










Preview text:
Mục lục
Câu 1: phân tích cơ sở sinh lý của hoạt động thể lực: 2
Câu 1: phân tích cơ sở sinh lý của hoạt động thể lực:
- Các kỹ năng vận động do yêu cầu của mục đích vận động và để thích nghi với điều kiện sống, các phản xạ vận động được phối hợp lại với nhau thành tổ hợp các động tác có ý nghĩa để trở thành kỹ năng vận động. Có 3 giai đoạn: lan tỏa, tập chung, tự động hóa
- Các tố chất vận động: Các mặt khác nhau của khả năng vận động, gồm có 4 tố chất cơ bản: sức nhanh, sức mạnh, sức bền, khéo léo.
+ Sức mạnh là khả năng khắc phục lực cản bên ngoài của cơ phụ thuộc vào đặc tính của quá trình thần kinh điều khiển sự co cơ, phụ thuộc vào số lượng đơn vị co chứa trong cơ.
- Cơ sở sinh lý để phát triển sức mạnh cần phải có 1 số lượng lớn cơ căng ra co cùng một lúc.
- Tăng tính đồng bộ trong sự hoạt động của các nhóm cơ và tăng độ dày tiết diện ngang, luyện tập đặc biệt có thể tăng sức mạnh lên 3 đến 4 lần so với lúc ban đầu
+ Sức nhanh là kỹ năng thực hiện động tác trong thời gian ngắn nhất, được thể hiện dưới hai hình thức: sức nhanh đơn giản và sức nhanh phức tạp
- Sức nhanh đơn giản bao gồm các động tác phản ứng đơn lẻ
- Sức nhanh phức tạp tổng hợp các động tác hoạt động vận động
- Cơ sở sinh lý đối với sức nhanh đòi hỏi phải tăng cường độ linh hoạt và tốc độ lan tỏa hưng phấn ở trung ương thần kinh.
- Để tạo ra sức nhanh đòi hỏi cần có thời gian
+ Sức bền khả năng thực hiện động tác trong thời gian dài, kỹ năng chống đỡ của cơ thể trong thời gian dài
- Cơ sở sinh lý: tốc độ phát triển của chức năng tim mạch, hô hấp, trạng thái của máu và dự trữ các chất dinh dưỡng trong cơ thể, tuyến nội tiết, quá trình điều nhiệt.
- Sức bền được thể hiện ở 4 dạng: sức bền chung, súc bền chuyên môn, sức bền mạnh, sức bền tốc độ.
+ Khéo léo là khả năng thực hiện động tác phức tạp trong điều kiện môi trường thay đổi
- Cơ sở sinh lý: các phản xạ môi trường phức tạp phụ thuộc vào trạng thái của hệ thần kinh trung ương, tốc độ sử lý trung ương
Câu 2: Anh ( chị ) hãy phân tích: cơ thể con người là hệ sinh học thống nhất, trao đổi chất và năng lượng.
Cơ thể con người là hệ sinh học thống nhất, trao đổi chất và năng lượng
- Cơ thể con người luôn là hệ sinh học hoàn chỉnh, nó có khả năng tự điều chỉnh, tự phát triển. Sự thống nhất của cơ thể thể hiện trên hai mặt
+ Sự biến đổi của cơ quan trong cơ thể nhất thiết ảnh hưởng tới cơ quan khác hay hoặt động của toàn cơ thể
+ Cơ thể trao đổi chất với mỗi trường xung quanh dẫn tới sự tác động của môi trường, dẫn đến sự thay đổi trạng thái của cơ thể, từ đó ảnh hưởng tới hoạt động của cơ thể
- Trao đổi chất và liên tục của cơ thể diễn ra hai quá trình đồng hóa và dị hóa:
+ Đồng hóa hấp thụ các chất dinh dưỡng, oxi để tích lũy các chất cho cơ thể
+ Dị hóa phân giải các chất hóa học hấp thụ được để tạo ra năng lượng cho cơ thể hoạt động
- Năng lượng hấp thụ = Năng lượng tiêu hao ( cân bằng năng lượng)
- Năng lượng hấp thụ > Năng lượng tiêu hao ( cân bằng năng lượng dương)
- Năng lượng hấp thụ < Năng lượng tiêu hao ( cân bằng năng lượng âm)
Các chất cần thiết cho cơ thể
- Chất đường ( gluxit ): là chất cung cấp năng lượng chủ yếu cho cơ thể, 1g đường qua quá trình phân giải cho ta 4,1kcal được sử dụng ở não và cơ. Cơ thể luôn bão hòa đường dưới dạng glucozo chứa ở các mô, trong máu đường luôn ổn định ở 80-120 mg%. Trước các hoạt động, hàm lượng đường tăng theo phản xạ, giúp cơ thể hoạt động và thích nghi với vận động tốt hơn; trước các hoạt động thể lực căng thẳng kéo dài dẫn tới hàm lượng đường giảm xuống 70mg% dẫn tới rối loạn hoạt của não; nếu xuống tới 60mg% thì cơ thể không hoạt động.
+ Đối với vận động viên do có tập luyện hệ thống, hàm lượng đường có thể xuống 40% vẫn có thể thi đấu, từ đó ta có thể thấy tập luyện thể dục thể thao thì sức chịu đựng của con người có thể tăng sức chịu đựng của cơ thể
+ Ở gan và cơ, đường được dự trữ dưới dạng glucogen 300gr đối với người thường, 500gr đối với vận động viên
+ Đường được tiêu hao vận động đầu tiên
- Chất mỡ ( lipit) là chất cung cấp năng lượng cao nhất. 1gam mỡ phân giải thành 9,3 kcal
+ Tác dụng của chất mỡ: bảo vệ cơ thể không mất nhiệt; Bảo vệ cơ quan nội tạng khi va chạm cơ học; Tham gia vào cấu tạo màng tế bào.
+ Trong trao đổi năng lượng, mỡ được sử dụng dưới dạng axit béo ở cơ trơn, cơ xương ( cơ vân )
+ Khi hàm lượng dự trữ đã cạn thì năng lượng được tạo ra bằng cách phân giải mỡ
- Chất đạm ( protein) là chất cấu tạo cơ bản của cơ thể. Khi cơ thể đói kéo dài, đường và mỡ dự trữ đã cạn, đạm tham gia để cung cấp năng lượng. 1gam đạm phân giải thành 4kcal
+ Đạm không có dự trữ trong cơ thể được sử dụng ở cơ quan khác quan trọng hơn
+ Đạm có ở nhiều gan động vật
- Vitamin, nước và muối khoáng: duy trì áp suất trong cơ thể, để đảm bảo sự ổn định ở bên trong cơ thể.
+ Vitamin là chất xúc tác quá trinhg chuyển hóa các chất trong cơ thể, tăng khả năng hoạt động
Câu 3: Anh (chị) hãy làm rõ vai trò của các chất dinh dưỡng đối với cơ thể con người và trong quá trình hoạt động thể dục thể thao.
- Chất đường ( gluxit ): là chất cung cấp năng lượng chủ yếu cho cơ thể, 1g đường qua quá trình phân giải cho ta 4,1kcal được sử dụng ở não và cơ. Cơ thể luôn bão hòa đường dưới dạng glucozo chứa ở các mô, trong máu đường luôn ổn định ở 80-120 mg%. Trước các hoạt động, hàm lượng đường tăng theo phản xạ, giúp cơ thể hoạt động và thích nghi với vận động tốt hơn; trước các hoạt động thể lực căng thẳng kéo dài dẫn tới hàm lượng đường giảm xuống 70mg% dẫn tới rối loạn hoạt của não; nếu xuống tới 60mg% thì cơ thể không hoạt động.
+ Đối với vận động viên do có tập luyện hệ thống, hàm lượng đường có thể xuống 40% vẫn có thể thi đấu, từ đó ta có thể thấy tập luyện thể dục thể thao thì sức chịu đựng của con người có thể tăng sức chịu đựng của cơ thể
+ Ở gan và cơ, đường được dự trữ dưới dạng glucogen 300gr đối với người thường, 500gr đối với vận động viên
+ Đường được tiêu hao vận động đầu tiên
- Chất mỡ ( lipit) là chất cung cấp năng lượng cao nhất. 1gam mỡ phân giải thành 9,3 kcal
+ Tác dụng của chất mỡ: bảo vệ cơ thể không mất nhiệt; Bảo vệ cơ quan nội tạng khi va chạm cơ học; Tham gia vào cấu tạo màng tế bào.
+ Trong trao đổi năng lượng, mỡ được sử dụng dưới dạng axit béo ở cơ trơn, cơ xương ( cơ vân )
+ Khi hàm lượng dự trữ đã cạn thì năng lượng được tạo ra bằng cách phân giải mỡ
- Chất đạm ( protein) là chất cấu tạo cơ bản của cơ thể. Khi cơ thể đói kéo dài, đường và mỡ dự trữ đã cạn, đạm tham gia để cung cấp năng lượng. 1gam đạm phân giải thành 4kcal
+ Đạm không có dự trữ trong cơ thể được sử dụng ở cơ quan khác quan trọng hơn
+ Đạm có ở nhiều gan động vật
- Vitamin, nước và muối khoáng: duy trì áp suất trong cơ thể, để đảm bảo sự ổn định ở bên trong cơ thể.
+ Vitamin là chất xúc tác quá trinhg chuyển hóa các chất trong cơ thể, tăng khả năng hoạt động
Câu 4: Anh (chị) hãy phân tích kỹ năng vận động. Cho ví dụ cụ thể về hoạt động thể dục thể thao và phân tích quá trình hình thành các giai đoạn của kỹ năng vận động?
- Kỹ năng vận động là khả năng vận động được hình thành và củng cố trong quá trình vận động ( tập luyện). kỹ năng vận động được hình thành theo cơ chế phản xạ có điều kiện nhờ quá trình tập luyện thường xuyên.
- Kỹ năng vận động được hình thành qua ba giai đoạn: Lan tỏa, tập trung, tự động hóa.
- Ví dụ: những kỹ năng vận động cơ bản như: đi, chạy, nhảy. Những kỹ năng hình thành thông qua luyện tập như: các môn bóng, các môn bơi,..
- Giai đoạn lan toả: hưng phấn lan rộng trên vỏ đại não vì chưa hình thành được một tổ hợp các phản xạ tối ưu; nhiều nhóm cơ không cần thiết cũng tham gia vào vận động, động tác vì thế không chính xác, thiếu kinh tế, nhiều cử động thừa. Ví dụ về người moi tập đi xe đạp :lúc đầu mới tập đi, do không biết cách kết hợp giữa tay, chân và phan than làm cho việc đi xe hết sức khó khăn. Tư thế ngồi làm cho việc điều khiển hướng lái rất khó,người đi xe chỉ có thể tập trung vào việc điều khiển tay lái, sử dụng cả cơ ở cổ tay lẫn vai để điều khiển,nhưng lại chưa kết hợp được chân đạp xe. Toàn bộ cơ thể người lúc đó dồn về tay cầm. Khiến người đi khó điều khiển hướng đi theo ý muốn.
- Sau một thời gian tập luyện, động tác được hoàn thiện dần tức là giai đoạn lan toả đã chuyển dần sang giai đoạn tập trung; ở giai đoạn này, hưng phấn được tập trung ở những vùng nhất định trên vở não cần thiết cho vận động, các động tác thừa mất đi, cơ co duỗi hợp lý , động tác trở nên nhịp nhàng chính xác và thoải mái; kỹ năng vận động đã được hình thành tương đối ổn định nhưng khi thực hiện động tác người tập vẫn cần có sự tập trung nhất định nếu không rất có thể động tác sẽ lại bị phá vỡ. Sau 1 thời gian làm quen với xe, người đi sau khi tập kết hợp các cử động của các cơ, tay điều khiển hướng lái, chân đạp vào bàn đạp. Lưng ngồi thẳng, trọng lượng cơ thể lúc này đã dồn nhiều về yên xe, giảm lực đè lên tay lái, khiến việc đi dễ dàng hơn nhiều. Chân đạp đều dần,nhịp nhàng người ngồi với tư thế thoải mái. Tuy vậy, người đi vẫn cần có sự tập trung vào lái xe. Nếu không sẽ có thể bị đạp ngược mà mình cũng không hề nhận ra. Hoặc hướng lái bị lệch, khiếnn trọng tâm không giữ ở yên xe...
- Khi kỹ năng được thực hiện lặp lại nhiều , được củng cố đến mức khi thực hiện bài tập, củ động của người tập hầu như tự động không cần có sự chú ý của ý thức. Kỹ năng vận động ở giai đoạn này rất ổn định, sự tự động hóa kỹ năng vận động cho phép có thể thực hiện chính xấc nhiều động tác khác nhau cùng một lúc( vừa đi xe đạp vừa nói chuyện.....). Đỉnh cao của các kỹ năng vận động là các kỹ xảo; ở một số động tác nhất định động tác kỹ thuật phát triển tới mức ngoại suy, người ta có thể thực hiện động tác trong các tình huống rất phức tạp mà vẫn đạt kết quả tốt:dễ thấy ở các diễn viênn làm xiếc, khi kỹ năng đi xe của họ đã ở mức đỉnh cao. Họ kết hợp các động tác một cách nhuần nhuyễn mà không cần có sự chú ý của ý thức. Họ có thể đi xe đạp bắt chéo tay, bỏ hai tay. Tòan bộ trong lượng cơ thể dồn về yên xe, họ điều khiển xe bằng chân và thân, thậm chí có người có thể nhấc bánh trước lên và đi ....
Câu 5: Anh (chị) hãy phân tích nguyên tắc tập luyện thể dục thể thao: tiến dần từng bước và nguyên tắc thích hợp cá biệt. Nêu ví dụ làm rõ hai nguyên tắc này.
- Nguyên tắc tiến dần từng bước: Khi tập luyện luôn tôn trọng nguyên tắc tập động tác dễ trước, khó sau, những động tác đơn giản trước, những động tác phức tạp sau. Khi mới tập còn nhiều sai sót tập ít để sửa chữa sai sót, khi định hình được kỹ thuật tập nhiều lên, lượng vận động cũng tăng từ ít đến nhiều ( lượng vận động biểu hiện ở những vấn đề: thời gian tập, nội dung tập, số lần tập, cường độ tập, dãn cách và nghỉ giữa quãng…)
- Nguyên tắc thích hợp và cá biệt: bài tập phải thích hợp với người tập về khả năng tiếp thu, trình độ thể lực kể cả lứa tuổi, giới tính và tinh thần. Do đó khi luyện tập, người tập phải lựa chọn các bài tập phù hợp với mình, cần thiết cho sự giúp đỡ của thầy cô giáo hoặc người cùng tập, nhất là những môn thể thao đòi hỏi khéo léo. Nếu tự tập cần chú ý lượng vận động sao cho cơ thể chịu đựng được, tránh mệt mỏi quá độ. Trong số đông, cá biệt có những sinh viên có năng khiếu và thể lực tốt, rất cần tập vượt những yêu cầu chung để nâng cao thành tích thể thao và đạt kết quả cao hơn. Trong phạm vi trường học có thể sử dụng những sinh viên trên trợ giới cho những sinh viên yếu hoàn thành bài tập.
Câu 6: Anh (chị) hãy phân tích phương pháp tổ chức buổi tập luyện thể dục thể thao. Để buổi tập có hiệu quả, cần chú ý đến yếu tố nào?
Mỗi buổi tập gồm 3 phần, yêu cầu người tập phải tuân theo để bảo đảm luyện tập có khoa học, có hệ thống và để thể lực cùng thành tích thể thao được nâng cao dần, đồng thời giảm tối đa các phản ứng xấu, chấn thương có thể xảy ra cho người tập.
- Phần chuẩn bị: 2 nội dung
- Khởi động chung: gồm các bài tập thể dục tay không chayj, nhảy, các khớp.. mục đích chính khởi động chung là đưa cơ thể từ trạng thái bình thường sang trạng thái vận động và vận động với cường độ cao.
- Khởi động chuyên môn: gồm những bài tập chuẩn bị cho phần cơ bản ( phần chính của buổi tập), những bài tập này có kỹ thuật gần giống hoặc phân đoạn của nội dung chính, có khi là những nội dung đã thành kỹ năng vận động.
- Mục đích là bổ trợ cho nội dung cơ bản và ôn tập cho nội dung hoàn thiện.
- Phần cơ bản:
Là phần chính của buổi tập, gồm những bài tập mới ( động tác mới) nên tập đầu tiên sau đó là những bài tập đang hoàn thiện để trở thành kỹ năng kỹ xảo vận động. cuối cùng dành 10-15 phút tập thể lực. các bài tập nâng cao sức bền sắp xếp vào cuối buổi tập, không tập tăng tốc độ và các bài tập khéo léo khi cơ thể mệt mỏi.
Trong phần cơ bản, lượng vận động là vấn đề người tập phải lưu ý. Hai yếu tố cường độ vận động và mật độ vận động liên quan với nhau quyết định lượng vận động lớn hay nhỏ. Lượng vận động phải phù hợp với sức khỏe từng người. nếu lượng vận động nhỏ thì ít tác dụng lươngj vận động vừa với sức chịu đựng, người tập không phải gắng sức tối đã, tác dụng buổi tập tốt. Lượng vận động quá cao gây mệt mỏi quá sức chịu đựng, nếu kéo dài nhiều buổi tập có thể gây ra chấn thương, mệt mỏi quá độ, sức khỏe giảm sút dẫn tới không tiếp tục tập luyện được, có khi phải điều trị an dưỡng.
- Phần kết thúc: cuối phần cơ bản cơ thể mệt mỏi phải tập các bài thả lỏng cơ bắp, hồi tĩnh, tập thở, các trò chơi làm căng thẳng xoa bóp tắm nước nóng, taứm hơi. Mục đích đưa cơ thể dần về trạng thái bình thường để phục hồi thể lực chuẩn bị cho ngày học tập làm việc tiếp theo.
- Để nâng cao hiệu quả buổi tập cần chú ý tới…
Câu 7: Anh (chị) phân tích quá trình phát triển của thể dục thể thao từ xã hội chiếm hữu nô lệ đến xã hội tư bản?
Sơ lược lịch sử phát triển của thể dục thể thao
- Thể dục thể thao là một hiện tượng xã hội ra đời cùng với sự hình thành của xã hội loài người từ khi xuất hiện các yếu tố cơ bản đến hệ thống ngày nay phải trải qua hàng nghìn năm, sự phát triển thể dục thể thao luôn phù hợp với quá trình phát triển của loài người và có một vị trí quan trọng trong đời sống xã hội.
- Trong xã hội nguyên thủy
- Cuộc sống tự nhiên đòi hỏi các thành viên những yêu cầu về sự chuẩn bị nhất định( tố chất: sức mạnh, sức nhanh, sức bền, khéo léo…) khả năng săn bắt đấu tranh với thiên tai khắc nhiệt, do đó hình thành một hệ thống thể dục thể thao rất đa dạng. Nhiều bộ tộc biết sử dụng các bài tập thể dục và trò chơi như một phương tiện đặc biệt tạo cho con người bước vào cuộc sống tự nhiên
- Có rất nhiều bài tập rất gần gũi với cuộc sống lao động, đây chính là dấu hiệu đầu tiên của thể dục thể thao trong xã hội nguyên thủy
- Trong xã hội chiếm hữu nô lệ
- Điển hình là từ thời cổ đại Hi Lạp. Các nội dung, bài tập thể dục thể thao luôn phù hợp với điều kiện và yêu cầu của chế độ nông nô từ 15 tuổi trở lên phải học vật chiến đấu
- Trong xã hội phong kiến
- Trong xã hội phong kiến thể dục thể thao lại chuyển sang một giai đoạn mới, nó toàn diện hơn, đa dạng hơn nhất là những nước có nền kinh tế phát triển, các cuộc đấu tranh xã hội trong thời kì này lan rộng. Mỗi 1 quốc gia đều chuẩn bị cho mình 1 lực lượng quân đội hùng hậu.
- Quân đội thời kỳ này phải rèn luyện về mặt thể lực, phải tập thể dục thể thao để tăng cường các kyc năng tác chiến
- Trong xã hội tư bản
- Thể dục thể thao phát triển ở trình độ cao được coi là bộ phận quan trọng của nền văn hóa xã hội, thể dục thể thao của tư bản mang tính thương mại rõ rệt: xuất hiện các câu lạc bộ chuyên nghiệp và các vận động viên nhà nghề. Thể dục thể thao phát triển không ngừng và có một vị trí quan trọng trong cuộc sống.