Phân tích nội dung, ý nghĩa định nghĩa vật cht ca Lênin.
sao nói định nghĩa vật chất đã giải quyết triệt để vấn đề bản
ca triết hc?
Ch nghĩa duy vt gì?
Ch nghĩa này cho rằng vt cht tn tại độc lp hoàn toàn so vi ý thc và
quyết định ý thức con người.
Ch nghĩa duy vật lý gii các hiện tượng trong thế gii này bng các nguyên
nhân vt cht.
Ch nghĩa này bao gồm các hc thuyết được to nên t lập trưng duy vt
trong vic gii quyết vấn đề cơ bản ca triết hc.
Hai mt ca vn đề bn ca triết hc:
Mt th nht: Vt cht và ý thức cái nào có trước, cái nào có sau và cái nào
đóng vai trò quyết định cái còn li?
Mt th hai: Con người kh năng nhn biết đưc thế gii xung quanh
không?
Khái qt
Phm trù vt cht xut hin ngay t khi triết hc mới ra đời trong thi k c đại,
i chế độ chiếm hu nô l. Trong thi k lch s khái nim vt chất đã bị xuyên
tc bi nhng nhà triết hc duy tâm, khẳng định bn cht ca vt cht, theo
nhng nhà khoa hc duy tâm đưa ra quan điểm bn cht ca thế gii là ý thc,
ý thc là th nht, vt cht là tính th hai; ý thc có trước và quyết định vt cht.
TG quan duy tâm rt gn vi thế gii quan v tôn giáo tt yếu dn h đến vi
thn hc.
Quan điểm nht quán t xưa đến nay ca các nhà triết hc duy vt tha nhn
s tn ti khách quan ca tg vt cht, ly bn thân gii t nhiên đ gii thích t
nhiên. Lập trường đó đúng đắn, song chưa đủ để các nhà duy vật trước C. Mác
đi đến mt quan nim hoàn chnh v phm trù nn tng này. Tuy nhiên, cùng vi
tiến b ca lch s, quan nim ca các nhà triết hc duy vt v vt chất cũng từng
c phát triển theo ng ngày càng sâu sc và trừu tượng hóa khoa học hơn.
Ch nghĩa duy vt thi c đi (Ch nghĩa duy vt cht phác):
Đặc bit là Hy Lp- La Mã, Trung Quc, n Độ đã xut hin ch nghĩa duy vt vi
quan nim cht phác v gii t nhiên, v vt cht. Các nhà duy vt thi c đại quy
vt cht v nhng vt th hu hình, cảm tính đang tồn ti thế gii bên ngoài,
chng hạn: nước ( Thales), lửa (Heraclitus), không khí ( Anaximenes); đất, nước,
la, gió ( T đại- n Độ); kim, mc, thy, ha, th (Ngũ hành- Trung Quc).
c tiến quan trng nht ca s phát trin phm trù vt chất định nghĩa vt
cht ca hai nhà triết hc Hy Lp c đại Leucippus ( xíp) Democritos ( Đê
rít). C hai đều cho rng vt cht nguyên t. Theo thuyết nguyên t thì vt
chất theo nghĩa bao quát nhất, không đồng nghĩa với nhng vt th con người
th cm nhận được mt cách trc tiếp, mt lp các phn t hu hình
rng rãi nm sâu trong mi s vt, hiện tượng. Tuy hn chế v trình độ nhn thc
ca thời đi v vt chất nhưng chủ nghĩa duy vt chất phác bản đúng.
đã ly thế gii t nhiên để gii thích thế gii, không vin đến thn linh, thượng đế
hay các thế lc siêu nhiên.
Ch nghĩa duy vt thế k XV- XVIII:
Bắt đầu t thi k phục hưng ( thế k XV), phương Tây đã sự bt phá so vi
phương Đông ch khoa hc thc nghiệm ra đời. Đến thế k XVII- XVIII, ch
nghĩa duy vật mang hình thc ch nghĩa duy vật siêu hình, máy móc. Đặc bit,
nhng thành công k diu cu Newton trong vt c đin ( nghiên cu cu to và
thuc tính ca các vt th vt chất bắt đầu tính t nguyên t tr lên)
vic khoa hc vt thc nghim chứng minh được s tn ti thc s ca nguyên
t càng làm cho quan niệm trên được cng c.
Tuy nhiên, do chưa thoát khi phương pháp duy siêu hình nên nhìn chung các
nhà triết hc duy vt thi k cận đại đã không đưa ra đưc nhng khái quát triết
học đúng đn.H coi những đnh luật học như những chân không th thêm
bt gii thích mi hiện tượng ca thế gii theo chun mực cơ học; xem vt
cht, vận đng không gian, thi gian không có mi liên h ni ti vi nhau.
Nguyên nhân dn đến s bế tc ca nhng quan đim trước Mác
v vt cht
Cui thế k XIX đầu thế k XX, khi xut hin nhng phát minh mi trong khoa
hc t nhiên, con người mới có được nhng hiu biết căn bản hơn, sâu sắc hơn
v
nguyên tử. Năm 1895 Rơnghen phát hiện ra tia X; năm 1896, Béccơren phát hiện
ra hin
ng phóng x; năm 1897 Tômxơn phát hin ra đin t chng minh đưc đin
t
mt trong nhng thành phn cu to nên nguyên t. Nh phát minh này, lần đầu
tiên
trong khoa hc, s tn ti hin thc ca nguyên t đã đưc chng minh bng
thc
nghim.
Nhng quan nim đương thi v gii hn tt cùng ca vt cht nguyên t hoc
khi ng đã sp đổ trước khoa hc. Vn đề ch, trong nhn thc lúc đó,c
hạt điện tích và trường điện t coi là cái gì đó phi vật chất. Đây chính là mảnh đt
để ch nghĩa duy tâm lợi dng. Những người theo ch nghĩa duy tâm cho rằng
"vt cht" ca ch nghĩa duy vật đã biến mt, nn tng ca ch nghĩa duy vật đã
sụp đổ. S phát trin ca khoa hc cuộc đấu tranh chng ch nghĩa duy tâm
đòi hỏi các nhà duy vt phải quan điểm đúng đắn hơn v vt chất qua định
nghĩa kinh điển v vt cht ca V.I. Lênin.
Quan nim ca triết hc Mác- Leenin v vt cht:
Kế tha ng ca C. Mác Ph. ăngghen; tng kết nhng thành tu khoa hc
t nhiên cui thế k XIX, đầu thế k XX t nhu cu ca cuộc đấu tranh chng
ch
nghĩa duy tâm, V.I. Lênin đã đnh nghĩa:
o Ni dung:
"Vt cht phm trù triết hc đưc dùng để ch thc ti khách quan đưc đem
li cho con ngưi trong cm giác, đưc cm giác ca chúng ta chép li, chp li,
phn ánh, và tn ti không l thuc vào cm giác"
+Trước hết ,là phân bit vt cht vi cách phm trù triết hc vi các quan
nim
ca khoa hc t nhiên v cu to nhng thuc tính c th ca các đối ng
các dng vt cht khác nhau. Vt cht vi cách phm trù triết hcng ch
vt cht nói
chung, hn, tn, không sinh ra, không mt đi; còn các đối ng, các dng
vt cht khoa hc c th nghiên cứu đều có gii hn, có sinh ra và mất đi để
chuyn hóa thành cái khác.
+ Thuc tính bn ca vt cht “thực ti khách quan”, “tn ti không l thuc
vào cm giác”. Đó cũng chính tiêu chun để phân bit cái vt cht cái gì
không phi là vt cht.
+ “Thực tại khách quan được đem lại cho con người trong cảm giác”, “tồn ti
không l thuc vào cm giác”. Điu đó khng định “thc ti khách quan” (vt cht)
cái trước (tính th nht), còn “cm giác” thc) cái sau (Tính thc hai).
Vt cht tn ti không l thuc vào ý thc.
+ “Thực tại khách quan được đem lại cho con người trong cảm giác, được cm
giác ca chúng ta chép li, chp li, phản ánh”. Điều đó nói lên “thc ti khách
quan” (vật chất) đưc biu hin thông qua các dn c th, bằng “cảm giác” (ý
thc) con người th nhn thc đưc “thực ti khách quan (vt cht) chính
là ngun gc, ni dung khách quan của “cảm giác” (ý thức).
Như vy, định nghĩa vt cht ca V.I.Lênin bao gm nhng ni dung bn sau:
- Vt cht là cái tn ti khách quan bên ngoài ý thc và không ph thuc vào ý
thc, bt k s tn ti y con ngưi đã nhn thc đưc hay chưa nhn thc đưc.
- Vt cht cái gây nên cm giác con người khi gián tiếp hoc trc tiếp tác động
lên giác quan của con người.
- Cm giác, duy, ý thc ch s phn ánh ca vt cht.
Ý nghĩa ca vic Lênin tim ra khái nim vt cht:
- Đnh nghĩa của Lênin đã trả lời được câu hi: Vt chất có trước hay ý thc có
trước?" Vt chất chính là cái có trước ý thc có sau. Vt cht chính ngun gc
khách quan ca cm giác, ý thc con ngưi. Ý thc phn ánh thc ti khách quan
đó và con người có kh năng nhận thc thế gii.
- Đnh nghĩa v vt cht ca Lênin đãc b quan đim duy tâm v phm trù ca
vt cht vi s phát hin ra vt cht trước và ý thc sau. Vt cht ngun
gc ca ý thc và là ngun gc khách quan ca cm giác.
- Đnh nghĩa này khc phc đưc tính cht siêu hình, máy móc trong quan nim
v vt cht ca ch nghĩa duy vật đưa ra thời trước Mác.
- Đnh nghĩa vt cht ca Lênin đã bác b quan đim ca cha nghĩa duy vt tm
thường vt cht và coi ý thức cũng là một dng vt cht.
Định nghĩa v vt cht ca Lênin đã liên kết ch nghĩa duy vt bin chng vi ch
nghĩa duy vt lch s để thành mt th thng nht (vt cht trong t nhiên, trong
xã hội đều là nhng dng c th ca vt chất, đều là thc ti khách quan).
Tóm li, định nghĩa vt cht ca Lênin trên nhng ý nghĩa sau:
Vic ch ra thuộc tính bản nht, ph biến nht chính là thuc tính tn ti khách
quan đã giúp cho chúng ta có th phân biệt được s khác nhau cơ bản gia phm
trù vt cht vi phm trù triết hc, khoa hc chuyên ngành. T đó khc phc đưc
nhng hn chế trong các quan nim ca nhng nhà triết học trước đó, cung cấp
căn cứ khoa học để xác định được nhng gì thuc và không thuc v vt cht.
Lênin đã giải quyết triệt để đưc vấn đề cơ bn ca triết hc, đó là vt cht là cái
có trước và ý thc là cái có sau, vt cht quyết định cho ý thức. Qua đó có thể
thy rằng con người có th nhn thức được thế gii quan thông qua s sao chép,
chp li phn ánh đối vi thc ti khách quan. Định nghĩa vt cht ca Lênin đã
tạo ra cơ sở nn tng, tiền đề để có th xây dng quan nim duy vt v xã hi.

Preview text:


Phân tích nội dung, ý nghĩa định nghĩa vật chất của Lênin. Vì
sao nói định nghĩa vật chất đã giải quyết triệt để vấn đề cơ bản của triết học?

Chủ nghĩa duy vật là gì?
Chủ nghĩa này cho rằng vật chất tồn tại độc lập hoàn toàn so với ý thức và
quyết định ý thức con người.
Chủ nghĩa duy vật lý giải các hiện tượng trong thế giới này bằng các nguyên nhân vật chất.
Chủ nghĩa này bao gồm các học thuyết được tạo nên từ lập trường duy vật
trong việc giải quyết vấn đề cơ bản của triết học.
Hai mặt của vấn đề cơ bản của triết học:
• Mặt thứ nhất: Vật chất và ý thức cái nào có trước, cái nào có sau và cái nào
đóng vai trò quyết định cái còn lại?
• Mặt thứ hai: Con người có khả năng nhận biết được thế giới xung quanh không? Khái quát
Phạm trù vật chất xuất hiện ngay từ khi triết học mới ra đời trong thời kỳ cổ đại,
dưới chế độ chiếm hữu nô lệ. Trong thời kỳ lịch sử khái niệm vật chất đã bị xuyên
tạc bởi những nhà triết học duy tâm, khẳng định bản chất của vật chất, theo
những nhà khoa học duy tâm có đưa ra quan điểm bản chất của thế giới là ý thức,
ý thức là thứ nhất, vật chất là tính thứ hai; ý thức có trước và quyết định vật chất.
TG quan duy tâm rất gần với thế giới quan về tôn giáo và tất yếu dẫn họ đến với thần học.
Quan điểm nhất quán từ xưa đến nay của các nhà triết học duy vật là thừa nhận
sự tồn tại khách quan của tg vật chất, lấy bản thân giới tự nhiên để giải thích tự
nhiên. Lập trường đó là đúng đắn, song chưa đủ để các nhà duy vật trước C. Mác
đi đến một quan niệm hoàn chỉnh về phạm trù nền tảng này. Tuy nhiên, cùng với
tiến bộ của lịch sử, quan niệm của các nhà triết học duy vật về vật chất cũng từng
bước phát triển theo hướng ngày càng sâu sắc và trừu tượng hóa khoa học hơn.
Chủ nghĩa duy vật thời cổ đại (Chủ nghĩa duy vật chất phác):
Đặc biệt là ở Hy Lạp- La Mã, Trung Quốc, Ấn Độ đã xuất hiện chủ nghĩa duy vật với
quan niệm chất phác về giới tự nhiên, về vật chất. Các nhà duy vật thời cổ đại quy
vật chất về những vật thể hữu hình, cảm tính đang tồn tại ở thế giới bên ngoài,
chẳng hạn: nước ( Thales), lửa (Heraclitus), không khí ( Anaximenes); đất, nước,
lửa, gió ( Tứ đại- Ấn Độ); kim, mộc, thủy, hỏa, thổ (Ngũ hành- Trung Quốc).
Bước tiến quan trọng nhất của sự phát triển phạm trù vật chất là định nghĩa vật
chất của hai nhà triết học Hy Lạp cổ đại là Leucippus ( Lơ xíp) và Democritos ( Đê
mô rít). Cả hai đều cho rằng vật chất là nguyên tử. Theo thuyết nguyên tử thì vật
chất theo nghĩa bao quát nhất, không đồng nghĩa với những vật thể mà con người
có thể cảm nhận được một cách trực tiếp, mà là một lớp các phần tử hữu hình
rộng rãi nằm sâu trong mỗi sự vật, hiện tượng. Tuy hạn chế về trình độ nhận thức
của thời đại về vật chất nhưng chủ nghĩa duy vật chất phác cơ bản là đúng. Vì nó
đã lấy thế giới tự nhiên để giải thích thế giới, không viện đến thần linh, thượng đế
hay các thế lực siêu nhiên.
Chủ nghĩa duy vật thế kỷ XV- XVIII:
Bắt đầu từ thời kỳ phục hưng ( thế kỷ XV), phương Tây đã có sự bứt phá so với
phương Đông ở chỗ khoa học thực nghiệm ra đời. Đến thế kỷ XVII- XVIII, chủ
nghĩa duy vật mang hình thức chủ nghĩa duy vật siêu hình, máy móc.
Đặc biệt,
những thành công kỳ diệu cuả Newton trong vật lý cổ điển ( nghiên cứu cấu tạo và
thuộc tính của các vật thể vật chất vĩ mô – bắt đầu tính từ nguyên tử trở lên) và
việc khoa học vật lý thực nghiệm chứng minh được sự tồn tại thực sự của nguyên
tử càng làm cho quan niệm trên được củng cố.
Tuy nhiên, do chưa thoát khỏi phương pháp tư duy siêu hình nên nhìn chung các
nhà triết học duy vật thời kỳ cận đại đã không đưa ra được những khái quát triết
học đúng đắn.Họ coi những định luật cơ học như những chân lý không thể thêm
bớt và giải thích mọi hiện tượng của thế giới theo chuẩn mực cơ học; xem vật
chất, vận động không gian, thời gian không có mối liên hệ nội tại với nhau.
Nguyên nhân dẫn đến sự bế tắc của những quan điểm trước Mác về vật chất
Cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX, khi xuất hiện những phát minh mới trong khoa
học tự nhiên, con người mới có được những hiểu biết căn bản hơn, sâu sắc hơn về
nguyên tử. Năm 1895 Rơnghen phát hiện ra tia X; năm 1896, Béccơren phát hiện ra hiện
tượng phóng xạ; năm 1897 Tômxơn phát hiện ra điện tử và chứng minh được điện tử là
một trong những thành phần cấu tạo nên nguyên tử. Nhờ phát minh này, lần đầu tiên
trong khoa học, sự tồn tại hiện thực của nguyên tử đã được chứng minh bằng thực nghiệm.
Những quan niệm đương thời về giới hạn tột cùng của vật chất là nguyên tử hoặc
khối lượng đã sụp đổ trước khoa học. Vấn đề là ở chỗ, trong nhận thức lúc đó, các
hạt điện tích và trường điện từ coi là cái gì đó phi vật chất. Đây chính là mảnh đất
để chủ nghĩa duy tâm lợi dụng. Những người theo chủ nghĩa duy tâm cho rằng
"vật chất" của chủ nghĩa duy vật đã biến mất, nền tảng của chủ nghĩa duy vật đã
sụp đổ. Sự phát triển của khoa học và cuộc đấu tranh chống chủ nghĩa duy tâm
đòi hỏi các nhà duy vật phải có quan điểm đúng đắn hơn về vật chất qua định
nghĩa kinh điển về vật chất của V.I. Lênin.
Quan niệm của triết học Mác- Leenin về vật chất:
Kế thừa tư tưởng của C. Mác và Ph. ăngghen; tổng kết những thành tựu khoa học
tự nhiên cuối thế kỷ XIX, đầu thế kỷ XX và từ nhu cầu của cuộc đấu tranh chống chủ
nghĩa duy tâm, V.I. Lênin đã định nghĩa: o Nội dung:
"Vật chất là phạm trù triết học được dùng để chỉ thực tại khách quan được đem
lại cho con người trong cảm giác, được cảm giác của chúng ta chép lại, chụp lại,
phản ánh, và tồn tại không lệ thuộc vào cảm giác"

+Trước hết ,là phân biệt vật chất với tư cách là phạm trù triết học với các quan niệm
của khoa học tự nhiên về cấu tạo và những thuộc tính cụ thể của các đối tượng
các dạng vật chất khác nhau. Vật chất với tư cách là phạm trù triết học dùng chỉ vật chất nói
chung, vô hạn, vô tận, không sinh ra, không mất đi; còn các đối tượng, các dạng
vật chất khoa học cụ thể nghiên cứu đều có giới hạn, có sinh ra và mất đi để
chuyển hóa thành cái khác.
+ Thuộc tính cơ bản của vật chất là “thực tại khách quan”, “tồn tại không lệ thuộc
vào cảm giác”. Đó cũng chính là tiêu chuẩn để phân biệt cái gì là vật chất và cái gì
không phải là vật chất.
+ “Thực tại khách quan được đem lại cho con người trong cảm giác”, “tồn tại
không lệ thuộc vào cảm giác”. Điều đó khẳng định “thực tại khách quan” (vật chất)
là cái có trước (tính thứ nhất), còn “cảm giác” (ý thức) là cái có sau (Tính thức hai).
Vật chất tồn tại không lệ thuộc vào ý thức.
+ “Thực tại khách quan được đem lại cho con người trong cảm giác, được cảm
giác của chúng ta chép lại, chụp lại, phản ánh”. Điều đó nói lên “thực tại khách
quan” (vật chất) được biểu hiện thông qua các dạn cụ thể, bằng “cảm giác” (ý
thức) con người có thể nhận thức được và “thực tại khách quan” (vật chất) chính
là nguồn gốc, nội dung khách quan của “cảm giác” (ý thức).
Như vậy, định nghĩa vật chất của V.I.Lênin bao gồm những nội dung cơ bản sau:
- Vật chất là cái tồn tại khách quan bên ngoài ý thức và không phụ thuộc vào ý
thức, bất kể sự tồn tại ấy con người đã nhận thức được hay chưa nhận thức được.
- Vật chất là cái gây nên cảm giác ở con người khi gián tiếp hoặc trực tiếp tác động
lên giác quan của con người.
- Cảm giác, tư duy, ý thức chỉ là sự phản ánh của vật chất.
♦ Ý nghĩa của việc Lênin tim ra khái niệm vật chất:
- Định nghĩa của Lênin đã trả lời được câu hỏi: Vật chất có trước hay ý thức có
trước?" Vật chất chính là cái có trước ý thức có sau. Vật chất chính nguồn gốc
khách quan của cảm giác, ý thức con người. Ý thức phản ánh thực tại khách quan
đó và con người có khả năng nhận thức thế giới.
- Định nghĩa về vật chất của Lênin đã bác bỏ quan điểm duy tâm về phạm trù của
vật chất với sự phát hiện ra vật chất có trước và ý thức có sau. Vật chất là nguồn
gốc của ý thức và là nguồn gốc khách quan của cảm giác.
- Định nghĩa này có khắc phục được tính chất siêu hình, máy móc trong quan niệm
về vật chất của chủ nghĩa duy vật đưa ra thời trước Mác.
- Định nghĩa vật chất của Lênin đã bác bỏ quan điểm của chủa nghĩa duy vật tầm
thường vật chất và coi ý thức cũng là một dạng vật chất.
Định nghĩa về vật chất của Lênin đã liên kết chủ nghĩa duy vật biện chứng với chủ
nghĩa duy vật lịch sử để thành một thể thống nhất (vật chất trong tự nhiên, trong
xã hội đều là những dạng cụ thể của vật chất, đều là thực tại khách quan).
Tóm lại, định nghĩa vật chất của Lênin ở trên có những ý nghĩa sau:
Việc chỉ ra thuộc tính cơ bản nhất, phổ biến nhất chính là thuộc tính tồn tại khách
quan đã giúp cho chúng ta có thể phân biệt được sự khác nhau cơ bản giữa phạm
trù vật chất với phạm trù triết học, khoa học chuyên ngành. Từ đó khắc phục được
những hạn chế trong các quan niệm của những nhà triết học trước đó, cung cấp
căn cứ khoa học để xác định được những gì thuộc và không thuộc về vật chất.
Lênin đã giải quyết triệt để được vấn đề cơ bản của triết học, đó là vật chất là cái
có trước và ý thức là cái có sau, vật chất quyết định cho ý thức. Qua đó có thể
thấy rằng con người có thể nhận thức được thế giới quan thông qua sự sao chép,
chụp lại và phản ánh đối với thực tại khách quan. Định nghĩa vật chất của Lênin đã
tạo ra cơ sở nền tảng, tiền đề để có thể xây dựng quan niệm duy vật về xã hội.