PHẦN LÝ THUYẾT THỂ DỤC
LỜI NÓI ĐẦU
Ai cũng hiểu sức khỏe là vốn quý của con người, nhưng không phải ai cũng hiểu
đúng đầy đủ về nó. Để được những kiến thức bao quát vvấn đề này cần phải
nghiên cứu, tìm hiểu tích lũy từ rất nhiều lĩnh vực như y học, dinh dưỡng, hình
thái học, tâm học, vsinh học… Mỗi lĩnh vực nghiên cứu sẽ cung cấp cho chúng
ta một mảng ghép trong bức tranh toàn diện về sức khỏe.
Phần lý thuyết TDTT này hi vọng s trang bị cho người học những kiến
thức và kỹ năng thực hành nhằm hình thành ở họ lối sống lành mạnh, biết cách ứng
dụng các biện pháp vệ sinh yếu tố môi trường vào quá trình giáo dục thể chất
cũng như trong các hoạt động thể thao quần chúng và huấn luyện thể thao.
CHƯƠNG I: VAI TRÒ CỦA THỂ DỤC THỂ THAO ĐỐI VỚI SỰ PHÁT
TRIỂN HÀI HOÀ, CÂN ĐỐI THỂ CHẤT CON NGƯỜI
I. NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG VỀ SỨC KHOẺ
Theo Tổ chức Y tế Thế giới (WHO), đó một trạng thái hài hoà về thể
chất, tinh thần hội, không chỉ nghĩa không bệnh hay thương
tật, cho phép mỗi người thích ứng nhanh chóng với các biến đổi của môi
trường, giữ được lâu dài khả năng lao động và lao động có kết quả.
Sức khoẻ bao gồm sức khoẻ thể (từng người), sức khoẻ gia đình, sức
khoẻ cộng đồng, sức khoẻ xã hội. Sức khoẻ một trong những yếu t
bản, đầu tiên đhọc tập, lao động, đẩy mạnh sản xuất, phát triển kinh tế, xây
dựng đất nước.
Sức khoẻ phụ thuộc vào nhiều yếu tố: Cá nhân, môi trường, cộng đồng,
hội, tình trạng những vấn đchung của từng nước toàn thế giới môi
trường sinh thái, chiến tranh khu vực, mức sống còn thấp, sự bóc lột ở một số
nước chậm phát triển...
Có nhiều phương pháp để củng cố và tăng cường sức khoẻ như: chế độ
dinh dưỡng, liệu pháp tâm lý, các thực phẩm hỗ trợ chức năng, nhưng không
có liệu pháp nào hiệu quả hơn việc tập luyện TDTT.
II. NGUỒN GỐC CỦA THỂ DỤC THỂ THAO
A. Nguồn gốc của Thể dục thể thao
Thể dục thể thao ra đời phát triển theo sự phát triển của xã hội loài người.
Lao động sản xuất nguồn gốc bản của thdục thể thao. Nói cách khác,
đó sở sinh tồn của tất cả mọi hoạt động, hoạt động thực tiễn bản
nhất. Thể dục thể thao được phát sinh trong những điều kiện sinh hoạt vật
chất nhất định của xã hội đặc biệt là săn bắt.
Trong thời cổ xưa con người sống thành từng bầy lớn sinh sống bằng săn
bắt bộ phận kinh tế sản xuất ra vật phẩm tiêu dùng chủ yếu nhất của thời
đó. Ngay trong quá trình giải quyết những vấn đề thiết thân: Ăn, ở, mặc...
của mình. Tất cả mọi hoạt động của con người đều phục vụ săn bắn. Nhờ
săn bắt con người kiếm được thức ăn một số vật phẩm tiêu dùng. Chính
vậy muốn được thức ăn sống được an toàn, họ luôn phải đấu tranh
với thiên tai và thú dữ, con người phải biết leo trèo, lội qua suối, bơi qua
sông v.v... Nói cách khác săn bắt cuộc thi giữa con người con vật về
sức nhanh sức mạnh, sức bền. Thực tế đấu tranh khốc liệt để sinh tồn đó
buộc con người phải biết chuẩn bị, dạy và học. Đây chính là điều kiện khách
quan đề ra đời TDTT mặt khác do hoạt động duy rất sớm những kinh
nghiệm hoạt động của con người được lặp lại nhiều lần trong cuộc sống
dần được tích luỹ lại đã làm cho con người nhận thức được hiện tượng tập
luyện, vì họ hiểu rằng chạy nhiều thì chạy càng nhanh, càng dẻo dai hiệu quả
của cuộc săn bắt càng tốt hơn.
vậy trong quá trình lao động con người nhận thấy việc tập luyện là
cần thiết để chuẩn bị cho lao động, để lao động được khoẻ dẻo dai bền bỉ
cho nên người ta tập động tác tương tự như ném, leo trèo dần già quá trình
lao động tập luyện con người đã tích luỹ được thêm nhiều hiểu biết để
truyền từ thế hệ này sang thế hệ khác. Đây chính điều kiện chủ quan của
sự ra đời của TDTT. Vậy chức năng vốn của TDTT chuẩn bị cho lao
động đi trước lao động trong thời này TDTT mang tính thực dụng trực
tiếp cùng với sự phát triển của loài người đặc biệt sphát triển KH- KT
ngày càng phát triển nó giảm nhẹ sức lao động của con người, thay vào đó là
những máy móc hiện đại tinh vi chủ động, con người chỉ cần điều khiển thì
vai trò của TDTT lại mang tính thực dụng gián tiếp chuẩn bị thể lực cho
con người ngoài ra còn nhiều vai trò chức năng khác như thể dục chữa
bệnh, thể dục nghề nghiệp, thể dục vệ sinh, TD trong thời gian nhàn rỗi, TD
hồi phục làm cho con người có trạng thái thoải mái để bước vào lao động đạt
hiệu quả cao.
Như vậy TDTT xuất hiện ng với sự hình thành của hội loài người
TDTT trở thành biện pháp quan trọng để chuẩn bị cho lao động mà lao động
là điều kiện tự nhiên để đảm bảo cho cuộc sống. Xã hội loài người càng phát
triển TDTT cũng theo đà đó phát triển cho nên TDTT một hiện tượng
xã hội nó thuộc phạm trù vĩnh cửu với ý nghĩa xuất hiện cùng với sự xuất
hiện của XH loài ngươì sẽ tiến triển theo quá trình tiến triển của XH sẽ tồn
tại mãi mãi như những điều kiện tất yếu của nền sản xuất.
B. Đặc tính của TDTT
Điều kiện sống thô sơ, khắc nghiệt, thiếu thốn cả về vật chất tinh
thần của con người cổ xưa khi hội chưa phân chia giai cấp đã hạn chế rất
nhiều hoạt động TDTT. Tuy nhiên điều kiện lịch sử ấy cũng có mặt thuận lợi
mọi thành viên trong hội đều được hưởng thụ bình đẳng như nhau. Về
sau, sự phân chia giai cấp đã làm mất đi sự bình đẳng đó, nhưng những cuộc
xung đột chiến tranh liên miên giữa các blạc, lãnh chúa các quốc gia
cũng góp phần thúc đẩy phát triển của TDTT để phục vụ tốt hơn cho hoạt
động quân sự. Những tư liệu lịch sử để lại đã cho thấy mức độ phát triển khá
cao của TDTT trong thời cổ đại với hệ thống tổ chức huấn luyện thể lực
quân sự chặt chẽ quy trong các Nhà nước Spactơ, Aten; sự ra đời
phát triển của các Olimpic; các tác phẩm nghệ thuật thể hiện ước vọng phát
triển thể chất cân đối cho con người. Tuy nhiên, trong hội bóc lột, chỉ
một số ít những người thuộc giai cấp thống trị được hưởng thụ những
giá trị đó, còn đại bộ phận dân chúng thì chỉ được hưởng phần nào việc giáo
dục thể chất; họ không có được sự tự do, bình đẳng thật sự. Đấy là đặc điểm
cơ bản thể hiện xuyên suốt trong các xã hội còn có bóc lột bất công sau này.
Sự hạn chế về phát triển TDTT trong hội phân chia giai cấp
không đơn giản chỉ phụ thuộc vào lợi ích chủ quan của giai cấp thống trị mà
còn phụ thuộc vào những mối quan hệ kinh tế khách quan gắn với lợi ích
thiết thân mà họ cần củng cố. Những nhà sáng lập chủ nghĩa Mác Lênin đã
phân tích một cách sâu sắc mâu thuẫn bản trong hội phân chia giai
cấp trong lúc sự phát triển của lực lượng sản xuất đòi hỏi phải sự phát
triển cân đối của lực lượng lao động thì quan hệ sản xuất lại cản trở sphát
triển này. Muốn loại bmâu thuẫn đó để tạo điều kiện cho TDTT phát triên
bản, triệt để toàn diện thì cần phải gắn liền với quá trình phát triển
hoàn thiện xã hội, nhằm từng bước xây dựng nên một hội tự do, bình
đẳng, bác ái.
Trong xã hội tư bản hiện đại, nhà cầm quyền cũng đã ít nhiều quan tâm
đến hoạt động TDTT cho những người lao động. Điều này chủ yếu nhằm
phục vụ cho yêu cầu gia tăng về cường độ chất lượng sản xuất, đồng thời
tuyên truyền, lôi kéo đông đảo quần chúng, đặc biệt thanh thiếu niên đi
theo tưởng lối sống của họ. Mục đích cao nhất vẫn chỉ củng cố chế
độ chính trị hiện thu được lợi nhuận càng nhiều. Bên cạnh đó cũng
không thể coi nhẹ áp lực mạnh mẽ của các cuộc đấu tranh của những người
lao động đòi cải thiện điều kiện sống, trong đó có TDTT.
Tính dân tộc luôn được thể hiện rất rõ trong lối sống, nếp nghĩ, tập tục,
truyền thống và văn hoá nói chung (trong đó có TDTT) của từng dân tộc. Nó
được hình thành phát triển trong quá trình dựng nước giữ nước, trong
đấu tranh với tnhiên và hội của từng dân tộc qua từng điều kiện cụ thể.
Tính n tộc ca TDTT Việt Nam như tính nhân văn, tinh thần thượng
võ, ln kết cộng đng th hiện rõ qua kho tàng dân tc v mặt này, t
triết n luyn thân th cho đến các trò chơi vn đng n gian, các
n võ c truyn.
c) Khái niệm Thể dục thể thao, thể chất và phát triển thể chất
* Khái niệm Thể dục thể thao:
Từ những phân tích đặc tính trên thể xác định được khái niệm
TDTT: TDTT bộ phận của nền văn hoá hội, một loại hình hoạt động
phương tiện bản các bài tập thể lực (thể hiện cụ thể qua các cách
thức rèn luyện thân thể) nhằm tăng cường thchất, nâng cao thành tích thể
thao, góp phần làm phong phú đời sống sinh hoạt văn hoá và giáo dục, cùng
tạo nên những con người phát triển cân đối hợp lý.
Xuất phát t ki niệm trên cho thy mt trong nhng vai trò của
TDTT là tăng cưng th cht cho con người, góp phần phát trin cơ th
cân đi, i hoà.
*Khái niệm Th chất:
Thể chất chỉ chất lượng cơ thể con người.
Thể chất những đặc trưng tương đối ổn đinh về hình thái chức
năng của cơ thể, được hình thành và phát triển so bẩm sinh di truyền và ảnh
hưởng, tác động của điều kiện sống.
*Khái niệm Phát triển thể chất:
Phát triển thể chất một quá trình hình thành, biến đổi tuần ttheo
quy luật trong cuộc đời từng người về hình thái, chức năng, tố chất thể lực
năng lực thể chất trong suốt cuộc đời mỗi cá nhân. (Chúng được hình
thành trên và trong cái nền của cơ thể.) Ví dụ: Trẻ em, bào thai, sơ sinh, mẫu
giáo, nhi đồng và trưởng thành.
Th chất bao gồm th hình, công năng và năng lực tch ng ca th.
Thể hình gồm hình thái, cấu trúc của thể, mức độ phát triển, những
chỉ số về hình thái và tỷ lệ giữa chúng cùng các thế. Công năng bao gồm
các tố chất thể lực (sức mạnh, sức nhanh, sức bền..) và những năng lực vận
động bản của con người (đi, chạy, nhảy, ném…). Năng lực thích ứng
khả năng thích ứng chủ yếu về chức năng của thể con người với hoàn
cảnh bên ngoài, bao gồm cả sức đề kháng với bệnh tật.
Sự phát triển thể chất phụ thuộc vào nhiều yếu tố (bên trong bên
ngoài) theo những quy luật nhất định về tính di truyền khả biến, sự
phát triển theo lứa tuổi và giới tính, sự thống nhất hữu cơ giữa cơ thể môi
trường (vệ sinh, diều kiện sống, dinh dưỡng), giữa hình thức cấu tạo và chức
năng cơ thể.
Mỗi nhân hay hội không thể tuỳ ý thay bỏ hoặc làm ngược lại
những quy luật khách quan này. Chúng ta chỉ thể đạt tới hiệu quả nếu
hiểu rõ và vận dụng, tác động thích hợp tới quá trình phát triển thể chất theo
những phương hướng, mục tiêu cụ thể, nhằm đáp ứng nhu cầu và lợi ích của
từng nhân hội. Xét từ nghĩa ấy, TDTT là nhân tố hội chuyên
môn nhằm tác động một cách chủ đích hợp tới quá trình phát triển
thể chất của con người; chủ yếu về các tố chất vận động (các tố chất thể lực)
và những kỹ năng vận động quan trọng trong đời sống.
Sự khác biệt giữa thể lực và thể chất:
c mặt khác nhau về khả năng vận động được gọi là tố chất vn
động hay còn gọi là tố chất thlực. Nời ta chia ra thành 5 tố chất th
lực bao gòm: sc nhanh, sức mạnh, sức bền, mềm dẻo và khả năng phối
hợp vận động.
Thể chất bao gồm: Thể hình, các tố chất thể lực năng lực thích ứng
của cơ thể.
Như vậy: Thể lực chỉ là một phần của thể chất chứ không thể hai khái
niệm này thay thế cho nhau được.
d) Khái quát về Thể thao và Thể dục
* Thể thao: Thể thao là một bộ phận của TDTT hội thực hiện chức
năng mở rộng giới hạn khả năng thể chất và tinh thần của con người. Trong
hội thể thao gồm hai bộ phận th thao cho mọi người (thể thao quần
chúng) và thể thao thành tích cao (thể thao đỉnh cao)
- Thể thao thành tích cao, mục đích trực tiếp thành tích tuyệt đối.
Hoạt động thể thao thành tích cao chiếm một giai đoạn lớn trong cuộc đời
vận động viên. Đối với họ hoạt động thể thao chiếm ưu thế trong chế độ
sống. Cuốc sống của vận động viên cấp cao phải được tổ chức đặc biệt phù
hợp với hệ thống tập luyện thi đấu. Đối với vận động viên thể thao thành
tích cao - thể thao là nghề nghiệp.
- Thể thao cho mọi người khác với thể thao thành tích cao mức đ
thành tích cần vươn tới. Thể thao thành ch cao lấy kỷ lục nhân loại, kỷ lục
châu lục, khu vực làm đích phấn đấu. Trong khí đó mục đích TDTT quần
chúng được xác định phù hợp với khả năng nhân. Vấn đbản của thể
thao quần chúng sức khoẻ, trình độ chuẩn bị thể lực chung. nhiều
hình thức, nhiều môn tập luyện thể thao quần chúng như: bóng chuyền hơi,
bơi, chạy, đi bộ, cầu lông, bóng bàn…
* Thể dục: Là một hệ thống các bài tập đa dạng, được chọn lọc và thực
hiện với những phương pháp khoa học, nhằm phát triển thể toàn diện,
hoàn thiện khả năng vận động. Căn cứ vào những nhiệm vụ đặt ra cho người
tập, những đặc điểm về lứa tuổi, giới tính nhân người tập, Liên đoàn
Thể dục Thế giới (FIG), phân chia thể dục thành:
- Thể dục phát triển chung: nhiệm vụ phát triển và củng cố sức khoẻ
người tập, giáo dục những kỹ năng vận động bản phát triển sức nhanh,
sức mạnh, tính khéo léo… Thể dục phát triển chung bao gồm:
+ Thể dục bản bao gồm các bài tập: đi bộ, chạy, nhảy, các bài tập
phát triển chung cho tay, chân, thân mình, đầu, các bài tập đơn giản trên
dụng cụ thể dục (thang dóng, ghế thể dục, cầu thăng bằng)
+Thể dục vệ sinh:
Thể dục vệ sinh nhân được tập luyện thường xuyên ng ngày vào
các buổi sáng, buổi trưa và buổi tối. Trong mỗi bài tập các động tác đơn
giản, ảnh hưởng toàn diện đến thể, củng cố và hoàn thiện khả năng chức
năng của các hệ hô hấp, tuần hoàn, bộ máy vận động…
Thể dục vsinh tập thể: về nội dung không khác biệt với thể dục
vệ sinh nhân, song được tiến hành dưới hình thức nhóm đông người,
hướng dẫn viên.
+ Thdục thể hình: Thể dục th nh bo đảm sphát triển cân đối
với nhóm của tn thân, sửa chữa nhng thiếu t v tư thế, đồng thi
phát triển sức mạnh, đ dẻo, tính khéo léo và c tchất cần thiết kc
của con nời.
+ Thể dục thi đấu bao gồm: Thể dục dụng cụ, thể dục nghệ thuật, thể
dục nhào lộn, các bài tập trên lưới bật.
+ Thể dục thực dụng:
Thể dục thực dụng bổ trợ cho các môn thể thao
Thể dục thực dụng quân sự
Thể dục trong lao động
Thể dục ngành nghề
Thể dục chữa bệnh.
III. VAI TRÒ CỦA THỂ DỤC THỂ THAO ĐỐI VỚI SỰ PHÁT
TRIỂN HÀI HOÀ, CÂN ĐỐI THỂ CHẤT CON NGƯỜI
Từ những phân tích lẽ nêu trên, cho thấy vai trò của TDTT đối
với sự phát triển cân đối hài hoà cơ thể con người qua các khía cạnh sau:
a) Thúc đẩy phát triển thể hình cân đối.
Sự phát triển của thể về thể hình chủ yếu dựa vào sự phát triển (lớn
mạnh) của từng tế bào các chất gian bào. Còn sự phát dục lại chsự biến
đổi về chức năng và hình thái của các hệ thống quan trong cơ thể. Hai
sở luận nêu trên chỗ giống nhau khác nhau, tuy chúng đều chịu sự
chi phối của các yếu tố di truyền, dinh dưỡng, sự lớn mạnh tự nhiên (khi
đang giai đoạn phát triển) điều kiện sống. Tập luyện TDTT thể đẩy
mạnh, nâng cao hơn quá trình này duy trì được lâu hơn và làm chậm quá
trình suy giảm khi tuổi cao.
Sự hoàn thiện về thể hình thế thân thể làm cho ngoại hình thêm
đẹp phần nào cũng phản ánh mức hoàn thiện về chức năng..
sở của shoàn thiện về thể hình thư thế thân thể thông qua việc
luyện tập TDTT thường xuyên đó chính sự tiêu hao năng lượng trong quá
trình vận động. Năng lượng cung cấp cho hoạt động đó chính ATP-
hợp chất giàu năng lượng. Tuy nhiên lượng ATP dự trữ trong một
không nhiều, để hoạt động trong thời gian dài, ATP luôn phải được hồi phục
đầy đủ. Năng lượng dùng để hồi phục ATP được tạo ra bằng cách phân giải
các chất dinh dưỡng khác như đường, đạm, mỡ. Mức độ sdụng phân
giải đường, đạm, mỡ tuỳ thuộc vào cường độ tập luyện thời gian tập
luyện. VD: Trong các hoạt động TDTT với cường độ tối đa dưới tối đa
trong thời gian từ vài giây đến vài phút thì thể sẽ sử dụng năng lượng từ
glucoza dự trữ trong sau đó đến việc tổng hợp năng lượng từ glucoza
được huy động, sau đó nếu hoạt động với cường độ thấp hơn và trong thời
gian kéo dài hơn thì chất để cung cấp năng lượng cho hoạt động đó
đường đạm, nhưng nếu kéo dài hoạt động hơn nữa (đặc biệt trong c
môn thể thao hoặc các bài tập rèn luyện sức bền với hoạt động cơ nhẹ và kéo
dài) thì phần lớn năng lượng được cung cấp bằng cách ôxy hoá mỡ. Qua
dụ trên cho thấy nếu tập luyện TDTT thường xuyên với cường đthích hợp
sẽ làm tiêu hao năng lương thừa, giúp cho thể cân đối giữa cân nặng
chiều cao, giữa các vòng, các chỉ số nhân trắc của thể: vòng bụng nhỏ
hơn, vòng đùi săn chắc….; hoặc cũng thể khắc phục phần nào thế
xấu…
Mặt khác trong hoạt động vận động sẽ làm tăng Adrenalin (một loại
hoóc môn của lớp tuỷ thượng thận) stác dụng tăng cường phân giải mỡ
giúp tiêu hao năng lượng thừa, tăng cường phân giải glucogen gan
cơ để tạo glucoza cho hoạt động cơ bắp.
Đặc biệt trong thời đại ngày nay, với cuộc sống hiện đại đã mang lại
không ít tiện ích cho con người nhưng kèm theo đó là căn bệnh mà phần lớn
chúng ta phải mắc phải đó “đói vận động”. Để “chữa” tận gốc triệt để
căn bệnh này không có liều thuốc nào hiệu quả hơn đó là bài tập TDTT
b) Phát triển toàn diện các năng lực thể chất
Phát triển năng lực thể chất bao giờ cũng gắn chặt chẽ với chức năng
của thể. Khi ta tập chạy bền thì cũng đồng thời nâng cao được khả năng
hoạt động lâu dài của các hệ thống tim- mạch, hấp, bắp. Do đó, phát
triển toàn diện các năng lực thchất cũng một nhân tố quan trọng thúc
đẩy sự cải tiến về hình thái chức năng ngược lại. Như vậy hoạt động
TDTT ảnh hưởng (tốt) nếu đúng phương pháp, cường độ, quy trình tập
luyện đến các quan chức năng trong thể như: hệ tuần hoàn, hệ
ơng, hệ hô hấp…
Ảnh hưởng của luyện tập TDTT đối với hệ tuần hoàn:
Hệ tuần hoàn bao gồm có quả tim, mạch máu và chất máu. Tim có 4
ngăn, mạch máu bao gồm có 2 vòng tuần hoàn (lớn và nhỏ) và các mao
mạch. Chất máu gồm có hồng cầu và bạch cầu...
Khi bắt đầu hoạt động TDTT thì cũng là lúc cơ thể con người bắt đầu
quá trình tiêu hao năng lượng. Lúc này cơ thể đòi hỏi Tim (hệ tuần hoàn)
làm việc nhiều hơn để cung cấp oxy và các chất dinh dưỡng để giúp cơ bắp
nâng cao hiệu suất làm việc (nâng cao thành tích thể thao), đồng thời Tim
cũng sẽ đào thải CO2 và các chất cặn bạ ra ngoài bằng con đường mồ hôi,
nước tiểu… Thông qua các hoạt động TDTT thường xuyên, liên tục (hằng
ngày, hang tháng) thì hệ tim mạch cũng sẽ được tập luyện. Sau một thời gian
thì chức năng của hệ tim mạch tăng lên rõ rệt: cơ tim dầy lên từ 0,5 – 1cm,
to hơn, chắc và khỏe (người bình thường 270gr, VĐV 400 - 500 gr), tần số
mạch và huyết áp giảm. VD: yên tĩnh ở người bình thường là 60 80
nhịp/phút, VĐV 50 - 60 nhịp/phút, khi vận động, người bth 80 120
nhịp/phút, ở VĐV có thể lên tối 180 nhịp/ phút.
Luyện tập TDTT làm cho lớp màng trong của thành mạch, sợi đàn hồi
và cơ trơn cũng dày lên. Tính đàn hồi của mạch máu tốt hơn, cải thiện các
chức năng của Tim mạch. Cho nên người tập TDTT thường xuyên khi về già
ít bị chứng căng mạch máu, là nguyên nhân sinh ra bệnh cao huyết áp.
Đối với người tập luyện TDTT thì hồng cầu và bạch cầu đều tăng, tỷ lệ
sắc tố cũng được tăng cường do vậy da dẻ của người tập luyện thường hồng
hào hơn so với người ít rèn luyện.
Ảnh hưởng của luyện tập TDTT đối với hệ hô hấp:
Chức năng của hệ thống hấp mạnh hay yếu phụ thuộc bởi năng lực
CO2 của thể, khi tập luyện thể dục thể thao thể đòi hỏi nhiều hơn về
O2, chính vì vậy mà tần số hô hấp tăng lên. Để đáp ứng nhu cầu trên, các cơ
quan của hthống hấp bắt buộc phải cải thiện năng lực làm việc của bản
thân. Do vậy, tiến hành tập luyện thể dục ththao trong thời gian dài thể
nâng cao năng lực hấp thụ O2, từ đó nâng cao được chức năng của các
quan trong hệ thống hô hấp, cải thiện cơ năng hệ thống hô hấp.
Quá trình hoạt động sống của con người một quá trình tiêu hao năng
lượng, năng lượng đó được lấy từ nguồn dự trữ các chất trong cơ thể. Những
vật chất dự trữ này khi được đem ra để biến đổi thành năng lượng đòi hỏi
phải một quá trình O2 hoá, do vậy, thể bắt buộc phải không ngừng sử
dụng O2 từ môi trường bên ngoài thở ra CO2. Quá trình trao đổi này gọi
là quá trình hô hấp.
Hệ thống hấp bao gồm phổi, khí quản, mũitrong đó phổi nơi
trao đổi khí, còn lại đều là đường hô hấp. Cơ thể khi trong trạng thái yên tĩnh
mỗi phút đòi hỏi 0,25- 0,3 ml khí, như vậy chỉ cần 1/20 số phế nang trong
phổi hoạt động thể đáp ứng. Nếu cứ như vậy trong thời gian dài thì
những phế nang không được sử dụng sẽ bị thoái hoá đi, từ đó chức năng của
hệ thống hô hấp sẽ giảm đi mạnh mẽ và rất dễ mắc bệnh.
Sau tập luyện thể dục, thể thao, chức năng hô hấp được cải thiện ra sao?
hấp được phát triển dần, lực, sức bền, thể chịu đựng với
lượng vận động lớn.
Dung tích sống tăng lên, tăng cường hấp thụ O2 thải CO2. Dung tích
sống là một chỉ tiêu quan trọng đánh giá trình độ sức khoẻ sự sinh trưởng
phát dục của thiếu niên nhi đồng. Thường xuyên tập luyện thể dục thể thao
đặc biệt làm các động tác gập duỗi ngực thể làm cho sức mạnh của
hô hấp được tăng cường, lồng ngực to lên điều này có lợi cho sự sinh trưởng
phát dục của tổ chức phổi, cũng như skhuyếch trương của phổi tđó làm
cho dung tích sống tăng lên.
Tăng cường độ sâu hấp. người bình thường hấp nông và nhanh,
khi yên tĩnh tần số yên tĩnh khoảng 12 -18 lần/ phút, người thường xuyên
tập luyện thể dục thể thao hấp sâu và chậm c yên tĩnh tần số hấp
khoảng 8 -12 lần/ phút. Như vậy nghĩa các hấp nhiều thời
gian để nghỉ ngơi. Sự khác biệt này còn biểu hiện nét hơn trong khi vận
động.
Ngoài ra, do kết quả của tập luyện thể dục thể thao lâu dài đã cải thiện
được chức năng của hệ thống hấp các hệ thống khác (hệ thống thần
kinh, hệ thống tuần hoàn…) nâng cao năng lực nhả CO2 hấp thụ O2 khi
trao đổi khí, làm cho vận động viên khi hoạt động kịch liệt vẫn thể phát
huy chức năng của hệ hô hấp (ở người bình thường khó có thể đạt được).
Ảnh hưởng của luyện tập TDTT đến hệ tiêu hoá:
Dạ dày ruột những quan chủ yếu của hệ thống tiêu hoá trong
thể. Năng lực tiêu hoá của dạ dày ruột tốt sẽ những ảnh hưởng tốt
đối với sức khoẻ con người. Thường xuyên tập luyện thể dục thể thao sẽ
nâng cao được công năng tiêu hoá của dạ dày ruột, tăng cường sự khoẻ
mạnh cho gan, đồng thời còn có tác dụng trị liệu và phòng ngừa một số bệnh
về hệ thống tiêu hóa.
Thường xuyên tập luyện, do nhu cầu hoạt động của bắp nên dạ dày
ruột phải tăng cường chức năng tiêu hoá, lúc này dịch và men tiêu hoá
tăng lên nhiều, sco bóp đường dẫn truyền tiêu hoá càng được tăng lên
mạnh mẽ, tuần hoàn máu ở dạ dày và ở ruột cũng được cải thiện.
Do phát sinh các thay đổi nêu trên việc tiêu hoá thức ăn hấp thụ
các chất dinh dưỡng được diễn ra thuận lợi, mặt khác do khi vận động phải
hô hấp sâu, cơ hoành cách hoạt động với biên độ lớn nên đã di chuyển nhiều
xuống phía dưới, bụng cũng hoạt động mạnh, điều này đã tác dụng
mát xa cho dạ dày và ruột.
Do tập luyện thể dục thể thao tác dụng nâng cao năng lực tiêu hoá
của dạ dày ruột như vậy nên đã không ít người sử dụng tập luyện thể
dục thể thao như một phương pháp trị liệu đối với một số bệnh dạ dày họ
đã thu được hiệu quả nhất định.
Gan một tạng lớn trong thể con người, đóng vai trò hết sức
quan trọng đối với hệ tiêu hoá, thường xuyên tập luyện thể dục thể thao chức
năng của gan được tăng cường điều này rất có lợi cho việc tiêu hoá thức ăn.
Lượng đường đơn trong gan của vận động viên người thường tốc
độ đẩy đường đơn ra ngoài của gan vận động viên cũng nhanh hơn người
thường. Đường đơn gan hết sức quan trọng đối với skhoẻ mạnh của
gan, nó có thể bảo vệ cho gan, vì nguyên nhân này mà các bác sĩ thường yêu
cầu những bệnh nhân gan ăn nhiều hoa quả có đường.
Chức năng gan vận động viên rất tốt, khả năng đề kháng với bệnh
gan cũng rất cao. người thường xuyên tập luyện thể dục thể thao thì việc
sử dụng đường đơn trong gan cũng kinh tế hơn ở người thường.
Từ những yếu tố trên, thể thấy tập luyện thể dục thể thao thể làm tăng
thêm sức khoẻ cho gan, gan khoẻ thì mới thể nâng cao được năng
lực lao động và vận động.
c) Nâng cao năng lực thể chất của cơ thể
Tập luyện lâu dài, hệ thống trong các điều kiện đa dạng, thay đổi về
thời tiết, khí hâu, địa thế.. sẽ lợi cho nâng cao năng lực thích ứng trước
các điều kiện tự nhiên khác nhau. Mặt khác cũng tăng cường khí huyết lưu
thông và khả năng tạo máu, đẩy nhanh quá trình trao đổi chất, do đó nâng
cao sức đề kháng đối với vi khuẩn gây bệnh, bệnh tật kịp thời góp phần
phòng trị được cả những căn bệnh của nền văn minh đem lại như: huyết áp,
tâm thần..
Thân thể và tinh thần trí tuệ không tách rời nhau. Thể chất cường tráng,
tinh lực sung mãn, sức sống dồi dào ảnh hưởng to lớn đến trạng thái tinh
thần của con người và ngược lại. Kinh nghiệm y học cổ kim, đông tây đã nói
nhiều tới ảnh hưởng của những vết thương tinh thần đến các quan trong
thể. Đồng thời nhiều đời nay người ta đã biết dùng nhiều hình thức tập
luyện TDTT đa dạng để điều hoà trạng thái tâm lý, phòng trị một số bệnh
tật. Do đó, khi nói về tác dụng của TDTT, về sức khoẻ, Bác Hồ luôn gắn
“khí huyết lưu thông” với “tinh thần thoải mái”.
Tóm lại: Việc tập luyện TDTT thường xuyên đúng phương pháp
phù hợp với đối tượng tập luyện có tác động rất lớn đến hình thái, chức năng
thể. Biểu hiện của sự tác động đó thể hiện sự thay đổi như chiều cao,
cân nặng, các hệ quan trong thể cùng với chức năng của các h
quan đó chủ yếu hệ tuần hoàn, hệ hấp bởi trong quá trình sống
hoạt động thể lực hệ tuần hoàn vai trò vận chuyển máu đến các mô,
quan đáp ứng nhu cầu máu cho các quan đó hoạt động. Bởi vậy, ngay từ
những ngày đầu sau khi dành được độc lập, Bác Hồ của chúng ta đã ra lời
kêu gọi toàn dân tập thdục vào ngàu 27 tháng 3 năm 1946, Người dạy:
“Giữ gìn dân chủ, xây dựng nước nhà, gây đời sống mới, việc gì cũng cần có
sức khoẻ mới thành công…”. Người kêu gọi: Tôi mong đồng bào ta ai
ng gắng tập thể dục” Người đã nêu tấm gương sáng “Tự tôi ngày nào
cũng tập”
Câu hỏi ôn tập: (Phần này dùng để hỏi thi Vấn – Đáp)
1. Quan điểm về sức khỏe?
Nêu những phương pháp để củng cố và tăng cường sức khỏe?
2. Nguồn gốc của TDTT
3. Đặc tính của TDTT?
4. Nêu khái niệm TDTT?
5. Nêu khái niệm Thể chất?
6. Nêu khái niệm phát triển Thể chất?
7. Khát quát về Thể thao?
8. Khái quát về Thể Dục?
9. Vai trò của TDTT đối với sự phát triển hài hòa, cân đối thể chất con
người?
10. TDTT có ảnh hưởng rất lớn đến 3 hệ: hệ tuần hoàn, hô hấp và tiêu
hóa? Hãy trình bày ảnh hưởng của TDTT đến 1 trong 3 hệ trên?
Hà Nội, ngày tháng năm 2018
TRƯNG B MÔN
ThS. Nguyễn Mã Lương
GING VIÊN
Đặng Thị Phấn

Preview text:


PHẦN LÝ THUYẾT THỂ DỤC LỜI NÓI ĐẦU
Ai cũng hiểu sức khỏe là vốn quý của con người, nhưng không phải ai cũng hiểu
đúng và đầy đủ về nó. Để có được những kiến thức bao quát về vấn đề này cần phải
nghiên cứu, tìm hiểu và tích lũy từ rất nhiều lĩnh vực như y học, dinh dưỡng, hình
thái học, tâm lý học, vệ sinh học… Mỗi lĩnh vực nghiên cứu sẽ cung cấp cho chúng
ta một mảng ghép trong bức tranh toàn diện về sức khỏe.
Phần lý thuyết TDTT này hi vọng sẽ trang bị cho người học những kiến
thức và kỹ năng thực hành nhằm hình thành ở họ lối sống lành mạnh, biết cách ứng
dụng các biện pháp vệ sinh và yếu tố môi trường vào quá trình giáo dục thể chất
cũng như trong các hoạt động thể thao quần chúng và huấn luyện thể thao.
CHƯƠNG I: VAI TRÒ CỦA THỂ DỤC THỂ THAO ĐỐI VỚI SỰ PHÁT
TRIỂN HÀI HOÀ, CÂN ĐỐI THỂ CHẤT CON NGƯỜI
I. NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG VỀ SỨC KHOẺ
Theo Tổ chức Y tế Thế giới (WHO), đó là một trạng thái hài hoà về thể
chất, tinh thần và xã hội, mà không chỉ nghĩa là không có bệnh hay thương
tật, cho phép mỗi người thích ứng nhanh chóng với các biến đổi của môi
trường, giữ được lâu dài khả năng lao động và lao động có kết quả.
Sức khoẻ bao gồm sức khoẻ cá thể (từng người), sức khoẻ gia đình, sức
khoẻ cộng đồng, sức khoẻ xã hội. Sức khoẻ là một trong những yếu tố cơ
bản, đầu tiên để học tập, lao động, đẩy mạnh sản xuất, phát triển kinh tế, xây dựng đất nước.
Sức khoẻ phụ thuộc vào nhiều yếu tố: Cá nhân, môi trường, cộng đồng,
xã hội, tình trạng và những vấn đề chung của từng nước và toàn thế giới môi
trường sinh thái, chiến tranh khu vực, mức sống còn thấp, sự bóc lột ở một số
nước chậm phát triển...
Có nhiều phương pháp để củng cố và tăng cường sức khoẻ như: chế độ
dinh dưỡng, liệu pháp tâm lý, các thực phẩm hỗ trợ chức năng, nhưng không
có liệu pháp nào hiệu quả hơn việc tập luyện TDTT.
II. NGUỒN GỐC CỦA THỂ DỤC THỂ THAO
A. Nguồn gốc của Thể dục thể thao
Thể dục thể thao ra đời phát triển theo sự phát triển của xã hội loài người.
Lao động sản xuất là nguồn gốc cơ bản của thể dục thể thao. Nói cách khác,
đó là cơ sở sinh tồn của tất cả mọi hoạt động, là hoạt động thực tiễn cơ bản
nhất. Thể dục thể thao được phát sinh trong những điều kiện sinh hoạt vật
chất nhất định của xã hội đặc biệt là săn bắt.
Trong thời cổ xưa con người sống thành từng bầy lớn sinh sống bằng săn
bắt là bộ phận kinh tế sản xuất ra vật phẩm tiêu dùng chủ yếu nhất của thời
đó. Ngay trong quá trình giải quyết những vấn đề thiết thân: Ăn, ở, mặc...
của mình. Tất cả mọi hoạt động của con người đều phục vụ săn bắn. Nhờ
săn bắt con người kiếm được thức ăn và một số vật phẩm tiêu dùng. Chính
vì vậy muốn có được thức ăn và sống được an toàn, họ luôn phải đấu tranh
với thiên tai và thú dữ, con người phải biết leo trèo, lội qua suối, bơi qua
sông v.v... Nói cách khác săn bắt là cuộc thi giữa con người và con vật về
sức nhanh và sức mạnh, sức bền. Thực tế đấu tranh khốc liệt để sinh tồn đó
buộc con người phải biết chuẩn bị, dạy và học. Đây chính là điều kiện khách
quan đề ra đời TDTT mặt khác do hoạt động tư duy có rất sớm những kinh
nghiệm hoạt động của con người được lặp lại nhiều lần trong cuộc sống và
dần được tích luỹ lại đã làm cho con người nhận thức được hiện tượng tập
luyện, vì họ hiểu rằng chạy nhiều thì chạy càng nhanh, càng dẻo dai hiệu quả
của cuộc săn bắt càng tốt hơn.
Vì vậy trong quá trình lao động con người nhận thấy việc tập luyện là
cần thiết để chuẩn bị cho lao động, để lao động được khoẻ dẻo dai bền bỉ
cho nên người ta tập động tác tương tự như ném, leo trèo dần già quá trình
lao động và tập luyện con người đã tích luỹ được thêm nhiều hiểu biết để
truyền từ thế hệ này sang thế hệ khác. Đây chính là điều kiện chủ quan của
sự ra đời của TDTT. Vậy chức năng vốn có của TDTT là chuẩn bị cho lao
động đi trước lao động trong thời kì này TDTT mang tính thực dụng trực
tiếp cùng với sự phát triển của loài người đặc biệt là sự phát triển KH- KT
ngày càng phát triển nó giảm nhẹ sức lao động của con người, thay vào đó là
những máy móc hiện đại tinh vi chủ động, con người chỉ cần điều khiển thì
vai trò của TDTT lại mang tính thực dụng gián tiếp nó chuẩn bị thể lực cho
con người ngoài ra nó còn nhiều vai trò chức năng khác như thể dục chữa
bệnh, thể dục nghề nghiệp, thể dục vệ sinh, TD trong thời gian nhàn rỗi, TD
hồi phục làm cho con người có trạng thái thoải mái để bước vào lao động đạt hiệu quả cao.
Như vậy TDTT xuất hiện cùng với sự hình thành của xã hội loài người
TDTT trở thành biện pháp quan trọng để chuẩn bị cho lao động mà lao động
là điều kiện tự nhiên để đảm bảo cho cuộc sống. Xã hội loài người càng phát
triển TDTT cũng theo đà đó mà phát triển cho nên TDTT là một hiện tượng
xã hội nó thuộc phạm trù vĩnh cửu với ý nghĩa xuất hiện cùng với sự xuất
hiện của XH loài ngươì sẽ tiến triển theo quá trình tiến triển của XH sẽ tồn
tại mãi mãi như những điều kiện tất yếu của nền sản xuất.
B. Đặc tính của TDTT
Điều kiện sống thô sơ, khắc nghiệt, thiếu thốn cả về vật chất và tinh
thần của con người cổ xưa khi xã hội chưa phân chia giai cấp đã hạn chế rất
nhiều hoạt động TDTT. Tuy nhiên điều kiện lịch sử ấy cũng có mặt thuận lợi
vì mọi thành viên trong xã hội đều được hưởng thụ bình đẳng như nhau. Về
sau, sự phân chia giai cấp đã làm mất đi sự bình đẳng đó, nhưng những cuộc
xung đột chiến tranh liên miên giữa các bộ lạc, lãnh chúa và các quốc gia
cũng góp phần thúc đẩy phát triển của TDTT để phục vụ tốt hơn cho hoạt
động quân sự. Những tư liệu lịch sử để lại đã cho thấy mức độ phát triển khá
cao của TDTT trong thời cổ đại với hệ thống tổ chức huấn luyện thể lực –
quân sự chặt chẽ và quy mô trong các Nhà nước Spactơ, Aten; sự ra đời và
phát triển của các Olimpic; các tác phẩm nghệ thuật thể hiện ước vọng phát
triển thể chất cân đối cho con người. Tuy nhiên, trong xã hội có bóc lột, chỉ
có một số ít những người thuộc giai cấp thống trị là được hưởng thụ những
giá trị đó, còn đại bộ phận dân chúng thì chỉ được hưởng phần nào việc giáo
dục thể chất; họ không có được sự tự do, bình đẳng thật sự. Đấy là đặc điểm
cơ bản thể hiện xuyên suốt trong các xã hội còn có bóc lột bất công sau này.
Sự hạn chế về phát triển TDTT trong xã hội có phân chia giai cấp
không đơn giản chỉ phụ thuộc vào lợi ích chủ quan của giai cấp thống trị mà
nó còn phụ thuộc vào những mối quan hệ kinh tế khách quan gắn với lợi ích
thiết thân mà họ cần củng cố. Những nhà sáng lập chủ nghĩa Mác – Lênin đã
phân tích một cách sâu sắc mâu thuẫn cơ bản trong xã hội có phân chia giai
cấp là trong lúc sự phát triển của lực lượng sản xuất đòi hỏi phải có sự phát
triển cân đối của lực lượng lao động thì quan hệ sản xuất lại cản trở sự phát
triển này. Muốn loại bỏ mâu thuẫn đó để tạo điều kiện cho TDTT phát triên
cơ bản, triệt để và toàn diện thì cần phải gắn liền với quá trình phát triển và
hoàn thiện xã hội, nhằm từng bước xây dựng nên một xã hội tự do, bình đẳng, bác ái.
Trong xã hội tư bản hiện đại, nhà cầm quyền cũng đã ít nhiều quan tâm
đến hoạt động TDTT cho những người lao động. Điều này chủ yếu nhằm
phục vụ cho yêu cầu gia tăng về cường độ và chất lượng sản xuất, đồng thời
tuyên truyền, lôi kéo đông đảo quần chúng, đặc biệt là thanh thiếu niên đi
theo lý tưởng và lối sống của họ. Mục đích cao nhất vẫn chỉ là củng cố chế
độ chính trị hiện có và thu được lợi nhuận càng nhiều. Bên cạnh đó cũng
không thể coi nhẹ áp lực mạnh mẽ của các cuộc đấu tranh của những người
lao động đòi cải thiện điều kiện sống, trong đó có TDTT.
Tính dân tộc luôn được thể hiện rất rõ trong lối sống, nếp nghĩ, tập tục,
truyền thống và văn hoá nói chung (trong đó có TDTT) của từng dân tộc. Nó
được hình thành và phát triển trong quá trình dựng nước và giữ nước, trong
đấu tranh với tự nhiên và xã hội của từng dân tộc qua từng điều kiện cụ thể.
Tính dân tộc của TDTT Việt Nam như tính nhân văn, tinh thần thượng
võ, liên kết cộng đồng … thể hiện rõ qua kho tàng dân tộc về mặt này, từ
triết lý rèn luyện thân thể cho đến các trò chơi vận động dân gian, các môn võ cổ truyền.
c) Khái niệm Thể dục thể thao, thể chất và phát triển thể chất
* Khái niệm Thể dục thể thao:
Từ những phân tích và đặc tính trên có thể xác định được khái niệm
TDTT: TDTT là bộ phận của nền văn hoá xã hội, một loại hình hoạt động
mà phương tiện cơ bản là các bài tập thể lực (thể hiện cụ thể qua các cách
thức rèn luyện thân thể) nhằm tăng cường thể chất, nâng cao thành tích thể
thao, góp phần làm phong phú đời sống sinh hoạt văn hoá và giáo dục, cùng
tạo nên những con người phát triển cân đối hợp lý.
Xuất phát từ khái niệm trên cho thấy một trong những vai trò của
TDTT là tăng cường thể chất cho con người, góp phần phát triển cơ thể cân đối, hài hoà.
*Khái niệm Thể chất:
Thể chất chỉ chất lượng cơ thể con người.
Thể chất là những đặc trưng tương đối ổn đinh về hình thái và chức
năng của cơ thể, được hình thành và phát triển so bẩm sinh di truyền và ảnh
hưởng, tác động của điều kiện sống.
*Khái niệm Phát triển thể chất:
Phát triển thể chất là một quá trình hình thành, biến đổi tuần tự theo
quy luật trong cuộc đời từng người về hình thái, chức năng, tố chất thể lực
và năng lực thể chất trong suốt cuộc đời mỗi cá nhân. (Chúng được hình
thành trên và trong cái nền của cơ thể.) Ví dụ: Trẻ em, bào thai, sơ sinh, mẫu
giáo, nhi đồng và trưởng thành.
Thể chất bao gồm thể hình, công năng và năng lực thích ứng của cơ thể.
Thể hình gồm hình thái, cấu trúc của cơ thể, mức độ phát triển, những
chỉ số về hình thái và tỷ lệ giữa chúng cùng các tư thế. Công năng bao gồm
các tố chất thể lực (sức mạnh, sức nhanh, sức bền..) và những năng lực vận
động cơ bản của con người (đi, chạy, nhảy, ném…). Năng lực thích ứng là
khả năng thích ứng chủ yếu về chức năng của cơ thể con người với hoàn
cảnh bên ngoài, bao gồm cả sức đề kháng với bệnh tật.
Sự phát triển thể chất phụ thuộc vào nhiều yếu tố (bên trong và bên
ngoài) và theo những quy luật nhất định về tính di truyền và khả biến, sự
phát triển theo lứa tuổi và giới tính, sự thống nhất hữu cơ giữa cơ thể và môi
trường (vệ sinh, diều kiện sống, dinh dưỡng), giữa hình thức cấu tạo và chức năng cơ thể.
Mỗi cá nhân hay xã hội không thể tuỳ ý thay bỏ hoặc làm ngược lại
những quy luật khách quan này. Chúng ta chỉ có thể đạt tới hiệu quả nếu
hiểu rõ và vận dụng, tác động thích hợp tới quá trình phát triển thể chất theo
những phương hướng, mục tiêu cụ thể, nhằm đáp ứng nhu cầu và lợi ích của
từng cá nhân và xã hội. Xét từ nghĩa ấy, TDTT là nhân tố xã hội chuyên
môn nhằm tác động một cách có chủ đích và hợp lý tới quá trình phát triển
thể chất của con người; chủ yếu về các tố chất vận động (các tố chất thể lực)
và những kỹ năng vận động quan trọng trong đời sống.
Sự khác biệt giữa thể lực và thể chất:
Các mặt khác nhau về khả năng vận động được gọi là tố chất vận
động hay còn gọi là tố chất thể lực. Người ta chia ra thành 5 tố chất thể
lực bao gòm: sức nhanh, sức mạnh, sức bền, mềm dẻo và khả năng phối hợp vận động.
Thể chất bao gồm: Thể hình, các tố chất thể lực và năng lực thích ứng của cơ thể.
Như vậy: Thể lực chỉ là một phần của thể chất chứ không thể hai khái
niệm này thay thế cho nhau được.
d) Khái quát về Thể thao và Thể dục
* Thể thao: Thể thao là một bộ phận của TDTT xã hội thực hiện chức
năng mở rộng giới hạn khả năng thể chất và tinh thần của con người. Trong
xã hội thể thao gồm hai bộ phận thể thao cho mọi người (thể thao quần
chúng) và thể thao thành tích cao (thể thao đỉnh cao)
- Thể thao thành tích cao, có mục đích trực tiếp là thành tích tuyệt đối.
Hoạt động thể thao thành tích cao chiếm một giai đoạn lớn trong cuộc đời
vận động viên. Đối với họ hoạt động thể thao chiếm ưu thế trong chế độ
sống. Cuốc sống của vận động viên cấp cao phải được tổ chức đặc biệt phù
hợp với hệ thống tập luyện và thi đấu. Đối với vận động viên thể thao thành
tích cao - thể thao là nghề nghiệp.
- Thể thao cho mọi người khác với thể thao thành tích cao ở mức độ
thành tích cần vươn tới. Thể thao thành tích cao lấy kỷ lục nhân loại, kỷ lục
châu lục, khu vực làm đích phấn đấu. Trong khí đó mục đích TDTT quần
chúng được xác định phù hợp với khả năng cá nhân. Vấn đề cơ bản của thể
thao quần chúng là sức khoẻ, là trình độ chuẩn bị thể lực chung. Có nhiều
hình thức, nhiều môn tập luyện thể thao quần chúng như: bóng chuyền hơi,
bơi, chạy, đi bộ, cầu lông, bóng bàn…
* Thể dục: Là một hệ thống các bài tập đa dạng, được chọn lọc và thực
hiện với những phương pháp khoa học, nhằm phát triển cơ thể toàn diện,
hoàn thiện khả năng vận động. Căn cứ vào những nhiệm vụ đặt ra cho người
tập, những đặc điểm về lứa tuổi, giới tính và cá nhân người tập, Liên đoàn
Thể dục Thế giới (FIG), phân chia thể dục thành:
- Thể dục phát triển chung: có nhiệm vụ phát triển và củng cố sức khoẻ
người tập, giáo dục những kỹ năng vận động cơ bản phát triển sức nhanh,
sức mạnh, tính khéo léo… Thể dục phát triển chung bao gồm:
+ Thể dục cơ bản bao gồm các bài tập: đi bộ, chạy, nhảy, các bài tập
phát triển chung cho tay, chân, thân mình, đầu, các bài tập đơn giản trên
dụng cụ thể dục (thang dóng, ghế thể dục, cầu thăng bằng) +Thể dục vệ sinh:
Thể dục vệ sinh cá nhân được tập luyện thường xuyên hàng ngày vào
các buổi sáng, buổi trưa và buổi tối. Trong mỗi bài tập có các động tác đơn
giản, ảnh hưởng toàn diện đến cơ thể, củng cố và hoàn thiện khả năng chức
năng của các hệ hô hấp, tuần hoàn, bộ máy vận động…
Thể dục vệ sinh tập thể: về nội dung không có gì khác biệt với thể dục
vệ sinh cá nhân, song được tiến hành dưới hình thức nhóm đông người, có hướng dẫn viên.
+ Thể dục thể hình: Thể dục thể hình bảo đảm sự phát triển cân đối
với nhóm cơ của toàn thân, sửa chữa những thiếu sót về tư thế, đồng thời
phát triển sức mạnh, độ dẻo, tính khéo léo và các tố chất cần thiết khác của con người.
+ Thể dục thi đấu bao gồm: Thể dục dụng cụ, thể dục nghệ thuật, thể
dục nhào lộn, các bài tập trên lưới bật. + Thể dục thực dụng:
Thể dục thực dụng bổ trợ cho các môn thể thao
Thể dục thực dụng quân sự Thể dục trong lao động Thể dục ngành nghề Thể dục chữa bệnh.
III. VAI TRÒ CỦA THỂ DỤC THỂ THAO ĐỐI VỚI SỰ PHÁT
TRIỂN HÀI HOÀ, CÂN ĐỐI THỂ CHẤT CON NGƯỜI
Từ những phân tích và lý lẽ nêu trên, cho thấy vai trò của TDTT đối
với sự phát triển cân đối hài hoà cơ thể con người qua các khía cạnh sau:
a) Thúc đẩy phát triển thể hình cân đối.
Sự phát triển của cơ thể về thể hình chủ yếu dựa vào sự phát triển (lớn
mạnh) của từng tế bào và các chất gian bào. Còn sự phát dục lại chỉ sự biến
đổi về chức năng và hình thái của các hệ thống cơ quan trong cơ thể. Hai cơ
sở lý luận nêu trên có chỗ giống nhau và khác nhau, tuy chúng đều chịu sự
chi phối của các yếu tố di truyền, dinh dưỡng, sự lớn mạnh tự nhiên (khi
đang ở giai đoạn phát triển) và điều kiện sống. Tập luyện TDTT có thể đẩy
mạnh, nâng cao hơn quá trình này và duy trì được lâu hơn và làm chậm quá
trình suy giảm khi tuổi cao.
Sự hoàn thiện về thể hình và tư thế thân thể làm cho ngoại hình thêm
đẹp phần nào cũng phản ánh mức hoàn thiện về chức năng..
Cơ sở của sự hoàn thiện về thể hình và thư thế thân thể thông qua việc
luyện tập TDTT thường xuyên đó chính là sự tiêu hao năng lượng trong quá
trình vận động. Năng lượng cung cấp cho cơ hoạt động đó chính là ATP- là
hợp chất giàu năng lượng. Tuy nhiên lượng ATP dự trữ trong một bó cơ
không nhiều, để hoạt động trong thời gian dài, ATP luôn phải được hồi phục
đầy đủ. Năng lượng dùng để hồi phục ATP được tạo ra bằng cách phân giải
các chất dinh dưỡng khác như đường, đạm, mỡ. Mức độ sử dụng và phân
giải đường, đạm, mỡ tuỳ thuộc vào cường độ tập luyện và thời gian tập
luyện. VD: Trong các hoạt động TDTT với cường độ tối đa và dưới tối đa
trong thời gian từ vài giây đến vài phút thì cơ thể sẽ sử dụng năng lượng từ
glucoza dự trữ trong cơ sau đó đến việc tổng hợp năng lượng từ glucoza
được huy động, sau đó nếu hoạt động với cường độ thấp hơn và trong thời
gian kéo dài hơn thì cơ chất để cung cấp năng lượng cho cơ hoạt động đó là
đường và đạm, nhưng nếu kéo dài hoạt động hơn nữa (đặc biệt trong các
môn thể thao hoặc các bài tập rèn luyện sức bền với hoạt động cơ nhẹ và kéo
dài) thì phần lớn năng lượng được cung cấp bằng cách ôxy hoá mỡ. Qua ví
dụ trên cho thấy nếu tập luyện TDTT thường xuyên với cường độ thích hợp
sẽ làm tiêu hao năng lương dư thừa, giúp cho cơ thể cân đối giữa cân nặng
và chiều cao, giữa các vòng, các chỉ số nhân trắc của cơ thể: vòng bụng nhỏ
hơn, vòng đùi săn chắc….; hoặc cũng có thể khắc phục phần nào tư thế xấu…
Mặt khác trong hoạt động vận động sẽ làm tăng Adrenalin (một loại
hoóc môn của lớp tuỷ thượng thận) sẽ có tác dụng tăng cường phân giải mỡ
giúp tiêu hao năng lượng dư thừa, tăng cường phân giải glucogen ở gan và
cơ để tạo glucoza cho hoạt động cơ bắp.
Đặc biệt trong thời đại ngày nay, với cuộc sống hiện đại đã mang lại
không ít tiện ích cho con người nhưng kèm theo đó là căn bệnh mà phần lớn
chúng ta phải mắc phải đó là “đói vận động”. Để “chữa” tận gốc và triệt để
căn bệnh này không có liều thuốc nào hiệu quả hơn đó là bài tập TDTT
b) Phát triển toàn diện các năng lực thể chất
Phát triển năng lực thể chất bao giờ cũng gắn chặt chẽ với chức năng
của cơ thể. Khi ta tập chạy bền thì cũng đồng thời nâng cao được khả năng
hoạt động lâu dài của các hệ thống tim- mạch, hô hấp, cơ bắp. Do đó, phát
triển toàn diện các năng lực thể chất cũng là một nhân tố quan trọng thúc
đẩy sự cải tiến về hình thái chức năng và ngược lại. Như vậy hoạt động
TDTT có ảnh hưởng (tốt) nếu đúng phương pháp, cường độ, quy trình tập
luyện đến các cơ quan chức năng trong cơ thể như: hệ tuần hoàn, hệ cơ xương, hệ hô hấp…
Ảnh hưởng của luyện tập TDTT đối với hệ tuần hoàn:
Hệ tuần hoàn bao gồm có quả tim, mạch máu và chất máu. Tim có 4
ngăn, mạch máu bao gồm có 2 vòng tuần hoàn (lớn và nhỏ) và các mao
mạch. Chất máu gồm có hồng cầu và bạch cầu...
Khi bắt đầu hoạt động TDTT thì cũng là lúc cơ thể con người bắt đầu
quá trình tiêu hao năng lượng. Lúc này cơ thể đòi hỏi Tim (hệ tuần hoàn)
làm việc nhiều hơn để cung cấp oxy và các chất dinh dưỡng để giúp cơ bắp
nâng cao hiệu suất làm việc (nâng cao thành tích thể thao), đồng thời Tim
cũng sẽ đào thải CO2 và các chất cặn bạ ra ngoài bằng con đường mồ hôi,
nước tiểu… Thông qua các hoạt động TDTT thường xuyên, liên tục (hằng
ngày, hang tháng) thì hệ tim mạch cũng sẽ được tập luyện. Sau một thời gian
thì chức năng của hệ tim mạch tăng lên rõ rệt: cơ tim dầy lên từ 0,5 – 1cm,
to hơn, chắc và khỏe (người bình thường 270gr, VĐV 400 - 500 gr), tần số
mạch và huyết áp giảm. VD: yên tĩnh ở người bình thường là 60 – 80
nhịp/phút, VĐV 50 - 60 nhịp/phút, khi vận động, người bth 80 – 120
nhịp/phút, ở VĐV có thể lên tối 180 nhịp/ phút.
Luyện tập TDTT làm cho lớp màng trong của thành mạch, sợi đàn hồi
và cơ trơn cũng dày lên. Tính đàn hồi của mạch máu tốt hơn, cải thiện các
chức năng của Tim mạch. Cho nên người tập TDTT thường xuyên khi về già
ít bị chứng căng mạch máu, là nguyên nhân sinh ra bệnh cao huyết áp.
Đối với người tập luyện TDTT thì hồng cầu và bạch cầu đều tăng, tỷ lệ
sắc tố cũng được tăng cường do vậy da dẻ của người tập luyện thường hồng
hào hơn so với người ít rèn luyện.
Ảnh hưởng của luyện tập TDTT đối với hệ hô hấp:
Chức năng của hệ thống hô hấp mạnh hay yếu phụ thuộc bởi năng lực
CO2 của cơ thể, khi tập luyện thể dục thể thao cơ thể đòi hỏi nhiều hơn về
O2, chính vì vậy mà tần số hô hấp tăng lên. Để đáp ứng nhu cầu trên, các cơ
quan của hệ thống hô hấp bắt buộc phải cải thiện năng lực làm việc của bản
thân. Do vậy, tiến hành tập luyện thể dục thể thao trong thời gian dài có thể
nâng cao năng lực hấp thụ O2, từ đó nâng cao được chức năng của các cơ
quan trong hệ thống hô hấp, cải thiện cơ năng hệ thống hô hấp.
Quá trình hoạt động sống của con người là một quá trình tiêu hao năng
lượng, năng lượng đó được lấy từ nguồn dự trữ các chất trong cơ thể. Những
vật chất dự trữ này khi được đem ra để biến đổi thành năng lượng đòi hỏi
phải có một quá trình O2 hoá, do vậy, cơ thể bắt buộc phải không ngừng sử
dụng O2 từ môi trường bên ngoài và thở ra CO2. Quá trình trao đổi này gọi là quá trình hô hấp.
Hệ thống hô hấp bao gồm phổi, khí quản, mũi… trong đó phổi là nơi
trao đổi khí, còn lại đều là đường hô hấp. Cơ thể khi trong trạng thái yên tĩnh
mỗi phút đòi hỏi 0,25- 0,3 ml khí, như vậy chỉ cần 1/20 số phế nang trong
phổi hoạt động là có thể đáp ứng. Nếu cứ như vậy trong thời gian dài thì
những phế nang không được sử dụng sẽ bị thoái hoá đi, từ đó chức năng của
hệ thống hô hấp sẽ giảm đi mạnh mẽ và rất dễ mắc bệnh.
Sau tập luyện thể dục, thể thao, chức năng hô hấp được cải thiện ra sao?
– Cơ hô hấp được phát triển dần, có lực, có sức bền, có thể chịu đựng với lượng vận động lớn.
– Dung tích sống tăng lên, tăng cường hấp thụ O2 và thải CO2. Dung tích
sống là một chỉ tiêu quan trọng đánh giá trình độ sức khoẻ và sự sinh trưởng
phát dục của thiếu niên nhi đồng. Thường xuyên tập luyện thể dục thể thao
đặc biệt là làm các động tác gập duỗi ngực có thể làm cho sức mạnh của cơ
hô hấp được tăng cường, lồng ngực to lên điều này có lợi cho sự sinh trưởng
phát dục của tổ chức phổi, cũng như sự khuyếch trương của phổi từ đó làm
cho dung tích sống tăng lên.
– Tăng cường độ sâu hô hấp. Ở người bình thường hô hấp nông và nhanh,
khi yên tĩnh tần số yên tĩnh khoảng 12 -18 lần/ phút, ở người thường xuyên
tập luyện thể dục thể thao hô hấp sâu và chậm lúc yên tĩnh tần số hô hấp
khoảng 8 -12 lần/ phút. Như vậy có nghĩa là các cơ hô hấp có nhiều thời
gian để nghỉ ngơi. Sự khác biệt này còn biểu hiện rõ nét hơn trong khi vận động.
Ngoài ra, do kết quả của tập luyện thể dục thể thao lâu dài đã cải thiện
được chức năng của hệ thống hô hấp và các hệ thống khác (hệ thống thần
kinh, hệ thống tuần hoàn…) nâng cao năng lực nhả CO2 và hấp thụ O2 khi
trao đổi khí, làm cho vận động viên khi hoạt động kịch liệt vẫn có thể phát
huy chức năng của hệ hô hấp (ở người bình thường khó có thể đạt được).
Ảnh hưởng của luyện tập TDTT đến hệ tiêu hoá:
Dạ dày và ruột là những cơ quan chủ yếu của hệ thống tiêu hoá trong
cơ thể. Năng lực tiêu hoá của dạ dày và ruột tốt sẽ có những ảnh hưởng tốt
đối với sức khoẻ con người. Thường xuyên tập luyện thể dục thể thao sẽ
nâng cao được công năng tiêu hoá của dạ dày và ruột, tăng cường sự khoẻ
mạnh cho gan, đồng thời còn có tác dụng trị liệu và phòng ngừa một số bệnh về hệ thống tiêu hóa.
Thường xuyên tập luyện, do nhu cầu hoạt động của cơ bắp nên dạ dày
và ruột phải tăng cường chức năng tiêu hoá, lúc này dịch và men tiêu hoá
tăng lên nhiều, sự co bóp ở đường dẫn truyền tiêu hoá càng được tăng lên
mạnh mẽ, tuần hoàn máu ở dạ dày và ở ruột cũng được cải thiện.
Do phát sinh các thay đổi nêu trên mà việc tiêu hoá thức ăn và hấp thụ
các chất dinh dưỡng được diễn ra thuận lợi, mặt khác do khi vận động phải
hô hấp sâu, cơ hoành cách hoạt động với biên độ lớn nên đã di chuyển nhiều
xuống phía dưới, cơ bụng cũng hoạt động mạnh, điều này đã có tác dụng
mát xa cho dạ dày và ruột.
Do tập luyện thể dục thể thao có tác dụng nâng cao năng lực tiêu hoá
của dạ dày và ruột như vậy nên đã có không ít người sử dụng tập luyện thể
dục thể thao như một phương pháp trị liệu đối với một số bệnh dạ dày và họ
đã thu được hiệu quả nhất định.
Gan là một tạng lớn trong cơ thể con người, nó đóng vai trò hết sức
quan trọng đối với hệ tiêu hoá, thường xuyên tập luyện thể dục thể thao chức
năng của gan được tăng cường điều này rất có lợi cho việc tiêu hoá thức ăn.
Lượng đường đơn trong gan của vận động viên và người thường và tốc
độ đẩy đường đơn ra ngoài của gan ở vận động viên cũng nhanh hơn người
thường. Đường đơn ở gan là hết sức quan trọng đối với sự khoẻ mạnh của
gan, nó có thể bảo vệ cho gan, vì nguyên nhân này mà các bác sĩ thường yêu
cầu những bệnh nhân gan ăn nhiều hoa quả có đường.
Chức năng gan ở vận động viên là rất tốt, khả năng đề kháng với bệnh
gan cũng rất cao. Ở người thường xuyên tập luyện thể dục thể thao thì việc
sử dụng đường đơn trong gan cũng kinh tế hơn ở người thường.
Từ những yếu tố trên, có thể thấy tập luyện thể dục thể thao có thể làm tăng
thêm sức khoẻ cho gan, mà gan có khoẻ thì mới có thể nâng cao được năng
lực lao động và vận động.
c) Nâng cao năng lực thể chất của cơ thể
Tập luyện lâu dài, có hệ thống trong các điều kiện đa dạng, thay đổi về
thời tiết, khí hâu, địa thế.. sẽ có lợi cho nâng cao năng lực thích ứng trước
các điều kiện tự nhiên khác nhau. Mặt khác cũng tăng cường khí huyết lưu
thông và khả năng tạo máu, đẩy nhanh quá trình trao đổi chất, do đó nâng
cao sức đề kháng đối với vi khuẩn gây bệnh, bệnh tật và kịp thời góp phần
phòng trị được cả những căn bệnh của nền văn minh đem lại như: huyết áp, tâm thần..
Thân thể và tinh thần trí tuệ không tách rời nhau. Thể chất cường tráng,
tinh lực sung mãn, sức sống dồi dào có ảnh hưởng to lớn đến trạng thái tinh
thần của con người và ngược lại. Kinh nghiệm y học cổ kim, đông tây đã nói
nhiều tới ảnh hưởng của những vết thương tinh thần đến các cơ quan trong
cơ thể. Đồng thời nhiều đời nay người ta đã biết dùng nhiều hình thức tập
luyện TDTT đa dạng để điều hoà trạng thái tâm lý, phòng trị một số bệnh
tật. Do đó, khi nói về tác dụng của TDTT, về sức khoẻ, Bác Hồ luôn gắn
“khí huyết lưu thông” với “tinh thần thoải mái”.
Tóm lại: Việc tập luyện TDTT thường xuyên đúng phương pháp và
phù hợp với đối tượng tập luyện có tác động rất lớn đến hình thái, chức năng
cơ thể. Biểu hiện của sự tác động đó thể hiện ở sự thay đổi như chiều cao,
cân nặng, các hệ cơ quan trong cơ thể cùng với chức năng của các hệ cơ
quan đó mà chủ yếu là hệ tuần hoàn, hệ hô hấp bởi trong quá trình sống và
hoạt động thể lực hệ tuần hoàn có vai trò vận chuyển máu đến các mô, cơ
quan đáp ứng nhu cầu máu cho các cơ quan đó hoạt động. Bởi vậy, ngay từ
những ngày đầu sau khi dành được độc lập, Bác Hồ của chúng ta đã ra lời
kêu gọi toàn dân tập thể dục vào ngàu 27 tháng 3 năm 1946, Người dạy:
“Giữ gìn dân chủ, xây dựng nước nhà, gây đời sống mới, việc gì cũng cần có
sức khoẻ mới thành công…”. Người kêu gọi: “ Tôi mong đồng bào ta ai
cũng gắng tập thể dục” và Người đã nêu tấm gương sáng “Tự tôi ngày nào cũng tập”
Câu hỏi ôn tập: (Phần này dùng để hỏi thi Vấn – Đáp)
1. Quan điểm về sức khỏe?
Nêu những phương pháp để củng cố và tăng cường sức khỏe? 2. Nguồn gốc của TDTT 3. Đặc tính của TDTT? 4. Nêu khái niệm TDTT?
5. Nêu khái niệm Thể chất?
6. Nêu khái niệm phát triển Thể chất?
7. Khát quát về Thể thao?
8. Khái quát về Thể Dục?
9. Vai trò của TDTT đối với sự phát triển hài hòa, cân đối thể chất con người?
10. TDTT có ảnh hưởng rất lớn đến 3 hệ: hệ tuần hoàn, hô hấp và tiêu
hóa? Hãy trình bày ảnh hưởng của TDTT đến 1 trong 3 hệ trên?
Hà Nội, ngày tháng năm 2018
TRƯỞNG BỘ MÔN GIẢNG VIÊN
ThS. Nguyễn Mã Lương Đặng Thị Phấn