


















Preview text:
ÔN TẬP TRIẾT HỌC 2
Câu: Điều kiện ra đời – Đặc trưng – Ưu thế của sản xuất hàng hoá:
So sánh sự khác nhau giữa sản xuất tự nhiên và sản xuất hàng hoá:
Sản xuất tự nhiên
Sản xuất hàng hoá
Thoả mãn nhu cầu của người sản Mục đích Trao đổi, mua bán xuất Phân công lao
Dựa vào chuyên môn, nghề nghiệp, sở độ
Dựa trên tuổi tác, giới tính ng thích Phân phối
Trực tiếp, hiện vật, bình quân
Gián tiếp, giá trị, theo lao động
Chu trình kinh tế Đóng Mở Năng suất
Thấp, của cải tích luỹ thấp
Cao, của cải tích luỹ nhiều
Điều kiện ra đời của sản xuất hàng hoá:
Sản xuất hàng hóa là một khái niệm được sử dụng trong kinh tế chính trị Marx-Lenin dùng để
chỉ về kiểu tổ chức kinh tế trong đó sản phẩm được sản xuất ra không phải là để đáp ứng nhu
cầu tiêu dùng của chính người trực tiếp sản xuất ra nó mà là để đáp ứng nhu cầu tiêu dùng của
người khác, thông qua việc trao đổi, mua bán. Hay nói một cách khác, sản xuất hàng hóa là kiểu tổ
chức kinh tế mà sản phẩm sản xuất ra nhằm để trao dổi hoặc bán trên thị trường.
Sản xuất hàng hóa ra đời, tồn tại dựa trên hai điều kiện:
- Phân công lao động XH: (là sự chuyên môn hoá sản xuất, phân chia lao động theo những
ngành nghề sản xuất khác nhau). Do phân công lao động nên mỗi người chỉ sản xuất những sản
phẩm theo ngành, mà nhu cầu đời sống lại cần nhiều thứ nên dẫn đến mâu thuẫn vừa thừa vừa thiếu
từ đó xuất hiện hình thức trao đổi sản phẩm cho nhau. Đây là sơ sở, tiền đề của sản xuất trao đổi hàng hoá.
– Sự tách biệt tương đối về mặc kinh tế giữa những người sản xuất do quan hệ sở hữu khác
nhau về tư liệu sản xuất quy định.
Do sự tách biệt, do quan hệ sở hữu khác nhau về tư liệu sản xuất và sản phẩm lao động dẫn đến
sự tách biệt về kinh tế và lợi ích, làm cho lao động của người sản xuất mang tính chất là lao dộng tư
nhân. Do đó người này muốn tiêu dùng sản phẩm của người khác phải thông qua trao đổi sản phẩm
dưới hình thái hàng hoá nhằm đảm bảo sự ngang bằng về lợi ích cho mỗi bên.
Hai điều kiện trên cho thấy, phân công lao động xã hội làm cho những người sản xuất phụ
thuộc vào nhau, còn sự tách biệt tương đối về mặt kinh tế giữa những người sản xuất lạichia rẽ họ,
làm cho họ độc lập với nhau. Đây là một mâu thuẫn. Mâu thuẫn này được giải quyết thông qua trao
đổi, mua bán sản phẩm của nhau. Đó là hai điều kiện cần và đủ của sản xuất hàng hóa.
Cả hai điều kiện không được thiếu một điều nào, thiếu một trong hai điều kiện đó sẽ không có sản xuất hàng hóa.
Ưu điểm của sản xuất hàng hoá:
- SXHH nhằm mục đích để bán, để phục vụ cho người tiêu dùng
- SXHH cạnh tranh làm thúc đẩy LLSX phát triển mạnh
- SXHH với tính chất mở làm cho giao lưu KT-VH giữa các địa phương, các ngành phát triển
- SXHH phát triển góp phần xoá bỏ tính bảo thủ, trì trệ của KT tư nhiên. Đặc trưng:
Sản xuất hàng hóa ra đời là bước ngoặt căn bản trong lịch sử phát triển của xã hội loài người, xóa
bỏ nền kinh tế tự nhiên, phát triển nhanh chóng lực lượng sản xuất và nâng cao hiệu quả kinh tế của xã hội.
Nguyễn Văn Toàn – Khoa Địa lý _USSH 1
Sản xuất hàng hóa có những đặc trưng cơ bản sau đây:
Thứ nhất: Sản xuất hàng hóa là sản xuất để trao đổi, mua bán, không phải để
người sản xuất. Theo chủ nghĩa Marx-Lenin thì trong lịch sử loài tồn tại hai kiểu tổ chức kinh
tế khác nhau là sản xuất tự cung, tự cấp (tự túc, tự cấp) và sản xuất hàng hóa. Sản xuất tự cung,
tự cấp là kiểu tổ chức kinh tế trong đó sản phẩm được sản xuất ra nhằm đáp ứng nhu cầu tiêu
dùng của chính bản thân người sản xuất như sản xuất của người dân trong thời kỳ công xã
nguyên thủy, sản xuất của những người nông dân gia trưởng dưới chế độ phong kiến... Trong
khi đó, sản xuất hàng hóa là kiểu tổ chức kinh tế trong đó sản phẩm được sản xuất ra để bán chứ
không phải là để đáp ứng nhu cầu tiêu dùng của chính người trực tiếp sản xuất ra nó, tức là để
đáp ứng nhu cầu tiêu dùng của người khác, thông qua việc trao đổi, mua bán.
Thứ hai: Lao động của người sản xuất hàng hóa vừa mang tính tư nhân, vừa
mang tính xã hội. Lao động của người sản xuất hàng hóa mang tính chất xã hội vì sản phẩm
làm ra để cho xã hội, đáp ứng nhu cầu của người khác trong xã hội. Nhưng với sự tách biệt
tương đối về kinh tế, thì lao động của người sản xuất hàng hóa đồng thời lại mang tính chất tư
nhân, vì việc sản xuất cái gì, như thế nào là công việc riêng, mang tính độc lập của mỗi người.
Tính chất tư nhân đó có thể phù hợp hoặc không phù hợp với tính chất xã hội. Đó chính là mâu
thuẫn cơ bản của sản xuất hàng hóa. The chủ nghĩa Marx-Lenin thì mâu thuẫn giữa lao động tư
nhân và lao động xã hội là cơ sở, mầm mống của khủng hoảng trong nền kinh tế hàng hóa.
Thứ ba, mục đích của sản xuất hàng hóa là giá trị, là lợi nhuận chứ không phải là
giá trị sử dụng
Ưu thế của sản xuất hàng hóa
So với sản xuất tự cung, tự cấp, sản xuất hàng hóa có những ưu thế hơn hẳn. Cụ thể như sau:
- Sản xuất hàng hóa ra đời trên cơ sở của phân công lao động xã hội, chuyên môn hóa sản xuất
chính vì thế, nó khai thác được những lợi thế về tự nhiên, xã hội, kỹ thuật của từng người,
từng cơ sở sản xuất cũng như từng vùng, từng địa phương. Bên cạnh đó, sự phát triển của sản
xuất hàng hóa lại có tác động trở lại, thúc đẩy sự phát triển của phân công lao động xã hội,
làm cho chuyên môn hóa lao động ngày càng tăng, mối liên hệ giữa các ngành, các vùng ngày
càng trở nên mở rộng, sâu sắc. Phá vỡ tính tự cấp tự túc, bảo thủ, trì trệ, lạc hậu của mỗi
ngành, mỗi địa phương làm cho năng suất lao động xã hội tăng lên nhanh chóng, nhu cầu của
xã hội được đáp ứng đầy đủ hơn. Khi sản xuất và trao đổi hàng hóa mở rộng giữa các quốc
gia, thì nó còn khai thác được lợi thế của các quốc gia với nhau.
- Trong nền sản xuất hàng hóa, quy mô sản xuất không còn bị giới hạn bởi nhu cầu và nguồn
lực mang tính hạn hẹp của mỗi cá nhân, gia đình, mỗi cơ sở, mỗi vùng, mỗi địa phương, mà
nó được mở rộng, dựa trên cơ sở nhu cầu và nguồn lực của xã hội. Điều đó lại tạo điều kiện
thuận lợi cho việc ứng dụng những thành tựu khoa học - kỹ thuật vào sản xuất... thúc đẩy sản xuất phát triển.
- Trong nền sản xuất hàng hóa, sự tác động của quy luật vốn có của sản xuất và trao đổi hàng
hóa là quy luật giá trị, quy luật cung - cầu, quy luật cạnh tranh... buộc người sản xuất hàng
hóa phải luôn luôn năng động, nhạy bén, biết tính toán, cải tiến kỹ thuật, hợp lý hoá sản xuất,
nâng cao năng suất, chất lượng và hiệu quả kinh tế, cải tiến hình thức, quy cách và chủng loại
hàng hóa, làm cho chi phí sản xuất hạ xuống đáp ứng nhu cầu, thị hiếu của người tiêu dùng ngày càng cao hơn.
- Trong nền sản xuất hàng hóa, sự phát triển của sản xuất, sự mở rộng và giao lưu kinh tế giữa
các cá nhân, giữa các vùng, giữa các nước... không chỉ làm cho đời sống vật chất mà cả đời
sống văn hóa, tinh thần cũng được nâng cao hơn, phong phú hơn, đa dạng hơn.
Nguyễn Văn Toàn – Khoa Địa lý _USSH 2
Tuy nhiên, bên cạnh mặt tích cực, sản xuất hàng hóa cũng có những mặt trái của nó như phân
hóa giàu - nghèo giữa những người sản xuất hàng hóa, tiềm ẩn những khả năng khủng hoảng, phá
hoại môi trường, hệ sinh thái, xã hội, v.v..
Câu: Hàng hoá - Hai thuộc tính của hàng hoá - Mối quan hệ giữa 2 thuộc tính của hàng hoá
Hàng hoá: là sản phẩm của lạo động, có thể thoả mãn nhu cầu nào đó của con người và đi
vào tiêu dùng thông qua trao đổi hàng hoá.
Hàng hóa có thể ở dạng vật thể(hữu hình) và ở dạng phi vật thể (dịch vụ vô hình).
Hai thuộc tính của hàng hoá:
Trong mỗi hình thái kinh tế- xã hội khác nhau, sản xuất hàng hóa có bản chất khác nhau, nhưng
một vật phẩm san xuất ra khi đã mang hình thái là hàng hóa thì đều có hai thuộc tính cơ bản là giá
trị sử dụng và giá trị”
- Giá trị sử dụng: Giá trị sử dụng của hàng hóa là công dụng của hàng hóa nhằm thỏa mãn một
nhu cầu nào đó của con người. (Nhu cầu của con người gồm có nhu cầu tiêu dùng cho sản xuất và
nhu cầu tiêu dùng cho cá nhân)
+ Công dụng, công hiệu, tính có lợi, tính có ích của hàng hoá
+ Giá trị sử dụng do những thuộc tính tự nhiên qui định, không lệ thuộc vào chế độ xã hội.
Khi xã hội càng phát triển thì xã hội càng tìm ra càng nhiều giá trị sử dụng cho cùng một vật phẩm.
( than đá dùng đun nấu, nhưng khi xã hội phát triển than đá còn dùng trong công nghiệp hoá chất)
+ Giá trị sử dụng là phạm trù vĩnh viễn
+ Giá trị sử dụng phụ thuộc vào sự phát triển của KH-KT
+ Trong nền KT hàng hoá, giá trị sử dụng là vật mang giá trị trao đổi
+ Đối với hàng hoá dịch vụ thì giá trị sử dụng của nó có đặc điểm là không có hình thái vật
thể quá trình sản xuất và tiêu dùng diễn ra đồng thời do đó nó không tích luỹ hay dự trữ.
(Cơ sở xác định: thuộc tính tự nhiên của hàng hoá, tập tục và qui ước)
- Giá trị: Muốn tìm hiểu phạm trù giá trị phải xuất phát từ phạm trù giá trị trao đổi vì Giá trị trao
đổi là hình thức biểu hiện bên ngoài của giá trị; còn giá trị là nội dung bên trong, là cơ sở của giá trị trao đổi.
Giá trị trao đổi là một quan hệ về số lượng, là tỷ lệ theo đó một giá trị sử dụng loại này được
trao đổi với những giá trị sử dụng loại khác.
Ví dụ: 1 m vải = 5 kg thóc
Sở dĩ vải và thóc trao đổi được với nhau vì hai hàng hóa đó có cái chung là đều là sản phẩm của
lao động, đều có lao động kết tinh trong đó. Chính lao động hao phí để tạo ra hàng hóa là cơ sở
chung của trao đổi và tạo thành giá trị của hàng hóa.
Giá trị của hàng hóa: là lao động xã hội của người sản xuất hàng hóa kết tinh trong hàng hóa đó Nhận xét:
+ Giá trị của hàng hóa là phạm trù lịch sử
+ Giá trị của hàng hóa phản ánh quan hệ giữa người sản xuất hàng hóa, khi tiền tệ ra đời – giá trị
biểu hiện ra bằng tiền thì nó gọi là giá cả.. Giá trị của hàng hóa là thuộc tính xã hội của hàng hóa.
→ Như vậy, một vật muốn trở thành hàng hóa phải có đủ hai thuộc tính giá trị sử dụng và giá trị.
Mối quan hệ giữa 2 thuộc tính: thể hiện sự thống nhất và đối lập
- Thống nhất: đã là hàng hoá thì phải có đủ 2 thuộc tính trên.
- Đối lập: Mâu thuẫn được bộ lộ ra ngoài là giữa chất lượng và giá cả, giữa người mua và người bán
Nguyễn Văn Toàn – Khoa Địa lý _USSH 3 Giá trị Giá trị sử dụng
- Mục đích của người sản xuất
- Mục đích của người tiêu dùng
- Tạo ra trong quá trình sản xuất
- Tạo ra trong quá trình tiêu dùng - Thực hiện trước - Thực hiên sau
Tính chất hai mặt của lao động sản xuất hàng hoá.
Sở dĩ hàng hóa có 2 thuộc tính: giá trị sử dụng và giá trị là do lao động của người sản xuất ra
hàng hóa có 2 mặt. Chính tính 2 mặt của lao động sản xuất hàng hóa quyết định tính hai mặt của bản thân hàng hóa.
C. Mác là người đầu tiên phát hiện ra tính chất 2 mặt của lao động sản xuất hàng hóa. Đó là lao
động cụ thể và lao động trừu tượng.
a. Lao động cụ thể.
Là lao động có ích với hình thức cụ thể của những nghề nghiệp chuyên môn nhất định.
– Lao động cụ thể tạo ra giá trị sử dụng, do đó lao động cụ thể càng nhiều loại thì giá trị sử dụng càng phong phú.
– Mọi lao động cụ thể đều có thể khác nhau về mục đích, phương pháp, đối tượng, kết quả lao động riêng.
– Lao động cụ thể là phạm trù vĩnh viễn, tuy nhiên hình thức của lao động cụ thể có thể thay đổi,
phụ thuộc vào sự phát triển của lực lượng sản xuất và phân công lao động.
b. Lao động trừu tượng.
Là lao động của người sản xuất hàng hoá không kể đến hình thức biểu hiện cụ thể của nó để quy
về cái chung đồng nhất, đó là sự hao phí sức lao động, tiêu hao sức bắp thịt, thần kinh của người sản xuất hàng hoá
– Lao động trừu tượng tạo nên giá trị hàng hoá. Chất của hàng hoá là lao động trừu tượng.
– Lao động trừu tượng là một phạm trù lịch sử chỉ tồn tại trong sản xuất hàng hoá. Bởi vì chỉ
trong sản xuất hàng hoá mới đặt ra yêu cầu phải quy các lao động cụ thể vốn không so sánh được
với nhau thành một thứ lao động đồng nhất có thể so sánh với nhau.
Vậy: Xét lao động cụ thể là xem lao động đó tiến hành như thế nào, sản xuất ra cái gì. Lao động
trừu tượng là tốn bao nhiêu sức lực, hao phí bao nhiêu thời gian lao động. Cần thấy rằng không phải
có hai thứ lao động được kết tinh trong một hàng hoá mà chí có lao động của ngươì sản xuất hàng
hoá. Nhưng lao động đó có tính 2 mặt: 1 mặt là lao động cụ thể và một mặt là lao động trừu tượng.
Ý nghĩa: Việc phát hiện ra tính 2 mặt của lao động sản xuất hàng hóa có ý nghĩa rất to lớn
về mặt lý luận; nó đem đến cho lý thuyết lao động sản xuất một cơ sở khoa học thực sự;
giúp ta giải thích được hiện tượng phức tạp diễn ra trong thực tế, như sự vận động trái
ngược khi khối lượng của cải vật chất ngày càng tăng lên, đi liền với khối lượng giá trị của
nó giảm xuống hay không thay đổi.
Câu: Nội dung - Yêu cầu – Tác động của quy luật giá trị:
Sản xuất hàng hóa chịu tác động của nhiều quy luật kinh tế như: quy luật giá trị, quy luật cung –
cầu, quy luật lưu thông tiền tệ, quy luật cạnh tranh,… Nhưng vai trò cơ sở cho sự chi phối nền sản
xuất hàng hóa thuộc vế quy luật giá trị.
Quy luật giá trị là quy luật kinh tế cơ bản của sản xuất và lưu thông hàng hóa, ở đâu có sản xuất
và trao đổi hàng hóa thì ở đó có sự tồn tại và phát huy tác dụng của quy luật giá trị. Nó đề cập đến
việc sản xuất và trao đổi hàng hóa phải dựa trên cơ sở giá trị của hàng hóa, tức cơ sở hao phí lao
động xã hội cần thiết để sản xuất ra hàng hóa đó.
Yêu cầu: hao phí lao động cá biệt của các chủ thể sx ≤ hao phí lao động XH
Nguyễn Văn Toàn – Khoa Địa lý _USSH 4
Quy luật giá trị đặt ra 2 yêu cầu: Trong sản xuất:
+ Khối lượng sản phẩm mà người sản xuất tạo ra phải phù hợp với khả năng thanh toán của toàn
xã hội, nếu không cũng sẽ lớn hơn cầu hoặc ngược lại.
+ Muốn bán được hàng hóa, bù đắp được chi phí và có lãi thì hao phí lao động cá biệt phải phù
hợp với hao phí lao động xã hội, tức là phải bằng hoặc nhỏ hơn mức chi phí mà xã hội chấp nhận. Trong lưu thông:
+ Phải thực hiện nguyên tắc ngang giá: Chỉ trao đổi hàng hóa với nhau khi chúng có lượng lao động kết tinh như nhau.
+ Hàng hóa có giá trị cao thì giá cả sẽ cao và ngược lại
+ Phải đảm bảo có lãi để tái sản xuất mở rộng.
Trong thực tế, giá cả hàng hóa thường phụ thuộc vào: quy luật cung cầu, sức mua của tiền, cạnh
tranh,... Những nhân tố này làm giá cả hàng hóa tách rời khỏi giá trị lên, xuống và quay xung quanh
trục giá trị của nó. Như vậy quy luật giá trị sẽ vận động thông qua sự vận động của giá cả.
Tác động của quy luật giá trị:
Trong sản xuất hàng hóa, quy luật giá trị có 3 tác động chủ yếu sau:
- Điều tiết sản xuất và lưu thông hàng hoá thông qua sự biến động của giá cả thị trường
+ Ưu: linh hoạt, cân đối sản xuất và thị trường
+ Hạn chế: tự phát gây ra sự thất bại của thị trường
- Điều tiết sản xuất một cách tự phát:
+ Khi cung > cầu, giá cả sẽ nhỏ hơn giá trị, việc tiếp tục sản xuất sẽ không tạo ra lợi nhuận nên thu hẹp sản xuất.
+ Khi cung < cầu giá cả sẽ lớn hơn giá trị, việc tiếp tục sản xuất sẽ có lãi nên mở rộng sản xuất.
+ Khi cung = cầu: Giá cả sẽ bằng với giá trị, thị trường đã bảo hòa tất yếu xảy ra quá trình
chuyển tư liệu sản xuất và sức lao động sang lĩnh vực sản xuất khác co lợi nhuận cao hơn.
- Điều tiết lưu thông:
+ Sẽ có dòng chảy từ nơi có nhiều hàng hóa về nơi có ít hàng hóa.
+ Dòng chảy hàng hóa từ nơi giá thấp về nơi có giá cao.
- Kích thích việc cải tiến KT và nâng cao NSLĐ
+ Ưu: khuyến khích sự sáng tạo và phát triển công nghệ
+ Hạn chế: dễ dẫn tới độc quyền, gây tổn thất xả hội
Để có giá trị cá biệt thấp hơn giá trị xã hội và thu được nhiều lợi nhuận, ngoài việc phát huy
những điều kiện thuận lợi, thực hiện tiết kiệm trong sản xuất, cải tiến, tổ chức quản lí, sản xuất phân
phối, người sản xuất còn phải cải tiến kĩ thuật bằng cách đầu tư, mua sắm thiết bị, máy móc, cũng
như sử dụng lao động có tay nghề cao.Từ đó, năng suất lao động cá biệt sẽ tăng lên, năng suất lao
động xã hội cũng tăng theo và lưc lượng sản xuất xã hội sẽ phát triển.
- Thực hiện sự lựa chọn tự nhiên giữa những người sản xuất hàng hoá
+ Ưu: chọn lọc những người sản xuất giỏi, đào thải sản xuất kém
+ Hạn chế: sự phân hoá giàu nghèo
- Trong quá trình sản xuất kinh doanh người sản xuất nào có điều kiện thuận lợi, biết đầu tư đúng
chỗ cũng như nỗ lực sản xuất cải tiến kĩ thuật và quản lí, có thể tạo ra sản phẩm với giá trị cá biệt
thấp hơn thì sẽ thành công và trở nên giàu có.
- Ngược lại, những người sản xuất kinh doanh không có điều kiện thuận lợi, không đầu tư đúng
chỗ cũng như không nỗ lực cải tiến kĩ thuật và quản lí hoặc gặp rủi ro, tai nạn thì sẽ mất vốn, bị phá
sản, phải đi làm thuê cho người khác. Điều này sẽ phân hóa giàu nghèo, tạo cơ sở hình thành quan
hệ chủ - thợ và phương thức sản xuất tư bản chủ nghĩa.
Nguyễn Văn Toàn – Khoa Địa lý _USSH 5 Ý nghĩa:
Những tác động của quy luật giá trị trong nền kinh tế hàng hóa có ý nghĩa lý luận và thực tiễn to
lớn: Một mặt chi phối sự lựa chọn tự nhiên, đào thải yếu kém, kích thích các nhân tố tích cực phát
triển. Mặt khác, phân hóa xã hội thành kẻ giàu, người nghèo tạo ra sự bất bình đẳng trong xã hội.
Câu: Công thức chung của tư bản – Hàng hóa sức lao động.
Tiền là sản vật cuối cùng của lưu thông hàng hoá, đồng thời cũng là hình thức biểu hiện đầu tiên
của tư bản. Mọi tư bản lúc đầu đều biểu hiện dưới hình thái một số tiền nhất định. Nhưng bản thân
tiền không phải là tư bản. Tiền chỉ biến thành tư bản trong những điều kiện nhất định, khi chúng
được sử dụng để bóc lột lao động của người khác.
Tiền được coi là tiền thông thường, thì vận động theo công thức: H - T - H (hàng - tiền - hàng),
nghĩa là sự chuyển hoá của hàng hoá thành tiền, rồi tiền lại chuyển hoá thành hàng hoá. Còn tiền
được coi là tư bản, thì vận động theo công thức: T - H - T (tiền - hàng - tiền), tức là sự chuyển hoá
của tiền thành hàng hoá, rồi hàng hoá lại chuyển hoá ngược lại thành tiền. Bất cứ tiền nào vận động
theo công thức T - H - T đều chuyển hoá thành tư bản.
So sánh công thức lưu thông hàng hoá giản đơn H - T - H và công thức lưu thông của tư
bản T - H - T, chúng ta thấy chúng có những điểm giống nhau: cả hai sự vận động do hai giai đoạn
đối lập nhau là mua và bán hợp thành, trong mỗi giai đoạn đều có hai nhân tố vật chất đối diện nhau
là tiền và hàng, và hai người có quan hệ kinh tế với nhau là người mua và người bán. Nhưng đó chỉ
là những điểm giống nhau về hình thức. Giữa hai công thức đó có những điểm khác nhau về chất.
Lưu thông hàng hoá giản đơn bắt đầu bằng việc bán (H - T) và kết thúc bằng việc mua (T - H).
Điểm xuất phát và điểm kết thúc của quá trình đều là hàng hoá, còn tiền chỉ đóng vai trò trung gian.
Ngược lại, lưu thông của tư bản bắt đầu bằng việc mua (T - H) và kết thúc bằng việc bán (H - T).
Tiền vừa là điểm xuất phát, vừa là điểm kết thúc của quá trình, còn hàng hoá chỉ đóng vai trò trung
gian; tiền ở đây không phải là chi ra dứt khoát mà chỉ là ứng ra rồi thu về.
Mục đích của lưu thông hàng hoá giản đơn là giá trị sử dụng để thoả mãn nhu cầu, nên các
hàng hoá trao đổi phải có giá trị sử dụng khác nhau. Sự vận động sẽ kết thúc ở giai đoạn thứ hai, khi
những người trao đổi có được giá trị sử dụng mà người đó cần đến. Còn mục đích của lưu thông tư
bản không phải là giá trị sử dụng, mà là giá trị, hơn nữa giá trị tăng thêm. Vì vậy, nếu số tiền thu về
bằng số tiền ứng ra, thì quá trình vận động trở nên vô nghĩa. Do đó, số tiền thu về phải lớn hơn số
tiền ứng ra, nêncông thức vận động đầy đủ của tư bản là T - H - T', trong đó T' = T + ∆T. Số tiền
trội hơn so với số tiền ứng ra (∆T), C.Mác gọi là giá trị thặng dư. Số tiền ứng ra ban đầu chuyển hoá
thành tư bản. Vậy tư bản là giá trị mang lại giá trị thặng dư. Mục đích lưu thông tư bản là sự lớn lên
của giá trị, là giá trị thặng dư, nên sự vận động của tư bản là không có giới hạn, vì sự lớn lên của giá
trị là không có giới hạn.
C.Mác gọi công thức T – H – T là công thức chung của tư bản vì sự vận động của mọi tư bản
đều biểu hiện trong lưu thông dưới dạng khái quát đó, dù đó là tư bản thương nghiệp, tư bản công
nghiệp hay tư bản cho vay. Điều này rất dễ dàng nhận thấy trong thực tiễn, bởi vì hình thức vận
động của tư bản thương nghiệp là mua vào để bán ra đắt hơn, rất thích hợp với công thức trên. Tư
bản công nghiệp vận động phức tạp hơn, nhưng dù sao cũng không thể tránh khỏi những giai đoạn
T – H và H – T’. Còn sự vận động của tư bản cho vay để lấy lãi chẳng qua chỉ là công thức trên
được rút ngắn lại T – T. C.Mác chỉ rõ: “ Vậy T – H – T’ thực sự là công thức chung của tư bản,
đúng như nó trực tiếp thể hiện ra trong lĩnh vực lưu thông”.
Mâu thuẫn chung của công thức chung của tư bản
Tư bản vận động theo công thức T-H-T’ trong đó T’ = T + t. Vậy t được sinh ra như thế nào?
Như vậy chỉ có 2 trường hợp: trong lưu thông và ngoài lưu thông.
Nguyễn Văn Toàn – Khoa Địa lý _USSH 6
Trong lưu thông (Trao đổi, mua bán): Dù trao đổi ngang giá hay không ngang giá cũng không
tạo ra giá trị mới và do đó không tạo ra giá trị thặng dư - Trường hợp trao đổi ngang giá (mua bán
đúng giá trị ) chỉ là sự chuyển hoá hình thái giá trị từ H - T và ngược lại . Do đó, tiền không lớn lên,
giá trị không tăng thêm. - Trao đổi không ngang giá: Mua rẻ (thấp hơn giá trị) thì có lợi trong khi
mua. Nhưng khi bán, bán thấp hơn giá trị thì chịu thiệt thòi. Bán đắt (cao hơn giá trị): cái được lợi
khi là người bán thì sẽ chịu thiệt khi là người mua. Mua rẻ, bán đắt: điều này chỉ giải thích sự làm
giàu của những thương nhân cá biệt chứ không giải thích sự làm giàu của tư bản nói chung Như vậy
trao đổi không ngang giá thì giá trị không tăng thêm
Ngoài lưu thông (xét hai nhân tố) không có sự tiếp xúc hàng tiền: Nhân tố (T) tiền: “tiền” tự
nó không lớn lên. Xét nhân tố (H) hàng: Hàng ngoài lưu thông tức là vào tiêu dùng: + Tiêu dùng
vào sản xuất, tức là tư liệu sản xuất. Vậy giá trị của nó chuyển dịch dần vào sản phẩm - không tăng
lên. + Tư liệu tiêu dùng, tiêu dùng cho cá nhân - cả giá trị và giá trị sử dụng đều mất đi. Như vậy cả
trong lẫn ngoài lưu thông xét tất cả các nhân tố thì T không tăng thêm. Nhưng nhà tư bản không thể
vận động ngoài lưu thông, có nghĩa là nhà tư bản phải tìm thấy trên thị trường mua được một thứ
hàng hoá (trong lưu thông ) nhưng nhà tư bản không bán hàng hoá đó, vì nếu bán cũng không thu
được gì. Nhà tư bản tiêu dùng hàng hoá đó (ngoài lưu thông) tạo ra một giá trị mới lớn hơn giá trị
bản thân nó - hàng hoá đó là sức lao động. Như vậy công thức đầy đủ có thể viết: Sức lao động T -
H sản xuất hàng hoá ...H’ - T’ TLSX.
→Như vậy thì mâu thuẫn của công thức chung là tư bản vận động vừa trong lưu thông
nhưng đồng thời vừa không trong lưu thông
Sự biến đổi giá trị của số tiền cần phải chuyển hóa thành tư bản không thể xảy ra trong bản thân
số tiền ấy, mà chỉ có thể xảy ra từ hàng hóa được mua vào (T-H). Hàng hóa đó không thể là một
hàng hóa thông thường, mà phải là một hàng hóa đặc biệt, hàng hóa mà giá trị sử dụng của nó có
đặc tính là nguồn gốc sinh ra giá trị. Thứ hàng hóa đó là sức lao động mà nhà tư bản đã tìm thấy trên thị trường.
Sức lao động là toàn bộ thể lực và trí lực tồn tại trong cơ thể con người, nó được
vận dụng vào quá trình lao động sản xuất.
Trong bất kỳ xã hội nào, sức lao động cũng đều là yếu tố hàng đầu của quá trình lao
động sản xuất. Nhưng không phải bao giờ sức lao động cũng là hàng hoá. Sức lao động
chỉ biến thành hàng hoá khi có hai điều kiện sau:
Một là; người lao động phải được tự do về thân thể, do đó có khả năng chi phối sức lao
động của mình. Sức lao động chỉ xuất hiện trên thị trường với tư cách là hàng hoá, nếu nó
do bản con người có sức lao động đưa ra bán. Muốn vậy, người có sức lao động phải có
quyền sở hữu năng lực của mình. Việc biến sức lao động thành hàng hoá đòi hỏi phải thủ
tiêu chế độ chiếm hữu nô và chế độ phong kiến.
Hai là; người lao động bị tước đoạt hết tư liệu sản xuất không thể tự tiến hành lao
động sản xuất. Chỉ trong điều kiện ấy, người lao động mới buộc phải bán sức lao động
của mình, vì không còn cách nào khác để sinh sống. Sự tồn tại đồng thời hai điều kiện nói
trên tất yếu đẫn đến chỗ sức lao động biến thành hàng hoá. Sức lao động biến thành hàng
hoá là điều kiện chủ yếu quyết định sự chuyển hoá tiền thành tư bản.
Hàng hoá sức lao động là hàng hoá đặc biệt. Cũng như mọi hàng hoá khác, hàng hoá – sức
lao động cũng có hai thuộc tính: giá trị và giá trị sử dụng.
– Giá trị hàng hoá sức lao động. Giá trị hàng hoá sức lao động cũng giống như các hàng hoá
khác được quy định bởi số lượng thời gian lao động xã hội cần thiết để sản xuất và tái sản xuất ra
sức lao động. Nhưng, sức lao động chỉ tồn tại trong cơ thể sống của con người. Để sản xuất và tái
sản xuất ra năng lực đó, người công nhân phải tiêu dùng một số lượng tư liệu sinh hoạt nhất định.
Như vậy, thời gian lao động xã hội cần thiết để sản xuất ra sức lao động sẽ quy thành thời gian lao
Nguyễn Văn Toàn – Khoa Địa lý _USSH 7
động xã hội cần thiết để sản xuất ra những tư liệu sinh hoạt ấy, hay nói một cách khác, số lượng giá
trị sức lao động được xác định bằng số lượng giá trị những tư liệu sinh hoạt để duy trì cuộc sống
của người có sức lao động ở trạng thái bình thường. Khác với hàng hoá thông thường, giá trị hàng
hoá sức lao động bao hàm cả yếu tố tinh thần và lịch sử. Điều đó thể hiện ở chỗ: nhu cầu của công
nhân không chỉ có nhu cầu về vật chất mà còn gồm cả những nhu cầu về tinh thần (giải trí, học hành,…).
– Giá trị sử dụng hàng hoá sức lao động. Giá trị sử dụng của hàng hoá sức lao động cũng giống
như các hàng hoá khác chỉ thể hiện ra trong quá trình tiêu dùng sức lao động, tức là quá trình người
công nhân tiến hành lao động sản xuất. Nhưng tính chất đặc biệt của hàng hoá sức lao động được thể hiện đó là:
Thứ nhất, sự khác biệt của giá trị sử dụng của hàng hoá sức lao động so với giá trị sử dụng của
các hàng hoá khác là ở chỗ, khi tiêu dùng hàng hoá sức lao động, nó tạo ra một giá trị mới lớn hơn
giá trị của thân giá trị sức lao động. Phần lớn hơn đó chính là giá trị thặng dư. Như vậy, hàng hoá
sức lao động có thuộc tính là nguồn gốc sinh ra giá trị. Đó là đặc điểm cơ bản nhất của giá trị sử
dụng của hàng hoá sức lao động so với các hàng hoá khác. Nó là chìa khoá để giải quyết mâu thuẫn
của công thức chung của tư bản. Như vậy, tiền chỉ thành tư bản khi sức lao động trở thành hàng hoá.
Thứ hai, con người là chủ thể của hàng hoá sức lao động; vì vậy, việc cung ứng sức lao động
phụ thuộc vào những đặc điểm về tâm lý, kinh tế, xã hội của người lao động.
Tóm lại, sự tồn tại và phát triển của hàng hoá sức lao động và thị trường sức lao động là một tất
yếu khách quan, việc thừa nhận sức lao động là hàng hoá không cản trở việc xây dựng CNXH mà
còn giúp kích thích cả người sở hữu sức lao động lẫn người sử dụng lao động đóng góp tích cực
hơn vào sự nghiệp phát triển chung của đất nước.
KẾT LUẬN: Như vậy sức lao động là hàng hoá đặc biệt. Trong thời gian tới cần phải có
những giải pháp hoàn thiện cơ chế chính sách đi đôi với nâng cao chất lượng nguồn lao
động tạo điều kiện thuận lợi cho mọi người lao động được tự do bán sức lao động, tự do di
chuyển sức lao động giữa các vùng, các miền khác nhau … nhằm phát huy hết tiềm năng
nguồn lực lao động của nước ta với mục đích xây dựng một thị trường lao động sôi động,
ổn định và có hiệu quả tác động tích cực đến sự phát triển kinh tế.
* Ý nghĩa nghiên cứu vấn đề Việc nghiên cứu hàng hoá sức lao động có ý nghĩa quan trọng
trong việc xây dựng thị trường lao động ở Việt Nam. Đảng và Nhà nước ta đã thừa nhận sức lao
động là hàng hoá (khi có đủ các điều kiện trở thành hàng hoá) cho nên việc xây dựng thị trường
sức lao động là tất yếu. Phát triển nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa là vấn đề cốt
lõi, trọng tâm của Đảng ta.
Phân tích thị trường sức lao động ở Việt Nam: Trong xu thế hội nhập sâu vào nền kinh tế thế
giới, đòi hỏi thị trường lao động ở Việt Nam phát triển linh hoạt để hỗ trợ tăng trưởng, nâng cao
sức cạnh tranh của nền kinh tế. Thế nhưng, do mới hình thành và phát triển chưa đồng bộ, nên thị
trường lao động Việt Nam đang bộc lộ nhiều yếu điểm lẫn mâu thuẫn, trong đó nghiêm trọng nhất
là mất cân bằng giữa cung và cầu, năng suất lao động thấp. Trong khi chúng ta dư thừa sức lao
động ở nông thôn thì ở lĩnh vực phát triển công nghiệp, các ngành dịch vụ trung cao cấp lại thiếu
hụt lao động trầm trọng.
Nguyễn Văn Toàn – Khoa Địa lý _USSH 8
Câu: Bản chất của tư bản - Phân biệt sự khác nhau của tư bản bất biến và tư bản
khả biến - Cơ sở và ý nghĩa của sự phân chia tư bản thành tư bản bất biến và tư bản khả biến
Tư bản là giá trị mang lại giá trị thặng dư bằng cách bóc lột lao động không công của công nhân làm thuê.
Các nhà kinh tế học tư sản thường cho rằng, mọi công cụ lao động, mọi tư liệu sản xuất đều là tư
bản. Thực ra bản thân tư liệu sản xuất không phải là tư bản, nó chỉ là yếu tố cơ bản của sản xuất
trong bất cứ xã hội nào.
Tư liệu sản xuất chỉ trở thành tư bản khi nó trở thành tài sản của các nhà tư bản và được dùng để
bóc lột lao động làm thuê. Khi chế độ tư bản bị xoá bỏ thì tư liệu sản xuất không còn là tư bản nữa.
Phần trên đã định nghĩa tư bản là giá trị mang lại giá trị thặng dư. Đó là một định nghĩa rất chung
về tư bản, nó bao trùm cả tư bản cổ xưa lẫn tư bản hiện đại. Nhưng sau khi nghiên cứu quá trình
sản xuất giá trị thặng dư, có thể định nghĩa chính xác tư bản là giá trị mang lại giá trị thặng dư bằng
cách bóc lột công nhân làm thuê. Như vậy bản chất của tư bản là thể hiện quan hệ sản xuất xã hội
mà trong đó giai cấp tư sản chiếm đoạt giá trị thặng dư do giai cấp công nhân sáng tạo ra.
Tư bản bất biến
Tư bản bất biến là một khái niệm của kinh tế chính trị Marx-Lenin dùng để chỉ một bộ phận tư
bản dùng để mua tư liệu sản xuất và giá trị được bảo toàn và chuyển vào sản phẩm. Tư bản bất biến
bao gồm cả nguyên liệu. Tư bản bất biến là tư bản vật chất, để phân biệt với tư bản khả biến là tư
bản bỏ ra mua sức lao động. Khái niệm này có nét tương tự khái niệm chi phí cố định trong kinh tế
học vi mô hay còn gọi định phí trong kinh doanh và kế toán.
Bộ phận tư bản biến thành tư liệu sản xuất mà giá trị được bảo toàn và chuyển vào sản phẩm,
tức là không thay đổi đại lượng giá trị của nó, được C.Mác gọi là tư bản bất biến
Tư bản bất biến được ký hiệu là C.
Xét bộ phận tư bản tồn tại dưới hình thức tư liệu sản xuất. Tư liệu sản xuất có nhiều loại, có loại
được sử dụng toàn bộ trong quá trình sản xuất, nhưng chỉ hao mòn dần, do đó chuyển dần từng
phần giá trị của nó vào sản phẩm như máy móc, thiết bị, nhà xưởng..., có loại khi đưa vào sản xuất
thì chuyển toàn bộ giá trị của nó trong một chu kỳ sản xuất như nguyên liệu, nhiên liệu. Song, giá
trị của bất kỳ tư liệu sản xuất nào cũng đều do lao động cụ thể của công nhân mà được bảo toàn và
di chuyển vào sản phẩm, nên giá trị đó không thể lớn hơn giá trị tư liệu sản xuất đã bị tiêu dùng để
sản xuất ra sản phẩm. Cái bị tiêu dùng của tư liệu sản xuất là giá trị sử dụng, kết quả của việc tiêu
dùng đó là tạo ra một giá trị sử dụng mới. Giá trị tư liệu sản xuất được bảo toàn dưới dạng giá trị sử
dụng mới chứ không phải là được sản xuất ra.
Tư bản khả biến
Tư bản khả biến là khái niệm trong kinh tế chính trị Marx-Lenin dùng để chỉ về một bộ phận tư
bản dùng để mua sức lao động (trả lương, thuê mướn công nhân), đại lượng của nó thay đổi trong
quá trình sản xuất và tạo ra giá trị thặng dư. Tư bản khả biến có thể tạo ra sự biến đổi về giá trị. Tư
bản bất biến là điều kiện cần thiết không thể thiếu được để sản xuất ra giá trị thặng dư, còn tư bản
khả biến có vai trò quyết định ttrong quá trình đó, vì nó chính là bộ phận tư bản đã lớn lên.
Bộ phận tư bản biến thành sức lao động không tái hiện ra, nhưng thông qua lao động trừu tượng
của công nhân làm thuê mà tăng lên, tức là biến đổi về đại lượng, được C.Mác gọi là tư bản khả biến
Tư bản khả biến được ký hiệu là V.
Như vậy, tư bản bất biến là điều kiện cần thiết không thể thiếu được để sản xuất ra giá trị thặng
dư, còn tư bản khả biến có vai trò quyết định trong quá trình đó, vì nó chính là bộ phận tư bản đã lớn lên.
Nguyễn Văn Toàn – Khoa Địa lý _USSH 9
Sự khác nhau giữa TB bất biến và TB khả biến: TB bất biến (C) TB khả biến (V)
Là bộ phận của TB sản xuất, tồn tại dưới hình
Là bộ phận của TB sản xuất, tồn tại dưới hình
thức tư liệu sản xuất, tham gia vào quá trình sản thức sức lao động, tham gia vào quá trình sản
xuất để tạo ra sản phẩm mới, lượng giá trị của nó xuất để tạo ra sản phẩm mới. Lượng giá trị của không thay đổi nó thay đổi.
Cơ sở phân chia: Lao động sản xuất hàng hoá có 2 mặt:
- Lao động cụ thể: bảo toàn và chuyển dịch giá trị cũ vào sản phẩm mới, lượng giá trị không đổi
- Lao động trừu tượng: sáng tạo ra giá trị mới bao gồm giá trị sức lao động và giá trị thặng dư
Ý nghĩa: Việc phát hiện ra tính hai mặt của lao động thể hiện trong hàng hoá đã
giúp C.Mác xác định sự khác nhau giữa tư bản bất biến và tư bản khả biến.
C.Mác là người đầu tiên chia tư bản thành tư bản bất biến và tư bản khả biến.
Sự phân chia đó dựa vào vai trò khác nhau của các bộ phận của tư bản trong quá trình sản xuất
giá trị thặng dư, do đó nó vạch rõ bản chất bóc lột của chủ nghĩa tư bản, chỉ có lao động của công
nhân làm thuê mới tạo ra giá trị thặng dư cho nhà tư bản.
Nhằm xác định vị trí , vai trò từng bộ phận TB trong việc tạo ra giá trị thặng dư trong đó TB bất
biến là điều kiện cần còn TB khả biến là nguồn gốc tạo ra giá trị thặng dư
Câu: Hai phương pháp sản xuất giá trị thặng dư:
Giá trị thặng dư là phần giá trị dôi ra ngoài giá trị sức lao động, do công nhân làm thuê
tạo ra và bị nhà tư bản chiếm đoạt. Là kết quả lao động của công nhân cho nhà tư bản.
Giá trị thặng dư phản ánh bản chất của quan hệ sản xuất tư bản chủ nghĩa quan hệ bóc lột của
nhà tư bản đối với lao động làm thuê.
Để thu được giá trị thặng dư, có hai phương pháp chủ yếu:
Mục đích của các nhà tư bản là sản xuất ra giá trị thặng dư tối đa, vì vậy, các nhà tư bản dùng
nhiều phương pháp để tăng tỷ suất và khối lượng giá trị thặng dư. Khái quát, có 2 phương pháp để
đạt được mục đích, đó là sản xuất giá trị thặng dư tuyệt đối và phương pháp sản xuất giá trị thặng dư tương đối.
- Sản xuất giá trị thặng dư tuyệt đối là phương pháp sản xuất giá trị thặng dư được thực hiện
trên cơ sở kéo dài tuyệt đối ngày lao động của công nhân trong điều kiện thời gian lao động tất yếu không đổi.
- Phương pháp này được áp dụng phổ biến ở giai đoạn đầu của chủ nghĩa tư bản, khi lao động
còn ở trình độ thủ công và năng suất lao động còn thấp.
- Với lòng tham vô hạn, nhà tư bản tìm mọi thủ đoạn để kéo dài ngày lao động, nâng cao trình độ
bóc lột sức lao động làm thuê. Nhưng một mặt, do giới hạn tự nhiên của sức lực con người; mặt
khác, do đấu tranh quyết liệt của công nhân đòi rút ngắn ngày lao động, cho nên ngày lao động
không thể kéo dài vô hạn. Tuy nhiên, ngày lao động cũng không thể rút ngắn đến mức chỉ bằng thời
gian lao động tất yếu. Một hình thức khác của sản xuất giá trị thặng dư tuyệt đối là tăng cường độ
lao động. Vì tăng cường độ lao động cũng giống như kéo dài thời gian lao động trong ngày, trong
khi thời gian lao động cần thiết không thay đổi.
- Sản xuất giá trị thặng dư tương đối là phương pháp sản xuất giá trị thặng dư thu được bằng
cách rút ngắn thời gian lao động tất yếu trên cơ sở tăng năng suất lao động xã hội nhờ đó mà kéo
dài tương ứng thời gian lao động thặng dư trong điều kiện độ dài ngày lao động không đổi.
- Việc tăng năng suất lao động xã hội, trước hết ở các ngành sản xuất ra vật phẩm tiêu dùng, sẽ
làm cho giá trị sức lao động giảm xuống do đó, làm giảm thời gian lao động cần thiết. Khi độ dài
ngày lao động không thay đổi, thời gian lao động cần thiết giảm sẽ làm tăng thời gian lao động
thặng dư - thời gian để sản xuất ra giá trị thặng dư tương đối cho nhà tư bản.
Nguyễn Văn Toàn – Khoa Địa lý _USSH 10
- Muốn rút ngắn thời gian lao động tất yếu thì giảm giá trị sức lao động và làm giảm giá trị tư
liệu sinh hoạt và dịch vụ cần thiết cho công nhân bằng cách tăng năng suất lao động trong 2 ngành
là sản xuất tư liệu sinh hoạt và sản xuất tư liệu sản xuất để tạo ra tư liệu sinh hoạt.
- Phương pháp này được áp dụng trong đại công nghiệp cơ khí của chủ nghĩa tư bản, kỹ thuật
phát triển là cho năng suất lao động tăng lên.
So sánh 2 phương pháp sản xuất giá trị thặng dư: + Giống nhau:
• Đều là cách mà nhà tư bản sử dụng để bóc lột công nhân để tạo giá trị thặng dư.
• Đều dựa trên cơ sở thời gian lao động thặng dư được kéo dài.
• Đòi hỏi độ dài ngày lao động nhất định, cường độ lao động và năng suất lao động nhất định. + Khác nhau:
sản xuất giá trị thặng dư tuyệt đối
sản xuất giá trị thặng dư tương đối
o Phương pháp sản xuất thực hiện bằng cách kéo o Phương pháp thực hiện tăng năng suất lao động.
dài ngày lao động hoặc tăng cường độ lao động.
o Ngày lao động dịch chuyển về phía phải đồng
o Ngày lao động dịch chuyển về phía trái tức rút
nghĩa kéo dài ngày lao động.
ngắn thời gian lao động tất yếu.
o Áp dụng trong giai đoạn đầu của phương thức o Áp dụng trong giai đoạn đại công nghiệp cơ khí
sản xuất tư bản chủ nghĩa khi kỹ thuật còn thấp. của chủ nghĩa tư bản khi kỹ thuật phát triển hơn.
Giá trị thặng dư siêu ngạch:
Giá trị thặng dư siêu ngạch là giá trị thặng dư thu được do áp dụng công nghệ tiên tiến làm tăng
năng suất lao động cá biệt làm cho giá trị cá biệt của hàng hóa thấp hơn giá trị xã hội của nó.
Là mục đich theo đuổi và là động lực mạnh mẽ nhất thúc đẩy các nhà tư bản cải tiến kỹ thuật,
hợp lý hóa sản xuất, làm tăng năng suất lao động và giảm giá trị cá biệt của hàng hóa.
Giá trị thặng dư siêu ngạch là hình thức biến tướng của giá trị thặng dư tương đối.
So sánh giá trị thặng dư siêu ngạch và giá trị thặng dư tương đối:
+ Giống nhau: đều dựa trên cơ sở là tăng năng suất lao động. + Khác nhau:
giá trị thặng dư siêu ngạch
giá trị thặng dư tương đối:
o Tăng năng suất lao động cá biệt.
o Tăng năng suất lao động xã hội
o Là khoản thu nhập của một số nhà tư bản.
o Là khoản thu nhập của toàn bộ giai cấp tư sản.
o Biểu hiện mối quan hệ giữa các nhà tư bản với o Biểu hiện mối quan hệ giai cấp tư sản và giai
nhau đồng thời nó cũng tác động tư bản với công cấp công nhân. nhân. Ý nghĩa -
Xét thuần túy trong lĩnh vực kinh tế, công thức trên cho thấy bất kỳ cá nhân hay tổ chức nào
có tiền (vốn) được đưa vào trong quá trình sản xuất và kinh doanh trực tiếp hay gián tiếp như thông
qua đầu tư chứng khoán, thậm chí gửi ngân hàng sẽ sinh lời. Đồng tiền chỉ trở thành công cụ sinh
lời nếu đầu tư vào sản xuất hay kinh doanh. Mỗi cá nhân đều có thể trở thành nhà tư bản nếu biết sử
dụng hợp lý tiền của mình trong đầu tư kinh doanh. Nếu chỉ để tích lũy thuần túy thì đó là đồng tiền
chết, không những không có lợi cho cá nhân đó mà còn không có lợi cho những người khác cần vốn để sản xuất. -
Trong bất kì xã hội nào cũng cần phải tìm cách tăng giá trị thặng dư, nếu áp dụng được
các công nghệ sản xuất tiên tiến, sử dụng được tri thức, trí tuệ vào trong quá trình sản xuất sẽ làm
tăng giá trị thặng dư mà không cần phải kéo dài thời gian lao động hay cường độ lao động ảnh
hưởng đến những người sản xuất. -
Công thức cũng chỉ ra cách thức tích lũy làm tăng số tiền, là cơ sở để tái sản xuất mở rộng,
phát triển quy mô sản xuất, tăng trưởng kinh tế.
Nguyễn Văn Toàn – Khoa Địa lý _USSH 11
Câu : Tích lũy tư bản – Tích tụ tư bản – Tập trung tư bản
Tích luỹ tư bản và nhân tố ảnh hưởng đến quy mô của tích luỹ.
Tích luỹ tư bản là biến một phần giá trị thặng dư thành tư bản để mở rộng sản xuất, tăng thêm quy mô bóc lột.
Tích luỹ tư bản là tất yếu khách quan do quy luật kinh tế cơ bản, quy luật giá trị và cạnh tranh…
của phương thức sản xuất tư bản chủ nghĩa quy định.
Đặc trưng của tái sản xuất tư bản chủ nghĩa là tái sản xuất mở rộng. Muốn vậy, cần phát triển
một bộ phận giá trị thặng dư thành tư bản phụ thêm. Việc biến giá trị thặng dư trở lại tư bản gọi là
tích lũy tư bản. Như vậy, thực chất của tích luỹ tư bản là tư bản hóa giá trị thặng dư.
Nghiên cứu tích luỹ và tái sản xuất mở rộng tư bản chủ nghĩa có thể rút ra các kết luận:
Nguồn gốc duy nhất của tư bản tích luỹ là giá trị thặng dư và tư bản tích luỹ chiếm tỷ lệ
ngày càng lớn trong toàn bộ tư bản;
Quá trình tích lũy đã làm cho quyền sở hữu trong nền kinh tế hàng hóa biến thành quyền
chiếm đoạt tư bản chủ nghĩa, nhưng sự biến đổi đó không vi phạm quy luật giá trị.
Động lực thúc đẩy tích luỹ tư bản là quy luật giá trị thặng dư và cạnh tranh.
Quy mô tích luỹ phụ thuộc vào khối lượng giá trị thặng dư và tỷ lệ phân chia giá trị thặng dư
thành tư bản phụ thêm và thu nhập (bộ phận giá trị thặng dư nhà tư bản tiêu dùng cho cá nhân). Nếu
tỷ lệ phân chia không thay đổi, thì quy mô tích luỹ phụ thuộc vào các nhân tố làm tăng khối lượng giá trị thặng dư như:
Tăng cường bóc lột lao động. Nhân tố này biểu hiện ở chổ cắt xén tiền công, tăng cường độ lao
động đối với công nhân làm thuê.
Tăng năng suất lao động xã hội. Đây là đòn bẩy kinh tế mạnh mẽ và có tác dụng thiết thực đối với tích luỹ.
Sự chênh lệch ngày càng lớn giữa tư bản sử dụng (giá trị máy móc, thiết bị được sử dụng) và tư
bản tiêu dùng (giá trị tiêu hao của máy móc, thiết bị đó qua mỗi chu kỳ sản xuất).
Quy mô tư bản ứng trước càng lớn, càng có điều kiện phát triển nhanh, do đó tích luỹ ngày càng nhiều.
Tích tụ tư bản – Tập trung tư bản.
Trong quá trình tái sản xuất tư bản chủ nghĩa, quy mô của tư bản cá biệt tăng lên thông quá quá
trình tích tụ tư bản và tập trung tư bản.
Tích tụ tư bản là sự tăng thêm quy mô tư bản cá biệt bằng cách tư bản hoá một phần giá trị
thặng dư. Tích tụ tư bản là kết quả trực tiếp của tích luỹ tư bản. Chẳng hạn, một tư bản 1000 đô la
cộng thêm 100 đô la giá trị thặng dư tư bản hoá thành một tư bản lớn hơn là 1100 đô la.
Tích tụ tư bản là một tất yếu. Trước hết đó là do yêu cầu của quy luật kinh tế cơ bản của chủ
nghĩa tư bản, của cạnh tranh và của tiến bộ kỹ thuật. Đồng thời trình độ bóc lột và khối lượng giá trị
thặng dư bóc lột ngày càng tăng trong quá trình phát triển của tư bản chủ nghĩa là điều kiện vật chất
làm cho khả năng tư bản hoá giá trị thặng dư biến thành hiện thực tích tụ tư bản.
Tập trung tư bản là sự tăng thêm quy mô tư bản bằng cách kết hợp nhiều tư bản nhỏ thành một
tư bản lớn hơn. Thí dụ: một tư bản 3000 đô la hợp lại với một tư bản 2000 đô la thành một tư bản 5000 đô la.
Tập trung tư bản thường diễn ra bằng hai phương pháp. Phương pháp cưỡng bức và phương
pháp tự nguyện. Phương pháp cưỡng bức ở chỗ: trong quá trình cạnh tranh, các nhà tư bản lớn thôn
tính các nhà tư bản nhỏ phá sản. Phương pháp tự nguyện ở chỗ: trong quá trình cạnh tranh, các nhà
tư bản không phân thắng bại, liên hiệp lại và tổ chức các công tuyệt đối cổ phần để tránh phá sản và
có đủ sức mạnh cấn thiết cho cạnh tranh trên phạm vi mới.
Nguyễn Văn Toàn – Khoa Địa lý _USSH 12
Tích tụ và tập trung tư bản có quan hệ với nhau và tác động thúc đẩy nhau. Tích tụ tư bản làm
tăng quy mô tư bản cá biệt khiến cho cạnh tranh gay gắt hơn, dẫn đến tập trung tư bản. Tập trung tư
bản tạo ra điều kiện để tăng cường bóc lột giá trị thặng dư và đẩy mạnh tích tụ tư bản.
Cấu tạo hữu cơ của tư bản.
Trong quá trình tích luỹ tư bản, cơ cấu tư bản dần dần thay đổi. Các bộ phận của tư bản có sự
thay đổi không giống nhau. Cấu tạo của tư bản gồm có hai mặt: mặt vật chất và mặt giá trị.
Cấu tạo của tư bản về mặt vật chất gồm có tư liệu sản xuất và sức lao động. Tỷ lệ giữa số lượng
tư liệu sản xuất và số lượng sức lao động sử dụng tư liệu sản xuất đó gọi là cấu tạo kỹ thuật của tư bản.
Cấu tạo tư bản về mặt giá trị gồm có tư bản bất biến và tư bản khả biến. Tỷ lệ giữa tư bản bất
biến và tư bản khả biến gọi là cấu tạo giá trị của tư bản.
Cấu tạo kỹ thuật và cấu tạo giá trị có quan hệ với nhau. Để chỉ mối quan hệ chặt chẽ đó, C.Mác
dùng khái niệm cấu tạo hữu cơ của tư bản. Vậy c6áu tạo hữu cơ của tư bản là cấu tạo giá trị của tư
bản do cấu tạo kỹ thuật quy định và phản ảnh những thay đổi của cấu tạo kỹ thuật.
Cấu tạo hữu cơ của tư bản thay đổi tuỳ theo mức độ phát triển của lực lượng sản xuất.
Ở giai đoạn công nghiệp hoá tư bản chủ nghĩa, phát triển công nghiệp cơ khí, cấu tạo hữu cơ của
tư bản tăng lên rất nhanh. Nhưng hiện nay có nhiều ngành công nghiệp sản xuất ra máy móc, thiết
bị kỹ thuật rẻ hơn so với trước. Vì vậy, hiện nay xu hướng tăng lên của cấu tạo hữu cơ của tư bản
không rõ rệt ở một số ngành. Vấn đề này cần được nghiên cứu kỹ hơn.
Nguyễn Văn Toàn – Khoa Địa lý _USSH 13
Câu: Qúa trình lưu thông của tư bản:
Sản xuất tư bản chủ nghĩa là sự thống nhất biện chứng giữa quá trình sản xuất và quá trình lưu
thông. Lưu thông của tư bản, theo nghĩa rộng, là sự vận động của tư bản, nhờ đó mà tư bản lớn lên
và thu được giá trị thặng dư. Vận động của tư bản cá biệt xét về mặt chất, đó là tuần hoàn của tư
bản; xét về mặt lượng, đó là chu chuyển của tư bản.
Tuần hoàn của tư bản
Tư bản công nghiệp (với nghĩa là tư bản trong các ngành sản xuất vật chất) trong quá trình tuần
hoàn đều vận động qua ba giai đoạn, tồn tại dưới ba hình thức và thực hiện ba chức năng:
Giai đoạn thứ nhất
Nhà tư bản dùng tiền để mua tư liệu sản xuất và sức lao động. Quá trình lưu thông đó được biểu thị như sau:
Chức năng giai đoạn này là biến tư bản tiền tệ thành hàng hóa dưới dạng tư liệu sản xuất và sức
lao động để đưa vào sản xuất, gọi là tư bản sản xuất. Giai đoạn thứ hai
Nhà tư bản tiêu dùng những hàng hóa đã mua, tức là tiến hành sản xuất. Trong quá trình sản
xuất, công nhân hao phí sức lao động, tạo ra giá trị mới, còn nguyên liệu được chế biến, máy móc
hao mòn thì giá trị của chúng được bảo tồn và chuyển dịch vào sản phẩm mới. Quá trình sản xuất
kết thúc, lao động của công nhân làm thuê đã tạo ra những hàng hóa mới mà giá trị của nó lớn hơn
giá trị các yếu tố sản xuất mà nhà tư bản đã mua lúc ban đầu, vì trong đó có giá trị thặng dư do công nhân tạo ra.
Sự vận động của tư bản ở giai đoạn này biểu thị như sau:
Trong công thức này H' chỉ tư bản dưới hình thái hàng hóa mà giá trị của nó bằng giá trị của tư
bản đã hao phí để sản xuất ra nó cộng với giá trị thặng dư.
Kết thúc của giai đoạn thứ hai: tư bản sản xuất chuyển hóa thành tư bản hàng hóa. Giai đoạn thứ ba:
Nhà tư bản trở lại thị trường với tư cách là người bán hàng. Hàng hóa của nhà tư bản được
chuyển hóa thành tiền. Công thức vận động của tư bản ở giai đoạn thứ ba biểu thị như sau: H' - T'
Kết thúc giai đoạn ba, tư bản hàng hóa chuyển hóa thành tư bản tiền tệ. Đến đây mục đích của
nhà tư bản đã được thực hiện, tư bản quay trở lại hình thái ban đầu trong tay chủ của nó, nhưng với
số lượng lớn hơn trước.
Số tiền bán hàng hóa đó, nhà tư bản lại đem dùng vào việc mua tư liệu sản xuất và sức lao động
cần thiết để tiếp tục sản xuất và toàn bộ quá trình trên được lặp lại.
Tổng hợp quá trình vận động của tư bản công nghiệp trong cả ba giai đoạn ta có sơ đồ sau đây:
Nguyễn Văn Toàn – Khoa Địa lý _USSH 14
Trong sơ đồ này, với tư cách là một giá trị, tư bản đã trải qua một chuỗi biến hoá hình thái có
quan hệ với nhau, quy định lẫn nhau. Trong các giai đoạn đó, có hai giai đoạn thuộc lĩnh vực lưu
thông và một giai đoạn thuộc lĩnh vực sản xuất.
Tuần hoàn của tư bản là sự vận động của tư bản trải qua ba giai đoạn, lần lượt mang ba hình thái,
thực hiện ba chức năng rồi trở về hình thái ban đầu với giá trị không chỉ được bảo tồn mà còn tăng lên.
Tuần hoàn của tư bản chỉ có thể tiến hành bình thường trong điều kiện các giai đoạn khác nhau
của nó không ngừng được chuyển tiếp. Mặt khác, tư bản phải nằm lại ở mỗi giai đoạn tuần hoàn
trong một thời gian nhất định. Vì vậy, sự vận động tuần hoàn của tư bản là sự vận động liên tục
không ngừng; đồng thời là sự vận động đứt quãng không ngừng.
Phù hợp với ba giai đoạn tuần hoàn của tư bản có ba hình thái của tư bản công nghiệp: tư bản
tiền tệ, tư bản sản xuất và tư bản hàng hóa.
Để tái sản xuất diễn ra một cách bình thường thì tư bản xã hội cũng như từng tư bản cá biệt đều
tồn tại cùng một lúc dưới cả ba hình thái. Tái sản xuất của mọi doanh nghiệp tư bản chủ nghĩa trong
cùng một lúc đều gồm có: tư bản tiền tệ chi ra để mua tư liệu sản xuất và sức lao động; tư bản sản
xuất dưới hình thái tư liệu sản xuất và sức lao động đang hoạt động; tư bản hàng hóa sắp đưa ra bán.
Đồng thời, trong lúc một bộ phận của tư bản là tư bản tiền tệ đang biến thành tư bản sản xuất, thì
một bộ phận khác là tư bản sản xuất đang biến thành tư bản hàng hóa và bộ phận thứ ba là tư bản
hàng hóa đang biến thành tư bản tiền tệ. Mỗi bộ phận ấy đều lần lượt mang lấy và trút bỏ một trong ba hình thái đó.
Ba hình thái của tư bản không phải là ba loại tư bản khác nhau, mà là ba hình thái của một tư bản
công nghiệp biểu hiện trong quá trình vận động của nó. Song cũng trong quá trình vận động ấy đã
chứa đựng khả năng tách rời của ba hình thái tư bản. Trong quá trình phát triển của chủ nghĩa tư
bản, khả năng tách rời đó đã làm xuất hiện tư bản thương nghiệp và tư bản cho vay, hình thành các
tập đoàn khác nhau trong giai cấp tư bản: chủ công nghiệp, nhà buôn, chủ ngân hàng... chia nhau giá trị thặng dư.
Chu chuyển của tư bản
Chu chuyển của tư bản là khái niệm trong kinh tế chính trị Marx-Lenin chỉ về sự sự tuần hoàn
của tư bản nếu xét nó là một quá trình định kỳ đổi mới, và lặp đi lặp lại không ngừng. Chu chuyển
của tư bản nói lên tốc độ vận động của tư bản cá biệt.
Thời gian chu chuyển của tư bản
Thời gian tư bản thực hiện được một vòng tuần hoàn gọi là thời gian chu chuyển của tư bản.
Thời gian chu chuyển của tư bản bao gồm thời gian sản xuất và thời gian lưu thông.
Thời gian sản xuất là thời gian tư bản nằm ở trong lĩnh vực sản xuất. Thời gian sản xuất bao gồm: Thời gian lao động
Thời gian gián đoạn lao động
Thời gian dự trữ sản xuất.
Thời gian sản xuất của tư bản dài hay ngắn là do tác động của các nhân tố như:
Tính chất của ngành sản xuất, ví dụ ngành đóng tàu thời gian sản xuất thường dài hơn
ngành dệt vải hay dệt thảm trơn thời gian thường ngắn hơn dệt thảm trang trí hoa văn....
Quy mô hoặc chất lượng các sản phẩm ví dụ như xây dựng một xí nghiệp, công
xưởng mất thời gian dài hơn xây dựng một nhà ở thông thường.
Thời gian vật sản xuất chịu tác động của quá trình tự nhiên dài hay ngắn. Năng suất lao động. Dự trữ sản xuất. ....
Nguyễn Văn Toàn – Khoa Địa lý _USSH 15
Thời gian lưu thông là thời gian tư bản nằm trong lĩnh vực lưu thông. Trong thời gian lưu thông,
tư bản không làm chức năng sản xuất, do đó không sản xuất ra hàng hóa, cũng không sản xuất ra
giá trị thặng dư. Thời gian lưu thông gồm có thời gian mua và thời gian bán hàng hóa. Thời gian lưu
thông dài hay ngắn là do các nhân tố sau quy định: Thị trường xa hay gần
Tình hình thị trường xấu hay tốt
Trình độ phát triển của ngành giao thông vận tải, bưu chín viễn thông...
Thời gian chu chuyển của tư bản càng ngắn thì càng tạo điều kiện cho giá trị thặng dư được sản
xuất ra nhiều hơn, tư bản càng lớn nhanh hơn.
Thời gian chu chuyển của tư bản càng ngắn thì càng tạo điều kiện cho giá trị thặng dư được sản
xuất ra nhiều hơn, tư bản càng lớn nhanh hơn.
Tốc độ chu chuyển của tư bản
Các tư bản khác nhau hoạt động trong những lĩnh vực khác nhau thì số lần chu chuyển trong một
đơn vị thời gian (một năm) không giống nhau, nói cách khác, tốc độ chu chuyển của chúng khác nhau.
Tốc độ chu chuyển của tư bản đo bằng số lần (vòng) chu chuyển của tư bản trong một năm.
Ta có công thức tính tốc độ chu chuyển của tư bản như sau: n= CH/ch Trong đó:
n: Số lần chu chuyển của tư bản trong 1 năm. CH: Thời gian trong năm.
ch: Thời gian chu chuyển của một tư bản nhất định
Như vậy, tốc độ chu chuyển của tư bản tỉ lệ nghịch với thời gian chu chuyển của tư bản. Muốn
tăng tốc độ chu chuyển của tư bản phải giảm thời gian sản xuất và thời gian lưu thông của nó.
Lực lượng sản xuất phát triển, kỹ thuật tiến bộ, những tiến bộ về mặt tổ chức sản xuất, việc áp
dụng những thành tựu của hoá học, sinh học hiện đại vào sản xuất, phương tiện vận tải và bưu điện
phát triển, tổ chức mậu dịch được cải tiến... cho phép rút ngắn thời gian chu chuyển của tư bản, do
đó, tăng tốc độ chu chuyển của tư bản.
Câu: Chi phí sản xuất tư bản chủ nghĩa - Lợi nhuận - Tỷ suất lợi nhuận là gì - Các
yếu tố ảnh hưởng đến tỷ suất lợi nhuận
Chi phí sản xuất tư bản chủ nghĩa là khái niệm kinh tế chính trị Marx-Lenin chỉ về phần
giá trị bù lại giá cả của những tư liệu sản xuất vàgiá cả sức lao động đã tiêu dùng để sản xuất
ra hàng hóa cho nhà tư bản. Mác ký hiệu chi phí sản xuất tư bản chủ nghĩa là k.
Nếu gọi giá trị hàng hóa là W, thì ta có công thức: W = c + v + m. Đó chính là những chi phí lao
động thực tế của xã hội để sản xuất hàng hóa. Nhưng đối với nhà tư bản, để sản xuất hàng hóa, họ
chỉ cần chi phí một lượng tư bản để mua tư liệu sản xuất (c) và mua sức lao động (v). Chi phí đó gọi
là chi phí sản xuất tư bản chủ nghĩa, được ký hiệu là k. Theo đó, k = c + v. Nếu dùng k để chỉ chi
phí sản xuất tư bản chủ nghĩa thì công thức W = c + v + m sẽ chuyển hoá thành: W = k + m.
So sánh chi phí sản xuất xã hội và chi phí sản xuất TBCN:
- Về mặt lượng: Giá trị hàng hoá > Chi phí sản xuất TBCN (C + V + m > C + V)
Trong đó: C là tư bản bất biến (giá trị tư liệu sản xuất)
V là TB khả biến (giá trị sức lao động) m là giá trị thặng dư
K = C+V là chi phí sản xuất TBCN
Nguyễn Văn Toàn – Khoa Địa lý _USSH 16 - Về mặt chất:
+ Giá trị hàng hoá là chi phí thực tế của XH để sản xuất ra hàng hoá. Nó thể hiện vai trò của từng
bộ phận tư bản trong việc tạo ra giá trị thặng dư
K là chi phí về tư bản để sản xuất ra hàng hoá. K che giấu vai trò của các bộ phận tư bản trong
việc tạo ra m, dẫn đến lầm tưởng trong tư liệu sản xuất (C) sinh ra m: K + m Lợi nhuận:
Do có sự chênh lệch giữa giá trị hàng hoá và chi phí sản xuất tư bản chủ nghĩa, nên sau khi bán
hàng hoá theo đúng giá trị, nhà tư bản không chỉ bù lại đủ số tiền đã ứng ra, mà còn thu được một
số tiền lời ngang bằng m. Số tiền lời này gọi là lợi nhuận, ký hiệu là p.
Lợi nhuận là giá trị thặng dư khi được quan niệm là con đẻ của toàn bộ tư bản ứng ra, là kết quả
hoạt động của toàn bộ tư bản đầu tư vào sản xuất kinh doanh.
Công thức tính lợi nhuận: p = W - k.
Công thức W = k + m chuyển thành W = k + p, có nghĩa là giá trị hàng hóa tư bản chủ nghĩa bằng
chi phí sản xuất tư bản chủ nghĩa cộng với lợi nhuận.
Lợi nhuận là hình thức biến tướng của giá trị thặng dư, nó phản ánh sai lệch bản chất bóc lột của
chủ nghĩa tư bản. Cái khác nhau giữa bỏ m và p ở chỗ, khi nói m là hàm ý so sánh nó với v, còn khi
nói p lại hàm ý so sánh với (c + v); p và m thường không bằng nhau, p có thể cao hơn hoặc thấp
hơn m, phụ thuộc vào giá cả bán hàng hóa do quan hệ cung - cầu quy định. Nhưng xét trên phạm vi
toàn xã hội, tổng số lợi nhuận luôn ngang bằng tổng số giá trị thặng dư.
So sánh lợi nhuận với giá trị thặng dư:
Giống nhau ở chỗ đều là kết quả lao động không công của công nhân. Còn khác nhau là: - Về mặt lượng:
+ Xét từng trường hợp:
. Giá cả > giá trị (P>m)
. Giá cả < giá trị (P
. Giá cả = giá trị (P=m)
+ Xét tổng thể XH: Tổng giá cả = Tổng giá trị (∑ 𝑃 = ∑ 𝑚) - Về mặt chất:
+ Nguồn gốc của P là từ m
+ P là hình thức biến tướng của giá trị thặng dư nhằm che giấu phạm trù bóc lột
Trên thực tế, các nhà tư bản không chỉ quan tâm đến lợi nhuận mà còn quan tâm đến tỷ suất lợi nhuận.
Tỷ suất lợi nhuận: là tỉ số tính theo phần trăm giữa giá trị thặng dư và toàn bộ tư bản ứng trước 𝑚 P’= 𝑃 x 100% = x 100% 𝐾 𝐶+𝑉 𝑚
- Về mặt lượng: P’ < m’ vì P’=
x 100% còn m’= 𝑚 x 100% 𝐶+𝑉 𝑉 - Về mặt chất:
+ m’: thể hiện trinh độ bóc lột của TB đối với lao động làm thuê
+ P’: thể hiện mức doanh lợi trên vốn, do đó che giấu vấn đề bóc lột
Các nhân tố ảnh hưởng đến tỉ suất lợi nhuận:
Tỷ suất lợi nhuận cao hay thấp tuỳ thuộc vào nhiều nhân tố như: tỷ suất giá trị thặng dư, cấu tạo
hữu cơ của tư bản, tốc độ chu chuyển tư bản, sự tiết kiệm tư bản bất biến...
+ Tỷ suất giá trị thặng dư (m’): càng cao thì tỷ suất lợi nhuận càng lớn và ngược lại
+ Cấu tạo hữu cơ của tư bản (C/V) : càng cao thì tỷ suất lợi nhuận càng giảm và ngược lại (trong
điều kiện tỷ suất giá trị thặng dư không đổi)
Nguyễn Văn Toàn – Khoa Địa lý _USSH 17
+ Tốc độ chu chuyển của tư bản: càng lớn thì tần suất sinh ra giá trị thặng dư tăng kéo theo tỷ suất lợi nhuận tăng
+ Tiết kiệm tư bản bất biến: càng nhỏ thì tỷ suất lợi nhuận càng lớn (trong điều kiện tỷ suất giá
trị thặng dư và TB khả biến không đổi)
Câu: Nguyên nhân hình thành - Bản chất - Biểu hiện của chủ nghĩa tư bản độc quyền nhà nước:
Tiếp theo giai đoạn cạnh tranh tự do, chủ nghĩa tư bản phát triển lên giai đoạn cao hơn là
giai đoạn chủ nghĩa tư bản độc quyền và sau đó là tư bản độc quyền nhà nước.
Dựa vào tư tưởng của V. Lênin, có thể nhận thấy nguyên nhân dẫn đến sự hình thành của
chủ nghĩa tư bản độc quyền là do 4 nguyên nhân sau đây:
Nguyên nhân hình thành:
Thứ nhất, tích tụ và tập trung tư bản càng lớn thì tích tụ và tập trung tư bản càng cao, do đó đẻ ra
những cơ cấu kinh tế to lớn đòi hỏi một sự điều tiết xã hội đối với sản xuất và phân phối, một sư kế
hoạch hóa tập trung từ một trung tâm. Nói cách khác sự phát triển hơn nữa của trình độ xã hội lực
lượng sản xuất đã đến yêu cầu khách quan là nhà nước phải đại biểu cho toàn bộ xã hội quản lý nền kinh tế.
Thứ hai, sự phát triển của phân công lao động xã hội đã làm xuất hiện một số ngành mà các tổ
chức độc quyền tư bản không thể hoặc không muốn kinh doanh đầu tư vì vốn đầu tư lớn, thu hồi
vốn chậm, ít lợi nhuận, nhất là các ngành thuộc kết cấu hạ tầng, GTVT...
Thứ ba, sự thống trị của độc quyền đã làm sâu sắc thêm sự đối kháng giữa giai cấp tư sản với gia
cấp vô sản và nhân dân lao động. Nhà nước phải có những chính sách xoa dịu những mâu thuẩn đó,
như trợ cấp thất nghiệp, điều tiết thu nhập quốc dân, phá triển phúc lợi xã hội.....
Thứ tư, cùng với xu thế quốc tế hóa đời sống kinh tế, sự bành trướng của các liên minh độc
quyền quốc tế vẫn vấp phải những hàng rào quốc gia dân tộc và xung đốt lợi ích với các đối thủ trên
thị trường. Tình hình đó đòi hỏi phải có sự điều tiết các quan hệ chính trị và quan hệ kinh tế; nhà
nước tư sản có vai trò quan trọng trong việc giải quyết các quan hệ đó.
Bản chất của CNTB độc quyền NN: Là sự kết hợp sức mạnh của các tổ chức độc
quyền tư nhân với sức mạnh của NN TS trở thành một thiết chế và thể chế thống
nhất nhằm phục vụ lợi ích của tổ chức độc quyền và cứu nguy cho CNTB.
Chủ nghĩa tư bản độc quyền nhà nước là nấc thang phát triển mới của chủ nghĩa tư bản độc
quyền. Nó là sự thống nhất của 3 quá trình gắn bó chặt chẽ với nhau:
Tăng sức mạnh vủa các tổ chức độc quyền.
Tăng vai trò can thiệp của nhà nước vào kinh tế.
Kết hợp sức mạnh kinh tế của độc quyền tư bản với sức mạnh chính trị của nhà nước trong
một thể thống nhất và bộ máy nhà nước phụ thuộc vào các tổ chức độc quyền.
Sức mạnh NN CNTB độc quyền NN Sức mạnh của tổ chức độc quyền tư nhân Quan hệ KT-CT-XH
Những biểu hiện chủ yếu của CNTB độc quyền NN:
- Sự kết hợp về nhân sự giữa các tổ chức độc quyền và nhà nước tư sản
VI Lênin đã từng nhấn mạnh,sự liên minh về nhân sự của các ngân hàng với công nghiệp được
bổ sung bằng sự liên minh về nhân sự của ngân hàng và công nghiệp với chính phủ theo kiểu: Hôm
nay là bộ trưởng, ngày mai là chủ ngân hàng. Hôm nay là chủ ngân hàng, ngày mai là bộ trưởng.
Nguyễn Văn Toàn – Khoa Địa lý _USSH 18
Sự kết hợp về nhân sự thực hiện thông qua các đảng phái tư sản. Chính các đảng phái này đã tạo
ra cho tư bản độc quyền một cơ sở xã hội để thực hiện sự thống trị và trực tiếp xây dựng đội ngũ
công chức cho bộ máy nhà nước.
- Sự hình thành và phát triển của sở hữu tư bản độc quyền nhà nước.
Chủ nghĩa tư bản độc quyền nhà nước thâm nhập vào mọi lĩnh vực của đời sống, nhưng nét nổi
bật nhất là sức mạnh của nhà nước và độc quyền kết hợp với nhau trong lĩnh vực kinh tế và nhà
nước can thiệp trực tiếp vào quá trình tái sản xuất xã hội. Cơ sở của những biện pháp độc quyền nhà
nước trong kinh tế là sự thay đổi các quan hệ sở hữu. Nó biểu hiện không những ở chổ sở hữu nhà
nước tăng lên mà cả ở sự tăng cường mối quan hệ giữa sở hữu nhà nước và sở hữu độc quyền tư
bản tư nhân, hai sở hữu này đan kết với nhau trong quá trình chu chuyển của tổng tư bản xã hội.
Sở hữu nhà nước hình thành dưới những hình thức sau:
+ Xây dựng các doanh nghiệp nhà nước bằng vốn của ngân sách;
+ Quốc hữu hóa các xí nghiệp tư bản tư nhân bằng cách mua lại;
+ Nhà nước mua cổ phiếu của các xí nghiệp tư nhân'
+ Mở rộng các doanh nghiệp nhà nước bằng vốn tích lũy của các doanh nghiệp tư nhân.
- Sự điều tiết kinh tế của nhà tư bản
Cơ chế thị trường tự do cạnh tranh và cơ chế độc quyền tư nhân đều có những tác động tích cực
và tiêu cực. Bởi vậy, khi nào và ở đâu mà trính độ xã hội hóa lực lượng sản xuất đã vượt quá giới
hạn điều tiết của cơ chế thị trường và độc quyền tư nhân thỉ tất yếu đòi hỏi bổ sung bằng sự điều tiết
của nhà nước. Bản thân sự điều tiết của nhà nước cũng có những mặt tích cực và tiêu cực. Vì thế hệ
thống điều tiết kinh tế của nhà nước đã dung hợp cả ba cơ chế: thị trường, độc quyền tư nhân và
điều tiết của nhà nước nhằm phát huy mặt tích cực và hạn chế mặt tiêu cực của từng cơ chế
Sự điều tiết kinh tế của nhà nước được thực hiện dưới nhiều hình thức: hướng dẫn, kiểm soát,
uốn nắn những lệch lạc, bằng các công cụ kinh tế và các công cụ hành chánh - pháp lý , bằng cả ưu
đãi và trừng phạt; bằng những giải pháp chiến lược dài hạn như lập chương trình, kế hoạch tổng thể
phát triển kinh tế, khoa học công nghệ, bảo vệ môi trường ...và bằng những giải pháp ngắn hạn như
chống khủng hoảng tài chính, tiền tệ, lạm phát ...
Tùy theo học thuyết kinh tế được vận dụng, hệ thống điều tiết kinh tế ở mỗi nước có những nét
khác nhau: - còn được gọi là "mô hình thể chế kinh tế"-như "mô hình trọng cầu", "mô hình trọng
cung","mô hình trọng tiền"..... các chính sách kinh tế của nhà nước tư sản là biểu hiện quan trọng
nhất của chủ nghĩa tư bản độc quyền nhà nước.
Như vậy, chủ nghĩa tư bản độc quyền nhà nước nảy sinh là một tất yếu kinh tế, đáp ứng yêu cầu
xã hội hóa cao độ của các lực lượng sản xuất trong khuôn khổ chế độ tư bản, đóng vai trò quan
trọng đối với sự phát triển của chủ nghĩa tư bản độc quyền nhưng vẫn vấp phải những giới hạn và
mâu thuẫn mà chủ nghĩa tư bản không vượt qua được.
Nguyễn Văn Toàn – Khoa Địa lý _USSH 19