



















Preview text:
HỆ THỐNG PHÁP LUẬT – Ý THỨC PHÁP LUẬT - PHÁP CHẾ XHCN I. Hệ thống pháp luật
1. Khái niệm hệ thống pháp luật
Do nhu cầu quản lý xã hội, nhà nước ngày càng ban hành một khối lượng rất
lớn các văn bản pháp luật. Các văn bản pháp luật đó chứa đựng các quy quy
phạm pháp luật là những quy tắc xử sự có tính bắt buộc chung để điều chỉnh
quan hệ xã hội cụ thể nhưng chúng không tồn tại một cách rời rạc mà có mối
liên hệ hữu cơ với nhau, hợp thành một chỉnh thể thống nhất - một hệ thống pháp luật.
Để làm cơ sở cho việc nhận thức đúng đắn hệ thống pháp luật, trước hết cần
phải hiểu “hệ thống” là gì?
Hệ thống được hiểu là một chỉnh thể bao gồm những bộ phận, yếu tố có liên
quan mật thiết với nhau được sắp xếp theo một trật tự khách quan và khoa học.
Khi xem xét một hệ thống nào đó, một mặt phải xét đến nội dung cấu trúc bên
trong của hệ thống đó, để xác định các bộ phận, các yếu tố và những mối liên hệ
có tính chất quyết định sự tồn tại và phát triển của nó. Mặt khác, cũng phải đề
cập đến hình thức biểu hiện bên ngoài, coi đó là hai mặt của một thể thống nhất,
dù có khác biệt nhưng không thể tách rời nhau. Đây là cơ sở cho việc tìm hiểu hệ thống pháp luật.
Theo cách hiểu này, thì hệ thống pháp luật là tổng thể các quy phạm pháp luật
có mối liên hệ nội tại thống nhất với nhau, được phân định thành các chế định
pháp luật, các ngành luật và được thể hiện trong các văn bản do nhà nước ban
hành theo những trình tự, thủ tục và hình thức nhất định.
Hệ thống pháp luật là một khái niệm chung bao gồm hai mặt trong một chỉnh
thể thống nhất là hệ thống cấu trúc (bên trong) của pháp luật và hệ thống văn
bản quy phạm pháp luật.
1.1. Hệ thống cấu trúc của pháp luật
Hệ thống cấu trúc của pháp luật là tổng thể các quy phạm pháp luật có mối liên
hệ nội tại và thống nhất với nhau, được phân thành các chế định pháp luật và các ngành luật.
Hệ thống cấu trúc có ba thành tố cơ bản ở ba cấp độ khác nhau là quy phạm
pháp luật, chế định pháp luật và ngành luật.
1.1.1. Quy phạm pháp luật
Quy phạm pháp luật là tế bào, bộ phận cấu thành nhỏ nhất của hệ thống pháp
luật. Tất cả các bộ phận cấu thành khác của hệ thống pháp luật đều được hình
thành do sự kết hợp của những quy phạm pháp luật. Mỗi quy phạm pháp pháp
luật thực hiện vai trò điều chỉnh đối với một quan hệ xã hội nhất định. Sự khác
nhau của các quy phạm pháp luật bắt nguồn từ sự khác nhau của những quan hệ
xã hội mà chúng điều chỉnh. Quy phạm pháp luật vừa mang tính khái quát vừa
mang tính cụ thể. Tính khái quát của nó thể hiện ở chỗ quy phạm pháp luật là
các quy tắc xử sự chung, dùng để áp dụng trên một phạm vi rộng lớn trong một
thời gian dài. Tính cụ thể thể hiện ở chỗ đó là các mô hình hành vi đã được
chuẩn mực hoá để điều chỉnh các quan hệ xã hội cụ thể.
1.1.2. Chế định pháp luật
Chế định pháp luật là bộ phận ở cấp độ thứ hai của hệ thống pháp luật, bao gồm
một nhóm các quy phạm pháp luật có những đặc điểm chung giống nhau điều
chỉnh một nhóm các quan hệ xã hội cùng loại có mối quan hệ chặt chẽ với nhau.
Ví dụ, trong pháp luật dân sự, chế định sở hữu bao gồm một nhóm các quy
phạm pháp luật điều chỉnh các quan hệ xã hội có liên quan chặt chẽ với nhau:
quan hệ chiếm hữu, quan hệ sử dụng, quan hệ định đoạt.. 1.1.3. Ngành luật
Ngành luật bao gồm hệ thống quy phạm pháp luật có đặc tính chung để điều
chỉnh các quan hệ cùng loại trong một lĩnh vực nhất định của đời sống xã hội.
Nói chung, để xác định được tính chất, nội dung và phạm vi của mỗi ngành luật
phải dựa trên hai căn cứ là đối tượng điều chỉnh (những quan hệ xã hội có đặc
điểm cùng loại cần điều chỉnh) và phương pháp điều chỉnh (cách thức tác động vào các quan hệ đó).
1.2. Những căn cứ để xác định ngành luật
Mỗi quốc gia có thể chia hệ thống pháp luật một cách khác nhau. Nhưng nhìn
chung, căn cứ để phân chia ngành luật vẫn là sự khác biệt của các lĩnh vực quan
hệ xã hội mà tổng thể quy phạm pháp luật điều chỉnh.
Khoa học pháp lý XHCN dựa trên hai căn cứ khác để phân chia các quy phạm
pháp luật thành các ngành luật khác nhau, đó là đối tượng điều chỉnh và phương pháp điều chỉnh.
- Đối tượng điều chỉnh của pháp luật là những quan hệ xã hội mà pháp luật
hướng tới, tác động tới. Tính chất, nội dung, ý nghĩa của các quan hệ xã hội mà
các quy phạm pháp luật điều chỉnh (đối tượng điều chỉnh) là căn cứ có ý nghĩa
quan trọng nhất trong việc phân chia các quy phạm đó thành các hệ thống nhỏ
hơn có tên gọi là ngành luật. Trên thực tế, chúng ta thấy mỗi ngành luật chỉ điều
chỉnh một lĩnh vực quan hệ nhất định. Các quan hệ xã hội được được pháp luật
điều chỉnh trong từng lĩnh vực có những đặc thù riêng của mình.
Ví dụ, những quan hệ phát sinh trong lĩnh vực đời sống dân sự khác với những
quan hệ trong lĩnh vực hình sự. Những quy phạm pháp luật điều chỉnh các quan
hệ trong lĩnh vực dân sự hợp thành ngành luật hôn nhân và gia đình, còn những
quy phạm điều chỉnh những quan hệ giữa nhà nước và người phạm tội hợp thành luật hình sự.
Tuy nhiên, trên thực tế có những quan hệ xã hội không phải là đối tượng điều
chỉnh của một ngành luật, mà là đối tượng điều chỉnh của hai hoặc nhiều ngành
luật. Trong những trường hợp đó nếu chỉ căn cứ vào đối tượng điều chỉnh thì rất
khó xác định những quy phạm pháp luật là của ngành luật này hay ngành luật
khác. Trong những trường hợp như vậy, người ta dựa vào căn cứ thứ hai để
phân định các ngành luật, đó là phương pháp điều chỉnh.
- Phương pháp điều chỉnh là cách thức mà nhà nước sử dụng trong pháp luật để
tác động đến cách xử sự của những người tham gia các quan hệ xã hội. Tuy
nhiên, khác với đối tượng điều chỉnh, phương pháp điều chỉnh nếu đứng độc lập
không thể trở thành căn cứ xác định ngành luật, bởi vì có nhiều ngành luật đều
sử dụng một phương pháp chung nhất định. Do vậy, phương pháp điều chỉnh là
căn cứ mang tính bổ trợ cho căn cứ đối tượng điều chỉnh để phân định các ngành luật.
Khi điều chỉnh các quan hệ xã hội, mỗi ngành luật có phương pháp điều chỉnh
không giống nhau. Chẳng hạn, cùng điều chỉnh các quan hệ về quyền sở hữu,
nhưng luật hành chính điều chỉnh bằng phương pháp quyền lực, phục tùng, còn
luật dân sự sử dụng phương pháp bình đẳng, tự do thoả thuận, tự nguyện định đoạt.
Như vậy, để phân định các ngành luật, người ta căn cứ vào đối tượng điều chỉnh
và phương pháp điều chỉnh. Trong đó, đối tượng điều chỉnh là căn cứ cơ bản,
phương pháp điều chỉnh là căn cứ có tính chất bổ trợ.
2. Hệ thống văn bản quy phạm pháp luật tại Việt Nam
Văn bản quy phạm pháp luật là văn bản do cơ quan nhà nước có thẩm quyền
ban hành theo thủ tục, trình tự luật định, trong đó có quy tắc xử sự chung được
Nhà nước bảo đảm thực hiện nhằm điều chỉnh các quan hệ xã hội theo một định
hướng nhất định và được áp dụng nhiều lần trong thực tế đời sống.
Hệ thống văn bản quy phạm pháp luật ở Việt Nam theo Hiến pháp 1992 và Luật
ban hành văn bản quy phạm pháp luật (có hiệu lực từ 01/01/1997) được sửa đổi,
bổ sung năm 2002 bao gồm:
- Hiến pháp, luật, nghị quyết: Do Quốc hội ban hành
- Pháp lệnh, nghị quyết: Uỷ ban thường vụ Quốc hội ban hành:
- Văn bản do các cơ quan nhà nước có thẩm quyền khác ở trung ương ban hành
để thi hành văn bản quy phạm pháp luật của Quốc hội, Uỷ ban thường vụ Quốc hội:
+ Lệnh, quyết định của Chủ tịch nước;
+ Nghị quyết, nghị định của Chính phủ; Quyết định, chỉ thị của Thủ tướng Chính phủ;
+ Quyết định, chỉ thị, thông tư của Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang bộ;
+ Nghị quyết của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao; Quyết định, chỉ
thị, thông tư của Chánh án Tòa án nhân dân tối cao; Quyết định, chỉ thị, thông
tư của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao;
+ Nghị quyết, thông tư liên tịch giữa các cơ quan nhà nước có thẩm quyền, giữa
các cơ quan nhà nước có thẩm quyền với tổ chức chính trị - xã hội.
- Văn bản do Hội đồng nhân dân, Uỷ ban nhân dân ban hành để thi hành văn
bản quy phạm pháp luật của Quốc hội, Uỷ ban Thường vụ Quốc hội và các văn
bản của cơ quan nhà nước cấp trên; Văn bản do Uỷ ban nhân dân ban hành còn
để thi hành nghị quyết của Hội đồng nhân dân cùng cấp:
+ Nghị quyết của Hội đồng nhân dân;
+ Quyết định, chỉ thị của Uỷ ban nhân dân.
Căn cứ vào trình tự ban hành và giá trị pháp lý, các văn bản quy phạm pháp luật
được chia thành hai loại là văn bản luật và các văn bản dưới luật. 2.1. Các văn bản luật
Văn bản luật là văn bản quy phạm pháp luật do Quốc hội, cơ quan quyền lực
nhà nước cao nhất ban hành. Các văn bản này có giá trị pháp lý cao nhất. Mọi
văn bản khác (dưới luật) khi ban hành đều phải dựa trên cơ sở của văn bản luật
và không được trái với các quy định trong các văn bản đó.
Văn bản luật có các hình thức là Hiến pháp và luật (hoặc bộ luật).
- Hiến pháp: Là đạo luật cơ bản của nhà nước quy định những vấn đề cơ bản
nhất của nhà nước, về chế độ chính trị, chế độ kinh tế, văn hóa...các nguyên tắc
tổ chức hoạt động, thẩm quyền của các cơ quan nhà nước. Trong hệ thống văn
bản quy phạm pháp luật, hiến pháp có hiệu lực pháp lý cao nhất. Mọi văn bản
pháp luật khác (từ luật trở xuống) đều phải phù hợp với các quy định của Hiến pháp.
- Luật: (bộ luật), nghị quyết của Quốc hội có chứa đựng quy phạm pháp luật là
những văn bản quy phạm pháp luật do Quốc hội ban hành để cụ thể hóa hiến
pháp, điều chỉnh các quan hệ xã hội trong các lĩnh vực hoạt động của nhà nước.
Luật quy định các vấn đề cơ bản, quan trọng thuộc các lĩnh vực về đối nội, đối
ngoại, nhiệm vụ kinh tế - xã hội, an ninh, quốc phòng, những nguyên tắc chủ
yếu về tổ chức và hoạt động của bộ máy nhà nước, về quan hệ xã hội và hoạt động của công dân.
Nghị quyết của Quốc hội ban hành để quyết định kế hoạch phát triển kinh tế -
xã hội, chính sách tài chính, tiền tệ quốc gia, chính sách dân tộc, tôn giáo, quốc
phòng, an ninh, dự toán ngân sách nhà nước, phê chuẩn quyết toán ngân sách
nhà nước....và quyết định các vấn đề khác thuộc thẩm quyền của Quốc hội.
Nghị quyết của Quốc hội chứa đựng quy tắc xử sự chung có giá trị tương đương với luật.
Các luật (bộ luật) và nghị quyết của Quốc hội có giá trị pháp lý cao (chỉ sau
hiến pháp), vì vậy việc ban hành các văn bản dưới luật phải dựa trên cơ sở các
quy định thể hiện trong văn bản luật, không được trái với luật và nghị quyết.
2.2. Các văn bản dưới luật (văn bản quy phạm pháp luật dưới luật)
Văn bản dưới luật là những văn bản quy phạm pháp luật do cơ quan nhà nước
ban hành theo trình tự, thủ tục và hình thức được pháp luật quy định. Những
văn bản này có giá trị pháp lý thấp hơn các văn bản luật, vì vậy khi được ban
hành chúng phải phù hợp với những quy định của Hiến pháp và luật.
Hiện nay ở nước ta có những loại văn bản dưới luật sau:
- Pháp lệnh của UBTVQH ban hành quy định những vấn đề được Quốc hội
giao. Một số pháp lệnh sau một thời gian thực hiện có thể được Quốc hội xem
xét, quyết định ban hành thành luật. Pháp lệnh có giá trị pháp lý thấp hơn so với
Hiến pháp và luật, nhưng trong hệ thống văn bản dưới luật nó lại có giá trị pháp lý cao nhất.
- Nghị quyết của UBTVQH được ban hành để giải thích hiến pháp, luật, pháp
lệnh, giám sát việc thi hành hiến pháp, văn bản quy phạm pháp luật của Quốc
hội, Ủy ban thường vụ Quốc hội, giám sát hoạt động của Chính phủ, TANDTC,
VKSNDTC, giám sát và hướng dẫn hoạt động của HĐND, quyết định tuyên bố
tình trạng chiến tranh, tổng động viên hoặc động viên cục bộ, quyết định những
vấn đề thuộc thẩm quyền của UBTVQH.
- Lệnh, quyết định của Chủ tịch nước. Lệnh, quyết định của chủ tịch nước được
ban hành để thực hiện những nhiệm vụ, quyền hạn của Chủ tịch nước do Hiến pháp, luật quy định.
- Nghị định, nghị quyết của Chính phủ, quyết định, chỉ thị của Thủ tướng Chính phủ.
+ Nghị quyết của Chính phủ được ban hành để quyết định chính sách cụ thể về
xây dựng và kiện toàn bộ máy hành chính nhà nước từ trung ương đến cơ sở,
hướng dẫn, kiểm tra HĐND thực hiện các văn bản của cơ quan nhà nước cấp
trên; bảo đảm thực hiện hiến pháp và pháp luật trong các cơ quan nhà nước, tổ
chức xã hội, đơn vị vũ trang nhân dân và công dân; thực hiện chính sách xã hội,
dân tộc, tôn giáo; quyết định chủ trương, chính sách cụ thể về ngân sách nhà
nước, tiền tệ; phát triển văn hóa, giáo dục, y tế; củng cố và tăng cường quốc
phòng an ninh; các biện pháp bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của công dân;
các biện pháp chống tham nhũng trong bộ máy nhà nước, phê duyệt các điều
ước thuộc thẩm quyền của Chính phủ.
+ Nghị định của Chính phủ gồm 2 loại:
Nghị định quy định chi tiết thi hành luật, nghị quyết của Quốc hội, pháp lệnh,
nghị quyết của UBTVQH, lệnh, quyết định của Chủ tịch nước; quy định nhiệm
vụ, quyền hạn, tổ chức bộ máy của các bộ, có quan ngang bộ, cơ quan thuộc
Chính phủ và các cơ quan khác thuộc thẩm quyền của Chính phủ thành lập.
Nghị định quy định những vấn đề cần thiết nhưng chưa đủ điều kiện xây dựng
thành luật, hoặc pháp lệnh để đáp ứng yêu cầu quản lý nhà nước, quản lý kinh
tế, quản lý xã hội. Và phải được sự đồng ý của UBTVQH.
+ Quyết định của Thủ tướng Chính phủ được ban hành để quyết định các chủ
trương, biện pháp lãnh đạo, điều chỉnh hoạt động của Chính phủ và hệ thống
hành chính nhà nước từ trung ương đến cơ sở; quy định chế độ làm việc với các
thành viên Chính phủ, Chủ tịch UBND tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương và
các vấn đề khác thuộc thẩm quyền của Thủ tướng Chính phủ.
+ Chỉ thị của Thủ Tướng Chính phủ quy định các biện pháp chỉ đạo, phối hợp
hoạt động của các thành viên Chính phủ; đôn đốc, kiểm tra hoạt động các bộ, cơ
quan ngang bộ, cơ quan thuộc Chính phủ; UBND các cấp trong việc thực hiện
các chủ trương, chính sách, pháp luật của nhà nước, các quyết định của Chính phủ.
Nghị quyết, nghị định của Chính phủ, quyết định, chỉ thị của Thủ tướng Chính
phủ có giá trị pháp lý thấp hơn so với hiến pháp, luật và pháp lệnh, nhưng cao
hơn so với những văn bản quy phạm pháp luật khác do cơ quan nhà nước từ cấp
bộ đến HĐND và UBND các cấp ban hành.
- Quyết định, chỉ thị, thông tư của Bộ trưởng, thủ trưởng cơ quan ngang bộ.
Để thi hành hiến pháp, luật, pháp lệnh và các nghị định, nghị quyết, quyết định,
chỉ thị của Chính phủ và Thủ tướng Chính phủ, trong phạm vi quyền hạn của
mình các bộ và các cơ quan ngang bộ ban hành các văn bản dưới luật theo hình
thức quyết định, chỉ thị, thông tư.
+ Quyết định của Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang bộ quy định về tổ chức
và hoạt động của các cơ quan, đơn vị trực thuộc; quy định các tiêu chuẩn, quy
trình, quy phạm và các định mức kinh tế - kỹ thuật của ngành, lĩnh vực do mình
phụ trách; quy định các biện pháp để thực hiện chức năng quản lý ngành, lĩnh
vực do mình phụ trách và những vấn đề được Chính phủ giao.
+ Chỉ thị của Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang bộ quy định các biện pháp
để chỉ đạo, đôn đốc, phối hợp và kiểm tra hoạt động của các cơ quan, đơn vị
thuộc ngành, lĩnh vực do mình phụ trách trong việc thực hiện văn bản quy phạm
pháp luật của các cơ quan nhà nước cấp trên và của mình.
+ Thông tư của Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang bộ được ban hành để
hướng dẫn thực hiện những quy định được luật, nghị quyết của Quốc hội, lệnh,
quyết định của Chủ tịch nước, nghị quyết, nghị định của Chính phủ, quyết định,
chỉ thị của Thủ tướng Chính phủ giao thuộc phạm vi quản lý ngành, lĩnh vực do mình phụ trách.
- Nghị quyết của Hội đồng thẩm phán TANDTC, quyết định, chỉ thị, thông tư
của Chánh án TANDTC và quyết định, chỉ thị, thông tư của Viện trưởng VKSNDTC.
+ Nghị quyết của Hội đồng thẩm phán TANDTC và quyết định, chỉ thị, thông
tư của Chánh án TANDTC được ban hành để hướng dẫn các tòa án áp dụng
thống nhất pháp luật, tổng kết kinh nghiệm xét xử.
+ Quyết định, chỉ thị, thông tư của Viện trưởng VKSNDTC quy định các biện
pháp để bảo đảm việc thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn của VKSND các cấp; quy
định những vấn đề khác thuộc thẩm quyền của Viện trưởng VKSNDTC. - Thông tư liên tịch
+ Thông tư liên tịch giữa các bộ, cơ quan ngang bộ, cơ quan thuộc Chính phủ
được ban hành để hướng dẫn thi hành luật, nghị quyết của Quốc hội, pháp lệnh,
nghị quyết của UBTVQH, lệnh, quyết định của Chủ tịch nước, nghị quyết, nghị
định của Chính phủ, quyết định, chỉ thị của Thủ tướng Chính phủ có liên quan
đến chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của các cơ quan đó.
+ Thông tư liên tịch giữa TANDTC với VKSNDTC; thông tư liên tịch giữa bộ,
cơ quan ngang bộ, cơ quan thuộc Chính phủ với TANDTC, VKSNDTC được
ban hành để hướng dẫn việc áp dụng thống nhất pháp luật trong hoạt động tố
tụng và những vấn đề khác liên quan đến nhiệm vụ, quyền hạn của các cơ quan đó.
+ Nghị quyết, thông tư liên tịch giữa cơ quan nhà nước có thẩm quyền với cơ
quan trung ương của tổ chức chính trị - xã hội được ban hành để hướng dẫn thi
hành những vấn đề khi pháp luật quy định về việc tổ chức chính trị - xã hội đó
tham gia quản lý nhà nước.
- Nghị quyết của HĐND các cấp. HĐND căn cứ vào các quy định thể hiện trong
các văn bản pháp luật của các cơ quan nhà nước cấp trên, ra những nghị quyết
để thi hành ở địa phương. Nội dung nghị quyết của HĐND cấp dưới không
được trái với nghị quyết của HĐND cấp trên, hoặc với quyết định hay chỉ thị của UBND cấp trên.
- Quyết định, chỉ thị của UBND các cấp. UBND do HĐND bầu ra để quản lý
các lĩnh vực hoạt động trong phạm vi địa phương phải chấp hành nghị quyết của
HĐND cùng cấp và những quy định thể hiện trong các văn bản của các cơ quan
nhà nước cấp trên, đồng thời để thực hiện việc chỉ đạo công tác của các UBND
cấp dưới. UBND, chủ tịch UBND các cấp ra các quyết định, chỉ thị và kiểm tra
việc thi hành những văn đó.
Trong số các văn bản quy phạm pháp luật còn có những điều lệ của các tổ chức
kinh tế tập thể của quần chúng nhân dân lao động, như điều lệ hợp tác xã nông
nghiệp, điều lệ hợp tác xã tiểu thủ công nghiệp...những điều lệ này do các văn
bản của cơ quan nhà nước có thẩm quyền phê chuẩn nên cũng có tính chất bắt
buộc thực hiện đối với những tổ chức cơ quan và cá nhân công dân có liên quan
3. Hiệu lực của văn bản quy phạm pháp luật
Để mỗi văn bản quy phạm pháp luật được ban hành đi vào cuộc sống có thể
phát huy vai trò tác động và điều chỉnh có hiệu quả các quan hệ xã hội theo
đúng mục đích đặt ra, cần phải xác định rõ giới hạn hiệu lực của nó. Hiệu lực
của văn bản quy phạm pháp luật là phạm vi không gian, thời gian và đối tượng
mà văn bản quy phạm pháp luật tác động tới. Phụ thuộc vào thẩm quyền của cơ
quan ban hành văn bản quy phạm pháp luật, tính chất và mục đích điều chỉnh
của mỗi loại văn bản, hiệu lực của chúng cũng có những giới hạn và mức độ
khác nhau. Hiệu lực của văn bản quy phạm pháp luật được thể hiện trên ba mặt:
theo thời gian, theo không gian và đối tượng tác động.
3.1. Hiệu lực về thời gian
Hiệu lực theo thời gian của văn bản quy phạm pháp luật được xác định từ thời
điểm phát sinh cho đến khi chấm dứt sự tác động của văn bản đó.
- Thời điểm có hiệu lực của văn bản quy phạm pháp luật được xác định căn cứ
vào hình thức văn bản do các cơ quan nhà nước khác nhau ban hành.
Luật, nghị quyết của Quốc hội, pháp lệnh, nghị quyết của UBTVQH có hiệu lực
thi hành kể từ ngày Chủ tịch nước ký lệnh công bố, trừ trường hợp văn bản đó
quy định ngày có hiệu lực.
Văn bản quy phạm pháp luật của Chủ tịch nước có hiệu lực từ ngày đăng công
báo, trừ trường hợp văn bản đó quy định ngày có hiệu lực.
Văn bản quy phạm pháp luật của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ, Bộ trưởng,
Thủ trưởng cơ quan ngang bộ, TANDTC, VKSNDTC và các văn bản quy phạm
pháp luật liên tịch có hiệu lực sau 15 ngày kể từ ngày đăng công báo hoặc có
hiệu lực muộn hơn nếu văn bản đó quy định. Đối với văn bản quy phạm pháp
luật của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ quy định các biện pháp thi hành trong
tình trạng khẩn cấp, thì văn bản đó có thể quy định ngày có hiệu lực sớm hơn.
- Hiệu lực trở về trước của văn bản quy phạm pháp luật
Về nguyên tắc, văn bản quy phạm pháp luật chỉ có hiệu lực điều chỉnh những
quan hệ xã hội phát sinh sau khi văn bản đó đã có hiệu lực, nó không có hiệu
lực trở về trước (hiệu lực hồi tố). Chỉ trong những trường hợp cần thiết, văn bản
quy phạm pháp luật mới quy định hiệu lực trở về trước. Pháp luật không được
quy định hiệu lực trở về trước đối với các trường hợp sau đây:
+ Quy định trách nhiệm pháp lý mới đối với hành vi mà vào thời điểm thực hiện
hành vi đó pháp luật không quy định trách nhiệm pháp lý.
+ Quy định trách nhiệm pháp lý nặng hơn.
- Những trường hợp ngưng hiệu lực văn bản quy phạm pháp luật
Văn bản quy phạm pháp luật bị đình chỉ thi hành thì ngưng hiệu lực cho đến khi
có quyết định xử lý của cơ quan nhà nước có thẩm quyền. Nếu quyết định xử lý
là không hủy bỏ văn bản thì văn bản tiếp tục có hiệu lực. Nếu quyết định xử lý
và hủy bỏ thì văn bản hết hiệu lực.
Thời điểm ngưng hiệu lực, thời điểm tiếp tục có hiệu lực hoặc thời điểm hết
hiệu lực của văn bản phải được quy định rõ tại quyết định đình chỉ thi hành,
quyết định xử lý của cơ quan nhà nước có thẩm quyền.
- Những trường hợp văn bản quy phạm pháp luật hết hiệu lực
Văn bản quy phạm pháp luật hết hiệu lực toàn bộ hoặc một phần trong các trường hợp sau:
+ Hết thời hạn có hiệu lực được quy định trong văn bản
+ Được thay thế bằng một văn bản mới của chính cơ quan nhà nước đã ban hành văn bản đó.
+ Bị hủy bỏ hoặc bãi bỏ bằng một văn bản của cơ quan nhà nước có thẩm quyền.
Trong trường hợp một văn bản quy phạm pháp luật hết hiệu lực thì văn bản quy
định chi tiết hoặc văn bản hướng dẫn văn bản đó cũng đồng thời hết hiệu lực,
trừ trường hợp văn bản quy định chi tiết hoặc hướng dẫn được giữ lại toàn bộ
hoặc một phần, vì còn phù hợp với quy định của văn bản quy phạm pháp luật mới.
3.2. Hiệu lực về không gian và đối tượng
Phạm vi áp dụng theo không gian của văn bản quy phạm pháp luật có thể là trên
toàn lãnh thổ quốc gia, ở một địa phương hoặc trong một vùng nhất định. Đối
tượng tác động của văn bản quy phạm pháp luật bao gồm cá nhân, tổ chức và
những quan hệ xã hội mà văn bản đó điều chỉnh. Hiệu lực theo không gian và
đối tượng của văn bản quy phạm pháp luật phụ thuộc vào thẩm quyền của cơ
quan ban hành văn bản đó.
Theo quy định của pháp luật hiện hành thì các văn bản quy phạm pháp luật của
các cơ quan nhà nước ở trung ương có hiệu lực trong phạm vi cả nước và áp
dụng đối với mọi cơ quan, tổ chức, công dân Việt Nam, trừ trường hợp văn bản
đó có quy định khác. Văn bản của HĐND, UBND ban hành có hiệu lực trong
phạm vi ở địa phương đó.
Văn bản quy phạm pháp luật cũng có hiệu lực đối với cơ quan, tổ chức, người
nước ngoài ở Việt Nam, trừ trường hợp pháp luật của Việt Nam hoặc điều ước
quốc tế mà Cộng hòa XHCN Việt Nam ký kết hoặc tham gia có quy định khác.
4. Các ngành luật trong hệ thống pháp luật Việt Nam
Vấn đề xây dựng một hệ thống pháp luật hoàn chỉnh, đồng bộ để điều chỉnh các
quan hệ xã hội là tư tưởng nhất quán của Đảng và Nhà nước ta.
Tuy mức độ phát triển của các ngành luật khác nhau, công tác hệ thống hoá nói
chung và pháp điển hóa nói riêng đối với một số ngành luật chưa được quan tâm
thực hiện đúng mức nhưng nhìn chung hệ thống pháp luật của Việt Nam hiện
nay gồm các ngành luật cơ bản sau:
4.1. Luật nhà nước (luật Hiến pháp)
Luật nhà nước bao gồm tổng thể các quy phạm pháp luật điều chỉnh những quan
hệ cơ bản về tổ chức quyền lực nhà nước, về chế độ chính trị, văn hoá – xã hội,
chế độ bầu cử, quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân, về quốc tịch…
Luật nhà nước là ngành luật chủ đạo trong hệ thống pháp luật. Nó là ngành luật
điều chỉnh những quan hệ xã hội quan trọng nhất của quốc gia và tất cả những
ngành luật khác đều được hình thành trên cơ sở những nguyên tắc của luật nhà nước. 4.2. Luật hành chính
Luật hành chính gồm tổng thể những quy phạm pháp luật điều chỉnh các quan
hệ xã hội hình thành trong quá trình tổ chức và thực hiện hoạt động chấp hành
và điều hành của nhà nước trên các lĩnh vực hành chính – chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội.
Luật hành chính quy định những nguyên tắc, những hình thức và phương pháp
quản lý nhà nước, xác định quy chế pháp lý của các chủ thể quản lý nhà nước,
điều chỉnh hoạt động của công chức nhà nước, thủ tục hành chính và trách
nhiệm hành chính. Luật hành chính còn bao gồm các quy phạm quy định các
vấn đề cụ thể của quản lý nhà nước trên các lĩnh vực đời sống xã hội. 4.3. Luật tài chính
Luật tài chính bao gồm những quy phạm pháp luật điều chỉnh những quan hệ xã
hội phát sinh trong lĩnh vực hoạt động tài chính của nhà nước, trong quá trình
hình thành, phân phối và sử dụng các quỹ tiền tệ của các chủ thể hoạt động phân
phối của cải dưới hình thức giá trị. 4.4. Luật ngân hàng
Luật ngân hàng là tổng thể các quy phạm pháp luật điều chỉnh các quan hệ phát
sinh trong hoạt động tiền tệ, tín dụng và ngân hàng. 4.5. Luật đất đai
Luật đất đai là tổng thể những quy phạm pháp luật điều chỉnh các quan hệ xã
hội hình thành trong lĩnh vực bảo vệ, quản lý và sử dụng đất, trong đó đất đai là
tư liệu sản xuất thuộc sở hữu nhà nước, do nhà nước thống nhất quản lý theo
quy hoạch và kế hoạch chung. 4.6. Luật dân sự
Luật dân sự gồm tổng thể những quy phạm pháp luật điều chỉnh các quan hệ tài
sản dưới hình thức hàng hoá - tiền tệ và một số quan hệ nhân thân phi tài sản.
Những chế định cơ bản của luật dân sự như quyền sở hữu, chế định hợp đồng
dân sự, chế định quyền thừa kế, chế định quyền tác giả, quyền phát minh, sáng chế… 4.7. Luật lao động
Luật lao động là tổng thể những quy phạm pháp luật điều chỉnh các quan hệ xã
hội phát sinh giữa người lao động và người sử dụng lao động, trong đó có quan
hệ giữa công nhân, viên chức với xí nghiệp, cơ quan nhà nước, những quan hệ
giữa tổ chức công đoàn với ban quản lý xí nghiệp, với thủ trưởng cơ quan nhà
nước liên quan đến việc sử dụng lao động của công nhân, viên chức. Các chế
định cơ bản của luật lao động là chế định tuyển dụng và thôi việc, chế độ tiền
lương, chế độ thời giờ làm việc và thời giờ nghỉ ngơi, chế định khen thưởng và
kỷ luật lao động, chế định bảo hộ lao động.
4.8. Luật hôn nhân và gia đình
Luật hôn nhân và gia đình bao gồm tổng thể những quy phạm pháp luật điều
chỉnh những quan hệ nhân thân và quan hệ tài sản phát sinh do việc kết hôn
giữa nam và nữ như: điều kiện kết hôn, quan hệ tài sản giữa vợ và chồng, cha
mẹ và con cái nhằm mục đích bảo đảm chế độ hôn nhân tự do, tiến bộ, quyền
bình đẳng giữa nam và nữ, xây dựng gia đình hạnh phúc, bảo vệ lợi ích của bà
mẹ và trẻ em, chăm sóc và giáo dục con cái. 4.9. Luật hình sự
Luật hình sự là tổng thể những quy phạm pháp luật quy định hành vi nào là tội
phạm, mục đích của hình phạt và những điều kiện áp dụng hình phạt, hình thức
và mức độ hình phạt đối với người có hành vi phạm tội.
4.10. Luật tố tụng hình sự
Luật tố tụng hình sự gồm những quy phạm pháp luật điều chỉnh những quan hệ
xã hội phát sinh trong việc điều tra, xét xử và kiểm sát việc điều tra, xét xử
những vụ án hình sự. Luật tố tụng hình sự cũng quy định những nguyên tắc, thủ
tục và điều kiện để tiến hành điều tra, kiểm sát và xét xử các vụ án hình sự,
quyền và nghĩa vụ của những người tham gia tố tụng hình sự.
4.11. Luật tố tụng dân sự
Luật tố tụng dân sự là tổng thể những quy phạm pháp luật điều chỉnh những
quan hệ giữa cơ quan xét xử, Viện kiểm sát nhân dân các cấp, đương sự và
những người tham gia khác trong quá trình điều tra và xét xử những vụ án dân
sự. Các quy phạm của luật tố tụng dân sự quy định thẩm quyền xét xử, trình tự,
thủ tục xét xử và những vấn đề khác nhằm giải quyết đúng đắn các vụ tranh chấp dân sự. 4.12. Luật kinh tế
Luật kinh tế là tổng thể những quy phạm pháp luật điều chỉnh những quan hệ
phát sinh trong quá trình tổ chức và hoạt động sản xuất, kinh doanh giữa các
doanh nghiệp với nhau và với cơ quan nhà nước.
Bên cạnh hệ thống pháp luật của mỗi quốc gia còn tồn tại hệ thống pháp luật
quốc tế. Những quy phạm của luật pháp quốc tế được hình thành trên cơ sở thoả
thuận giữa các quốc gia và thể hiện ý chí chung của các quốc gia đó. Mặc dù
vậy, không nên xem xét tách rời ý chí đó với lợi ích của giai cấp thống trị ở mỗi
nước tương ứng. Vì vậy, cũng có thể coi những văn bản pháp luật quốc tế được
nhà nước ta ký kết hoặc công nhận là một bộ phận (ngành) của hệ thống pháp luật nước ta. 4.13. Luật quốc tế
Luật quốc tế gồm hai bộ phận: Công pháp quốc tế và tư pháp quốc tế.
Công pháp quốc tế là tổng hợp những nguyên tắc, những chế định, những quy
phạm được các quốc gia và các chủ thể khác của luật quốc tế xây dựng trên cơ
sở thỏa thuận tự nguyện và bình đẳng, nhằm điều chỉnh các quan hệ nhiều mặt giữa chúng.
Tư pháp quốc tế bao gồm những nguyên tắc và những quy phạm pháp luật điều
chỉnh những quan hệ dân sự, hôn nhân và gia đình, lao động và tố tụng dân sự
nảy sinh giữa các công dân, các tổ chức của các nước khác nhau.
5. Công tác xây dựng pháp luật và hệ thống hoá pháp luật 5.1. Xây dựng pháp luật
Xây dựng pháp luật là một trong những hoạt động cơ bản nhất của nhà nước.
Đó là hoạt động soạn thảo và ban hành các đạo luật và các văn bản quy phạm
pháp luật khác của các cơ quan nhà nước có thẩm quyền (nhà chức trách), các tổ
chức xã hội khi được nhà nước trao quyền.
Để có được những văn bản pháp luật tốt và có chất lượng cần phải:
- Nghiên cứu một cách toàn diện và sâu sắc các quy luật, hiện tượng xã hội,
kinh tế, chính trị, tư tưởng để từ đó rút ra những giá trị chuẩn mực từ trong nhu cầu của xã hội.
- Nghiên cứu động thái các hành vi pháp luật trong đó có hành vi hợp pháp và
hành vi không hợp pháp để từ đó có thể dự kiến được diễn biến của các hành vi đó trong tương lai.
- Phân tích, đánh giá đúng hiệu lực và hiệu quả của việc điều chỉnh các quan hệ
xã hội bằng các quy phạm và chế định hiện hành.
- Nghiên cứu kinh nghiệm điều chỉnh pháp luật các quan hệ xã hội cùng loại của
các nước khác trên thế giới.
Các giai đoạn trong quá trình xây dựng pháp luật:
Giai đoạn thứ nhất là đề xuất yêu cầu ban hành một văn bản pháp luật mới hoặc
sửa đổi một văn bản pháp luật hiện hành.
Giai đoạn thứ hai là soạn thảo dự án văn bản pháp luật. Việc soạn thảo dự án
luật bao gồm soạn thảo văn bản, thảo luận sơ bộ và lấy ý kiến các cơ quan và cá
nhân cần thiết về văn bản đó. Sau đó dự án đã soạn thảo cùng những luận chứng
cần thiết về nó được chính thức trình cơ quan có thẩm quyền xem xét và quyết định.
Giai đoạn thứ ba là thảo luận và thông qua dự án văn bản pháp luật. Đây là giai
đoạn quan trọng nhất và là giai đoạn có tính quyết định của quá trình xây dựng pháp luật.
Giai đoạn thứ tư, đây là giai đoạn cuối cùng của quá trình xây dựng pháp luật là
công bố văn bản pháp luật mới ban hành.
Hoạt động xây dựng pháp luật phải tuân thủ những nguyên tắc nhất định, đó là:
Nguyên tắc bảo đảm sự lãnh đạo của Đảng; Nguyên tắc khách quan; Nguyên tắc
dân chủ xã hội chủ nghĩa; Nguyên tắc pháp chế xã hội chủ nghĩa.
Cùng với quá trình xây dựng nền kinh tế thị trường, đổi mới mọi lĩnh vực của
đời sống xã hội, chúng ta thực hiện một cuộc cải cách lớn trong bộ máy nhà
nước. Tình hình mới đòi hỏi phải sửa đổi, bổ sung, hoàn thiện hệ thống pháp
luật, tăng cường hơn nữa sự điều chỉnh pháp luật đối với các quan hệ xã hội.
5.2. Hệ thống hóa pháp luật
Công tác hệ thống hoá pháp luật có ý nghĩa rất quan trọng cho phép các cơ quan
nhà nước có thẩm quyền có sự nhìn nhận tổng quát đối với pháp luật hiện hành,
phát hiện những điểm không phù hợp, mâu thuẫn, chồng chéo và những lỗ hổng
của hệ thống pháp luật để từ đó có biện pháp khắc phục, hoàn thiện.
Hệ thống hoá pháp luật cũng phục vụ trực tiếp cho việc giáo dục nâng cao ý
thức pháp luật, thực hiện nghiêm chỉnh pháp luật của mọi chủ thể pháp luật.
Hệ thống hoá pháp luật có mục đích:
- Tạo ra một hệ thống văn bản quy phạm pháp luật cân đối, hoàn chỉnh, thống
nhất, trong đó vai trò của các đạo luật ngày càng quan trọng đối với sự điều
chỉnh các quan hệ xã hội.
- Khắc phục tình trạng lỗi thời, mâu thuẫn và những lỗ hổng của hệ thống pháp luật.
- Làm cho nội dung pháp luật phù hợp với những yêu cầu của đời sống, có hình
thức rõ ràng, dễ hiểu, tiện lợi cho việc sử dụng.
Khoa học pháp lý xã hội chủ nghĩa phân biệt hai hình thức hệ thống hoá pháp
luật, đó là: tập hợp hoá và pháp điển hóa.
Tập hợp hoá là sắp xếp các văn bản quy phạm pháp luật, các quy phạm pháp
luật riêng biệt theo một trình tự nhất định (theo cơ quan ban hành, theo thời gian
ban hành, theo cấp độ hiệu lực pháp lý…). Hình thức hệ thống hoá này không
làm thay đổi nội dung văn bản, không bổ sung những quy định mới mà chỉ
nhằm loại bỏ những quy phạm đã hết hiệu lực hoặc mâu thuẫn với văn bản cấp trên.
Pháp điển hoá là hoạt động của các cơ quan nhà nước có thẩm quyền trong đó
không những tập hợp các văn bản đã có theo một trình tự nhất định, loại bỏ
những quy phạm lỗi thời, mâu thuẫn mà còn thêm những quy phạm mới để thay
thế cho các quy phạm đã bị loại bỏ và khắc phục những chỗ trống được phát
hiện trong quá trình tập hợp văn bản, sửa đổi các quy phạm hiện hành, nâng cao
hiệu lực pháp lý của các văn bản đó. Kết quả của công việc pháp điển là một
văn bản quy phạm pháp luật mới ra đời, có hiệu lực pháp lý cao hơn hoặc rộng
hơn, tổng quát hơn về phạm vi điều chỉnh, hoàn chỉnh hơn về kỹ thuật lập pháp.
6. Ý thức pháp luật, Pháp chế XHCN 6.1. Ý thức pháp luật 6.1.1. Khái niệm
Trong xã hội tồn tại nhiều học thuyết, tư tưởng và quan điểm khác nhau về pháp
luật. Sở dĩ như vậy vì điều kiện sinh hoạt về vật chất và đời sống tinh thần của
mỗi giai cấp, mỗi tầng lớp xã hội không hoàn toàn giống nhau dẫn đến sự nhận
thức pháp luật cũng có những khác biệt nhất định. Các quan điểm, tư tưởng,
quan niệm tồn tại trong xã hội luôn có sự tác động, ảnh hưởng lẫn nhau.
Ví dụ, Trong XHCN, ở thời kỳ quá độ, do ảnh hưởng của hệ tư tưởng phong
kiến, tư tưởng cục bộ địa phương. Một bộ phận nhân dân lao động còn chưa
nhận thức đúng đắn được bản chất và ý nghĩa xã hội của pháp luật XHCN, có
thái độ thờ ơ, không tôn trọng pháp luật, trốn tránh hoặc bất chấp pháp luật, coi
phong tục tập quán quan trọng hơn pháp luật. Vậy ý thức pháp luật là gì?
Ý thức pháp luật là tổng thể những tư tưởng, quan điểm, thái độ, sự hiểu biết
của con người đối với pháp luật hiện hành cũng như tinh thần chung của pháp luật.
Trong xã hội có giai cấp đối kháng thì không thể có ý thức pháp luật thống nhất.
Ý thức pháp luật của các giai cấp đối kháng luôn luôn mâu thuẫn với nhau,
trong đó chỉ có ý thức pháp luật thống trị được thể hiện đầy đủ trong pháp luật;
ý thức pháp luật thống trị trong xã hội là ý thức pháp luật của giai cấp nắm chính quyền.
Ý thức pháp luật mang tính chính trị sâu sắc. Nội dung của ý thức pháp luật
luôn phản ánh những nhu cầu về chính trị, thể hiện mối quan hệ các giai cấp đối
với các quy định của pháp luật do nhà nước ban hành có liên quan trực tiếp đến
đời sống chính trị - xã hội. Chẳng hạn những quy định về hình thức nhà nước,
chế độ bầu cử và quyền bầu cử…
Ý thức pháp luật còn bao gồm cả những yếu tố tâm lý xã hội như cảm giác, tình
cảm, quan niệm, thể hiện những mối quan hệ cụ thể của con người đối với các
quy phạm pháp luật, đối với quyền và nghĩa vụ…Ví dụ, cảm giác của nhân dân
về tính chất nhân đạo của luật pháp và sự tôn trọng đối với pháp luật, cảm giác
lo lắng và thái độ căm phẫn trước những hành vi phạm pháp, mong muốn đấu
tranh chống tội phạm bảo vệ nền pháp chế. Vì vậy, việc giáo dục ý thức pháp
luật, giáo dục tình cảm và quan niệm đúng đắn sẽ có ý nghĩa lớn trong việc làm
cho nhân dân quan tâm đến pháp luật, xây dựng động cơ đúng đắn trong thực
hiện pháp luật và tích cực đấu tranh chống vi phạm pháp luật. 6.1.2. Đặc điểm
Ý thức pháp luật có hai đặc trưng cơ bản là:
Thứ nhất, ý thức pháp luật là một hình thái ý thức xã hội, vì vậy nó luôn chịu sự
quy định của tồn tại xã hội.
Ý thức pháp luật được hình thành từ những điều kiện kinh tế, điều kiện vật chất.
Tuy nhiên, ý thức pháp luật có tính độc lập tương đối. Tính độc lập tương đối
của ý thức pháp luật được thể hiện ở một số mặt sau:
- Nó thường lạc hậu hơn tồn tại xã hội. Tồn tại xã hội cũ đã mất đi nhưng ý thức
nói chung và ý thức pháp luật nói riêng vẫn tồn tại dai dẳng trong một thời gian
dài. Những tàn dư của quá khứ được giữ lại nhất là trong tâm lý pháp luật, nơi
các thói quen và truyền thống đóng vai trò to lớn.
Ví dụ, tâm lý pháp luật phong kiến như sự thờ ơ hay phủ nhận đối với pháp luật
hiện vẫn còn tồn tại trong xã hội nước ta hiện nay.
- Tuy vậy, tư tưởng pháp luật đặc biệt là tư tưởng pháp luật khoa học lại có thể
vượt lên trên sự phát triển của tồn tại xã hội, nghĩa là nó có tính tiên phong. Nếu
là tư tưởng của giai cấp cầm quyền tiến bộ thì nó sẽ có cơ hội thuận lợi để thể
hiện thành pháp luật và tạo ra những biến đổi nhanh hơn trong đời sống.
- Ý thức pháp luật phản ánh tồn tại xã hội của một thời đại, song nó cũng kế
thừa những yếu tố nhất định của ý thức pháp luật thời đại trước đó. Các yếu tố
kế thừa có thể là tiến bộ hoặc không tiến bộ.
- Ý thức pháp luật tác động trở lại đối với tồn tại xã hội, với ý thức chính trị,
đạo đức, nhà nước và pháp luật. Tuỳ thuộc vào ý thức pháp luật tiến bộ hay lạc
hậu mà sự tác động của nó có thể là thúc đẩy hoặc kìm hãm sự phát triển của
các hiện tượng trên. Và nhiệm vụ quan trọng của giáo dục pháp luật là phát huy
mặt tích cực và hạn chế tới mức thấp nhất mặt tiêu cực của những biểu hiện đó.
Thứ hai, ý thức là hiện tượng mang tính giai cấp
Thế giới quan pháp lý của một giai cấp nhất định được quy định bởi vị trí của
giai cấp đó trong xã hội. Mỗi quốc gia chỉ có một hệ thống pháp luật, nhưng tồn
tại một số hệ thống ý thức pháp luật; có ý thức pháp luật của giai cấp bị trị, của
các tầng lớp trung gian…Tuy nhiên, chỉ có ý thức pháp luật của giai cấp thống
trị mới được phản ánh đầy đủ vào trong pháp luật. 6.1.3. Cấu trúc
Căn cứ vào nội dung, tính chất các bộ phận hợp thành, ý thức pháp luật được
cấu thành từ hệ tư tưởng pháp luật và tâm lý pháp luật. Hệ tư tưởng pháp luật là
toàn bộ những tư tưởng, quan điểm và học thuyết về pháp luật. Còn tâm lý pháp
luật chỉ là sự phản ánh những trạng thái, cảm xúc, thái độ, tình cảm đối với pháp
luật và các hiện tượng pháp lý cụ thể khác. Hệ tư tưởng pháp luật mang tính tự
giác, tính hệ thống, tính khoa học; còn tâm lý pháp luật hình thành một cách tự
phát, thiếu tính hệ thống và cơ sở khách quan khoa học.