lOMoARcPSD| 61236129
Đề cương ôn tập: Môn Kinh tế chính trị
Đề thi gồm 4 câu:
+ 2 câu hỏi trắc nghiệm mỗi câu 2 điểm
+ 2 câu hỏi tự luận mỗi câu 3 điểm
I. Phần trắc nghiệm (gồm 2 câu hỏi) Câu
hỏi sẽ nằm trong phạm vi sau:
-Lý luận của C.Mác về sản xuất hàng hóa hàng hóa (trang 35 đến trang46). Đọc thêm
bài giảng TEXT của cô trên LMS
- Lý luận của C.Mác về giá trị thặng dư (trang 85 – trang 104)
II/ Phần tự luận
Tập trung giải quyết mấy vấn đề sau
1. Nghiên cứu 2 điều kiện ra đời tồn tại sản xuất hàng hóa? 2 điều kiện đó Việt
Nam hiên nay như thế nào?
Hai điều kiện ra đời tồn tại sản xuất hàng hoá phân công lao động hội sự
tách biệt kinh tế giữa những chủ thể sản xuất.
- Phân công lao động xã hội:
+) sự phân chia lao động hội thành các ngành, các linh vực khác nhau, tạo nên
sự chuyên môn hoá giữa những người sản xuất các ngành, nghề khác nhau. +)
Cụ thể, do phân công lao động, mỗi người lại tập trung làm một sản phẩm của mình,
nhưng họ lại nhu cầu sử dụng những sản phẩm khác nhau. Từ đó dẫn đến việc
trao đổi hàng hoá với nhau
+) Phân công lao động càng phát triển thì sự sản xuất, trao đổi hàng hoá ngày càng
được rộng mở và đa dạng hơn.
Vì vậy, phân công lao động xã hội được coi là cơ sở cho sản xuất hàng hoá.
- Sự tách biệt về kinh tế giữa những chủ thể sản xuất:
+) Làm cho những chủ thể sản xuất tồn tại độc lập với nhau và khác nhau về lợi ích.
Do đó, nếu họ muốn sử dụng sản phẩm của người khác thì phải thông qua trao đổi,
mua bán hàng hoá.
+) Sự tách biệt về kinh tế đòi hỏi những chủ thể sản xuất trao đổi hàng hoá theo quy
tắc bình đẳng, ngang giá, hai bên đều có lợi.
Vậy nên, sự tách biệt về kinh tế giữa những chủ thể sản xuất là điều kiện cần cho
sự ra đời của sản xuất hàng hoá. Phân tích hai điều kiện đó ở Việt Nam:
- Phân công lao động xã hội:
+) Sự chuyển dịch cơ cấu ngành nghề từ nông nghiệp sang công nghiệp và dịch vụ,
tỷ lệ lao động trong ngành nông nghiệp đã giảm mạnh, trong khi lao động trong
ngành dịch vụ công nghiệp tăng trưởng. Lao động trong ngành công nghiệp
xây dựng khu vực có sự phát triển mạnh mẽ, đặc biệt các ngành chế biến chế
tạo, sản xuất điện, xây dựng. Các ngành dịch vụ như tài chính, ngân hàng, du
lịch, thương mại đã phát triển nhanh chóng trở thành động lực tăng trưởng của
nền kinh tế.
lOMoARcPSD| 61236129
+) Sự phân chia lao động chuyên môn hoá theo vùng chủ yếu dựa vào sự khác
biệt về mức độ phát triển kinh tế, sở hạ tầng, điều kiện tự nhiên và mức sống giữa
các vùng trên cả nước. Vùng đồng bằng tập trung sản xuất công nghiệp và dịch vụ;
Vùng đồi núi đẩy mạnh khai khoáng, nông lâm nghiệp; Vùng ven biển chủ yếu thúc
đẩy kinh tế biển, khai thác thuỷ sản,dịch vụ logistic và phát triển du lịch đất nước.
+) Phân chia lao động theo trình độ chuyên môn, khi lao động phổ thông vẫn chiếm
phần lớn, chủ yếu hoạt động trong lĩnh vực công nghiệp nông nghiệp, còn lao
động có trình độ cao tập trung trong cách ngành công nghệ, khoa học kĩ thuật, dịch
vụ như y tế, giáo dục, tài chính…
- Sự tách biệt kinh tế giữa những chủ thể sản xuất:
+) Nền kinh tế VN sự đa dạng về chủ thể sản xuất, bao gồm các doanh nghiệp
nhà nước và tư nhân, công ty quốc tế đầu tư vào VN, các hình thức sản xuất chung
như hợp tác xã… Song mỗi chủ thể đều hoạt động độc lập mục tiêu sản xuất
riêng.
+) sự phân hoá, tách biệt về kinh tế giữa các ngành, các vùng: ngành công nghiệp,
dịch vụ có giá trị cao hơn, trong khi đó ngành nông nghiệp phụ thuộc vào điều kiện
thời tiết, giá trị thấp n. Vùng đồng bằng SH, TH.HCM tập trung phát triển công
nghiệp, trí tuệ nhân tạo các ngành dịch vụ, còn vùng đồi núi nông thôn phát
triển nông nghiệp, khai khoáng, sản xuất nhỏ lẻ.
+) Sau Đổi mới năm 1986, sự tách biệt kinh tế tại VN đã định hình một cách rõ ng
hơn, chuyển mình từ nên kinh tế tập trung, quan liêu bao cấp, thiếu tính tự chủ
cạnh tranh sang một nền kinh tế nhiều thành phần, mở cửa giao thương với các nước
khác, các doanh nghiệp có sự tự chủ nhưng vẫn có sự quản lí của NN.
2. Phân biệt giá trị xã hội và giá trị biệt của hàng hóa, giá trị hội của hàng
hóa được hình thành như thế nào? Sự khác nhau giữa quá trình hình thành giá
trị hội của hàng hóa trong lĩnh vực sản xuất công nghiệp với quá trình hình
thành giá trị hội của hàng hóa trong lĩnh vực sản xuất nông nghiệp
(phần này cô đã nói kỹ trong mục Địa tô TBCN)
- Giá trị xã hội của hàng hoá biểu hiện mức hao phí lao động trung bình của xã
hội trong những điều kiện tự nhiên, ng nghệ - kỹ thuật nh thường, với trình
độ thành thạo trung bình, cường độ lao động trung bình.
- Giá trị biệt của hàng hoá biểu hiện mức hao phí lao động biệt của một
chủ thể sản xuất tạo ra trong một điều kiện sản xuất cụ thể, không thể áp
dụng lên toàn bộ nền kinh tế. Giá trị biệt phản ánh sự khác biệt giữa các ch
thể sản xuất về lao động cá biệt.
- Cách thức hình thành giá trị xã hội của hàng hoá:
lOMoARcPSD| 61236129
+) Giá trị hội của hàng hoá được hình thành do thời gian lao động hội
cần thiết quá trình trao đổi hàng hoá. Chỉ những sản phẩm được hội
chấp nhận mới có giá trị xã hội.
+) Trong nền kinh tế, mỗi người sản xuất hoạt động một cách độc lập, nhưng
hàng hoá họ sản xuất ra phải được hội công nhận thông qua quá trình
trao đổi hàng hoá. Khi đó, lao động cá biệt của mỗi người khi thông qua quá
trình trao đổi hàng hoá sẽ chuyển thành lao động xã hội cần thiết.
+) Các yếu tố ảnh hưởng đến giá trị xã hội của hàng hoá: trình độ kỹ thuật và
công nghệ trong xã hội, quy và tổ chức sản xuất, điều kiện tự nhiên, nhu
cầu thị trường.
Quá trình hình thành giá trị xã hội ở hai ngành công nghiệp và nông nghiệp:
- Trong công nghiệp, giá trị xã hội dựa trên thời gian lao động xã hội trong điều
kiện sản xuất trung bình, năng suất lao động trung bình.
- Trong nông nghiệp, giá trị xã hội dựa trên thời gian lao động hội trong điều
kiện sản xuất xấu nhất, gây ra năng suất lao động xấu nhất.
Nguyên nhân:
- Ảnh hưởng của điều kiện tự nhiên:
+) Trong công nghiệp, điều kiện tự nhiên không hoặc ít đóng vai trò quyết định
trong quá trình sản xuất. Vậy nên năng suất lao động chủ yếu dựa vào công
nghệ kỹ thuật hiện đại, tổ chức quản lí sản xuất và trình độ của lao động.
+) Trong nông nghiệp, yếu tố tự nhiên đóng vai trò rất lớn, quyết định sản
lượng chất lượng của mùa vụ thu hoạch của người lao động. Do skhác
biệt tự nhiên, đất đai được chia thành các loại tốt, trung bình, và xấu, dẫn đến
chênh lệch năng suất giữa các khu vực.
- Sự đồng đều trong quá trình sản xuất:
+) Nếu trong công nghiệp, quy trình sản xuất hàng hoá được áp dụng quy chuẩn
về dây chuyền và công nghệ nên hàng hoá có tính đồng nhất cao giữa các nhà
sản xuất. Ngược lại, trong nông nghiệp, do sự phân hoá đất đai, khí hậu giữa
các vùng, sản lượng chất lượng hàng hoá thể khác biệt lớn giữa các
vùng khác nhau, các nông trại khác nhau.
- Phân phối lợi nhuận siêu ngạch:
+) Trong công nghệ, lợi nhuận siêu ngạch đạt được từ việc cải tiến công nghệ,
tăng năng suất lao động, giảm thời gian lao động tất yếu thuộc về nhà tư bản.
Còn trong nông nghiệp, phần lợi nhuận siêu ngạch đạt được không thuộc về
nhà tư bản kinh doanh mà thuộc về địa chủ dưới dạng địa tô.
Sự khác nhau về sự hình thành của giá trị hội giữa công nghiệp nông
nghiệp đến từ cơ sở xác định giá trị xã hội của hàng hoá. Trong công nghiệp,
giá trị hội phản ánh điều kiện sản xuất trung bình, nhấn mạnh vai tcủa
lOMoARcPSD| 61236129
công nghệ và tổ chức sản xuất. Trong khi đó, nông nghiệp bị chi phối bởi yếu
tố tự nhiên và điều kiện sản xuất xấu nhất, dẫn đến sự không đồng đều trong
năng suất lao động giữa các vùng đất.
Sự khác biệt giữa công nghiệp và nông nghiệp trong quá trình hình thành giá
trị xã hội của hàng hóa phản ánh hai cách tiếp cận cơ bản về tổ chức sản xuất
phân phối lợi ích. Điều này nhấn mạnh tầm quan trọng của công nghệ
tổ chức sản xuất trong công nghiệp, đồng thời bộc lộ những hạn chế tự nhiên
và bất bình đẳng trong nông nghiệp, đặc biệt dưới chế độ tư bản chủ nghĩa.
3. Ôn kỹ 2 Phương pháp sản xuất giá trị thặng dư để chỉ ra điểm khác nhau giữa
2 phương pháp sản xuất giá trị thặng dư? sao sản xuất giá trị thặng tương
đối là phương pháp bóc lột tinh vi?
Sự khác nhau giữa hai phương pháp sản xuất giá trị thặng dư:
- Về khái niệm:
+) PP sản xuất gttd tuyệt đối: phương pháp kéo dài ngày lao động một cách tuyệt
đối, vượt quá thời gian lao động cần thiết của công nhân trong điều kiện năng suất
lao động không đổi, thời gian lao động cần thiết không đổi.
+) PP sản xuất gttd tương đối: Là phương pháp rút ngắn thời gian lao động cần thiết
của công nhân bằng cách nâng cao năng suất lao động, tđó độ dài ngày lao động
không đổi, mà thời gian lao động thặng dư lại tăng lên.
- Về phương pháp:
+) PP sản xuất gttd tuyệt đối: Tăng cường độ lao động, năng suất lao động thời
gian lao động cần thiết không đổi.
+) PP sản xuất gttd tương đối: Tăng năng suất lao động bằng cách áp dụng máy móc
hiện đại, tổ chức lao động một cách hợp lý, rút ngắn thời gian lao động cần thiết.
- Về tác động đối với công nhân:
+) PP sản xuất gttd tuyệt đối: Khiến công nhân phải làm việc lâu hơn với năng suất
không đổi, sức khoẻ kiệt quệ và giảm chấ lượng cuộc sống.
+) PP sản xuất gttd tương đối: Không kéo dài thời gian làm việc, sức lao động được
giảm nhẹ. Tuy nhiên năng suất tăng cao đòi hỏi công nhân phải áp lực lớn hơn,
làm việc nhanh và hiệu qủa hơn.
- Về tác động đối với nhà tư bản:
+) PP sản xuất gttd tuyệt đối: Làm tăng thời gian lao động thặng dư, tăng tỷ suất giá
trị thặng dư, không cần đầu máy móc, thiết bị. Tuy nhiên phương pháp này không
bền vững vì gây kiệt sức lao động của công nhân, hạn chế về mặt cạnh tranh trên thị
trường.
lOMoARcPSD| 61236129
+) PP sản xuất gttd ơng đối: Làm ng thời gian lao động thặng dư, ng tỷ suất giá
trị thặng dư, có tính bền vững vì cải tiến công nghệ, dễ dàng cạnh tranh với các n
tư bản khác trên thị trường, tuy nhiên chi phí để phát triển công nghê - kỹ thuật cao.
- Giai đoạn:
+) PP sản xuất gttd tuyệt đối: thường xuất hiện ở giai đoạn đầu của sản xuất tư bản,
nền kinh tế còn lạc hậu.
+) PP sản xuất gttd tương đối: Phổ biến hơn trong giai đoạn sau, khi khoa học
công nghệ phát triển.
PP sản xuất gttd tương đối là phương pháp bóc lột tinh vi vì những lí do sau đây:
- Rút ngắn thời gian lao động hội cần thiết mà công nhân làm việc để tạo ra
giá trị tương đương với tiền lương của mình mà thời gian lao động trong một
ngày không thay đổi, cùng với đó gia tăng thời gian lao động thặng (thời
gian công nhân tạo ra giá trị cao hơn tiền lương của họ).
Qua đó khiến công nhân khó nhận ra việc bị bóc lột, sức lao động được
giảm nhẹ do áp dụng công nghệ hiện đại nên PP này mang tính bền vững,
ưu việt hơn so với PP tuyệt đối.
- Việc áp dụng công nghệ - kỹ thuật hiện đại như máy móc, dây chuyền sản xuất
ép công nhân phải hoạt động trong guồng quay không ngừng nghỉ để tạo ra
năng suất cao nhất, gây ra áp lực công việc lớn cho công nhân.
- Mặc dù nâng cao năng suất lao động, tiền công thực tế của công nhân vẫn được
tính dựa trên giá trị sức lao động (chi phí để tái sản xuất lao động). Giá trị thặng
công nhân tạo ra đươc nbản sở hữu, công nhân không được nhận thêm
phần giá trị mà họ đã tạo.
=> PP sản xuất gttd tương đối một pp tinh vi sự che giấu bản chất bóc lột
TBCN, tạo ra cho công nhân cảm giác “hợp lý” khi không phải kéo dài ngày lao
động, mà vẫn đem lại cho nhà tư bản giá trị thặng dư to lớn.
4. bản bất biến? bản khả biến? Ý nghĩa của việc phân chia tư bản thành
bản bất biến và tư bản khả biến?
- bản bất biến: Được kí hiệu là c, tư bản bất biến là bộ phận tư bản biế thành
tư liệu sản xuất, không thay đổi trong quá trình sản xuất TBCN, không có sự
thay đổi về lượng.
bản bất biến đóng vai tđiều kiện cần cho qtrình sản xuất giá trị
thặng dư vì nếu không có nó, sẽ không có tư liệu cho quá trình sx.
- bản khả biến: Được hiệu v, bản khả biến bộ phận tư bản biến
thành sức lao động, không tái hiện ra những thông qua lao động trừu tượng của
lOMoARcPSD| 61236129
người công nhân làm thuê mà tăng lên, tức là có sự thay đổi về chất trong quá
trình sản xuất giá trị thặng dư.
bản khả biến đóng vai trò quyết định trong việc sản xuất ra giá trị thặng
dư.
- Ý nghĩa của việc phân chia tư bản bất biến và tư bản khả biến:
+) Việc phân chia tư bản bất biến bản khả biến vạch nguồn gốc của giá trị
thặng do bản khả biến (công lao của người lao động) quyết định, giá trị
thặng dư của những người lao động làm nên lại bị nhà tư bản chiếm không. Tư bản
bất biến tuy không trực tiếp tạo ra giá trị thặng nhưng vai trò quan trọng
trong quá trình sản xuất, quyết định năng suất lao động của công nhân.
+) Từ đó, việc phân chia bản bất biến bản khả biến góp phần thể hiện bản
chất bóc lột của CNTB
+) Qua việc phân chia bản bất biến bản khả biến, các nhà kinh tế thể phân
tích được hiệu quả sử dụng vốn, đo lường năng suất và khả năng tạo ra giá trị thặng
dư, từ đó có sự điều chỉnh về tỷ suất thặng dư, cấu tạo hữu cơ của tư bản.
5. Đặc trưng của cách mạng công nghiệp lần thứ 3 là gì? Tác động của CM công
nghiệp lần thứ 3 đến sự phát triển của LLSX ở Việt Nam như thế nào?
Đặc trưng của CM CN lần thứ 3:
- Thời gian: Cách mạng công nghiệp lần thứ 3 bắt đầu kể từ năm 1969 kết
thúc vào khoảng cuối thế kỉ XX, khi cuộc khủng hoảng tài chính Châu Á nổ
ra, với phát minh bóng bán dẫn, đánh dấu sphát triển của thuật số hiện đại.
- Đặc điểm của cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ 3, còn được gọi Cách
mạng số hay Cách mạng máy tính.
+) Ứng dụng của công nghệ thông tin tự động hoá: Cách mạng công nghiệp
lần thứ 3 nổ ra với sự phát triển của máy tính kỹ thuật số hiện đại, sản xuất tự
động dựa vào máy tính, thiết bị điện tử và đặc biệt là sự ra đời của Internet (thập
niên 1990). Mạng toàn cầu mở ra một thế giới mới trong cuộc sống hàng ngày
của một nửa dân số Mỹ, đặc biệt là vào cuối những năm 1990. +) Chuyển mình
từ khí hoá sang số hoá: Những thành tựu chế tạo hạ tầng điện tử, siêu y tính
(thập niên 1960) đã mở ra kỷ nguyên thuật số cho nền sản xuất công nghiệp
nông nghiệp. Các robot, dây chuyền được áp dụng trong sản xuất công nghiệp
và công nghệ sinh học được phát triển, thúc đẩy nền kinh tế nông nghiệp.
+) Phát triển các vật liệu mới như chất bán dẫn, nano, phát triển công nghệ sinh
học áp dụng trong lĩnh vực nông nghiệp, y tế, giáo dục.
lOMoARcPSD| 61236129
+) Sự bùng nổ mạnh mẽ của công nghệ thông tin và Internet tạo ra một thế giới
kết nối, giúp quốc tế hoá sản xuất giao dịch, tạo ra mạng lưới sản xuất giao
dịch toàn cầu. ng hoá, dịch vụ cũng được vận chuyển nhanh chóng qua biên
giới.
+) Tác động sâu sắc đến cuộc sống của nhân loại qua sự phát triển của SMAC
(mạng hội, công nghệ di động, công nghệ phân tích điện toán đám mây),
thuơng mại điện tử, mạng lưới thông tin toàn cầu “www” giúp người dùng khám
phá mọi thông tin được chia sẻ trên Internet.
- Một số thành tựu khác của Cuộc cách mạng công nghiệp lần th3: +) Big
Data: một nguồn dữ liệu dồi dào cho lĩnh vực truyền thông tiếp thị, được
khai thác để thu về nhưngx thông tin về hành vi của khách hàng. +) Mạng
lưới máy bay không người lái (UAV) sdụng năng lượng điện Hydro c
phương tiện tự vận hành.
+) Ống nano carbon, nhựa sinh học và graphene đang thay đổi diện mạo của vật
liệu trong nhiều ngành công nghiệp.
Vai trò của CMCN 3.0 trong sự phát triển về LLSX ở VN:
- Thúc đẩy việc ứng dụng công gnhee hiện đại vào quy trình sản xuất: Cuộc
CMCN lần thứ 3 có trọng tâm phát triển tự động hoá, kỹ thuật số, công nghệ
thông tin đã giúp VN tiếp cận với những công nghệ hiện đại mới. Các ngành
sản xuất công nghiệp như dệt may, chế biến thực phẩm, lắp ráp điện tử đã
áp dụng máy móc tự động, tăng năng suất lao động và chất lượng sản phẩm.
Tập đoàn Samsung đầu vào Việt Nam với các nhà máy sản xuất điện thoại
thông minh tại Bắc Ninh Thái Nguyên. Các dây chuyền sản xuất tự động
giúp tăng năng suất và sản lượng, đóng góp lớn vào xuất khẩu của Việt Nam,
chiếm khoảng 20-25% giá trị xuất khẩu quốc gia.
- Thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu kinh tế: Do sự tác động của CMCN 3.0, nền kinh
tế VN đã sự chuyển dịch cấu, giảm tỷ trọng nông nghiệp, tăng tỷ trọng
công nghiệp và dịch vụ. Các ngành công nghiệp chế biến, chế tạo đóng góp tỷ
trọng lớn đối với nền kte quốc gia, còn ngành dịch vụ phát triển trong nhiều
lĩnh vực csong như y tế, giáo dục, tài chính
- Nâng cao kỹ năng, kiến thức của người dân: Sự phổ cập Internet cũng như máy
tính đã mở ra thế giới kết nối, giúp người dân tìm kiếm được thông tin. Thêm
vào đó, sự áp dụng công nghệ hiện đại vào dây chuyền sản xuất buộc người
lao động phải trình độ cao hơn, biết sử dụng y móc tđộng và phần mềm.
- Mở rộng kết nối và hội nhập quốc tế: Công nghệ thông tin và truyền thông
lOMoARcPSD| 61236129
(ICT) từ CMCN 3.0 đã thúc đẩy quá trình hội nhập kinh tế toàn cầu của Việt
Nam. Việt Nam đã tận dụng Internet, thương mại điện tử chuỗi cung ứng
toàn cầu để mở rộng xuất khẩu.
6. Cách mạng công nghiệp lần thứ 4 (4.0) gì? Thách thức đặt ra đối với
thương mại truyền thống trước sự phát triển của thương mại điện tử hiện
nay?
Cách mạng công nghiệp lần thứ 4:
- Thời gian: Cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ (cách mạng 4.0) lần đầu tiên
được đề cập trong bản Kế hoạch hành động chiến ợc công nghệ cao được chính
phủ Đức thông qua năm 2012.
Đặc trưng của CMCN 4.0:
- Dựa trên nền tảng công nghệ số tích hợp công nghệ thông tin giúp tối ưu
hoá các quy trình và phương thức sản xuất thông qua công nghệ kỹ thuật số.
Điển hình với những thành tựu như: công nghệ in 3D, công nghệ sinh học,
công nghệ vật liệu mới, công nghệ tự động hoá và robot.
- Cách mạng số c công nghệ nền tảng thông qua các ng nghệ đột phá
như:
+) Internet vạn vật (Iot) giúp kết nối và trao đổi thông tin, dữ liệu giữa những
người dùng, những thiết bị thông minh.
+) Ttuệ nhân tạo (AI) giúp hỗ trợ ra quyết định tự động hoá các quy trình.
+) Thực tế ảo (VR) và thực tế tăng cường (AR) ứng dụng trong sản xuất, giáo
dục, giải trí.
+) Điện toán đám mây giúp lưu trữ và xử lý dữ liệu lớn.
- Sự dung hợp của các công nghệ, kết hợp các lĩnh vực vật lý, số, sinh học để
tạo ra skhác biệt bản so với các cuộc cách mạng trước đây. Điển hình
các lĩnh vực như: mã hóa chuỗi gen, công nghệ nano, năng lượng tái tạo, tính
toán lượng tử.
- Vai trò của CMCN 4.0:
+) Tạo ra sở vật chất lực lượng sản xuất mới, từ đó thúc đẩy sự phát
triển của nền kinh tế tri thức.
+) Giải phóng con người khỏi: các chức năng thực hiện lặp lại, chức năng
quản lý truyền thống, quá trình sản xuất trực tiếp.
+) Trở thành yếu tố quan trọng trong sản xuất và đời sống xã hội.
Những thách thức đối với thương mại truyền thống trước sự phát triển không
ngừng của nền thương mại điện tử:
lOMoARcPSD| 61236129
- Sự thay đổi trong hành vi tiêu dùng của khách hàng
+) Hiện nay, với sự gia tăng không ngừng nghỉ của các sàn thương mại điện
tử, người ng ngày càng ưa thích sự tiện lợi chúng mang lại, chỉ cần mua
sắm trên những thiết bthông minh, thay vì di chuyển ra cửa hàng để mua
món đồ đó.
+) Cùng với đó, các sàn thương mại điện tử không phải chịu những chi phí
như mặt bằng cửa hàng, tiền thuê nhiều nhân viên… khiến cho giá bán rẻ hơn
rất nhiều giá bán ngoài cửa hàng cho cùng một sản phẩm, hơn nữa những
sự kiện phát sóng trực tiếp cung cấp cho người mua những mã giảm giá sâu.
Chính điều này đã thu hút lượng lớn khách hàng quan tâm và ưa thích thương
mại điện tử thay vì thương mại truyền thống.
- Hạn chế về phạm vi tiếp cận khách hàng:
+) Nếu như mở bán hàng hoá tại các cửa hàng sẽ bị hạn chế trong việc tiếp
cận các tệp khác hàng đa dạng từ các địa phương, vùng miền khác thì thương
mại điện tử đã mở rộng phạm vi mua bán ra toàn quốc, thậm chí quốc tế.
+) Trong khi những cửa hàng truyền thống khó tìm cách tận dụng dữ liệu của
khách hàng để cung cấp trải nghiệm mua hàng được nhân hoá thì thương
mại điện tử thể áp dụng trí tuệ nhân tạo hay Big Data để thể nắm bắt
được nhu cầu và hành vi của khách hàng.
- Những trường hợp bất ngờ:
+) Thương mại truyền thống rất dễ gặp phải khó khăn khi những yếu tố bất
ngờ xảy đến như thiên tai, dịch bệnh. Điển hình như đại dịch COVID 19,
hàng loạt tuyến phố bị phong toả, người dân cũng hạn chế ra đường nên nhiều
cửa hàng đã trả lại mặt bằng vì không duy trì được nguồn tiền.
7. Vì sao Việt Nam phải CNH, HĐH gắn với phát triển Kinh tế tri thức? Người
lao động phái làm gì để đám ứng yêu cầu của nền kinh tế tri thức?
- Công nghiệp hoá: một quá trình chuyển từ lao động thủ công là chính sang
lao động bằng máy móc, trang thiết bị hiện đại.
- Hiện đại hoá: quá trình nâng cấp, cải tiến máy móc, phương tiện, kỹ thuật
ngày càng tiên tiến và hiện đại hơn.
lOMoARcPSD| 61236129
=> CNH - HĐH quá trình áp dụng KHCN hiện đại vào sản xuất những
người vận hành những máy móc trang thiết bị đó không ai khác là những người
lao động tri thức.
- LLLĐ tri thức những người lao động trình đcao của nền kinh tế tri thức.
- Kinh tế tri thức là nền kinh tế trong đó ssản sinh ra, phổ cập và sử dụng tri
thức giữ vai tquyết định nhất đối với sự phát triển kinh tế, tạo ra của cải,
nâng cao chất lượng đời sống.
Công nghiệp hoá, hiện đại hoá phải gắn liền với nền kinh tế tri thức vì:
- Trong nền kinh tế tri thức, tri thức trở thành lực lượng sản xuất trực tiếp, vốn
quý nhất, là nguồn lực quan trọng hàng đầu, quyết định sự tăng trưởng phát
triển kinh tế.
- Trong nền kinh tế tri thức, cấu tổ chức phương thức hoạt động kinh tế có
những biến đổi sâu sắc, nhanh chóng, trong đó các ngành kinh tế dựa vào tri
thức, dựa vào các thành tựu mới nhất của khoa học công nghệ ngày càng
tăng và chiếm đa số.
- Trong nền kinh tế tri thức, công nghệ thông tin được ứng dụng rộng rãi trong
mọi lĩnh vực và thiết lập được các mạng thông tin đa phương tiện phủ khắp cả
nước, nối với hầu hết các tổ chức, các hộ gia đình. Thông tin trở thành nguồn
tài nguyên quan trọng nhất của nền kinh tế.
- Trong nền kinh tế tri thức, nguồn nhân lực nhanh chóng được tri thức hoá, sự
sáng tạo, đổi mới, học tập trở thành yêu cầu thường xuyên đối với mọi người
và phát triển con người trở thành nhiệm vụ trung tâm của xã hội.
- Trong nền kinh tế tri thức, mọi hoạt động đều liên quan đến vấn đề toàn cầu
hoá kinh tế, có tác động tích cực hoặc tiêu cực sâu rộng tới nhiều mặt của đời
sống xã hội trong mỗi quốc gia và trên thế giới.
Muốn xây dựng thành công cơ sở vật chất cho chủ nghĩa xã hội thì chúng ta cần
phải gắn Công nghiệp hoá, hiện đại hoá với nền kinh tế tri thức:
- Ứng dụng rộng rãi công nghệ thông tin trên tất cả các lĩnh vực của xã hội, sử
dụng máy móc hiện đại cho lao động thông qua các phát minh. Tri thức hoá
nguồn nhân lực.
- Học tập không ngừng, nhất cải thiện về vốn ngoại ngữ để gia tăng nhu cầu
hội nhập quốc tế; Tập trung phát triển kỹ năng chuyên sâu để trở thành chuyên
gia trong một lĩnh vực cụ thể.
- Chuẩn bị tâm thế để thích nghi nhanh chóng với công nghệ mới, mô hình làm
việc mới môi trường thay đổi. Sẵn sàng học hỏi các kỹ năng mới khi cần
thiết để không bị bỏ lại phía sau.
lOMoARcPSD| 61236129
- Để tiến hành nền kinh tế tri thức, Việt Nam cần xác định các ngành phát
triển tuần tự, đồng thời làm các ngành mũi nhọn, đi tắt để rút ngắn con
đường tiến đến kinh tế tri thức.
- trí thức thì mỗi chúng em cần phải trách nhiệm hơn để góp phần kết
hợpcông nghiệp hóa, hiện đại hóa với phát triển kinh tế tri thức thông qua
những hành động và việc làm cụ thể sau:
+ Ra sức học tập rèn luyện kiến thức thông qua sách vở, thầy , bạn
nhà trường.
+ Bên cạnh đó, tăng cường những kỹ năng mềm trong các hoạt động xã hội,
hoạt động thiện nguyện (giúp đỡ trẻ em nghèo, người già neo đơn, v.v.). +
Thích ứng thay đổi theo những nh huống của thời kỳ mới, đưa ra
những giải pháp thích hợp để giải quyết.
+ Nhanh chóng tiếp cận những nền tảng khoa học kỹ thuật công nghệ tiên tiến
trên thế giới để vận dụng vào công việc, học tập, đời sống.
+ Tiếp thu có chọn lọc những điều tốt, những tiên tiến, văn minh, hiện đại hơn
hết phải giữ gìn, bảo tồn những giá trị tinh hoa bền vững của dân tộc mình.

Preview text:

lOMoAR cPSD| 61236129
Đề cương ôn tập: Môn Kinh tế chính trị Đề thi gồm 4 câu:
+ 2 câu hỏi trắc nghiệm mỗi câu 2 điểm
+ 2 câu hỏi tự luận mỗi câu 3 điểm
I. Phần trắc nghiệm (gồm 2 câu hỏi) Câu
hỏi sẽ nằm trong phạm vi sau:
-Lý luận của C.Mác về sản xuất hàng hóa và hàng hóa (trang 35 đến trang46). Đọc thêm
bài giảng TEXT của cô trên LMS
- Lý luận của C.Mác về giá trị thặng dư (trang 85 – trang 104) II/ Phần tự luận
Tập trung giải quyết mấy vấn đề sau
1. Nghiên cứu 2 điều kiện ra đời và tồn tại sản xuất hàng hóa? 2 điều kiện đó ở Việt
Nam hiên nay như thế nào?
Hai điều kiện ra đời và tồn tại sản xuất hàng hoá là phân công lao động xã hội và sự
tách biệt kinh tế giữa những chủ thể sản xuất.
- Phân công lao động xã hội:
+) Là sự phân chia lao động xã hội thành các ngành, các linh vực khác nhau, tạo nên
sự chuyên môn hoá giữa những người sản xuất có các ngành, nghề khác nhau. +)
Cụ thể, do phân công lao động, mỗi người lại tập trung làm một sản phẩm của mình,
nhưng họ lại có nhu cầu sử dụng những sản phẩm khác nhau. Từ đó dẫn đến việc
trao đổi hàng hoá với nhau
+) Phân công lao động càng phát triển thì sự sản xuất, trao đổi hàng hoá ngày càng
được rộng mở và đa dạng hơn.
Vì vậy, phân công lao động xã hội được coi là cơ sở cho sản xuất hàng hoá.
- Sự tách biệt về kinh tế giữa những chủ thể sản xuất:
+) Làm cho những chủ thể sản xuất tồn tại độc lập với nhau và khác nhau về lợi ích.
Do đó, nếu họ muốn sử dụng sản phẩm của người khác thì phải thông qua trao đổi, mua bán hàng hoá.
+) Sự tách biệt về kinh tế đòi hỏi những chủ thể sản xuất trao đổi hàng hoá theo quy
tắc bình đẳng, ngang giá, hai bên đều có lợi.
Vậy nên, sự tách biệt về kinh tế giữa những chủ thể sản xuất là điều kiện cần cho
sự ra đời của sản xuất hàng hoá. Phân tích hai điều kiện đó ở Việt Nam:
- Phân công lao động xã hội:
+) Sự chuyển dịch cơ cấu ngành nghề từ nông nghiệp sang công nghiệp và dịch vụ,
tỷ lệ lao động trong ngành nông nghiệp đã giảm mạnh, trong khi lao động trong
ngành dịch vụ và công nghiệp tăng trưởng. Lao động trong ngành công nghiệp và
xây dựng là khu vực có sự phát triển mạnh mẽ, đặc biệt là các ngành chế biến chế
tạo, sản xuất điện, và xây dựng. Các ngành dịch vụ như tài chính, ngân hàng, du
lịch, và thương mại đã phát triển nhanh chóng và trở thành động lực tăng trưởng của nền kinh tế. lOMoAR cPSD| 61236129
+) Sự phân chia lao động và chuyên môn hoá theo vùng chủ yếu dựa vào sự khác
biệt về mức độ phát triển kinh tế, cơ sở hạ tầng, điều kiện tự nhiên và mức sống giữa
các vùng trên cả nước. Vùng đồng bằng tập trung sản xuất công nghiệp và dịch vụ;
Vùng đồi núi đẩy mạnh khai khoáng, nông lâm nghiệp; Vùng ven biển chủ yếu thúc
đẩy kinh tế biển, khai thác thuỷ sản,dịch vụ logistic và phát triển du lịch đất nước.
+) Phân chia lao động theo trình độ chuyên môn, khi lao động phổ thông vẫn chiếm
phần lớn, chủ yếu hoạt động trong lĩnh vực công nghiệp và nông nghiệp, còn lao
động có trình độ cao tập trung trong cách ngành công nghệ, khoa học kĩ thuật, dịch
vụ như y tế, giáo dục, tài chính…
- Sự tách biệt kinh tế giữa những chủ thể sản xuất:
+) Nền kinh tế VN có sự đa dạng về chủ thể sản xuất, bao gồm các doanh nghiệp
nhà nước và tư nhân, công ty quốc tế đầu tư vào VN, các hình thức sản xuất chung
như hợp tác xã… Song mỗi chủ thể đều hoạt động độc lập và có mục tiêu sản xuất riêng.
+) Có sự phân hoá, tách biệt về kinh tế giữa các ngành, các vùng: ngành công nghiệp,
dịch vụ có giá trị cao hơn, trong khi đó ngành nông nghiệp phụ thuộc vào điều kiện
thời tiết, giá trị thấp hơn. Vùng đồng bằng SH, TH.HCM tập trung phát triển công
nghiệp, trí tuệ nhân tạo và các ngành dịch vụ, còn vùng đồi núi và nông thôn phát
triển nông nghiệp, khai khoáng, sản xuất nhỏ lẻ.
+) Sau Đổi mới năm 1986, sự tách biệt kinh tế tại VN đã định hình một cách rõ ràng
hơn, chuyển mình từ nên kinh tế tập trung, quan liêu bao cấp, thiếu tính tự chủ và
cạnh tranh sang một nền kinh tế nhiều thành phần, mở cửa giao thương với các nước
khác, các doanh nghiệp có sự tự chủ nhưng vẫn có sự quản lí của NN.
2. Phân biệt giá trị xã hội và giá trị cá biệt của hàng hóa, giá trị xã hội của hàng
hóa được hình thành như thế nào? Sự khác nhau giữa quá trình hình thành giá
trị xã hội của hàng hóa trong lĩnh vực sản xuất công nghiệp với quá trình hình
thành giá trị xã hội của hàng hóa trong lĩnh vực sản xuất nông nghiệp
(phần này cô đã nói kỹ trong mục Địa tô TBCN)
- Giá trị xã hội của hàng hoá biểu hiện mức hao phí lao động trung bình của xã
hội trong những điều kiện tự nhiên, công nghệ - kỹ thuật bình thường, với trình
độ thành thạo trung bình, cường độ lao động trung bình.
- Giá trị cá biệt của hàng hoá biểu hiện mức hao phí lao động cá biệt của một
chủ thể sản xuất tạo ra trong một điều kiện sản xuất cụ thể, không thể áp
dụng lên toàn bộ nền kinh tế. Giá trị cá biệt phản ánh sự khác biệt giữa các chủ
thể sản xuất về lao động cá biệt.
- Cách thức hình thành giá trị xã hội của hàng hoá: lOMoAR cPSD| 61236129
+) Giá trị xã hội của hàng hoá được hình thành do thời gian lao động xã hội
cần thiết và quá trình trao đổi hàng hoá. Chỉ những sản phẩm được xã hội
chấp nhận mới có giá trị xã hội.
+) Trong nền kinh tế, mỗi người sản xuất hoạt động một cách độc lập, nhưng
hàng hoá mà họ sản xuất ra phải được xã hội công nhận thông qua quá trình
trao đổi hàng hoá. Khi đó, lao động cá biệt của mỗi người khi thông qua quá
trình trao đổi hàng hoá sẽ chuyển thành lao động xã hội cần thiết.
+) Các yếu tố ảnh hưởng đến giá trị xã hội của hàng hoá: trình độ kỹ thuật và
công nghệ trong xã hội, quy mô và tổ chức sản xuất, điều kiện tự nhiên, nhu cầu thị trường.
Quá trình hình thành giá trị xã hội ở hai ngành công nghiệp và nông nghiệp:
- Trong công nghiệp, giá trị xã hội dựa trên thời gian lao động xã hội trong điều
kiện sản xuất trung bình, năng suất lao động trung bình.
- Trong nông nghiệp, giá trị xã hội dựa trên thời gian lao động xã hội trong điều
kiện sản xuất xấu nhất, gây ra năng suất lao động xấu nhất. Nguyên nhân:
- Ảnh hưởng của điều kiện tự nhiên:
+) Trong công nghiệp, điều kiện tự nhiên không hoặc ít đóng vai trò quyết định
trong quá trình sản xuất. Vậy nên năng suất lao động chủ yếu dựa vào công
nghệ kỹ thuật hiện đại, tổ chức quản lí sản xuất và trình độ của lao động.
+) Trong nông nghiệp, yếu tố tự nhiên đóng vai trò rất lớn, quyết định sản
lượng và chất lượng của mùa vụ thu hoạch của người lao động. Do sự khác
biệt tự nhiên, đất đai được chia thành các loại tốt, trung bình, và xấu, dẫn đến
chênh lệch năng suất giữa các khu vực.
- Sự đồng đều trong quá trình sản xuất:
+) Nếu trong công nghiệp, quy trình sản xuất hàng hoá được áp dụng quy chuẩn
về dây chuyền và công nghệ nên hàng hoá có tính đồng nhất cao giữa các nhà
sản xuất. Ngược lại, trong nông nghiệp, do sự phân hoá đất đai, khí hậu giữa
các vùng, sản lượng và chất lượng hàng hoá có thể có khác biệt lớn giữa các
vùng khác nhau, các nông trại khác nhau.
- Phân phối lợi nhuận siêu ngạch:
+) Trong công nghệ, lợi nhuận siêu ngạch đạt được từ việc cải tiến công nghệ,
tăng năng suất lao động, giảm thời gian lao động tất yếu thuộc về nhà tư bản.
Còn trong nông nghiệp, phần lợi nhuận siêu ngạch đạt được không thuộc về
nhà tư bản kinh doanh mà thuộc về địa chủ dưới dạng địa tô.
 Sự khác nhau về sự hình thành của giá trị xã hội giữa công nghiệp và nông
nghiệp đến từ cơ sở xác định giá trị xã hội của hàng hoá. Trong công nghiệp,
giá trị xã hội phản ánh điều kiện sản xuất trung bình, nhấn mạnh vai trò của lOMoAR cPSD| 61236129
công nghệ và tổ chức sản xuất. Trong khi đó, nông nghiệp bị chi phối bởi yếu
tố tự nhiên và điều kiện sản xuất xấu nhất, dẫn đến sự không đồng đều trong
năng suất lao động giữa các vùng đất.
 Sự khác biệt giữa công nghiệp và nông nghiệp trong quá trình hình thành giá
trị xã hội của hàng hóa phản ánh hai cách tiếp cận cơ bản về tổ chức sản xuất
và phân phối lợi ích. Điều này nhấn mạnh tầm quan trọng của công nghệ và
tổ chức sản xuất trong công nghiệp, đồng thời bộc lộ những hạn chế tự nhiên
và bất bình đẳng trong nông nghiệp, đặc biệt dưới chế độ tư bản chủ nghĩa.
3. Ôn kỹ 2 Phương pháp sản xuất giá trị thặng dư để chỉ ra điểm khác nhau giữa
2 phương pháp sản xuất giá trị thặng dư? Vì sao sản xuất giá trị thặng dư tương
đối là phương pháp bóc lột tinh vi?
Sự khác nhau giữa hai phương pháp sản xuất giá trị thặng dư: - Về khái niệm:
+) PP sản xuất gttd tuyệt đối: Là phương pháp kéo dài ngày lao động một cách tuyệt
đối, vượt quá thời gian lao động cần thiết của công nhân trong điều kiện năng suất
lao động không đổi, thời gian lao động cần thiết không đổi.
+) PP sản xuất gttd tương đối: Là phương pháp rút ngắn thời gian lao động cần thiết
của công nhân bằng cách nâng cao năng suất lao động, từ đó độ dài ngày lao động
không đổi, mà thời gian lao động thặng dư lại tăng lên. - Về phương pháp:
+) PP sản xuất gttd tuyệt đối: Tăng cường độ lao động, năng suất lao động và thời
gian lao động cần thiết không đổi.
+) PP sản xuất gttd tương đối: Tăng năng suất lao động bằng cách áp dụng máy móc
hiện đại, tổ chức lao động một cách hợp lý, rút ngắn thời gian lao động cần thiết.
- Về tác động đối với công nhân:
+) PP sản xuất gttd tuyệt đối: Khiến công nhân phải làm việc lâu hơn với năng suất
không đổi, sức khoẻ kiệt quệ và giảm chấ lượng cuộc sống.
+) PP sản xuất gttd tương đối: Không kéo dài thời gian làm việc, sức lao động được
giảm nhẹ. Tuy nhiên năng suất tăng cao đòi hỏi công nhân phải có áp lực lớn hơn,
làm việc nhanh và hiệu qủa hơn.
- Về tác động đối với nhà tư bản:
+) PP sản xuất gttd tuyệt đối: Làm tăng thời gian lao động thặng dư, tăng tỷ suất giá
trị thặng dư, không cần đầu tư máy móc, thiết bị. Tuy nhiên phương pháp này không
bền vững vì gây kiệt sức lao động của công nhân, hạn chế về mặt cạnh tranh trên thị trường. lOMoAR cPSD| 61236129
+) PP sản xuất gttd tương đối: Làm tăng thời gian lao động thặng dư, tăng tỷ suất giá
trị thặng dư, có tính bền vững vì cải tiến công nghệ, dễ dàng cạnh tranh với các nhà
tư bản khác trên thị trường, tuy nhiên chi phí để phát triển công nghê - kỹ thuật cao. - Giai đoạn:
+) PP sản xuất gttd tuyệt đối: thường xuất hiện ở giai đoạn đầu của sản xuất tư bản,
nền kinh tế còn lạc hậu.
+) PP sản xuất gttd tương đối: Phổ biến hơn trong giai đoạn sau, khi khoa học và công nghệ phát triển.
PP sản xuất gttd tương đối là phương pháp bóc lột tinh vi vì những lí do sau đây:
- Rút ngắn thời gian lao động xã hội cần thiết mà công nhân làm việc để tạo ra
giá trị tương đương với tiền lương của mình mà thời gian lao động trong một
ngày không thay đổi, cùng với đó gia tăng thời gian lao động thặng dư (thời
gian công nhân tạo ra giá trị cao hơn tiền lương của họ).
 Qua đó khiến công nhân khó nhận ra việc bị bóc lột, sức lao động được
giảm nhẹ do áp dụng công nghệ hiện đại nên PP này mang tính bền vững,
ưu việt hơn so với PP tuyệt đối.
- Việc áp dụng công nghệ - kỹ thuật hiện đại như máy móc, dây chuyền sản xuất
ép công nhân phải hoạt động trong guồng quay không ngừng nghỉ để tạo ra
năng suất cao nhất, gây ra áp lực công việc lớn cho công nhân.
- Mặc dù nâng cao năng suất lao động, tiền công thực tế của công nhân vẫn được
tính dựa trên giá trị sức lao động (chi phí để tái sản xuất lao động). Giá trị thặng
dư công nhân tạo ra đươc nhà tư bản sở hữu, công nhân không được nhận thêm
phần giá trị mà họ đã tạo.
=> PP sản xuất gttd tương đối là một pp tinh vi vì sự che giấu bản chất bóc lột
TBCN, tạo ra cho công nhân cảm giác “hợp lý” khi không phải kéo dài ngày lao
động, mà vẫn đem lại cho nhà tư bản giá trị thặng dư to lớn.
4. Tư bản bất biến? Tư bản khả biến? Ý nghĩa của việc phân chia tư bản thành tư
bản bất biến và tư bản khả biến?
- Tư bản bất biến: Được kí hiệu là c, tư bản bất biến là bộ phận tư bản biế thành
tư liệu sản xuất, không thay đổi trong quá trình sản xuất TBCN, không có sự thay đổi về lượng.
Tư bản bất biến đóng vai trò là điều kiện cần cho quá trình sản xuất giá trị
thặng dư vì nếu không có nó, sẽ không có tư liệu cho quá trình sx.
- Tư bản khả biến: Được kí hiệu là v, tư bản khả biến là bộ phận tư bản biến
thành sức lao động, không tái hiện ra những thông qua lao động trừu tượng của lOMoAR cPSD| 61236129
người công nhân làm thuê mà tăng lên, tức là có sự thay đổi về chất trong quá
trình sản xuất giá trị thặng dư.
Tư bản khả biến đóng vai trò quyết định trong việc sản xuất ra giá trị thặng dư.
- Ý nghĩa của việc phân chia tư bản bất biến và tư bản khả biến:
+) Việc phân chia tư bản bất biến và tư bản khả biến là vạch rõ nguồn gốc của giá trị
thặng dư là do tư bản khả biến (công lao của người lao động) quyết định, giá trị
thặng dư của những người lao động làm nên lại bị nhà tư bản chiếm không. Tư bản
bất biến tuy không trực tiếp tạo ra giá trị thặng dư nhưng nó có vai trò quan trọng
trong quá trình sản xuất, quyết định năng suất lao động của công nhân.
+) Từ đó, việc phân chia tư bản bất biến và tư bản khả biến góp phần thể hiện bản chất bóc lột của CNTB
+) Qua việc phân chia tư bản bất biến và tư bản khả biến, các nhà kinh tế có thể phân
tích được hiệu quả sử dụng vốn, đo lường năng suất và khả năng tạo ra giá trị thặng
dư, từ đó có sự điều chỉnh về tỷ suất thặng dư, cấu tạo hữu cơ của tư bản.
5. Đặc trưng của cách mạng công nghiệp lần thứ 3 là gì? Tác động của CM công
nghiệp lần thứ 3 đến sự phát triển của LLSX ở Việt Nam như thế nào?
Đặc trưng của CM CN lần thứ 3:
- Thời gian: Cách mạng công nghiệp lần thứ 3 bắt đầu kể từ năm 1969 và kết
thúc vào khoảng cuối thế kỉ XX, khi cuộc khủng hoảng tài chính Châu Á nổ
ra, với phát minh bóng bán dẫn, đánh dấu sự phát triển của kĩ thuật số hiện đại.
- Đặc điểm của cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ 3, còn được gọi là Cách
mạng số hay Cách mạng máy tính.
+) Ứng dụng của công nghệ thông tin và tự động hoá: Cách mạng công nghiệp
lần thứ 3 nổ ra với sự phát triển của máy tính kỹ thuật số hiện đại, sản xuất tự
động dựa vào máy tính, thiết bị điện tử và đặc biệt là sự ra đời của Internet (thập
niên 1990). Mạng toàn cầu mở ra một thế giới mới trong cuộc sống hàng ngày
của một nửa dân số Mỹ, đặc biệt là vào cuối những năm 1990. +) Chuyển mình
từ cơ khí hoá sang số hoá: Những thành tựu chế tạo hạ tầng điện tử, siêu máy tính
(thập niên 1960) đã mở ra kỷ nguyên kĩ thuật số cho nền sản xuất công nghiệp
và nông nghiệp. Các robot, dây chuyền được áp dụng trong sản xuất công nghiệp
và công nghệ sinh học được phát triển, thúc đẩy nền kinh tế nông nghiệp.
+) Phát triển các vật liệu mới như chất bán dẫn, nano, phát triển công nghệ sinh
học áp dụng trong lĩnh vực nông nghiệp, y tế, giáo dục. lOMoAR cPSD| 61236129
+) Sự bùng nổ mạnh mẽ của công nghệ thông tin và Internet tạo ra một thế giới
kết nối, giúp quốc tế hoá sản xuất và giao dịch, tạo ra mạng lưới sản xuất và giao
dịch toàn cầu. Hàng hoá, dịch vụ cũng được vận chuyển nhanh chóng qua biên giới.
+) Tác động sâu sắc đến cuộc sống của nhân loại qua sự phát triển của SMAC
(mạng xã hội, công nghệ di động, công nghệ phân tích và điện toán đám mây),
thuơng mại điện tử, mạng lưới thông tin toàn cầu “www” giúp người dùng khám
phá mọi thông tin được chia sẻ trên Internet.
- Một số thành tựu khác của Cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ 3: +) Big
Data: một nguồn dữ liệu dồi dào cho lĩnh vực truyền thông và tiếp thị, được
khai thác để thu về nhưngx thông tin về hành vi của khách hàng. +) Mạng
lưới máy bay không người lái (UAV) sử dụng năng lượng điện Hydro và các
phương tiện tự vận hành.
+) Ống nano carbon, nhựa sinh học và graphene đang thay đổi diện mạo của vật
liệu trong nhiều ngành công nghiệp.
Vai trò của CMCN 3.0 trong sự phát triển về LLSX ở VN:
- Thúc đẩy việc ứng dụng công gnhee hiện đại vào quy trình sản xuất: Cuộc
CMCN lần thứ 3 có trọng tâm là phát triển tự động hoá, kỹ thuật số, công nghệ
thông tin đã giúp VN tiếp cận với những công nghệ hiện đại mới. Các ngành
sản xuất công nghiệp như dệt may, chế biến thực phẩm, và lắp ráp điện tử đã
áp dụng máy móc tự động, tăng năng suất lao động và chất lượng sản phẩm.
Tập đoàn Samsung đầu tư vào Việt Nam với các nhà máy sản xuất điện thoại
thông minh tại Bắc Ninh và Thái Nguyên. Các dây chuyền sản xuất tự động
giúp tăng năng suất và sản lượng, đóng góp lớn vào xuất khẩu của Việt Nam,
chiếm khoảng 20-25% giá trị xuất khẩu quốc gia.
- Thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu kinh tế: Do sự tác động của CMCN 3.0, nền kinh
tế VN đã có sự chuyển dịch cơ cấu, giảm tỷ trọng nông nghiệp, tăng tỷ trọng
công nghiệp và dịch vụ. Các ngành công nghiệp chế biến, chế tạo đóng góp tỷ
trọng lớn đối với nền kte quốc gia, còn ngành dịch vụ phát triển trong nhiều
lĩnh vực csong như y tế, giáo dục, tài chính…
- Nâng cao kỹ năng, kiến thức của người dân: Sự phổ cập Internet cũng như máy
tính đã mở ra thế giới kết nối, giúp người dân tìm kiếm được thông tin. Thêm
vào đó, sự áp dụng công nghệ hiện đại vào dây chuyền sản xuất buộc người
lao động phải có trình độ cao hơn, biết sử dụng máy móc tự động và phần mềm.
- Mở rộng kết nối và hội nhập quốc tế: Công nghệ thông tin và truyền thông lOMoAR cPSD| 61236129
(ICT) từ CMCN 3.0 đã thúc đẩy quá trình hội nhập kinh tế toàn cầu của Việt
Nam. Việt Nam đã tận dụng Internet, thương mại điện tử và chuỗi cung ứng
toàn cầu để mở rộng xuất khẩu.
6. Cách mạng công nghiệp lần thứ 4 (4.0) là gì? Thách thức đặt ra đối với
thương mại truyền thống trước sự phát triển của thương mại điện tử hiện nay?
Cách mạng công nghiệp lần thứ 4:
- Thời gian: Cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ tư (cách mạng 4.0) lần đầu tiên
được đề cập trong bản Kế hoạch hành động chiến lược công nghệ cao được chính
phủ Đức thông qua năm 2012. Đặc trưng của CMCN 4.0:
- Dựa trên nền tảng công nghệ số và tích hợp công nghệ thông tin giúp tối ưu
hoá các quy trình và phương thức sản xuất thông qua công nghệ kỹ thuật số.
Điển hình với những thành tựu như: công nghệ in 3D, công nghệ sinh học,
công nghệ vật liệu mới, công nghệ tự động hoá và robot.
- Cách mạng số và các công nghệ nền tảng thông qua các công nghệ đột phá như:
+) Internet vạn vật (Iot) giúp kết nối và trao đổi thông tin, dữ liệu giữa những
người dùng, những thiết bị thông minh.
+) Trí tuệ nhân tạo (AI) giúp hỗ trợ ra quyết định và tự động hoá các quy trình.
+) Thực tế ảo (VR) và thực tế tăng cường (AR) ứng dụng trong sản xuất, giáo dục, giải trí.
+) Điện toán đám mây giúp lưu trữ và xử lý dữ liệu lớn.
- Sự dung hợp của các công nghệ, kết hợp các lĩnh vực vật lý, số, và sinh học để
tạo ra sự khác biệt cơ bản so với các cuộc cách mạng trước đây. Điển hình là
các lĩnh vực như: mã hóa chuỗi gen, công nghệ nano, năng lượng tái tạo, tính toán lượng tử. - Vai trò của CMCN 4.0:
+) Tạo ra cơ sở vật chất và lực lượng sản xuất mới, từ đó thúc đẩy sự phát
triển của nền kinh tế tri thức.
+) Giải phóng con người khỏi: các chức năng thực hiện lặp lại, chức năng
quản lý truyền thống, quá trình sản xuất trực tiếp.
+) Trở thành yếu tố quan trọng trong sản xuất và đời sống xã hội.
Những thách thức đối với thương mại truyền thống trước sự phát triển không
ngừng của nền thương mại điện tử: lOMoAR cPSD| 61236129
- Sự thay đổi trong hành vi tiêu dùng của khách hàng
+) Hiện nay, với sự gia tăng không ngừng nghỉ của các sàn thương mại điện
tử, người dùng ngày càng ưa thích sự tiện lợi mà chúng mang lại, chỉ cần mua
sắm trên những thiết bị thông minh, thay vì di chuyển ra cửa hàng để mua món đồ đó.
+) Cùng với đó, các sàn thương mại điện tử không phải chịu những chi phí
như mặt bằng cửa hàng, tiền thuê nhiều nhân viên… khiến cho giá bán rẻ hơn
rất nhiều giá bán ngoài cửa hàng cho cùng một sản phẩm, hơn nữa là những
sự kiện phát sóng trực tiếp cung cấp cho người mua những mã giảm giá sâu.
Chính điều này đã thu hút lượng lớn khách hàng quan tâm và ưa thích thương
mại điện tử thay vì thương mại truyền thống.
- Hạn chế về phạm vi tiếp cận khách hàng:
+) Nếu như mở bán hàng hoá tại các cửa hàng sẽ bị hạn chế trong việc tiếp
cận các tệp khác hàng đa dạng từ các địa phương, vùng miền khác thì thương
mại điện tử đã mở rộng phạm vi mua bán ra toàn quốc, thậm chí quốc tế.
+) Trong khi những cửa hàng truyền thống khó tìm cách tận dụng dữ liệu của
khách hàng để cung cấp trải nghiệm mua hàng được cá nhân hoá thì thương
mại điện tử có thể áp dụng trí tuệ nhân tạo hay Big Data để có thể nắm bắt
được nhu cầu và hành vi của khách hàng.
- Những trường hợp bất ngờ:
+) Thương mại truyền thống rất dễ gặp phải khó khăn khi những yếu tố bất
ngờ xảy đến như thiên tai, dịch bệnh. Điển hình như đại dịch COVID – 19,
hàng loạt tuyến phố bị phong toả, người dân cũng hạn chế ra đường nên nhiều
cửa hàng đã trả lại mặt bằng vì không duy trì được nguồn tiền.
7. Vì sao Việt Nam phải CNH, HĐH gắn với phát triển Kinh tế tri thức? Người
lao động phái làm gì để đám ứng yêu cầu của nền kinh tế tri thức?
- Công nghiệp hoá: là một quá trình chuyển từ lao động thủ công là chính sang
lao động bằng máy móc, trang thiết bị hiện đại.
- Hiện đại hoá: là quá trình nâng cấp, cải tiến máy móc, phương tiện, kỹ thuật
ngày càng tiên tiến và hiện đại hơn. lOMoAR cPSD| 61236129
=> CNH - HĐH là quá trình áp dụng KHCN hiện đại vào sản xuất và những
người vận hành những máy móc trang thiết bị đó không ai khác là những người lao động tri thức.
- LLLĐ tri thức là những người lao động có trình độ cao của nền kinh tế tri thức.
- Kinh tế tri thức là nền kinh tế trong đó sự sản sinh ra, phổ cập và sử dụng tri
thức giữ vai trò quyết định nhất đối với sự phát triển kinh tế, tạo ra của cải,
nâng cao chất lượng đời sống.
Công nghiệp hoá, hiện đại hoá phải gắn liền với nền kinh tế tri thức vì:
- Trong nền kinh tế tri thức, tri thức trở thành lực lượng sản xuất trực tiếp, là vốn
quý nhất, là nguồn lực quan trọng hàng đầu, quyết định sự tăng trưởng và phát triển kinh tế.
- Trong nền kinh tế tri thức, cơ cấu tổ chức và phương thức hoạt động kinh tế có
những biến đổi sâu sắc, nhanh chóng, trong đó các ngành kinh tế dựa vào tri
thức, dựa vào các thành tựu mới nhất của khoa học và công nghệ ngày càng tăng và chiếm đa số.
- Trong nền kinh tế tri thức, công nghệ thông tin được ứng dụng rộng rãi trong
mọi lĩnh vực và thiết lập được các mạng thông tin đa phương tiện phủ khắp cả
nước, nối với hầu hết các tổ chức, các hộ gia đình. Thông tin trở thành nguồn
tài nguyên quan trọng nhất của nền kinh tế.
- Trong nền kinh tế tri thức, nguồn nhân lực nhanh chóng được tri thức hoá, sự
sáng tạo, đổi mới, học tập trở thành yêu cầu thường xuyên đối với mọi người
và phát triển con người trở thành nhiệm vụ trung tâm của xã hội.
- Trong nền kinh tế tri thức, mọi hoạt động đều có liên quan đến vấn đề toàn cầu
hoá kinh tế, có tác động tích cực hoặc tiêu cực sâu rộng tới nhiều mặt của đời
sống xã hội trong mỗi quốc gia và trên thế giới.
Muốn xây dựng thành công cơ sở vật chất cho chủ nghĩa xã hội thì chúng ta cần
phải gắn Công nghiệp hoá, hiện đại hoá với nền kinh tế tri thức:
- Ứng dụng rộng rãi công nghệ thông tin trên tất cả các lĩnh vực của xã hội, sử
dụng máy móc hiện đại cho lao động thông qua các phát minh. Tri thức hoá nguồn nhân lực.
- Học tập không ngừng, nhất là cải thiện về vốn ngoại ngữ để gia tăng nhu cầu
hội nhập quốc tế; Tập trung phát triển kỹ năng chuyên sâu để trở thành chuyên
gia trong một lĩnh vực cụ thể.
- Chuẩn bị tâm thế để thích nghi nhanh chóng với công nghệ mới, mô hình làm
việc mới và môi trường thay đổi. Sẵn sàng học hỏi các kỹ năng mới khi cần
thiết để không bị bỏ lại phía sau. lOMoAR cPSD| 61236129
- Để tiến hành nền kinh tế tri thức, Việt Nam cần xác định rõ các ngành phát
triển tuần tự, đồng thời làm rõ các ngành mũi nhọn, đi tắt để rút ngắn con
đường tiến đến kinh tế tri thức.
- Là trí thức thì mỗi chúng em cần phải có trách nhiệm hơn để góp phần kết
hợpcông nghiệp hóa, hiện đại hóa với phát triển kinh tế tri thức thông qua
những hành động và việc làm cụ thể sau:
+ Ra sức học tập và rèn luyện kiến thức thông qua sách vở, thầy cô, bạn bè và nhà trường.
+ Bên cạnh đó, tăng cường những kỹ năng mềm trong các hoạt động xã hội,
hoạt động thiện nguyện (giúp đỡ trẻ em nghèo, người già neo đơn, v.v.). +
Thích ứng và thay đổi theo những tình huống của thời kỳ mới, và đưa ra
những giải pháp thích hợp để giải quyết.
+ Nhanh chóng tiếp cận những nền tảng khoa học kỹ thuật và công nghệ tiên tiến
trên thế giới để vận dụng vào công việc, học tập, đời sống.
+ Tiếp thu có chọn lọc những điều tốt, những tiên tiến, văn minh, hiện đại và hơn
hết phải giữ gìn, bảo tồn những giá trị tinh hoa bền vững của dân tộc mình.