Đang tải lên
Vui lòng đợi trong giây lát...
Preview text:
NỘI DUNG ÔN TẬP TRIẾT HỌC MAC CHƯƠNG I.
TRIẾT HỌC VÀ VAI TRÒ CỦA TRIẾT HỌC TRONG ĐỜI SỐNG
Vấn đề 1: Vai trò của triết học Mác – Lênin trong đời sống xã hội và trong
sự nghiệp đổi mới ở Việt Nam hiện nay (khái niệm Triết học Mác – Lênin,
vai trò của triết học Mác Lênin).
Khái niệm: Triết học là hệ thống trị thức lý luận chung nhất của con người về vị
trí, vai trò của con người trong thế giới quan. Là khoa học về những quy luật
vận động, phương trình chung nhất của tự nhiên, xã hội tư duy. Vai trò:
Triết học Mác-Lênin là thế giới quan, phương pháp luận khoa học và cách mạng
cho con người trong nhận thức và thực tiễn
Triết học Mác-Lênin là cơ sở thế giới quan và phương pháp luận khoa học và
cách mạng để phân tích xu hướng phát triển của xã hội trong điều kiện cuộc
cách mạng khoa học và công nghệ hiện đại phát triển mạnh mẽ
Triết học Mác-Lênin là cơ sở lý luận khoa học của các cuộc xây dựng chủ nghĩa
xã hội trên thế giới và sự nghiệp đổi mới theo định hướng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam
Vấn đề 2: Quan điểm của triết học Mác – Lênin về vật chất (quan điểm về vật
chất trong triết học trước Mác, định nghĩa vật chất của Lênin, phân tích định
nghĩa, ý nghĩa của định nghĩa)
Quan điểm về vật chất trong triết học trước Mác
*Chủ nghĩa duy tâm: Coi ý thức (tinh thần ) là có trước, quyết định. Coi vật
chất (giới tự nhiên) là có sau, bị quyết định. Quan điểm này bị thực tiễn bác bỏ.
* Chủ nghĩa duy vật trước Mác: Cho rằng vật chất( giới tự nhiên) là có trước,
là quyết định, còn ý thức (tinh thần) có sau, bị quyết định. Quan điểm này phù
hợp với thực tiễn, tuy nhiên khi trả lời câu hỏi vật chất là gì thì các nhà duy vật
trước mác lại có những quan điểm khác nhau.
- Một là: Quan niệm của chủ nghĩa duy vật chất phác thời cổ đại thì đồng nhất
vật chất với những sự vật hiện tượng cụ thể như nước, lửa, không khí, nguyên
tử… coi đó là cái đầu tiên mà từ đó sinh ra mọi cái còn lại. Quan niệm này
mang nặng tính trực quan, ngây thơ, ấu trĩ và chưa khoa học nên đã bị khoa học bác bỏ.
- Hai là: Quan niệm của chủ nghĩa siêu hình thế kỷ XVII, XVIII quy vật chất về
các thuộc tính của vật như là khối lương, quảng tính, hay là kết cấu nguyên tử.
Quan niệm này đã có tính khoa học tuy nhiên nó còn mang nặng tính siêu hình
cơ giới, máy móc. Do đó những quan niệm này cuối cùng cũng bị khoa học bác
bỏ. Từ đó đặt ra nhu cầu phải có một quan niệm mới về vật chất. Lênin là người
đầu tiên đưa ra được quan điểm này.
Định nghĩa của Lê nin
1. Hoàn cảnh ra đời của định nghĩa
Cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX cuộc cánh mạng trong KHTN đã mở ra nhiều
phát minh có tính bước ngoặt làm đảo lộn những nguyên tắc cũ, xuất hiện một
loạt những phát minh khoa học mới góp phần bác bỏ những quan niệm cũ về vật chất cụ thể là:
- Năm 1895 tìm ra tia X (tia rơn ghen) chứng tỏ trong tự nhiên vật chất không
chỉ là chất (tức là những cái có khối lượng, có quảng tính và có cấu trúc nguyên
tử) mà vật chất còn là trường (dạng vật chất mang tính liên tục, nó không xác
định về mặt khối lượng, không có cấu trúc nguyên tử).
- Năm 1896 phát hiện ra hiện tượng phóng xạ chứng tỏ nguyên tử cũng tiêu tan.
- Năm 1897 tìm ra electơron (điện tử) chứng tỏ nguyên tử cũng không phải là kết
cấu vật chất cuối cùng (cấu trúc này vẫn có thể phân chia được nữa).
- Sang đầu thế kỷ XX phát hiện ra hiện tượng thay đổi của khối lượng, quảng tính
và thời gian trong sự phụ thuộc vào tốc độ vận động.
Tóm lại: Khoa học chứng minh rằng không có dạng vật chất đầu tiên. Từ những
phát minh khoa học trên đã làm xuất hiện sự khủng hoảng trong lập trường tư
tưởng của một số nhà khoa học, nhà triết học, từ đó làm khôi phục lại chủ nghĩa
duy tâm và thuyết bất khả tri, chống lại chủ nghĩa Mác. Trước bối cảnh đó
LêNin đã viết tác phẩm “Chủ nghĩa duy vật và chủ nghĩa kinh nghiệm phê
phán” xuất bản năm 1909 mà trong đó ông đã đưa ra định nghĩa kinh điển về vật
chất (được thừa nhận như là một định nghĩa chính thống của chủ nghĩa Mác) 2. Định nghĩa:
Tiếp thu những tư tưởng của angghen và cacmac về vật chất và trên cơ sở khái
quát những thành tựu mới nhất của KHTN cuối thế kỷ XĨ đầu thế kỷ XX.
V.I.Lênin đã đưa ra một định nghĩa chính xác, khoa học và sâu sắc nhất về
phạm trù vật chất: “vật chất là một phạm trù triết học dùng để chỉ thực tại khách
quan, được đem lại cho con người trong cảm giác, được cảm giác của chúng ta
chép lại, chụp lại, phản ánh và tồn tại không lệ thuộc vào cảm giác”
Phân tích định nghĩa:
Trong nội dung định nghĩa trên cần lưu ý 2 điểm sau:
- Một là: Định nghĩa khẳng định vật chất là một phạm trù triết học, phạm trù là
một khái niệm rộng nhất, phản ánh những mặt, những thuộc tính phổ biến nhất
của hiện thực. Như vậy khi coi vật chất là một phạm trù triết học thì nó là khái
niệm chứ không phải là sự vật. Cho nên vật chất là cái chung, cái khái quát, cái
trừu tượng, là vật chất nói chung (là vĩnh viễn). Vì vậy cần phải phân biệt phạm
trù triết học về vật chất với 1 khái niệm vật lý thông thường về vật chất mà
người ta dùng để chỉ những sự vật, những hiện tượng vật chất cụ thể (như vậy:
đất, nước, lửa, không khí chẳng qua chỉ là một dạng tồn tại về vật chất).
- Hai là: Về mặt nhận thức luận (phương pháp luận) thì thuộc tính cơ bản nhất
của vật chất dùng để định nghĩa cho nó và để phân biệt nó với ý thức tinh thần
là thuộc tính tồn tại khách quan. Vật chất là tất cả những gì tồn tại khách quan
bên ngoài đầu óc con người và không phụ thuộc vào ý thức của con người, độc
lập lại với nó thì ý thức hay tinh thần là cái tồn tại chủ quan trong đầu óc con người.
Tóm lại: Theo định nghĩa của LêNin vật chất được hiểu như sau:
- Vật chất là tất cả những gì đang tồn tại khách quan bên ngoài đầu óc con
người, không phụ thuộc vào ý thức, cảm giác của con người.
- Vật chất là những cái mà khi tác động lên các giác quan của con người một
cách trực tiếp hay gián tiếp thì sẽ gây nên cho con người cảm giác.
- Vật chất là những cái mà trong quan hệ đối với chúng thì ý thức, cảm giác của
con người chẳng qua chỉ là sự phản ánh của chúng mà thôi
Ý nghĩa, phương pháp luận của định nghĩa:
Một là: Định nghĩa trên đã góp phần khắc phục được quan niệm siêu hình về
vật chất, đó là không quy vật chất về cái cụ thể mà đồng nhất nó với thực tại
khách quan nói chung (Cái thực tại khách quan ấy mới là vĩnh viễn, mới là cái vô cùng tận).
Hai là: Định nghĩa đã góp phần giải quyết được cả hai mặt vấn đề cơ bản của
triết học theo lập trường duy vật và theo lập trường khả tri luận (theo thuyết có thể biết)
Ba là: Định nghĩa góp phần đấu tranh chống chủ nghĩa duy tâm, nhất là duy tâm
về xã hội. Vì theo định nghĩa này đưa vào thuộc tính tồn tại khách quan mà ta
có thể phân biệt trong xã hội xem đâu là vật chất, đâu là tinh thần.
Bốn là: Định nghĩa là cơ sở khoa học cho việc nghiên cứu về các dạng cấu trúc
vật chất của thế giới có liên quan đến dạng vật chất mới như là: hạt và phản hạt;
vật chất và phản vật chất
Vấn đề 3: Quan điểm triết học Mác - Lênin về ý thức (nguồn gốc, bản chất,
kết cấu của ý thức)
Khái niệm: Ý thức theo định nghĩa của triết học Mác - Lenin là một phạm
trù được quyết định với phạm trù vật chất, theo đó ý thức là sự phản ánh thế
giới vật chất khách quan vào bộ óc con người và có sự cải biến và sáng tạo. Ý
thức có mối quan biện chứng với vật chất Nguồn gốc
Theo quan điểm của chủ nghĩa Lenin thì trong lịch sử triết học, vấn đề nguồn
gốc, bản chất của ý thức là một trong những vấn đề trung tâm của cuộc đấu
tranh giữa chủ nghĩa duy vật và chủ nghĩa duy tâm. Triết học duy vật biện
chứng khẳng định, ý thức của con người có nguồn gốc tự nhiên và nguồn gốc xã hội. a) Mặt tự nhiên
Theo quan điểm của triết học Marx-Lenin, ý thức là một thuộc tính của một
dạng vật chất có tổ chức cao là bộ óc người, là sự phản ánh thế giới khách quan
vào bộ não người. Nếu không có sự tác động của thế giới khách quan vào bộ
não người và không có bộ não người với tính cách là cơ quan vật chất của ý
thức thì sẽ không có ý thức. Bộ não người và sự tác động của thế giới khách
quan vào bộ não người là nguồn gốc tự nhiên của ý thức. Các nhân tố bao gồm: • Bộ óc:
Chủ nghĩa duy vật biện chứng khẳngđịnh rằng ý thức là thuộc tính của một dạng
vật chất sống có tổ chức cao là bộ óc người. Bộ óc người hiện đại là sản phẩm
của quá trình tiến hoá lâu dài về mặt sinh vật - xã hội và có cấu tạo rất phức tạp,
gồm khoảng 14 - 15 tỷ tế bào thần kinh. Các tế bào này tạo nên nhiều mối liên
hệ nhằm thu nhận, xử lý, dẫn truyền và điều khiển toàn bộ hoạt động của cơ thể
trong quan hệ với thế giới bên ngoài thông qua các phản xạ có điều kiện và không điều kiện. • Sự phản ánh:
Cũng theo chủ nghĩa Marx-Lenin, hoạt động ý thức con người diễn ra trên cơ sở
hoạt động sinh lý thần kinh của bộ óc người. Sự phụ thuộc của ý thức vào hoạt
động của bộ óc thể hiện ở chỗ khi bộ óc bị tổn thương thì hoạt động ý thức sẽ bị
rối loạn. Tuy nhiên, nếu chỉ có bộ óc người mà không có sự tác động của thế
giới bên ngoài để bộ óc phản ánh lại tác động đó thì cũng không thể có ý thức.
Phản ánh là thuộc tính chung, phổ biến của mọi đối tượng vật chất. Phản ánh là
năng lực giữ lại, tái hiện lại của hệ thống vật chất này những đặc điểm của hệ thống vật chất khác.
Trong quá trình phát triển lâu dài của thế giới vật chất, thuộc tính phản ánh của
vật chất cũng phát triển từ thấp đến cao, từ đơn giản đến phức tạp:
• Phản ánh vật lý: Là hình thức phản ánh đơn giản nhất ở giới vô sinh, thể
hiện qua các quá trình biến đổi cơ, lý, hoá.
• Phản ánh sinh học: Là những phản ánh trong sinh giới trong giới hữu
sinh cũng có nhiều hình thức khác nhau ứng với mỗi trình độ phát triển
của thế giới sinh vật.
• Phản ánh ý thức: là hình thức cao nhất của sự phản ánh thế giới hiện
thực, ý thức chỉ nảy sinh ở giai đoạn phát triển cao của thế giới vật chất,
cùng với sự xuất hiện của con người.
b) Mặt xã hội.
Để ý thức có thể ra đời, bên những nguồn gốc tự nhiên thì điều kiện quyết định
cho sự ra đời của ý thức là nguồn gốc xã hội, thể hiện ở vai trò của lao
động, ngôn ngữ và các quan hệ xã hội. • Lao động:
Là hoạt động đặc thù của con người, là hoạt động bản chất người. Đó là hoạt
động chủ động, sáng tạo, có mục đích. Lao động đem lại cho con người dáng đi
thẳng đứng, giải phóng hai tay. Điều này cùng với chế độ ăn có thịt đã thực sự
có ý nghĩa quyết định đối với quá trình chuyển hoá từ vượn thành người, từ tâm
lý động vật thành ý thức.
Việc chế tạo ra công cụ lao động có ý nghĩa to lớn là con người đã có ý thức về
mục đích của hoạt động biến đổi thế giới. Thực chất của hoạt động lao động là
tác động vào thế giới khách quan, làm biến đổi thế giới nhằm thỏa mãn nhu cầu
của con người. Nhờ có lao động, bộ não con người được phát triển và ngày càng
hoàn thiện, làm cho khả năng tư duy trừu tượng của con người ngày càng cao.
Cũng là lao động ngay từ đầu đã liên kết con người lại với nhau trong mối liên
hệ tất yếu, khách quan. Mối liên hệ đó không ngừng được củng cố và phát triển
đến mức làm nảy sinh ở họ một nhu cầu "cần thiết phải nói với nhau một cái gì
đó". Và ngôn ngữ xuất hiện. • Ngôn ngữ:
Theo quan điểm của triết học Mác - Lê nin thì ngôn ngữ là phương tiện để con
người giao tiếp trong xã hội, là hệ thống tín hiệu thứ hai, là cái vỏ vật chất của tư
duy, là hình thức biểu đạt của tư tưởng. Ngôn ngữ là yếu tố quan trọng để phát
triển tâm lý, tư duy của con người và xã hội loài người. Bản chất
Chủ nghĩa duy vật biện chứng cho rằng về bản chất, ý thức là sự phản ánh
khách quan vào trong bộ óc con người một cách năng động, sáng tạo.
• Ý thức là hình ảnh chủ quan của thế giới khách quan: Thể hiện rằng nội
dung của ý thức do thế giới khách quan quy định. Ý thức là hình ảnh chủ
quan của thế giới khách quan vì nó nằm trong bộ não con người. Ý thức
là cái phản ánh thế giới khách quan nhưng nó là cái thuộc phạm vi chủ
quan, là thực tại chủ quan. Ý thức không có tính vật chất, nó chỉ là hình
ảnh tinh thần, gắn liền với hoạt động khái quát hóa, trừu tượng hóa, có
định hướng, có lựa chọn. ý thức là sự phản ánh thế giới bởi bộ não con người
• Ý thức là sự phản ánh sáng tạo thế giới: Ý thức là sự phản ánh hiện thực
khách quan vào trong bộ óc con người, là hình ảnh chủ quan của thế giới
khách quan. Tuy nhiên, không phải cứ thế giới khách quan tác động vào
bộ óc người là tự nhiên trở thành ý thức. Ngược lại, ý thức là sự phản ánh
năng động, sáng tạo về thế giới, do nhu cầu của việc con người cải biến
giới tự nhiên quyết định và được thực hiện thông qua hoạt động lao động.
Sự phản ánh sáng tạo của ý thức biểu hiện ở sự cải biến cái vật chất di chuyển
vào trong bộ não con người thành cái tinh thần, thành những hình ảnh tinh thần.
Sáng tạo của ý thức là sáng tạo của phản ánh, dựa trên cơ sở của phản ánh,
trong khuôn khổ và theo tính chất, quy luật của phản ánh.
Tính sáng tạo của ý thức được thể hiện ra rất phong phú. Trên cơ sở những cái
đã có, ý thức có thể tạo ra tri thức mới về sự vật, có thể tưởng tượng ra những
cái không có trong thực tế. Ý thức có thể tiên đoán, dự báo về tương lai, có thể
tạo ra những ảo tưởng, huyền thoại, những giả thuyết, lý thuyết khoa học hết
sức trừu tượng và có tính khái quát cao.
Ý thức là sự phản ánh hiện thực khách quan vào trong bộ óc người, song đây là
sự phản ánh đặc biệt – phản ánh trong quá trình con người cải tạo thế giới. Quá
trình ý thức là quá trình thống nhất của 3 mặt là: trao đổi thông tin giữa chủ thể
và đối tượng phản ánh. Tiếp đến là mô hình hóa đối tượng trong tư duy dưới
dạng hình ảnh tinh thần và cuối cùng là chuyển mô hình từ tư duy ra hiện thực khách quan.
Ý thức là sự phản ánh sáng tạo, vì phản ánh đó dù trực tiếp hay gián tiếp, dù
dười dạng ý tưởng thì bao giờ củng phải dựa vào những tiền đề vật chất, dựa
trên hoạt động thực tiễn nhất định. Sự sáng tạo của ý thức không đối lập, loại
trừ, tách rời sự phản ánh mà ngược lại thống nhất với phản ánh, trên cơ sở của phản ánh.
Phản ánh và sáng tạo là hai mặt thuộc bản chất của ý thức. Ý thức – trong bất kỳ
trường hợp nào cũng là sự phản ánh và chính thực tiễn xã hội của con người tạo
ra sự phản ánh phức tạp, năng động, sáng tạo của bộ óc.
• Ý thức là sản phẩm lịch sử của sự phát triển xã hội nên về bản chất là có
tính xã hội: Ý thức không phải là một hiện tượng tự nhiên thuần túy mà là
một hiện tượng xã hội. ý thức bắt nguồn từ thực tiễn lịch sử-xã hội, phản
ánh những quan hệ xã hội khách quan.
Theo Lenin thì nếu coi tư tưởng (ý thức) là có tính vật chất tức là một bước sai
lầm đến chỗ lẫn lộn chủ nghĩa duy vật với chủ nghĩa duy tâm.[5]
Cấu tạo của ý thức
Ý thức là một hiện tượng tâm lý - xã hội có kết cấu rất phức tạp bao gồm nhiều
thành tố khác nhau có quan hệ với nhau. Có thể chia cấu trúc của ý thức theo hai chiều:
Theo chiều ngang: Bao gồm các yếu tố như tri thức, tình cảm, niềm tin, lý trí, ý
chí..., trong đó tri thức là yếu tố cơ bản, cốt lõi.
Theo chiều dọc: Bao gồm các yếu tố như tự ý thức, tiềm thức, vô thức, trong đó
tự ý thức ở cấp độ sâu nhất. CHƯƠNG II
PHÉP BIỆN CHỨNG DUY VẬT
Vấn đề 4: Nội dung nguyên lí về sự phát triển (định nghĩa, nội dung và ý nghĩa )
Khái niệm: Nguyên lý về sự phát triển là nguyên tắc lý luận mà trong đó khi
xem xét sự vật, hiện tượng khách quan phải luôn đặt chúng vào quá trình luôn
luôn vận động và phát triển (vận động tiến lên từ thấp đến cao, từ đơn giản đến
phức tạp, từ kém hoàn thiện đến hoàn thiện hơn của sự vật). Nội dung:
Theo quan điểm duy vật biện chứng, phát triển có 4 tính chất cơ bản: tính khách
quan, tính phổ biến và tính đa dạng, phong phú.
– Tính khách quan của sự phát triển được biểu hiện trong nguồn gốc của sự vận
động và phát triển. Đó là quá trình bắt nguồn từ bản thân của sự vật, hiện tượng
là quá trình giải quyết mâu thuẫn của sự vật, hiên tượng đó. Tính chất này là
thuộc tính tất yếu không phụ thuộc vào ý thức con người.
Ví dụ: Hạt lúa, hạt đầu khi có nước, đất, chất dinh dưỡng, ánh sáng dù không có
con người nhưng nó vẫn phát triển.
– Tính phổ biến của sự phát triển được thể hiện ở các quá trình phát triển diễn ra
trong một lĩnh vực tự nhiên, xã hội và tư duy; trong tất cả mọi sự vật và hiện
tượng trong quá trình, mọi giai đoạn của sự vật hiện tượng đó. Trong mỗi quá
trình biến đổi đã có thể bao hàm khả năng dẫn đến sự ra đời phù hợp với quy luật khách quan.
+ Trong tự nhiên : Tăng cường khả năng thích nghi cơ thể trước sự biến đổi của môi trường
Ví dụ: Người ở Miền Nam ra công tác làm việc ở Bắc thời gian đầu với khí hậu
thay đổi họ sẽ khó chịu nhưng dần họ quen và thích nghi.
+ Trong xã hội: Nâng cao năng lực chinh phục tự nhiên, cải tạo xã hội, tiến tới
mức độ ngày càng cao trong sự nghiệp giải phóng con người.
Ví dụ: Mức sống của dân cư xã hội sau lúc nào cũng cao hơn so với xã hội trước.
+ Trong tư duy : Khả năng nhận thức ngày càng sâu sắc, đầy đủ, đúng đắn hơn
với tự nhiên và xã hội.
Ví dụ: Trình độ hiểu biết của con người ngày càng cao so với trước đây.
– Tính đa dạng, phong phú của sự phát triển được thể hiện ở chỗ: phát triển là
khuynh hướng phát triển của sự vật hiện tượng song mỗi sự vật hiện tượng lại
có quá trình phát triển không giống nhau, tồn tại ở những thời gian, không gian
khác nhau, chịu những ảnh hưởng khác nhau và sự tác động đó có thể làm thay
đổi chiều hướng quá trình phát triển của sự vật, đôi khi có thể làm sự vật, hiện
tượng thụt lùi tạm thời.
Đồng thời trong quá trình phát triển của mình, sự vật còn chịu sự tác động của
các sự vật, hiện tượng khác, của rất nhiều yếu tố, điều kiện. Sự tác động đó có
thể thúc đẩy hoặc kìm hãm sự phát triển của sự vật, đôi khi có thể làm thay đổi
chiều hướng phát triển của sự vật, thậm chí làm cho sự vật thụt lùi.
Chẳng hạn, nói chung, ngày nay trẻ em phát triển nhanh hơn cả về thể chất lẫn
trí tuệ so với trẻ em ở các thế hệ trước do chúng được thừa hưởng những thành
quả, những điều kiện thuận lợi mà xã hội mang lại. Trong thời đại hiện nay, thời
gian công nghiệp hóa và hiện đại hóa đất nước của các quốc gia chậm phát triển
và kém phát triển sẽ ngắn hơn nhiều so với các quốc gia đã thực hiện chúng do
đã thừa hưởng kinh nghiệm và sự hỗ trợ của các quốc gia đi trước. Song vấn đề
còn ở chỗ, sự vận dụng kinh nghiệm và tận dụng sự hỗ trợ đó như thế nào lại
phụ thuộc rất lớn vào những nhà lãnh đạo và nhân dân của các nước chậm phát
triển và kém phát triển.
Để khái quát nên tính chất biến hóa của sự vật, hiện tượng, Ăng-ghen đã viết
rằng:” Tư duy của nhà siêu hình chỉ dựa trên những phản đề tuyệt đối không thể
dung nhau được, họ nói có là có, không là không. Đối với họ, một sự vật hoặc
tồn tại hoặc không tồn tại, một hiện tượng không thể vừa là chính nó lại là vừa
cái khác, cái khẳng định và cái phủ định tuyệt đối bài trừ nhau…. Ngược lại tư
duy biện chứng là một tư duy mềm dẻo linh hoạt, không còn biết đến những
đường ranh giới tuyệt đối nghiêm ngặt, đến những cái “hoặc là”…. “hoặc là”…
“vô điều kiện” nữa (kiểu như: “hoặc là có, hoặc là không”, hoặc tồn tại, hoặc
không tồn tại”). Tư duy biện chứng thừa nhận trong những trường hợp cần thiết
bên cạnh cái “hoặc là”… hoặc là” còn có cả cái “vừa là…. Vừa là” nữa. Chẳng
hạn, theo quan điểm biện chứng, một vật hữu hình trong mỗi lúc vừa là nó, vừa
không phải là nó, một cái tên đang bay trong mỗi lúc vừa ở vị trí A lại vừa
không ở vị trí A, cái khẳng định và cái phủ định vừa loại trừ nhau vừa không thể lìa nhau được
Theo Lênin: Muốn thực sự hiểu được sự vật cần phải nhìn bao quát và nghiên
cứu tất cả các mặt, các mối liên hệ và “quan hệ gián tiếp” của sự vật đó và ông
cũng cho rằng: Phép biện chứng đòi hỏi người ta phải chú ý đên tất cả các mặt
của mối quan hệ trong sự phát triển cụ thể của những mối quan hệ đó. Ý nghĩa:
– Đây chính là cơ sở lý luận khoa học để có thể định hướng được việc nhận
thức thế giới và cải tạo thế giới.
Theo như nguyên lý này thì trong mọi nhận thức và trong thực tiễn cần phải có
quan điểm về sự phát triển. Để có thể phát triển được thì cần phải khắc phục
được những tư tưởng bảo thủ, trì trệ, lạc hậu, định kiến, đối lập với sự phát triển.
– Để nhận thức và giải quyết được bất cứ những vấn đề gì trong thực tiễn thì
một mặt cần phải đặt sự vật theo khuynh hướng đi lên của nó. Vì vậy đòi hỏi
phải nhận thức được tính quanh co, phức tạp của sự vật, hiện tượng trong quá
trình phát triển của nó.
– Nguyên lý về sự phát triển cho thấy trong hoạt động nhận thức và trong hoạt
động thực tiễn của con người cần phải tôn trong quan điểm phát triển phát triển.
Quan điểm này đòi hỏi khi nhận thức cũng như khi giải quyết một vấn đề nào
đó thì con người cần phải đặt chúng ở trạng thái động và nằm trong khuynh
hướng chung của sự phát triển.
– Với tư cách là những nguyên tắc phương pháp luận, là quan điểm toàn diện,
quan điểm phát triển góp phần định hướng, chỉ đạo hoạt động nhận thức cũng
như hoạt động thực tiễn cải tạo chính bản thân của con người.
– Xem xét sự vật theo quan điểm phát triển còn phải biết phân chia thành các
quá trình phát triển của sự vật thành những giai đoạn. Trên cơ sở này tìm ra
phương pháp nhận thức và những cách tác động phù hợp nhằm thúc đẩy sự vật
tiến triển nhanh hơn hoặc là kìm hãm sự phát triển của nó tùy thuộc vào sự phát
triển đó có lợi hay là có hại đối với đời sống của con người.
– Vận dụng quan điểm về sự phát triển vào hoạt động thực tiễn nhằm mục đích
thúc đẩy các sự vật phát triển theo đúg như quy luật vốn có của nó đòi hỏi
chúng ta cần phải tìm ra được những mâu thuẫn của sự vật qua hoạt động thực
tiễn từ đó giải quyết được mâu thuẫn và tìm ra được sự phát triển.
Vấn đề 5: Nội dung cặp phạm trù cái riêng và cái chung (định nghĩa, mối
quan hệ, ý nghĩa PPL) Khái niệm:
“Cái riêng” là phạm trù được dùng để chỉ một sự vật, một hiện tượng, một quá
trình riêng lẻ nhất định.
“Cái chung” là phạm trù được dùng để chỉ những mặt, những thuộc tính
chung không những có một kết cấu vật chất nhất định, mà còn được lặp
lại trong nhiều sự vật, hiện tượng hay quá trình riêng lẻ khác.
Cái đơn nhất” là phạm trù được dùng để chỉ những nét, những mặt, những thuộc
tính… chỉ có ở một kết cấu vật chất nhất định và không được lặp lại ở bất cứ
một kết cấu vật chất nào khác.
Về mặt ngữ nghĩa, “cái đơn nhất” gần giống với cái cá biệt. Mối quan hệ:
Theo quan điểm của chủ nghĩa duy vật biện chứng, “cái riêng”, “cái chung” và
“cái đơn nhất” có mối quan hệ qua lại như sau:
1. “Cái chung” chỉ tồn tại trong “cái riêng”, thông qua “cái riêng”.
“Cái chung” không tồn tại biệt lập, tách rời “cái riêng” mà chỉ tồn tại trong “cái riêng”.
Ví dụ: Cùi dày, nhiều múi, rất nhiều tép là cái chung giữa các quả bưởi. Rõ
ràng, cùi, múi, tép ở đây (cái chung) chỉ và phải tồn tại trong một quả bưởi nhất định (cái riêng).
2. “Cái riêng” chỉ tồn tại trong mối liên hệ đưa đến “cái chung”.
– Điều này có nghĩa “cái riêng” tồn tại độc lập, nhưng sự độc lập này không có
nghĩa là cô lập với những cái khác. Thông qua hàng ngàn mối liên hệ, hàng
ngàn sự chuyển hóa, “cái riêng” của loại này có liên hệ với những “cái riêng” của loại khác.
– Bất cứ “cái riêng” nào cũng tồn tại trong một môi trường, hoàn cảnh nhất
định, tương tác với môi trường, hoàn cảnh ấy, do đó đều tham gia vào các mối
liên hệ qua lại hết sức đa dạng với các sự vật, hiện tượng khác xung quan mình.
Các mối liên hệ qua lại này cứ trải rộng dần, gặp gỡ rồi giao thoa với các mối
liên hệ qua lại khác, kết quả là tạo nên một mạng lưới các mối liên hệ mới,
trong đó có những mối liên hệ dẫn đến một hoặc một số “cái chung” nào đó.
– Bất cứ “cái riêng” nào cũng không tồn tại mãi mãi.
Mỗi “cái riêng” sau khi xuất hiện đều tồn tại trong một khoảng thời gian nhất
định rồi biến thành một “cái riêng” khác. “Cái riêng” khác này lại biến
thành “cái riêng” khác thứ ba…v.v., cứ như vậy đến vô cùng tận. Kết quả của
sự biến hóa vô cùng tận này là tất cả “cái riêng” đều có liên hệ với nhau.
Thậm chí, có những cái tưởng chừng như hết sức xa lạ, hoàn toàn không dính
dáng gì đến nhau, nhưng qua hàng ngàn mối liên hệ, hàng ngàn sự chuyển hóa,
ta vẫn thấy chúng liên quan nhau.
3. “Cái chung” là một bộ phận của “cái riêng”, còn “cái riêng” không gia
nhập hết vào “cái chung”.
– Do “cái chung” được rút ra từ “cái riêng”, nên rõ ràng nó là một bộ phận của “cái riêng”.
– Mặt khác, bên cạnh những thuộc tính (cái chung) được lặp lại ở các sự vật
khác, bất cứ “cái riêng” nào cũng còn chứa đựng những đặc điểm, thuộc tính mà
chỉ “cái riêng” đó mới có. Tức là, bất cứ “cái riêng” nào cũng chứa đựng những “cái đơn nhất”.
4. “Cái đơn nhất” có thể biến thành “cái chung” và ngược lại.
– Sự chuyển hóa “cái đơn nhất” biến thành “cái chung” và “cái chung” biến
thành “cái đơn nhất” sẽ xảy ra trong quá trình phát triển khách quan của sự vật,
trong những điều kiện nhất định.
– Sở dĩ như vậy là do trong hiện thực, cái mới không bao giờ xuất hiện đầy đủ
ngay một lúc, mà lúc đầu xuất hiện dưới dạng “cái đơn nhất”, cái cá biệt. Nhưng
theo quy luật, cái mới nhất định sẽ phát triển mạnh lên, ngày càng hoàn thiện,
tiến tới hoàn toàn thay thế cái cũ và trở thành “cái chung”.
Ngược lại, “cái cũ” ngày càng mất dần đi. Từ chỗ là “cái chung”, cái cũ biến
dần thành “cái đơn nhất”.
Ý nghĩa phương pháp luận
Từ việc phân tích mối quan hệ biện chứng giữa “cái riêng” và “cái chung”, ta
rút ra ý nghĩa phương pháp luận trong nhận thức và hoạt động thực tiễn như sau:
1. Phải xuất phát từ “cái riêng” để tìm “cái chung”.
Vì “cái chung” chỉ tồn tại trong và thông qua “cái riêng”, nên chỉ có thể tìm
hiểu, nhận thức về “cái chung” trong “cái riêng” chứ không thể ngoài “cái riêng”.
Để phát hiện, đào sâu nghiên cứu “cái chung”, ta phải bắt đầu nghiên cứu từ
những sự vật, hiện tượng riêng lẻ cụ thể chứ không thể xuất phát từ ý muốn chủ quan của con người.
2. Cần nghiên cứu cải biến “cái chung” khi áp dụng “cái chung” vào từng
trường hợp “cái riêng”.
– Vì “cái chung” tồn tại như một bộ phận của “cái riêng”, bộ phận đó tác động
qua lại với những bộ phận còn lại của “cái riêng” mà không gia nhập vào “cái
chung”, nên bất cứ “cái chung” nào cũng tồn tại trong “cái riêng” dưới dạng đã bị cải biến.
Tức là, luôn có sự khác biệt một chút giữa “cái chung” nằm trong “cái
riêng” này và “cái chung” nằm trong “cái riêng” kia. Sự khác biệt đó là thứ yếu,
rất nhỏ, không làm thay đổi bản chất của “cái chung”.
– Do đó, bất cứ “cái chung” nào khi áp dụng vào từng trường hợp riêng lẻ cũng
cần được cải biến, cá biệt hóa. Nếu không chú ý đến sự cá biệt hóa, đem áp
dụng nguyên xi “cái chung”, tuyệt đối hóa cái chung thì sẽ rơi vào sai lầm của
những người giáo điều, tả khuynh.
Ngược lại, nếu xem thường “cái chung”, tuyệt đối hóa “cái đơn nhất”, thì lại rơi
vào sai lầm của việc chỉ bảo tồn cái vốn có mà không tiếp thu cái hay từ bên
ngoài. Đó là sai lầm của những người xét lại, bảo thủ, trì trệ, hữu khuynh.
3. Không được lảng tránh giải quyết những vấn đề chung khi giải quyết những vấn đề riêng.
Vì “cái riêng” gắn bó chặt chẽ với “cái chung”, không tồn tại bên ngoài mối liên
hệ dẫn tới “cái chung”, nên nếu muốn giải quyết những vấn đề riêng một cách
hiệu quả thì không thể bỏ qua việc giải quyết những vấn đề chung.
Nếu không giải quyết những vấn đề chung – những vấn đề mang ý nghĩa lý luận
– thì sẽ sa vào tình trạng mò mẫm, tùy tiện. Nếu bắt tay vào giải quyết những
vấn đề riêng trước khi giải quyết những vấn đề chung thì ta sẽ không có định hướng mạch lạc.
4. Khi cần thiết, cần tạo điều kiện cho “cái đơn nhất” biến thành “cái chung” và ngược lại.
Vì trong quá trình phát triển của sự vật, trong những điều kiện nhất định, “cái
đơn nhất” có thể biến thành “cái chung” và ngược lại, nên trong hoạt động thực
tiễn, ta cần hết sức tạo điều kiện thuận lợi cho “cái đơn nhất” phát triển, trở
thành “cái chung” nếu điều này có lợi.
Ngược lại, phải tìm cách làm cho “cái chung” tiêu biến dần thành “cái đơn
nhất” nếu “cái chung” không còn phù hợp với lợi ích của số đông mọi người.
Vấn đề 6: Nội dung cặp phạm trù nguyên nhân và kết quả (định nghĩa, mối QH, ý nghĩa PPL) Khái niệm
- Nguyên nhân là sự tác động lẫn nhau giữa các mặt trong cùng một sự vật hoặc
giữa các sự vật với nhau gây ra một hoặc hơn một sự biến đổi nhất định.
- Kết quả là sự biến đổi xuất hiện do sự tác động lẫn nhau của các mặt trong
một sự vật hoặc giữa các sự vật với nhau.
Mối quan hệ biện chứng giữa nguyên nhân và kết quả
Theo quan điểm của chủ nghĩa duy vật biện chứng, nguyên nhân và kết quả có
mối quan hệ qua lại như sau
1. Nguyên nhân sản sinh ra kết quả.
– Nguyên nhân là cái sinh ra kết quả, nên nguyên nhân luôn có trước kết quả.
Còn kết quả chỉ xuất hiện sau khi nguyên nhân xuất hiện và bắt đầu tác động.
Tuy nhiên, không phải sự nối tiếp nào trong thời gian của các hiện tượng cũng
đều biểu hiện mối liên hệ nhân quả. Ví dụ: Ngày không phải là nguyên nhân của đêm và ngược lại.
– Cùng một nguyên nhân có thể gây ra nhiều kết quả khác nhau tùy thuộc vào
hoàn cảnh cụ thể. Ngược lại, cùng một kết quả có thể được gây nên bởi
những nguyên nhân khác nhau tác động riêng lẻ hoặc cùng một lúc.
– Nếu nguyên nhân khác nhau tác động lên sự vật theo cùng một hướng thì sẽ
gây nên ảnh hưởng cùng chiều, đẩy nhanh sự hình thành kết quả. Ngược lại, nếu
các nguyên nhân khác nhau tác động lên sự vật theo các hướng khác nhau thì sẽ
làm suy yếu, thậm chí triệt tiêu các tác dụng của nhau.
– Căn cứ vào tính chất, vai trò của nguyên nhân đối với sự hình thành kết quả,
có thể phân loại nguyên nhân thành:
+ Nguyên nhân chủ yếu và nguyên nhân thứ yếu.
+ Nguyên nhân bên trong và nguyên nhân bên ngoài.
+ Nguyên nhân khách quan và nguyên nhân chủ quan.
2. Sự tác động trở lại của kết quả đối với nguyên nhân.
Nguyên nhân sản sinh ra kết quả. Nhưng sau khi xuất hiện, kết quả không giữ
vai trò thụ động đối với nguyên nhân, mà sẽ có ảnh hưởng tích cực ngược trở lại đối với nguyên nhân.
Ví dụ: Nhúng một thanh sắt vừa mới nung đỏ vào chậu nước nguội, thì nhiệt độ
của nước trong chậu sẽ tang lên. Sau đó, nước trong chậu do tăng nhiệt độ sẽ
kìm hãm tốc độ tỏa nhiệt của thanh sắt.
3. Sự thay đổi vị trí giữa nguyên nhân và kết quả
Điều này xảy ra khi ta xem xét sự vật, hiện tượng trong các mối quan hệ khác
nhau. Một hiện tượng nào đó trong mối quan hệ này là nguyên nhân thì trong
mối quan hệ khác là kết quả và ngược lại.
Một hiện tượng nào đó là kết quả do một nguyên nhân nào đó sinh ra, đến lượt
mình sẽ trở thành nguyên nhân sinh ra hiện tượng thứ ba… Và quá trình này
tiếp tục mãi không bao giờ kết thúc, tạo nên một chuỗi nhân quả vô cùng tận.
Trong chuỗi đó không có khâu nào là bắt đầu hay cuối cùng.
Ý nghĩa phương pháp luận
Từ việc phân tích mối quan hệ biện chứng giữa cặp phạm trù nguyên nhân và
kết quả, ta rút ra ý nghĩa phương pháp luận trong nhận thức và hoạt động thực tiễn như sau: 1. Trong nhận thức
– Vì mối liên hệ nhân quả tồn tại khách quan, không phụ thuộc vào ý chí con
người nên chỉ có thể tìm nguyên nhân của hiện tượng trong chính thế giới của
hiện tượng chứ không thể ở bên ngoài.
– Do nguyên nhân luôn có trước kết quả nên khi tìm nguyên nhân của một hiện
tượng, ta cần tìm trong những mặt, những sự kiện, những mối liên hệ đã xảy ra
trước khi hiện tượng đó xuất hiện.
– Bởi dấu hiệu đặc trưng của mối liên hệ nhân quả là nguyên nhân sinh ra kết
quả, nên khi xác định nguyên nhân của hiện tượng cần đặc biệt chú ý dấu hiệu đặc trưng này.
– Vì một hiện tượng có thê do nhiều nguyên nhân sinh ra nên trong quá trình
tìm nguyên nhân của một hiện tượng, ta cần hết sức tỉ mỉ, thận trọng, vạch ra
được kết quả tác động của từng mặt, từng sự kiện, từng mối liên hệ cũng như
từng tổ hợp khác nhau của chúng. Từ đó ta mới có thể xác định đúng về nguyên
nhân sinh ra hiện tượng.
– Vì một hiện tượng trong mối quan hệ này là kết quả, trong mối quan hệ khác
có thể là nguyên nhân, nên để hiểu rõ tác dụng của hiện tượng ấy, cần xem xét
nó trong những mối quan hệ mà nó giữ vai trò là nguyên nhân cũng như trong
những quan hệ nó là kết quả.
2. Trong hoạt động thực tiễn
Vì mối liên hệ nhân quả mang tính tất yêu nên ta có thể dựa vào mối liên hệ
nhân quả để hành động thực tiễn. Khi hành động, ta cần chú ý:
– Muốn loại bỏ một hiện tượng nào đó, cần loại bỏ nguyên nhân làm nảy sinh ra nó.
– Muốn cho hiện tượng xuất hiện, cần tạo ra nguyên nhân cùng những điều kiện
cần thiết. Vì hiện tượng này có thể do nhiều nguyên nhân tác động riêng lẻ hoặc
đồng thời nên cần tùy hoàn cảnh cụ thể mà lựa chọn phương pháp thích hợp.
– Trong hoặt động thực tiễn cần dựa trước hết vào các nguyên nhân chủ yếu và
nguyên nhân bên trong. Vì chúng giữ vai trò quyết định trong sự xuất hiện, vận
động và tiêu vong của hiện tượng.
– Để đẩy nhanh hay kìm hãm, loại trừ sự biến đổi của một hiện tượng xã hội
nào đó, ta cần làm cho các nguyên nhân chủ quan tác động cùng chiều, hay lệch
hoặc ngược chiều với chiều vận động của mối quan hệ nhân quả khách quan.
Vấn đề 7: Nội dung quy luật từ những thay đổi về lượng dẫn đến thay đổi về
chất và ngược lại (vị trí, khái niệm, mối quan hệ, ý nghĩa phương pháp luận). Khái niệm
chất là phạm trù triết học dùng để chỉ những thuộc tính khách quan vốn có của
sự vật hiện tượng là sự thống nhất hữu cơ của những thuộc tính làm cho sự vật
hiện tượng là nó chứ không phải cái khác
-lương là phạm trù triết học dùng để chỉ tính quy định khách quan vốn có của sự
vật về mặt số lượng quy mô,trình độ,…của các quá trình vận động và phát triển
của sự vật,hiện tượng
Quy luật thay đổi về lượng dẫn đến những sự thay đổi về chất và ngược lại
Vị trí của quy luật:Chỉ ra những cách thức vận động và phát triển của sự vật và hiện tượng Mối quan hệ
Bất kỳ sự vật hay hiện tượng nào cũng là sự thống nhất giữa mặt chất và mặt
lượng, chúng tác động qua lại lẫn nhau. Trong sự vật, quy định về lượng không
bao giờ tồn tại nếu không có tính quy định về chất và ngược lại. Vì vậy, sự thay
đổi về lượng của sự vật có ảnh hưởng đến sự thay đổi về chất của nó và ngược
lại, sự thay đổi về chất của sự vật tương ứng với thay đổi về lượng của nó.
Sự biến đổi về lượng có thể xảy ra theo hai hướng: sự tăng lên hoặc giảm
đi về lượng dẫn đến sự biến đổi ngay hoặc thay đổi dần dần về chất. Do chất là
cái tương đối ổn định còn lượng là cái thường xuyên biến đổi nên ở một giới
hạn nhất định khi lượng của sự vật thay đổi chưa dẫn đến sự thay đổi về chất
của nó. Giới hạn đó được gọi là độ.
Độ là phạm trù triết học dùng để chỉ khoảng giới hạn mà ở đó sự thay đổi về
lượng của sự vật chưa làm thay đổi căn bản chất của sự vật ấy. Độ là mối liên
hệ giữa lượng và chất của sự vật, ở đó thể hiện sự thống nhất giữa chất và lượng
của sự vật. Trong độ, sự vật vẫn là nó chứ chưa biến thành cái khác.
Sự vận động, biến đổi của sự vật, hiện tượng thường bắt đầu từ sự thay đổi
về lượng. Khi lượng thay đổi đến một giới hạn nhất định thì sẽ dẫn đến sự thay
đổi căn bản về chất. Giới hạn đó chính là điểm nút.
Điểm nút là phạm trù triết học dùng để chỉ thời điểm mà tại đó sự thay đổi về
lượng đã đủ làm thay đổi về chất của sự vật. Sự vật tích lũy đủ về lượng tại
điểm nút sẽ làm cho chất mới của nó ra đời. Lượng mới và chất mới của sự vật
thống nhất với nhau tạo nên độ mới và điểm nút mới của sự vật đó, quá trình
này diễn ra liên tếp trong sự vật và vì vậy sự vật luôn phát triển chừng nào nó còn tồn tại.
Chất của sự vật thay đổi do lượng của nó thay đổi gây ra gọi là bước nhảy.
Bước nhảy là phạm trù triết học dùng để chỉ sự chuyển hóa về chất của sự vật
do sự thay đổi về lượng của sự vật trước đó gây nên.
Bước nhảy là sự kết thúc của một giai đoạn phát triển của sự vật và là điểm khởi
đầu của một giai đoạn phát triển mới. Đó là sự gián đoạn trong quá trình vận
động và phát triển liên tục của sự vật. Có thể nói trong quá trình phát triển của
sự vật, sự gián đoạn là tiền đề cho sự liên tục và sự liên tục là sự kế tiếp của
hàng loạt sự gián đoạn.
Chất mới của sự vật chỉ có thể xuất hiện khi sự thay đổi về lượng đạt tới điểm
nút. Chất mới của sự vật ra đời sẽ tác động trở lại lượng đã thay đổi của sự vật,
chất mới ấy có thể làm thay đổi kết cấu, quy mô, trình độ, nhịp điệu của sự vận
động và phát triển của sự vật.
Tóm lại, bất kỳ sự vật, hiện tượng nào cũng có sự thống nhất biện chứng
giữa hai mặt chất và lượng. Sự thay đổi dần về lượng tới điểm nút sẽ dẫn đến sự
thay đổi về chất thông qua bước nhảy. Chất mới ra đời sẽ tác động trở lại với
lượng dẫn đến sự thay đổi của lượng mới. Quá trình đó liên tục diễn ra, tạo
thành cách thức phổ biến của các quá trình vận động, phát triển của sự vật, hiện
tượng trong tự nhiên, xã hội và tư duy.
Ý nghĩa phương pháp luận
Vì bất kỳ sự vật nào cũng có phương diện chất và lượng tồn tại trong tính qui
định lẫn nhau, tác động và làm chuyển hóa lẫn nhau, cho nên trong nhận thức và
thực tiễn cần phải coi trọng cả hai loại chỉ tiêu về phương diện chất và lượng
của sự vật, tạo nên sự nhận thức toàn diện về sự vật.
– Vì những thay đổi về lượng của sự vật có khả năng trong những điều kiện
nhất định sẽ chuyển hóa thành những thay đổi về chất và ngược lại, cho nên
trong hoạt động nhận thức và thực tiễn, tùy theo mục đích cụ thể, cần từng bước
tích lũy về lượng để có thể làm thay đổi về chất của sự vật; đồng thời, có thể
phát huy tác động của chất mới theo hướng làm thay đổi về lượng của sự vật.
– Vì sự thay đổi về lượng chỉ có thể dẫn tới những biến đổi về chất của sự vật
với điều kiện lượng phải được tích lũy tới giới hạn điểm nút, cho nên trong công
tác thực tiễn cần phải khắc phục tư tưởng nôn nóng tả khuynh; mặt khác, theo
tính tất yếu qui luật thì khi lượng đã được tích lũy đến giới hạn điểm nút sẽ tất
yếu có khả năng diễn ra bước nhảy về chất của sự vật, do đó, cũng cần phải
khắc phục tư tưởng bảo thủ hữu khuynh trong công tác thực tiễn. Tả khuynh
chính là hành động bất chấp qui luật, chủ quan, duy ý chí, không tích lũy về
lượng mà chỉ chú trọng thực hiện những bước nhảy liên tục về chất; hữu
khuynh là sự biểu hiện tư tưởng bảo thủ, trì trệ, không dám thực hiện bước nhảy
dù lượng đã tích lũy tới điểm nút và quan niệm phát triển chỉ đơn thuần là sự tiến hóa về lượng.
– Hình thức bước nhảy của sự vật là hết sức đa dạng, phong phú, do vậy trong
nhận thức và thực tiễn cần phải có sự vận dụng linh hoạt các hình thức của bước
nhảy cho phù hợp với từng điều kiện, từng lĩnh vực cụ thể. Đặc biệt, trong đời
sống xã hội, quá trình phát triển không chỉ phụ thuộc vào điều kiện khách quan,
mà còn phụ thuộc vào nhân tố chủ quan của con người. Do đó, cần phải nâng
cao tính tích cực chủ động của chủ thể để thúc đẩy quá trình chuyển hóa từ
lượng đến chất một cách có hiệu quả nhất.
Vấn đề 8: Vai trò của thực tiễn đối với nhận thức (khái niệm nhận thức, khái
niệm thực tiễn, phân tích vai trò của thực tiễn đối với nhận thức) Khái niệm:
Thực tiễn là toàn bộ hoạt động vật chất có tính lịch sử xã hội của con người nhằm cải
taọ tự nhiên và xã hội phục vụ nhân loại tiến bộ
Nhận thức là quá trình phản ánh tích cực, tự giác và sáng tạo thế giới khách
quan vào bộ óc con người trên cơ sở thực tiễn, nhằm sáng tạo ra những tri thức
về thế giới khách quan đó.
Phân tích vai trò của thực tiễn đối với nhận thức
Đối với nhận thức, thực tiễn đóng vai trò là cơ sở, động lực, mục đích của nhận
thức và là tiêu chuẩn của chân lý, kiểm tra tính đúng đắn của quá trình nhận thức chân lý:
– Thực tiễn là nguồn gốc, cơ sở (điểm xuất phát) của nhận thức:
Thông qua hoạt động thực tiễn, con người nhận biết được cấu trúc; tính chất và
các mối quan hệ giữa các đối tượng để hình thành tri thức về đối tượng. Hoạt
động thực tiễn bổ sung và điều chỉnh những tri thức đã được khái quát. Thực
tiễn đề ra nhu cầu, nhiệm vụ, cách thức và khuynh hướng vận động và phát triển
của nhận thức. Chính nhu cầu giải thích, nhận thức và cải tạo thế giới buộc con
người tác động trực tiếp vào đối tượng bằng hoạt động thực tiễn của mình.
Chính sự tác động đó đã làm cho các đối tượng bộc lộ những thuộc tính, những
mối liên hệ và các quan hệ khác nhau giữa chúng đem lại cho con người những
tri thức, giúp cho con người nhận thức được các quy luật vận động và phát triển
của thế giới. Trên cơ sở đó hình thành các lý thuyết khoa học.
Do đó, nếu XA RỜI THỰC TIỄN, không dựa vào thực tiễn thì nhận thức sẽ xa
rời cơ sở hiện thực nuôi dưỡng sự phát sinh, tồn tại và phát triển của mình.
Cũng vì thế, chủ thể nhận thức KHÔNG THỂ có được những tri thức đúng đắn
và sâu sắc về thế giới nến nó xa rời thực tiễn. Vai trò của thực tiễn đối với nhận
thức, đòi hỏi chúng ta phải luôn luôn quán triệt quan điểm thực tiễn. Quan điểm
này yêu cầu việc nhận thức phải xuất phát từ thực tiễn, dừa trên cơ sở thực tiễn,
đi sâu vào thực tiễn, phải coi trọng công tác tổng kết thực tiễn. Việc nghiên cứu
lý luận phải liên hệ với thực tiễn, học đi đôi với hành. Nếu xa rời thực tiễn sẽ
dẫn đến sai lầm của bệnh chủ quan, duy ý chí, giáo điều, máy móc, quan liêu.
Ngược lại, nếu tuyệt đối hóa vai trò của thực tiễn sẽ rơi vào chủ nghĩa thực dụng
và kinh nghiệm chủ nghĩa. Như vậy, nguyên tắc thống nhất giữa thực tiễn và lý
luận phải là nguyên tắc cơ bản trong hoạt động thực tiễn và hoạt động lý luận;
lý luận mà không có thực tiễn làm cơ sở và tiêu chuẩn để xác định tính chân lý
của nó thì đó chỉ là lý luận suông, ngược lại, thực tiễn mà không có lý luận khoa
học, cách mạng soi sáng thì nhất định sẽ biến thành thực tiễn mù quáng.
– Thực tiễn là động lực của nhận thức:
Hoạt động thực tiễn góp phần hoàn thiện các giác quan, tạo ra khả năng phản
ánh nhạy bén, chính xác, nhanh hơn; tạo ra các công cụ, phương tiện để tăng
năng lực phản ánh của con người đối với tự nhiên. Những tri thức được áp dụng
vào thực tiễn đem lại động lực kích thích quá trình nhận thức tiếp theo.
+ Thực tiễn sản xuất vật chất và cải biến thế giới đặt ra yêu cầu buộc con người
phải nhận thức về thế giới.
+ Thực tiễn làm cho các giác quan, tư duy của con người phát triển và hoàn
thiện, từ đó giúp con người nhận thức ngày càng sâu sắc hơn về thế giới.
- Thực tiễn là mục đích của nhận thức:
Mục đích cuối cùng của nhận thức là giúp con người hoạt động thực tiễn nhằm
cải biến thế giới. Nhấn mạnh vai trò này của thực tiễn Lênin đã cho rằng: “Quan
điểm về đời sống, về thực tiễn, phải là quan điểm thứ nhất và cơ bản của lý luận về nhận thức”.
Nhận thức không chỉ thoả mãn nhu cầu hiểu biết mà còn đáp ứng nhu cầu nâng
cao năng lực hoạt động để đưa lại hiệu quả cao hơn, đáp ứng nhu cầu ngày càng
tăng của con người. Thực tiễn luôn vận động, phát triển nhờ đó, thực tiễn thúc
đẩy nhận thức vận động, phát triển theo. Thực tiễn đặt ra những vấn đề mà lý luận cần giải quyết.
Chỉ có thông qua hoạt động thực tiễn, thì tri thức con người mới thể hiện được
sức mạnh của mình, sự hiểu biết của con người mới có ý nghĩa. Bằng thực tiễn
mà kiểm chứng nhận thức đúng hay sai, khi nhận thức đúng thì nó phục vụ thực
tiễn phát triển và ngược lại
Thực tiễn là tiêu chuẩn tiêu chuẩn của chân lý:
Bằng thực tiễn mà kiểm chứng nhận thức đúng hay sai. Khi nhận thức đúng thì
nó phục vụ thực tiễn phát triển và ngược lại. Như vậy, thực tiễn là thước đo
chính xác nhất để kiểm tra tính đúng đắn của tri thức, xác nhận tri thức đó có
phải là chân lý hay không. Mác đã từng khẳng định: “Vấn đề tìm hiểu xem tư
duy của con người có thể đạt tới chân lý khách quan hay không, hoàn toàn
không phải là vấn đề lý luận mà là một vấn đề thực tiễn. Chính trong thực tiễn
mà con người phải chứng minh chân lý”. Nguyên tắc:
Từ vai trò của thực tiễn đối với nhận thức đòi hỏi chúng ta phải luôn quán triệt
quan điểm thực tiễn. Quan điểm này yêu cầu:
– Phải quán triệt quan điểm thực tiễn: việc nhận thức phải xuất phát từ thực tiễn.
– Nghiên cứu lý luận phải đi đôi với thực tiễn; học phải đi đôi với hành. Xa rời
thực tiễn dẫn đến bệnh chủ quan, giáo điều, máy móc, quan liêu.
– Nhưng không được tuyệt đối hóa vai trò của thực tiễn, tuyệt đối hóa vai trò
của thực tiễn sẽ rơi vào chủ nghĩa thực dụng. CHƯƠNG III
CHỦ NGHĨA DUY VẬT LỊCH SỬ
Vấn đề 9 : Quy luật quan hệ sản xuất phù hợp với trình độ phát triển của lực
lượng sản xuất (Khái niệm: Phương thức SX, Lực lượng SX, Quan hệ SX;
phân tích biện chứng giữa LLSX và QHSX; ý nghĩa của quy luật) Khái niệm:
Phương thức sản xuất là cách thức con người tiến hành quá trình sản xuất vật
chất ở những giai đoạn lịch sử nhất định của xã hội loài người
Phương thức sản xuất là sự thống nhất giữa lực lượng sản xuất với một trình độ
nhất và quan hệ sản xuất
Lực lượng sản xuất là sự kết hợp giữa người lao động với tư liệu sản xuất, tạo ra
sức sản xuất và năng lực thực tiễn làm biến đổi các đối tượng vật chất của giới
tự nhiên theo nhu cầu nhất định của con người và xã hội
Quan hệ sản xuất là tổng hợp các quan hệ kinh tế - vật chất giữa con người với
con người trong quá trình sản xuất vật chất Quan hệ:
Lực lượng sản xuất quyết định Quan hệ sản xuất. Khuynh hướng chung của sản
xuất vật chất là không ngừng phát triển. Sự phát triển đó xét đến cùng bắt nguồn
từ sự biến đổi và phát triển của lực lượng sản xuất mà trước hết là công cụ lao
động. Sự phát triển của Lực lượng sản xuất được đánh dấu bằng trình độ của
Lực lượng sản xuất; được thể hiện trình độ chinh phục tự nhiên của con người