



















Preview text:
ĐỀ CƯƠNG TRIẾT
Ví dụ đề bài: “Phân tích mối quan hệ biện chứng giữa vật chất – ý thức và rút
ra ý nghĩa phương pháp luận từ mối quan hệ đó”. Các em cần phải trình bày, làm
rõ khái niệm vật chất, ý thức. Sau đó mới đi vào vấn đề trọng tâm là phân
tích mối quan hệ biện chứng giữa vật chất và ý thức (vật
chất quyết định ý thức như thế nào, ý thức tác động trở lại
vật chất như thế nào), từ đó rút ra ý nghĩa phương pháp
luận của mối quan hệ này và liên hệ với thực tiễn.
Câu 1: Vai trò thế giới quan và phương pháp luận của Triết học từ đó VD vào hoạt động
nhận thức và thực tiễn của bản thân? •
Hướng phân tích:
Khẳng định thế giới quan và phương pháp luận là 2 chức năng chính của triết
Thế giới quan là gì->Vai trò của thế giới quan Phương pháp luận là gì-> Vai trò
VD vào hoạt động nhận thức và thực tiễn của bản thân?
- Thế giới quan là gìtiT26) tiT40)
+ Thế giới quan là khái niệm triết học chỉ hệ thống các tri thức, quan điểm, tình cảm, niềm
tin, lý tưởng xác định về thế giới và về vị trí của con ngườitibao hàm cả cá nhân , xã hội
và nhân loại) trong thế giới đó. Thế giới quan quy định các nguyên tắc, thái độ, giá trị trong
định hướng nhận thức và hoạt động thực tiễn của con người
+Trong đó triết học là cơ sở lý luận, hạt nhân của thế giới quan.
+ Triết học Mác lê nin đem lại thế giới quan DVBC, là hạt nhân thế giới quan cộng sản
- Vai trò thế giới quan của Triết họctiT27): đóng vai trò đặc biệt quan trọng trong cuộc sống
của con người và xã hội loài ngươi
+ Thứ nhất : những vấn đề mà triết học đặt ra và tìm lời giải đáp đều thuộc TGKQ
+ Thứ hai: TGQ đúng đắn -> tiền đề quan trọng xác lập pt tư duy hợp lý và nhân sinh quan
tích cực trong khám phá và chinh phục thế giới. Trinhg độ phát triển của TGQ là tiêu chí
quan trọng đánh giá sự trưởng thành của mỗi cá nhân và mỗi cộng đồng xã hội nhất định
-Phương pháp luận tiT40) là hệ thống những quan điểm ,những nguyên tắc xuất
phát có vai trò chỉ đạo việc SD các phương pháp trong HĐNT và HĐTT nhằm đạt kết quả tối ưu
-Vai trò của pp luận thể hiện phổ biến nhất ở HĐNT và HĐTT
+ Vai trò ppl DVBC đc thể hiện trước hết Là phương pháp chung cỉa toàn bộ nhận thức
khoa học. PPL DVBC trang bị cho con người hệ thống những nguyên tắc ppl chung
nhất cho HĐNT và TT ->trở nên năng động sáng tạo trong hoạt động phù hợp với xu thế phát triển chung
+ Trang bị cho con người hệ thống các khái niệm, phạm trù, quy luật làm công cụ
nhận thức khoa học-> giúp con người phát triển tư duy khoa học
+ Vai trò của phương pháp luận triết học đối với nhận thức và thực tiễn thể hiện ở chỗ
nó chỉ đạo sự tìm kiếm, xây dựng; lựa chọn và vận dụng các phương pháp để thực
hiện hoạt động nhận thức và thực tiễn; đóng vai trò định hướng trong quá trình tìm
tòi, lựa chọn và vận dụng phưg pháp.
.VD vào hoạt động nhận thức và thực tiễn của bản thân?
-thế giới quan là nhân tố định hướng cho quá trình hoạt động sống của con người, là
thấu kính mà qua đó con người có thể xác định mục đíc, ý nghĩa cuộc sống và ý
nghĩa cuộc sống và lựa chọn cách thức đạt mục đích đó:
Triết học đem lại cho sinh viên tri thức về các mối quan hệ
xã hội, về bản chất, chức năng của nhà nước và của pháp luật, về mục đích tồn tại của
con người, về cái thiện và cái ác, về mối quan hệ giữa cá nhân với nhà nước và xã hội,
về tự do và trách nhiệm. => Vì vậy, triết học
có vai trò quan trọng trong quá trình hình thành và phát triển nhân cách sinh viên
Do vậy, trong hoạt động nhận thức và hoạt động thực tiễn, chúng ta cần tránh cả hai thái cực sai lầm:
+ Xem thường triết học sẽ sa vào tình trạng mò mẫm, dễ bằng lòng với những biện
pháp cụ thể nhất thời, đi đến chỗ mất phương
hướng, thiếu nhìn xa trông rộng, thiếu chủ động và sáng tạo trong công tác;
+ Tuyệt đối hóa vai trò của triết học sẽ sa vào chủ nghĩa giáo điều,
áp dụng một cách máy móc những nguyên lý, những quy luật vào từng trường hợp
riêng mà không tính đến tình hình cụ thể trong từng trường hợp riêng và kết quả là
dễ bị vấp váp, thất bại. ⇨
Theo đó, cách tốt nhất để mỗi người không mắc phải sai lầm
là nắm chắc tri thức khoa học của chủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh.
Đây là chiếc chìa khóa vạn năng mở ra con đường đưa chúng ta tự tin bước vào
thế giới của kỷ nguyên toàn cầu hóa, hội nhập quốc tế và phát triển kinh tế tri thức.
Vai trò của thế giới quan triết học đối với sinh viên
Thứ nhất, giáo dục triết học Mác – Lênin trong trường đại học nhằm góp phần
hình thành thế giới quan khoa học trong nhân cách sinh viên Việt Nam
Giáo dục triết học Mác – Lênin trước hết là giáo dục những nguyên lý; phạm trù
cơ bản của chủ nghĩa Mác – Lênin nhằm xây dựng lập trường thế giới quan cho
sinh viên. Đó chính là thế giới quan duy vật biện chứng – nền tảng để sinh viên
nhận thức và tiếp thu những nguyên lý; quy luật khác.
Thứ hai, giáo dục triết học Mác – Lênin còn góp phần xây dựng nhân sinh quan
cộng sản chủ nghĩa cho sinh viên; xây dựng trong họ những quan niệm đúng đắn
về cuộc đời; về ý nghĩa và mục đích của cuộc sống. Cụ thể là; triết học Mác –
Lênin giúp sinh viên hiểu được mục đích cao nhất của con người là xây dựng một
xã hội công bằng; dân chủ; văn minh; trong đó; mọi người đều có một cuộc sống
đầy đủ về vật chất và tinh thần. Đó là một xã hội mà “sự phát triển tự do của mỗi
người là điều kiện cho sự phát triển tự do của tất cả mọi người”.
Thứ ba, giáo dục triết học Mác – Lênin góp phần xây dựng lý tưởng
cộng sản cho các thế hệ sinh viên Việt Nam. Lý tưởng giữ vai trò quan trọng trong
quá trình hình thành nhân cách sinh viên; vì lý tưởng là mục đích cao nhất; đẹp nhất;
tạo ra nghị lực giúp con người vượt qua mọi thách thức đạt đến mục tiêu đề ra. (PPL)
Ngày nay, Khoa học là lực lượng sản xuất trực tiếp như điều Mác dự báo trước
đây đã trở thành hiện thực. Thời cơ, vận hội đã và đang đến với từng quốc gia,
dân tộc và đang mở ra cho quốc gia, dân tộc đi tới và
phát triển. Tuy nhiên làm gì và làm như thế nào để nắm bắt thời cơ, vận hội và thách
thức thì vai trò to lớn đó phụ thuộc vào sự hiểu biết, vận dụng sáng tạo thế giới quan,
phương pháp luận của triết học Mác.
Theo đó, có thể khẳng định rằng, sự nghiệp đổi mới, xây dựng và bảo vệ tổ quốc Việt
Nam xã hội chủ nghĩa không thể thành công được nếu chúng ta không vận dụng một
cách sáng tạo chủ nghĩa Mác – Lênin vào thực tiễn cách mạng Việt Nam. Trước
những thay đổi của thế giới, của thực tiễn vận động phát của đất nước cũng đang đặt
ra đối với đội ngũ cán bộ nghiên cứu, giảng dạy triết học ở các cơ sở đào tạo có cách
nhìn nhận và giải quyết những mâu thuẫn của thời đại một cách khách quan, toàn
diện, lịch sử cụ thể và phát triển để đúc kết, khái quát, bổ sung cái mới, tư duy mới để
giải quyết thấu đáo vấn đề do toàn cầu hóa, hội nhập quốc tế đang đặt ra.
Câu 2: Nguồn gốc hình thành ý thức, nguồn gốc nào có vai trò quyết định sự hình thành ý thức? Vì sao •
Hướng phân tích
Ý thức là gì-> Nguồn gốc -> Vì sao
-Ý thức là :Ý thức theo định nghĩa của triết học Mác-Lenin là một phạm trù song song
với phạm trù vật chất. Theo đó, ý thức là sự phản ánh thế giới vật chất khách
quan vào bộ óc con người và có sự cải biến và sáng tạo. Ý thức có mối quan hệ hữu cơ với vật chất
-Nguồn gốc hình thành ý thức: TN và XH trong đó nguồn gốc XH là nguồn gốc quyết
định cho sự ra đời, phát triền của ý thức
-Vì sao: nhờ vào lao động và quá trình trao đổi thông tin bằng ngôn ngữ + Vai trò của lao động:
Lao động là quá trình con người sử dụng công cụ tác động vào thế giới tự nhiên nhằm
thay đổi giới tự nhiên cho phù hợp với nhu cầu của con người; là quá trình trong đó
bản thân con người đóng vai trò môi giới, điều tiết sự trao đổi vật chất giữa mình với giới tự nhiên.,
Đây cũng là quá trình làm thay đổi cấu trúc cơ thể, đem lại dáng đi thẳng bằng hai
chân, giải phóng hai tay, phát triển khí quan, phát triển bộ não, ... của con người.
Trong quá trình lao động, con người tác động vào thế giới khách quan làm cho thế
giới khách quan bộc lộ những thuộc tính, những kết cấu, những quy luật vận động của
nó, biểu hiện thành những hiện tượng nhất định mà con người có thể quan sát được.
Những hiện tượng ấy, thông qua hoạt động của các giác quan, tác động vào bộ óc
người, thông qua hoạt động của bộ não người, tạo ra khả năng hình thành nên những
tri thức nói riêng và ý thức nói chung.
Như vậy, sự ra đời của ý thức chủ yếu do hoạt động cải tạo thế giới khách quan thông qua quá trình lao động + Vai trò của ngôn ngữ
Ngôn ngữ ra đời do nhu cầu của lao động và nhờ lao động . Nó trở thành “vỏ vật
chất” của tư duy, là hiện thực trực tiếp của ý thức, là pthuc để ý thức tồn tại ➔
Cùng với lao động, ngôn ngữ có vai trò to lớn với sự tồn tại và phát triển của ý thức
Khái niệm: Ngôn ngữ vừa là phương tiện giao tiếp, đồng thời là công cụ của tư
duy. Nhờ có ngôn ngữ, con người mới có thể khái quát hóa, trừu tượng hóa, tức là
diễn đạt những khái niệm, phạm trù, để suy nghĩ, tách mình khỏi sự vật cảm tính.
Cũng nhờ ngôn ngữ, kinrrh nghiệm, hiểu biết của con người được truyền từ thế hệ
này sang thế hệ khác mà ý thức là 1 hiện tượng có tính xã hội do đó k có phương tiện
trao đổi về mặt ngôn ngữ thì ý thức cx k hình thành và phát triển được ⇨
Để hình thành ý thức phải có đủ cả 2: NN TN và NNXH trong
đó NNTN là điều kiện cần còn NNXH là đk đủ để hình thành ý thức và tồn tại phát
triển . Nếu chỉ nhấn mạnh 1 nguồn gốc mà quên đi nguồn gốc còn lại và ngược lại thì
k thể hiểu đc thực chất của ý thức
Câu 3:Phân tích bản chất của ý thức là h/a “ chủ quan của thế
giới khách quan” -> VD cần làm gì để phát huy tính năng động , st của ý thức
* Hướng phân tích : Ý thức là gì-> bản chất->vd
-- Ý thức chính :Ý thức theo định nghĩa của triết học Mác-Lenin là một phạm trù
song song với phạm trù vật chất. Theo đó, ý thức là sự phản ánh thế giới vật chất khách quan vào bộ óc
con người và có sự cải biến và sáng tạo. Ý thức có mối quan hệ hữu cơ với vật chất
-Bản chất của ý thức là hình ảnh chủ quan của TGKQ là quá trình phản ánh tích cực sáng
tạo hiện thực kq của óc người -Giải thích
+ Ý thức là hình ảnh chủ quan của thế giới khách quan
Đối với con người cả VC và tíT đều là hiện thực, nghĩa là đều tồn tại thực nhưng ta cần phân
biệt VC là HTKQ còn ý thức và HTcQ •
Ý thức là hình ảnh chủ quan của thế giới khách quan, hình ảnh ấy bị thế
giới khách quan quy định cả về nội dung, lẫn hình thức biểu hiện nhưng nó không còn
y nguyên như thế giới khách quan mà nó đã cải biến thông qua lăng kính chủ quan của
con người. Theo Mác thì ý thức chẳng qua chỉ là vật chất được di chuyển vào trong
đầu óc con người và được cải biến đi trong đó.
Sự phản ánh của ý thức phụ thuộc vào nhiều yếu tố
Thứ nhất, sự phản ánh của ý thức phụ thuộc vào trình độ, năng lực của chủ thể trong
quá trình phản ánh. Đó là tri thức, sự hiểu biết của chủ thể về tự nhiên và xã hội. Trình
độ của chủ thể càng cao thì phản ánh thế giới vật chất càng chính xác và việc điều
chỉnh hành vi của mình cũng khoa học hơn.
Thứ hai, sự phản ánh của ý thức phụ thuộc vào kinh nghiệm của chủ thể. Sự giàu có
hay nghèo nàn của kinh nghiệm sẽ trực tiếp quy định chất lượng, hiệu quả phản ánh
hiện thực khách quan của ý thức.
Thứ ba, sự phản ánh của ý thức phụ thuộc, bị chi phối bởi lập trường giai cấp của chủ thể phản ánh. *
Ngoài ra, sự phản ánh của ý thức còn bị chi phối bởi tình cảm, ý chí của chủ thể phản ánh.
+ Ý thức có đặc tính tích cực, sáng tạo gắn bó chặt chẽ với thực tiễn xã hội
Ý thức k phải là kết quả của sự phản ánh ngẫu nhiên đơn lẻ thụ động của TGKQ mà đó
là kết quả của quá trình phản ánh có định hướng, mục đích rõ rệt
Ý thức là htxh hình thành phát triển gắn với HĐTT của XH
Sáng tạo là đặc trưng bản chất nhất của ý thức : Ý thức phản ánh HTKQ vào bộ não con người qua 3 mặt\
Một là trao đổi thông tin giữa chủ thể và đối tượng phản ánh
Hai là mô hình hóa đối tượng trong tư duy dưới dạng hình ảnh tinh thần
Ba là chuyển hóa mô hình từ tư duy ra HTKQ
Ví dụ chứng minh rằng ý thức là hình ảnh chủ quan của thế giới khách quan.
. Cùng được học ở một lớp nhưng do bộ não tiếp nhận và phân tích khác nhau nên khả
năng tiếp thu của mỗi người khác nhau dó đó có sự khác nhau giữa học sinh giỏi và học sinh kém.
Sinh viên cần làm gì để phát huy tính năng động sáng tạo của ý thức, tránh thái độ thụ động,
ỷ lại, ngồi chờ, bảo thủ, trì trệ, thiếu tính sáng tạ
Biện pháp từ mỗi cá nhân -
Cần sắp xếp thời gian hợp lí, cân bằng được việc học tập và giải trí, chỉ sử
dụng khi rảnh rỗi hay có nhu cầu xả stress. -
Cá nhân hãy có ý thức đối với việc học của mình, không để những chuyện ngoài lề ảnh
hưởng đến tâm trí, hành động, có nhận thức đúng đắn về những tác động tiêu cực. -
Sử dụng mxh đúng việc, đúng mục đích để phát huy tối đa
lợi ích cho kết quả học tập. -
Tham gia các hoạt động thực tế, tăng khả năng giao tiếp ứng, ứng xử, nâng cao
kỹ năng, gắn kết các mối quan hệ thực tế
-Cần chủ động rèn luyện tính tự học đọc sách
- Giáo viên : Tăng cường tổ chức và quản lý hoạt động tự học của người học
Giao nhiệm vụ tự học cho người học một cách đầy đủ, rõ ràng với yêu cầu từ dễ đến
khó. Khi giao nhiệm vụ học tập, cần hướng dẫn tài liệu học tập cho người học và nêu
rõ phần nào cần đọc kỹ, phần nào đọc tham khảo.
Tăng cường công tác kiểm tra việc tự học của người học một cách Để đổi mới phương
pháp giáo dục theo hướng phát huy tính tích cực, chủ động, sáng tạo của người
học thì cần phải kết hợp các
nhóm biện pháp giữa nhà quản lý, người dạy, người học. Như vậy, chất lượng
giáo dục mới có thể nâng cao. 2. Biện pháp từ xã hội -
Gia đình cần dành thời gian quan tâm của con cái -
Xã hội cũng cần có những định hướng để giúp đỡ giới trẻ, đặc biệt là
các bạn sinh viên tham gia các hoạt động thiết thực có ích cho mình và cộng đồng.
Đẩy mạnh và nâng cao công tác giáo dục chính trị tư tưởng, nhận thức của sinh
viên về các vấn đề chính trị và xã hội Về phía nhà quản lý Tăng cường cơ sở vật
chất, cung cấp đầy đủ các trang thiết bị cho việc dạy và học. Xây dựng thư viện
trường có đầy đủ sách báo, tạp chí…cho học sinh đọc tham khảo, nghiên cứu. Về phía giáo viên .
Câu 4: Vai trò quyết định của VC với YT -> Ý nghãi PPL -> VD vào HĐNT VÀ TT của bản thân
*Hướng phân tích: VC, YT là gì-> Vai trò của VC với YT-> Ý nghĩa-> VD - Khái niệm VC:
Định nghĩa vật chất của Lê nin có nội dung cụ thể như sau:
“Vật chất là phạm trù triết học dùng để chỉ thực tại khách quan được đem lại cho
con người trong cảm giác, được cảm giác của chúng ta chép lại, chụp lại, phản ánh,
và tồn tại không lệ thuộc vào cảm giác”.
-Khái niệm ý thức: Ý thức theo định nghĩa của triết học Mác - Lenin là một
phạm trù được quyết định với phạm trù vật chất, theo đó ý thức là sự phản ánh
thế giới vật chất khách quan vào bộ óc con người và có sự cải biến và sáng tạo.
Ý thức có mối quan biện chứng với vật chất. -
Vai trò quyết định của VC với YT 1.
VC quyết định nguồn gốc YT
+ VC sinh ra ý thức vì ý thức xuất hiện gắn liền với sự xuất hiện của con người mà
con người là kết quả của 1 qua trình phát triển tiến hóa lâu dài phức tập của giới tự
nhiên, TGVC. Con người do giới TN, VC sinh ra bcvdo đó giới TN có trước , VC
có trước còn ý thức là cái có sau ➔
VC là tính thứ nhất còn ý thức là tính thứ hai
+ VC tồn tại KQ độc lập vs YT và là nguồn gốc sinh ra ý thức . Bộ óc ng là dàn VC
có hình thức tổ chức cao nhất là cơ quan
phản ảnh hình thành ý thức. Sự VĐ của TGVC là yếu tố quyết định sự ra đời của cái
VC có tư duy là bộ óc người 2.
VC quyết định ND của YT -
Ý thức phản ánh HTKQ vào trong não của con ngưỡi tức là có
TGHT vận động phát triển theo quy luật KQ của nó đc phản ánh vào ý thức mới có nội dung của ý thức -
TGKQ trước hết và chủ yếu là HĐTT có tĩnh XH_LS của loài
người là yếu tố quyết định ND mà ý thức phản ảnh. Ý thức là hình ảnh của TGKQ. Sự
phát triển của HĐTT là động lực quyết định tính phong phú và sâu sắc của nd tư duy 3.
VC quyết định BC của ý thức -
Sự phản ánh của con người là ohanr ánh tích cực tự giác sáng
tạo thông qua hoạt động thực tiễn -
Thực tiễn là hđvc có tính cải biến tg của con người là cơ sở để
hình thành phát triển ý thức trong đó ý thức của con người vừa phản ánh vừa sáng tạo 4.
VC quyết định sự vận động, phát triển của ý thức -
Mọi sự tồn tại, phát triển của ý thức đều gắn liền với quá trình
biến đổi của VC , VC thay đổi thế nào thì YT cũng phải thay đổi theo -
Ý thức con người ngày càng đc mở rộng cùng với sự phát
triển đời sống tt con ng ngày càng pp. Con người k chỉ ý thức ở hiện tại mà còn
trong quá khứ và dự kiến cả tương lai -
SỰ VĐ và biến đổi k ngừng của TGVC, của thực tiễn là yếu tố
quyết định sự vận động biến đổi tư duy của con người -
Trong đsxh vai trò quyết định của VC với Yt đc biểu hiện ở vai
trò của KT đối vs CT, DDSVC đối vs ĐSTT -Ý nghĩa ppl:
+Mọi hoạt động đều phải xuất phát từ quy luật khách quan
Trong hoạt động nhận thức và thực tiễn con người phải tôn trọng khách quan, đồng
thời phải phát huy tính năng động chủ quan của mình. •
Tôn trọng khách quan là tôn trọng tính khách quan của vật
chất, tôn trọng các quy luật tự nhiên và xã hội… •
Phải xuất phát từ thực tế khách quan, lấy thực tế khách quan làm
căn cứ cho mọi hoạt động nhận thức và thực tiễn của mình; •
Không được lấy ý muốn chủ quan của mình làm chính sách,
không được lấy tình cảm làm điểm xuất phát cho chiến lược và sách lược cách mạng.
Phát huy tính năng động, tích cực của ý thức
Để xã hội ngày càng phát triển thì phải phát huy tối đa vai trò tích cực của ý thức, vai
trò tích cực của nhân tố con người, nhận thức đúng quy luật khách quan. •
Phải biết dựa trên quy luật khách quan để xác định mục tiêu, kế
hoạch; biết tìm ra và vận dụng các phương pháp tổ chức hoạt động hiệu quả để
đạt được mục tiêu để ra một cách tối ưu. •
Phải khắc phục bệnh chủ quan duy ý chí (chỉ xuất phát từ ý
muốn chủ quan, nếu lấy ý chí áp đặt cho thực tế, lấy ảo tưởng thay cho hiện thực);
bệnh bảo thủ trì trệ, thái độ tiêu cực, thụ động, ỷ lại ngồi chờ…; đặc biệt là trong
quá trình đổi mới hiện nay.
Con người muốn ngày càng tài năng, xã hội ngày càng phát triển thì phải luôn chủ
động, phát huy khả năng của mình và luôn tìm tòi, sáng tạo cái mới. Bên cạnh đó,
con người phải thường xuyên rèn luyện, tu dưỡng, nâng cao năng lực và không bỏ cuộc giữa chừng.
Con người tuyệt đối không được thụ động, ỷ lại trong mọi trường hợp để tránh
việc sa vào lười suy nghĩ, lười lao động.
Câu 5: Nguyên lý mối liên hệ phổ biến ? VD quan điểm toàn diện vào hđ nt và
thực tiễn của bản thân •
Hướng phân tích: khái niệm mối liên hệ -> Nguyên lý-> Vận dụng -
MỐI LIÊN hệ là một phạm trù triết học dùng để chỉ các mối
ràng buộc tương hỗ, quy định và ảnh hưởng lẫn nhau giữa các yếu tố bộ phận
trong 1 đối tượng hoặc giữa các đối tượng với nhau
Nguyên lý về mối liên hệ phổ biến là nguyên tắc lý luận xem xét sự vật,
hiện tượng khách quan tồn tại trong mối liên hệ, ràng buộc lẫn nhau tác động, ảnh
hưởng lẫn nhau giữa các sự vật, hiện tượng hay giữa các mặt của một sự vật, của
một hiện tượng trong thế giới.
Ví dụ 1: Trong thế giới động vật thì động vật hấp thụ khí O2 và nhả khí CO2, trong
khi đó quá trình quang hợp của thực vật lại hấp thụ khí CO2 và nhả ra khí O2.
Ví dụ, giữa cung và cầu (hàng hoá, dịch vụ) trên thị trường luôn luôn diễn ra quá
trình: cung và cầu quy định lẫn nhau; cung và cầu tác động, ảnh hưởng lẫn nhau,
chuyển hoá lẫn nhau, từ đó tạo nên quá trình vận động, phát triển không ngừng của cả
cung và cầu. Đó chính là những nội dung cơ bản khi phân tích về mối quan hệ biện
chứng giữa cung và cầu. -Nguyên lý
+phép biện chứng duy vật thừa nhận mối liên hệ phổ biến của các sự vật hiện tượng
trong thế giới. Theo phép biện chứng duy vật, nguyên lý mối liên hệ phổ biến là sự
khái quát các mối liên hệ, tác động, ràng buộc, quy định, xâm nhập, chuyển hóa lẫn
nhau của các sự vật, hiện tượng và các quá trình trong thế giới. , phép biện chứng
duy vật chỉ ra rằng: Mọi sự vật, hiện tượng trong thế giới đều tồn tại trong mối liên
hệ phổ biến cùng ràng buộc, chi phối lẫn nhau, vận động và biến đổi không ngừng.
Trong thế giới không có sự vật, hiện tượng tồn tại cô lập, biệt lập nhau .
Phép biện chứng duy vật khẳng định cơ sở của mối liên hệ phổ biến giữa các sự
vật, hiện tượng là tính thống nhất vật chất của thế giới. Các sự vật, hiện tượng trong
thế giới dù có đa dạng và rất khác nhau thì cũng chỉ là những dạng tồn tại cụ thể
của một thế giới duy nhất là vật chất. Ý thức của con người không phải là vật chất
nhưng không thể tồn tại biệt lập với vật chất bởi vì ý thức cũng chỉ là thuộc tính của
một dạng vật chất sống có tổ chức cao là bộ óc người. Hơn thế nữa, nội dung của ý
thức cũng chỉ là kết quả phản ánh của các quá trình vật chất.
fcVd : Trong tự nhiên có các mối liên hệ giữa động vật, thực vật, đất,
nước,.. các nhân tố của môi trường xung quanh. Như cây xanh
quang hợp nhả ra khí oxi, động vật hít khí oxi, sau đó động vật thải
ra chất thải tạo thành chất dinh dưỡng trong đất cho cây,…
-Vd quan điểm toàn diện vào HĐNT và TT +quan điểm toàn diện
Quan điểm toàn diện là một quan điểm mang tính phương pháp luận khoa học trong
nhận thức thế giới. Khi nghiên cứu và xem xét sự vật phải quan tâm đến tất cả các yếu
tố, các mặt, bao gồm cả măt gián tiếp, trung gian có liên quan đến sự vật. Quan điểm
này xuất phát từ mối liên hệ phổ biến của các sự vật, hiện tượng và các hình thái tri thức
Ví dụ chứng minh quan điểm toàn diện
Quan điểm toàn diện thể hiện trong tất cả các hoạt động có tác động của phản ánh
quan điểm. Ví dụ trong đánh giá một con người với những mặt khác nhau phản
ánh trong con người họ; không thể chỉ thực hiện quan sát phiến diện từ những thể
hiện bên ngoài để đánh giá tính cách, thái độ và năng lực của họ. Cũng không thể
chỉ dựa trên một một hành động để phán xét con người hay phán xét cách sống
của họ. Khi đánh giá cần có thời gian cho quá trình quan sát tổng thể từ những
phản ánh trong bản chất con người; các mối quan hệ của người này với người khác; cách cư
xử cũng như việc làm trong quá khứ và hiện tại.
Mỗi sự vật, hiện tượng tồn tại trong nhiều mối liên hệ, tác động qua lại với nhau; do
vậy, khi xem xét đối tượng cụ thể cần tuân theo nguyên tắc toàn diện. Từ nội dung
của nguyên lý về mối liên hệ phổ biến, phép biện chứng khái quát thành nguyên tắc
toàn diện với những yêu cầu đối với chủ thể hoạt động nhận thức và thực tiễn như sau:
Thứ nhất, khi nghiên cứu, xem xét đối tượng cụ thể, cần đặt nó trong chỉnh thể thống
nhất của tất cả các mặt, các bộ phận, các yếu tố, các thuộc tính, các mối liên hệ của chỉnh thể đó.
Ví dụ, khi đánh giá một sinh viên phải xem xét nhiều mặt (thể lực, trí lực,
phẩm chất,học tập, đoàn thể...; nhiều mối liên hệ (thầy cô, nhân viên, bạn bè, chủ
nhà trọ; giađình...-> Mối liên hệ con người với con người), mối liên hệ với tự nhiên,
cơ sở vậtchất của nhà trường... -> Giữa các mặt, mối liên hệ đó tác động qua lại -> Phải có cái
Thứ hai, chủ thể phải rút ra được các mặt, các mối liên
hệ tất yếu của đối tượng đó và nhận thức chúng trong sự thống nhất hữu cơ nội tại,
bởi chỉ có như vậy, nhận thức mới cóthể phản ánh được đầy đủ sự tồn tại khách quan
với nhiều thuộc tính, nhiều mối liên hệ,
quan hệ và tác động qua lại của đối tượng.
Ví dụ: Khi đánh giá về công cuộc đổi mới ở Việt Nam từ năm 1986 đến nay,
chúng taphải đánh giá toàn diện những thành tựu (kết cấu hạ tầng, thu nhập, mức sống, giáo
Thứ ba, cần xem xét đối tượng này trong mối liên hệ với đối tượng khác và với môi
trường xung quanh, kể cả các mặt của các mối liên hệ trung gian, gián tiếp; trong
không gian, thời gian nhất định, tức cần nghiên cứu cả những mối liên hệ của đối
tượng trong quá khứ, hiện tại và phán đoán cả tương lai của nó.
Ví dụ: Vẫn tiếp ví dụ trên, chúng ta khi đã chỉ ra những hạn chế như tham ô, tham
hũng, lãng phí; con ông cháu cha, ma túy, cờ bạc,... -> Chúng ta phải tìm hiểu
Thứ tư, quan điểm toàn diện đối lập với quan điểm phiến diện, một chiều, chỉ thấy
mặt này mà không thấy mặt khác, hoặc chú ý đến nhiều mặt nhưng lại xem xét dàn trải, không
thấy mặt bản chất của đối tượng nên dễ rơi vào thuật ngụy biện (coi cái cơ bản thành
cái không cơ bản, không bản chất thành bản chất hoặc ngược lại) và chủ nghĩa chiết trung
(kết hợp vô nguyên tắc các mối liên hệ) dẫn đến sự nhận thức sai lệch, xuyên tạc bản
chấtsự vật, hiện tượng.
Ví dụ: Đánh giá một sự vật, chỉ nhìn một vài mặt, vài mối liên hệ đã đi đến liên kết
chẳng hạn kết quả học tập đạt kết quả kém đỗ lỗi cho thầy cô, nhà trường..
Câu 6: Phân tích nguyên lý phát triển -> Ý nghĩa ppl -> lấy vd cụ thể về vận dunjg
quan điểm phát triển của bản thân vào đời sống •
Hướng phân tích: Phát triển là gì-> Nguyên lý phát triển-> ý nghĩa -> vd
-Phát triển: phát triển là
một phạm trù triết học dùng để khái quát
quá trình vận động tiến lên từ thấp đến cao, từ đơn giản đến phức tạp, từ kém hoàn
thiện đến hoàn thiện hơn.
Nguyên lý về sự phát triển là nguyên tắc lý luận mà trong đó khi xem xét sự vật, hiện
tượng khách quan phải luôn đặt chúng vào quá trình luôn luôn vận động và phát triển
(vận động tiến lên từ thấp đến cao, từ đơn giản đến phức tạp, từ kém hoàn thiện đến
hoàn thiện hơn của sự vật).
Ý nghĩa phương pháp luận rút ra từ nguyên lý về sự phát triển
Từ việc nghiên cứu nguyên lý về sự phát triển của các sự vật, hiện tượng, chúng
ta rút ra quan điểm phát triển trong nhận thức và hoạt động thực tiễn. Quan điển này đòi hỏi:
Thứ nhất: Khi xem xét các sự vật, hiện tượng, ta phải đặt nó
trong sự vận động và phát triển. –
Ta cần phải nắm được sự vật không chỉ như là cái nó đang có, đang
hiện hữu trước mắt, mà còn phải nắm được khuynh hướng phát triển tương lai,
khả năng chuyển hóa của nó. –
Thứ hai: Không dao động trước những quanh co, phức tạp của
sự phát triển trong thực tiễn.
Ta cần phải xác quyết rằng các sự vật, hiện tượng phát triển theo một quá trình biện
chứng đầy mâu thuẫn. Do đó ta phải công nhận tính quanh co, phức tạp của quá
trình phát triển như một hiện tượng phổ biến, đương nhiên.
Quan điểm phát triển đòi hỏi phải có sự nhìn nhận, đánh giá khách quan đối với mỗi
bước thụt lùi tương đối của sự vật, hiện tượng. Bi quan về sự thụt lùi tương đối sẽ
khiến chúng ta gặp phải những sai lầm tai hại.
Thứ ba: Phải chủ động tìm ra phương pháp thúc đẩy sự phát triển của sự vật, hiện tượng. –
Ta phải tích cực, chủ động nghiên cứu, tìm ra những mâu thuẫn trong
mỗi sự vật, hiện tượng. Từ đó, xác định biện pháp phù hợp giải quyết mâu thuẫn
để thúc đẩy sự vật, hiện tượng phát triển.
Việc xác định những biện pháp cũng cần căn cứ vào từng giai đoạn, hoàn cảnh cụ
thể của sự vật, hiện tượng. Vì sự phát triển diễn ra theo nhiều giai đoạn, từ thấp
đến cao, từ kém hoàn thiện đến hoàn thiện hơn. –
Vì trong sự phát triển có sự kế thừa, ta phải chủ động phát hiện, cổ
vũ cái mới phù hợp, tìm cách thúc đẩy để cái mới đó chiếm vai trò chủ đạo. Ta
cũng phải tìm cách kế thừa những bộ phận, thuộc tính… còn hợp lý của cái cũ,
đồng thời kiên quyết loại bỏ những gì thuộc cái cũ mà lạc hậu, cản trở sự phát triển. Thứ 4
Tuyệt đối tránh bảo thủ, trì trệ trong tư duy và hành động. –
Sự phát triển được thực hiện bằng con đường tích lũy về lượng để
tạo ra sự thay đổi về chất. Do đó, chúng ta phải luôn nỗ lực, chăm chỉ lao động để làm
cho sự vật, hiện tượng tích lũy đủ về lượng rồi dẫn đến sự thay đổi về chất.
Câu 7:Quy luật L-C-> Ý nghĩa PPL -> VD vào hđ nt và thực tiễn •
Hướng phân tích: Lượng, chất là gì-> Quy luật lượng chất-> VD -
Chất là phạm trù triết học dùng để chỉ tính quy định khách
quan vốn có của sự vật, hiện tượng. Là sự thống nhất hữu cơ những thuộc tính cấu
thành nó, phân biệt nó với sự vật, hiện tượng khác. -
Lượng là phạm trù triết học dùng để chỉ tính quy định vốn có
của sự vật về mặt số lượng, quy mô, trình độ, nhịp điệu của sự vận động và phát
triển cũng như các thuộc tính của sự vật -
Quy luật L-C: +chỉ ra cách thức chung nhất của sự vận động phát
triển khi cho thấy sự thay đổi về chất khi Sv,HT đã tích lũy những thay đổi về lượng
đạt ngưỡng nhất định
+ Chỉ ra tính chất của sự vận động và phát triển khi cho thấy sự thay đổi về
lượng của SV, Ht diễn ra từ từ kết hợp với sự thay đổi
nhảy vọt về chất làm cho SVHT vừa tiến bước tuần tự vừa có những bước đột phá vượt bậc
Ý nghĩa phương pháp luận của quy luật lượng chất.
* Ý nghãi trong nhận thức
+ Giải thích cho các vận động, biến đổi và phát triển đi lên của sự vật, hiện tượng.
Với tính tất yếu của sự sinh trưởng, phát triển. Theo kèm là các nhận thức, kinh
nghiệm tăng thêm theo thời gian, theo hiệu quả học tập.
+ Sự vật, hiện tượng nào cũng đều tồn tại hai mặt: Lượng và chất gắn với các tự
nhiên và tác động xung quanh nó. Mang đến các cách thức để giải quyết hay vượt
qua trên thực tế. Đảm bảo thể hiện với sự phong phú, đa dạng. Cũng như các tồn
tại và đặc điểm khác nhau cho các phát triển của sự vật khác nhau
+ Với các tiến trình giới hạn độ, điểm nút, bước nhảy. mang đến các thời điểm
tiến hành biến đổi. Qua đó mang đến các đặc điểm mới được hình thành và phát triển.
* Ý nghĩa trong thực tiễn
+ Muốn có sự biến đổi về chất thì cần kiên trì để biến đổi về lượng (bao gồm độ
và điểm nút). Với chất như kết quả đưuọc phản ánh với đặc điểm tổng hợp về đủ
lượng. Gắn với các yếu tố về yêu cầu lượng, thời gian đảm bảo để tổng hợp.
+ Bước nhảy: là một giai đoạn hết sức đa dạng. Việc thực hiện bước nhảy
phải được thực hiện một cách cẩn thận. Đảm bảo với đủ các điều kiện cơ sở được
phản ánh. Khi đó mới mang đến ý nghãi tìm kiếm các chất mới. Và hiệu quả thể
hiện của các chuyển biến tích cực trên thực tế.
Chỉ thực hiện bước nhảy khi đã tích lũy lượng đến giới hạn điểm nút. là yếu tố
cần và đủ để thực hiện các giá trị về lượng. Khi tích lũy được trong yêu cầu cần
thiết. từ đó mà chất mới hình thành mới mang đến các đặc điểm, chức năng mới.
Và đảm bảo cho tính chất phát triển của chiều hướng đi lên.
Mọi sự vật đểu vận động và phát triển. Nhưng cần thời gian và sự tác động từ bên
ngoài. Đảm bảo hiệu quả đối với quá trình tổng hợp và các nội dung tổng hợp
được trên thực tế. Đây cũng chính là ý nghĩa đưuọc xác định với hoạt động, nhu
cầu phát triển của con người.
Bố trí thời gian và nỗ lực hợp lý cho kế hoạch đã đặt mục tiêu. Phải định hướng
học tập, trau dồi với lượng kiến thức như thế nào. Tương ứng với chia nhỏ theo
thời gian, lộ trình để tiếp thu hiệu quả. Kết quả với các cuộc thi, và công nhận của
mọi người chính là chất mới được hình thành
VD:Mỗi học sinh, sinh viên cần phải tích đủ lượng. Thể hiện với các lộ trình bài
giảng theo chương trình học. Đảm bảo các tiếp cận với các dạng, các mức độ bài
tập khác nhau. tương ứng với các cấp học theo chương trình đào tạo, khi lượng
đạt tới giới hạn điểm nút thì mới được thực hiện bước nhảy. Nó đảm bảo mang đến hiệu