
















Preview text:
1. QUYỀN LỰC
1.1. Định nghĩa quyền lực
- Anthony Gidđens (1985) cho rằng quyền lực là “Khả năng can thiệp
vào các sự việc/sự kiện đê thay đôi chúng theo cách nào đó”
- David Popenoe lại cho rằng quyển lực là “Khả năng của một cá nhân
hoặc nhóm điều khiển hành vi, thái độ, quan điểm của cá nhân khác,
nhóm khác cho dù những người khác đó có hợp tác hay không” (Popenoe 1986: 440).
=> Như vậy, quyền lực có thể coi như là phương tiện trung gian , thông
qua phương tiện trung gian này những lựa chọn được đưa ra trong một bộ
phận của xã hội được chuyển sang những bộ phận khác, tương tự như tiền bạc.
=> Quyền lực là khả năng của cá nhân hoặc nhóm thay đổi thái độ, quan
điểm, hành vi của cá nhân khác, nhóm khác. Quyền lực là khả năng của cá
nhân hoặc nhóm trong việc tác động lên sự kiện/sự tiệc nhằm thay đổi sự
kiện sự việc theo cách nào đó.
1.2. Những quan niệm khác nhau về quyền lực
1.2.1. Max Weber và ba loại nguồn gốc tạo ra quyền lực
- Quyền lực xã hội không phải là một sự vật, mà là một quan hệ. - Đặc điểm:
+ Quyền lực để cập đến khả năng, chứ không phải sự chắc chắn.
+ Quyền lực phản ánh tiềm năng, tức là năng lực thực hiện điều
gì đó (Trích lại từ Turner 206:465).
- Nguồn gốc của quyền lực:
+ Nguồn gốc có tính truyền thống : loại quyền lực được hợp
pháp hoá thông qua sự tôn trọng những khuôn mẫu văn hoá
được thiết lập lâu đời.
● VD: Trong xã hội Tây Nguyên ngày xưa, già làng
là người có uy tín, người biết giải mã các giấc mơ,
thay dân làng đối thoại với thần linh và tìm kiếm
sự che chở của Yàng đối với đồng bào trong các
biến động. Hành xử mỗi ngày, già làng biết cách
lựa chọn phương án phù hợp nhất nhằm phục vụ
lợi ích cộng đồng. Ðó là người có tiếng nói quyết
định trong việc tìm đất lập làng, chọn mở bến
nước, giải quyết vấn đề dịch bệnh hay "cầm trịch"
xử lý các vấn đề lớn, nhỏ phát sinh.
+ Nguồn gốc có tính lôi cuốn : Loại quyền lực bắt nguồn từ
những đặc điểm cá nhân, do sự ngưỡng mộ, tôn sùng đối với một cá nhân nào đó.
● VD: Đại tướng Võ Nguyên Giáp là ví dụ tiêu biểu
về quyền lực lôi cuốn (charismatic authority). Ông
được nhân dân và thế giới ngưỡng mộ nhờ tài năng
quân sự xuất chúng, nhân cách khiêm tốn, trong
sạch, và tinh thần yêu nước. Sức hút của ông
không đến từ chức vụ hay luật lệ, mà từ uy tín và
niềm tin sâu sắc của quần chúng – đúng với bản
chất của quyền lực lôi cuốn theo Max Weber.
+ Nguồn gốc có tính duy lý : loại quyền lực được hợp pháp hóa
thông qua những luật lệ và quy định chính thức về mặt pháp lý.
● VD: Chính phủ và bộ máy nhà nước hiện đại. Thủ
tướng, Chủ tịch nước, Bộ trưởng… có quyền lực
vì được pháp luật quy định và bầu chọn hợp pháp,
chứ không vì dòng họ hay sức hút cá nhân.
1.2.2. Stephen Lukes và góc nhìn 3 chiều về quyền lực
- 3 chiều của quyền lực:
+ Quyền lực một chiều: đề cập đên hành vi của những người
tham gia đưa ra quyết định phản ánh sự mong muốn của chính họ.
● VD: Trong công ty: Giám đốc quyết định cắt giảm nhân
sự dù nhân viên không đồng ý→ Quyết định vẫn được
thực thi vì quyền quyết định thuộc về giám đốc
+ Quyền lực hai chiều: nhấn mạnh các cá nhân/nhóm có quyền lực có
thể đưa ra quyết định mang lại quyền lợi cho chính họ, đồng thời
giới hạn sự lựa chọn của người khác.
● VD: Trong môi trường công ty thì sếp sẽ quy định là
nhân viên B không được nói về chuyện lương bổng, phải
cống hiến, từ đó giới hạn quyền lợi của B về lương. (chế
độ phụ quyền -> giới hạn lựa chọn của phụ nữ)
+ Quyền lực ba chiều: Được xây dựng từ hai quan điểm trên. Lukes
lưu ý đây không phải là việc vận dụng quyền lực tột bậc để làm
người khác có mong muốn như mình mong muốn, mà chính là việc
tìm kiếm sự đồng thuận của người khác thông qua việc hướng dẫn
mong muốn và suy nghĩ của họ.
● VD: Một thương hiệu quảng cáo nước ngọt nói: “Uống
sản phẩm này là cách để bạn thể hiện cá tính, năng động
và thành công.” Người tiêu dùng không bị ép mua,
nhưng họ tự tin rằng mình cần nó vì tin vào thông điệp đó. 1.2.3. Michel Foucault
- Quyền lực không tập trung vào một thiết chế, nhà nước, hoặc là nắm
giữ bởi một cá nhân hay nhóm. Quyền lực có ở mọi cấp độ của
tương tác xã hội,bởi mọi thiết chế, và trong tất cả mọi người.
- Quyền lực và kiến thức liên kết gần gũi, củng cố với nhau .
- VD: Lời tuyên bố về mặt chuyên môn của một bác sĩ cũng là lời nói
mang tính quyền lực nếu nó được đặt trong bối cảnh bệnh viện. 2. BẤT BÌNH ĐẲNG
2.1. Định nghĩa bất bình đẳng 2.1.1. Tổng quan
- Bất bình đẳng là hiện tượng phổ biến, tồn tại trong mọi giai đoạn
phát triển của lịch sử xã hội loài người.
- Bất bình đẳng xã hội là sự không ngang bằng nhau về cơ hội xã hội
giữa các cá nhân, các nhóm của xã hội; cụ thể là sự không ngang
bằng nhau về của cải, uy tín, quyền lực, uy thế xã hội, vai trò mà
mỗi người đảm nhiệm.
2.1.2. Quá trình của sự bất bình đẳng xã hội:
- Trước đây, trong xã hội săn bắn và hái lượm, sự bất bình đẳng còn rất mờ nhạt.
Diễn giải: Vì chưa có của cải dư thừa, sở hữu tư nhân và phân hóa lao
động phức tạp , nên trong xã hội này, mọi người tương đối bình đẳng về
địa vị và quyền lợi .
- Khi xã hội bắt đầu xuất hiện sự phân công lao động, của cải làm ra
ngày càng dư dả hơn, chế độ tư hữu nảy sinh thì cũng là lúc bất bình
đẳng xã hội càng rõ ràng hơn. 2.1.3. Phân chia
- Có thể chia bất bình đẳng thành 2 loại:
- Bất bình đẳng mang tính tự nhiên: sự khác biệt của các cá
nhân về một số đặc điểm sẵn có.
- Bất bình đẳng mang tính xã hội: sự phân công lao động.
2.2. Những quan niệm khác nhau về bất bình đẳng
2.2.1. Quan niệm/ khái niệm thứ nhất về bất bình đẳng: ● Đẳng cấp
- Được phân định hết sức rạch ròi theo một thứ bậc nhất định trong
trật tự xã hội, thường đặt trên nền tảng tôn giáo tín ngưỡng.
- Điển hình là hệ thống đẳng cấp ở xã hội Ấn Độ cổ truyền:
+ Bao gồm 4 đẳng cấp chính: giáo sĩ, chiến sĩ vua quan, nhà
buôn và nhà nông, đầy tớ và thợ thủ công.
+ Các đẳng cấp trên được gọi là trong sạch hơn đẳng cấp dưới,
người dưới đáy xã hội sẽ bị gạt ra ngoài. Trật tự của chế độ
này dựa trên mức độ ô uế hay trong sạch của mỗi đẳng cấp mà Ấn giáo đã qui định.
+ Đây là kiểu xã hội đóng kín. (Nghĩa là sinh ra đã có vị trí cố
định, bị chi phối bởi tôn giáo, không có cơ hội thay đổi địa vị
hay hòa nhập giữa các tầng lớp.)
- Một khái niệm đẳng cấp khác từng tồn tại ở phong kiến thời châu
Âu, sự phân chia này dựa trên nền tảng luật lệ hơn là trên tính tôn giáo.
+ Có ba đẳng cấp chính: tăng lữ, quý tộc và thường dân.
+ Ở Pháp từ thế kỉ XV đến cách mạng tư sản (1789), đẳng cấp
luôn được duy trì và có địa vị pháp lý khác biệt nhau.
Tiếp đến, chúng ta cùng tìm hiểu về các đặc tính chung của đẳng cấp:
● Đặc tính chung của đẳng cấp:
- Thứ nhất : Các nhóm đẳng cấp luôn gắn chặt với một nghề nghiệp
nhất định theo kiểu “cha truyền con nối" (VD: con vua thì sẽ được
làm vua; ba mẹ làm nô tì thì con cái cũng sẽ như vậy…)
- Thứ 2: Đẳng cấp gắn liền với chế độ hôn phối "nội hôn".
-> Giải thích: Trong một xã hội phân chia theo đẳng cấp, mọi người chỉ
được phép kết hôn trong cùng đẳng cấp của mình , chứ không được kết
hôn với người thuộc đẳng cấp khác . Mục đích là để duy trì đặc quyền
và ranh giới của đẳng cấp đó .
Ví dụ: Ấn Độ cổ đại
- Trong xã hội Ấn Độ theo hệ thống đẳng cấp (varna) , người
Bà-la-môn (tu sĩ) chỉ được kết hôn với người cùng đẳng cấp Bà-la-môn.
- Nếu một Bà-la-môn cưới người thuộc đẳng cấp thấp hơn (như
Thủ-đà-la – nô lệ/ Chiên đà la), đó bị xem là vi phạm quy tắc xã hội,
và con cái sinh ra cũng bị xem là “ô uế”.
→ Đây là hôn phối nội hôn điển hình, nhằm duy trì quyền lực và sự phân biệt xã hội .
- Tiếp đến là Hệ thống đẳng cấp có một khuôn mẫu đạo đức vừa là một định mệnh. -> Giải thích:
● “ Khuôn mẫu đạo đức ” nghĩa là: mỗi đẳng cấp trong xã hội được
quy định sẵn những chuẩn mực hành vi, bổn phận và giá trị đạo
đức riêng — ví dụ như ai được tôn kính, ai phải phục tùng, ai phải giữ vai trò nào.
● “ Định mệnh ” nghĩa là: con người sinh ra trong đẳng cấp nào thì
gắn bó với đẳng cấp đó suốt đời , không thể thay đổi → Tức là:
đẳng cấp không chỉ là vị trí xã hội, mà còn quy định cả cách sống,
cách nghĩ và số phận của mỗi người.
Ví dụ cụ thể (Ấn Độ cổ đại):
Trong xã hội Ấn Độ cổ, người Bà-la-môn (tu sĩ) được xem là mẫu mực
đạo đức, phải sống thanh tịnh, giảng dạy kinh Veda; người Thủ-đà-la chỉ
được làm lao dịch, phục vụ tầng lớp trên.
→ Mỗi đẳng cấp đều có nghĩa vụ đạo đức riêng và không thể thay đổi
vị thế , dù người Thủ-đà-la có tài giỏi đến đâu cũng không thể trở thành Bà-la-môn.
- Cuối cùng là: Mỗi đẳng cấp có một khuôn mẫu văn hóa riêng: như
hành vi ứng xử, giao tiếp…
→ Những khuôn mẫu ấy được truyền dạy từ đời này sang đời khác, trở
thành đặc điểm nhận dạng từng đẳng cấp.
Ta cùng đến với quan niệm thứ 2 về bất bình đẳng: đó là giai cấp.
2.2.2. Quan niệm/khái niệm thứ hai về bất bình đẳng: ● Giai cấp:
- Không còn bị phân chia thành những đẳng cấp theo quy định pháp lý
hay tôn giáo. Trên thực tế, “giai cấp” bị phân chia thành những
nhóm xã hội hết sức khác biệt và chênh lệch nhau.
2.2.2.1. Quan niệm về giai cấp của Marx:
- Marx cho rằng có hai giai cấp chính là giai cấp tư sản và giai cấp
vô sản . Marx quan niệm rằng yếu tố kinh tế quyết định giai cấp. Sở
hữu tư nhân và tư liệu sản xuất quy định việc phân chia xã hội thành
hai giai cấp cơ bản: những người có tư liệu sản xuất và những
người không có tư liệu sản xuất .
- Để thực sự là một giai cấp, các cá nhân không phải chỉ có một vị trí
giống nhau trong xã hội, cùng chung bối cảnh kinh tế - xã hội mà họ
còn phải có một nhận thức chung về hoàn cảnh, về lợi ích và kẻ thù giai cấp của mình.
Diễn giải: Cái làm cho tầng lớp công nhân trở thành một giai cấp không
phải ở chỗ đây là những nhóm nghề nghiệp có cùng chung một hoàn
cảnh mà ở chỗ công nhân bị bóc lột về giá trị thặng dư bởi một giai cấp
khác đó là giai cấp tư sản . Sở dĩ họ làm được như vậy vì họ sở hữu các
tư liệu sản xuất . Nói cách khác, sự đối lập giữa hai giai cấp có thể được
tóm tắt là sự đối lập giữa một bên là những kẻ không có tư liệu sản xuất
và bán sức lao động của mình và một bên là những kẻ sở hữu tư liệu
sản xuất và chiếm đoạt giá trị thặng dư của người lao động.
=> Sự đối lập giữa các giai cấp không thể làm cho xã hội đạt được trạng
thái quân bình, ổn định…
2.2.2.2. Quan niệm giai cấp của Weber:
- Khác với quan điểm của Marx về giai cấp vốn được dựa trên cơ sở
kinh tế, quan niệm của giai cấp đặt nền tảng trên ba lĩnh vực: kinh
tế, xã hội và chính trị . Các giai cấp (kinh tế) , các địa vị (xã hội)
và các đảng phái (chính trị) .
- (Weber không chỉ nói về giai cấp , mà nói về cả hệ thống tầng lớp
trong xã hội nói chung .)
- Vấn đề này cụ thể như thế nào, bạn Tú Trinh sẽ làm rõ hơn ở phần tiếp theo.
2.3. Ứng dụng thực tiễn & lí giải các vấn đề trong xã hội
2.3.1. Bất bình đẳng cơ hội việc làm giữa thành thị và nông thôn
Trong thực tế Việt Nam hiện nay, người sinh sống ở thành phố lớn
thường có trình độ học vấn cao hơn, kỹ năng tốt hơn , nên cơ hội việc
làm và thu nhập cũng cao hơn .
Ngược lại, người ở vùng nông thôn hoặc miền núi thiếu điều kiện học
tập, ít tiếp cận thị trường lao động chất lượng, dẫn đến thua thiệt về thu
nhập và khả năng thăng tiến .
→ Điều này cho thấy bất bình đẳng không chỉ do cá nhân cố gắng ít ,
mà còn do hoàn cảnh giai cấp và vị thế trong thị trường .
- Từ đó, nhà nước có thể đề ra chính sách giảm chênh lệch cơ hội , như:
● Mở rộng chương trình đào tạo nghề, học bổng, hỗ trợ giáo dục vùng sâu vùng xa .
● Tăng kết nối việc làm và đầu tư doanh nghiệp ở nông thôn
để người dân có cơ hội cạnh tranh công bằng hơn.
2.3.2. Bất bình đẳng về giới tính trên thị trường lao động
Trước hết, phụ nữ có xu hướng bị phân biệt đối xử trong công việc và bị
trả lương thấp hơn. Vị thế thị trường yếu hơn khiến phụ nữ có cơ hội
thăng tiến thấp hơn nam giới, dễ bị ảnh hưởng bởi những biến động kinh tế.
- Thực trạng: Phụ nữ, dù có trình độ học vấn tương đương, vẫn nhận
được thu nhập thấp hơn nam giới. - Hướng giải quyết:
+ Đưa ra các quy định và cơ chế kiểm tra nghiêm ngặt để đảm bảo cả
hai giới nhận mức lương như nhau cho cùng một công việc.
+ Tạo điều kiện công bằng cho phụ nữ trên thị trường lao động, nâng
cao giá trị của người phụ nữ trong xã hội. 3. Phân tầng xã hội
3.1. Định nghĩa phân tầng xã hội
- Tầng xã hội: Là tổng thể, tập hợp các cá nhân có cùng một hoàn
cảnh xã hội, họ giống nhau hay bằng nhau về địa vị kinh tế (tài sản),
địa vị chính trị (quyền lực), địa vị xã hội (uy tín), về khả năng thăng
tiến cũng như giành được những ân huệ hay vị trí trong xã hội.
- Phân tầng xã hội: Là sự phân chia các cá nhân trong xã hội thành
các tầng/lớp nhất định, trong đó mỗi tầng xã hội bao gồm những cá
nhân có đặc điểm chung hay có sự ngang bằng nhau về những
phương tiện nào đó, chẳng hạn như của cải, vị trí xã hội, uy tín,
quyền lực, tuổi tác. Sự phân tầng này có thể dựa trên giai cấp, giới
tính, chủng tộc, vùng miền, tôn giáo,…
- Bất bình đẳng gây ra phân tầng xã hội: Bất bình đẳng tồn tại
trong tất cả các mô hình hay thể chế xã hội, biểu hiện qua sự khác
biệt về thu nhập, tài sản, quyền lực, cơ hội và điều kiện sống, theo
thời gian sự bất bình đẳng tăng cao gây ra phân tầng xã hội.
3.2. Những quan niệm khác nhau về phân tầng xã hội (phân
tầng xã hội có vai trò quan trọng trong phát triển, định
hình xã hội nên có nhiều quan niệm được đưa ra nhằm
hoàn thiện khái niệm này, và 1 trong những quan niệm tiêu
biểu nhất đó là quan niệm phân tầng xã hội của Max Weber)
3.2.1. Max Weber (3 khía cạnh của phân tầng xã hội)
- Theo Max Weber, ba chiều hay ba khía cạnh là địa vị kinh tế (tài
sản), địa vị chính trị (quyền lực), địa vị xã hội (uy tín) cấu thành các tầng lớp xã hội.
- Người có tài sản có thể dễ dàng sử dụng để đạt được quyền lực, uy
tín; ngược lại, người có quyền lực, uy tín lại có thể sử dụng để nhận
được những bổng lộc và quyền lợi kinh tế do xã hội mang lại.
3.2.1.1. Địa vị kinh tế
- Giai cấp là nhóm người có vị trí kinh tế tương tự nhau trên thị
trường lao động và sở hữu.
- Liên quan đến sở hữu tài sản cá nhân, vị trí trong thương trường bao
gồm cả những người quản lý không sở hữu công ty nhưng có thu nhập cao.
=> Đây là khía cạnh kinh tế, tương đương gần với khái niệm
giai cấp của Marx, nhưng Weber linh hoạt hơn – ông thừa
nhận nhiều loại giai cấp khác nhau chứ không chia đơn giản
thành tư sản và vô sản.
3.2.1.2. Địa vị xã hội
- Các cơ sở của sự phân tầng này là danh tiếng, uy tín và sự công nhận
của xã hội dành cho cá nhân hoặc tổ chức
- Dựa trên các yếu tố như phong cách sống, giáo dục, hoặc danh tiếng
từ nơi sinh hay nghề nghiệp
- Địa vị xã hội không phụ thuộc vào tiềm lực kinh tế, giai cấp của đối tượng
- Để dễ hiểu hơn thì một nhà thơ nổi tiếng có thể có sức ảnh hưởng
lớn hơn một doanh nhân giàu có dựa vào địa vị xã hội
=> Đây là khía cạnh văn hóa - xã hội, nhấn mạnh sự đánh giá
của xã hội đối với con người.
3.2.1.3. Địa vị chính trị
- Là khả năng ảnh hưởng và kiểm soát quyền lực bất chấp sự phản
kháng của người khác và có tác động đến xã hội
- Quyền lực được thể hiện rõ nhất trong chính trị (qua đảng phái) hoặc
quyền lực trong các tổ chức xã hội, và không nhất thiết phụ thuộc
vào tài sản hay địa vị.
=> Đây là khía cạnh quyền lực - chính trị, phản ánh năng lực
kiểm soát nguồn lực và ra quyết định.
3.2.2. 2 cách giải thích về phân tầng xã hội Mô hình cấu trúc chức
Mô hình xung đột xã hội năng
1 Phân tầng xã hội duy trì .
Phân tầng xã hội là kết quả
sự hoạt động của xã hội. Sự
của tranh chấp xã hội. Khác
liên kết của phần thưởng
biệt trong các tài nguyên xã
nhiều hơn với các vị trí xã
hội phục vụ quyền lợi của
hội quan trọng hơn nói chung một số người và làm tổn hại
đều mang lợi cho xã hội.
quyền lợi của người khác.
2. Phân tầng xã hội khuyến
Phân tầng xã hội đảm bảo
khích sự làm cho tài năng và phần lớn tài năng và khả
khả năng phù hợp với các vị năng trong xã hội nói chung trí thích hợp. sẽ được sử dụng.
3. Phân tầng xã hội vừa hữu
Phân tầng xã hội hữu ích chỉ
dụng lẫn chắc chắn xảy ra.
đổi với một số người, nhưng
không phải là không xảy ra.
4. Giá trị và lợi ích mà sự bất Giá trị và niềm tin có khuynh
công xã hội hợp pháp được
hướng mang tính chất ý thức
chia sẻ rộng khắp trong xã
hệ, nó phản ánh quyền lợi hội.
của những thành viên có
quyền thế hơn trong xã hội.
5. Vì các hệ thống phân tầng Bởi lẽ hệ thống phân tầng xã
xã hội rất hữu ích đối với xã hội phản ánh quyền lợi chỉ
hội và được các giá trị và
một bộ phận xã hội, nên
niềm tin văn hóa ủng hộ, nên không chắc nó ẩn định theo
chúng thường ổn định qua thời gian. thời gian.
Một phần phỏng theo Authur L. Stinchcombe, “Some Empirical
Consequences of the Davis-Moore Theory of Stratification,” American
Sociological Review, tập 28, số 5 (tháng 10/1963): 808.
3.3. Ứng dụng thực tiễn & lí giải các vấn đề xã hội
3.3.1. Phân tầng xã hội thúc đẩy xã hội phát triển - Giải thích:
+ Tạo động lực cạnh tranh lành mạnh → cá nhân nỗ lực vươn lên, xã hội tiến bộ.
+ Người có năng lực, cống hiến được ghi nhận và hưởng đãi ngộ xứng đáng.
+ Thúc đẩy phát triển kinh tế – văn hoá – tri thức toàn xã hội.
Những người có tài năng và cố gắng thường có điều kiện để trở nên giàu
có. Nếu họ còn cống hiến nhiều cho xã hội, họ sẽ được xã hội công nhận
và tạo dựng được uy tín.
Khi vừa giàu có, vừa có uy tín, họ cũng sẽ nắm giữ quyền lực xã hội.
Theo quan điểm của Max Weber, sự giàu có, quyền lực và uy tín chính là
ba yếu tố quyết định vị trí trong phân tầng xã hội.
Vì vậy, phân tầng xã hội tạo ra động lực cho mọi người phấn đấu nâng
cao năng lực và vị thế của mình, góp phần quan trọng thúc đẩy sự phát
triển của xã hội. Một xã hội như vậy sẽ tạo ra được động lực, nguồn xung
lượng tích cực thúc đẩy xã hội tiến lên phía trước. Nó sẽ góp phần tạo ra
trật tự xã hội cũng như bộ mặt nhân văn, nhân bản, nhân ái cho xã hội;
đồng thời khắc phục được những tư tưởng bảo thủ, ích kỷ, hẹp hòi, kèn
cựa, đố kị, ganh ghét những người hơn mình. Mặt khác, nó sẽ tạo ra được
chuẩn mực cho sự đánh giá xã hội cũng như sự tự đánh giá đúng bản thân.
Các cá nhân vừa biết đặt ra cho mình những mục tiêu phấn đấu phù hợp,
vừa biết tự bằng lòng với những gì mình có, mình làm, không lười biếng,
không ỷ lại, song cũng không quá tham vọng so với năng lực và những
điều kiện hiện có của họ. Mỗi người đều tự biết rõ mình, biết rõ người,
biết tự đặt mình vào vị trí của người khác để thấu hiểu, yêu cầu và đánh
giá đúng đắn người khác cũng như biết nhìn nhận đánh giá đúng bản thân
từ vị trí, vai trò mà xã hội giao phó; đồng thời hành động theo đúng vị thế,
vai trò của mình theo “cái danh”, “cái phận” của mình. Khi đó xã hội sẽ
trật tự, kỷ cương, ổn định, công bằng và phát triển bền vững.) - Phát huy:
+ Thừa nhận & ủng hộ trật tự xã hội hợp thức, công bằng và chính đáng.
+ Tuyên truyền, giáo dục nhận thức về giá trị của phân tầng xã hội hợp lý.
+ Nhà nước thiết chế hóa bằng hành lang pháp lý minh bạch, công bằng.
+ Tạo môi trường để mọi người phát huy năng lực & hưởng lợi xứng đáng.
(Với một trật tự xã hội hợp thức được hình thành trên cơ sở công bằng và
năng lực, chúng ta cần thừa nhận, ủng hộ và bảo vệ nó như một nền tảng
ổn định của xã hội. Bên cạnh đó, cần tuyên truyền, giáo dục và nâng cao
nhận thức để mọi người cùng hiểu rõ giá trị của sự phân tầng xã hội hợp
thức, từ đó chủ động góp phần duy trì và củng cố nó.
Về phía Nhà nước, cần thiết chế hóa trật tự này thông qua việc xây dựng
các hành lang pháp lý cởi mở, minh bạch và công bằng, bảo đảm mọi cá
nhân đều có cơ hội phát huy năng lực, cống hiến và được hưởng thụ xứng
đáng theo đúng quy định pháp luật. Chỉ khi đó, phân tầng xã hội mới thực
sự trở thành động lực cho sự phát triển bền vững của xã hội.)
3.3.2. Phân tầng xã hội kìm hãm xã hội - Giải thích:
+ Địa vị chuyển từ thế hệ này sang thế hệ khác → duy trì đặc quyền.
+ Một số người kém năng lực nhưng vẫn có địa vị cao.
+ Người giàu, quyền lực phi pháp cản trở nhân tài phát triển.
=> Gây mất công bằng, thui chột động lực, kìm hãm tiến bộ xã hội.
(Theo John Macionis, phân tầng xã hội có tính di truyền xã hội, tức là địa
vị xã hội thường được chuyển từ thế hệ này sang thế hệ khác. Chính vì
vậy, có những trường hợp những người kém năng lực, thiếu đạo đức
nhưng vẫn nắm giữ vị thế cao chỉ vì xuất thân từ gia đình có địa vị hoặc giàu có.
Bên cạnh đó, một số người đạt được địa vị bằng con đường phi pháp, vô
nhân đạo, lại có xu hướng bảo vệ đặc quyền của mình bằng cách chèn ép,
cản trở người tài, khiến những cá nhân có năng lực không được phát huy.
Điều này không chỉ làm thui chột nhân tài, mà còn làm mất động lực phấn
đấu của tầng lớp thấp hơn, dẫn đến bất công và trì trệ trong xã hội.
Như vậy, có thể thấy, khi phân tầng xã hội vận hành thiếu công bằng và
minh bạch, nó không còn là động lực phát triển, mà ngược lại, trở thành
rào cản kìm hãm sự tiến bộ xã hội.)
- Giải pháp khắc phục:
+ Phê phán & xử lý nghiêm các hình thức phân tầng bất hợp thức.
+ Giáo dục ý thức lao động, khuyến khích người dân tự lập, vươn lên.
+ Áp dụng biện pháp cải tạo phù hợp với người ỷ lại, thiếu trách nhiệm.
+ Hỗ trợ người yếu thế, tạo điều kiện sinh kế & an sinh xã hội.
+ Đền ơn đáp nghĩa với người có công, phát huy truyền thống dân tộc.
(Để khắc phục tình trạng phân tầng xã hội kìm hãm phát triển, trước hết
cần phê phán nghiêm khắc những biểu hiện phân tầng bất hợp thức, đồng
thời xử lý nghiêm minh trước pháp luật các trường hợp lợi dụng địa vị,
quyền lực, hoặc làm giàu phi pháp.
Bên cạnh đó, cần tăng cường giáo dục ý thức lao động và tự lập, có các
biện pháp, chế tài phù hợp để khuyến khích người lười biếng, ỷ lại tự giác
rèn luyện, chủ động vươn lên. Trong trường hợp cần thiết, có thể áp dụng
biện pháp cải tạo bắt buộc nhằm đảm bảo mọi người đều có trách nhiệm đóng góp cho xã hội.
Song song, Nhà nước và cộng đồng cần hỗ trợ người yếu thế như người
nghèo, người khuyết tật, thương binh, liệt sĩ… thông qua chính sách an
sinh và đền ơn đáp nghĩa, giúp họ có điều kiện vươn lên thoát nghèo, đúng
với truyền thống “uống nước nhớ nguồn” của dân tộc Việt Nam.) 4. Di động xã hội
4.1. Định nghĩa di động xã hội
- Là một chủ đề hẹp trong nghiên cứu phân tầng xã hội.
- Di động xã hội là sự thay đổi từ một vị trí xã hội đến một vị trí xã
hội khác trong hệ thống xã hội của cá nhân/nhóm. Theo cách dễ hiểu
hơn, di động là chuyển động thay đổi vị trí; xã hội ở đây là cơ cấu xã hội.
- Nghiên cứu về di động xã hội đã có lịch sử lâu dài. Một trong những
tác giả nghiên cứu di động xã hội một cách có hệ thống sớm nhất là
Sorokin với tác phẩm “Di động xã hội” xuất bản năm 1927. Ông đã
viết rằng “ Những kênh luân chuyển theo chiều dọc tồn tại trong xã
hội có sự phân tầng cũng cần thiết như những kênh luân chuyển máu trong cơ thể ”. - Yếu tố ảnh hưởng:
+ Có nhiều yếu tố ảnh hưởng đến di động xã hội: Điều kiện kinh
tế, xã hội; Trình độ học thức; Giới tính; Cư trú; Xuất thân; Lứa
tuổi; Tín ngưỡng; Gia đình.
+ Ở Đan Mạch, nhóm tác giả Stine Mollegaarda, Mads Meier
Jægera (2015) dựa trên: vốn kinh tế (tài chính), vốn văn hóa
và vốn xã hội (quan hệ) của các cá nhân khi phân tích các yếu
tố tác động đến di động xã hội giữa ông và cháu. Theo đó, vốn
kinh tế không ảnh hưởng nhiều đến sự dịch chuyển vị thế nghề
của những đứa cháu so với ông bà của chúng. Nhưng hai yếu
tố còn lại là vốn văn hóa (học vấn) và vốn xã hội rất có ý nghĩa
trong việc duy trì và phát triển vị thế nghề của những đứa cháu
so với ông bà của chúng.
=> Chứng tỏ học vấn và mối quan hệ với mọi người xung quanh có
tầm ảnh hưởng quan trọng hơn là điều kiện tài chính khi di động xã
hội giữa các thế hệ.
4.2. Phân loại di động xã hội
- Có 2 cách phân loại chính: theo thế hệ và chiều dọc, chiều ngang. 4.2.1. Thế hệ
- Di động xã hội liên thế hệ: con cái có địa vị cao/thấp hơn so với địa
vị của cha mẹ. Ví dụ: ông làm nông dân, cha là nhân viên văn
phòng, con là bác sĩ. Sự di động xã hội liên thế hệ càng lớn thì
chứng tỏ xã hội đó càng cởi mở và hệ thống bất bình đẳng của xã hội càng thu hẹp.
- Di động xã hội trong một thế hệ: sự chuyển động lên hoặc xuống của
một cá nhân trải qua trong một thời kỳ dài, thậm chí trong cả cuộc
đời lao động của họ.
4.2.2. Chiều dọc và chiều ngang
- Di động theo chiều dọc: sự chuyển dịch đi lên hoặc xuống trong
thang bậc xã hội. Di động đi lên hay đi xuống phụ thuộc vào việc cá
nhân/nhóm đạt được hay mất đi vị thế, thu nhập và của cải.
- Di động theo chiều ngang: sự dịch chuyển từ địa vị xã hội này sang
địa vị khác ngang hàng.
- Các nhà nghiên cứu thường quan tâm di động theo chiều dọc nhiều
hơn vì quy mô tổng thể của nó cho ta biết một số điều quan trọng về
hệ thống phân tầng. Chẳng hạn như, mức độ di động theo chiều dọc
càng lớn thì hệ thống phân tầng càng mở và sẽ có nhiều sự bình đẳng về cơ hội hơn.
4.3. Ứng dụng thực tiễn & lí giải các vấn đề xã hội
- Tony Bilton - tác giả sách Nhập môn xã hội học - NXB Khoa học Xã
hội Hà Nội (1993) cho rằng, trong xã hội công nghiệp, các cá nhân
có thể di động từ vị trí này đến vị trí khác bằng nỗ lực cá nhân.
Trong xã hội đó, địa vị xã hội của cá nhân không nhất thiết có cùng
địa vị với các thế hệ trước trong gia đình mà điều này được quyết
định là nhờ vào tài năng. Chúng ta đang sống trong thời kì có sự
giúp đỡ của công nghệ tiên tiến, cùng với sự thay đổi phát triển của
nền kinh tế, văn hóa, xã hội, và sự nỗ lực tạo điều kiện trong học tập
của nhà nước Việt Nam ngày nay, tri thức, chất xám là nguồn lực
hàng đầu để nâng cao vị thế xã hội. 5. Tài liệu tham khảo
1. Dũng, H. T. (2021). Vấn đề phân tầng xã hội và di động xã hội qua
các nghiên cứu trong và ngoài nước . Tạp chí Khoa học Xã hội, 11(279), 3–12.
2. Huy, N. S. (2008). Xã hội học đại cương . Nhà xuất bản Đại học Quốc gia Hà Nội.
3. Macionis, J. (2004). Xã hội học . Nhà xuất bản Thống Kê.
4. Tấn, N. Đ. (n.d.). Phân tầng xã hội hợp thức và giải pháp thực hiện
công bằng xã hội ở Việt Nam hiện nay . Hội Xã hội học Việt Nam.
5. Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn – Khoa Xã hội học.
(2016). Giáo trình xã hội học đại cương . Nhà xuất bản Đại học Quốc gia Hà Nội.
6. Xuyến, T. T. K. & Xoan, N. T. H. (2003). Nhập môn xã hội học . Nhà xuất bản Thống Kê.