu thị trường là
cầu của toàn thể các cá nhân đối với một mặt hàng hóa trong nền kinh tế vĩ mô.
Quy luật cầu: Khi giá hàng hóa và dịch vụ tăng lên (trong điều kiện các
yếu tố khác không đổi) thì lượng cầu mặt hàng đó sẽ có xu hướng giảm xuống.
Có rất nhiều yếu tố trong nền kinh tế có thể ảnh hưởng đến cầu. Vậy
những yếu tố nào sau đây ảnh hưởng đến cầu? Giá cả hàng hóa và dịch vụ, thu
nhập của người tiêu dùng, dân số, chính sách của Chính phủ, kỳ vọng của thị
trường hay tâm lý, tập quán và thị hiếu của người tiêu dùng.
1. Thu nhập của người tiêu dùng
Thu nhập của người tiêu dùng là một trong những yếu tố ảnh hưởng đến
cầu quan trọng nhất trong một khoảng thời gian nào đó. Bởi vì thu nhập tỉ lệ
thuận với nhu cầu tiêu dùng và khả năng chi trả, mua sắm của người tiêu dùng.
Khi thu nhập tăng lên thì nhu cầu mua sắm tăng, khi thu nhập giảm thì ngược
lại, nhu cầu hàng hóa sẽ giảm.
2. Giá cả hàng hóa và dịch vụ
Giá cả hàng hóa và dịch vụ là yếu tố quan trọng quyết định đến chi tiêu
của người tiêu dùng, do vậy, nó sẽ ảnh hưởng mạnh tới cầu hàng hóa. Khi giá
một mặt hàng nào đó tăng, rất có thể cầu sẽ giảm. Còn nếu giá một mặt hàng
tăng làm tăng cầu của mặt hàng khác, hàng hóa này gọi là hàng hóa bổ sung.
Hoặc khi giá một mặt hàng làm giảm lượng cầu của loại hàng hóa khác đó gọi là hàng hóa thay thế.
3. Chính sách của Chính phủ
Chính phủ là chủ thể tham gia vào nền kinh tế nhằm sử dụng các công cụ
tài chính kinh tế để điều tiết nền kinh tế vĩ mô. Các chính sách của chính phủ
như thuế giá trị gia tăng, thuế thu nhập sẽ ảnh hưởng trực tiếp đến thu nhập và
giá cả hàng hóa, từ đó sẽ ảnh hưởng gián tiếp tới cầu. 4. Kỳ vọng thị trường
Kỳ vọng của người tiêu dùng về giá cả hàng hóa trong tương lai cũng là
một trong những yếu tố ảnh hưởng đến cung. Nếu giá cả một mặt hàng nào đó
được dự kiến là sẽ giảm trong tương lai gần, có thể người tiêu dùng sẽ ít mua
loại hàng đó hơn. Hoặc nếu giá một loại hàng hóa nào đó dự kiến tăng trong
thời gian tới, người tiêu dùng sẽ có xu hướng mua nhiều loại hàng đó hơn. Giả
sử dự kiến tháng tới giá tăng sẽ tăng lên, thì người dân sẽ ùn ùn đi mua xăng, khiến cho cung tăng lên.
5. Tâm lý, tập quán và thị hiếu của người tiêu dùng
Tâm lý thích hàng hóa rẻ, đẹp, ưa chuộng các loại hàng hóa nào đó ảnh
hưởng tới quyết định tiêu dùng, do vậy, nó sẽ ảnh hưởng trực tiếp tới cầu.
Tâm lý ưa thích một loại hàng nào đó sẽ khiến người tiêu dùng có hàng
động ưu tiên mua loại hàng đó hơn các mặt hàng khác dù không khác nhau về
bao bì, chất lượng và nhà cung cấp sản phẩm.
Đánh giá một cách khách quan, theo những nghiên cứu của lĩnh vực tâm
lý học thì thói quen, thị hiếu của người tiêu dùng là vô cùng phức tạp và khó
hiểu. Điều này là một trong những vấn đề nan giải, gây khó khăn cho các nhà
kinh tế học khi phân tích sự ảnh hưởng của nó tới cầu. 6. Dân số
Dân số chính là lực lượng tiêu thụ các sản phẩm, hàng hóa và dịch vụ.
Nhu cầu hàng hóa trong nền kinh tế bị ảnh hưởng trực tiếp khi nhu cầu cá nhân
tăng lên hoặc người tiêu dùng có khả năng tài chính để chi trả nhiều mức giá
khác nhau cho cùng một mặt hàng.
Dân số càng đông, người tiêu dùng hàng hóa càng cao, nhu cầu của thị
trường ngày càng phát triển, số lượng người mua hàng tăng và cầu hàng hóa
cũng có chiều hướng tăng theo.
Câu 2: Trình bày nội dung, các yếu tố hình thành cung?
Cung (tiếng anh: Supply) là biểu thị lượng hàng hóa hay dịch vụ mà
người bán có khả năng bán và sẵn sàng bán ở các mức giá khác nhau trong một
khoảng thời gian nhất định.
Trong kinh tế học, nguồn cung là một khái niệm cơ bản mô tả tổng số
lượng hàng hóa hoặc dịch vụ nhất định có sẵn cho người tiêu dùng. Người tiêu
dùng thể hiện nhu cầu đối với một loại hàng hóa hoặc dịch vụ nào đó sau đó
làm cạn kiệt nguồn cung sẵn có, điều này thường sẽ dẫn đến sự gia tăng trong nhu cầu.
Nguồn cung có thể bị ảnh hưởng bởi các yếu tố quyết định nguồn cung.
Nhìn chung, việc cung cấp một sản phẩm phụ thuộc vào giá của nó và các biến
khác như chi phí sản xuất. 1. Giá bán
Giá có thể được hiểu là những gì người tiêu dùng sẵn sàng trả để nhận
được hàng hóa hoặc dịch vụ. Đây là yếu tố chính ảnh hưởng đến nguồn cung
cấp sản phẩm. Trong nguyên lý cung cầu, khi giá của sản phẩm tăng lên, nguồn
cung của sản phẩm cũng tăng và ngược lại. Đây có thể hiểu là sự dịch chuyển
về giá. Trái lại, khi có bất kỳ dấu hiệu nào về việc tăng giá của sản phẩm trong
tương lai, thì nguồn cung trên thị trường ở thời điểm hiện tại sẽ giảm để thu
được nhiều lợi nhuận hơn sau này. Ngược lại, nếu giá bán dự kiến giảm, nguồn
cung trên thị trường hiện tại sẽ tăng mạnh.
Bên cạnh đó, giá bán của hàng hóa thay thế và hàng hóa bổ sung cũng
ảnh hưởng đến nguồn cung cấp sản phẩm. Ví dụ, nếu giá lúa mì tăng, nông dân
sẽ có xu hướng trồng nhiều lúa mì hơn lúa gạo. Điều này có thể làm giảm nguồn
cung gạo trên thị trường. Nhìn chung, giá cả là yếu tố ảnh hưởng lớn nhất đến sản phẩm. 2. Chi phí sản xuất
Việc cung cấp sản phẩm và chi phí sản xuất có mối quan hệ trái ngược
với nhau. Đối với các công ty, nếu chi phí sản xuất tăng, việc cung cấp sản
phẩm sẽ phải thu hẹp lại để tiết kiệm tài nguyên. Ví dụ, trong trường hợp chi phí
nhân công cao, điều kiện tự nhiên thuận lợi, chi phí nguyên liệu, thuế, chi phí
vận chuyển, chi phí sản xuất tăng lên, các nhà quản lý sẽ quyết định cung cấp
một lượng sản phẩm thấp hơn cho thị trường hoặc dự trữ sản phẩm cho đến khi
giá thị trường ổn định. 3. Công nghệ
Sự thay đổi trong nguồn cung cũng có thể là nhờ những tiến bộ trong
công nghệ giúp giảm chi phí sản xuất. Sự phát triển về khoa học công nghệ có
thể cải thiện hiệu quả sản xuất và giúp cắt giảm chi phí sản xuất. Máy tính, tivi
và thiết bị chụp ảnh là những ví dụ điển hình về tác động của công nghệ tới
đường cung. Một chiếc máy tính bàn kích thước lớn từng có giá vài nghìn đô
giờ đây có thể được mua với giá vài trăm đô với sự cải tiến về lưu trữ và bộ xử
lý. Trong trường hợp này, nguồn cung cho máy tính trong thời đại ngày nay sẽ
cao hơn nhiều so với trước đây.
4. Chính sách của Chính phủ
Với vai trò điều tiết và bảo vệ nền kinh tế, chính phủ có ảnh hưởng lớn
đến nguồn cung cấp sản phẩm. Thuế càng thấp, nguồn cung của sản phẩm đó
càng cao. Mặt khác, nếu các quy định nghiêm ngặt được đề ra và thuế tiêu thụ
đặc biệt được thêm vào, nguồn cung cấp sản phẩm sẽ giảm.
5. Điều kiện vận chuyển
Chuỗi cung ứng phụ thuộc nhiều vào việc quản lý nguồn cung và
logistics hiệu quả để vận chuyển nguyên liệu và thành phẩm từ nơi này đến nơi
khác. Giao thông vận tải luôn gắn liền với việc cung cấp sản phẩm, vì các sản
phẩm sẽ không thể có sẵn đúng thời hạn khi điều kiện vận chuyển nghèo nàn.
Nếu không quản lý tốt đội xe chở hàng, doanh nghiệp không thể vận
chuyển nguyên liệu kịp thời tới nhà máy trong tình trạng tốt. Thiếu sự quản lý
về vận tải cũng sẽ ngăn công ty phân phối sản phẩm của mình cho người tiêu
dùng khi nhu cầu bất ngờ tăng vọt. Điều này sẽ không chỉ làm giảm lợi nhuận
của công ty mà còn gây hại cho khả năng cạnh tranh của công ty đối với các đối thủ trên thị trường.
Với các tình huống như thế này, sẽ là rất tốt nếu doanh nghiệp sử dụng
phần mềm quản lý vận chuyển và tối ưu hóa tuyến đường giao hàng. Bằng cách
sử dụng thuật toán tối ưu hóa tuyến đường, Abivin vRoute cung cấp giải pháp
quản lý vận chuyển tối ưu nhất giúp quá trình giao hàng tốt hơn và đảm bảo giao hàng đúng thời gian.
Câu 3: Phân loại về cấu trúc thị trường sản phẩm. Nêu đặc điểm của thị
trường doanh nghiệp, của các loại thị trường?
Trong phạm vi kinh tế học, thị trường là tổng thể các quan hệ kinh tế giữa
các chủ thể mua, chủ thể bán, xác định giá cả, lượng cung, lượng cầu các hàng
hóa và dịch vụ; quá đó sẽ xác định việc phân bổ và sử dụng tài nguyên khan hiếm của xã hội. *Phân loại thị trường
Khi xem xét trên góc độ cạnh tranh hay độc quyền, tức là xem xét hành vi của
thị trường, các nhà kinh tế học phân loại thị trường như sau:
– Thị trường cạnh tranh hoàn hảo
– Thị trường độc quyền thuần túy
– Thị trường cạnh tranh không hoàn hảo ( bao gồm cạnh tranh độc quyền và độc quyền tập đoàn)
Khi phân loại thị trường các nhà kinh tế học thường chú ý tới những tiêu thức cơ bản như:
– Số lượng người sản xuất
– Chủng loại sản phẩm
– Sức mạnh của hãng sản xuất
– Các trở ngại xâm nhập thị trường òa
– Hình thức cạnh tranh phi giá cả
2. Đặc điểm các loại thị trường:
2.1. Thị trường cạnh tranh hoàn hảo:
Thị trường cạnh tranh hoàn hảo là dạng thị trường mà trên đó nhiều doanh
nghiệp cùng hoạt động, đồng thời mỗi doanh nghiệp không có khả năng chi
phối hay ảnh hưởng đến giá cả thị trường.
Một thị trường được coi là cạnh tranh hoàn hảo khi nó thỏa mãn các điều kiện sau đây:
– Có vô số người mua và người bán độc lập với nhau.
Số người bán, mua được gọi là nhiều, khi những giao dịch bình thường của một
người mua hoặc một người bán không ảnh hưởng gì đến giá mà ở đó các giao
dịch được thực hiện (không có hiện tượng kiểm soát giá).
– Toàn bộ sản phẩm đồng nhất, có thể thay thế cho nhau một cách hoàn hảo
Nếu điều này không được đảm bảo, một khi doanh nghiệp cung ứng ra thị
trường một loại sản phẩm khác biệt so với các đối thủ, nó ít nhiều vẫn có thể
ảnh hưởng đến giá cả. Khi đó thị trường không còn là thị trường cạnh tranh hoàn hảo.
– Tất cả người mua, người bán đều có thông tin đầy đủ về thị trường (giá cả,
chất lượng hàng hóa,…)
Đây cũng là một điều kiện để buộc mỗi doanh nghiệp phải chấp nhận giá chung trên thị trường.
– Các doanh nghiệp không bị cản trở, được tự do ra nhập hoặc rút lui ra khỏi ngành.
Thị trường cạnh tranh hoàn hảo ở mỗi thời điểm, mỗi người đều phải được tự do
trở thành người mua hoặc người bán, được tự do gia nhập thị trường và được
trao đổi ở mức giá như những người trao đổi hiện hành. Tương tự, nó không đòi
hỏi có trở ngại nào ngăn không cho một người nào đó thôi không là người mua
hoặc người bán trong thị trường và vì thế rút ra khỏi thị trường.
Ngoài những điều kiện đặc trưng riêng biệt trên, thì thị trường cạnh tranh hoàn
hảo còn có các đặc điểm sau:
– Đường cầu mà doanh nghiệp cạnh tranh hoàn hảo đối diện là một đường nằm ngang.
Khi doanh nghiệp cạnh tranh hoàn hảo là người chấp nhận giá, một mặt nó có
thể bán được tất cả hàng hóa mà mình sản xuất ra với mức giá hiện hành trên thị
trường, mặt khác sự tăng, giảm sản lượng của doanh nghiệp không ảnh hưởng
đến mức giá chung này. Cần phân biệt đường cầu thị trường với đường cầu mà
mỗi doanh nghiệp cụ thể phải đối mặt.
– Tại mọi mức sản lượng, doanh thu biên mà doanh nghiệp thu được luông
không đổi và bằng mức giá (MR=P).
Trong phạm vi quy mô sản lượng của mình, việc một doanh nghiệp độc lập
tăng, giảm sản lượng không làm mức giá chung trên thị trường thay đổi; do đó,
doanh thu mà nó thu thêm được khi sản xuất và bán ra thêm một đơn vị sản
phẩm chính bằng mức giá đó. Điều này đúng ở mọi điểm sản lượng.
2.1. Thị trường độc quyền thuần túy:
Thị trường độc quyền là loại thị trường mà ở đó có một doanh nghiệp hoạt động
và cung ứng một hàng hóa duy nhất, về cơ bản không có mặt hàng thay thế. Ví
dụ, điện thoại là sản phẩm độc quyền có chức năng truyền đạt thông tin, điện
dùng để thắp sáng và xem vô tuyến…
Các nguyên nhân dẫn đến độc quyền:
– Bằng sáng chế (bản quyền): Một hãng có thể thu được vị trí độc quyền nhờ có
được bản quyền đối với sản phầm hoặc quy trình công nghệ nhất định.
– Kiểm soát các yếu tố đầu vào: Một hang có thể trở thành độc quyền khi nó
kiểm soát được toàn bộ nguồn cung cấp các nguyên liệu để chế tạo ra một sản phẩm nào đó.
– Quy định của Chính phủ: Chính phủ có thể ủy thác cho một hãng nào đó
quyền được bán hoặc cung cấp những loại sản phẩm hoặc dịch vụ nhất định.
– Độc quyền tự nhiên: Một số ngành sản xuất có tính kinh tế của quy mô. Điều
đó có nghĩa là khi quy mô tăng lên thì chi phí bình quân sẽ giảm xuống. Tính
kinh tế của quy mô cho phép một hãng lớn có lợi thế hơn các hãng nhỏ. Và do
vậy, tính kinh tế của quy mô sẽ là “Hàng rào tự nhiên” đối với việc xâm nhập thị trường.
Thị trường độc quyền có những đặc điểm sau:
– Do doanh nghiệp độc quyền là nhà sản xuất duy nhất nên đường cầu dốc
xuống mà doanh nghiệp đối diện cũng chính là đường cầu thị trường.
– Trong điều kiện độc quyền để bán được số lượng hàng hóa nhiều hơn thì giá
bán sẽ giảm xuống theo quy luật cầu. Vì lượng hàng hóa được bán thêm chỉ khi
giá hạ nên doanh thu cận biên luôn nhỏ hơn giá bán ở mọi sản lượng.
Do không có đối thủ cạnh tranh, doanh nghiệp độc quyền thường có quyền lực thị trường lớn.
– Để tìm kiếm thêm lợi nhuận, trong trường hợp người tiêu dùng khó có khả
năng chuyển nhượng hàng hóa cho nhau, doanh nghiệp độc quyền có thể áp
dụng chiến lược phân biệt đối xử về giá
2.3. Thị trường cạnh tranh không hoàn hảo: a.Cạnh tranh độc quyền
Cạnh tranh độc quyền là một thị trường trong đó có nhiều hãng sản xuất các
hàng hóa và dịch vụ, nhưng mỗi hãng chỉ có khả năng kiểm soát một cách độc
lập đối với giá cả của họ
Thị trường cạnh tranh độc quyền có 2 đặc trưng then chốt
– Các doanh nghiệp cạnh tranh với nhau bằng việc bán các sản phẩm phân
biệt(đã được làm khác đối với sản phẩm của các doanh nghiệp khác). Các sản
phẩm này có thể thay thế cho nhau ở mức độ cao, nhưng không phải thay thế
hoàn hảo. Nói cách khác, độ co dãn của cầu theo giá chéo là coa nhưng không phải vô cùng.
– Có sự tự do gia nhập và rút khỏi thị trường. Doanh nghiệp mới gia nhập thị
trường tương đối dễ dàng và các doanh nghiệp ở trong ngành rời bỏ cũng tương
đối dễ dàng nếu các sản phẩm của họ trở nên không có lãi
– Trong cạnh tranh độc quyền mỗi hãng sản xuất ra các sản phẩm khác nhau do
đó đường cầu đối với từng hãng là đường nghiêng dốc xuống dưới về phía bên
phải. Nghĩa là nếu hãng nâng giá lên đôi chút thì hãng sẽ mất đi một ít khách
hàng chứ không phải toàn bộ và ngược lại nếu hãng giảm giá đi một chút thì
hãng sẽ thu được thêm một ít khách hàng chứ không phải là toàn bộ khách hàng
của đối thủ. Một hãng cạnh tranh độc quyền sẽ sản xuất mức sản lượng tai đó
chi phí cận biên bằng doanh thu cận biên. .Độc quyền tập đoàn
Độc quyền tập đoàn là một thị trường trong đó một vài hãng sản xuất toàn bộ
hay hầu hết mức cung của thị trường về một loại sản phẩm hoặc dịch vụ nào đó. Đặc điểm:
– Một đặc điểm của độc quyền tập đoàn là cản trở đối với xâm nhập và rút khỏi
thị trường là tương đối lớn (có thể là vốn, công nghệ sản xuất)
– Sự phụ thuộc lẫn nhau của các hãng tham gia thị trường này là đặc điểm nổi
bật nhất. Mỗi hãng này xây dựng chính sách đều chú ý đến hành vi của các đối
thủ. Vì thị trường độc quyền tập đoàn bao gồm một số ít hãng do đó mỗi sự thay
đổi về giá, sản lượng của một hãng sẽ tức khắc dẫn đến sự thay đổi của các hãng đối thủ.
– Trong thị trường độc quyền tập đoàn vài hãng chia nhau phần lớn lượng cung
của thị trường. Tuy nhiên tất cả mọi hãng đều muốn thu được nhiều lợi nhuận
hơn, chiếm được tỉ trọng lớn hơn và chính điều đó dẫn đến sự gãy khúc của đường cầu.
Câu 4: Nêu những trục trặc (khuyết tật) của thị trường? 1. Kinh tế thị trường:
Nền kinh tế thị trường là nền kinh tế được vận hành theo cơ chế thị
trường. Đó là nền kinh tế hàng hóa phát triển cao, ở đó mọi quan hệ sản xuất và
trao đổi đều được thông qua thị trường, chịu sự tác động, điều tiết của các quy luật thị trường.
2. Khuyết tật của nền kinh tế thị trường:
2.1. Trong nền kinh tế thị trường luôn tiềm ẩn những rủi ro khủng hoảng:
Trong nền kinh tế thị trường, cơ chế thị trường không phải lúc nào cũng
tạo ra sự cân đối về giá cả và sản lượng hàng hóa, do đó, luôn tiềm ẩn những nguy cơ khủng hoảng.
Khủng hoảng có thể diễn ra cục bộ đối với một số loại hàng hóa hay thậm
chí xảy ra trên phạm vi tổng thể nền kinh tế. Khủng hoảng có thể xảy ra với mọi
loại hình thị trường. Sự khó khăn đối với các nền kinh tế thị trường thể hiện ở
chỗ, các quốc gia rất khó dự báo chính xác thời điểm xảy ra khủng hoảng (như
dịch bệnh covid, chiến tranh giữa Nga và Ukraina,…) .
2.2. Nền kinh tế thị trường không thể khắc phục được xu hướng cạn kiệt
tài nguyên không thể tái tạo, suy thoái môi trường tự nhiên, môi trường xã hội:
Do các chủ thể sản xuất trong nền kinh tế thị trường luôn đặt mục tiêu tối
đa hóa lợi nhuận nên có thể khai thác cạn kiệt nguồn tài nguyên và gây nên suy
thoái môi trường tự nhiên. Cũng vì động cơ lợi nhuận, các chủ thể sản xuất kinh
doanh có thể vi phạm cả nguyên tắc đạo đức để chạy theo mục tiêu làm giàu
bằng cách thức phi pháp, góp phần gây ra sự xói mòn đạo đức kinh doanh, thậm
chí cả đạo đức xã hội.
Tự bản thân nền kinh tế thị trường thì không thể tự khắc phục được các
khuyết tật này. Cho nên, chính phủ cần can thiệp vào nền kinh tế bằng những
công cụ thể chế để hạn khuyết tật của kinh tế thị thị trường.
2.3. Nền kinh tế thị trường không tự khắc phục được hiện tượng phân hóa sâu sắc trong xã hội:
Trong nền kinh tế thị trường, hiện tượng phân hóa xã hội về thu nhập, về
cơ hội là tất yếu. Các chủ thể kinh tế được tự do cạnh tranh với nhau, kết quả
của sự cạnh tranh gay gắt dẫn đến hình thành bộ phận người giàu có là những
người sở hữu tư liệu sản xuất hoặc chiếm lĩnh được thị trường và bộ phận người
nghèo là những người không có tư liệu sản xuất hoặc thất bại trong cạnh tranh.
Ví dụ: việc cạnh tranh để tìm kiếm một cơ hội công việc tốt, có thu nhập
cao và khả năng thăng tiến là tất yếu. Kết quả của quá trình cạnh tranh này có
thể sẽ phân hóa thành người lao động có thu nhập cao và người lao động có thu nhập thấp.
Nếu sự phân hóa này trở nên thái quá, tức là khoảng cách chênh lệch giàu
nghèo ngày càng tăng thì có thể dẫn đến căng thẳng về mặt xã hội, đấu tranh
giai cấp xuất hiện. Vì vậy chính phủ phải can thiệp bằng nhiều công cụ, chính
sách điều hòa mâu thuẫn lợi ích kinh tế.
Câu 5: Vai trò của Chính phủ trong việc hạn chế, khắc phục những khuyết tật của thị trường?
1. Bảo vệ lợi ích hợp pháp, tạo môi trường thuận lợi cho hoạt động tìm
kiếm lợi ích của các chủ thể kinh tế:
Các hoạt động king tế bao giờ cũng diễn ra trong một môi trường nhất
định. Môi trường càng thuận lợi thì hoạt động kinh tế càng hiệu quả và không
ngừng mở rộng. Môi trường vĩ mô không tự hình thành, mà phải được nhà nước
tạo lập. Tạo lập môi trường thuận lợi cho các hoạt động kinh tế đòi hỏi phải xây
dựng được môi trường pháp luật thông thoáng, bảo vệ lợi ích chính đáng của
các chủ thể kinh tế trong và ngoài nước, đặc biệt là lợi ích đất nước. Trong bối
cảnh hội nhập quốc tế, hệ thống pháp luật của mỗiquốc gia phải tuân thủ các
thông lệ quốc tế. Tạo lập môi trường thuận lợi cho các hoạt động kinh tế tất yếu
phải đầu tư xây dựng kết cấu hạ tầng của nền kinh tế. Tạo lập môi trường thuận
lợi cho các hoạt động kinh tế còn là tạo lập môi trường văn hóa phù hợp với yêu
cầu phát triển kinh tế thị trường.
2. Điều hòa lợi ích giữa cá nhân – doanh nghiệp – xã hội:
Do mâu thuẫn về lợi ích kinh tế giữa các chủ thể và tác động của các quy
luật thị trường, sự phân hóa về thu nhập giữa các tầng lớp xã hội làm cho lợi ích
kinh tế của một bộ phận dân cư gặp khó khăn. Vì vậy, nhà nước cần có chính
sách phân phối thu nhập nhằm bảo đảm hài hòa các lợi ích kinh tế.
Chính phủ cần phải thừa nhận sự chênh lệch về mức thu nhập giữa các
tập thể, các cá nhân là khách quan; đồng thời phải ngăn chặn sự chênh lệch thu
nhập quá đáng. Sự phân hóa xã hội thái quá có thể dẫn đến căng thẳng, thậm chí
xung đột xã hội. Đó là những vấn đề mà chính sách phân phối thu nhập phải tính đến
3. Kiểm soát, ngăn ngừa các quan hệ lợi ích có ảnh hưởng tiêu cực đối
với sự phát triển xã hội:
Nhà nước phải giúp người dân đạt được mức sống tối thiểu. Để làm được
điều này, nhà nước cần thực hiện có hiệu quả các chính sách xóa đói, giảm
nghèo, tạo cơ hội tiếp cận các nguồn lực phát triển, hưởng thụ các dịch vụ xã
hội cơ bản. Tuyên truyền, giáo dục để nâng cao nhận thức, hiểu biết về phân
phối thu nhập cho các chủ thể kinh tế - xã hội là giải pháp cần thiết để loại bỏ
những vấn đề về thu nhập.
Các hoạt động trái pháp luật gia tăng sẽ càng làm tổn hại lợi ích kinh tế của
các chủ thể làm ăn chân chính. Nhà nước cần nghiêm khắc cấm các hình thức tạo ra
thu nhập bất hợp pháp, mọi vi phạm phải được nghiêm túc xét xử theo quy định của pháp luật.