lOMoARcPSD| 61463864
Đề cương cơ sở văn hóa Việt Nam
Câu 1:Phân tích một quan niệm về văn hóa mà anh/chị cho là tiêu biểu nhất? Phân biệt
văn hóa với văn minh, lấy ví dụ cụ thể từ nền văn hóa Việt Nam.
A,
*Quan niệm về văn hóa của Hồ Chí Minh:”Vì lẽ sinh tồn cũng như mục đích của cuộc sống,
loài người mới sáng tạo và phát minh ra ngôn ngữ, chữ viết, đạo đức, pháp luật, khoa học, tôn
giáo, văn học, nghệ thuật, những công cụ cho sinh hoạt hằng ngày về ăn, mặc, ở và các phương
thức sử dụng toàn bộ những sáng tạo và phát minh đó tức là văn hóa. Văn hóa là sự tổng hợp
của mọi phương thức sinh hoạt cùng với biểu hiện của nó mà loài người đã sản sinh ra nhằm
thích ứng những nhu cầu đời sống và đòi hỏi của sự sinh tồn”.
*Phân tích quan niệm:
-Quan niệm đã nêu ra cấu trúc của văn hóa, bao gồm:
+Văn hóa vật chất
+Văn hóa tinh thần
+Tổng hợp phương thức sinh hoạt
-Quan niệm bàn đến đặc trưng của văn hóa: tính vị nhân sinh, được thể hiện ở hai phương diện:
con người là chủ thể sáng tạo ra văn hóa, đồng thời cũng là chủ thể hưởng thụ văn hóa.
-Nhấn mạnh chức năng của văn hóa, trong đó có hai chức năng quan trọng là: duy trì đời sống
hội, phục vụ đời sống của con người và từ đó nâng cao giá trị của cuộc sống.
-Nhìn nhận các vấn đề trong quan hệ logic tổng hợp.
-Về hình thức: phát biểu mang tính chất quan niệm, không phải học thuật.
B, Phân biệt văn hóa với văn minh:
Văn hóa
Văn minh
-Văn hóa có đặc trưng lịch sử truyền thống. Ta
có thể chứng minh qua nền văn hóa Việt Nam
giàu truyền thống lịch sử: truyền thống yêu
nước, uống nước nhớ nguồn, yêu thương đồng
loại…
-Là một quá trình tích lũy và được sang lọc lâu
dài. Văn hóa Việt Nam trải qua mấy ngàn năm
đã giữ lại được nhiều nét văn hóa đẹp, giàu bản
sắc và loại bỏ đi những văn hóa cổ hủ, không
theo kịp thời đại(trọng nam khinh nữ, tảo
hôn,..)
-Văn minh gắn với hiện đại và thành tựu
khoa học kĩ thuật hiện đại. Nói dến văn
minh, ta thường nhớ đến một nét nghĩa
chung là “trình độ phát triển”, một lát cắt
đồng đại.
Ví dụ nền ta nói văn minh nhân loại phát
triển rực rỡ với sự ra đời của điện và hệ
thống máy móc hiện đại.
-Là những sáng tạo, phát kiến mang tính cá
nhân.
Ví dụ như Thomas Edison phát minh ra
bóng đèn, Anbe phát minh ra chiếc máy
lOMoARcPSD| 61463864
-Mang tính cộng đồng, dân tộc, bản sắc. Văn
hóa Việt Nam không được tạo từ một người,
hay một nhóm người mà là thành quả chung
của cộng đồng người Việt, từ nhiều dân tộc
Việt. Vì vậy mà trở nên vô cùng đa dạng và
đậm dà bản sắc
-Được bảo lưu, duy trì, ổn định, gắn với thói
quen, tập quán, tâm linh. Dân tộc Việt Nam duy
trì được nhiều nét đẹp văn hóa như thờ cúng tổ
tiên, biết ơn,…
-Văn hóa gắn bó với nhiều hơn vơi phương
Đông nông nghiệp. Văn hóa Việt Nam được
hình thành ven lưu vực các con song lớn, thuân
lợi cho sản xuất nông nghiệp.
tính đầu tiên…
-Mang giá trị phổ thông toàn nhân loại,
quốc tế. Văn minh mang nét nghĩa rộng lớn,
là thành quả của toàn nhân loại, được toàn
thể con người công nhận và sử dụng. -Thay
đổi liên tục. Để phù hợp với sự thay đổi của
xã hội, văn minh biến đổi theo. Trước
kia,con người luôn cho rằng trái đất đứng
yên nhưng đến thế kỉ 17,con người đã thay
đổi cách nhìn và cho rằng trái đất quay
quanh mặt trời.
-Văn minh gắn bó nhiều hơn với phương
Tây đô thị. Phương Tây có nhiều phát minh
hiện đại.
Câu 2: Trình bày đặc trưng và chức năng của văn hóa *Đặc trưng của văn hóa
Các nhà nghiên cứu về văn hóa trong và ngoài nước đúc kết thành nhiều đặc trưng của văn hóa,
trong đó nổi bật nhất bà bốn đặc trưng cơ bản sau:
- Một là, tính hệ thống. Văn hóa là một hệ thống hữu cơ các giá trị về văn hóa vật chất, văn
hóa hội văn hóa tinh thần của cộng đồng người. Tnhững thành tố căn bản này đã nẩy sinh
và bao gồm những tập hợp nhỏ nhiều tầng bậc khác nhau tạo thành một tổng thể phức tạp, phong
phú.
- Hai là, tính giá trị. Văn hóa bao gồm các giá trị (giá trị thuộc về đời sống vật chất, giá trị
thuộc về đời sống tinh thần) trở thành thước đó về mức độ nhân bản của hội con người.
Trong lịch sử phát triển của nhân loại giá trị của văn hóa để tồn tại có gtrị của văn hóa
để phát triển.
- Ba là, tính lịch sử. Văn hóa bao giờ cũng được hình thành qua một quá trình và được tích
lũy qua nhiều thế hệ, những thành tựu do cộng đồng người trong quá trình tương tác với môi
trường tự nhiên và xã hội được sáng tạo luôn hướng tới sự hoàn thiện để đạt đến tính g
trị.
- Bốn là, tính nhân sinh. Văn hóa là một hiện tượng thuộc về xã hội loài người, gắn liền với
hoạt động thực tiễn của con người, những giá trị do một cộng đồng người sáng tạo ra, thuộc về
con người, ở trong con người và mang dấu ấn người. Điều đó cho thấy, con người vừa là chủ thể
của văn hóa, đồng thời là khách thể của văn hóa, lại vừa là sản phẩm văn hóa.
*Chức năng của văn hóa:
+Chức năng tổ chức xã hội
+Chức năng điều chỉnh xã hội
+Chức năng giao tiếp
+Chức năng giáo dục
lOMoARcPSD| 61463864
*Phân tích một đặc trưng và chức năng của văn hóa:
Đặc trưng quan trọng của văn hóa là tính giá trị. Văn hóa theo nghĩa đen nghĩa “trở thành đẹp,
thành có giá trị”, tính giá trị cần để phân biệt giá trị với phi giá trị. Nó là thước đo mức độ nhân
bản của xã hội và con người.
Các giá trị văn hóa, theo muc đích cố thể chia thành giá trị vật chất (phục vụ cho nhu cầu vật chất)
giá trị tinh thần (phục vụ cho nhu cầu tinh thần), theo ý nghĩa thể chia thành giá trị sử dụng,
giá trị đạo đức giá trị thấm theo thời gian thể phân hiệt các gtrị vĩnh cừu giá trị
nhất thời. Sự phân biệt các giá trị theo thời gian cho phép ta đươc cái nhìn hiện chứng
khách quan trong việc đánh giá tính giá trị của sự vật, hiện tượng; tránh được những xu hướng
cực đoan – phủ nhận sạch trơn hoặc tán dương hết lời.
Vì vậy mà, về mặt đồng đại, cùng một hiện tượng có thể có giá trị nhiều hay ít tùy theo góc nhìn,
theo bình diện được xem xét. Muốn kết luận một hiện tượng thuộc phạm trù văn hóa hay không
phải xem xét mối tương quan giữa các mức độ “giá trị” “phi giá trị” của nó. về mặt lịch đại,
cùng một hiện tượng sẽ thể giá trị hay không tùy thuộc vào chuẩn mực văn hóa cùa từng
giai đoạn lịch sử. Áp dụng vào Việt Nam, việc đánh giá chế độ phong kiến, vai trò của Nho giáo,
các triều đại nhà Hồ, nhà Nguyễn… đều đòi hỏi một duy biện chứng như thế. Nhờ thường
xuyên xem xét các giá trị mà văn hóa thực hiện được chức năng quan trọng thứ hai là chức năng
điều chỉnh hội, giúp cho hội duy trì được trạng thái cân bằng động, không ngừng tự hoàn
thiện thích ng với những biến đổi của i trường, giúp định hướng các chuẩn mực, làm động
lực cho sự phát triển của xã hội. *Lấy ví dụ chứng minh
Câu 3:Văn hóa Việt Nam thuộc về loại hình văn hóa gốc nông nghiệp điển hình với những
đặc trưng chủ yếu sau đây:
Do vị tđịa nằm góc tận cùng phía Đông-Nam Châu Á nên Việt Nam thuộc loại hình văn
hóa gốc nông nghiệp trồng trọt điển hình. Tất cả những đặc trưng của loại hình văn hóa gốc nông
nghiệp trồng trọt đều được thể hiện rất rõ nét trong đặc trưng văn hóa Việt Nam.
-Trong ứng xử với môi trường tự nhiên luôn có ý thức tôn trọng sống hòa hợp với thiên nhiên,
tôn sùng thiên nhiên, thể hiện đức hiếu sinh
dân Việt Nam chủ yếu sinh sống bằng nghề nông, trong cách ứng xử với tự nhiên, do nghề
trồng trọt buộc người dân phải sống định đchờ cây cối lớn lên, đơm hoa, kết trái thu
hoạch, từ đó ưa thích lối sống ổn định, cho rằng” An lạc nghiệp” . Do sống phụ thuộc vào
thiên nhiên nên dân nông nghiệp ý thức tôn trọng ước vọng sống hòa hợp với thiên
nhiên. Người Việt Nam mở miệng ra nói nhờ trời”, “lạy trời”… Các tín ngưỡng lhội
sung bái tự nhiên rất phổ biến ở các tộc người trên khắp mọi vùng đât nước.
- sống bằng kinh tế nông nghiệp, nhất là nông nghiệp lúc nước, đó con người sự
phụthuộc vào các hiện tượng tự nhiên (như trời, đất, nước, nắng, mưa...), nên trong nhận thức đã
hình thành một lối tư duy tổng hợp, trọng quan hệ, trọng tình biện chứng, thiên về kinh nghiệm,
trực giác, cảm tính và duy linh (linh cảm).
nghề nông, nhất nghề nông nghiệp lúa nước, cùng một lúc phụ thuộc vào nhiều yếu tố thiên
nhiên như : thời tiết, nước, khí hậu,... trông trời, trông đất, trông mây; trông mưa, trông gió,
trông ngày, trông đêm…” nên về mặt nhận thức, hình thành nên lối tư duy tổng hợp- biện chứng,
nặng về kinh nghiệm chủ quan cảm tính: sống lâu lên lão làng, trăm hay không bằng tay quen…
lOMoARcPSD| 61463864
Người làm nông quan tâm không phải từng yếu tố riêng lẻ những mối quan hệ giữa
chúng. Người Việt tích lũy được một kho kinh nghiệm hết sức phong phú về các loại quan hệ
này: Quạ tắm thì ráo, sáo tắm thì mưa; Được mùa lúa thì úa mùa cau, được mùa cau thì đau mùa
lúa; Chuồn chuồn bay thấp thì mưa, bay cao thì nắng, bay vừa thì râm…
-Trong tổ chức cộng đồng, con người nông nghiệp ưa tổ chức xã hội theo nguyên tắc trọng tình,
chuộng sự hòa thuận, tương trợ, quan tâm đến những láng giềng.
- Lối sống trọng tình đưa đến thái độ trọng đức, trọng văn, trọng Mẫu đề cao nguyên lý Mẹ.
- Nguyên tắc trọng tình cũng là cơ sở của tâm lí hiếu hòa, chuộng sự bình đẳng, dân chủ, đề cao
tính cộng đồng, tính tập thể.
Về mặt tổ chức cộng đồng, người Việt có lỗi sống cố định lâu dài nên tạo ra những mối quan hệ
tình cảm thân thiết, gắn bó, hình thành nên lối sống
trọng tình.. Nhưng cũng tđây hình thành lối sống tự trị, khép kín, hướng nội. Lỗi sống trọng
tình cảm tất yếu dẫn đến thái độ trọng đức, trọng văn, trọng phụ nữ. Trong ngôi nhà của người
Việt rất coi trọng gian bếp, thể hiện sự coi trọng phụ nữ. Người Việt coi: Nhất vợ nhì trời; Lệnh
ông không bằng cồng bà… Người phụ nữ cũng được xem người vai tquyết định trong
việc giáo dục con cái: Phúc đức tại mẫu; Con dại cái mang… Sự gắn cộng đồng tạo nên lối
sống trọng tình nghĩa: lành đùm lá rách; Bầu ơi thương lấy cùng…; các quan hệ ứng xử
thường đặt lý cao hơn tình: Một bồ cái lý không bằng một tí cái tình.
- Lối tư duy tổng hợp biện chứng, cộng với nguyên tắc trọng tình dẫn đến lối sống linh
hoạt,luôn ứng biến cho phù hợp với từng hoàn cảnh cụ thể. - duy tổng hợp phong cách linh
hoạt của văn hóa nông nghiệp còn quy định thái độ dung hợp trong tiếp nhận các yếu tố khoan
dung trong ứng xử, mềm dẻo trong đối phó.
Lối tư duy tổng hợp biện chứng, luôn đắn đo cân nhắc của người làm nông nghiệp cộng với
nguyên tắc trọng tình đã dẫn đên lối sống linh hoạt, luôn thay đổi để thích hợp với từng hoàn
cảnh: bầu thì tròn, ống thì dài; Đi với bụt mặc áo sa, đi với ma mặc áo giấy; Mặt trái
của tính linh hoạt là thói tùy tiện biểu hiện ở tật co giãn giờ giấc, sự thiếu tôn trọng pháp luật, tệ
đi “ cửa sau” để giải quyết công việc( Nhất quen, nhì thân, tam thần, tứ thế).
sống theo tình cảm nên mọi người phải biết tôn trọng xử bình đẳng, dân chủ với nhau.
Lối sống trọng tình và cách cư xử dân chủ dẫn đến tâm lý coi trọng cộng đồng, coi trọng tập thể.
Người nông nghiệp làm gì cũng phải tính đến tập thể, luôn có tập thể sau lưng.
Trong lối ứng xử với môi trường xã hội, tư duy tổng hợp vfa phong cách linh hoạt còn quy định
thái độ dung hợp trong tiếp nhận: Việt Nam không những không chiến tranh tôn giáo
mọi tôn giáo đều được tiếp nhận. Đối phó với các cuộc chiến tranh xâm ợc người Việt Nam
luôn hết sức mềm dẻo, hiếu hòa.
Như vậy, hầu như tất cả những đặc trưng của loại hình văn hóa gốc nông nghiệp trồng trọt đều
được thể hiện rõ nét trong cách tố chức đời sống, phương thức tư duy, lối ứng xử của người Việt
truyền thống.
- Tuy nhiên, mặt trái của tính linh hoạt và trọng tình dẫn đến thái độ tùy tiện, coi thường
tính nguyên tắc, ý thức tổ chức kỷ luật kém.
Văn minh nông nghiệp kéo dài đã làm chậm sự phát triển của tiến trình lịch sử Việt Nam, không
tạo ra được những tiền đề điều kiện để bức ra khỏi cái khung phong kiến phương Đông, làm
lOMoARcPSD| 61463864
hạn chế tính năng động, sáng tạo của con người Việt Nam dẫn đến sự ttrệ của xã hội Việt
Nam.
Câu 4: Vai trò của văn hóa trong sự phát triển
*Văn hóa là nền tảng tinh thần của xã hội
-Đào tạo con người theo các giá trị chân-thiện-
-Hình thành trong phẩm chất mọi thành viên trong hội ý thức phát huy các tiềm năng về thể
lực, trí lực và nhân cách
-Tích cực xây dựng một môi trường văn hóa lành mạnh đđủ sức đề kháng đẩy lùi các tiêu
cực xã hội, bài trừ những văn hóa phản tiến bộ.
*Văn hóa là động lực thúc đẩy sự phát triển của xã hội
-Sự phát triển của một dân tộc gắn liền với cái mới nhưng không tách rời cội nguồn, văn hóa -
Con người là nhân tố có vai trò quan trọng và là không thể thiếu trong sự phát triển của kinh tế,
xã hội
-Văn hóa khả năng tiếp thu và cải biên những yếu tố văn hóa ngoại sinh đbiến thành ngoại
lực thúc đẩy sự phát triển của kinh tế, xã hội
-Văn hóa sẽ giải phóng và nhân lên mọi tiềm năng sáng tạo của con người trong mọi lĩnh vực đời
sống xã hội mà trước hết là kinh tế
*Văn hóa là mục tiêu của sự phát triển
-Mục tiêu của sự phát triển nước ta: “Dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh”
Trong chiến lược phát triển kinh tế 2011-2020:
-Xác định: phát huy tối đa nhân tố con người, con người là chủ thể, nguồn lực chủ yếu và là mục
tiêu của sự phát triển”
-Yêu cầu: Tăng trưởng kinh tế kết hợp hài hòa với phát triển văn hóa, thực hiện công bằng hội,
không ngừng nâng cao chất lượng cuộc sống của nhân dân”.
*Văn hóa là mục tiêu của sự phát triển
-Phát triển phải hướng tới mục tiêu văn a- xã hội mới đảm bảo được sự bền vững trường tồn
cho sự giàu mạnh của tổ quốc.
🡪Văn hóa vai trò đặc biệt quan trọng trong việc bồi dưỡng, phát huy nhân tố con người và xây
dựng hội mới.Văn hóa giúp mở rộng hiểu biết, nâng cao dân trí, giúp bồi dưỡng tưởng đúng
đắn và tình cảm cao đẹp cho con người, cho nhân dân Việt Nam lí ởng độc lập dân tộc gắn với
chủ nghĩa hội, đồng thời bồi dưỡng phong cách, lối sống lành mạnh, hướng con người đến
chân-thiện-mĩ để hoàn thiện bản thân.
Câu 5: Trình bày vai trò của Phật giáo trong đời sống văn hóa Việt Nam
Đạo Phật truyền bá ở Việt Nam tính đến nay đã gần 2000 năm, trải qua các thời kỳ lịch sử
của đất nước, Phật giáo từ lâu vốn đã đi sâu vào quần chúng nhân dân Việt Nam, gắn
với sinh hoạt cộng đồng của người Việt, một sự gắn bó tự nhiên không do áp đặt của chính
quyền, cả khi Phật giáo được tôn là Quốc giáo...
lOMoARcPSD| 61463864
Nguồn gốc đạo Phật
Dạo Phật là một trong những tôn giáo lớn của thế giới, được ra đời vào khoảng thế kỷ VI trước
công nguyên, ở vùng phía Tây Bắc Ấn do thái tử Tất Đạt Đa sáng lập, hiệu là Sakyamuni
(Thích Ca Mâu Ni).
Đạo Phật ra đời trong hoàn cảnh rối ren của xã hội Ấn Độ bấy giờ. Thế kỷ VI trước Công
nguyên, lúc này Ấn Độ đang trong thời kỳ chiếm hữu nô lệ. Sự phân chia đẳng cấp ngặt nghèo
sâu sắc. Thời kỳ này xã hội Ấn Độ chia làm bốn đẳng cấp cách biệt nhau…. Đẳng cấp Bà la
môn (địa vị cao nhất); đẳng cấp Sát đế lỵ (dòng họ vua quan, quý tộc); đẳng cấp Vệ xá (gần
những người giàu có, buôn bán thủ công), đẳng cấp Thủ đà la (nô lệ). Ngoài ra còn có một tầng
lớp người thuộc hàng cùng khổ dưới đáy xã hội, bị mọi người khinh rẻ. Trước khi có sự ra đời
của đạo Phật, mâu thuẫn giữa các đẳng cấp trên hết sức gay gắt được thể hiện trong những cuộc
đấu tranh mang tính chất toàn xã hội. Cùng thời điểm này Ấn Độ đã và đang diễn ra cuộc đấu
tranh giữa các nhà duy vật và duy tâm, đấu tranh giữa các tôn giáo, bởi lẽ bên cạnh sự thống trị
của đạo Bà la môn còn có sự hiện diện của Phệ đà giáo và một số giáo phái khác, đồng thời tư
tưởng duy vật thô sơ và tư duy biện chứng đã xuất hiện.
Hoàn cảnh xã hội và những tư tưởng quan niệm trên đã trực tiếp hoặc gián tiếp góp phần
thúc đẩy sự ra đời của đạo Phật.
Bỏ qua những truyền thuyết về Tất Đạt Đa tìm đường cứu khổ cho chúng sinh mà sáng lập ra
đạo Phật thì có thể thấy rằng thực chất Phật giáo ra đời là do kết quả của cuộc đấu tranh gay
gắt giữa các giai cấp, đấu tranh giữa thần quyền và thế quyền, giữa những người nắm kinh tế
của xã hội và những người nắm tư tưởng xã hội. Cuộc đấu tranh ấy đã lôi kéo đông đảo quần
chúng nghèo khổ tham gia, thay bằng thành quả bình đẳng thật sự nơi trần gian, quần chúng đã
nhận được sự bình đẳng trong tư tưởng, nơi gọi là cõi Niết bàn của nhà Phật.
Giáo lý của đạo Phật tập trung vào hai vấn đề, một là sự khổ não, hai là sự giải thoát ra khỏi khổ
não ấy. Khổ não là bởi sự luân hồi, thoát khỏi vòng luân hồi thì khỏi khổ, mà muốn thoát khỏi
vòng luân hồi thì phải bỏ hết tham, sân, si trên trần thế. Khi thoát khỏi vòng luân hồi con người
mới chứng được trạng thái Niết bàn, Cực lạc.
Đạo Phật là một tôn giáo vô thần, không cùng bản chất như mọi tôn giáo khác. Đạo Phật còn có
một số đặc điểm riêng: Đạo Phật không quan niệm về đấng sáng tạo ra thế giới. Thế giới tự nó
vận động, phát triển thông qua luật vô thường nhân quả. Sự vận động ấy diễn ra trong không
gian và thời gian, đạo Phật sơ kỳ ở Tiểu thừa mang nhiều tính duy vật những quan niệm của đạo
Phật về thế giới về con người, về vận động mang hình thức biện chứng. Các giáo lý đạo Phật
chứa đựng nhiều nội dung đạo đức, hướng thiện. Đồng thời cũng phủ nhận một cách gián tiếp
những mâu thuẫn, xung đột xã hội.
Đạo Phật Việt Nam
Với những đặc điểm đó, cùng với giáo lý của mình đạo Phật đã tìm được chỗ đứng của mình
trong lòng xã hội Việt Nam.
Đạo Phật được truyền bá vào Việt Nam ngay từ đầu Công nguyên bằng hai con đường; đường
thủy thông qua con đường buôn bán với thương gia Ấn Độ. Đường bộ thông qua giao lưu văn
hóa với Trung Quốc mà Trung Quốc khi ấy cũng tiếp nhận Phật giáo được truyền bá từ Ấn Độ.
Như vậy Phật giáo Việt Nam mang cả sắc thái Phật giáo Ấn Độ và Trung Quốc.
lOMoARcPSD| 61463864
Đạo Phật truyền vào Việt Nam không phải thông qua con đường chiếm lược, không phải do sự
cưỡng chế của Trung Hoa mà thông qua đường giao thương buôn bán. Đạo Phật đến bằng con
đường hòa bình, những giáo lý của đạo Phật về bình đẳng, bắc ái, cứu khổ cứu nạn…gần gũi
với cư dân Việt Nam do đó dễ được chấp nhận. Mặt khác thời kỳ này còn có các tín ngưỡng bản
địa của cư dân nông nghiệp lúa nước, cộng với sự tồn tại của Nho giáo, đạo lão được Trung
Quốc truyền vào, tuy nhiên các tín ngưỡng, tôn giáo đó còn có nhiều mặt khuyết thiếu đối với
đời sống tâm linh cộng đồng và đạo Phật đã bổ sung vào chỗ thiếu hụt đấy. Vì vậy đạo Phật ở
Việt Nam được giao thoa bởi các tín ngưỡng bản địa.
Đạo Phật truyền bá ở Việt Nam tính đến nay đã gần 2000 năm, trải qua các thời kỳ lịch sử của
đất nước, Phật giáo từ lâu vốn đã đi sâu vào quần chúng nhân dân Việt Nam, gắn bó với sinh
hoạt cộng đồng của người Việt, một sự gắn bó tự nhiên không do áp đặt của chính quyền, cả khi
Phật giáo được tôn là Quốc giáo. Sự tồn tại lâu dài của Phật giáo trong đời sống kinh tế, chính
trị, xã hội đã đem lại những đóng góp đáng kể cho văn hóa, tư tưởng, kinh tế, chính trị trong
diễn trình lịch sử Việt Nam.
Người ta thường xếp tôn giáo vào phạm trù văn hóa, Phật giáo là một sự kiện tôn giáo, cũng là
một sự kiện văn hóa. Phật giáo truyền từ Ấn Độ sang Việt Nam vốn không phải là một sự kiện
đơn độc, mà kéo theo nó (hoặc trước, hoặc sau, hoặc đồng thời với nó) là cái ảnh hưởng của
tổng thể văn hóa Ấn Độ đối với văn hóa Việt Cổ, ảnh hưởng ấy diễn ra trên nhiều lĩnh vực
như: Nông nghiệp, y dược, âm nhạc vũ đạo ngôn ngữ…
Điều quan trọng là văn hóa Việt cổ tiếp thu một lượng quan trọng ảnh hưởng của văn hóa Ân
Độ qua ngả đường Phật giáo vào suốt thời Bắc thuộc, khi ảnh hưởng của văn minh Trung Hoa
tràn lên trên đất Việt và mang khuynh hướng đồng hóa rõ rệt.
Ngoài đóng góp làm cho văn hóa Việt Nam thêm phong phú, khách quan mà nói ảnh hưởng của
văn hóa Ấn Độ là một đối trọng của ảnh hưởng văn hóa Trung Hoa trên đất Việt. Nó có tác
dụng trung hòa ảnh hưởng quá mạnh mẽ vào nền văn minh Trung Hoa; nó góp sức cùng cơ tầng
văn hóa Việt cổ ngăn chặn khuynh hướng đồng hóa của văn minh Trung Hoa, nó được hội nhập
vào văn hóa Việt Nam làm giàu thêm nền văn hóa Việt, góp phần làm nên cái khác của văn hóa
Việt so với văn hóa Trung Hoa.
Lấy một ví dụ cụ thể: Ở Thăng Long đời Lý, Hoàng Thành Thăng Long mở 4 cửa, nếu ở phía
cửa Bắc thờ thánh Trấn Vũ – Trấn Vũ là một vị thần linh Trung Hoa được hội nhập vào đất Việt
thì ở cửa Đông lại thờ thần Bạch Mã là ảnh hưởng của Ấn Độ, và cửa Tây Long thành được
mang tên “Quảng Phúc Môn”, mở ra phía Tây để mong phúc lớn rộng “phúc đẳng hà sa” của
đức Phật ở Tây Thiên.
Và đạo Phật trong buổi đầu thời Bắc thuộc và chống Bắc thuộc là một đối tượng của Nho giáo
Trung Hoa đem sang Việt Nam. Khi mà Phật giáo bị suy sút ở thượng tầng, thì ở chốn làng
quê “cơ sở hạ tầng” Phật giáo lại tỏa ra dân chúng. Thời Lý Trần Phật giáo là Phật giáo quý
tộc, còn sang thời Lê Nguyễn Phật giáo là Phật giáo dân gian, nhân gian (hay là được dân gian
hóa – từ sau thế kỷ XV). Nếu như Quân chủ Việt Nam dựng ra cái đình ở làng quê với tư cách
như một “tiểu triều đình” trọng nam khinh nữ ở chốn đình Trung, thì dân dã quê Việt Nam vẫn
giữ và dựng cái chùa, cái “chùa làng” của dân gian chứ không phải cái quốc tự của triều đình
và những ai trước hết là nữ giới bị loại bỏ khỏi sinh hoạt đình Trung thì đã có một tổ chức,
một trung tâm sinh hoạt tâm linh là ngôi chùa. Thời nhà Lê, Nguyễn “đất vua, chùa làng” (đất
lOMoARcPSD| 61463864
của vua, chùa của làng) tức “chùa làng” đã trở thành đối trọng của đình làng, và bảo trợ cho
một quá nửa lực lượng của dân tộc là “đàn bà”. Chính từ sự bảo trợ này mà Phật giáo Việt
Nam có được chỗ đứng thêm vững vàng trên đất Việt.
Khi đạo Phật vào Việt Nam, nếu nó chỉ có một kinh điển bất động không thôi thì sẽ không có
tác dụng chủ yếu nào cả, mà tác dụng của nó như thế nào là do sự tổ chức, tuyên truyền giáo
dục cải tạo của những người tiên phong thấm nhuần sâu sắc học thuyết Phật giáo. Lúc bấy giờ
đã có những vị thiền sư Việt Nam ý thức và chấp nhận tính nhân đạo đại trí, đại dũng của Phật
giáo, phù hợp với tinh thần anh dũng bất khuất, lòng thương người khổ đau và đặc tính phân
biệt thiện ác, chánh tà của quần chúng nhân dân Việt Nam ta. Từ sự thấm nhuần tư tưởng Phật
giáo xây dựng con người tốt cá biệt gắn liền với phát huy bản chất con người xã hội
“Chư ác mạc tác – chúng thiện phụng hành
Tự tịnh kỳ ý – Thị chư Phật giáo”
Không hành ác tức không làm cho mình trở thành một tội khổ cho mình và cho người khác, là
lời khuyên đầu tiên của đức Phật, tiếp theo là sự hành thiện, là hãy trở nên một phúc báu cho
mình và cho người khác, lời kêu gọi cuối cùng là tự giữ tư tưởng cho trong sáng, đó là các điều
giáo dục của Phật. Đối với các quốc gia dân tộc khác, lời dạy của Phật trên đây có thể chỉ có
tầm giáo dục về tâm lý hay luân lý thông thường. Nhưng đối với hoàn cảnh và tình hình đất
nước ta ngay từ xa xưa luôn địch họa rình rập, thì lời giáo dục ấy của Phật qua khí tiết, tính Việt
Nam đã làm cho Phật giáo Việt Nam lại mang theo một ý nghĩa sâu sắc khác.
Không làm các việc ác cũng có nghĩa là chống ác, làm các việc lành, có đức cũng có nghĩa
liên minh với chân chính với thiện mỹ với chính nghĩa của nhân dân.
Phật giáo du nhập vào Việt Nam rất sớm, với tinh thần “Từ bi – hỷ xả - vô ngã – vị tha”, năng
động hóa bởi đạo lý Bát chính đạo, là điều giáo dục phổ biến đối với dân tộc ta, dân tộc thường
xuyên bị những thế lực xâm lược đem theo sự thống trị đầy rãy những cái ác bất nhân, gieo
mầm bất nghĩa, trái đạo lý dân tộc. Bởi thế Phật giáo phương xa đến Việt Nam đã đương nhiên
trở thành Phật giáo Việt Nam với tư tưởng yêu nước là chủ yếu. Tư tưởng yêu nước này được
xác minh qua nhiều thế hệ, suốt dòng lịch sử tranh đấu giữ nước và dựng nước của dân tộc ta,
phù hợp với tư tưởng “Chư ác mạc tác” và nghĩa vụ “Chúng thiện phụng hành” của giáo lý nhà
Phật.
Phật giáo Việt Nam nhập thế
Từ các vị thiền sư Việt Nam đến không ít các vị vua, các anh hùng dân tộc Phật tử đã thấm
nhuần tư tưởng yêu nước, trở thành mối quan hệ khăng khít giữa Phật giáo Việt Nam với lịch sử
tư tưởng Việt Nam. Hơn nữa trong suốt hai cuộc kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ cứu
nước, nhiều chùa chiền Phật giáo Việt Nam là cơ sở bao che nuôi dưỡng cán bộ, chiến sĩ cách
mạng, những Tăng, Ni, Phật tử nằm trong các đoàn thể cứu quốc, đoàn thể Phật giáo yêu nước,
hòa mình vào các sinh hoạt cách mạng.
Phật giáo Việt Nam vừa là một học thuyết giải thoát về thuật sống lương thiện tốt đẹp cho con
người Việt Nam, vừa là một học thuyết qua tinh thần Tứ ân có ơn với tổ quốc là trọng đại – đã
thực sự góp phần trong việc hình thành nền tư tưởng Việt Nam, văn hóa dân tộc Việt Nam,
trong đó tư tưởng yêu nước là chủ yếu.
Phật giáo đã có rất nhiều đóng góp to lớn cho nền tảng tư tưởng văn hóa Việt Nam. Tớc hết
Phật giáo đã đóng vai trò tích cực trong các cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc của nhân dân
lOMoARcPSD| 61463864
Việt Nam, góp phần làm phong phú thêm tâm hồn, đạo đức, hành vi cư xử của người Việt, làm
phong phú thêm nền văn hóa dân tộc. Trước sự đòi hỏi của dân tộc, của tín đồ Phật giáo, Phật
giáo Việt Nam đã đóng góp tích cực cho nền văn hóa nước nhà.
Dân tộc Việt Nam có cái duyên là đã được tiếp nhận đạo Phật, đạo Phật có cái duyên là tìm
được chỗ đứng cho mình trong cộng đồng người Việt Nam. Cái cộng đồng dựa trên nền tảng
kinh tế tự nhiên, tự cấp, tự túc, với quan niệm làng xã cổ truyền, với tín ngưỡng đa thần đã tiếp
nhận đạo Phật và cải biến nó cho ít nhiều phù hợp với cộng đồng ấy.
Cộng đồng người Việt tiếp nhận Phật giáo, đồng thời tiếp nhận những tư tưởng bình đẳng, bắc
ái, vô ngã, vô thường…ở đạo Phật, những tư tưởng này cùng với những tư tưởng cộng đồng cổ
truyền đã làm cản trở cho quá trình phân hóa giai cấp, làm dịu những xung đột giai cấp trong xã
hội. Trong thời gian tới, Phật giáo tồn tại và thậm chí tiếp tục phát triển mạnh ở Việt Nam. Phật
giáo đóng góp phần tích cực của nó bằng cách tự làm trong sạch bản thân, xóa bỏ những yếu tố
mê tín lỗi thời. Phật giáo góp phần cân bằng cuộc sống ngày càng quay cuồng với nhịp độ cao
và Phật giáo góp phần hướng thiện cho con người.
Việc cải tiến nghi lễ, và hiện đại hóa là một xu hướng tất yếu, là điều cần thiết của đạo Phật,
điều đó có từ trong lịch sử Phật giáo của Việt Nam. Đạo Phật còn có vai trò to lớn trong đời
sống tình cảm, tâm linh của người Việt Nam, người dân của đất nước đã trải qua nhiều đau
thương và đang còn nhiều khó khăn trong đời sống xã hội.
Xin mượn lời của cố giáo sư Trần Quốc Vượng trong (Mấy ý kiến về Phật giáo và văn hóa dân
tộc – Mấy vấn đề Phật giáo và tư tưởng Việt Nam) để khẳng định những giá trị văn hóa của đạo
Phật “Đạo Phật có thể mất đi như mọi hiện tượng vô thường. Song cái tinh túy của văn hóa Phật
giáo đã được dân tộc hóa và dân gian hóa thì mãi mãi trường tồn”.
Ngày nay để tiếp tục phát huy những giá trị tích cực của mình, Phật giáo phải biết tự giữ gìn,
bồi đắp và đổi mới cho phù hợp với thời đại nhằm góp phần thực hiện mục tiêu “dân giàu, nước
mạnh, xã hội công bằng, dân chủ và văn minh” như trước đây đã từng đóng góp cho “quốc thái
dân an”.
Trong điều kiện xã hội hiện nay, những di sản văn hóa của Phật giáo đang tiếp tục phát huy tác
dụng, tạo nên sắc thái dân tộc, góp phần làm phong phú bản sắc văn hóa Việt Nam. Gần đây,
nhiều tổ chức và cá nhân đã quyên góp, công đức tiền của để khôi phục, tôn tạo chùa chiền, xây
cất tịnh xá, niệm Phật đường, đúc chuông, đắp tượng, dựng tháp… Ngoài ý nghĩa tâm linh,
nhiều ngôi chùa đã trở thành những danh thắng nổi tiếng để du khách đến chiêm ngưỡng.
Những giá trị văn hóa Phật giáo không chỉ tồn tại trong tư tưởng, mà còn đang hiện diện thông
qua sự nỗ lực của hàng triệu tín đồ nhằm vươn tới một lẽ sống vì Tổ quốc giàu mạnh, nhân sinh
hạnh phúc. Điều đó càng khẳng định được vị trí, vai trò của Phật giáo trong suốt quá trình đồng
hành cùng dân ta.
Câu 6:
Nho giáo được xem là hệ tư tưởng có ảnh hưởng sâu rộng và lâu dài đến xã hội Việt Nam,
nền tảng đạo đức giáo dục con người, đóng góp to lớn vào việc tổ chức nhà nước, duy trì trật tự
xã hội, phát triển kinh tế, sáng tác văn học trong các triều đại quân chủ như Nhà Lý, Nhà
lOMoARcPSD| 61463864
Trần, Nhà Lê, Nhà Nguyễn, trong suốt chiều dài lịch sử phù hợp và dung hòa với đời sống
người Việt hình thành nền Nho giáo bản sắc Việt Nam nôm na gọi là Việt Nho ... Ảnh hưởng
của Nho giáo đối với Việt Nam sâu sắc là nền tảng của nền văn minh tại Việt Nam và xếp Việt
Nam vào các nước ảnh hưởng nền Văn minh Trung Hoa gọi là Vùng văn hóa Đông Á. Từng
bước hình thành nên lối sống, sinh hoạt, đạo đức đối nhân xử thế trong xã hội của người Việt.
Ngày nay Việt nho ít được xem trọng kèm những khía cạnh suồng sã, tiêu cực trong văn hóa
phương tây ảnh hưởng đang làm đạo đức một bộ phận giới trẻ xuống cấp.
*Sự hình thành và phát triển
sở của Nho giáo được hình thành từ thời Tây Chu, đặc biệt với sự đóng góp của Chu Công
Đán, còn gọi Chu Công. Đến thời Xuân Thu, hội loạn lạc, Khổng Tử (sinh năm 551 trước
công nguyên) phát triển tư tưởng của Chu Công, hệ thống hóa và tích cực truyền bá các tư tưởng
đó. Chính vì thế mà người đời sau coi ông là người sáng lập ra Nho giáo.
Cũng giống nnhiều nhà tư tưởng khác trên thế giới như Thích Ca Mầu Ni, Giê-xu,... người đời
sau không thể nắm bắt các tưởng của Khổng tử một cách trực tiếp chỉ được biết các
tưởng của ông bằng các ghi chép do các học trò của ông để lại. Khó khăn nữa thời kỳ "đốt sách,
chôn Nho" của nhà Tần,vào khoảng hai trăm năm sau khi Khổng Tử qua đời, khiến cho việc tìm
hiểu tưởng gốc của Khổng Tử càng khó khăn. Tuy nhiên, các nhà nghiên cứu đời sau vẫn cố
gắng tìm hiểu và hệ thống các tư tưởng và cuộc đời của ông.
Nho giáo nguyên thủy
Thời Xuân Thu, Khổng Tử đã san định, hiệu đính giải thích bộ Lục kinh gồm Kinh Thi,
Kinh Thư, Kinh Lễ, Kinh Dịch, Kinh Xuân Thu và Kinh Nhạc. Về sau Kinh Nhạc bị thất lạc nên
chỉ còn năm bộ kinh thường được gọi Ngũ kinh. Sau khi Khổng Tử mất, học tcủa ông tập
hợp các lời dạy để soạn ra cuốn Luận ngữ. Học trò xuất sắc nhất của Khổng Tử Tăng Sâm, còn
gọi Tăng Tử, dựa vào lời thầy soạn ra sách Đại học. Sau đó, cháu nội của Khổng Tử
Khổng Cấp, còn gọi Tử Tư viết ra cuốn Trung Dung. Đến thời Chiến Quốc, Mạnh Tử đưa ra
các tư tưởng mà sau này học trò của ông chép thành sách Mạnh Tử. Từ Khổng Tử đến Mạnh Tử
hình thành nên Nho giáo nguyên thủy, còn gọi là Nho giáo tiền Tần (trước đời Tần), Khổng giáo
hay "tư tưởng Khổng-Mạnh". Từ đây mới hình thành hai khái niệm, Nho giáo Nho gia. Nho
gia mang tính học thuật, nội dung của nó còn được gọi Nho học; còn Nho giáo mang tính tôn
giáo. Nho giáo, Văn Miếu trở thành thánh đường và Khổng Tử trở thành giáo chủ, giáo chính
là các tín điều mà các nhà Nho cần phải thực hành.
Hán Nho
Đến đời Hán, Đại Học và Trung Dung được gộp vào Lễ Ký. Hán Vũ Đế đưa Nho giáo lên hàng
quốc giáo dùng làm công cụ thống nhất đất nước về tưởng. từ đây, Nho giáo trở thành
hệ tư tưởng chính thống bảo vệ chế độ phong kiến Trung Hoa trong suốt hai ngàn năm. Nho giáo
thời knày được gọi là Hán Nho. Điểm khác biệt so với Nho giáo nguyên thủy Hán Nho đề
cao quyền lực của giai cấp thống trị, Thiên Tử là con trời, dùng "lễ trị" để che đậy "pháp trị".
Tống Nho
Đến đời Tống, Đại Học, Trung Dung được tách ra khỏi Lễ Ký cùng với Luận ngữ Mạnh Tử
tạo nên bộ Tứ Thư. Lúc đó, Tứ Thư và Ngũ Kinh là sách gối đầu giường của các nhà Nho.
Nho giáo thời kỳ nay được gọi là Tống nho, với các tên tuổi như Chu Hy (thường gọi là Chu
lOMoARcPSD| 61463864
Tử), Trình Hạo, Trình Di. (Ở Việt Nam, thế kỷ thứ 16, Nguyễn Bỉnh Khiêm rất giỏi Nho học nên
được gọi là "Trạng Trình"). Phương Tây gọi Tống nho là "Tân Khổng giáo". Điểm khác biệt của
Tống nho với Nho giáo trước đó việc bổ sung các yếu tố "tâm linh" (lấy từ Phật giáo) các
yếu tố "siêu hình" (lấy từ Đạo giáo) phục vụ cho việc đào tạo quan lại và cai trị.
Đặc điểm
Về nội dung học tập, Nho giáo chỉ nói đến "trí dục" và "đức dục" mà không xét đến mặt "thể
dục" là mặt cũng rất cần cho sự phát triển toàn diện con người. Những kiến thức về giới tự
nhiên và về sản xuất vật chất không được Nho giáo đề cập (bởi ở thời của Khổng Tử, khoa học
kỹ thuật và nền sản xuất chưa phát triển). Do vậy, người học tuy thấm nhuần tư tưởng Nho học
về đạo đức, tinh thông cổ văn, nhưng kiến thức về khoa học tự nhiên, sản xuất thực tiễn thì lại
không phát triển. Cả hai mặt tiến bộ và hạn chế của Nho giáo đều để lại dấu ấn trên Nho sĩ. Khi
tiếp xúc với nền văn minh phương Tây mạnh về khoa học kỹ thuật, nếu người xuất thân Nho
học biết tiếp thu những kiến thức khoa học và sản xuất thì sẽ khắc phục được mặt hạn chế, trở
nên "Vừa có tài vừa có đức", ngược lại nếu tiếp thu không có chọn lọc thì không những không
khắc phục được hạn chế mà những giá trị đạo đức của nền Nho học cũng bị đánh mất. Nhược
điểm nghiêm trọng hơn nữa là Nho giáo Việt Nam thiếu sự xuất hiện các trường phái học thuật
nên vận động trong sự đơn điệu và một chiều, chứ không được phong phú và đa dạng như Nho
giáo Trung Quốc. Nho giáo Việt Nam thiếu sự vận động bên trong, thiếu sự phản tỉnh nên trì trệ.
Đa số nhà Nho Việt Nam chỉ đặt cho mình mục đích học là để đi thi, thi đỗ thì ra làm quan để
được giàu sang, sung sướng. Đạt được mục đích đó thì xem như việc học tập đã kết thúc. Ít
người có chí cao xa, như học để tham gia tranh luận những vấn đề mang tầm khu vực, học để
kinh bang tế thế hoặc để phát triển văn hoá, đạt đến những tầm cao tư tưởng. Cũng có một số
Nho sĩ quan tâm đến học thuật, nhưng thường là các vấn đề chính trị và đạo đức, ít bàn đến vấn
đề siêu hình, một lĩnh vực thuần túy triết học làm nền tảng cho khả năng nhận thức sâu sắc thế
giới và hành động sáng tạo. Thậm chí, họ còn biến những vấn đề siêu hình thành cái thực tế,
thực dụng. Vì học tập và tư duy như thế nên họ ít có cống hiến to lớn trong lĩnh vực học thuật
có thể so sánh với các nước khác cũng chịu ảnh hưởng của Nho giáo. Nền giáo dục Nho giáo
Việt Nam chỉ sản sinh ra được một tầng lớp quan lại có nền tảng Nho học còn các loại hình trí
thức then chốt của một tầng lớp trí thức thực thụ thì xuất hiện thưa thớt, mờ nhạt, hoặc hoàn
toàn vắng bóng trong một số lĩnh vực như triết học.
Một số nhà Nho uyên thâm của Việt Nam khi đứng trước kho tàng đồ sộ và uyên bác của Nho
giáo Trung Quốc thường tóm lược lấy những điều cốt yếu, biên soạn lại thành những tài liệu
đơn giản và ngắn gọn để dạy học trò. Có thể liệt kê các sách Nho học như “Tứ thư tập chú” của
Chu Hy, “Tứ thư đại toàn” của Tống, Nguyên, Minh, Thanh Nho, sang Việt Nam chỉ còn
Thuyết ước” (tóm lược học thuyết) và “Ước giải” (giải thích tóm tắt); hoặc như cuốn “Tính lý
đại toàn” của Hồ Quảng thời Minh, sang Việt Nam chỉ còn “Tiết yếu”. Đây là hiện tượng chung
của nhiều triều đại quân chủ Việt Nam. Nếu ở triều Trần có “Tứ thư thuyết ước” của Chu Văn
An, thì ở triều Lê - Trịnh có “Tứ thư ước giảicủa Lê Quý Đôn, triều Nguyễn có “Tứ thư trích
giảng” của Nguyễn Văn Siêu; nếu ở triều Lê - Trịnh có cuốn “Tính lý tiết yếu” của Bùi Huy
Bích, thì ở triều Nguyễn cuốn đó vẫn còn được xem là cuốn sách giáo khoa mẫu mực. Chính
điều này đã lược bớt rất nhiều điều, làm mất rất nhiều điểm có khả năng gợi mở, giản đơn hoá
nội dung phong phú và súc tích của học thuyết khiến người học không lĩnh hội được chiều sâu
lOMoARcPSD| 61463864
của Nho giáo. Người được truyền đạt cũng hài lòng với cách làm đó thì mọi lối tư duy, mọi
đường sáng tạo đều bị thu hẹp lại. Bên cạnh đó, Nho giáo Việt Nam đã pha trộn với tư tưởng
của Phật giáo, Đạo giáo và các tín ngưỡng dân gian khác. Nhưng hạn chế lớn nhất là tập quán
sùng bái thánh hiền, giáo điều và máy móc của giới Nho sĩ Việt Nam. Trong khi đó bên cạnh
Nho giáo còn có nhiều trường phái tư tưởng khác như Đạo gia, Mặc gia, Pháp gia... Giữa các
trường phái này luôn có sự tranh luận, phản bác nhau. Điều này khiến sự phát triển của Nho
giáo Việt Nam hạn chế. Nó chỉ đạt đến mức độ tiếp thu một số tín điều từ Nho giáo Trung Hoa,
chưa tạo được lý luận riêng, chưa xuất hiện các học phái khác nhau. Phương pháp tư duy của nó
thiên về bảo thủ, giáo điều
3. Quá trình thâm nhập của Nho giáo vào Việt Nam
3.1. Hán Nho đã được các quan lại Trung Hoa như Tích Quang, Nhâm Diên, Sỹ Nhiếp ra sức
truyền bá từ đầu Công nguyên. Tuy nhiên, vì đây là thứ văn hóa do kẻ xâm lược áp đặt cho nên,
suốt cả giai đoạn chống Bắc thuộc, Nho giáo chưa có chỗ đứng trong xã hội Việt Nam. Đến năm
1070, với sự kiện Thánh Tông cho lập Văn Miếu thờ Chu Công, Khổng Tử, mới có thể xem
Nho giáo được tiếp nhận thính thức. Chính vì vậy Nho giáo Việt Nam chủ yếu là Tống Nho
chứ không phải Hán Nho, Đường Nho hay Minh Nho, Thanh Nho.
Đời Trần có Chu Văn An đào tạo được khá đông học trò. Các nhà nho những lớp đầu tiên này ra
sức bài xích Phật giáo để khẳng định chỗ đứng của mình. Tuy nhiên, cho đến gần cuối đời Trần,
Nho giáo vẫn chưa được chấp nhận rộng rãi.
Trong cuộc kháng chiến 10 năm chống quân Minh (1418- 1408), các nhà nho Việt Nam tập hợp
dưới cờ Lê Lợi đã có những đóng góp to lớn. Sự lớn mạnh của Nho giáo Việt Nam (điều kiện
chủ quan) cùng với nhu cầu cải cách quản lí đất nước (yêu cầu khách quan) đã dẫn đến việc
triều Lê đưa Nho giáo thành quốc giáo: sự phát triển của Nho giáo chuyển sang giai đoạn mới
giai đoạn Nho giáo độc tôn. Từ đó, Nho giáo thịnh suy theo bước thăng trầm của triều đình:
Thời Lê sơ thì Nho giáo thịnh, chí sĩ đua nhau đi thi để ra làm việc nước. Thời Lê mạt thì Nho
giáo suy, nhiều nhà nhà xuất sắc (như Nguyễn Bình Khiêm) lui về ở ẩn. Nhà Nguyễn lên cầm
quyền, địa vị Nho giáo một lần nữa được khẳng định để rồi mất hẳn khi phải đối mặt với sự tấn
công của văn hóa phương Tây.
*Vai trò, ảnh hưởng
Tính từ khi bắt đầu du nhập cho đến lúc suy vong, Nho giáo đã có lịch sử 1900 năm truyền bá ở
Việt Nam. Thời Bắc thuộc, trong những thế kỷ đầu công nguyên, các quan cai trị người Hán như
Tích Quang (1 - 5), Nhâm Diên (29 - 33), Sĩ Nhiếp (187 - 226), Đỗ Tuệ Độ (đầu thế kỷ V) đã ra
sức truyền Nho giáo Giao Châu. Cũng trong thời kỳ này, các đoàn người Hán di thực tị
nạn nối tiếp nhau kéo xuống Giao Châu, mang theo văn hóa Hán. Tuy nhiên, đây là thời kỳ
văn hóa Việt - Mường đã đạt tới những thành tựu đỉnh cao, sức mạnh văn hóa nội tại,
khả năng chọn lọc, chuyển hóa những yếu tvăn hóa mới du nhập để bồi bổ cho sức mạnh n
hóa nội tại của mình. Trong khi đó, Nho giáo là công cụ củng cố thể chế nhà nước của quân xâm
lược. vậy, trải qua cả nghìn năm, Nho giáo vẫn không thâm nhập được vào văn hóa Việt -
Mường. Cư dân Việt - Mường vẫn bảo tồn được văn hóa tộc người, ý thức tộc người, ý chí quật
cường và nhu cầu đấu tranh vì độc lập tự do.
lOMoARcPSD| 61463864
Phải đến thời kỳ tự chủ, từ thế kỷ XI trở đi, Nho giáo mới được Nhà nước phong kiến chú trọng
đề cao. Để xây dựng, hoàn thiện thể chế nhà nước, giai cấp phong kiến đã tìm thấy Nho giáo
những lợi khí Phật giáo Đạo giáo đương thời không có: sự thần bí hóa vương quyền, sự
thiêng liêng hóa quan hệ quân thần, những chuẩn mực và nội dung đào tạo quan lại thích hợp để
nối dài cánh tay quyền lực của nhà vua. Đến thời Hậu Lê, Nho giáo vươn lên chiếm địa vđộc
tôn trong văn hóa cung đình, đẩy Phật giáo Đạo giáo xuống hàng tôn giáo dân gian. Nhưng
Nho giáo có vị trí hàng “Quốc giáo” thật sự ở triều Nguyễn, một triều đại tập quyền tuyệt đối và
triệt để khai thác đạo tam cương, ngũ luân của Nho giáo để bảo vệ tôn ti quân thần quyền
thống trị vĩnh viễn của tông tộc nhà vua. Trên đỉnh cao quyền lực, Nho giáo đã phát c tối đa sức
mạnh kìm hãm của nó, trở thành nguyên nhân sâu xa của tình trạng loạn lạc và trì trkéo dài suốt
thế kỷ XIX cho đến khi mất nước về tay Pháp. Từ đầu thế kỷ XX, cùng với sự suy tàn của nhà
nước phong kiến giai cấp phong kiến, Nho giáo đã không còn ý thức hệ chính thống cũng
không còn đóng vai trò một tôn giáo chính thống điều chỉnh hành vi và đạo đức như trước nữa.
Sự đột khởi của phong trào Duy Tân - Đông Du (1905 - 1908) đã đóng cây đinh cuối cùng vào
nắp quan tài của Nho giáo ở Việt Nam.
Điểm qua như vậy, thể thấy rằng, giai cấp phong kiến Việt Nam thượng n Nho giáo không
chỉ do nhu cầu xây dựng quốc gia, mà còn vì và chủ yếu là vì Nho giáo có ích đối với việc cai trị
nhân dân. vậy, tuy lúc thăng lúc trầm, nhưng bao giờ Nho giáo cũng chiếc phao chống
đắm của các triều đại phong kiến Việt Nam, kể từ khi vua Thánh Tông dựng Văn Miếu
Thăng Long năm 1070, cho đến khi triều đình Huế Hòa ước Quý Mùi (năm 1883) giao chủ
quyền quốc gia cho Pháp.
Do sự truyền chủ động kiên trì của giai cấp phong kiến, trong thời trung đại, Nho giáo đã
thẩm thấu vào một một bộ phận của chủ thể văn hóa Việt Nam giai cấp quý tộc, quan lại
tầng lớp nho sĩ, quan viên. Nho giáo cũng bén rễ vào một bộ phận văn hóa tinh thần của hội,
làm hình thành dòng văn hóa quan phương chính thống bên cạnh các hoạt động văn hóa tinh thần
của dân gian. Bằng cách đó, văn hóa tinh thần của Việt Nam đã bị Hán hóa một phần. Cũng bằng
cách đó, Nho giáo đã được Việt hóa một phần trong quá trình thâm nhập vào văn hóa Việt Nam.
Do tác động từ Nho giáo nên sự phân hóa xã hội ở Việt Nam thêm sâu sắc, chủ thể văn hóa Việt
Nam bị chia đôi; hình thành tầng lớp nho sĩ, giai cấp quý tộc, quan lại theo hình mẫu Nho giáo,
tồn tại bên cạnh các giai cấp, tầng lớp sẵn có của hội Việt Nam xưa (nông dân, thợ thủ công,
thương nhân). Tầng lớp nho sĩ và quan lại ấy có trách nhiệm kinh bang tế thế, trị quốc an dân, và
tùy theo thời thế mà chọn lựa cách ứng xử, xuất và xử, hành và tàng. Còn các giai cấp, tầng lớp
lao động thì có trách nhiệm bảo đảm nhu cầu vật chất cho các giai cấp, tầng lớp bên trên và cho
bản thân mình.
Lịch sử Việt Nam có rất nhiều nhà nho có phẩm hạnh, khí tiết cao cả, như Mạc Đĩnh Chi, Chu
Văn An, Nguyễn Ti, Nguyễn Bỉnh Khiêm, Võ Trường Toản, Ngô Tùng Châu, Trịnh Hoài Đức,
Lê Quang Định, Ngô Nhân Tĩnh, Nguyễn Công Trứ, Phan Thanh Giản, Trần Tiễn Thành,
Nguyễn Đình Chiểu, Nguyễn Khuyến, Nguyễn Huy Đức, Nguyễn Thức Tự, Khiếu Năng Tĩnh,
lOMoARcPSD| 61463864
Trần Đình Phong, Lương Văn Can, Phan Bội Châu, Đặng Nguyên Cẩn, Ngô Đức Kế, Phan Châu
Trinh, Huỳnh Thúc Kháng, Trần Quý Cáp,... Những nhà nho này, lúc bình thời hay khi vận
nước gian nan, vẫn tỏ ktiết phẩm hạnh, đồng thời thái độ hành động nước,
dân.
Trong các hoạt động văn hóa, Nho giáo tác động chủ yếu vào các hoạt động văn hóa tinh thần.
Trong văn hóa tổ chức cộng đồng, cấp độ gia đình, Nho giáo phối hợp với văn hóa Hán làm
hình thành chế độ gia đình phụ hệ đi đôi với nam quyền cực đoan, tồn tại song hành với truyền
thống trọng nam đi đôi với trọng nữ của văn hóa dân gian. Trong gia đình, gia tộc, quốc gia, Nho
giáo trực tiếp làm hình thành chế độ tông pháp, trao quyền thừa kế, thừa tự cho con trai trưởng
chính dòng, song hành với tập quán trao quyền thừa kế, thừa tcho con trai út của dân gian. Trên
bình diện quốc gia, Nho giáo là cơ sở làm hình thành tổ chức nhà nước của Đại Việt, bao gồm hệ
thống hành chính, tổ chức quân sự, quan chế, lương bổng... phỏng Trung Hoa, tồn tại song
hành với tổ chức cộng đồng cấp làng quê ra đời từ thời Văn Lang - Âu Lạc.
Về tín ngưỡng, nhà nho Việt Nam coi Nho giáo như tôn giáo; gạt bỏ, bài xích các tôn giáo khác
ngoại trừ những nội dung được Nho giáo chấp nhận khuyến khích, như lòng tin vào thiên
mệnh, việc tế lễ, việc thờ cúng tổ tiên... vậy, trong Nho giáo tôn giáo của đàn ông người
Việt, bên cạnh các tôn giáo dành cho các bà các cô như đạo Phật, đạo Mẫu...
Về phong tục, sự tác động của Nho giáo và văn hóa Hán đã làm Hán hóa một phần các phong tục
vòng đời, đặc biệt là phong tục hôn nhân, phong tục tang ma. Trong thời trung đại, các phong tục
này đều lấy hình mẫu của Nho giáo văn hóa Hán làm chuẩn mực. Chính vậy cho đến
ngày nay, vẫn còn nhiều người viết sách mô tả các phong tục và nghi thức ấy trong văn hóa Việt
Nam hiện đại như thể chúng là bản sao của phong tục Trung Hoa trung đại! Thật ra, bên cạnh c
phong tục hôn nhân, phong tục tang ma theo hình mẫu của Nho giáo văn hóa Hán trước đây,
người Việt các vùng miền khác nhau các tôn giáo Việt Nam đều cách thức riêng để thực
hiện các phong tục ấy.
Trong giáo dục, Nho giáo là cơ sở hình thành hệ thống giáo dục chính thống của Việt Nam trung
đại ở bốn cấp kinh đô - tỉnh/đạo - phủ - huyện/châu, và chế độ thi tuyển gồm bốn cấp khảo hạch
- thi Hương - thi Hội - thi Đình, để đào tạo ra quan lại nhà nước, quan viên làng xã. Hệ thống
giáo dục chính thống này tồn tại song hành với mạng lưới giáo dục dân gian trong gia đình, làng
xóm, làng nghề, nhằm giáo dục cách ứng xử với gia đình, cha mẹ, ông bà, tổ tiên, họ hàng, làng
xóm, thần linh... Trong lịch sử 844 năm khoa cử Hán học Việt Nam (1075 - 1919), nền giáo dục
Nho giáo đã tạo ra hàng nghìn ông Nghè, ông Cử, ông Tú mà trong số đó nhiều người đã nổi lên
thành nhà văn hóa hay nhà khoa học, như nshọc Văn Hưu, danh nhân văn hóa thế giới
Nguyễn Trãi, nhà sử học Ngô Sĩ Liên, Trạng Lường Lương Thế Vinh, Trạng Trình Nguyễn Bỉnh
Khiêm, Trạng Bùng Phùng Khắc Khoan, nhà bác học Lê Quý Đôn, thi hào Nguyễn Du, nhà bác
học Phan Huy Chú…
Về văn học và nghệ thuật, Nho giáo đã góp phần làm hình thành các thể văn khoa cử (kinh nghĩa,
chiếu, biểu, luận, văn sách, thơ, phú...), các thể loại văn học phỏng Trung Hoa (thơ Đường
lOMoARcPSD| 61463864
luật, phú, từ, đối...), các điển tích văn học, các sách giáo khoa truyền thụ Nho giáo, các tác phẩm
văn học nghệ thuật chịu ảnh hưởng của Nho giáo. Những sản phẩm ấy làm thành dòng văn
học nghệ thuật quan phương chính thống, tồn tại song hành với dòng văn học dân gian, nghệ thuật
dân gian.
Về ngôn ngữ văn tự, quá trình tiếp biến văn hóa Hán nói chung, Nho giáo nói riêng đã để lại
dấu ấn sâu đậm trong ngôn ngữ và chữ viết ở Việt Nam. Về ngữ âm, tiếng Việt, tiếng Mường đã
biến đổi các phụ âm cuối, hình thành thanh điệu rơi rụng các âm tiết phụ của thời Môn Khơme;
riêng tiếng Việt hiện đại còn i rụng các thợp phụ âm đầu. Về ngữ pháp, tiếng Việt, tiếng
Mường đã rơi rụng các phụ tố tạo từ của thời Môn - Khơme; riêng tiếng Việt hiện đại còn hình
thành các phụ tố tạo từ gốc Hán - Việt, và mượn nhiều cách diễn đạt của tiếng Hán. Về từ vựng,
trong tiếng Việt, tiếng Mường đều có nhiều yếu tố gốc Hán; riêng tiếng Việt đến 70% từ gốc
Hán. Hiện nay, tiếng Việt đang sử dụng một bộ phận từ vựng gốc Hán có số lượng và tần suất sử
dụng rất lớn, bao gồm Hán - Việt cổ, Hán - Việt trung đại, Hán - Việt cận đại (khẩu ngữ của người
Hoa Nam bộ), từ ngữ yếu tố Hán - Việt. Trong vốn từ tiếng Việt, đặc biệt lớp từ vựng văn
hóa, số lượng các yếu tố gốc Hán chiếm một tỷ láp đảo, cả ba cấp độ: từ, ngữ, phụ tố. Bộ phận
từ vựng gốc Hán này bao gồm hầu hết các bình diện văn hóa mà cư dân Việt chịu ảnh hưởng của
văn hóa Hán, trong đó ảnh hưởng rệt nhất các hoạt động văn hóa tinh thần: cách thức tổ
chức xã hội cổ truyền (con người, họ tên, quan hệ thân tộc, tổ chức hành chính, tổ chức quân sự,
bộ máy quan lại...); tín ngưỡng, phong tục, lễ hội (tín ngưỡng, tôn giáo, giáo dục, khoa cử, phong
tục vòng đời, lễ hội...); văn học, nghệ thuật (thuật ngữ, các thể văn hành chính khoa cử, các
thể loại văn học bác học, một số loại hình sân khấu...); ngôn ngữ (đặt địa danh, vay mượn và sao
phỏng từ ngữ, cấu tạo từ mới từ các yếu tố gốc Hán...). Quá trình tiếp biến văn hóa Hán Nho
giáo trong ngôn ngữ ấy tồn tại song hành với quá trình bảo tồn ngữ âm, ngữ pháp, từ vựng gốc
Môn - Khơme, và tiếp biến các ngôn ngữ Tày, Chăm, Hoa, Khơme, Pháp trong tiếng Việt.
Về văn tự, chữ Hán là văn tự chính thức của Việt Nam trong suốt thời phong kiến tự chủ, và vì
phương tiện chuyên dùng chuyển tải Nho giáo, nên chữ Hán thường được gọi chữ Nho, ch
Thánh hiền. Quá trình tiếp biến văn hóa Hán và Nho giáo trong chữ viết ấy tồn tại song hành với
quá trình Việt hóa các văn tngoại lai. Từ khi ra đời dưới thời Trần, chữ Nôm, loại văn tự phái
sinh từ chữ Hán, vừa được dùng để chuyển tải văn hóa dân gian, vừa được dùng để chuyển tải
văn hóa quan phương chính thống theo Nho giáo. đến đầu thế kỷ XX, với phong trào Duy n
- Đông Du, chữ Quốc ngữ, hình thành tthế kỷ XVII, đã phát triển thành văn tự của toàn dân,
giúp chuyển tải những tư tưởng, tri thức mới, thoát ly Nho giáo.
Như vậy, trong chặng đường n 2000 năm tiếp xúc văn hóa Hán của Việt Nam, Nho giáo đã thật
sự tác động mạnh vào xã hội Việt Nam trong hai giai đoạn: Hậu Lê (1428 - 1527) và Nguyễn sơ
(1802 - 1883). Hai đối tượng chịu nh hưởng nhất của Nho giáo văn hóa Hán chủ thể n
hóa và văn hóa tinh thần. Trong chủ thể văn hóa, Nho giáo đã tác động chủ yếu đến các giai cấp,
tầng lớp trên trong xã hội, chứ không ăn sâu bén rễ vào các giai cấp, tầng lớp dưới. Đối với văn
hóa tinh thần, Nho giáo đã góp phần làm hình thành dòng văn hóa quan phương chính thống, chứ
không thay thế được dòng văn hóa dân gian vốn có một bề dày lịch sử gắn với ý thức tộc người,
làm nên cốt lõi của văn hóa tộc người. Tức là, Nho giáo đã làm tách đôi kiến trúc thượng tầng
lOMoARcPSD| 61463864
của hội Việt Nam, làm hình thành dòng văn hóa quan phương theo Nho giáo, song hành đối
lập với dòng văn hóa dân gian bản địa. Hai dòng văn hóa này dung hợp lẫn nhau, ảnh hưởng lẫn
nhau. Nho giáo Việt Nam được Việt hóa một phần, khác với Nho giáo Trung Hoa. Văn hóa
dân gian Việt cũng bị Nho giáo hóa một phần, nhiều phong tục gốc Hán và gốc Việt tồn tại song
song. Cho nên, sẽ rất sai lầm nếu quan niệm hoặc tả văn hóa Việt như một bản sao của n
hóa Hán.
Vả chăng, ảnh hưởng của Nho giáo văn hóa Hán đối với văn hóa Việt Nam cũng chỉ kéo dài
đến cuối thế kỷ XIX. Trong nền văn hóa Việt Nam đương đại, Nho giáo không còn là tôn giáo, ý
thức hệ hay học thuyết chính thống, chỉ là tàn dư trong một số phong tục và nghi lễ.
Những tác hại chính yếu của Nho giáo đối với văn hóa Việt Nam
Trước hết là những tác hại trong lĩnh vực giáo dục. Trong thời Minh thuộc (1407 - 1428), giặc
Minh xóa bỏ nền độc lập của Đại Việt, hủy diệt triệt để tất cả các di sản văn hóa của các triều
đại Lý - Trần, áp đặt nền giáo dục Tống nho cho nho sinh, nho sĩ Đại Việt. Lý do là vào đầu thế
kỷ XV, các nho gia đời Minh chưa xuất hiện, di sản được tôn sùng nhất của Nho giáo đương
thời là Tống nho, với các đại biểu lớn như Chu Đôn Di, Trương Tái, Trình Hạo, Trình Di, Chu
Hi... Sau khi Lê Thái Tổ giành lại độc lập, di sản văn hóa Lý - Trần chỉ còn là mảnh vụn, nên
việc giáo dục của triều Hậu Lê cũng phải dùng tài liệu của Tống nho.
Về chính trị, tư tưởng trung quân của Nho giáo khiến cho nhiều nho thần, nho sĩ Đại Việt đều
dốc sức bảo vệ ngai vàng, khôi phục ngai vàng cho những dòng vua, những ông vua ăn hại, bù
nhìn. Thay vì làm cho non sông nhất thống, họ lại làm cho chính sự suy đồi, đất nước loạn lạc,
dân chúng lầm than. Nhà Mạc giết vua cướp ngôi, sau khi mất nước lại dấy binh làm loạn, vẫn
được nhiều người tôn phò để tái lập vương triều ở Cao Bằng
Về kinh tế, sự độc tôn Nho giáo đã kiềm hãm kinh tế Việt Nam, làm suy yếu các nguồn nội lực,
là một trong những nguyên nhân làm cho Việt Nam mất nước. Do ý thức hệ Nho giáo, một số
nghề nghiệp trong xã hội Việt Nam đã bị coi khinh, mặc dù cần thiết, có ích cho cuộc sống của
con người như nghề xướng ca, nghề thương mại..
Về hội, quan điểm bất bình đẳng của Nho giáo đã chà đạp phụ nữ Việt Nam xuống đất đen.
“Đạo” Nho giáo dành cho người phụ nữ đạo tam tòng: “Tại gia ng phụ, xuất giá tòng phu,
phu tử tòng tử”. “Đức” mà Nho giáo dạy cho phụ nữ là tứ đức: “Công, dung, ngôn, hạnh”. Tất cả
để cho người phụ nữ làm tròn chức trách phục vụ đàn ông. Đã thế, nền giáo dục và khoa cử
theo Nho giáo cũng chỉ dành cho nam giới; gần 100% phụ nữ Việt Nam bị gạt ra ngoài, chỉ được
thụ hưởng giáo dục gia đình, giáo dục dân gian, rất hiếm người được học chữ, học hỏi kiến thức
qua Nho giáo. Vì vậy trong suốt thời trung đại, toàn bộ việc làng, việc nước việc của đàn
ông. Việc của phụ nữ chỉ là “tề gia, nội trợ”, có thể kiêm thêm việc chạy chợ, chạy đồng, đầu tắt
mặt tối, nhưng không vì thế mà địa vị trong gia đình, xã hội của họ được nâng lên. Kết luận
Nho giáo đã làm cho văn hóa tinh thần của Việt Nam thời trung đại bị Hán hóa một phần đáng
kể. Nho giáo ảnh hưởng cả trong văn hóa tinh thần lẫn văn hóa vật chất của Việt Nam. Nho giáo
lOMoARcPSD| 61463864
mặt trái, gây hại cho văn hóa Việt Nam. Văn hóa Việt Nam trước kia rất nhiều lúc, nhiều
nơi không cần Nho giáo. Văn hóa Việt Nam ngày nay càng không cần Nho giáo. Để hình thành
các chuẩn mực đạo đức cho những con người mới Việt Nam, chúng ta cần những sở thuyết
và những giá trị tinh thần kết hợp truyền thống và hiện đại. Trong những giá trị tinh thần truyền
thống, cần chú ý tìm hiểu, phát huy những giá trị truyền thống bản địa Việt Nam, thay vì cố đào
xới lại nấm mồ Nho giáo như một số người vọng ngoại hoài cổ đã làm. Như ý kiến của nhà
nghiên cứu Quang Đạm: “Nói tóm lại, đạo Nho giáo thường xuyên kìm hãm hội chúng ta
thuở trước một trạng thái thấp kém. Trong khuôn khổ thiên hcủa đạo Nho giáo không
con đường nào tốt hơn con đường tìm hướng quay ngược trở về với Tây Chu, với Đường, Ngu.
Trong khi đó, truyền thống Việt Nam vì độc lập của Tổ quốc vì quyền sống chính đáng của cả
dân tộc vẫn không ngừng thể hiện một tinh hoa, một bản sắc không thế lực nào vùi lấp, xóa bỏ
được. Chế độ trị nước trị dân của các thế lực Hán tộc xâm lược và các triều đại phong kiến Việt
Nam, tôn sùng Nho giáo luôn luôn ngăn cản sự vươn lên của truyền thống Việt Nam. Tinh hoa
khí phách Việt Nam cũng luôn luôn tỏ rõ sức sống bất diệt của mình trong mọi hoàn cảnh”.
Câu 7
1. Làng và văn hoá làng
1.1. Khái niệm
Khái niệm Làng gắn với hình ảnh làng xã cổ truyền ở Việt Nam với 3 đặc trưng cơ bản: ý
thức cộng đồng làng (ý thức dân chủ làng xã, cộng đồng trong sản xuất bảo vệ xóm làng, xây
dựng văn hoá, lối sống, đạo đức.v.v...); ý thức tự quản (thể hiện rõ nhất trong việc xây dựng
hương ước); và tính đặc thù độc đáo, rất riêng của mỗi làng (có khi hai làng gần nhau nhưng
không hề giống nhau). Nền văn hoá Việt Nam được tạo dựng trên cơ sở của nền văn minh
nông nghiệp. Cuộc sống của người Việt Nam gắn bó với làng xã, quê hương. Tập tục làng,
truyền thống và văn hoá làng là chất keo đặc thù gắn kết mọi thế hệ thành viên của làng.Cho
đến nay, các nhà nghiên cứu sử học vẫn chưa xác định rõ làng xuất hiện từ khi nào. Nhưng
làng và văn hoá làng được xem là phát triển rực rỡ nhất vào thế kỷ XVI-XVIII. Ngoài ra,
làng và văn hoá làng chỉ có ở Việt Nam, ở nhiều nước làng cũng như tổ chức làng hầu như
không có.
🡪
1.2. Nét đặc chưng
lOMoARcPSD| 61463864
Làng không chỉ là sản phẩm của một nền tổ chức chính trị nhà nước mà nó còn là
sản phẩm văn hoá mang bản sắc người Việt. Văn hoá làng được thể hiện thông qua
các biểu trưng văn hoá mang giá trị truyền thống: cây đa, bến sông, con đê, mái
đình, giếng nước đến các bản gia phả, hương ước, hội hè đình đám, những làn điệu
dân ca, dân vũ. Đó còn là phong tục tập quán, cách ứng xử, tâm lý, tín ngưỡng tôn
giáo, phương thức hoạt động, nghề đặc trưng.v.v…Có thể xem văn hoá làng chính
là những khuôn thước ứng xử nằm sâu trong mỗi con người, những nhân tố tạo nên
tính cộng đồng. Và những ứng xử giữa con người với con người, con người với
thiên nhiên, giữa các cộng đồng với nhau được tổng kết qua kinh nghiệm sống đã
trở thành văn hoá. Văn hóa làng như một dòng nước ngầm không thể nhìn thấy
nhưng lại có sức mạnh chi phối, điều khiển mỗi người trong cộng đồng làng. Các
nhà nghiên cứu văn hoá cũng như sử học Việt Nam đều khẳng định 80% văn hoá
vật thể là ở làng. Đó chính là “cây đa, bến nước, sân đình”, là ngôi chùa hay những
ngôi nhà cổ. Và cũng 80% văn hóa phi vật thể ra đời từ văn hoá làng. Đó là những
phong tục tập quán, lễ hội, tín ngưỡng.v.v…Nói sâu hơn thì văn hoá làng
chính là cái gốc của văn hoá dân tộc. Tổng thể nền văn hóa dân tộc đều mang bản sắc
văn hoá vùng, miền. Mà cái tạo nên văn hoá vùng miền chính là văn hoá làng, đơn v
tổ chức nhỏ nhất. Việt Nam là quốc gia đa dân tộc, mỗi dân tộc có nền văn hóa riêng
biệt. Vì vậy nền văn hóa Việt Nam cũng đa dạng và vô cùng phong phú.
1.3. Nét đặc thù
Với đơn vị là làng, văn hóa đã hiện ra như là những khuôn thước ứng xử nằm ở tầng
sâu trong đời sống cộng đồng; như là hệ thống các giá trị đặc thù qui định và ngầm
điều khiển các quan hệ cộng đồng; như là sự tổng hợp của những kinh nghiệm sống
hình thành qua lịch sử của các cộng đồng. Mỗi con người Việt Nam, nếu có được
cái may mắn là sinh ra và lớn lên ở làng, thì dù đi đâu, về đâu; dù làm nghề nay hay
nghề kia; dù mang quốc tịch này hay quốc tịch khác cũng đều khó có thể thoát ly
khỏi tâm thức làng, lề thói làng, giá trị làng, cái đã ăn sâu vào văn hóa cá nhân.
"Phép vua thua lệ làng" thành ngữ gắn liền với quá trình phát triển của làng Việt. Thông qua
thành ngữ này, văn hóa làng luôn biểu đạt cái đặc trưng riêng, cái có ý nghĩa riêng, cái mang
lại sức mạnh của làng. Lịch sử cho thấy, tất cả những gì là ngoại nhập hay ngoại sinh, nếu
muốn có chỗ đứng thực sự ở làng thì phải tìm cách "chung sống" với văn hóa làng. Chính từ
thực tiễn lịch sử của dân tộc Việt mà chúng ta nhận ra văn hóa làng.
Xác định sự tồn tại hiện thực của văn hóa làng là sự phát triển phù hợp với sự tiến
triển của các ngành tri thức về văn hóa. Có lẽ chỉ khi đặt trong tương quan với các
dạng thức văn hóa vùng và các loại văn hóa cộng đồng khác, mới thấy rõ hơn tính đặc
thù và ý nghĩa của văn hóa làng.
2. Đình làng
Đình làng - một mảnh hồn quê, một nét đẹp của xóm làng Việt Nam, từ lâu đã in
váo tâm khảm của mỗi con người và tỏa sáng trong những áng thơ văn. "Hôm qua
tát nước đầu đình. Để quên chiếc áo trên cành hoa sen". Đã từ rất lâu rồi, khi nói
đến văn hoá làng - nét văn hoá của nông thôn Việt Nam, chúng ta liên tưởng ngay
lOMoARcPSD| 61463864
tới những hình ảnh rất đặc trưng, làm nên biểu tượng của làng quê. Đó là những
hình ảnh của "cây đa, bến nước, sân đình, bụi tre, vườn cây, ao cá...". Từ bao đời
nay, đình làng là hình ảnh thân quen, gắn bó với tâm hồn của mọi người dân Việt, là
nơi chứng kiến những sinh hoạt, lề thói và mọi đổi thay trong đời sống xã hội của
làng quê Việt Nam qua bao thế kỷ. Đình làng trang trọng và thiêng liêng, nó gần
như là đại diện, là biểu tượng của quyền lực làng xã. Nhưng đình làng lại là nơi t
họp mọi người trong mọi sinh hoạt cộng đồng. Đình làng trở thành một nơi thân
quen gần gũi, là nơi ở, là cuộc sống của những người nông dân Việt Nam
2.1. Nét đặc chưng
Đình làng xưa - nét đặc trưng tiêu biểu nhất của làng quê Việt Nam:Từ xưa đến nay,
người dân Việt Nam vẫn thường gọi chung đình chùa, nhưng trên thực tế đình và
chùa không cùng một ý thức văn hóa. Chùa là nơi thờ Phật, ít nhiều có ảnh hưởng
văn hóa Phật giáo đến từ Ấn Độ, Trung Hoa. Còn đình là của cộng đồng làng xã
Việt Nam. Đình là biểu hiện sinh hoạt của người Việt Nam, nơi "cân bằng" phép tắc
của cuộc sống cộng đồng, nơi khai diễn những nét tài năng, tư duy của dân làng,
nhất là về tín ngưỡng, nơi để thờ thần Thành Hoàng làng, người có công với dân,
lOMoARcPSD| 61463864
cứu nước, giữ nước hoặc giúp dân nghề nghiệp sinh sống. Nhìn quanh đình làng, ta sẽ thấy
lòng tri ân, trọng nghĩa, trọng tài, ''uống nước nhớ nguồn'' của người Việt Nam. Tuy đình là
của dân làng nhưng thần không hẳn là người của làng. Hơn nữa người Việt Nam thừa
hưởng nhiều tín ngưỡng cổ sơ, nguyên thủy nên thờ và tôn kính rất nhiều vị thần như: thần
núi, thần biển, thần nước.v.v… ở tất cả những tín ngưỡng ấy, các thế hệ dân Việt Nam tiếp
nối nhau tạo thành một nền vǎn hoá đình, một nền vǎn hóa hỗn hợp, đa dạng, có mặt nhiều
thành phần tôn giáo khiến cho đình trở thành một tập thể siêu thần, thành một sức mạnh vô
hình, tạo một niềm tin, một niềm hy vọng, một sức mạnh vô hình của làng cộng đồng xã
Việt Nam. Ở nước ta vào đầu thời Trần, vua Trần Thái Tông xuống chiếu: "... nơi nào có
đình trạm thì phải tô tượng Phật để thờ trong đình đó" (đình trạm là những kiến trúc được
dựng lên ở các cung độ đường làm nơi cho nhà Vua đi tuần thú hoặc khách bộ hành nghỉ
ngơi). Là bởi thời đó Phật giáo đang chiếm ưu thế. Sang thời Lê, kinh tế hàng hóa phát
triển, những đình trạm cũng được sử dụng làm chợ, nên gọi là đình chợ (như đình ch
Đông Ba - Huế, Xuân Giang - Nghệ Tĩnh).Từ thế kỷ XVI đến XIX có những lúc không có
chiến tranh, người dân có điều kiện phát triển kinh tế nên đình được phát triển hơn. Những
nơi không có chiến tranh như miền Hải Dương, Bắc Ninh, Sơn Tây đình phát triển mạnh
(đình Chu Quyền, đình Đình Bảng, đình Tây
Đằng). Dần dần những ngôi đình làng phát triển ở miền núi, vùng người Tày, người
Nùng (đình Hồng Thái, Tân Trào). Trải qua thời gian, đình làng dần dần thiên di
vào miền Trung, nhất là Bắc Trung Bộ: đình Hoàng Sơn, Chu Cân ở Nghệ An.
Nhưng càng vào Nam càng ít và đến Nam Bộ, ngôi đình chỉ còn là ngôi đền. Đình
tồn tại trên công thổ, công điền của làng. Người từ 18 tuổi trở lên được nhận ruộng
công về làm và nộp hoa lợi cho đình hoạt động. Mỗi khi ra đình phân biệt mâm ăn
và chiếu ngồi, chia phần "một miếng giữa làng hơn một sàng só bếp", "một miếng
lộc thánh bằng một gánh lộc trần"... Như vậy, đình làng diễn ra sự phân chia đẳng
cấp rất chặt chẽ, trọng tuổi hơn trọng chức sắc, là nơi quyết định về kinh tế, chính
trị và tâm tư tình cảm của người dân. Hàng năm đình có lễ hội thường được tổ chức
vào ngày sinh hoặc ngày mất của vị thần được thờ. Lễ hội gắn với truyền thống lịch
sử (sự tích thần đánh giặc, lập làng, dạy nghề), gắn với lễ nghi nông nghiệp (lễ rước
nước). Tế thần là hoạt động lễ, hội tế để biểu thị lòng biết ơn
🡪
của dân làng đối với thần, mong thần tiếp tục phù hộ cho dân làng mạnh khỏe, được
mùa . Lễ vật tế thần là cỗ tam sinh (trâu, bò, dê hoặc lợn) là những sản phẩm nông
nghiệp, là lễ vật kỷ niệm. Nhìn chung, văn hoá đình Việt Nam có tính hoàn toàn độc
lập của một cộng đồng xã hội biết tổng hợp dung hòa mọi nền văn hóa khác thành
một nét văn hóa riêng nhằm phục vụ an ninh cho dân tộc mình, trong ấy, yếu tố chủ
yếu vẫn là thờ cúng những người có công với làng xã, người anh hùng dựng làng lập
nước và bảo vệ đất nước.
2.2. Kiến trúc
Đình làng - Một kiến trúc điêu khắc Việt truyền thống: Kiến trúc đình làng mang
đậm dấu ấn văn hóa, độc đáo và tiêu biểu cho kiến trúc điêu khắc Việt truyền thống.
Thế kỷ XVIII, Việt Nam có khoảng 11.800 làng xã. Mỗi làng có một cụm

Preview text:

lOMoAR cPSD| 61463864
Đề cương cơ sở văn hóa Việt Nam
Câu 1:Phân tích một quan niệm về văn hóa mà anh/chị cho là tiêu biểu nhất? Phân biệt
văn hóa với văn minh, lấy ví dụ cụ thể từ nền văn hóa Việt Nam. A,
*Quan niệm về văn hóa của Hồ Chí Minh:”Vì lẽ sinh tồn cũng như mục đích của cuộc sống,
loài người mới sáng tạo và phát minh ra ngôn ngữ, chữ viết, đạo đức, pháp luật, khoa học, tôn
giáo, văn học, nghệ thuật, những công cụ cho sinh hoạt hằng ngày về ăn, mặc, ở và các phương
thức sử dụng toàn bộ những sáng tạo và phát minh đó tức là văn hóa. Văn hóa là sự tổng hợp
của mọi phương thức sinh hoạt cùng với biểu hiện của nó mà loài người đã sản sinh ra nhằm
thích ứng những nhu cầu đời sống và đòi hỏi của sự sinh tồn”. *Phân tích quan niệm:
-Quan niệm đã nêu ra cấu trúc của văn hóa, bao gồm: +Văn hóa vật chất +Văn hóa tinh thần
+Tổng hợp phương thức sinh hoạt
-Quan niệm bàn đến đặc trưng của văn hóa: tính vị nhân sinh, được thể hiện ở hai phương diện:
con người là chủ thể sáng tạo ra văn hóa, đồng thời cũng là chủ thể hưởng thụ văn hóa.
-Nhấn mạnh chức năng của văn hóa, trong đó có hai chức năng quan trọng là: duy trì đời sống xã
hội, phục vụ đời sống của con người và từ đó nâng cao giá trị của cuộc sống.
-Nhìn nhận các vấn đề trong quan hệ logic tổng hợp.
-Về hình thức: phát biểu mang tính chất quan niệm, không phải học thuật.
B, Phân biệt văn hóa với văn minh: Văn hóa Văn minh
-Văn hóa có đặc trưng lịch sử truyền thống. Ta -Văn minh gắn với hiện đại và thành tựu
có thể chứng minh qua nền văn hóa Việt Nam
khoa học kĩ thuật hiện đại. Nói dến văn
giàu truyền thống lịch sử: truyền thống yêu
minh, ta thường nhớ đến một nét nghĩa
nước, uống nước nhớ nguồn, yêu thương đồng
chung là “trình độ phát triển”, một lát cắt loại… đồng đại.
Ví dụ nền ta nói văn minh nhân loại phát
-Là một quá trình tích lũy và được sang lọc lâu triển rực rỡ với sự ra đời của điện và hệ
dài. Văn hóa Việt Nam trải qua mấy ngàn năm
thống máy móc hiện đại.
đã giữ lại được nhiều nét văn hóa đẹp, giàu bản -Là những sáng tạo, phát kiến mang tính cá
sắc và loại bỏ đi những văn hóa cổ hủ, không nhân.
theo kịp thời đại(trọng nam khinh nữ, tảo
Ví dụ như Thomas Edison phát minh ra hôn,..)
bóng đèn, Anbe phát minh ra chiếc máy lOMoAR cPSD| 61463864
-Mang tính cộng đồng, dân tộc, bản sắc. Văn tính đầu tiên…
hóa Việt Nam không được tạo từ một người,
-Mang giá trị phổ thông toàn nhân loại,
hay một nhóm người mà là thành quả chung
quốc tế. Văn minh mang nét nghĩa rộng lớn,
của cộng đồng người Việt, từ nhiều dân tộc
là thành quả của toàn nhân loại, được toàn
Việt. Vì vậy mà trở nên vô cùng đa dạng và
thể con người công nhận và sử dụng. -Thay đậm dà bản sắc
đổi liên tục. Để phù hợp với sự thay đổi của
-Được bảo lưu, duy trì, ổn định, gắn với thói
xã hội, văn minh biến đổi theo. Trước
quen, tập quán, tâm linh. Dân tộc Việt Nam duy kia,con người luôn cho rằng trái đất đứng
trì được nhiều nét đẹp văn hóa như thờ cúng tổ yên nhưng đến thế kỉ 17,con người đã thay tiên, biết ơn,…
đổi cách nhìn và cho rằng trái đất quay
-Văn hóa gắn bó với nhiều hơn vơi phương quanh mặt trời.
Đông nông nghiệp. Văn hóa Việt Nam được
hình thành ven lưu vực các con song lớn, thuân -Văn minh gắn bó nhiều hơn với phương
lợi cho sản xuất nông nghiệp.
Tây đô thị. Phương Tây có nhiều phát minh hiện đại.
Câu 2: Trình bày đặc trưng và chức năng của văn hóa *Đặc trưng của văn hóa
Các nhà nghiên cứu về văn hóa trong và ngoài nước đúc kết thành nhiều đặc trưng của văn hóa,
trong đó nổi bật nhất bà bốn đặc trưng cơ bản sau: -
Một là, tính hệ thống. Văn hóa là một hệ thống hữu cơ các giá trị về văn hóa vật chất, văn
hóa xã hội và văn hóa tinh thần của cộng đồng người. Từ những thành tố căn bản này đã nẩy sinh
và bao gồm những tập hợp nhỏ nhiều tầng bậc khác nhau tạo thành một tổng thể phức tạp, phong phú. -
Hai là, tính giá trị. Văn hóa bao gồm các giá trị (giá trị thuộc về đời sống vật chất, giá trị
thuộc về đời sống tinh thần) trở thành thước đó về mức độ nhân bản của xã hội và con người.
Trong lịch sử phát triển của nhân loại có giá trị của văn hóa để tồn tại và có giá trị của văn hóa để phát triển. -
Ba là, tính lịch sử. Văn hóa bao giờ cũng được hình thành qua một quá trình và được tích
lũy qua nhiều thế hệ, là những thành tựu do cộng đồng người trong quá trình tương tác với môi
trường tự nhiên và xã hội mà được sáng tạo và luôn hướng tới sự hoàn thiện để đạt đến tính giá trị. -
Bốn là, tính nhân sinh. Văn hóa là một hiện tượng thuộc về xã hội loài người, gắn liền với
hoạt động thực tiễn của con người, là những giá trị do một cộng đồng người sáng tạo ra, thuộc về
con người, ở trong con người và mang dấu ấn người. Điều đó cho thấy, con người vừa là chủ thể
của văn hóa, đồng thời là khách thể của văn hóa, lại vừa là sản phẩm văn hóa.
*Chức năng của văn hóa:
+Chức năng tổ chức xã hội
+Chức năng điều chỉnh xã hội +Chức năng giao tiếp +Chức năng giáo dục lOMoAR cPSD| 61463864
*Phân tích một đặc trưng và chức năng của văn hóa:
Đặc trưng quan trọng của văn hóa là tính giá trị. Văn hóa theo nghĩa đen nghĩa là “trở thành đẹp,
thành có giá trị”, tính giá trị cần để phân biệt giá trị với phi giá trị. Nó là thước đo mức độ nhân
bản của xã hội và con người.
Các giá trị văn hóa, theo muc đích cố thể chia thành giá trị vật chất (phục vụ cho nhu cầu vật chất)
và giá trị tinh thần (phục vụ cho nhu cầu tinh thần), theo ý nghĩa có thể chia thành giá trị sử dụng,
giá trị đạo đức và giá trị thấm mĩ theo thời gian có thể phân hiệt các giá trị vĩnh cừu và giá trị
nhất thời. Sự phân biệt các giá trị theo thời gian cho phép ta có đươc cái nhìn hiện chứng– và
khách quan trong việc đánh giá tính giá trị của sự vật, hiện tượng; tránh được những xu hướng
cực đoan – phủ nhận sạch trơn hoặc tán dương hết lời.
Vì vậy mà, về mặt đồng đại, cùng một hiện tượng có thể có giá trị nhiều hay ít tùy theo góc nhìn,
theo bình diện được xem xét. Muốn kết luận một hiện tượng có thuộc phạm trù văn hóa hay không
phải xem xét mối tương quan giữa các mức độ “giá trị” và “phi giá trị” của nó. về mặt lịch đại,
cùng một hiện tượng sẽ có thể có giá trị hay không tùy thuộc vào chuẩn mực văn hóa cùa từng
giai đoạn lịch sử. Áp dụng vào Việt Nam, việc đánh giá chế độ phong kiến, vai trò của Nho giáo,
các triều đại nhà Hồ, nhà Nguyễn… đều đòi hỏi một tư duy biện chứng như thế. Nhờ thường
xuyên xem xét các giá trị mà văn hóa thực hiện được chức năng quan trọng thứ hai là chức năng
điều chỉnh xã hội, giúp cho xã hội duy trì được trạng thái cân bằng động, không ngừng tự hoàn
thiện và thích ứng với những biến đổi của môi trường, giúp định hướng các chuẩn mực, làm động
lực cho sự phát triển của xã hội. *Lấy ví dụ chứng minh
Câu 3:Văn hóa Việt Nam thuộc về loại hình văn hóa gốc nông nghiệp điển hình với những
đặc trưng chủ yếu sau đây:
Do vị trí địa lý nằm ở góc tận cùng phía Đông-Nam Châu Á nên Việt Nam thuộc loại hình văn
hóa gốc nông nghiệp trồng trọt điển hình. Tất cả những đặc trưng của loại hình văn hóa gốc nông
nghiệp trồng trọt đều được thể hiện rất rõ nét trong đặc trưng văn hóa Việt Nam.
-Trong ứng xử với môi trường tự nhiên luôn có ý thức tôn trọng và sống hòa hợp với thiên nhiên,
tôn sùng thiên nhiên, thể hiện đức hiếu sinh
Cư dân Việt Nam chủ yếu sinh sống bằng nghề nông, trong cách ứng xử với tự nhiên, do nghề
trồng trọt buộc người dân phải sống định cư để chờ cây cối lớn lên, đơm hoa, kết trái và thu
hoạch, từ đó ưa thích lối sống ổn định, cho rằng” An cư lạc nghiệp” . Do sống phụ thuộc vào
thiên nhiên nên cư dân nông nghiệp có ý thức tôn trọng và ước vọng sống hòa hợp với thiên
nhiên. Người Việt Nam mở miệng ra là nói “ nhờ trời”, “lạy trời”… Các tín ngưỡng và lễ hội
sung bái tự nhiên rất phổ biến ở các tộc người trên khắp mọi vùng đât nước. -
Vì sống bằng kinh tế nông nghiệp, nhất là nông nghiệp lúc nước, ở đó con người có sự
phụthuộc vào các hiện tượng tự nhiên (như trời, đất, nước, nắng, mưa...), nên trong nhận thức đã
hình thành một lối tư duy tổng hợp, trọng quan hệ, trọng tình biện chứng, thiên về kinh nghiệm,
trực giác, cảm tính và duy linh (linh cảm).
Vì nghề nông, nhất là nghề nông nghiệp lúa nước, cùng một lúc phụ thuộc vào nhiều yếu tố thiên
nhiên như : thời tiết, nước, khí hậu,... “ trông trời, trông đất, trông mây; trông mưa, trông gió,
trông ngày, trông đêm…” nên về mặt nhận thức, hình thành nên lối tư duy tổng hợp- biện chứng,
nặng về kinh nghiệm chủ quan cảm tính: sống lâu lên lão làng, trăm hay không bằng tay quen… lOMoAR cPSD| 61463864
Người làm nông quan tâm không phải là từng yếu tố riêng lẻ mà là những mối quan hệ giữa
chúng. Người Việt tích lũy được một kho kinh nghiệm hết sức phong phú về các loại quan hệ
này: Quạ tắm thì ráo, sáo tắm thì mưa; Được mùa lúa thì úa mùa cau, được mùa cau thì đau mùa
lúa; Chuồn chuồn bay thấp thì mưa, bay cao thì nắng, bay vừa thì râm…
-Trong tổ chức cộng đồng, con người nông nghiệp ưa tổ chức xã hội theo nguyên tắc trọng tình,
chuộng sự hòa thuận, tương trợ, quan tâm đến những láng giềng. -
Lối sống trọng tình đưa đến thái độ trọng đức, trọng văn, trọng Mẫu đề cao nguyên lý Mẹ.
- Nguyên tắc trọng tình cũng là cơ sở của tâm lí hiếu hòa, chuộng sự bình đẳng, dân chủ, đề cao
tính cộng đồng, tính tập thể.
Về mặt tổ chức cộng đồng, người Việt có lỗi sống cố định lâu dài nên tạo ra những mối quan hệ
tình cảm thân thiết, gắn bó, hình thành nên lối sống
trọng tình.. Nhưng cũng từ đây hình thành lối sống tự trị, khép kín, hướng nội. Lỗi sống trọng
tình cảm tất yếu dẫn đến thái độ trọng đức, trọng văn, trọng phụ nữ. Trong ngôi nhà của người
Việt rất coi trọng gian bếp, thể hiện sự coi trọng phụ nữ. Người Việt coi: Nhất vợ nhì trời; Lệnh
ông không bằng cồng bà… Người phụ nữ cũng được xem là người có vai trò quyết định trong
việc giáo dục con cái: Phúc đức tại mẫu; Con dại cái mang… Sự gắn bó cộng đồng tạo nên lối
sống trọng tình nghĩa: Lá lành đùm lá rách; Bầu ơi thương lấy bí cùng…; các quan hệ ứng xử
thường đặt lý cao hơn tình: Một bồ cái lý không bằng một tí cái tình. -
Lối tư duy tổng hợp biện chứng, cộng với nguyên tắc trọng tình dẫn đến lối sống linh
hoạt,luôn ứng biến cho phù hợp với từng hoàn cảnh cụ thể. - Tư duy tổng hợp và phong cách linh
hoạt của văn hóa nông nghiệp còn quy định thái độ dung hợp trong tiếp nhận các yếu tố khoan
dung trong ứng xử, mềm dẻo trong đối phó.
Lối tư duy tổng hợp – biện chứng, luôn đắn đo cân nhắc của người làm nông nghiệp cộng với
nguyên tắc trọng tình đã dẫn đên lối sống linh hoạt, luôn thay đổi để thích hợp với từng hoàn
cảnh: Ở bầu thì tròn, ở ống thì dài; Đi với bụt mặc áo cà sa, đi với ma mặc áo giấy; … Mặt trái
của tính linh hoạt là thói tùy tiện biểu hiện ở tật co giãn giờ giấc, sự thiếu tôn trọng pháp luật, tệ
đi “ cửa sau” để giải quyết công việc( Nhất quen, nhì thân, tam thần, tứ thế).
Vì sống theo tình cảm nên mọi người phải biết tôn trọng và cư xử bình đẳng, dân chủ với nhau.
Lối sống trọng tình và cách cư xử dân chủ dẫn đến tâm lý coi trọng cộng đồng, coi trọng tập thể.
Người nông nghiệp làm gì cũng phải tính đến tập thể, luôn có tập thể sau lưng.
Trong lối ứng xử với môi trường xã hội, tư duy tổng hợp vfa phong cách linh hoạt còn quy định
thái độ dung hợp trong tiếp nhận: ở Việt Nam không những không có chiến tranh tôn giáo mà
mọi tôn giáo đều được tiếp nhận. Đối phó với các cuộc chiến tranh xâm lược người Việt Nam
luôn hết sức mềm dẻo, hiếu hòa.
Như vậy, hầu như tất cả những đặc trưng của loại hình văn hóa gốc nông nghiệp trồng trọt đều
được thể hiện rõ nét trong cách tố chức đời sống, phương thức tư duy, lối ứng xử của người Việt truyền thống.
- Tuy nhiên, mặt trái của tính linh hoạt và trọng tình là nó dẫn đến thái độ tùy tiện, coi thường
tính nguyên tắc, ý thức tổ chức kỷ luật kém.
Văn minh nông nghiệp kéo dài đã làm chậm sự phát triển của tiến trình lịch sử Việt Nam, không
tạo ra được những tiền đề và điều kiện để bức ra khỏi cái khung phong kiến phương Đông, làm lOMoAR cPSD| 61463864
hạn chế tính năng động, sáng tạo của con người Việt Nam và dẫn đến sự trì trệ của xã hội Việt Nam.
Câu 4: Vai trò của văn hóa trong sự phát triển
*Văn hóa là nền tảng tinh thần của xã hội
-Đào tạo con người theo các giá trị chân-thiện-mĩ
-Hình thành trong phẩm chất mọi thành viên trong xã hội ý thức phát huy các tiềm năng về thể
lực, trí lực và nhân cách
-Tích cực xây dựng một môi trường văn hóa lành mạnh để có đủ sức đề kháng đẩy lùi các tiêu
cực xã hội, bài trừ những văn hóa phản tiến bộ.
*Văn hóa là động lực thúc đẩy sự phát triển của xã hội
-Sự phát triển của một dân tộc gắn liền với cái mới nhưng không tách rời cội nguồn, văn hóa -
Con người là nhân tố có vai trò quan trọng và là không thể thiếu trong sự phát triển của kinh tế, xã hội
-Văn hóa có khả năng tiếp thu và cải biên những yếu tố văn hóa ngoại sinh để biến thành ngoại
lực thúc đẩy sự phát triển của kinh tế, xã hội
-Văn hóa sẽ giải phóng và nhân lên mọi tiềm năng sáng tạo của con người trong mọi lĩnh vực đời
sống xã hội mà trước hết là kinh tế
*Văn hóa là mục tiêu của sự phát triển
-Mục tiêu của sự phát triển ở nước ta: “Dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh”
Trong chiến lược phát triển kinh tế 2011-2020:
-Xác định: phát huy tối đa nhân tố con người, con người là chủ thể, nguồn lực chủ yếu và là mục
tiêu của sự phát triển”
-Yêu cầu: Tăng trưởng kinh tế kết hợp hài hòa với phát triển văn hóa, thực hiện công bằng xã hội,
không ngừng nâng cao chất lượng cuộc sống của nhân dân”.
*Văn hóa là mục tiêu của sự phát triển
-Phát triển phải hướng tới mục tiêu văn hóa- xã hội mới đảm bảo được sự bền vững và trường tồn
cho sự giàu mạnh của tổ quốc.
🡪Văn hóa có vai trò đặc biệt quan trọng trong việc bồi dưỡng, phát huy nhân tố con người và xây
dựng xã hội mới.Văn hóa giúp mở rộng hiểu biết, nâng cao dân trí, giúp bồi dưỡng tư tưởng đúng
đắn và tình cảm cao đẹp cho con người, cho nhân dân Việt Nam lí tưởng độc lập dân tộc gắn với
chủ nghĩa xã hội, đồng thời bồi dưỡng phong cách, lối sống lành mạnh, hướng con người đến
chân-thiện-mĩ để hoàn thiện bản thân.
Câu 5: Trình bày vai trò của Phật giáo trong đời sống văn hóa Việt Nam
Đạo Phật truyền bá ở Việt Nam tính đến nay đã gần 2000 năm, trải qua các thời kỳ lịch sử
của đất nước, Phật giáo từ lâu vốn đã đi sâu vào quần chúng nhân dân Việt Nam, gắn bó
với sinh hoạt cộng đồng của người Việt, một sự gắn bó tự nhiên không do áp đặt của chính
quyền, cả khi Phật giáo được tôn là Quốc giáo...
lOMoAR cPSD| 61463864
Nguồn gốc đạo Phật
Dạo Phật là một trong những tôn giáo lớn của thế giới, được ra đời vào khoảng thế kỷ VI trước
công nguyên, ở vùng phía Tây Bắc Ấn do thái tử Tất Đạt Đa sáng lập, hiệu là Sakyamuni (Thích Ca Mâu Ni).
Đạo Phật ra đời trong hoàn cảnh rối ren của xã hội Ấn Độ bấy giờ. Thế kỷ VI trước Công
nguyên, lúc này Ấn Độ đang trong thời kỳ chiếm hữu nô lệ. Sự phân chia đẳng cấp ngặt nghèo
sâu sắc. Thời kỳ này xã hội Ấn Độ chia làm bốn đẳng cấp cách biệt nhau…. Đẳng cấp Bà la
môn (địa vị cao nhất); đẳng cấp Sát đế lỵ (dòng họ vua quan, quý tộc); đẳng cấp Vệ xá (gần
những người giàu có, buôn bán thủ công), đẳng cấp Thủ đà la (nô lệ). Ngoài ra còn có một tầng
lớp người thuộc hàng cùng khổ dưới đáy xã hội, bị mọi người khinh rẻ. Trước khi có sự ra đời
của đạo Phật, mâu thuẫn giữa các đẳng cấp trên hết sức gay gắt được thể hiện trong những cuộc
đấu tranh mang tính chất toàn xã hội. Cùng thời điểm này Ấn Độ đã và đang diễn ra cuộc đấu
tranh giữa các nhà duy vật và duy tâm, đấu tranh giữa các tôn giáo, bởi lẽ bên cạnh sự thống trị
của đạo Bà la môn còn có sự hiện diện của Phệ đà giáo và một số giáo phái khác, đồng thời tư
tưởng duy vật thô sơ và tư duy biện chứng đã xuất hiện.
Hoàn cảnh xã hội và những tư tưởng quan niệm trên đã trực tiếp hoặc gián tiếp góp phần
thúc đẩy sự ra đời của đạo Phật.
Bỏ qua những truyền thuyết về Tất Đạt Đa tìm đường cứu khổ cho chúng sinh mà sáng lập ra
đạo Phật thì có thể thấy rằng thực chất Phật giáo ra đời là do kết quả của cuộc đấu tranh gay
gắt giữa các giai cấp, đấu tranh giữa thần quyền và thế quyền, giữa những người nắm kinh tế
của xã hội và những người nắm tư tưởng xã hội. Cuộc đấu tranh ấy đã lôi kéo đông đảo quần
chúng nghèo khổ tham gia, thay bằng thành quả bình đẳng thật sự nơi trần gian, quần chúng đã
nhận được sự bình đẳng trong tư tưởng, nơi gọi là cõi Niết bàn của nhà Phật.
Giáo lý của đạo Phật tập trung vào hai vấn đề, một là sự khổ não, hai là sự giải thoát ra khỏi khổ
não ấy. Khổ não là bởi sự luân hồi, thoát khỏi vòng luân hồi thì khỏi khổ, mà muốn thoát khỏi
vòng luân hồi thì phải bỏ hết tham, sân, si trên trần thế. Khi thoát khỏi vòng luân hồi con người
mới chứng được trạng thái Niết bàn, Cực lạc.
Đạo Phật là một tôn giáo vô thần, không cùng bản chất như mọi tôn giáo khác. Đạo Phật còn có
một số đặc điểm riêng: Đạo Phật không quan niệm về đấng sáng tạo ra thế giới. Thế giới tự nó
vận động, phát triển thông qua luật vô thường nhân quả. Sự vận động ấy diễn ra trong không
gian và thời gian, đạo Phật sơ kỳ ở Tiểu thừa mang nhiều tính duy vật những quan niệm của đạo
Phật về thế giới về con người, về vận động mang hình thức biện chứng. Các giáo lý đạo Phật
chứa đựng nhiều nội dung đạo đức, hướng thiện. Đồng thời cũng phủ nhận một cách gián tiếp
những mâu thuẫn, xung đột xã hội.
Đạo Phật Việt Nam
Với những đặc điểm đó, cùng với giáo lý của mình đạo Phật đã tìm được chỗ đứng của mình
trong lòng xã hội Việt Nam.
Đạo Phật được truyền bá vào Việt Nam ngay từ đầu Công nguyên bằng hai con đường; đường
thủy thông qua con đường buôn bán với thương gia Ấn Độ. Đường bộ thông qua giao lưu văn
hóa với Trung Quốc mà Trung Quốc khi ấy cũng tiếp nhận Phật giáo được truyền bá từ Ấn Độ.
Như vậy Phật giáo Việt Nam mang cả sắc thái Phật giáo Ấn Độ và Trung Quốc. lOMoAR cPSD| 61463864
Đạo Phật truyền vào Việt Nam không phải thông qua con đường chiếm lược, không phải do sự
cưỡng chế của Trung Hoa mà thông qua đường giao thương buôn bán. Đạo Phật đến bằng con
đường hòa bình, những giáo lý của đạo Phật về bình đẳng, bắc ái, cứu khổ cứu nạn…gần gũi
với cư dân Việt Nam do đó dễ được chấp nhận. Mặt khác thời kỳ này còn có các tín ngưỡng bản
địa của cư dân nông nghiệp lúa nước, cộng với sự tồn tại của Nho giáo, đạo lão được Trung
Quốc truyền vào, tuy nhiên các tín ngưỡng, tôn giáo đó còn có nhiều mặt khuyết thiếu đối với
đời sống tâm linh cộng đồng và đạo Phật đã bổ sung vào chỗ thiếu hụt đấy. Vì vậy đạo Phật ở
Việt Nam được giao thoa bởi các tín ngưỡng bản địa.
Đạo Phật truyền bá ở Việt Nam tính đến nay đã gần 2000 năm, trải qua các thời kỳ lịch sử của
đất nước, Phật giáo từ lâu vốn đã đi sâu vào quần chúng nhân dân Việt Nam, gắn bó với sinh
hoạt cộng đồng của người Việt, một sự gắn bó tự nhiên không do áp đặt của chính quyền, cả khi
Phật giáo được tôn là Quốc giáo. Sự tồn tại lâu dài của Phật giáo trong đời sống kinh tế, chính
trị, xã hội đã đem lại những đóng góp đáng kể cho văn hóa, tư tưởng, kinh tế, chính trị trong
diễn trình lịch sử Việt Nam.
Người ta thường xếp tôn giáo vào phạm trù văn hóa, Phật giáo là một sự kiện tôn giáo, cũng là
một sự kiện văn hóa. Phật giáo truyền từ Ấn Độ sang Việt Nam vốn không phải là một sự kiện
đơn độc, mà kéo theo nó (hoặc trước, hoặc sau, hoặc đồng thời với nó) là cái ảnh hưởng của
tổng thể văn hóa Ấn Độ đối với văn hóa Việt Cổ, ảnh hưởng ấy diễn ra trên nhiều lĩnh vực
như: Nông nghiệp, y dược, âm nhạc vũ đạo ngôn ngữ…
Điều quan trọng là văn hóa Việt cổ tiếp thu một lượng quan trọng ảnh hưởng của văn hóa Ân
Độ qua ngả đường Phật giáo vào suốt thời Bắc thuộc, khi ảnh hưởng của văn minh Trung Hoa
tràn lên trên đất Việt và mang khuynh hướng đồng hóa rõ rệt.
Ngoài đóng góp làm cho văn hóa Việt Nam thêm phong phú, khách quan mà nói ảnh hưởng của
văn hóa Ấn Độ là một đối trọng của ảnh hưởng văn hóa Trung Hoa trên đất Việt. Nó có tác
dụng trung hòa ảnh hưởng quá mạnh mẽ vào nền văn minh Trung Hoa; nó góp sức cùng cơ tầng
văn hóa Việt cổ ngăn chặn khuynh hướng đồng hóa của văn minh Trung Hoa, nó được hội nhập
vào văn hóa Việt Nam làm giàu thêm nền văn hóa Việt, góp phần làm nên cái khác của văn hóa
Việt so với văn hóa Trung Hoa.
Lấy một ví dụ cụ thể: Ở Thăng Long đời Lý, Hoàng Thành Thăng Long mở 4 cửa, nếu ở phía
cửa Bắc thờ thánh Trấn Vũ – Trấn Vũ là một vị thần linh Trung Hoa được hội nhập vào đất Việt
thì ở cửa Đông lại thờ thần Bạch Mã là ảnh hưởng của Ấn Độ, và cửa Tây Long thành được
mang tên “Quảng Phúc Môn”, mở ra phía Tây để mong phúc lớn rộng “phúc đẳng hà sa” của
đức Phật ở Tây Thiên.
Và đạo Phật trong buổi đầu thời Bắc thuộc và chống Bắc thuộc là một đối tượng của Nho giáo
mà Trung Hoa đem sang Việt Nam. Khi mà Phật giáo bị suy sút ở thượng tầng, thì ở chốn làng
quê “cơ sở hạ tầng” Phật giáo lại tỏa ra dân chúng. Thời Lý Trần Phật giáo là Phật giáo quý
tộc, còn sang thời Lê Nguyễn Phật giáo là Phật giáo dân gian, nhân gian (hay là được dân gian
hóa – từ sau thế kỷ XV). Nếu như Quân chủ Việt Nam dựng ra cái đình ở làng quê với tư cách
như một “tiểu triều đình” trọng nam khinh nữ ở chốn đình Trung, thì dân dã quê Việt Nam vẫn
giữ và dựng cái chùa, cái “chùa làng” của dân gian chứ không phải cái quốc tự của triều đình
và những ai trước hết là nữ giới bị loại bỏ khỏi sinh hoạt đình Trung thì đã có một tổ chức,
một trung tâm sinh hoạt tâm linh là ngôi chùa. Thời nhà Lê, Nguyễn “đất vua, chùa làng” (đất lOMoAR cPSD| 61463864
của vua, chùa của làng) tức “chùa làng” đã trở thành đối trọng của đình làng, và bảo trợ cho
một quá nửa lực lượng của dân tộc là “đàn bà”. Chính từ sự bảo trợ này mà Phật giáo Việt
Nam có được chỗ đứng thêm vững vàng trên đất Việt.
Khi đạo Phật vào Việt Nam, nếu nó chỉ có một kinh điển bất động không thôi thì sẽ không có
tác dụng chủ yếu nào cả, mà tác dụng của nó như thế nào là do sự tổ chức, tuyên truyền giáo
dục cải tạo của những người tiên phong thấm nhuần sâu sắc học thuyết Phật giáo. Lúc bấy giờ
đã có những vị thiền sư Việt Nam ý thức và chấp nhận tính nhân đạo đại trí, đại dũng của Phật
giáo, phù hợp với tinh thần anh dũng bất khuất, lòng thương người khổ đau và đặc tính phân
biệt thiện ác, chánh tà của quần chúng nhân dân Việt Nam ta. Từ sự thấm nhuần tư tưởng Phật
giáo xây dựng con người tốt cá biệt gắn liền với phát huy bản chất con người xã hội
“Chư ác mạc tác – chúng thiện phụng hành
Tự tịnh kỳ ý – Thị chư Phật giáo”
Không hành ác tức không làm cho mình trở thành một tội khổ cho mình và cho người khác, là
lời khuyên đầu tiên của đức Phật, tiếp theo là sự hành thiện, là hãy trở nên một phúc báu cho
mình và cho người khác, lời kêu gọi cuối cùng là tự giữ tư tưởng cho trong sáng, đó là các điều
giáo dục của Phật. Đối với các quốc gia dân tộc khác, lời dạy của Phật trên đây có thể chỉ có
tầm giáo dục về tâm lý hay luân lý thông thường. Nhưng đối với hoàn cảnh và tình hình đất
nước ta ngay từ xa xưa luôn địch họa rình rập, thì lời giáo dục ấy của Phật qua khí tiết, tính Việt
Nam đã làm cho Phật giáo Việt Nam lại mang theo một ý nghĩa sâu sắc khác.
Không làm các việc ác cũng có nghĩa là chống ác, làm các việc lành, có đức cũng có nghĩa là
liên minh với chân chính với thiện mỹ với chính nghĩa của nhân dân.
Phật giáo du nhập vào Việt Nam rất sớm, với tinh thần “Từ bi – hỷ xả - vô ngã – vị tha”, năng
động hóa bởi đạo lý Bát chính đạo, là điều giáo dục phổ biến đối với dân tộc ta, dân tộc thường
xuyên bị những thế lực xâm lược đem theo sự thống trị đầy rãy những cái ác bất nhân, gieo
mầm bất nghĩa, trái đạo lý dân tộc. Bởi thế Phật giáo phương xa đến Việt Nam đã đương nhiên
trở thành Phật giáo Việt Nam với tư tưởng yêu nước là chủ yếu. Tư tưởng yêu nước này được
xác minh qua nhiều thế hệ, suốt dòng lịch sử tranh đấu giữ nước và dựng nước của dân tộc ta,
phù hợp với tư tưởng “Chư ác mạc tác” và nghĩa vụ “Chúng thiện phụng hành” của giáo lý nhà Phật.
Phật giáo Việt Nam nhập thế
Từ các vị thiền sư Việt Nam đến không ít các vị vua, các anh hùng dân tộc Phật tử đã thấm
nhuần tư tưởng yêu nước, trở thành mối quan hệ khăng khít giữa Phật giáo Việt Nam với lịch sử
tư tưởng Việt Nam. Hơn nữa trong suốt hai cuộc kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ cứu
nước, nhiều chùa chiền Phật giáo Việt Nam là cơ sở bao che nuôi dưỡng cán bộ, chiến sĩ cách
mạng, những Tăng, Ni, Phật tử nằm trong các đoàn thể cứu quốc, đoàn thể Phật giáo yêu nước,
hòa mình vào các sinh hoạt cách mạng.
Phật giáo Việt Nam vừa là một học thuyết giải thoát về thuật sống lương thiện tốt đẹp cho con
người Việt Nam, vừa là một học thuyết qua tinh thần Tứ ân có ơn với tổ quốc là trọng đại – đã
thực sự góp phần trong việc hình thành nền tư tưởng Việt Nam, văn hóa dân tộc Việt Nam,
trong đó tư tưởng yêu nước là chủ yếu.
Phật giáo đã có rất nhiều đóng góp to lớn cho nền tảng tư tưởng văn hóa Việt Nam. Trước hết
Phật giáo đã đóng vai trò tích cực trong các cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc của nhân dân lOMoAR cPSD| 61463864
Việt Nam, góp phần làm phong phú thêm tâm hồn, đạo đức, hành vi cư xử của người Việt, làm
phong phú thêm nền văn hóa dân tộc. Trước sự đòi hỏi của dân tộc, của tín đồ Phật giáo, Phật
giáo Việt Nam đã đóng góp tích cực cho nền văn hóa nước nhà.
Dân tộc Việt Nam có cái duyên là đã được tiếp nhận đạo Phật, đạo Phật có cái duyên là tìm
được chỗ đứng cho mình trong cộng đồng người Việt Nam. Cái cộng đồng dựa trên nền tảng
kinh tế tự nhiên, tự cấp, tự túc, với quan niệm làng xã cổ truyền, với tín ngưỡng đa thần đã tiếp
nhận đạo Phật và cải biến nó cho ít nhiều phù hợp với cộng đồng ấy.
Cộng đồng người Việt tiếp nhận Phật giáo, đồng thời tiếp nhận những tư tưởng bình đẳng, bắc
ái, vô ngã, vô thường…ở đạo Phật, những tư tưởng này cùng với những tư tưởng cộng đồng cổ
truyền đã làm cản trở cho quá trình phân hóa giai cấp, làm dịu những xung đột giai cấp trong xã
hội. Trong thời gian tới, Phật giáo tồn tại và thậm chí tiếp tục phát triển mạnh ở Việt Nam. Phật
giáo đóng góp phần tích cực của nó bằng cách tự làm trong sạch bản thân, xóa bỏ những yếu tố
mê tín lỗi thời. Phật giáo góp phần cân bằng cuộc sống ngày càng quay cuồng với nhịp độ cao
và Phật giáo góp phần hướng thiện cho con người.
Việc cải tiến nghi lễ, và hiện đại hóa là một xu hướng tất yếu, là điều cần thiết của đạo Phật,
điều đó có từ trong lịch sử Phật giáo của Việt Nam. Đạo Phật còn có vai trò to lớn trong đời
sống tình cảm, tâm linh của người Việt Nam, người dân của đất nước đã trải qua nhiều đau
thương và đang còn nhiều khó khăn trong đời sống xã hội.
Xin mượn lời của cố giáo sư Trần Quốc Vượng trong (Mấy ý kiến về Phật giáo và văn hóa dân
tộc – Mấy vấn đề Phật giáo và tư tưởng Việt Nam) để khẳng định những giá trị văn hóa của đạo
Phật “Đạo Phật có thể mất đi như mọi hiện tượng vô thường. Song cái tinh túy của văn hóa Phật
giáo đã được dân tộc hóa và dân gian hóa thì mãi mãi trường tồn”.
Ngày nay để tiếp tục phát huy những giá trị tích cực của mình, Phật giáo phải biết tự giữ gìn,
bồi đắp và đổi mới cho phù hợp với thời đại nhằm góp phần thực hiện mục tiêu “dân giàu, nước
mạnh, xã hội công bằng, dân chủ và văn minh” như trước đây đã từng đóng góp cho “quốc thái dân an”.
Trong điều kiện xã hội hiện nay, những di sản văn hóa của Phật giáo đang tiếp tục phát huy tác
dụng, tạo nên sắc thái dân tộc, góp phần làm phong phú bản sắc văn hóa Việt Nam. Gần đây,
nhiều tổ chức và cá nhân đã quyên góp, công đức tiền của để khôi phục, tôn tạo chùa chiền, xây
cất tịnh xá, niệm Phật đường, đúc chuông, đắp tượng, dựng tháp… Ngoài ý nghĩa tâm linh,
nhiều ngôi chùa đã trở thành những danh thắng nổi tiếng để du khách đến chiêm ngưỡng.
Những giá trị văn hóa Phật giáo không chỉ tồn tại trong tư tưởng, mà còn đang hiện diện thông
qua sự nỗ lực của hàng triệu tín đồ nhằm vươn tới một lẽ sống vì Tổ quốc giàu mạnh, nhân sinh
hạnh phúc. Điều đó càng khẳng định được vị trí, vai trò của Phật giáo trong suốt quá trình đồng hành cùng dân ta. Câu 6:
Nho giáo được xem là hệ tư tưởng có ảnh hưởng sâu rộng và lâu dài đến xã hội Việt Nam, là
nền tảng đạo đức giáo dục con người, đóng góp to lớn vào việc tổ chức nhà nước, duy trì trật tự
xã hội, phát triển kinh tế, sáng tác văn học trong các triều đại quân chủ như Nhà Lý, Nhà lOMoAR cPSD| 61463864
Trần, Nhà Lê, Nhà Nguyễn, trong suốt chiều dài lịch sử phù hợp và dung hòa với đời sống
người Việt hình thành nền Nho giáo bản sắc Việt Nam nôm na gọi là Việt Nho ... Ảnh hưởng
của Nho giáo đối với Việt Nam sâu sắc là nền tảng của nền văn minh tại Việt Nam và xếp Việt
Nam vào các nước ảnh hưởng nền Văn minh Trung Hoa gọi là Vùng văn hóa Đông Á. Từng
bước hình thành nên lối sống, sinh hoạt, đạo đức đối nhân xử thế trong xã hội của người Việt.
Ngày nay Việt nho ít được xem trọng kèm những khía cạnh suồng sã, tiêu cực trong văn hóa
phương tây ảnh hưởng đang làm đạo đức một bộ phận giới trẻ xuống cấp.
*Sự hình thành và phát triển
Cơ sở của Nho giáo được hình thành từ thời Tây Chu, đặc biệt với sự đóng góp của Chu Công
Đán, còn gọi là Chu Công. Đến thời Xuân Thu, xã hội loạn lạc, Khổng Tử (sinh năm 551 trước
công nguyên) phát triển tư tưởng của Chu Công, hệ thống hóa và tích cực truyền bá các tư tưởng
đó. Chính vì thế mà người đời sau coi ông là người sáng lập ra Nho giáo.
Cũng giống như nhiều nhà tư tưởng khác trên thế giới như Thích Ca Mầu Ni, Giê-xu,... người đời
sau không thể nắm bắt các tư tưởng của Khổng tử một cách trực tiếp mà chỉ được biết các tư
tưởng của ông bằng các ghi chép do các học trò của ông để lại. Khó khăn nữa là thời kỳ "đốt sách,
chôn Nho" của nhà Tần,vào khoảng hai trăm năm sau khi Khổng Tử qua đời, khiến cho việc tìm
hiểu tư tưởng gốc của Khổng Tử càng khó khăn. Tuy nhiên, các nhà nghiên cứu đời sau vẫn cố
gắng tìm hiểu và hệ thống các tư tưởng và cuộc đời của ông. Nho giáo nguyên thủy
Thời Xuân Thu, Khổng Tử đã san định, hiệu đính và giải thích bộ Lục kinh gồm có Kinh Thi,
Kinh Thư, Kinh Lễ, Kinh Dịch, Kinh Xuân Thu và Kinh Nhạc. Về sau Kinh Nhạc bị thất lạc nên
chỉ còn năm bộ kinh thường được gọi là Ngũ kinh. Sau khi Khổng Tử mất, học trò của ông tập
hợp các lời dạy để soạn ra cuốn Luận ngữ. Học trò xuất sắc nhất của Khổng Tử là Tăng Sâm, còn
gọi là Tăng Tử, dựa vào lời thầy mà soạn ra sách Đại học. Sau đó, cháu nội của Khổng Tử là
Khổng Cấp, còn gọi là Tử Tư viết ra cuốn Trung Dung. Đến thời Chiến Quốc, Mạnh Tử đưa ra
các tư tưởng mà sau này học trò của ông chép thành sách Mạnh Tử. Từ Khổng Tử đến Mạnh Tử
hình thành nên Nho giáo nguyên thủy, còn gọi là Nho giáo tiền Tần (trước đời Tần), Khổng giáo
hay "tư tưởng Khổng-Mạnh". Từ đây mới hình thành hai khái niệm, Nho giáo và Nho gia. Nho
gia mang tính học thuật, nội dung của nó còn được gọi là Nho học; còn Nho giáo mang tính tôn
giáo. Ở Nho giáo, Văn Miếu trở thành thánh đường và Khổng Tử trở thành giáo chủ, giáo lý chính
là các tín điều mà các nhà Nho cần phải thực hành. Hán Nho
Đến đời Hán, Đại Học và Trung Dung được gộp vào Lễ Ký. Hán Vũ Đế đưa Nho giáo lên hàng
quốc giáo và dùng nó làm công cụ thống nhất đất nước về tư tưởng. Và từ đây, Nho giáo trở thành
hệ tư tưởng chính thống bảo vệ chế độ phong kiến Trung Hoa trong suốt hai ngàn năm. Nho giáo
thời kỳ này được gọi là Hán Nho. Điểm khác biệt so với Nho giáo nguyên thủy là Hán Nho đề
cao quyền lực của giai cấp thống trị, Thiên Tử là con trời, dùng "lễ trị" để che đậy "pháp trị". Tống Nho
Đến đời Tống, Đại Học, Trung Dung được tách ra khỏi Lễ Ký và cùng với Luận ngữ và Mạnh Tử
tạo nên bộ Tứ Thư. Lúc đó, Tứ Thư và Ngũ Kinh là sách gối đầu giường của các nhà Nho.
Nho giáo thời kỳ nay được gọi là Tống nho, với các tên tuổi như Chu Hy (thường gọi là Chu lOMoAR cPSD| 61463864
Tử), Trình Hạo, Trình Di. (Ở Việt Nam, thế kỷ thứ 16, Nguyễn Bỉnh Khiêm rất giỏi Nho học nên
được gọi là "Trạng Trình"). Phương Tây gọi Tống nho là "Tân Khổng giáo". Điểm khác biệt của
Tống nho với Nho giáo trước đó là việc bổ sung các yếu tố "tâm linh" (lấy từ Phật giáo) và các
yếu tố "siêu hình" (lấy từ Đạo giáo) phục vụ cho việc đào tạo quan lại và cai trị. Đặc điểm
Về nội dung học tập, Nho giáo chỉ nói đến "trí dục" và "đức dục" mà không xét đến mặt "thể
dục" là mặt cũng rất cần cho sự phát triển toàn diện con người. Những kiến thức về giới tự
nhiên và về sản xuất vật chất không được Nho giáo đề cập (bởi ở thời của Khổng Tử, khoa học
kỹ thuật và nền sản xuất chưa phát triển). Do vậy, người học tuy thấm nhuần tư tưởng Nho học
về đạo đức, tinh thông cổ văn, nhưng kiến thức về khoa học tự nhiên, sản xuất thực tiễn thì lại
không phát triển. Cả hai mặt tiến bộ và hạn chế của Nho giáo đều để lại dấu ấn trên Nho sĩ. Khi
tiếp xúc với nền văn minh phương Tây mạnh về khoa học kỹ thuật, nếu người xuất thân Nho
học biết tiếp thu những kiến thức khoa học và sản xuất thì sẽ khắc phục được mặt hạn chế, trở
nên "Vừa có tài vừa có đức", ngược lại nếu tiếp thu không có chọn lọc thì không những không
khắc phục được hạn chế mà những giá trị đạo đức của nền Nho học cũng bị đánh mất. Nhược
điểm nghiêm trọng hơn nữa là Nho giáo Việt Nam thiếu sự xuất hiện các trường phái học thuật
nên vận động trong sự đơn điệu và một chiều, chứ không được phong phú và đa dạng như Nho
giáo Trung Quốc. Nho giáo Việt Nam thiếu sự vận động bên trong, thiếu sự phản tỉnh nên trì trệ.
Đa số nhà Nho Việt Nam chỉ đặt cho mình mục đích học là để đi thi, thi đỗ thì ra làm quan để
được giàu sang, sung sướng. Đạt được mục đích đó thì xem như việc học tập đã kết thúc. Ít
người có chí cao xa, như học để tham gia tranh luận những vấn đề mang tầm khu vực, học để
kinh bang tế thế hoặc để phát triển văn hoá, đạt đến những tầm cao tư tưởng. Cũng có một số
Nho sĩ quan tâm đến học thuật, nhưng thường là các vấn đề chính trị và đạo đức, ít bàn đến vấn
đề siêu hình, một lĩnh vực thuần túy triết học làm nền tảng cho khả năng nhận thức sâu sắc thế
giới và hành động sáng tạo. Thậm chí, họ còn biến những vấn đề siêu hình thành cái thực tế,
thực dụng. Vì học tập và tư duy như thế nên họ ít có cống hiến to lớn trong lĩnh vực học thuật
có thể so sánh với các nước khác cũng chịu ảnh hưởng của Nho giáo. Nền giáo dục Nho giáo
Việt Nam chỉ sản sinh ra được một tầng lớp quan lại có nền tảng Nho học còn các loại hình trí
thức then chốt của một tầng lớp trí thức thực thụ thì xuất hiện thưa thớt, mờ nhạt, hoặc hoàn
toàn vắng bóng trong một số lĩnh vực như triết học.
Một số nhà Nho uyên thâm của Việt Nam khi đứng trước kho tàng đồ sộ và uyên bác của Nho
giáo Trung Quốc thường tóm lược lấy những điều cốt yếu, biên soạn lại thành những tài liệu
đơn giản và ngắn gọn để dạy học trò. Có thể liệt kê các sách Nho học như “Tứ thư tập chú” của
Chu Hy, “Tứ thư đại toàn” của Tống, Nguyên, Minh, Thanh Nho, sang Việt Nam chỉ còn là
Thuyết ước” (tóm lược học thuyết) và “Ước giải” (giải thích tóm tắt); hoặc như cuốn “Tính lý
đại toàn
” của Hồ Quảng thời Minh, sang Việt Nam chỉ còn “Tiết yếu”. Đây là hiện tượng chung
của nhiều triều đại quân chủ Việt Nam. Nếu ở triều Trần có “Tứ thư thuyết ước” của Chu Văn
An, thì ở triều Lê - Trịnh có “Tứ thư ước giải” của Lê Quý Đôn, triều Nguyễn có “Tứ thư trích
giảng
” của Nguyễn Văn Siêu; nếu ở triều Lê - Trịnh có cuốn “Tính lý tiết yếu” của Bùi Huy
Bích, thì ở triều Nguyễn cuốn đó vẫn còn được xem là cuốn sách giáo khoa mẫu mực. Chính
điều này đã lược bớt rất nhiều điều, làm mất rất nhiều điểm có khả năng gợi mở, giản đơn hoá
nội dung phong phú và súc tích của học thuyết khiến người học không lĩnh hội được chiều sâu lOMoAR cPSD| 61463864
của Nho giáo. Người được truyền đạt cũng hài lòng với cách làm đó thì mọi lối tư duy, mọi
đường sáng tạo đều bị thu hẹp lại. Bên cạnh đó, Nho giáo Việt Nam đã pha trộn với tư tưởng
của Phật giáo, Đạo giáo và các tín ngưỡng dân gian khác. Nhưng hạn chế lớn nhất là tập quán
sùng bái thánh hiền, giáo điều và máy móc của giới Nho sĩ Việt Nam. Trong khi đó bên cạnh
Nho giáo còn có nhiều trường phái tư tưởng khác như Đạo gia, Mặc gia, Pháp gia... Giữa các
trường phái này luôn có sự tranh luận, phản bác nhau. Điều này khiến sự phát triển của Nho
giáo Việt Nam hạn chế. Nó chỉ đạt đến mức độ tiếp thu một số tín điều từ Nho giáo Trung Hoa,
chưa tạo được lý luận riêng, chưa xuất hiện các học phái khác nhau. Phương pháp tư duy của nó
thiên về bảo thủ, giáo điều
3. Quá trình thâm nhập của Nho giáo vào Việt Nam
3.1. Hán Nho đã được các quan lại Trung Hoa như Tích Quang, Nhâm Diên, Sỹ Nhiếp ra sức
truyền bá từ đầu Công nguyên. Tuy nhiên, vì đây là thứ văn hóa do kẻ xâm lược áp đặt cho nên,
suốt cả giai đoạn chống Bắc thuộc, Nho giáo chưa có chỗ đứng trong xã hội Việt Nam. Đến năm
1070, với sự kiện Lí Thánh Tông cho lập Văn Miếu thờ Chu Công, Khổng Tử, mới có thể xem là
Nho giáo được tiếp nhận thính thức. Chính vì vậy mà Nho giáo ở Việt Nam chủ yếu là Tống Nho
chứ không phải Hán Nho, Đường Nho hay Minh Nho, Thanh Nho.
Đời Trần có Chu Văn An đào tạo được khá đông học trò. Các nhà nho những lớp đầu tiên này ra
sức bài xích Phật giáo để khẳng định chỗ đứng của mình. Tuy nhiên, cho đến gần cuối đời Trần,
Nho giáo vẫn chưa được chấp nhận rộng rãi.
Trong cuộc kháng chiến 10 năm chống quân Minh (1418- 1408), các nhà nho Việt Nam tập hợp
dưới cờ Lê Lợi đã có những đóng góp to lớn. Sự lớn mạnh của Nho giáo Việt Nam (điều kiện
chủ quan) cùng với nhu cầu cải cách quản lí đất nước (yêu cầu khách quan) đã dẫn đến việc
triều Lê đưa Nho giáo thành quốc giáo: sự phát triển của Nho giáo chuyển sang giai đoạn mới –
giai đoạn Nho giáo độc tôn. Từ đó, Nho giáo thịnh suy theo bước thăng trầm của triều đình:
Thời Lê sơ thì Nho giáo thịnh, chí sĩ đua nhau đi thi để ra làm việc nước. Thời Lê mạt thì Nho
giáo suy, nhiều nhà nhà xuất sắc (như Nguyễn Bình Khiêm) lui về ở ẩn. Nhà Nguyễn lên cầm
quyền, địa vị Nho giáo một lần nữa được khẳng định để rồi mất hẳn khi phải đối mặt với sự tấn
công của văn hóa phương Tây.
*Vai trò, ảnh hưởng
Tính từ khi bắt đầu du nhập cho đến lúc suy vong, Nho giáo đã có lịch sử 1900 năm truyền bá ở
Việt Nam. Thời Bắc thuộc, trong những thế kỷ đầu công nguyên, các quan cai trị người Hán như
Tích Quang (1 - 5), Nhâm Diên (29 - 33), Sĩ Nhiếp (187 - 226), Đỗ Tuệ Độ (đầu thế kỷ V) đã ra
sức truyền bá Nho giáo ở Giao Châu. Cũng trong thời kỳ này, các đoàn người Hán di thực và tị
nạn nối tiếp nhau kéo xuống Giao Châu, mang theo văn hóa Hán. Tuy nhiên, đây là thời kỳ mà
văn hóa Việt - Mường đã đạt tới những thành tựu đỉnh cao, có sức mạnh văn hóa nội tại, và có
khả năng chọn lọc, chuyển hóa những yếu tố văn hóa mới du nhập để bồi bổ cho sức mạnh văn
hóa nội tại của mình. Trong khi đó, Nho giáo là công cụ củng cố thể chế nhà nước của quân xâm
lược. Vì vậy, trải qua cả nghìn năm, Nho giáo vẫn không thâm nhập được vào văn hóa Việt -
Mường. Cư dân Việt - Mường vẫn bảo tồn được văn hóa tộc người, ý thức tộc người, ý chí quật
cường và nhu cầu đấu tranh vì độc lập tự do. lOMoAR cPSD| 61463864
Phải đến thời kỳ tự chủ, từ thế kỷ XI trở đi, Nho giáo mới được Nhà nước phong kiến chú trọng
đề cao. Để xây dựng, hoàn thiện thể chế nhà nước, giai cấp phong kiến đã tìm thấy ở Nho giáo
những lợi khí mà Phật giáo và Đạo giáo đương thời không có: sự thần bí hóa vương quyền, sự
thiêng liêng hóa quan hệ quân thần, những chuẩn mực và nội dung đào tạo quan lại thích hợp để
nối dài cánh tay quyền lực của nhà vua. Đến thời Hậu Lê, Nho giáo vươn lên chiếm địa vị độc
tôn trong văn hóa cung đình, đẩy Phật giáo và Đạo giáo xuống hàng tôn giáo dân gian. Nhưng
Nho giáo có vị trí hàng “Quốc giáo” thật sự ở triều Nguyễn, một triều đại tập quyền tuyệt đối và
triệt để khai thác đạo lý tam cương, ngũ luân của Nho giáo để bảo vệ tôn ti quân thần và quyền
thống trị vĩnh viễn của tông tộc nhà vua. Trên đỉnh cao quyền lực, Nho giáo đã phát tác tối đa sức
mạnh kìm hãm của nó, trở thành nguyên nhân sâu xa của tình trạng loạn lạc và trì trệ kéo dài suốt
thế kỷ XIX cho đến khi mất nước về tay Pháp. Từ đầu thế kỷ XX, cùng với sự suy tàn của nhà
nước phong kiến và giai cấp phong kiến, Nho giáo đã không còn là ý thức hệ chính thống và cũng
không còn đóng vai trò một tôn giáo chính thống điều chỉnh hành vi và đạo đức như trước nữa.
Sự đột khởi của phong trào Duy Tân - Đông Du (1905 - 1908) đã đóng cây đinh cuối cùng vào
nắp quan tài của Nho giáo ở Việt Nam.
Điểm sơ qua như vậy, có thể thấy rằng, giai cấp phong kiến Việt Nam thượng tôn Nho giáo không
chỉ do nhu cầu xây dựng quốc gia, mà còn vì và chủ yếu là vì Nho giáo có ích đối với việc cai trị
nhân dân. Vì vậy, tuy có lúc thăng lúc trầm, nhưng bao giờ Nho giáo cũng là chiếc phao chống
đắm của các triều đại phong kiến Việt Nam, kể từ khi vua Lý Thánh Tông dựng Văn Miếu ở
Thăng Long năm 1070, cho đến khi triều đình Huế ký Hòa ước Quý Mùi (năm 1883) giao chủ quyền quốc gia cho Pháp.
Do sự truyền bá chủ động và kiên trì của giai cấp phong kiến, trong thời trung đại, Nho giáo đã
thẩm thấu vào một một bộ phận của chủ thể văn hóa Việt Nam là giai cấp quý tộc, quan lại và
tầng lớp nho sĩ, quan viên. Nho giáo cũng bén rễ vào một bộ phận văn hóa tinh thần của xã hội,
làm hình thành dòng văn hóa quan phương chính thống bên cạnh các hoạt động văn hóa tinh thần
của dân gian. Bằng cách đó, văn hóa tinh thần của Việt Nam đã bị Hán hóa một phần. Cũng bằng
cách đó, Nho giáo đã được Việt hóa một phần trong quá trình thâm nhập vào văn hóa Việt Nam.
Do tác động từ Nho giáo nên sự phân hóa xã hội ở Việt Nam thêm sâu sắc, chủ thể văn hóa Việt
Nam bị chia đôi; hình thành tầng lớp nho sĩ, giai cấp quý tộc, quan lại theo hình mẫu Nho giáo,
tồn tại bên cạnh các giai cấp, tầng lớp sẵn có của xã hội Việt Nam xưa (nông dân, thợ thủ công,
thương nhân). Tầng lớp nho sĩ và quan lại ấy có trách nhiệm kinh bang tế thế, trị quốc an dân, và
tùy theo thời thế mà chọn lựa cách ứng xử, xuất và xử, hành và tàng. Còn các giai cấp, tầng lớp
lao động thì có trách nhiệm bảo đảm nhu cầu vật chất cho các giai cấp, tầng lớp bên trên và cho bản thân mình.
Lịch sử Việt Nam có rất nhiều nhà nho có phẩm hạnh, khí tiết cao cả, như Mạc Đĩnh Chi, Chu
Văn An, Nguyễn Trãi, Nguyễn Bỉnh Khiêm, Võ Trường Toản, Ngô Tùng Châu, Trịnh Hoài Đức,
Lê Quang Định, Ngô Nhân Tĩnh, Nguyễn Công Trứ, Phan Thanh Giản, Trần Tiễn Thành,
Nguyễn Đình Chiểu, Nguyễn Khuyến, Nguyễn Huy Đức, Nguyễn Thức Tự, Khiếu Năng Tĩnh, lOMoAR cPSD| 61463864
Trần Đình Phong, Lương Văn Can, Phan Bội Châu, Đặng Nguyên Cẩn, Ngô Đức Kế, Phan Châu
Trinh, Huỳnh Thúc Kháng, Trần Quý Cáp,... Những nhà nho này, dù lúc bình thời hay khi vận
nước gian nan, vẫn tỏ rõ khí tiết và phẩm hạnh, đồng thời có thái độ và hành động vì nước, vì dân.
Trong các hoạt động văn hóa, Nho giáo tác động chủ yếu vào các hoạt động văn hóa tinh thần.
Trong văn hóa tổ chức cộng đồng, ở cấp độ gia đình, Nho giáo phối hợp với văn hóa Hán làm
hình thành chế độ gia đình phụ hệ đi đôi với nam quyền cực đoan, tồn tại song hành với truyền
thống trọng nam đi đôi với trọng nữ của văn hóa dân gian. Trong gia đình, gia tộc, quốc gia, Nho
giáo trực tiếp làm hình thành chế độ tông pháp, trao quyền thừa kế, thừa tự cho con trai trưởng
chính dòng, song hành với tập quán trao quyền thừa kế, thừa tự cho con trai út của dân gian. Trên
bình diện quốc gia, Nho giáo là cơ sở làm hình thành tổ chức nhà nước của Đại Việt, bao gồm hệ
thống hành chính, tổ chức quân sự, quan chế, lương bổng... mô phỏng Trung Hoa, tồn tại song
hành với tổ chức cộng đồng cấp làng quê ra đời từ thời Văn Lang - Âu Lạc.
Về tín ngưỡng, nhà nho Việt Nam coi Nho giáo như là tôn giáo; gạt bỏ, bài xích các tôn giáo khác
ngoại trừ những nội dung được Nho giáo chấp nhận và khuyến khích, như lòng tin vào thiên
mệnh, việc tế lễ, việc thờ cúng tổ tiên... Vì vậy, trong Nho giáo là tôn giáo của đàn ông người
Việt, bên cạnh các tôn giáo dành cho các bà các cô như đạo Phật, đạo Mẫu...
Về phong tục, sự tác động của Nho giáo và văn hóa Hán đã làm Hán hóa một phần các phong tục
vòng đời, đặc biệt là phong tục hôn nhân, phong tục tang ma. Trong thời trung đại, các phong tục
này đều lấy hình mẫu của Nho giáo và văn hóa Hán làm chuẩn mực. Chính vì vậy mà cho đến
ngày nay, vẫn còn nhiều người viết sách mô tả các phong tục và nghi thức ấy trong văn hóa Việt
Nam hiện đại như thể chúng là bản sao của phong tục Trung Hoa trung đại! Thật ra, bên cạnh các
phong tục hôn nhân, phong tục tang ma theo hình mẫu của Nho giáo và văn hóa Hán trước đây,
người Việt ở các vùng miền khác nhau và các tôn giáo ở Việt Nam đều có cách thức riêng để thực hiện các phong tục ấy.
Trong giáo dục, Nho giáo là cơ sở hình thành hệ thống giáo dục chính thống của Việt Nam trung
đại ở bốn cấp kinh đô - tỉnh/đạo - phủ - huyện/châu, và chế độ thi tuyển gồm bốn cấp khảo hạch
- thi Hương - thi Hội - thi Đình, để đào tạo ra quan lại nhà nước, quan viên làng xã. Hệ thống
giáo dục chính thống này tồn tại song hành với mạng lưới giáo dục dân gian trong gia đình, làng
xóm, làng nghề, nhằm giáo dục cách ứng xử với gia đình, cha mẹ, ông bà, tổ tiên, họ hàng, làng
xóm, thần linh... Trong lịch sử 844 năm khoa cử Hán học ở Việt Nam (1075 - 1919), nền giáo dục
Nho giáo đã tạo ra hàng nghìn ông Nghè, ông Cử, ông Tú mà trong số đó nhiều người đã nổi lên
thành nhà văn hóa hay nhà khoa học, như nhà sử học Lê Văn Hưu, danh nhân văn hóa thế giới
Nguyễn Trãi, nhà sử học Ngô Sĩ Liên, Trạng Lường Lương Thế Vinh, Trạng Trình Nguyễn Bỉnh
Khiêm, Trạng Bùng Phùng Khắc Khoan, nhà bác học Lê Quý Đôn, thi hào Nguyễn Du, nhà bác học Phan Huy Chú…
Về văn học và nghệ thuật, Nho giáo đã góp phần làm hình thành các thể văn khoa cử (kinh nghĩa,
chiếu, biểu, luận, văn sách, thơ, phú...), các thể loại văn học mô phỏng Trung Hoa (thơ Đường lOMoAR cPSD| 61463864
luật, phú, từ, đối...), các điển tích văn học, các sách giáo khoa truyền thụ Nho giáo, các tác phẩm
văn học và nghệ thuật chịu ảnh hưởng của Nho giáo. Những sản phẩm ấy làm thành dòng văn
học nghệ thuật quan phương chính thống, tồn tại song hành với dòng văn học dân gian, nghệ thuật dân gian.
Về ngôn ngữ và văn tự, quá trình tiếp biến văn hóa Hán nói chung, Nho giáo nói riêng đã để lại
dấu ấn sâu đậm trong ngôn ngữ và chữ viết ở Việt Nam. Về ngữ âm, tiếng Việt, tiếng Mường đã
biến đổi các phụ âm cuối, hình thành thanh điệu và rơi rụng các âm tiết phụ của thời Môn Khơme;
riêng tiếng Việt hiện đại còn rơi rụng các tổ hợp phụ âm đầu. Về ngữ pháp, tiếng Việt, tiếng
Mường đã rơi rụng các phụ tố tạo từ của thời Môn - Khơme; riêng tiếng Việt hiện đại còn hình
thành các phụ tố tạo từ gốc Hán - Việt, và mượn nhiều cách diễn đạt của tiếng Hán. Về từ vựng,
trong tiếng Việt, tiếng Mường đều có nhiều yếu tố gốc Hán; riêng tiếng Việt có đến 70% từ gốc
Hán. Hiện nay, tiếng Việt đang sử dụng một bộ phận từ vựng gốc Hán có số lượng và tần suất sử
dụng rất lớn, bao gồm Hán - Việt cổ, Hán - Việt trung đại, Hán - Việt cận đại (khẩu ngữ của người
Hoa Nam bộ), từ ngữ có yếu tố Hán - Việt. Trong vốn từ tiếng Việt, đặc biệt là lớp từ vựng văn
hóa, số lượng các yếu tố gốc Hán chiếm một tỷ lệ áp đảo, cả ở ba cấp độ: từ, ngữ, phụ tố. Bộ phận
từ vựng gốc Hán này bao gồm hầu hết các bình diện văn hóa mà cư dân Việt chịu ảnh hưởng của
văn hóa Hán, trong đó ảnh hưởng rõ rệt nhất là các hoạt động văn hóa tinh thần: cách thức tổ
chức xã hội cổ truyền (con người, họ tên, quan hệ thân tộc, tổ chức hành chính, tổ chức quân sự,
bộ máy quan lại...); tín ngưỡng, phong tục, lễ hội (tín ngưỡng, tôn giáo, giáo dục, khoa cử, phong
tục vòng đời, lễ hội...); văn học, nghệ thuật (thuật ngữ, các thể văn hành chính và khoa cử, các
thể loại văn học bác học, một số loại hình sân khấu...); ngôn ngữ (đặt địa danh, vay mượn và sao
phỏng từ ngữ, cấu tạo từ mới từ các yếu tố gốc Hán...). Quá trình tiếp biến văn hóa Hán và Nho
giáo trong ngôn ngữ ấy tồn tại song hành với quá trình bảo tồn ngữ âm, ngữ pháp, từ vựng gốc
Môn - Khơme, và tiếp biến các ngôn ngữ Tày, Chăm, Hoa, Khơme, Pháp trong tiếng Việt.
Về văn tự, chữ Hán là văn tự chính thức của Việt Nam trong suốt thời phong kiến tự chủ, và vì là
phương tiện chuyên dùng chuyển tải Nho giáo, nên chữ Hán thường được gọi là chữ Nho, chữ
Thánh hiền. Quá trình tiếp biến văn hóa Hán và Nho giáo trong chữ viết ấy tồn tại song hành với
quá trình Việt hóa các văn tự ngoại lai. Từ khi ra đời dưới thời Trần, chữ Nôm, loại văn tự phái
sinh từ chữ Hán, vừa được dùng để chuyển tải văn hóa dân gian, vừa được dùng để chuyển tải
văn hóa quan phương chính thống theo Nho giáo. Và đến đầu thế kỷ XX, với phong trào Duy Tân
- Đông Du, chữ Quốc ngữ, hình thành từ thế kỷ XVII, đã phát triển thành văn tự của toàn dân,
giúp chuyển tải những tư tưởng, tri thức mới, thoát ly Nho giáo.
Như vậy, trong chặng đường hơn 2000 năm tiếp xúc văn hóa Hán của Việt Nam, Nho giáo đã thật
sự tác động mạnh vào xã hội Việt Nam trong hai giai đoạn: Hậu Lê (1428 - 1527) và Nguyễn sơ
(1802 - 1883). Hai đối tượng chịu ảnh hưởng rõ nhất của Nho giáo và văn hóa Hán là chủ thể văn
hóa và văn hóa tinh thần. Trong chủ thể văn hóa, Nho giáo đã tác động chủ yếu đến các giai cấp,
tầng lớp trên trong xã hội, chứ không ăn sâu bén rễ vào các giai cấp, tầng lớp dưới. Đối với văn
hóa tinh thần, Nho giáo đã góp phần làm hình thành dòng văn hóa quan phương chính thống, chứ
không thay thế được dòng văn hóa dân gian vốn có một bề dày lịch sử gắn với ý thức tộc người,
làm nên cốt lõi của văn hóa tộc người. Tức là, Nho giáo đã làm tách đôi kiến trúc thượng tầng lOMoAR cPSD| 61463864
của xã hội Việt Nam, làm hình thành dòng văn hóa quan phương theo Nho giáo, song hành và đối
lập với dòng văn hóa dân gian bản địa. Hai dòng văn hóa này dung hợp lẫn nhau, ảnh hưởng lẫn
nhau. Nho giáo ở Việt Nam được Việt hóa một phần, khác với Nho giáo ở Trung Hoa. Văn hóa
dân gian Việt cũng bị Nho giáo hóa một phần, nhiều phong tục gốc Hán và gốc Việt tồn tại song
song. Cho nên, sẽ rất sai lầm nếu quan niệm hoặc mô tả văn hóa Việt như một bản sao của văn hóa Hán.
Vả chăng, ảnh hưởng của Nho giáo và văn hóa Hán đối với văn hóa Việt Nam cũng chỉ kéo dài
đến cuối thế kỷ XIX. Trong nền văn hóa Việt Nam đương đại, Nho giáo không còn là tôn giáo, ý
thức hệ hay học thuyết chính thống, chỉ là tàn dư trong một số phong tục và nghi lễ.
Những tác hại chính yếu của Nho giáo đối với văn hóa Việt Nam
Trước hết là những tác hại trong lĩnh vực giáo dục. Trong thời Minh thuộc (1407 - 1428), giặc
Minh xóa bỏ nền độc lập của Đại Việt, hủy diệt triệt để tất cả các di sản văn hóa của các triều
đại Lý - Trần, áp đặt nền giáo dục Tống nho cho nho sinh, nho sĩ Đại Việt. Lý do là vào đầu thế
kỷ XV, các nho gia đời Minh chưa xuất hiện, di sản được tôn sùng nhất của Nho giáo đương
thời là Tống nho, với các đại biểu lớn như Chu Đôn Di, Trương Tái, Trình Hạo, Trình Di, Chu
Hi... Sau khi Lê Thái Tổ giành lại độc lập, di sản văn hóa Lý - Trần chỉ còn là mảnh vụn, nên
việc giáo dục của triều Hậu Lê cũng phải dùng tài liệu của Tống nho.
Về chính trị, tư tưởng trung quân của Nho giáo khiến cho nhiều nho thần, nho sĩ Đại Việt đều
dốc sức bảo vệ ngai vàng, khôi phục ngai vàng cho những dòng vua, những ông vua ăn hại, bù
nhìn. Thay vì làm cho non sông nhất thống, họ lại làm cho chính sự suy đồi, đất nước loạn lạc,
dân chúng lầm than. Nhà Mạc giết vua cướp ngôi, sau khi mất nước lại dấy binh làm loạn, vẫn
được nhiều người tôn phò để tái lập vương triều ở Cao Bằng
Về kinh tế, sự độc tôn Nho giáo đã kiềm hãm kinh tế Việt Nam, làm suy yếu các nguồn nội lực,
là một trong những nguyên nhân làm cho Việt Nam mất nước. Do ý thức hệ Nho giáo, một số
nghề nghiệp trong xã hội Việt Nam đã bị coi khinh, mặc dù cần thiết, có ích cho cuộc sống của
con người như nghề xướng ca, nghề thương mại..
Về xã hội, quan điểm bất bình đẳng của Nho giáo đã chà đạp phụ nữ Việt Nam xuống đất đen.
“Đạo” mà Nho giáo dành cho người phụ nữ là đạo tam tòng: “Tại gia tòng phụ, xuất giá tòng phu,
phu tử tòng tử”. “Đức” mà Nho giáo dạy cho phụ nữ là tứ đức: “Công, dung, ngôn, hạnh”. Tất cả
là để cho người phụ nữ làm tròn chức trách phục vụ đàn ông. Đã thế, nền giáo dục và khoa cử
theo Nho giáo cũng chỉ dành cho nam giới; gần 100% phụ nữ Việt Nam bị gạt ra ngoài, chỉ được
thụ hưởng giáo dục gia đình, giáo dục dân gian, rất hiếm người được học chữ, học hỏi kiến thức
qua Nho giáo. Vì vậy mà trong suốt thời trung đại, toàn bộ việc làng, việc nước là việc của đàn
ông. Việc của phụ nữ chỉ là “tề gia, nội trợ”, có thể kiêm thêm việc chạy chợ, chạy đồng, đầu tắt
mặt tối, nhưng không vì thế mà địa vị trong gia đình, xã hội của họ được nâng lên. Kết luận
Nho giáo đã làm cho văn hóa tinh thần của Việt Nam thời trung đại bị Hán hóa một phần đáng
kể. Nho giáo ảnh hưởng cả trong văn hóa tinh thần lẫn văn hóa vật chất của Việt Nam. Nho giáo lOMoAR cPSD| 61463864
có mặt trái, gây hại cho văn hóa Việt Nam. Văn hóa Việt Nam trước kia có rất nhiều lúc, nhiều
nơi không cần Nho giáo. Văn hóa Việt Nam ngày nay càng không cần Nho giáo. Để hình thành
các chuẩn mực đạo đức cho những con người mới ở Việt Nam, chúng ta cần những cơ sở lý thuyết
và những giá trị tinh thần kết hợp truyền thống và hiện đại. Trong những giá trị tinh thần truyền
thống, cần chú ý tìm hiểu, phát huy những giá trị truyền thống bản địa Việt Nam, thay vì cố đào
xới lại nấm mồ Nho giáo như một số người vọng ngoại và hoài cổ đã làm. Như ý kiến của nhà
nghiên cứu Quang Đạm: “Nói tóm lại, đạo lý Nho giáo thường xuyên kìm hãm xã hội chúng ta
thuở trước ở một trạng thái thấp kém. Trong khuôn khổ thiên hạ của đạo lý Nho giáo không có
con đường nào tốt hơn con đường tìm hướng quay ngược trở về với Tây Chu, với Đường, Ngu.
Trong khi đó, truyền thống Việt Nam vì độc lập của Tổ quốc và vì quyền sống chính đáng của cả
dân tộc vẫn không ngừng thể hiện một tinh hoa, một bản sắc không có thế lực nào vùi lấp, xóa bỏ
được. Chế độ trị nước trị dân của các thế lực Hán tộc xâm lược và các triều đại phong kiến Việt
Nam, tôn sùng Nho giáo luôn luôn ngăn cản sự vươn lên của truyền thống Việt Nam. Tinh hoa và
khí phách Việt Nam cũng luôn luôn tỏ rõ sức sống bất diệt của mình trong mọi hoàn cảnh”. Câu 7 1. Làng và văn hoá làng 1.1. Khái niệm
Khái niệm Làng gắn với hình ảnh làng xã cổ truyền ở Việt Nam với 3 đặc trưng cơ bản: ý
thức cộng đồng làng (ý thức dân chủ làng xã, cộng đồng trong sản xuất bảo vệ xóm làng, xây
dựng văn hoá, lối sống, đạo đức.v.v...); ý thức tự quản (thể hiện rõ nhất trong việc xây dựng
hương ước); và tính đặc thù độc đáo, rất riêng của mỗi làng (có khi hai làng gần nhau nhưng
không hề giống nhau). Nền văn hoá Việt Nam được tạo dựng trên cơ sở của nền văn minh
nông nghiệp. Cuộc sống của người Việt Nam gắn bó với làng xã, quê hương. Tập tục làng,
truyền thống và văn hoá làng là chất keo đặc thù gắn kết mọi thế hệ thành viên của làng.Cho
đến nay, các nhà nghiên cứu sử học vẫn chưa xác định rõ làng xuất hiện từ khi nào. Nhưng
làng và văn hoá làng được xem là phát triển rực rỡ nhất vào thế kỷ XVI-XVIII. Ngoài ra,
làng và văn hoá làng chỉ có ở Việt Nam, ở nhiều nước làng cũng như tổ chức làng hầu như không có. 1.2. Nét đặc chưng 🡪 lOMoAR cPSD| 61463864
Làng không chỉ là sản phẩm của một nền tổ chức chính trị nhà nước mà nó còn là
sản phẩm văn hoá mang bản sắc người Việt. Văn hoá làng được thể hiện thông qua
các biểu trưng văn hoá mang giá trị truyền thống: cây đa, bến sông, con đê, mái
đình, giếng nước đến các bản gia phả, hương ước, hội hè đình đám, những làn điệu
dân ca, dân vũ. Đó còn là phong tục tập quán, cách ứng xử, tâm lý, tín ngưỡng tôn
giáo, phương thức hoạt động, nghề đặc trưng.v.v…Có thể xem văn hoá làng chính
là những khuôn thước ứng xử nằm sâu trong mỗi con người, những nhân tố tạo nên
tính cộng đồng. Và những ứng xử giữa con người với con người, con người với
thiên nhiên, giữa các cộng đồng với nhau được tổng kết qua kinh nghiệm sống đã
trở thành văn hoá. Văn hóa làng như một dòng nước ngầm không thể nhìn thấy
nhưng lại có sức mạnh chi phối, điều khiển mỗi người trong cộng đồng làng. Các
nhà nghiên cứu văn hoá cũng như sử học Việt Nam đều khẳng định 80% văn hoá
vật thể là ở làng. Đó chính là “cây đa, bến nước, sân đình”, là ngôi chùa hay những
ngôi nhà cổ. Và cũng 80% văn hóa phi vật thể ra đời từ văn hoá làng. Đó là những
phong tục tập quán, lễ hội, tín ngưỡng.v.v…Nói sâu hơn thì văn hoá làng
chính là cái gốc của văn hoá dân tộc. Tổng thể nền văn hóa dân tộc đều mang bản sắc
văn hoá vùng, miền. Mà cái tạo nên văn hoá vùng miền chính là văn hoá làng, đơn vị
tổ chức nhỏ nhất. Việt Nam là quốc gia đa dân tộc, mỗi dân tộc có nền văn hóa riêng
biệt. Vì vậy nền văn hóa Việt Nam cũng đa dạng và vô cùng phong phú. 1.3. Nét đặc thù
Với đơn vị là làng, văn hóa đã hiện ra như là những khuôn thước ứng xử nằm ở tầng
sâu trong đời sống cộng đồng; như là hệ thống các giá trị đặc thù qui định và ngầm
điều khiển các quan hệ cộng đồng; như là sự tổng hợp của những kinh nghiệm sống
hình thành qua lịch sử của các cộng đồng. Mỗi con người Việt Nam, nếu có được
cái may mắn là sinh ra và lớn lên ở làng, thì dù đi đâu, về đâu; dù làm nghề nay hay
nghề kia; dù mang quốc tịch này hay quốc tịch khác cũng đều khó có thể thoát ly
khỏi tâm thức làng, lề thói làng, giá trị làng, cái đã ăn sâu vào văn hóa cá nhân.
"Phép vua thua lệ làng" thành ngữ gắn liền với quá trình phát triển của làng Việt. Thông qua
thành ngữ này, văn hóa làng luôn biểu đạt cái đặc trưng riêng, cái có ý nghĩa riêng, cái mang
lại sức mạnh của làng. Lịch sử cho thấy, tất cả những gì là ngoại nhập hay ngoại sinh, nếu
muốn có chỗ đứng thực sự ở làng thì phải tìm cách "chung sống" với văn hóa làng. Chính từ
thực tiễn lịch sử của dân tộc Việt mà chúng ta nhận ra văn hóa làng.
Xác định sự tồn tại hiện thực của văn hóa làng là sự phát triển phù hợp với sự tiến
triển của các ngành tri thức về văn hóa. Có lẽ chỉ khi đặt trong tương quan với các
dạng thức văn hóa vùng và các loại văn hóa cộng đồng khác, mới thấy rõ hơn tính đặc
thù và ý nghĩa của văn hóa làng. 2. Đình làng
Đình làng - một mảnh hồn quê, một nét đẹp của xóm làng Việt Nam, từ lâu đã in
váo tâm khảm của mỗi con người và tỏa sáng trong những áng thơ văn. "Hôm qua
tát nước đầu đình. Để quên chiếc áo trên cành hoa sen". Đã từ rất lâu rồi, khi nói
đến văn hoá làng - nét văn hoá của nông thôn Việt Nam, chúng ta liên tưởng ngay lOMoAR cPSD| 61463864
tới những hình ảnh rất đặc trưng, làm nên biểu tượng của làng quê. Đó là những
hình ảnh của "cây đa, bến nước, sân đình, bụi tre, vườn cây, ao cá...". Từ bao đời
nay, đình làng là hình ảnh thân quen, gắn bó với tâm hồn của mọi người dân Việt, là
nơi chứng kiến những sinh hoạt, lề thói và mọi đổi thay trong đời sống xã hội của
làng quê Việt Nam qua bao thế kỷ. Đình làng trang trọng và thiêng liêng, nó gần
như là đại diện, là biểu tượng của quyền lực làng xã. Nhưng đình làng lại là nơi tụ
họp mọi người trong mọi sinh hoạt cộng đồng. Đình làng trở thành một nơi thân
quen gần gũi, là nơi ở, là cuộc sống của những người nông dân Việt Nam 2.1. Nét đặc chưng
Đình làng xưa - nét đặc trưng tiêu biểu nhất của làng quê Việt Nam:Từ xưa đến nay,
người dân Việt Nam vẫn thường gọi chung đình chùa, nhưng trên thực tế đình và
chùa không cùng một ý thức văn hóa. Chùa là nơi thờ Phật, ít nhiều có ảnh hưởng
văn hóa Phật giáo đến từ Ấn Độ, Trung Hoa. Còn đình là của cộng đồng làng xã
Việt Nam. Đình là biểu hiện sinh hoạt của người Việt Nam, nơi "cân bằng" phép tắc
của cuộc sống cộng đồng, nơi khai diễn những nét tài năng, tư duy của dân làng,
nhất là về tín ngưỡng, nơi để thờ thần Thành Hoàng làng, người có công với dân, lOMoAR cPSD| 61463864
cứu nước, giữ nước hoặc giúp dân nghề nghiệp sinh sống. Nhìn quanh đình làng, ta sẽ thấy
lòng tri ân, trọng nghĩa, trọng tài, ''uống nước nhớ nguồn'' của người Việt Nam. Tuy đình là
của dân làng nhưng thần không hẳn là người của làng. Hơn nữa người Việt Nam thừa
hưởng nhiều tín ngưỡng cổ sơ, nguyên thủy nên thờ và tôn kính rất nhiều vị thần như: thần
núi, thần biển, thần nước.v.v… ở tất cả những tín ngưỡng ấy, các thế hệ dân Việt Nam tiếp
nối nhau tạo thành một nền vǎn hoá đình, một nền vǎn hóa hỗn hợp, đa dạng, có mặt nhiều
thành phần tôn giáo khiến cho đình trở thành một tập thể siêu thần, thành một sức mạnh vô
hình, tạo một niềm tin, một niềm hy vọng, một sức mạnh vô hình của làng cộng đồng xã
Việt Nam. Ở nước ta vào đầu thời Trần, vua Trần Thái Tông xuống chiếu: "... nơi nào có
đình trạm thì phải tô tượng Phật để thờ trong đình đó" (đình trạm là những kiến trúc được
dựng lên ở các cung độ đường làm nơi cho nhà Vua đi tuần thú hoặc khách bộ hành nghỉ
ngơi). Là bởi thời đó Phật giáo đang chiếm ưu thế. Sang thời Lê, kinh tế hàng hóa phát
triển, những đình trạm cũng được sử dụng làm chợ, nên gọi là đình chợ (như đình chợ
Đông Ba - Huế, Xuân Giang - Nghệ Tĩnh).Từ thế kỷ XVI đến XIX có những lúc không có
chiến tranh, người dân có điều kiện phát triển kinh tế nên đình được phát triển hơn. Những
nơi không có chiến tranh như miền Hải Dương, Bắc Ninh, Sơn Tây đình phát triển mạnh
(đình Chu Quyền, đình Đình Bảng, đình Tây
Đằng). Dần dần những ngôi đình làng phát triển ở miền núi, vùng người Tày, người
Nùng (đình Hồng Thái, Tân Trào). Trải qua thời gian, đình làng dần dần thiên di
vào miền Trung, nhất là Bắc Trung Bộ: đình Hoàng Sơn, Chu Cân ở Nghệ An.
Nhưng càng vào Nam càng ít và đến Nam Bộ, ngôi đình chỉ còn là ngôi đền. Đình
tồn tại trên công thổ, công điền của làng. Người từ 18 tuổi trở lên được nhận ruộng
công về làm và nộp hoa lợi cho đình hoạt động. Mỗi khi ra đình phân biệt mâm ăn
và chiếu ngồi, chia phần "một miếng giữa làng hơn một sàng só bếp", "một miếng
lộc thánh bằng một gánh lộc trần"... Như vậy, đình làng diễn ra sự phân chia đẳng
cấp rất chặt chẽ, trọng tuổi hơn trọng chức sắc, là nơi quyết định về kinh tế, chính
trị và tâm tư tình cảm của người dân. Hàng năm đình có lễ hội thường được tổ chức
vào ngày sinh hoặc ngày mất của vị thần được thờ. Lễ hội gắn với truyền thống lịch
sử (sự tích thần đánh giặc, lập làng, dạy nghề), gắn với lễ nghi nông nghiệp (lễ rước
nước). Tế thần là hoạt động lễ, hội tế để biểu thị lòng biết ơn 🡪
của dân làng đối với thần, mong thần tiếp tục phù hộ cho dân làng mạnh khỏe, được
mùa . Lễ vật tế thần là cỗ tam sinh (trâu, bò, dê hoặc lợn) là những sản phẩm nông
nghiệp, là lễ vật kỷ niệm. Nhìn chung, văn hoá đình Việt Nam có tính hoàn toàn độc
lập của một cộng đồng xã hội biết tổng hợp dung hòa mọi nền văn hóa khác thành
một nét văn hóa riêng nhằm phục vụ an ninh cho dân tộc mình, trong ấy, yếu tố chủ
yếu vẫn là thờ cúng những người có công với làng xã, người anh hùng dựng làng lập
nước và bảo vệ đất nước. 2.2. Kiến trúc
Đình làng - Một kiến trúc điêu khắc Việt truyền thống: Kiến trúc đình làng mang
đậm dấu ấn văn hóa, độc đáo và tiêu biểu cho kiến trúc điêu khắc Việt truyền thống.
Thế kỷ XVIII, Việt Nam có khoảng 11.800 làng xã. Mỗi làng có một cụm