



















Preview text:
BỘ MÔN LÝ LUẬN CHÍNH TRỊ
BÁO CÁO KẾT QUẢ LÀM VIỆC NHÓM VÀ BẢNG ĐIỂM BTL
Môn: Triết Học Mác-LêNin (MSMH: SP1031)
VẬN DỤNG PHƯƠNG PHÁP LUẬN CỦA QUY LUẬT THỐNG NHẤT VÀ ĐẤU TRANH GIỮA CÁC MẶT ĐỐI LẬP ĐỂ GIẢI QUYẾT
NHỮNG MÂU THUẪN CƠ BẢN CỦA VIỆT NAM TRONG THỜI KỲ QUÁ ĐỘ LÊN CNXH Điểm Điểm
STT Mã số SV Họ Tên
Công việc nhóm Đánh Ký tên BTL Giá 1 2212221 Lê Đình Bảo Nghĩa Chương 1.1.2 A 2 2210037 Trần Hoàng An Chương 1.2 A 3 1749519 Diệc Minh Quyền
Chương 2,Tổng hợp 昀椀le A 4 2211096 Nguyễn Khắc Huy Hoàng Mở đầu,Chương 1.1.1 A 5 2212089 Trương Ngọc Minh
Mở đầu,Kết luận,Kiểm tra A cuối
Nhận xét của GV:
..................................................................................................................................................................................................................... ............................
..................................................................................................................................................................................................................... ............................ GIẢNG VIÊN NHÓM TRƯỞNG
(Ký và ghi rõ họ, tên)
(Ký và ghi rõ họ, tên) MỤC LỤC Trang
I. MỞ ĐẦU ........................................................................................................................ 3
II. NỘI DUNG .................................................................................................................... 4
Chương 1. QUY LUẬT THỐNG NHẤT VÀ ĐẤU TRANH GIỮA CÁC MẶT ĐỐI LẬP VÀ
MÂU THUẪN CỦA VN TRONG THỜI KÌ QUÁ ĐỘ LÊN CNXH ........................................... 4
1.1. Nội dung quy luật thống nhất và đấu tranh các mặt đối lập .................................. 4
1.1.1. Nội dung cơ bản 4
1.1.2. Vai trò của quy luật đấu tranh và thống nhất 7
1.2. Mâu thuẫn cơ bản ở VN trong thời kỳ quá độ lên CNXH ..................................... 10
1.2.1. Khái niệm về thời kỳ quá độ và mâu thuẫn cơ bản ở Việt Nam 10
Chương 2. THỰC TRẠNG VÀ GIẢI PHÁP VẬN DỤNG QUY LUẬT THỐNG NHẤT VÀ
ĐẤU TRANH GIỮA CÁC MẶT ĐỐI LẬP GIẢI QUYẾT NHỮNG MÂU THUẪN CƠ BẢN
CỦA VIỆT NAM TRONG THỜI KỲ QUÁ ĐỘ LÊN CNXH ................................................... 15
2.1. Thực trạng vận dụng phương pháp luận của quy luật thống nhất và đấu tranh
giữa các mặt đối lập giải quyết mâu thuẫn cơ bản của Việt Nam trong thời kỳ quá
độ lên CNXH ................................................................................................................... 15
2.1.1. Thực trạng và nguyên nhân 15
2.2. Giải pháp vận dụng phương pháp luận của quy luật thống nhất và đấu tranh
giữa các mặt đối lập giải quyết mâu thuẫn cơ bản của VN trong thời kỳ quá độ lên
chủ nghĩa xã hội ............................................................................................................. 18
2.2.1. Căn cứ của giải pháp 18
2.2.2. Vận dụng để giải quyết mâu thuẫn trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội 22
III. KẾT LUẬN .................................................................................................................. 24
IV. TÀI LIỆU THAM KHẢO .............................................................................................. 24 I. MỞ ĐẦU
Tính cấp thiết của đề tài:
Quy luật thống nhất và đấu tranh của các mặt đối lập (hay gọi là quy luật mâu
thuẫn) là một trong ba quy luật cơ bản của phép biện chứng duy vật và biện chứng
duy vật lịch sử khẳng định rằng: mọi sự vật và hiện tượng trong tự nhiên đều tồn
tại và mâu thuẫn bên trong. Mâu thuẫn tồn tại khách quan trong mọi sự vật của
giới tự nhiên, đời sống xã hội và tư duy con người. Mâu thuẫn tồn tại từ khi sự vật
xuất hiện đến khi sự vật kết thúc.Trong mỗi một sự vật có rất nhiều mâu thuẫn và
sự vật trong cùng một lúc có rất nhiều mặt đối lập. Mâu thuẫn này mất đi thì mâu
thuẫn khác lại được hình thành… Trong sự nghiệp đổi mới của nước ta do Đảng
Cộng Sản Việt Nam khởi xướng và lãnh đạo đã đạt được những thành tưụ bước
đầu mang tính quyết định, quan trọng trong việc chuyển nền kinh tế từ cơ chế quản
lý tập trung quan liêu bao cấp sang cơ chế thị trường có sự quản lí của nhà nước
theo định hướng xã hội chủ nghĩa, đó là nền kinh tế thị trường xã hội chủ nghĩa.
Tuy nhiên, bên cạnh những thành công, nền kinh tế đã bộc lộ nhiều mâu thuẫn, bởi
bên cạnh những ưu điểm, kinh tế thị trường luôn chứa đựng những mặt tiêu cực
mang tính nội tại kìm hãm sự phát triển của công cuộc đổi mới. Giải quyết được
những mâu thuẫn ấy chính là tạo động lực cho đất nước tiến lên XHCN một cách
vững chắc và ổn định theo đúng những định hướng đã đặt ra. Vì vậy, trong phạm vi
của một bài tiểu luận, nhóm 8 chọn đề tài: “ VẬN DỤNG PHƯƠNG PHÁP LUẬN CỦA
QUY LUẬT THỐNG NHẤT VÀ ĐẤU TRANH GIỮA CÁC MẶT ĐỐI LẬP ĐỂ GIẢI QUYẾT
NHỮNG MÂU THUẪN CƠ BẢN CỦA VIỆT NAM TRONG THỜI KỲ QUÁ ĐỘ LÊN CNXH”.
Mục tiêu, nhiệm vụ, đối tượng, phạm vi nghiên cứu:
Mục tiêu: Nắm vững quy luật thống nhất và đấu tranh giữa các mặt đối lập là
cơ sở để hiểu biết tất cả các phạm trù và quy luật khác của phép biện chứng
duy vật. Nghiên cứu quy luật này giúp chúng ta hình thành phương pháp, hình
thành tư duy khoa học, biết khám phá bản chất của các sự vật, phân tích mâu
thuẫn và tim ra giải pháp phù hợp để giải quyết mâu thuẫn bằng đấu tranh
giữa các mặt đối lập, từ đó thúc đẩy sự vật phát triển.
Nhiệm vụ: Làm rõ được nội dung quy luật mâu thuẫn, thông qua đó vận dụng
phương pháp luận của quy luật để giải quyết những mâu thuẫn cơ bản trong
thời kỳ Việt Nam quá độ lên CNXH.
Đối tượng: Các mâu thuẫn cơ bản trong quá trình Việt Nam quá độ lên CNXH và giải pháp.
Phạm vi: Phạm vi của đề tài là rất rộng, do thời gian có hạn nên trong tiểu
luận này chỉ xem xét đánh giá một vài mâu thuẫn tiêu biểu:
- Mâu thuẫn giữa đổi mới nền kinh tế và ổn định chính trị.
- Mâu thuẫn giữa lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất.
- Mâu thuẫn giữa các hình thức sở hữu trong thời kì quá độ sang kinh tế thị trường ở Việt Nam.
- Mâu thuẫn giữa kinh tế thị trường với xây dựng con người mới xã hội chủ nghĩa.
Phương pháp nghiên cứu: Lí luận dựa trên nghiên cứu của
Chủ nghĩa Marx - Lenin và tư tưởng Hồ Chí Minh.
Bố cục đề tài: ● Phần mở đầu ● Phần nội dung ● Phần kết luận II. NỘI DUNG
Chương 1. QUY LUẬT THỐNG NHẤT VÀ ĐẤU TRANH GIỮA CÁC MẶT ĐỐI LẬP VÀ
MÂU THUẪN CỦA VN TRONG THỜI KÌ QUÁ ĐỘ LÊN CNXH
1.1. Nội dung quy luật thống nhất và đấu tranh các mặt đối lập.
1.1.1 Nội dung cơ bản
Mặt đối lập là gì? Mâu thuẫn biện chứng là gì? Sự thống nhất của các mặt đối lập là gì?
Thứ nhất: Mặt đối lập là những mặt có những đặc điểm, những thuộc tính, những
tính quy định có khuynh hướng biến đổi trái ngược nhau tồn tại một cách khách quan
trong tự nhiên, xã hội và tư duy.
Sự tồn tại các mặt đối lập là khách quan và là phổ biến trong thế giới. Theo triết học
duy vật biện chứng của Engels thì tất cả các sự vật, hiện tượng trên thế giới đều chứa
đựng những mặt trái ngược nhau.
Ví dụ như: Trong nguyên tử có điện tử và hạt nhân hay trong sinh vật thì có sự đồng
hoá và dị hoá, trong kinh tế thị trường có cung và cầu, hàng và tiền. Những mặt trái
ngược nhau đó trong phép biện chứng duy vật gọi là mặt đối lập.
Thứ hai: Mâu thuẫn biện chứng là trạng thái các mặt đối lập liên hệ, tác động qua lại
lẫn nhau.Mâu thuẫn biện chứng tồn tại một cách khách quan và phổ biến trong tự
nhiên, xã hội và tư duy. Mâu thuẫn biện chứng trong tư duy là phản ánh mâu thuẫn
trong hiện thực và nguồn gốc phát triển của nhận thức.
Thứ ba: Sự thống nhất của các mặt đối là sự nương tựa lẫn nhau, tồn tại không tách
rời nhau giữa các mặt đối lập, sự tồn tại của mặt này phải lấy sự tồn tại của mặt kia
làm tiền đề.Các mặt đối lập tồn tại không tách rời nhau nên giữa chúng bao giờ cũng
có những nhân tố giống nhau. Những nhân tố giống nhau đó là sự "đồng nhất" của
các mặt đối lập. Do có sự thống nhất của các mặt đối lập mà trong sự triển khai của
chúng. Tuy nhiên, đó chỉ là trạng thái vận động của mâu thuẫn khi diễn ra sự cân
bằng của các mặt đối lập.
Thứ tư: Sự đấu tranh của các mặt đối lập là sự tác động qua lại theo xu hướng bài trừ
và phủ định lẫn nhau giữa các mặt đó. Hình thức đấu tranh của các mặt đối lập hết
sức phong phú, đa dạng và tùy thuộc vào tính chất, mối quan hệ qua lại giữa các mặt
đối lập và điều kiện diễn ra cuộc đấu tranh.
Tính chất của mâu thuẫn là gì
-Tính khách quan: mâu thuẫn là cái vốn có của bản thân các sự vật, hiện tượng, không
phải đem từ bên ngoài vào.
Ví dụ: trong con người bất kỳ đều chứa đựng những yếu tố của các mặt đối lập giữa
nhân từ và độc ác, thông minh và ngu dốt, dũng cảm và hèn nhát, trung thực và giả dối, ...
-Tính phổ biến: mâu thuẫn tồn tại trong mọi lĩnh vực tự nhiên, xã hội và tư duy.
Ví dụ: mâu thuẫn cơ học: MT giữa lực và phản lực trong sự tương tác giữa các vật
thể; mâu thuẫn vật lý: MT giữa lực đẩy và lực hút giữa các hạt, các phân tử, các vật
thể; mâu thuẫn sinh học: MT giữa đồng hoá và dị hoá, di truyền và biến dị, trong hoạt
động sống của sinh vật,
-Tính đa dạng, phong phú: mâu thuẫn có nhiều dạng, nhiều loại khác nhau, mỗi loại
mâu thuẫn có những tính chất, vai trò khác nhau đối với sự vật.
Ví dụ: mỗi cá nhân trong xã hội đều có thể có các mâu thuẫn: MT giữa cá nhân đó với
tự nhiên bên ngoài, MT giữa cá nhân đó với các cá nhân khác trong gia đình và xã hội
trên phương diện tinh cảm, nhận thức, kinh tế, chính trị, văn hoá, và ngay trong nội
tại của cá nhân có các mâu thuẫn về phương diện tư duy, đạo đức và nhu cầu, ...
Mâu thuẫn là nguồn gốc sự vận động.
-Sự thống nhất, đấu tranh các mặt đối lập chính là hai xu hướng tác động khác nhau
mặt đối lập.Trong quá trình phát triền và vận động thì sự thống nhất, đấu tranh của
mặt đối lập không tách rời nhau.
- Đấu tranh của mặt đối lập được quy định tất yếu về sự thay đổi các mặt đang tác
động, làm mâu thuẫn phát triển.
Khi bắt đầu xuất hiện thì mâu thuẫn chỉ là một sự khác nhau cơ bản. Tuy nhiên theo
khuynh hướng trái ngược nhau thì sự khác nhau này càng lớn lên và rộng dẫn ra đến
khi nào trở thành đối lập.Khi hai mặt đối lập có sự xung đột gay gắt, đủ điều kiện thì
sẽ tự chuyển hóa lẫn nhau và từ đó mâu thuận được giải quyết. Nhờ sự giải quyết
theo hướng này mà thể thống nhất mới sẽ thay thế thể thống nhất cũ hay sự vật mới
thay cho sự vật cũ bị mất đi.
-Sự phát triển là cuộc đấu tranh các mặt đối lập.Ta đã thấy rằng khi có thống nhất của
các mặt đối lập thì sẽ có đấu tranh, đấu tranh và thống nhất các mặt đối lập thì không
thể tách rời khỏi nhau đối với mâu thuẫn biện chứng.
Mâu thuẫn là động lực sự vận động
Bất cứ sự vật, hiện tượng nào trong thế giới khách quan cũng đều chứa đựng những
mâu thuẫn trong bản thân nó, trong đó luôn diễn ra quá trình vừa thống nhấtvừa đấu
tranh của các mặt đối lập làm cho sự vật, hiện tượng vận động và phát triển không ngừng.
Chúng có vị trí, vai trò nhất định đối với sự tồn tại và biến đổi của sự vật, hiện
tượng.Sự thống nhất của các mặt đối lập gắn liền với sự ổn định, sự đứng im tương
đối của sự vật. Khi nào các mặt đối lập còn tồn tại trong thể thống nhất thì khi đó sự
vật còn tồn tại. Vì vậy thống nhất có tính tương đối.
Nhưng trong khi các mặt đối lập thống nhất với nhau, quá trình đấu tranh giữa chúng
không ngừng diễn ra. Đấu tranh giữa các mặt đối lập làm cho bản thân các mặt đối
lập đều biến đổi, dẫn đến mâu thuẫn ngày càng phát triển. Khi sự đấu tranhđó lên
đến đỉnh điểm, các mặt đối lập xung đột gay gắt, chúng sẽ chuyển hoá cho nhau, mâu
thuẫn được giải quyết, thể thống nhất cũ bị phá vỡ, sự vật cũ mất đi, sự vật mới ra đời.
Vì vậy đấu tranh có tính tuyệt đối.Mâu thuẫn cũng có quá trình vận động, phát triển:
Lúc mới xuất hiện, mâu thuẫn chỉ là sự khác nhau căn bản của các mặt đối lập nhưng
theo khuynh hướng trái ngược nhau. Sự khác nhau đó ngày càng phát triển đi đến
chỗ đối lập, rồi sau đó xung đột gay gắt.
Khi hội đủ những điều kiện thích hợp, mâu thuẫn sẽ được giải quyết làm cho sự vật
vận động và phát triển.
Tóm lại: mọi sự vật, hiện tượng đều chứa đựng những mặt, những khuynh hướng đối
lập tạo thành mâu thuẫn trong bản thân mình, sự thống nhất và đấu tranh của các
mặt đối lập là nguồn gốc của sự vận động và phát triển, làm cho cái cũ mất đi, cái mới ra đời.
Quá trình vận động của mâu thuẫn bao gồm các giai đoạn:
1. Tiếp cận mâu thuẫn: Trong giai đoạn này, mâu thuẫn được phát hiện, điều tra và
xác định. Các bên liên quan nhận thức và nhận biết sự không đồng nhất, xung đột và
mâu thuẫn. Có thể thông qua sự quan tâm, mâu thuẫn về lợi ích, giá trị, ý kiến, hoặc tài nguyên.
2. Tăng cường mâu thuẫn: Sau khi công nhận mâu thuẫn, các bên có thể bắt đầu cảm
thấy căng thẳng, tức giận, thất vọng hoặc lo lắng. Có thể xuất hiện sự không hài lòng,
sự tranh cãi, bất đồng quan điểm hoặc thậm chí xung đột về lợi ích. Các bên có thể
truyền đạt các quan điểm, ý kiến, nhu cầu của mình một cách mạnh mẽ và thường
xuyên xảy ra sự đối đầu.
3. Phân giải mâu thuẫn: Giai đoạn này bao gồm các hoạt động nhằm giải quyết mâu
thuẫn và tim kiếm một giải pháp chấp nhận được cho tất cả các bên. Các bên có thể
sử dụng các phương pháp như đàm phán, thương lượng, hoặc can thiệp của bên thứ
ba để tim ra giải pháp hợp lý. Trong quá trình này, sự lắng nghe, hiểu và tôn trọng ý
kiến của nhau là rất quan trọng.
4. Thỏa thuận và triển khai giải pháp: Khi các bên đã đạt được hiểu biết và đồng
thuận với nhau, họ có thể đạt được sự hiệp định và thỏa thuận về việc giải quyết mâu
thuẫn. Các bên thường tạo ra một thoả thuận, gồm các cam kết và hành động cụ thể
để triển khai giải pháp đạt được. Việc triển khai thỏa thuận có thể đòi hỏi sự thay đổi,
hợp tác và tương tác giữa các bên để thực hiện những cam kết đã được đưa ra.
5. Đánh giá và học hỏi: Giai đoạn cuối cùng của quá trình vận động mâu thuẫn là đánh
giá kết quả và rút ra bài học. Các bên liên quan đánh giá hiệu quả của quá trình phân
giải mâu thuẫn, xem xét các kết quả đã đạt được và từ đó rút ra kinh nghiệm hữu ích
cho các tinh huống tương tự trong tương lai. Quá trình vận động mâu thuẫn không có
một kịch bản cụ thể và có thể khác nhau tùy thuộc vào tinh huống và yếu tố liên
quan. Tuy nhiên, cung cấp sự nhạy bén và hiểu biết về quá trình này có thể giúp tạo
ra một môi trường tốt hơn để giải quyết mâu thuẫn và đạt được sự hài lòng và đồng
thuận của tất cả các bên.
1.1.2. Vai trò của quy luật đấu tranh và thống nhất
Quy luật thống nhất và đấu tranh giữa các mặt đối lập hay còn gọi là quy luật mâu
thuẫn là một trong ba quy luật cơ bản của phép biện chứng duy vật và là quy luật
quan trọng nhất của phép biện chứng trong triết học Mác - Lênin, là hạt nhân của phép biện chứng.
Ví dụ về quy luật thống nhất và đấu tranh giữa các mặt đối lập
Trong mỗi mâu thuẫn thường có hai mặt đối lập liên hệ gắn bó với nhay tạo tiền đề
cho nhau cùng tồn tại, triết học gọi đó là sự thống nhất giữa các mặt đối lập.
Ví dụ như trong hoạt động kinh tế thì sản xuất và tiêu dùng sẽ phát triển theo những
chiều hướng trái ngược nhau. Sản xuất chính là việc tạo ra của cải vật chất, sản phẩm
để có thể đáp ứng được nhu cầu của người tiêu dùng. Còn tiêu dùng là mục đích cuối
cùng của việc sản xuất, tất cả những sản phẩm được sản xuất ra đều cần có người tiêu dùng.
Trong sự nghiệp đổi mới của nước ta do Đảng khởi xướng và lãnh đạo đã đạt được
những thành tưụ bước đầu mang tính quyết định, quan trọng trong việc chuyển nền
kinh tế từ cơ chế quản lý tập trung quan liêu bao cấp sang cơ chế thị trường có sự
quản lí của nhà nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa.
Tuy nhiên, bên cạnh những thành công, nền kinh tế đã bộc lộ nhiều mâu thuẫn, bởi
bên cạnh những ưu điểm, kinh tế thị trường luôn chứa đựng những mặt tiêu cực
mang tính nội tại kìm hãm sự phát triển của công cuộc đổi mới. Giải quyết được
những mâu thuẫn ấy chính là tạo động lực cho sự phát triển kinh tế một cách vững
chắc và ổn định theo đúng những định hướng đã đặt ra.
Quy luật đấu tranh và thống nhất có vai trò quan trọng đối với sự vận động và phát
triển của sự vật, hiện tượng trong xã hội Việt Nam ngày nay. Quy luật này được áp
dụng phổ biến trong mọi lĩnh vực của đời sống, đặc biệt là trong quy luật vận động của nền kinh tế.
Ví dụ: như trong hoạt động kinh tế thì sản xuất và tiêu dùng sẽ phát triển theo những
chiều hướng trái ngược nhau. Sản xuất chính là việc tạo ra của cải vật chất, sản phẩm
để có thể đáp ứng được nhu cầu của người tiêu dùng. Còn tiêu dùng là mục đích cuối
cùng của việc sản xuất, tất cả những sản phẩm được sản xuất ra đều cần có người tiêu dùng.
Phương pháp luận là mặt học thuyết hay lý luận về phương pháp, hay hệ thống
những quan điểm, nguyên lý đã được công nhận là chuẩn xác và sử dụng hiệu quả.
Phương pháp luận là một phạm trù rất rộng, phạm vi bao quát của phương pháp luận
rất lớn. Cho nên để biết rõ về phương pháp luận cần hiểu rõ ý nghĩa của nó.
Phương pháp luận của quy luật thống nhất và đấu tranh giữa các mặt đối lập là : là
quy luật mâu thuẫn là một trong ba quy luật cơ bản của phép biện chứng duy vật và
là quy luật quan trọng nhất của phép biện chứng duy vật trong triết học Mác - Lênin,
là hạt nhân của phép biện chứng. Quy luật này vạch ra nguồn gốc, động lực của sự
vận động, phát triển, theo đó nguồn gốc của sự phát triển chính là mâu thuẫn và việc
giải quyết mâu thuẫn nội tại trong bản thân mỗi sự vật, hiện tượng.
Triết học Mác – Lê nin là hạt nhân lý luận về vị trí, vai trò của con người trong thế giới
đó. Trong đó triết học giữ vai trò định hướng cho sự củng cố. Đồng thời phát triển thế
giới quan của mỗi cá nhân, mỗi cộng đồng trong lịch sử. Phương pháp luận của triết
học Mác – Lênin đã góp phần quan trọng chỉ đạo, định hướng cho con người trong
nhận thức và hoạt động thực tiễn.
Để nhận thức được ban chất của sự vật hoặc tim ra phương hướng, giải pháp cho
hoạt động thực tiễn cần phải nghiên cứu mâu thuẫn sự vật.
Việc nghiên cứu quy luật thống nhất và đấu tranh giữa các mặt đối lập hay quy luật
mâu thuẫn có ý nghĩa quan trọng đối với nhận thực, hoạt động thực tiễn. Bởi mâu
thuận là động lực và cùng là nguồn gốc của sự vận động, phát triển, có tính khách quan phổ biến.
Ý nghĩa phương pháp luận trong nhận thức và hoạt động thực tiễn chúng ta cần phải
nắm vững quy luật thống nhất và đấu tranh giữa các mặt đối lập để rút ra được ý
nghĩa phương pháp luận quan trọng:
Thứ nhất, để nhận thức đúng, đầy đủ bản chất của sự vật, hiện tượng trước hết phải
nhận thức sự vật, hiện tượng như một thực thể đồng nhất, tiếp đó phải nghiên cứu
những mặt khác nhau, những mặt đối lập và tác động qua lại giữa các mặt đối lập để
nhận biết mâu thuẫn và nguồn gốc của sự vận động và phát triển.
Thứ hai, thông qua việc nghiên cứu quy luật thống nhất và đấu tranh giữa các mặt đối
lập sẽ giúp chúng ta nhận thức đúng bản chất của sự vật và tim ra phương hướng,
giải pháp đúng cho hoạt động nhận thức thực tiễn của bản thân.
Thứ ba, phải nắm vững nguyên tắc giải quyết mâu thuẫn phù hợp với từng loại mâu
thuẫn, trình độ phát triển của mâu thuẫn. Không được điều hòa mâu thuẫn.Phải tim
ra phương thức, phương tiện và lực lượng để giải quyết mâu thuẫn khi điều kiện đã chín muồi.
Đối với nhận thức và thực tiễn phương pháp luận có vai trò chỉ đạo sự tim kiếm. Xây
dựng, lựa chọn và vận dụng các phương pháp để thực hiện hoạt động nhận thức và
thực tiễn. Đóng vai trò định hướng trong quá trình tim tòi, lựa chọn và vận dụng phương pháp.
Trong nhận thức và hoạt động thực tiễn cần phải tôn trọng mâu thuẫn, giải quyết
mâu thuẫn, không được điều hòa mâu thuẫn và tim cách giải quyết mâu thuẫn, mâu
thuẫn chỉ được giải quyết điều kiện đã chin muồi.Phải chống thái độ chủ quan, nóng
vội, phải tích cực thúc đẩy các điều kiện khách quan để làm các điều kiện giải quyết
mâu thuẫn đi đến chín muồi. Phải giải quyết mâu thuẫn một cách linh hoạt, phù hợp
để làm cho sự vật, hiện tượng phát triển không ngừng.
Ý nghĩa trong nhận thức:
+ Nhờ có phương pháp luận lượng chất mà chung ta hiểu rằng bất cứ sự vật, hiện
tượng nào cũng đều vận động và phát triển.
+ Bất kể sự vật, hiện tượng nào cũng đều có 2 mặt chất và lượng, do đó khi nhận
thức, ta cần phải nhận thức cả 2 mặt để có tri thức toàn diện phong phú, về sự vật, hiện tượng.
+ Cần phải làm rõ quy luật phát triển của sự vật, hiện tượng bằng cách xác định giới
hạn độ, điểm nút, bước nhảy.
+ Phải nhận thức đúng đắn mối quan hệ biện chứng giữa chất và lượng: Sự thay đổi
về lượng dẫn đến sự thay đổi về chất, và chất thay đổi ảnh hưởng lớn đến lượng.
- Ý nghĩa trong thực tiễn:
+ Phải biết kiên trì, tích lũy về lượng để có biến biến đổi về chất, không được nôn
nóng cũng như không được bảo thủ.
+ Cần tránh hai khuynh hướng sau:
Nôn nóng tả khuynh: Đây là việc mà một cá nhân không kiên trì và nỗ lực để có sự
thay đổi về lượng nhưng lại muốn có sự thay đổi về chất;
Bảo thủ hữu khuynh: Lượng đã được tích lũy đến mức điểm nút nhưng không muốn
thực hiện bước nhảy để có sự thay đổi về chất.
+ Khi lượng đã đạt đến điểm nút thì thực hiện bước nhảy là yêu cầu khách quan của
sự vận động của sự vật, hiện tượng.
+ Nếu không muốn có sự thay đổi về chất thì cần biết cách kiểm soát lượng trong giới hạn độ.
+ Vì bước nhảy hết sức đa dạng và phong phú về hình thức cho nên trong hoạt động
thực tiễn phải vận dụng linh hoạt các hình thức bước nhảy khác nhau cho phù hợp
với từng điều kiện hoàn cảnh cụ thể.
=> Chỉ thực hiện bước nhảy khi đã tích lũy lượng đến giới hạn điểm nút và thực hiện
bước nhảy một cách phù hợp với từng thời điểm, điều kiện và hoàn cảnh cụ thể để
tránh được những hậu quả không đáng có như không đạt được sự thay đổi về chất,
dẫn đến việc phải thực hiện sự thay đổi về lượng lại từ đầu. Nói cách khác, trong hoạt
động thực tiễn, không những cần xác định quy mô và nhịp điệu bước nhảy một cách
khách quan, khoa học, chống giáo điều, rập khuôn, mà còn phải có quyết tâm và nghị
lực để thực hiện bước nhảy khi điều kiện đã chín muồi, chủ động nắm bắt thời cơ
thực hiện kịp thời bước nhảy khi điều kiện cho phép, chuyển thay đổi mang tính tiến
hóa sang thay đổi mang tính cách mạng. 1.2
Mâu thuẫn cơ bản ở VN trong thời kỳ quá độ lên CNXH.
1.2.1. Khái niệm về thời kỳ quá độ và mâu thuẫn cơ bản ở Việt Nam
Khái niệm về thời kỳ quá độ Thời kỳ quá độ được định nghĩa là một giai đoạn chuyển
tiếp từ một hình thái kinh tế - xã hội này sang hình thái kinh tế - xã hội khác. Trong
thời kỳ này, các yếu tố của hai hình thái kinh tế - xã hội cũ và mới cùng tồn tại, đan
xen nhau, đấu tranh với nhau, tạo ra những mâu thuẫn phức tạp.
Bản chất của thời kỳ quá độ
Bản chất của thời kỳ quá độ là sự đấu tranh giữa hai giai cấp đối kháng. Trong thời kỳ
này, giai cấp mới lên nắm chính quyền, tiến hành cải tạo xã hội cũ, xây dựng xã hội
mới. Giai cấp cũ bị đánh bại, nhưng vẫn còn tồn tại, tim cách chống phá sự nghiệp xây dựng xã hội mới.
Thời kỳ quá độ có các đặc điểm sau:
Là một giai đoạn chuyển tiếp từ một hình thái kinh tế - xã hội này sang hình thái kinh tế - xã hội khác.
Các yếu tố của hai hình thái kinh tế - xã hội cũ và mới cùng tồn tại, đan xen nhau.
Có những mâu thuẫn phức tạp giữa các yếu tố của hai hình thái kinh tế - xã hội.
Là một giai đoạn đấu tranh giữa hai giai cấp đối kháng.
Thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội
Thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội là giai đoạn chuyển tiếp từ chủ nghĩa tư bản lên
chủ nghĩa xã hội. Trong thời kỳ này, giai cấp công nhân và nhân dân lao động tiến
hành cải tạo xã hội cũ, xây dựng xã hội mới.
Các giai đoạn của thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội
Thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội được chia thành hai giai đoạn:
Giai đoạn thứ nhất: Giai đoạn đấu tranh giai cấp và xây dựng cơ sở vật chất - kỹ thuật của chủ nghĩa xã hội.
Giai đoạn thứ hai: Giai đoạn quá độ lên chủ nghĩa cộng sản.
Thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam
Thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam bắt đầu từ năm 1945, khi Cách mạng
tháng Tám thành công và nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa ra đời. Hiện nay, Việt
Nam đang ở giai đoạn thứ nhất của thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội.
Theo Chủ tịch Hồ Chí Minh, thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội ở nước ta là một thời
kỳ lịch sử mà: "nhiệm vụ quan trọng nhất của chúng ta là phải xây dựng nền tảng vật
chất và kỹ thuật của chủ nghĩa xã hội,... tiến dần lên chủ nghĩa xã hội,có công nghiệp
và nông nghiệp hiện đại, có văn hoá và khoa học tiên tiến. Trong quá trình cách mạng
xã hội chủ nghĩa, chúng ta phải cải tạo nền kinh tế cũ và xây dựng nền kinh tế mới,
mà xây dựng là nhiệm vụ chủ chốt và lâu dài" (Hồ ChíMinh: Toàn tập, 1996, t.10, tr. 13)
Để xây dựng thành công CNXH ở nước ta, Đảng, Nhà nước và Nhân dân ta cần giải
quyết những mâu thuẫn cơ bản của Việt Nam trong thời kỳ quá độ lên CNXH, cụ thể
là những mâu thuẫn sau đây:
Thứ nhất, mâu thuẫn giữa lực lượng sản xuất (LLSX) và quan hệ sản xuất(QHSX).
Trong thời kỳ quá độ lên CNXH, giải quyết mẫu thuẫn giữa lực LLSX –QHSX trong giai
đoạn xây dựng và hoàn thiện thể chế KTTT định hướng XHCN ở nước ta hiện nay là
một quá trình cam go, phức tạp được Đảng, Nhà nước ta quan tâm đặc biệt.
Lực lượng sản xuất ngày càng lớn mạnh gắn với công nghiệp hóa – hiện đại hóa đất
nước tất yếu dẫn tới mâu thuẫn với quan hệ sản xuất lạc hậu. Đồng chí Lê Duẫn đã
từng nói “theo quy luật chung của sự phát triển, thường thường thì lực lượng sản
xuất mâu thuẫn với quan hệ sản xuất lạc hậu kìm hãm nó. Phải phá bỏ quan hệ sản
xuất cũ đã lỗi thời, xây dựng quan hệ sản xuất mới để mở đường chosự phát triển
của lực lượng sản xuất. Nhưng trong tinh hình cụ thể của miền Bắc nước ta hiện nay,
sự phát triển của lực lượng sản xuất, tức trình độ phát triển cơ sở vật chất kỹ thuật
lạc hậu hơn sự phát triển của quan hệ sản xuất mới, xã hội chủ nghĩa….Muốn giải
quyết mâu thuẩn trên, chúng ta phải ra sức phát triển lực lượngsản xuất, xây dựng cơ
sở vật chất của chủ nghĩa xã hội. Chỉ thực hiện công nghiệp hóa xã hội chủ nghĩa….”
( Lê Duẩn, 1978, Cách mạng XHCN ở Việt Nam, t1, tr.80-81; 85- 86 ). Do vậy Đảng và
Nhà nước ta cần xây dựng và hoàn thiện một quan hệ sản xuất tiến bộ và phù hợp với
lực lượng sản xuất hiện nay để đưa đất nước phát triển hơn nữa, mà trước hết là
phải đẩy mạnh CNH-HĐH đất nước, tận dụng những thời cơ trong thời kỳ hội nhập để
phát triển kinh tế một cách bền vững nhằm thực hiện những mục tiêu xây dựng CNXH
mà Đảng và Nhân dân ta đang đặt ra.
Tuy nhiên qua thực tiễn đất nước hiện nay cách thức tổ chức quản lý kinh tế lỗi thời,
lạc hậu đã kìm hãm sự phát triển của LLSX. Trong quá trình triển khai thực hiện, cơ
chế quản lý đã bộc lộ những hạn chế, yếu kém như: sự chồng chéo,trùng lặp về chức
năng giữa các cơ quan quản lý, nhiều cơ quan cùng quản lý về một lĩnh vực dẫn đến
tinh trạng cha chung không ai khóc, sự độc quyền của một số ngành, lĩnh vực như
điện, than, xăng dầu,. . . dẫn đến một số tổ chức, cá nhân được giao quyền quản lý đó
trở nên lạm quyền, ỷ lại, không có ý thức tự vươn lên,ngày càng xa rời quần chúng;
mâu thuẫn giữa chủ trương phát triển hàng tiêu dùng trong nước để cạnh tranh với
hàng nhập khẩu nhưng lại tạo cơ chế mở cửa nhập khẩu tràn lan các mặt hàng nước
ngoài làm cho các doanh nghiệp trong nước bị phá sản, thất nghiệp; tài nguyên,
khoáng sản: thủy điện, xăng dầu, than… ưu tiên dành cho xuất khẩu nhưng lại để giá
xăng dầu, điện trong nước ngày càng tăng gây bức xúc trong dư luận, làm ảnh hưởng
đến đời sống sinh hoạt của người dân.
Thứ hai, mâu thuẫn giữa lợi ích cá nhân và lợi ích xã hội.
Mâu thuẫn giữa lợi ích cá nhân và lợi ích xã hội trong xã hội có giai cấpluôn luôn tồn
tại. Đặc biệt là trong điều kiện cơ chế thị trường hiện nay lợi ích cá nhân của con
người trong xã hội ngày càng phát triển theo hướng cá nhân tiêu cực mà không theo
hướng tích cực vì cộng đồng, vì xã hội.
+ Chúng ta đang xây dựng chế độ do nhân dân làm chủ, mỗi cá nhân là mộtmột thành
viên tích cực của xã hội vì lợi ích chung của tập thể, không cá nhân nào có quyền áp
đặt lợi ích cá nhân lên trên lợi ích của tập thể, Hồ Chí Minh đã từng nói “lợi ích chung
của tập thể được đảm bảo thì lợi ích riêng của cá nhân mới có điều kiện được thỏa
mãn”. (Hồ Chí Minh: Toàn tập, tập 11, tr.610 )
Trong những năm qua, ở nước ta hiện nay trên thực tế có một số lượngkhông ít cán
bộ, đảng viên thậm chí là có những cán bộ giữ chức vụ cao cấp ở Trung ương, chỉ
quan tâm, vun vén đến lợi ích cá nhân mình, vì lợi ích riêng mà sẵn sàng giày xéo, chà
đạp lên lợi ích chung của toàn thể xã hội. Nhiều trường hợp mượn danh nghĩa tập thể
để thu lợi bất chính, làm giàu cho riêng bản thân và giađình mình, gây tổn hại cho
ngân sách nhà nước hàng trăm, hàng nghìn tỉ đồng mà nhiều vụ án vừa qua như vụ
VinaShin, Nguyễn Đức Chung, vụ nâng khống giá thiết bị xét nghiệm Covid của
nguyên Giám đốc CDC Hà Nội Nguyễn Nhật Cảm hay vụ Phan Quốc Việt ( Việt Á)…là minh chứng.
Vì vậy trong việc giải quyết mâu thuẫn giữa lợi ích cá nhân và lợi ích xã hộivề cơ bản
chúng ta cần phải có những giải pháp để chống lại những biểu hiện tiêucực của chủ
nghĩa cá nhân đồng thời kết hợp hài hòa giữa lợi ích cá nhân và lợi ích xã hội. Đây là
bổn phận và trách nhiệm của mỗi con người Việt Nam trong giaiđoạn hiện nay.
Thứ ba, mâu thuẫn giữa phát triển kinh tế thị trường và mục tiêu xây dựng con người XHCN.
Sinh thời, Bác Hồ cho rằng muốn xây dựng CNXH trước hết phải có con người XHCN,
bởi vì con người là chủ thể của mọi sáng tạo, của mọi nguồn của cải vật chất và văn
hóa do đó nhân tố con người giữ vai trò cực kỳ quan trọng trong sự nghiệp đổi mới
do Đảng ta lãnh đạo. Yếu tố con người trong chế độ XHCN phải phát triển toàn diện
về trí tuệ, về thể chất, về tinh thần, trong sáng và lành mạnh về đạo đức mới là mục
tiêu, động lực để xây dựng CNXH. Xuất phát từ một nước có nền kinh tế nông nghiệp,
lạc hậu, bỏ qua chế độ TBCN để đi lên CNXH, chúng ta phải lấy nhân tố con người làm điểm xuất phát.
Hiện nay, nền KTTT với những ưu điểm tạo ra nhiều thành tựu, tiền đề về cơ sở vật
chất là một điều kiện cần thiết để tạo tiền đề,động lực cho chúng ta xây dựng lại nền
kinh tế sau bao nhiêu năm bị tàn phá bởi chiến tranh, bị kìm hãm bởi cơ chế quản lý
tập trung quan lieu bao cấp. Do nảy sinh và hoạt động một cách khách quan trong
những điều kiện lịch sử nhất định, kinh tế thị trường phản ánh trình độ văn minh, và
sự phát triển của xã hội, là nhân tố phát triển sức sản xuất,tăng trưởng kinh tế, thúc
đẩy xã hội tiến lên. Tuy nhiên, kinh tế thị trường cũng cónhững hạn chế như: sự cạnh
tranh ngày khốc liệt, dẫn đến nhiều doanh nghiệp, cơ sở sản xuất sự phá sản, tinh
trạng thất nghiệp, nền văn hóa lai căng, khủng hoảng chu kỳ, ô nhiễm môi trường…
dẫn đến những giá trị của con người trong mục tiêu xây dựng CNXH của chúng ta bị
xâm phạm nghiêm trọng, tồn tại những mâu thuẫn trên nhiều lĩnh vực.
Phát triển nông nghiệp và bảo vệ môi trường là hai mặt đối lập trong sự phát triển
kinh tế, xã hội
Việt Nam hiện nay là một nước đang phát triển, quá trình công nghiệp hóa –hiện đại
hóa diễn ra mạnh mẽ. Tuy nhiên, nông nghiệp vẫn đóng vai trò là một ngành kinh tế
quan trọng. “Nông nghiệp là ngành sản xuất vật chất cơ bản của xãhội, sử dụng đất
đai với cây trồng làm tư liệu và nguyên liệu lao động chủ yếu tạo ra lương thực, một
số nguyên liệu cho công nghiệp; là tập hợp các mặt hoạt động của con người trong
một môi trường khí hậu đất đai và sinh học cụ thể, trongnhững điều kiện kinh tế xã
hội cụ thể nhằm tạo ra sản phẩm thực vật và động vật cho đời sống, đặc biệt là lương
thực thực phẩm”. (a) Có thể thấy, hoạt động sản xuất này của con người phụ thuộc
phần lớn vào tài nguyên môi trường, tập trung khai thác những thế mạnh về đất,
nước, sinh vật,… để phát triển các lĩnh vực trồng trọt,chăn nuôi nhằm tạo ra lợi
nhuận về kinh tế. Môi trường bao gồm tất cả các yếu tố vật chất tự nhiên và nhân tạo
có quan hệ mật thiết với nhau, bao quanh con người, có tác động lớn đến các hoạt
động đời sống, kinh tế, xã hội, sự tồn tại, phát triển của con người, giới sinh vật và tự
nhiên.”Và hoạt động bảo vệ môi trường là hoạt động phòng ngừa, hạn chế tác động
xấuđến môi trường; ứng phó sự cố môi trường; khắc phục ô nhiễm, suy thoái môi
trường, cải thiện chất lượng môi trường; sử dụng hợp lý tài nguyên nhiên nhiên, đa
dạng sinh học và ứng phó với biến đổi khí hậu” (b). Trên thực tế, bảo vệ môi trường
vận động theo khuynh hướng hạn chế, phòng ngừa những tác động tiêu cực và khắc
phục những hậu quả do tự nhiên và những hoạt động của con người gây ra đối với
môi trường; sử dụng hợp lý, có hiệu quả, tiết kiệm các tài nguyên thiên nhiên. Các
hoạt động như bảo vệ, sử dụng hợp lý, tiết kiệm các tài nguyên đất, nước, không khí,
… là những ví dụ điển hình cho việc bảo vệ môi trường ở Việt Nam. Từ những khái
niệm trên ta thấy muốn phát triển nông nghiệp, con người cần đẩy mạnh khai thác
những tiềm năng về tài nguyên môi trường. Trong khi đó, hạn chế, phòng ngừa
những tác động của con người lại là vấn đề cốt lõi của bảo vệ môi trường. Hai hoạt
động này vận động, phát triển, biến đổi theo khuynh hướng trái ngược nhau và
chúng tồn tại khách quan. Do đó, đây là các mặt đối lập với nhau tạo nên mâu thuẫn
trong quá trình phát triển kinh tế và xã hội trong thời kỳ quá độ ở Việt Nam.
Các mâu thuẫn cơ bản ở Việt Nam
Thời kỳ quá độ là một giai đoạn quan trọng trong sự phát triển của xã hội. Trong thời
kỳ này, giai cấp mới lên nắm chính quyền, tiến hành cải tạo xã hội cũ, xây dựng xã hội
mới. Thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam là một quá trình lâu dài, phức
tạp, đòi hỏi sự nỗ lực của toàn Đảng, toàn dân và toàn quân ta.
Thứ nhất:Trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam, lực lượng sản xuất đã
có bước phát triển mạnh mẽ, đòi hỏi phải có quan hệ sản xuất phù hợp. Tuy nhiên,
quan hệ sản xuất cũ, mang tính chất xã hội chủ nghĩa chưa hoàn thiện vẫn còn tồn tại,
kìm hãm sự phát triển của lực lượng sản xuất.
Mâu thuẫn giữa lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất là mâu thuẫn cơ bản, tồn tại
khách quan trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam. Mâu thuẫn này là
nguồn gốc, động lực thúc đẩy quá trình đổi mới, hoàn thiện cơ chế, chính sách kinh tế
- xã hội, tạo điều kiện cho lực lượng sản xuất phát triển.
Thứ hai:Trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam, giai cấp công nhân
đang từng bước trưởng thành, khẳng định vai trò lãnh đạo của mình trong xã hội. Tuy
nhiên, giai cấp tư sản và các giai cấp bóc lột khác vẫn tim cách chống phá sự nghiệp
xây dựng chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam.
Mâu thuẫn giữa giai cấp công nhân với giai cấp tư sản và các giai cấp bóc lột khác là
mâu thuẫn cơ bản, tồn tại khách quan trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội ở
Việt Nam. Mâu thuẫn này là thách thức đối với sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt
Nam trong việc xây dựng chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam.
Thứ ba:Lợi ích cá nhân, nhóm là lợi ích của mỗi cá nhân, nhóm người trong xã hội. Lợi
ích chung là lợi ích của toàn xã hội.
Trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam, do trình độ phát triển còn thấp,
vẫn còn những biểu hiện của tư tưởng cá nhân, nhóm, dẫn đến tinh trạng xung đột,
mâu thuẫn giữa lợi ích cá nhân, nhóm với lợi ích chung.
Mâu thuẫn giữa lợi ích cá nhân, nhóm với lợi ích chung là mâu thuẫn tồn tại khách
quan trong mọi xã hội. Mâu thuẫn này là thách thức đối với sự phát triển của xã hội Việt Nam.
Chương 2. THỰC TRẠNG VÀ GIẢI PHÁP VẬN DỤNG QUY LUẬT THỐNG NHẤT VÀ
ĐẤU TRANH GIỮA CÁC MẶT ĐỐI LẬP GIẢI QUYẾT NHỮNG MÂU THUẪN CƠ BẢN
CỦA VIỆT NAM TRONG THỜI KỲ QUÁ ĐỘ LÊN CNXH
2.1 Thực trạng vận dụng phương pháp luận của quy luật thống nhất và đấu tranh
giữa các mặt đối lập giải quyết mâu thuẫn cơ bản của Việt Nam trong thời kỳ quá
độ lên CNXH
2.1.1. Thực trạng và nguyên nhân
Khẳng định phương hướng, con đường tất yếu đi lên CNXH và CNCS của cách mạng
Việt Nam là theo con đường chung: “Tất cả các dân tộc đều sẽ đi đến chủ nghĩa xã
hội” như chủ nghĩa Mác - Lênin đề ra. Đó là con đường đã được Cương lĩnh đầu tiên
của Đảng xác định: “làm tư sản dân quyền cách mạng và thổ địa cách mạng để đi tới
xã hội cộng sản”; và Cương lĩnh (Bổ sung, phát triển năm 2011) chỉ ra: “Theo quy luật
tiến hóa của lịch sử, loài người nhất định sẽ tiến tới chủ nghĩa xã hội”. Con đường đó
tất yếu sẽ trải qua TKQĐ lên CNXH với những dấu ấn, đặc trưng của cách mạng Việt Nam.
Thừa nhận tính chất khó khăn, phức tạp, lâu dài, nhưng làm rõ đặc điểm TKQĐ lên
CNXH ở Việt Nam: “từ một nước nông nghiệp lạc hậu tiến thẳng lên chủ nghĩa xã hội
không phải kinh qua giai đoạn phát triển tư bản chủ nghĩa” [1]1; “một thời kỳ cải biến
cách mạng sâu sắc, toàn diện, triệt để nhằm xây dựng từ đầu một chế độ xã hội mới cả
1 [1] Hồ Chí Minh: Toàn tập, tập 12, Nxb Chính trị quốc gia - Sự thật, Hà Nội, 2001, tr.411.
về lực lượng sản xuất, quan hệ sản xuất và kiến trúc thượng tầng” [2]2; “là sự nghiệp
rất khó khăn, phức tạp, cho nên phải trải qua một thời kỳ quá độ lâu dài với nhiều
chặng đường, nhiều hình thức tổ chức kinh tế, xã hội có tính chất quá độ” [3]3.
Thừa nhận ở Việt Nam có một TKQĐ lên CNXH, nhưng bổ sung, xác định nội dung
mới: “quá độ lên chủ nghĩa xã hội bỏ qua chế độ tư bản chủ nghĩa, tức là bỏ qua việc
xác lập vị trí thống trị của quan hệ sản xuất và kiến trúc thượng tầng tư bản chủ nghĩa,
nhưng tiếp thu, kế thừa những thành tựu mà nhân loại đã đạt được dưới chế độ tư bản
chủ nghĩa, đặc biệt về khoa học và công nghệ, để phát triển nhanh lực lượng sản xuất,
xây dựng nền kinh tế hiện đại” [4]4. Lựa chọn hình thức quá độ gián tiếp, nhưng Đảng
có bước phát triển mới về nhận thức là không bỏ qua hoàn toàn CNTB với tính cách là
một hình thái kinh tế - xã hội TBCN, mà kế thừa có chọn lọc những thành tựu, trước
hết là về khoa học và công nghệ nhân loại đạt được trong CNTB, chỉ bỏ qua CNTB
với tính cách là một chế độ chính trị.
Thừa nhận định tính phổ quát về kinh tế, chính trị, xã hội của TKQĐ lên CNXH như
chủ nghĩa Mác - Lênin xác định, nhưng Đảng ta lại tiến xa hơn, cụ thể hóa, xác lập nên
các mục tiêu tổng quát, mục tiêu cụ thể ở những chặng đường khác nhau của TKQĐ lên CNXH ở Việt Nam.
Sau năm 1975, ở “chặng đường đầu tiên” quá độ đi lên CNXH, Đại hội IV xác định
phương hướng chung: “nắm vững chuyên chính vô sản, phát huy quyền làm chủ tập
thể của nhân dân lao động, tiến hành đồng thời ba cuộc cách mạng… mà cách mạng
kỹ thuật là then chốt”; công nghiệp hóa XHCN là “nhiệm vụ trung tâm của cả thời kỳ
quá độ, nhằm xây dựng cơ sở vật chất và kỹ thuật của chủ nghĩa xã hội” [5]5. Nhờ đó,
tạo điều kiện cho Đại hội VI xác định “mục tiêu tổng quát của những năm còn lại của
chặng đường đầu tiên là ổn định mọi mặt tình hình kinh tế - xã hội, tiếp tục xây dựng
những tiền đề cần thiết cho việc đẩy mạnh công nghiệp hóa xã hội chủ nghĩa trong
chặng đường tiếp theo” [6]6. Với nhận thức ban đầu đó, trên cơ sở đánh giá thành tựu,
hạn chế của hơn 15 năm xây dựng CNXH trên cả nước, cùng sự nhận thức rõ hơn về
tính chất đặc điểm của TKQĐ, tại Cương lĩnh năm 1991, Đảng ta đã xác định: “Mục
tiêu tổng quát phải đạt tới khi kết thúc thời kỳ quá độ là xây dựng xong về cơ bản
những cơ sở kinh tế của chủ nghĩa xã hội, với kiến trúc thượng tầng về chính trị và tư
tưởng, văn hoá phù hợp, làm cho nước ta trở thành một nước xã hội chủ nghĩa phồn
vinh”; đồng thời chỉ ra: “Mục tiêu của chặng đường đầu là: thông qua đổi mới toàn
diện, xã hội đạt tới trạng thái ổn định vững chắc, tạo thế phát triển nhanh ở chặng sau” [7]7.
Những đặc điểm của nền kinh tế thị trường ở Việt Nam nhìn từ góc độ triết học:
KTTT: kinh tế thị trường
2 [2] Văn kiện Đảng: Toàn tập, tập 47, Sđd, 2006, tr.374, 376.
3 [3] Văn kiện Đảng: Toàn tập, tập 60, Sđd, 2016, tr.31, 30-31.
4 [4] Văn kiện Đảng: Toàn tập, tập 60, Sđd, 2016, tr.31, 30-31.
5 [5] Văn kiện Đảng: Toàn tập, tập 36, Sđd, 2004, tr.60-61.
6 [6] Văn kiện Đảng: Toàn tập, tập 47, Sđd, 2006, tr.374, 376.
7 [7] Văn kiện Đảng: Toàn tập, tập 51, Sđd, 2007, tr.136-137, 311. XHCN:xã hội chủ nghĩa
Nhìn chung, nền kinh tế trong thời kì quá độ là nền kinh tế thị trường vận động theo
cơ chế của nền kinh tế hàng hóa nhiều thành phần. Nếu để tự phát, nền kinh tế nhiều
thành phần sẽ đi lên chủ nghĩa tư bản. Nhưng nếu có sự đấu tranh thì có thể giữ vững
được định hướng xã hội chủ nghĩa. Đây là một quá trình khó khăn, phức tạp, nhất là
đối với Việt Nam sản xuất nhỏ vẫn chiếm ưu thế.
Trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa thì vai trò quản lý của nhà
nước là vô cùng quan trọng. Nhà nước trực tiếp quyết định các vấn đề kinh tế, xã hội.
Hiện nay, cơ chế quản lý trong nền kinh tế thị trường đang ở giai đoạn mới hình
thành nên còn đang thiếu hụt, chưa hoàn chỉnh, dẫn tới môi trường sản xuất, kinh
doanh thiếu ổn định, an toàn. Tính chất không rõ ràng, thiếu xác định trên cả phương
diện kinh tế - xã hội dường như đang rất phổ biên, rất đặc trưng cho các quan hệ
trong nền kinh tế nước ta. Do đó, quá trình chuyển hóa này vấp phải khá nhiều mâu thuẫn nội tại.
Nhà nước ta là nhà nước XHCN, nhà nước của nhân dân, do nhân dân và vỡ nhân
dân. Chúng ta tiến tới một xã hội có cơ sở toàn dân, sở hữu Nhà nước. Muốn được
vậy thỡ Nhà nước phải có vai trò chủ đạo trong nền kinh tế, tức là Nhà nước phải
nắm việc ''cầm lái'' con thuyền kinh tế . Để nền kinh tế nước ta vận hành theo cơ chế
thị trường có sự điều tiết của Nhà nước theo định hướng XHCN cần giải quyết những vấn đề cơ bản sau:
- Thứ nhất, thực hiện tốt vai trò, chức năng quản lý của nhà nước về kinh tế.
+ Tạo điều kiện, môi trường cho các quy luật kinh tế hoạt động như quy luật giá trị,
quy luật cung cầu, quy luật cạnh tranh.
+ Tập trung vào việc xây dựng, hoàn thiện hệ thống luật pháp, chính sách tạo môi
trường bình đẳng cho sự hoạt động của các thành phần kinh tế.
+ Tập trung phát triển hệ thống giáo dục- Đào tạo, phát triển tiềm lực khoa học-
công nghệ và xây dựng kết cấu hạ tầng.
+ Thực hiện có hiệu quả các chính sách xã hội, bảo vệ môi trường.
KTTT có xu hướng phân hóa giai cấp, chênh lệch về thu nhập, đời sống giữa các
tầng lớp dân cư, giữa thành thị với nông thôn.
Trong nền KTTT, quản lý Nhà nước về kinh tế không phải bằng sự can thiệp trực
tiếp vào sản xuất kinh doanh của các đơn vị doanh nghiệp mà chỉ thực hiện chức
năng định hướng, tạo môi trương thuận lợi thông qua hệ thống chính sách tạo dựng
những điều kiện vật chất, kỹ thuật cho việc phân bố lực lượng sản xuất và khai thác
tài nguyên có hiệu quả.