



















Preview text:
lOMoARcPSD|37955254
Luật-ngân-hàng 2 - Đề cương luật ngân hàng- đại học luật-
đại học quốc gia hà nội
Luật Ngân hàng (Trường Đại học Luật - Đại học quốc gia Hà Nội) Scan to open on Studeersnel
Studocu is not sponsored or endorsed by any college or university
Downloaded by Vy T??ng (tuongvy290720@gmail.com) lOMoARcPSD|37955254
CÂU HỎI ÔN TẬP HỌC KỲ LUẬT NGÂN HÀNG
Câu 1: Thế nào là hoạt động ngân hàng? Phân biệt hoạt động kinh doanh ngân hàng với các hoạt động kinh
doanh khác trong nền kinh tế? - Khái niệm ngân hàng:
+ Ngân hàng là khái niệm chung chỉ tổ chức thực hiện các hoạt động về huy động vốn, cho vay, cung cấp dịch vụ
thanh toán và thực hiện các hoạt động khác.
+ Ngân hàng là một tổ chức tài chính và trung gian tài chính chấp nhận tiền gửi và định kênh những tiền gửi đó
vào các hoạt động cho vay trực tiếp hoặc gián tiếp thông qua các thị trường vốn. Ngân hàng là kết nối giữa khách
hàng có thâm hụt vốn và khách hàng có thặng dư vốn.
+ Khoản 2, điều 4, luật các tổ chức tín dụng 2010 sửa đổi 2017, ngân hàng là loại hình tổ chức tín dung có thể
được thực hiện tất cả các hoạt động ngân hàng theo quy định của luật này. Theo tính chất và mục tiêu hoạt động,
các loại ngân hàng bao gồm: ngân hàng thương mại, ngân hàng chính sách, ngân hàng hợp tác xã.
- Đặc điểm ngân hàng: là một định chế tài chính trung gian do tổ chức, cá nhân hoặc Nhà nước góp vốn thành lập.
Hoạt động trong lĩnh vực kinh doanh tiền tệ và dịch vụ ngân hàng. - Hoạt động ngân hàng
+ Hoạt động ngân hàng hay còn được gọi là nghiệp vụ ngân hàng: là hoạt động huy động vốn (nhận tiền gửi-
nghiệp vụ tài sản nợ-tạo vốn), hoạt động tín dụng đầu tư (tín dụng: cho vay, chiết khấu, cầm cố giấy tờ có giá, bảo
lãnh, cho thuê tài chính; nghiệp vụ tài chính: góp vốn, mua cổ phần) và hoạt động trung gian (mở và sử dụng tài
khoản; dịch vụ thanh toán, chuyển tiền, thu hộ, chi hộ)
+ Theo khoản 12, luật các tổ chức tín dụng năm 2010 sửa đổi 2017, hoạt động ngân hàng là việc kinh doanh, cung
ứng thường xuyên một hoặc một số các nghiệp vụ sau:
Nhận tiền gửi: là hoạt động nhận tiền của tổ chức, cá nhân dưới hình thức tiền gửi không kỳ hạn, tiền gửi có kỳ
hạn, tiền gửi tiết kiệm, phát hành chứng chỉ tiền gửi, kỳ phiếu, tín phiếu và các hình thức nhận tiền gửi khác theo
nguyên tắc có hoàn trả đầy đủ tiền gốc, lãi cho người gửi tiền theo thỏa thuận.
Cấp tín dụng: là việc thỏa thuận để tổ chức, cá nhân sử dụng một khoản tiền hoặc cam kết cho phép sử dụng một
khoản tiền theo nguyên tắc có hoàn trả bằng nghiệp vụ cho vay, chiết khấu, cho thuê tài chính, bao thanh toán, bảo
lãnh ngân hàng và các nghiệp vụ cấp tín dụng khác.
Cung ứng dịch vụ thanh toán qua tài khoản: là việc cung ứng phương tiện thanh toán, thực hiện dịch vụ thanh
toán séc, lệnh chỉ, ủy nhiệm chi, nhờ thu, ủy nhiệm thu, thẻ ngân hàng, thư tín dụng và các dịch vụ thanh toán khác
cho khách hàng thông qua tài khoản của khách hàng.
- Phân biệt hoạt động ngân hàng và hoạt động kinh doanh khác trong nền kinh tế: Hoạt động ngân hàng
Hoạt động kinh doanh khác Khái niệm
Hoạt động ngân hàng là việc kinh doanh tiền tệ
Kinh doanh là phương thức hoạt động
và dịch vụ Ngân hàng với nội dung thường
kinh tế trong điều kiện tồn tại nền kinh
xuyên là nhận tiền gửi, và sử dụng số tiền này
tế hàng hóa, nhằm đạt mục tiêu vốn
để cấp tín dụng và cung ứng các dịch vụ thanh sinh lời cao nhất toán
Hoạt động kinh doanh thường được
thông qua các thể chế kinh doanh như
công ty, doanh nghiệp nhưng cũng có
thể là hoạt động tự thân của các cá nhân Đối tượng
tiền tệ hoặc các dịch vụ ngân hàng tài sản, hàng hóa Nội dung
Bao gồm các hoạt động tín dụng như nhận tiền
Các hoạt động mua bán, trao đổi hàng
gửi, cấp tín dụng, cung ứng các dịch vụ thanh
hóa,các hoạt động kinh doanh hàng
toán nhằm thực hiện các hoạt động nghiệp vụ để
hóa, dịch vụ nhằm mục đích sinh lợi
sinh lợi nhuận và ổn định lưu thông tiền tệ trong nhuận là chủ yếu
Downloaded by Vy T??ng (tuongvy290720@gmail.com) lOMoARcPSD|37955254 thị trường Cơ cấu tổ
Chặt chẽ, được quy định trong Luật Ngân hàng
Có thể có hoặc không tổ chức theo một chức
Những người trong ngành cần có chuyên môn bộ máy
nghiệp vụ được đào tạo bài bản
Các mô hinh kinh doanh rất đa dạng, có
thể là hộ kinh doanh, công ty, doanh nghiệp
Luật điều chỉnh là các luật thương mại, doanh nghiệp,... Chủ thể
Là các ngân hàng, các tổ chức tín dụng, được
Không bắt buộc phải là ngân hàng hoặc thực hiện
nhà nước cho phép hoạt động
các tổ chức tín dụng, các chủ thể thực
hiện hoạt động kinh doanh rất đa dạng:
cá nhân, hộ gia đình, công ty,...
Câu 2: Phân biệt tín dụng nhà nước và tín dụng ngân hàng - Khái niệm tín dụng:
Là từ xuất phát từ gốc La-tinh: sự tin tưởng, tín nhiệm; theo ngôn ngữ Việt Nam là sự vay mượn
Giáo trình Luật ngân hàng:
+ Dưới góc độ kinh tế: quan hệ kinh tế hình thành trong quá trình chuyển hóa giá trị dưới hình thức hiện vật hay tiền tệ từ
chủ thể này sang chủ thể khác theo nguyên tắc hoàn trả vốn và lãi trong một thời hạn nhất định
+ Dưới góc độ pháp lý: là quan hệ chuyển giao vốn từ người thừa vốn sang người thiếu vốn theo nguyên tắc hoàn trả,
dựa trên cơ sở tín nhiệm
Quan điểm khác: Tín dụng là quan hệ sử dụng vốn giữa người cho vay và người đi vay, trong quan hệ này, người
cho vay có nghĩa vụ chuyển giao quyền sử dụng tiền hoặc hàng hóa cho vay cho người đi vay trong một thời gian
nhất định còn người đi vay có nghĩa vụ trả số tiền hoặc giá trị hàng hóa đã vay khi đến hạn trả nợ có kèm hoặc
không kèm theo một khoản lãi. Tín dụng nhà nước Tín dụng ngân hàng Khái niệm
Là tín dụng do nhà nước thực hiện Là mối quan hệ vay mượn giữa ngân hàng với tất
với tư cách là người đi vay. Mục cả các cá nhân, tổ chức và các doanh nghiệp
đích thực hiện tín dụng nhà nước khác trong xã hội. Nó không phải là quan hệ dịch
của nhà nước là huy động vốn để bù chuyển vốn trực tiếp từ nơi tạm thời thừa vốn sang
đắp thiếu hụt ngân sách Nhà nước nơi tạm thời thiếu mà là quan hệ dịch chuyển vốn
hoặc mở rộng quy mô đầu tư của gián tiếp thông qua một số tổ chức trung gian đó là nhà nước.
ngân hàng. Tín dụng ngân hàng cũng mang bản
chất chung của quan hệ tín dụng, đó la quan hệ vay
mượn có hoàn tả cả vốn và lãi sau một thời gian
nhất định, là quan hệ chuyển nhượng tạm thời
quyền sử dụng vốn và là quan hệ bình đẳng hai bên cùng có lợi.
Nguồn vốn cho Là vốn của ngân sách nhà nước Cho vay bằng vốn đi vay của các thành phần trong vay
được cân đối để cho vay đầu tư xã hội chứ không phải hoàn toàn là vốn thuộc sở
hoặc nguồn vốn huy động theo kế hữu của chính mình
hoạch của nhà nước để phục vụ đầu
tư, phát triển theo chủ trương của nhà nước
Cơ quan thực Tổ chức tín dụng làm nhiệm vụ Là cơ quan trong cơ cấu của ngân hàng, theo quy
hiện hoạt động quản lý, huy động và cho vay là hệ định của pháp luật và điều lệ công ty
Downloaded by Vy T??ng (tuongvy290720@gmail.com) lOMoARcPSD|37955254 tín dụng
thống những đơn vị, cơ quan
chuyên môn của nhà nước, được
thành lập theo quyết định của chính phủ
Đối tượng cấp Các dự án đầu tư theo các chương Mọi cá nhân, tổ chức trong xã hội có nhu cầu vay tín dụng
trình, mục tiêu, định hướng theo vốn
chủ trương của nhà nước nhằm
chuyển dịch cơ cấu kinh tế, thực
hiện chiến lược phát triển kinh tế, xã hội
Mục đích cấp Không vì mục đích lợi nhuận, lãi Hoạt động vì mục đích lợi nhuận tín dụng
suất không phải lãi suất thị trường
Câu 3: Nêu và phân tích ví dụ để chứng minh vai trò của Nhà nước trong lĩnh vực ngân hàng?
- Vai trò của Nhà nước trong lĩnh vực ngân hàng:
Nhà nước xây dựng và tổ chức thực hiện chính sách tiền tệ quốc gia
+ Chính sách tiền tệ quốc gia có ảnh hưởng to lớn đối với quá trình và ổn định kinh tế-xã hội. Do đó, việc hoạch
định và tổ chức thực hiện chính sách tiền tệ quốc gia phải theo chế độ và trật tự chặt chẽ.
+ Luật ngân hàng Nhà nước năm 2010 quy định:
Điều 3, chính sách tiền tệ quốc gia là các quyết định về tiền tệ ở tầm quốc gia của cơ quan nhà nước có thẩm
quyền, bao gồm quyết định mục tiêu ổn định giá trị đồng tiền biểu hiện bằng chỉ tiêu lạm phát, quyết định sử dụng
các công cụ và biện pháp để thực hiện mục tiêu đề ra.
Nhà nước sử dụng pháp luật làm công cụ quản lý và duy trì trật tự cho các hoạt động ngân hàng trong nền kinh tế
+ Lĩnh vực ngân hàng là nơi tích tụ và điều hòa nhiều loại nguồn vốn là nơi thực hiện chính sách tiền tệ quốc gia.
Lĩnh vực này tiềm ẩn nhiều rủi ro cao và liên quan đến nhiều lợi ích của nhiều loại chủ thể trong nền kinh tế. Đảm
bảo an toàn cho hoạt động ngân hàng va hát huy vai trò tích cực đối với nền kinh tế và đời sống xã hội, đòi hỏi
Nhà nước cùng đồng bộ những biện pháp trong đó có sử dụng pháp luật. Thể hiện trên các mặt:
Ban hành các văn bản pháp luật quy định các điều kiện hoạt động Ngân hàng, điều kiện, trình tự, thủ tục cấp, thu
hồi giấy phép thành lập và hoạt động của tổ chức tín dụng và giấy phép hoạt động ngân hàng của các tổ chức khác;
quy định nhiệm vụ, quyền hạn quản ý nhà nước của Ngân hàng nhà nước Việt Nam
Nhà nước cùng pháp luật làm công cụ để xây dựng hệ thống ngân hàng, tổ chức tín dụng phù hợp với mục tiêu,
chiến lược phát triển kinh tế-xã hội.
Ví dụ: Chính sách nhà nước về xây dựng các loại hoạt hình của TCTD ghi nhận ở Luật các tổ chức tín dụng:
+ Thống nhất quản lý với mọi hoạt động ngân hàng, xây dựng các tổ chức tín dụng hiện đại , đủ sức đáp ứng đủ nhu cầu
vốn và dịch vụ ngân hàng cho nền kinh tế và dân cư, góp phần thực hiện chính sách tiền tệ quốc gia, đảm bảo an
toàn hệ thống TCTD, bảo vệ lợi ích hợp pháp của người gửi tiền.
+ Đầu tư vốn và nguồn lực khác để phát triển TCTD nhà nước tạo điều kiện cho các tổ chức này giữ vai trò chủ đạo và
chủ lực trên thương trường tiền tệ
+ Phát triển các ngân hàng chính sách hoạt động không những vì mục đích lợi nhuận mà còn phục vụ nghĩa vụ và các
chính sách khác nhằm thực hiện chính sách kinh tế - xã hội của Nhà nước.
+ Bảo hộ quyền sở hữu, quyền và lợi ích hợp pháp khác trong hoạt động của các TCTD hợp tác nhằm tạo điều kiện cho
người lao động tương trợ nhau trong sản xuất và đời sống
+ Sử dụng các ngân hàng phục vụ phát triển nông nghiệp, nông thôn và nông dân với chính sách ưu đãi về vốn, lãi suất và các điều kiện vay.
Downloaded by Vy T??ng (tuongvy290720@gmail.com) lOMoARcPSD|37955254
Nhà nước sử dụng pháp luật làm công cụ bảo đảm an toàn cho các hoạt động kinh doanh ngân hàng trong nền kinh
tế vì hoạt động kinh doanh ngân hàng còn tiềm ẩn những rủi ro cao.
Ví dụ: Luật CTCTD có quy định: tổng dư nợ cho vay đối với 1 khách hàng không vượt quá 15% vốn của TCTD
trừ tổng hợp đối với các khản cho vay từ các nguồn vốn ủy thác của chính phủ, của các tổ chức, cá nhân hay
trường hợp vay là các TCTD khác
Nhà nước sử dụng pháp luật làm công cụ ngăn ngừa, giải quyết các tranh chấp phát sinh trong lĩnh vực ngân hàng
=> luật quy định về trình tư, thủ tục, cơ quan có thẩm quyền giải quyết tranh chấp, ... góp phần bảo vệ quyền và
lợi ích của các tổ chức, cá nhân tham gia các quan hệ xã hội trong lĩnh vực ngân hàng trong nền kinh tế.
Nhà nước thành lập và sử dụng hệ thống ngân hàng, tổ chức tín dụng nhà nước giữ vai trò chủ đạo trong nền kinh tế quốc dân
- Ngân hàng nhà nước, ngân hàng thương mại quốc dân, ngân hàng dầu tư phát triển, ngân hàng chính sách và các loại
hình tổ chức tín dụng khác hoạt động theo chức năng, nhiệm vụ nhà nước giao nên các ngân hàng, tổ chức tín
dụng nhà nước đóng vai trò là công cụ của nhà nước trong việc thực hiện chính sách tiền tệ, tín dụng ngân hàng
của nhà nước và giữ vai trò chủ đạo trong nền kinh tế quốc dân
- Vai trò chủ đạo thể hiện ở: hệ thống ngân hàng, TCTD nhà nước hoạt động trên tất cả các lĩnh vực ngân hàng với
quy mô hoạt động rộng nên có ảnh hưởng sâu sắc đối với nền kinh tế và có tác động chi phối đối với hoạt động
ngân hàng của các thành phần kinh tế khác
Nhà nước kích thích sự phát triển của các hệ thống ngân hàng, tổ chức tín dụng nhà nước tạo môi trường kinh tế, môi trường pháp lý
=> Nhà nước tạo môi trường kinh tế, pháp lý
=> Thực hiện các tác động trực tiếp bằng chính sách thu hút đầu tư, chính sách ưu đãi thức
Câu 4: Hệ thống ngân hàng hai cấp là gì? Sự khác nhau giữa mô hình Ngân hàng 1 cấp và 2 cấp
- Hệ thống ngân hàng 2 cấp: Ngân hàng trung ương và Ngân hàng thương mại.
- Hệ thống ngân hàng hai cấp là mô hình cho phép phân định rành mạch, rõ ràng giữa các chức năng quản lý của
Ngân hàng trung ương với chức năng tác nghiệp kinh doanh của ngân hàng thương mại và các tổ chức tín dụng.
+ Hoạt động của Ngân hàng trung ương là những mặt hoạt động quản lý ở tầm vĩ mô không nhằm mục đích kiếm
lợi nhuận mà nhằm mục đích ổn định tiền tệ, ổn định giá cả thị trường, ngoại hối để thúc đẩy nền kinh tế phát triển
+ Ngân hàng thương mại và các tổ chức tín dụng khác tồn tại hoạt động với tư cách là những doanh nghiệp kinh
doanh trong lĩnh vực tiền tệ - tín dụng và dịch vụ ngân hàng
- Sự khác nhau giữa mô hình ngân hàng 1 cấp và 2 cấp Ngân hàng 1 cấp Ngân hàng 2 cấp Tư cách
Hỗn hợp, vừa có tư cách của cơ quan trực thuộc
Là cơ quan thuộc Chính phủ và là pháp lý
CP, vừa có tư cách của ngân hàng TW, và tư cách ngân hàng TW của ngân hàng trung gian Mô hình tổ
Trung ương, chi nhánh liên khu, chi nhánh ở tỉnh
Gồm 2 cấp: NHNN và các ngân chức
và chi nhánh ở nước ngoài.
hàng chuyên doanh trực thuộc
Downloaded by Vy T??ng (tuongvy290720@gmail.com) lOMoARcPSD|37955254
Chi nhánh không có tư cách pháp nhân, hoạt động
với tư cách là cơ quan cấp dưới đại diện của NHNN Chức năng
- Phát hành giấy bạc, điều hòa sự lưu hành tiền tệ,
NHNN chỉ đảm nhận vai trò là cơ của NHNN
quản lý ngân sách quốc gia, huy động vốn trong
quan quản lý nhà nước trong lĩnh
nhân dân, điều hòa, mở rộng tín dụng, quản lý
vực tiền tệ và hoạt động ngân hàng
ngoại tệ và thanh toán các khoản giao dịch với
Các nghiệp vụ ngân hàng sẽ do hệ nước ngoài
thống các tổ chức tín dụng trung
=> NHNN thực hiện đồng thời chức năng quản lý gian tiến hành
ngoại hối và trực tiếp thực hiện hoạt động giao
Các ngân hàng thương mại và những dịch ngoại tệ
tổ chức tín dụng trung gian được
trao quyền tự chủ kinh doanh, tự
chịu trách nhiệm về hoạt động của mình
=> NHNN chỉ thực hiện chức năng
quản lý ngoại hối mà không còn trực
tiếp thực hiện hoạt động giao dịch ngoại tệ C
âu 5: Phân tích vị trí pháp lý của ngân hàng nhà nước Việt Nam.
- Là cơ quan thuộc Chính phủ
- NHNN Việt Nam có chức năng quản lý Nhà nước về tiền tệ, hoạt động ngân hàng và ngoại hối, thực hiện chức
năng của NHTW về phát hành tiền, ngân hàng của các tổ chức tín dụng và cung ứng dịch vụ tiền tệ cho Chính phủ
=> Mục đích hoạt động của NHNN: nhằm thực thi chính sách tiền tệ: ổn định giá trị đồng tiền, bảo ảm an toàn
hoạt động ngân hàng các TCTD góp phần phát triển kinh tế
=> Hoạt động vì lợi ích quốc gia, phân biệt với các định chế tài chính khác.
Câu 6: Sự khác biệt về vị trí pháp lý giữa NHNNVN với Bộ quản lý chuyên ngành khác?
- Giống nhau: NHNN và các bộ quản lý chuyên ngành khác đều được đặt trong cơ cấu tổ chức của Chính phủ, là
cơ quan Chính phủ, chịu trách nhiệm trước CP về hoạt động của mình - Sự khác biệt:
=> NHNN là cơ quan ngang bộ thực hiện quản lý mọi hoạt động tiền tệ, ngân hàng không đơn thuần bằng biện
pháp hành chính mà chủ yếu bằng các chính sách và công cụ kinh tế. Phần lớn, NHNN tác động vào nền kinh tế
thông qua các nghiệp vụ sinh lời, bằng các công cụ vĩ mô gián tiếp gắn liền mật thiết với thị trường tiền tệ
Quản lý NN gắn liền với hoạt động sinh lời, góp phần tạo nguồn thu cho ngân sách là nét đặc thù riêng của
NHNN. Tuy vậy, mục đích của NHNN không phải là tìm lợi nhuận mà là ổn định giá trị đồng tiền, góp phần bảo
đảm an toàn hoạt động ngân hàng và hệ thống các tổ chức tín dụng, thúc đẩy phát triển kinh tế-xã hội.
=> Các bộ sẽ thực hiện các chức năng, nhiệm vụ tùy theo lĩnh vực chuyên ngành mà mình quản lý.
Câu 7: Phân tích các chức năng của NHNNVN
- Phát hành tiền và điều tiết lưu thông tiền
Độc quyền phát hành tiền theo các quy định trong luật hoặc được Chính phủ phê duyệt (về mệnh giá, loại tiền,
mức phát hành,...) nhằm đảm bảo thống nhất và an toàn cho hệ thống lưu thông tiền tệ của quốc gia
Đồng tiền do NHNN phát hành là đồng tiền lưu thông hợp phát duy nhất, có tính chất cưỡng chế lưu hành, mọi người
không có quyền từ chối nó trong thanh toán.
Nghiên cứu nhu cầu tiền tệ của nền kinh tế để phát hành tiền đưa vào lưu thông. NHTW xác định số tiền cần phát
hành, thời điểm phát hành, phương thức phát hành để đảm bảo sự ổn định tiền tệ và phát triển kinh tế.
- Là ngân hàng của các tổ chức tín dụng hay ngân hàng của các ngân hàng
Downloaded by Vy T??ng (tuongvy290720@gmail.com) lOMoARcPSD|37955254
=> NHTW không tham gia kinh doanh tiền tệ, tín dụng trực tiếp với các chủ thể trong nền kinh tế mà chỉ thực hiện
các nghiệp vụ ngân hàng với các ngân hàng trung gian.
Mở tài khoản và nhận tiền gửi của các ngân hàng trung gian
- Tiền gửi dự trữ bắt buộc: là khoản tiền dự trữ mà các ngân hàng trung gian bắt buộc phải gửi tại NHTW để nhằm bảo
đảm khả năng chi trả của các ngân hàng này trước nhu cầu rút tiền mặt của khách hàng.
Chức năng: hạn chế khả năng xảy ra rủi ro mất khả năng thanh toán của hệ thống ngân hàng => sự phát triển của thị
trường tài chính, xu hướng chứng khoán hóa trong hoạt động ngân hàng => khả năng thanh khoản của các tài sản
do ngân hàng nắm giữ cao + hình thức bảo hiểm tiền gửi ra đời làm yên lòng người gửi tiền làm giảm bớt nhu cầu
rút tiền bất thường => chức năng của nó hiện nay được nói đến với tư cách là một công cụ của NHTW trong điều
hành chính sách tiền tệ nhiều hơn.
- Tiền gửi thanh toán: ngoài khoản dự trữ bắt buộc, các ngân hàng trung gian còn phải duy trì thường xuyên một lượng
tiền gửi trên tài khoản tại các NHTW cho các nhu cầu chi trả trong thanh toán với các ngân hàng khác trong cùng
hệ thống hoặc đáp ứng các nhu cầu giao dịch với NHTW, chẳng hạn các khoản chi trả liên quan đến các khoản vay từ NHTW.
Cấp tín dụng cho các ngân hàng trung gian
- NHTW cấptín dụng cho các ngân hàng trung gian dưới hình thức chiết khấu lại (tái chiết khấu) các chứng từ có giá ngắn
hạn do các ngân hàng trung gian nắm giữ. Thông qua hành vi mua lại này, NHTW đã làm tăng lượng vốn khả
dụng cho hoạt động của ngân hàng trung gian, tạo điều kiện cho các ngân hàng nay mở rộng các hoạt động tín dụng.
- Việc cấp tín dụng của NHTW cho các NHTG không chỉ giới hạn ở nghiệp vụ tái chiết khấu các chứng từ có giá mà còn
bao gồm cả các khoản cho vay ứng trước có đảm bảo bằng các chứng khoán đủ tiêu chuẩn, các khoản tiền gửi
bằng ngoại tệ tại NHTW.
- Do việc cấp tín dụng của NHTW gắn trực tiếp với việc phát hành ra một lượng tiền giấy mới nên các điều kiện tín dụng
thường chặt chẽ, giới hạn bởi mức tái chiết khấu, thời hạn, chủng loại của chứng từ có giá được chấp nhận chiết khấu.
- NHTW góp phần quan trọng trong việc đảm bảo sự an toàn của hệ thống ngân hàng thông qua hoạt động cấp tín dụng
khi đóng vai trò là người cho vay cuối cùng của các ngân hàng.
Trường hợp 1 ngân hàng có nguy cơ phá sản => NHTW cấp những khoản tín dụng không hạn chế nhằm giúp cho ngân
hàng đó tránh khỏi sự đổ vỡ.
=> Không phải mọi ngân hàng đều được nhận hỗ trơ mà chỉ những ngân hàng có ảnh hưởng lớn tới sự tồn tại và an toàn
của hệ thống ngân hàng thì NHTW mới can thiệp.
=> Mức lãi suất cho vay của NHTW khi đó cũng thường là lãi suất phạt và ngân hàng nhận hỗ trợ phải chịu nhiều quy
định ngặt nghèo của NHTW.
Là trung tâm thanh toán, bù trừ cho hệ thống ngân hàng trung gian
- Các NHTG đều mở tài khoản và ký gửi các khoản dự trữ bắt buộc và dự trữ vượt mức tại NHTW => thực hiện thanh
toán không dùng tiền mặt qua NHTW thay vì thanh toán trực tiếp với nhau => Khi đó NHTW đóng vai trò là trung
tâm thanh toán bù trừ giữa các NHTG
- Thông qua dịch vụ này, NHTW tiết kiệm được chi phí thanh toán cho các NHTG và toàn xã hội, đảm bảo vốn luân
chuyển nhanh chóng trong hệ thống ngân hàng và phản ánh chính xác quan hệ thanh toán giữa các chủ thể kinh tế trong xã hội.
Bên cạnh đó có thể kiểm tra sự biến động vốn khả dụng của từng ngân hàng trung gian => cơ sở để có những kiến nghị kịp thời
- Cung ứng dịch vụ tiền tệ cho Chính phủ
=> Ngay từ khi ra đời, NHNN đã được xác định là ngân hàng của Chính phủ
Làm thủ quỹ cho kho bạc NN thông qua quản lý tài khoản của kho bạc
Chính phủ ủy quyền cho BTC hoặc KB đứng tên chủ tài khoản tại NHTW => Các khoản thu của NN (thuế, lợi nhuận
hoặc khoản thu khác) được gửi vào tài khoản
Downloaded by Vy T??ng (tuongvy290720@gmail.com) lOMoARcPSD|37955254
=> NHTW theo dõi, chi trả, thực hiện thanh toán và cấp vốn theo yêu cầu của KB và sử dụng số dư đó khi nhàn dỗi như
tài khoản khách hàng tại một NHTG
Quản lý dự trữ quốc gia
- Dự trữ quốc gia bao gồm các loại tài sản chiến lược mà bất kỳ quốc gia nào cũng phải dư trữ cho nhu cầu chi tiêu trong
những trường hợp khẩn cấp (vàng, chứng từ có giá của nước ngoài).
- NHTW được giao nhiệm vụ quản lý => về nguyên tắc chỉ cần giữ cho dự trữ không rơi xuống mức tối thiểu mà luật quy
định còn trong quá trình hoạt động của mình, NHTW có thể sử dụng dự trữ quốc gia để phục vụ cho thao tác trong chính sách tiền tệ Cấp tín dụng cho CP
- Cấp cho CP các khoản tín dụng để bù đắp thiếu hụt tạm thời trong năm tài chính hoặc bội chi ngân sách vào cuối năm tài chính.
- Việc cho ngân sách vay trực tiếp => tăng lượng tiền cung ứng => nguy cơ lạm phát => hạn chế các khoản tín dụng trực
tiếp => thay bằng cấp gián tiếp thông qua việc tái chiết khấu các trái phiếu kho bạc do các NHTG nắm giữ.
Làm đại lý, đại diện và tư vấn cho CP
- Làm đại lý trong việc phát hành chứng khoán Chính phủ khi CP có nhu cầu bù đắp thiếu hụt ngân sách
Câu 8: Trình bày cơ cấu tổ chức, lãnh đạo, điều hành NHTW ở Việt Nam
- Tổ chức: Điều 7, Luật NHNN năm 2010
+ Có trụ sở tại Hà Nội
+ Có chi nhánh ở các tỉnh, thành phố trung ương + Văn phòng đại diện
+ Đơn vị trực thuộc: đơn vị sự nghiệp
- Lãnh đạo, điều hành: điều 8, Luật NHNN năm 2010
Thống đốc NHNN là thành viên của CP, là người đứng đầu và lãnh đạo NHNN, chịu trách nhiệm trước Thủ tướng
CP, trước QH về quản lý NN trong lĩnh vực tiền tệ và ngân hàng.
=> Mô hình một lãnh đạo
+ Tổ chức và chỉ đạo thực hiện chính sách tiền tệ quốc gia theo thẩm quyền
+ Tổ chức và chỉ đạo thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn của NHNN theo quy định của pháp luật
+ Đại diện pháp nhân NHNN
Câu 9: Chính sách tiền tệ quốc gia là gì? Ngân hàng Nhà nước Việt Nam được pháp luật cho phép sử dụng
những công cụ nào để điều hành chính sách tiền tệ quốc gia.
- Chính sách tiền tệ quốc gia là quyết định tiền tệ ở tầm quốc gia của CQNN có thẩm quyền, mục tiêu ổn định giá
trị đồng tiền, biểu hiện bằng chỉ tiêu lạm phát (Chính phủ đề xuất), quyết định sử dụng công cụ và biện pháp để thực hiện mục tiêu
+ Vị trí của Chính sách tiền tệ quốc gia: NHTW sử dụng chính sách tiền tệ quốc gia nhằm gây ra sự mở rộng hay
thắt chặt lai trong việc cung ứng tiền tệ, để ổn định giá trị đồng bản tệ, đưa sản lượng và việc làm của quốc gia đến mức mong muốn.
+ Nhiệm vụ của Chính sách tiền tệ quốc gia: cung cấp đủ phương tiện thanh toán cho nền kinh tế, giữ ổn định giá trị đồng bản tệ.
+ Mục tiêu: lãi suất và lượng cung tiền. Chỉ dể điêu tiết chu kỳ kinh tế ở trạng thái bình thường thì mục tiêu lãi
suất được chọn còn khi kinh tế quá nóng hoặc quá lạnh thì chính sách tiền tệ sẽ nhằm vào mục tiêu trực tiếp là lượng cung tiền.
- Công cụ để thực hiện chính sách tiền tệ
Tái cấp vốn (hay chính sách chiết khấu)
- Là hình thức cấp tín dụng của NHNN nhằm cung cấp vốn ngắn hạn và phương tiện thanh toán cho TCTD. Bao gồm các
hoạt động: chiết khấu, tái chiết khấu các chứng từ có giá, cho vay có bảo đảm bằng cầm cố giấy tờ có giá và các
hình thức tái cấp vốn khác.
Downloaded by Vy T??ng (tuongvy290720@gmail.com) lOMoARcPSD|37955254
- Tái cấp vốn tác động đến lượng tiền cung ứng. NHTM có thể tác động đến lượng tiền cung ứng bằng 2 cách: tác động
đến giá cả khoản vay (lãi xuất tái cấp vốn) hoặc tác động đến số lượng vay thông qua quản lý cửa sổ chiết khấu.
NHTW điều chỉnh tăng, giảm lãi suất tái cấp vốn và lãi suất chiết khấu phụ thuộc vào mục tiêu của chính sách tiền tê thắt
chặt hay tăng lượng tiền trong lưu thông. Khi NHTW thấy cần tăng tiền trong lưu thông NHTW sẽ hạ thấp lãi suất
tái cấp vốn xuống => hấp hẫn các NHTM đến NHTW để vay vì giá cả tín dụng giảm, khối lượng tín dụng được
cấp tăng. Ngược lại, NHTW cần giảm khối lượng tín dụng trong lưu thông => tăng lãi suất cấp vốn => chi phí vay
tăng => NHTM sẽ vay chiết khấu ít hơn.
NHTW quản lý cửa sổ chiết khấu để tác động trực tiếp đến dự trữ của hệ thống NHTM. Những khoản cho vay tái chiết
khấu của NHTW đối với NHTM được gọi là cửa sổ chiết khấu. NHTW quản lý cửa sổ chiết khấu của mình bằng
nhiều cách để khoản vốn cho vay của mình khỏi bị sử dụng không đúng và hạn chế việc vay đó. Khi NHTW tăng
tổng hạn mức tái cấp vốn có nghĩa là các NHTM có thể được vay ở NHTW nhiều hơn. Điều này làm tăng vốn khả
dụng của hệ thống NHTM => tăng khả năng cung ứng tín dụng cho nền kinh tế, tăng khả năng tạo tiền của hê
thống ngân hàng. Những tác động trên sẽ hoàn toàn ngược lại nếu NHTW giảm hạn mức tái cấp vốn xuống. Lãi suất
- Là tỷ lệ phần trăm giữa tiền vốn gửi vào hoặc cho vay với mức lãi trong một thời kỳ nhất định do ngân hàng quy định
hoặc thỏa thuận phù hợp với hệ thống ngân hàng => Lãi suất thể hiện tỷ lệ phần trăm của tiền gốc trong 1 khoảng thời gian.
- NHNN quyết định lãi suất tái cấp vốn, lãi suất cơ bản và các lãi suất khác để điều hành chính sách tiền tệ, chống cho vay
nặng lãi (khoản 1, điều 12, Luật NHNN năm 2010)
- Trong trường hợp thị trường tiền tệ có diễn biến thất thường, NHNN quy định cơ chế điều hành lãi suất áp dụng trong
quan hệ giữa các TCTD với nhau và với khách hàng, các quan hệ tín dụng khác
=> Chính phủ chỉ đạo hạ trần lãi suất huy động, thống đốc quyết định
- Đây được xem là công cụ gián tiếp trong thực hiện chính sách tiền tệ bởi vì sự thay đổi lãi suất không trực tiếp làm tăng
thêm hay giảm bớt lượng tiền tệ bởi vì sự thay đổi lãi suất không trực tiếp làm tăng thêm hay giảm bớt lượng tiền
trong lưu thông mà có thể làm kích thích hay kìm hãm sản xuất. Thị trường mở
- Nghiệp vụ thị trường mở là các hoạt động của NHTW trên thị trường mở thông qua việc mua bán các chứng khoán (giấy
tờ có giá) (hoặc là nghiệp vụ thực hiện thông qua mua bán, ngắn hạn các loại giấy tờ có giá với các TCTD). Các
hoạt động này ảnh hưởng trực tiếp đến dự trữ của các NHTM và ảnh hưởng gián tiếp đến các mức lãi suất.
- Sử dụng nghiệp vụ thị trường mở được coi là công cụ quan trọng nhất trong điều hành chính sách tiền tệ của NHTW vì:
+ Thứ nhất: Nó là nhân tố quyết định đầu tiên có thể làm thay đổi lãi suất hoặc cơ sở của tiền tệ - nguồn gốc chính làm
thay đổi việc cung ứng tiền của NHTW và trực tiếp tác động đến nguồn dự trữ của các NHTM, từ đó ảnh hưởng
đến nguồn cung ứng tín dụng cho nền kinh tế.
=> Khi mục tiêu của NHTW là thúc đẩy kinh tế phát triển thì NHTW sẽ gia tăng tiền tệ trong lưu thông (NHTW mua vào
một lượng chứng khoán nhất định. NHTM hoặc công chúng bán chứng khoán cho NN làm cho dự trữ của NHTM
tăng lên do NHTM nhận được tiền của NHTW về việc mua chứng khoán và người dân sau khi bán chứng khoán
và chuyển tiền vào tài khoản tiền gửi của họ tại NHTM)
=> Khi mục tiêu tiền tệ của NHTW là kiềm chế lạm phát, NHTW sẽ giảm bớt khối lượng tiền tệ trong lưu thông
(VD: NHTW thực hiện bán chứng khoán ra, NHTW mua chứng khoán sẽ làm giảm dự trữ của mình hoặc công chúng rút
tiền từ tài khoản để mua chứng khoán sẽ làm giảm dự trữ của NHTM
Hoặc nếu muốn tăng tiền tạm thời thì NHTM sử dụng phương thức mua có kỳ hạn bằng hợp đồng mua lại chứng khoán từ
các TCTD, nếu muốn giảm tiền tạm thời thì NHTW sử dụng phương thức bán có kỳ hạn các hợp đồng mua lại chứng khoán của NHTM
=> Việc tăng giảm liên tục hoặc tăng giảm có kỳ hạn sẽ tác động lên khả năng mở rộng hay thu hẹp tín dụng liên tục hay
tạm thời và từ đó tác động đến lãi suất trên thị trường vốn ngắn hạn)
+ Thứ hai: nghiệp vụ thị trường mở vừa linh hoạt nhưng vừa chính xác, có thể sử dụng ở bất kỳ quy mô nào. Khi có yêu
cầu thay đổi về dự trữ hoặc cơ sở tiền tệ dù ở mức nhỏ như thế nào đi nữa, nghiệp vụ thị trường mở cũng có thể
Downloaded by Vy T??ng (tuongvy290720@gmail.com) lOMoARcPSD|37955254
đạt được bằng cách mua hay bán một lượng nhỏ chứng khoán và ngược lại. Với tính linh hoạt của nghiệp vụ thị
trường mở, NHTW có thể sử dụng nó để nới lỏng hoặc thắt chặt tiền tệ bất cứ mức độ nào qua việc mua hoặc bán
chứng khoán với số lượng phù hợp. Dự trữ bắt buộc
- Là số tiền bắt buộc mà TCTD phải gửi tại NHNN để thực hiện chính sách tiền tệ quốc gia.
- Tỷ lệ dự trữ bắt buộc là tỷ lệ giữa số lượng phương tiện thanh toán cần vô hiệu hóa trên tổng số tiền gửi huy động nhằm
điều chỉnh khả năng thanh toán và cho vay của các NHTM
Nếu khả năng thanh toán quá lớn (NHTM đang thừa tiền) thì việc tăng tỷ lệ dự trữ bắt buộc nhằm giảm quy mô tín dụng
từ đó giảm khối lượng tiền. Ngược lại, nếu khả năng thanh toán thấp thì giảm tỷ lệ dự trữ bắt buộc nhằm tăng khả
năng cho vay của NHTM. Với các chế độ dự trữ bắt buộc ở các nước khác nhau, ở các thời kỳ khác nhau thì có
một tỷ lệ dự trữ bắt buộc khác nhau.
Những thay đổi trong dự trữ bắt buộc có tác động lớn đến cung ứng tiền tệ. Vì thế, NHTW sử dụng dự trữ bắt buộc để tác
động đến lượng tiền cung ứng qua 2 phương diện: tác động đến cơ chế tạo tiền gửi của các NHTM và tác động đến
lãi suất cho vay của hệ thống NHTM Tỉ giá hối đoái
- Là giá của đồng tiền nước ngoài so với đồng tiền Việt Nam (tương quan sức mua giữa đồng nội tệ và đồng ngoại tệ)
- Ở Việt Nam, tỷ giá hối đoái hình thành trên cơ sở cung cầu ngoại tệ trên thị trường có sự điều tiết của NN. NHNN công
bố tỷ giá hối đoái, quyết định chế độ tỷ giá, cơ chế điều hành tỷ giá.
- Tỷ giá hối đoái vừa là công cụ, vừa là đòn bẩy điều tiết cung cầu ngoại tệ, tác động mạnh đến xuất nhập khẩu và hoạt
động sản xuất, kinh doanh trong nước.
- Chính sách tỷ giá tác động một cách nhạy bén đến tình hình sản xuất, xuất nhập khẩu hàng hóa, tình trạng tài chính, tiền
tệ, cán cân thanh toán quốc tế, thu hút vốn đầu tư, dự trữ của đất nước. Về thực chất, tỷ giá hối đoái không hải là
công cụ của chính sách tiền tệ vì tỷ giá không làm thay đổi lượng tiền trong lưu thông. Tuy nhiên ở nhiều nước,
đặc biệt là các nước có nền kinh tế đang chuyển đổi coi tỷ giá là công cụ hỗ trợ quan trọng cho chính sách tiền tệ.
Câu 10: Khi nền kinh tế xảy ra lạm phát thì NHTW sử dụng các công cụ thực hiện chính sách tiền tệ quốc gia như thế nào?
- Lạm phát: là sự tăng mức giá chung một cách liên tục của hàng hóa và dịch vụ theo thời gian và sự mất giá trị
của một loại tiền tệ nào đó. Dự trữ bắt buộc
- Khi lạm phát cao, ngân hàng trung ương nâng tỷ lệ dự trữ bắt buộc, khả năng cho vay và khả năng thanh toán của các
NHTM bị thu hẹp (do số nhân tiền tệ giảm), khối lượng tín dụng trong nền kinh tế giảm (cung tiền giả) dẫn tới lãi
suất tăng, đầu tư giảm do đó tổng cầu giảm làm cho giá giảm (tỷ lệ lạm phát giảm). Ngược lại, nếu ngân hàng
trung ương hạ thấp tỷ lệ dự trữ bắt buộc tức là khả năng tạo tiền về tín dụng của các NHTM tăng, khối lượng tín
dụng và khối lượng thanh toán tăng đồng thời tăng xu hướng mở rộng khối lượng tiền => tỷ lệ lạm phát tăng
- Công cụ dự trữ bắt buộc được sử dụng để dập tắt cơn sốt lạm phát, khôi phục hoạt động trong trường hợp nền kinh tế
phát triển chưa ổn định và khi các công cụ thị trường mở, tái cấp vốn chưa đủ mạnh để có thể điều hòa mức cung
tiền tệ cho nền kinh tế. Do công cụ này quá nhạy cảm, chỉ thay đổi nhỏ trong tỷ lệ dự trữ bắt buộc đã làm cho khối
lượng tiền tăng lên rất lớn, khó kiểm soát. Bên cạnh đó, việc tăng dự trữ bắt buộc có thể gây nên vấn đề khả năng
thanh khoản ngay đối với ngân hàng có dự trữ vượt mức quá thấp, thay đổi tỷ lệ dự trữ bắt buộc không ngừng
cũng gây nên tình trạng không ổn định cho các ngân hàng
=> Công cụ này ít được sử dụng trên thế giới đặc biệt là các nước phát triển, có nền kinh tế ổn định Tái cấp vốn
- Thông qua việc tái chiết khấu, NHTW đã tạo cơ sở đầu tiên thúc đẩy hệ thống NHTM thực hiện việc tạo tiền, đồng thời
khai thông thanh toán. Tái chiết khấu đầu mối tăng tiền trung ương, tăng khối lượng tiền tệ vào lưu thông.
- Khi kinh tế xảy ra lạm phát, NHTW tăng lãi suất tái chiết khấu buộc các NHTM cũng phải nâng lãi suất tín dụng của
mình lên để không bị lỗ vốn. Do lãi suất tín dụng tăng lên, giảm cầu về tín dụng và kéo theo giảm cầu về tiền tệ
Downloaded by Vy T??ng (tuongvy290720@gmail.com) lOMoARcPSD|37955254
(nhu cầu về giữ tiền của nhân dân giảm đi). Do đó, đầu tư giảm đi dẫn tới tổng cầu giảm và làm cho giá giảm (tỷ lệ
lạm phát giảm). Và ngược lại, NHTW kích thích tăng cung cầu tiền tệ làm cho giá tăng thì tỷ lệ lạm phát tăng.
- Tuy nhiên, khi NHTW ấn định lãi suất tái chiết khấu tại một mức nào đó sẽ xảy ra những biến động trong khoảng cách
giữa lãi suất thị trường và lãi suất chiết khấu vì khi đó lãi suất cho vay thay đổi. Những biến động này dẫn đến
những thay đổi ngoài ý định trong khối lượng cho vay chiết khấu và do đó thay đổi cung ứng tiền tệ làm cho việc
kiểm soát cung ứng tiền tệ vất vả hơn. Đây chính là hạn chế của công cụ tái cấp vốn trong việc kiểm soát lạm phát.
Hoạt động thị trường mở
- Nếu như công cụ lãi suất tái chiết khấu là công cụ thụ động của NHTW, tức là NHTW phải chờ NHTM đang cần
vốn đưa thương phiếu, kỳ phiếu… đến để xin “tái cấp vốn” thì nghiệp vụ thị trường mở là công cụ chủ động của
ngân hàng trung ương để điều khiển khối lượng tiền, qua đó đã kiểm soát được lạm phát.
- Qua nghiệp vụ thị trường mở, NHTW chủ động phát hành tiền trung ương vào lưu thông hoặc rút bớt tiền khỏi lưu
thông bằng cách mua bán các loại trái phiếu ngân hàng quốc gia nhằm tác động trước hết đến khối lượng tiền dự
trữ trong quỹ dự trữ của các NHTM và các tổ chức tài chính, hạn chế tiềm năng tín dụng và thanh toán của các
ngân hàng này, qua đó điều khiển khối lượng tiền trong thị trường tiền tệ chúng ta. Khối lượng tiền tệ ảnh hưởng
trực tiếp tới tỷ lệ lạm phát , việc thay đổi cung tiền tệ sẽ làm thay đổi tỷ lệ lạm phát. Do đó, để giảm thiểu lạm
phát, NHTW sẽ rút bớt tiền trong lưu thông.
Trong nghiệp vụ thị trường mở, ngân hàng trung ương điều khiển cả khối lượng tiền tệ và lãi suất tín dụng thông
qua “giá cả” mua và bán trái phiếu. Tất cả những cuộc can thiệp vào khối lượng tiền bằng công cụ thị trường mở
đều được tiến hành dường như là lặng lẽ và vô hình, “không can thiệp thô bạo”, điều khiển mạnh mà không chứa
đựng “một chút mệnh lệnh”. Một mặt nghiệp vụ thị trường mở có thể dễ dàng đảo ngược lại. Khi có một sai lầm
trong lúc tiến hành nghiệp vụ thị trường mở, như khi thấy cung tiền tệ tăng hoặc giảm quá nhanh ngân hàng
thương mại có thể lập tức đảo ngược lại bằng cách bán trái phiếu hoặc mua trái phiếu và ngược lại.
=> Đây là công cụ cực kỳ quan trọng của nhiều NHTW, và được coi là vũ khí sắc bén nhất đem lại sự ổn định kinh tế nói
chung, ổn định lạm phát nói riêng. Lãi suất
- Lãi suất tác động làm thay đổi cầu tiền tệ trong dân cư, và làm thay đổi tỷ lệ lạm phát. Khi có lạm phát, NHTW sẽ tăng
lãi suất tiền gửi. Chính vì thế người dân và các công ty sẽ đầu tư vào ngân hàng (gửi tiền vào ngân hàng) có lợi
hơn là đầu tư vào sản xuất kinh doanh. Như vậy cầu tiền giảm do đó tổng đầu tư giảm, làm cho tổng cầu giảm dẫn
tới giá giảm => giảm tỷ lệ lạm phát.
=> Tóm lại, khi lãi suất tiền gửi cao thì động viên được nhiều người gửi tiền vào NHTM và ngược lại. NHTM mua tín
phiếu NHNN với lãi suất kinh doanh có lãi thì sẽ giảm được khối lượng tín dụng. Nếu lãi suất tiền (cho vay) cao
sẽ làm nản lòng người vay vì kinh doanh bằng vốn vay NHTM không có lợi nhuận. Như vậy dùng công cụ lãi suất
có thể tăng hoặc giảm khối lượng tín dụng của NHTM để đạt được mục đích của chính sách tiền tệ (ổn định tỷ lệ lạm phát).
=> Đây là công cụ cổ điển, các nước ngày càng ít sử dụng, tuy nhiên đây là một công cụ rất quan trọng trong việc kiểm
soát lạm phát và huy động vốn cũng như cung cấp vốn. Hạn mức tín dụng
- Ngoài những công cụ cơ bản trên, ngân hàng nhà nước còn sử dụng công cụ hạn mức tín dụng để điều hành, làm cho
khối lượng tín dụng đối với NHTM không vượt quá mức cho phép để từ đó bảo đảm mức lạm phát đã được phê
duyệt. Hạn mức tín dụng là khối lượng tín dụng tối đa mà NHTW có thể cung ứng cho tất cả các NHTM trong thời
kỳ nhất định phù hợp với mức tăng trưởng kinh tế của thời kỳ. Đây là một chỉ tiêu có quan hệ trực tiếp đến khối
lượng tiền trung ương được cung ứng thêm (hay giảm bớt) đối với các NHTM. Khi hạn mức tín dụng giảm, dẫn
tới cung tiền giảm do đó tổng đầu tư giảm làm cho tổng cầu giảm và cuối cùng là giá giảm (lạm phát giảm).
=> Với mục tiêu ổn định đồng tiền và chống lạm phát được coi là mục tiêu số 1, thì công cụ hạn mức tín dụng là cần thiết.
Song việc sử dụng công cụ hạn mức tín dụng cũng là vấn đề khó khăn không nhỏ cho các ngân hàng thương mại.
Tiền gửi của nhân dân không thể không thu nhận hàng ngày hàng giờ. Nếu nhận tiền gửi mà không được cho vay
Downloaded by Vy T??ng (tuongvy290720@gmail.com) lOMoARcPSD|37955254
thì chẳng khác nào có đầu vào mà không có đầu ra. Như vậy đầu ra của vốn huy động bị bế tắc bởi hạn mức tín
dụng. Việc xác định hạn mức tín dụng là rất cần thiết, để thực hiện mục tiêu chống lạm phát. Song nó cũng có
những mặt trái gây khó khăn cho NHTM. Cần có những giải pháp để khắc phục những khó khăn đó. C
âu 11: Mối quan hệ giữa NHNN và các tổ chức tín dụng trong thực hiện chính sách tiền tệ quốc gia.
- NHNN hoạch định chính sách tiền tệ, thực thi các chính sách tiền tệ phải sử dụng các công cụ như tái cấp vốn, lãi
suất, nghiệp vụ thị trường mở, tỷ giá hối đoái, dự trữ bắt buộc.
=> Các TCTD là chủ thể chịu sự tác động trực tiếp của các hoạt động thực thi các chính sách tiền tệ
- Ngược lại, qua các TCTD, tình hình sản lượng,giá cả, công ăn việc làm, nhu cầu tiền mặt, tổng cung tiền tệ, lãi
suất, tỷ giá,... của nền kinh tế được phản hồi về cho NHTW để Chính phủ và NHTW có chính sách điều tiết thích
hợp với từng tình hình cụ thể. C âu 12 : Tái
cấp vốn là gì? Đặc diểm của hoạt động tái cấp vốn
- Tái cấp vốn là hình thức cấp tín dụng có bảo đảm của NHNN nhằm cung cấp vốn ngắn hạn và phương tiện thanh toán cho TCTD.
- Các hình thức tái cấp vốn: chiết khấu giấy tờ có giá, cho vay có bảo đảm bằng giấy tờ có giá
- Đặc điểm của tái cấp vốn: + Đối tượng:
Các tổ chức tín dụng đang hoạt động bình thường
Kể từ ngày NHTW đặt tổ chức tín dụng vào kiểm soát đặc biệt, khoản cho vay tái cấp vốn đối với tổ chức tín dụng
đó được chuyển thành khoản cho vay đặc biệt
+ Mục đích: nhằm cung ứng vốn ngắn hạn và phương tiện thanh toán cho tổ chức tín dụng. Mục đích cuối cùng là
nhằm cung ứng vốn cho nền kinh tế và thực hiện chính sách tiền tệ quốc gia
+ Hình thức của tái cấp vốn: cho vay có bảo đảm bằng cầm cố giấy tờ có giá; chiết khấu, tái chiết khấu giấy tờ có
giá; các hình thức khác.
+ Thời hạn: ngắn, dưới 12 tháng
Nội dung các hình thức tái cấp vốn của NHNN VN
- Các hình thức tái cấp vốn của NHNN theo khoản 2 điều 11, Luật NHNN năm 2010 gồm:
Cho vay có bảo đảm bằng cầm cố giấy tờ có giá
- Là hình thức cho vay của NHNN đối với các NH trên cơ sở cầm cố giấy tờ có giá thuộc sở hữu của NH để bảo đảm nghĩa vụ trả nợ
- Cầm cố giấy tờ có giá là việc NHNN nắm giữ bản gốc giấy tờ có giá, hoặc yêu cầu ngân hàng chuyển khoản giấy tờ có
giá vào tài khoản của NHNN mở tại Trung tâm giao dịch chứng khoán để đảm bảo thực hiện nghĩa vụ trả nợ cho
một hay nhiều khoản vay cầm cố của ngân hàng tại NHNN.
- Lãi suất cho vay: là lãi suất tái cấp vốn mà NHNN áp dụng khi thực hiện cho vay cầm cố đối với các ngân hàng tại thời
điểm giải ngân khoản vay và duy trì trong suốt thời hạn cho vay. Lãi suất tái cấp vốn được NHNN công bố trong
từng thời kỳ. Trường hợp dư nợ vay cầm cố bị chuyển sang nợ quá hạn thì ngân hàng phải chịu lãi suất quá hạn
bằng 150% lãi suất cho vay ghi trên hợp đồng tín dụng
- Đối tượng được vay cầm cố: là các TCTD đủ các điều kiện: là các TCTD được phép và không bị đặt vào tình trạng kiểm
soát đặc biệt; có giấy tờ có giá đủ tiêu chuẩn cầm cố theo quy định của NHNN; có hồ sơ đề nghị vay cầm cố tại
NHNN; không có dư nợ quá hạn tại NHNN tại thời điểm xin vay; có cam kết về sử dụng tiền vay cầm cố đúng
mục đích và trả nợ cho NHNN đúng thời gian quy định
- Nguyên tắc cho vay cầm cố: các giấy tờ có giá phải đủ tiêu chuẩn quy định của NHNN; cho vay cầm cố giấy tờ có giá
nhằm cung ứng vốn ngắn hạn và phương tiện thanh toán cho các ngân hàng tạm thời thiếu hụt khả năng thanh
khoản; ngân hàng được vay cầm cố phải hoàn trả vốn đầy đủ và đúng hạn.
- Thời hạn cho vay: tối đa là 1 năm. Căn cứ vào mục đích vay vốn của ngân hàng, NHNN quyết định thời hạn cho vay, kỳ
hạn thu hồi nợ trong từng trường hợp cụ thể. Trường hợp đặc biệt, NHNN có thể xem xét gia hạn khoản vay cầm
cố nhưng thời gian gia hạn không vượt quá thời hạn cho vay lần đầu
Downloaded by Vy T??ng (tuongvy290720@gmail.com) lOMoARcPSD|37955254
- Mức cho vay: Căn cứ vào mục tiêu chính sách tiền tệ trong từng thời kỳ, nhu cầu vay vốn, giá trị giấy tờ có giá làm bảo
đảm và dư nợ các khoản vay khác của ngân hàng tại NHNN, NHNN quyết định mức cho vay tối đa không vượt
quá giá trị giấy tờ có giá làm bảo đảm được quy đổi theo quy định của NHNN.
Chiết khấu giấy tờ có giá
- Chiết khấu, tái chiết khấu giấy tờ có giá của các ngân hàng là nghiệp vụ NHNN mua ngắn hạn các giấy tờ có giá còn
thời hạn thanh toán, mà các giấy tờ này đã được ngân hàng giao dịch trên thị trường sơ cấp hoặc mua lại trên thị trường thứ cấp.
- Đối tượng và điều kiện được tham gia nghiệp vụ chiết khấu:
Các ngân hàng được thành lập và hoạt động theo Luật Các TCTD đáp ứng đủ các điều kiện: có tài khoản tiền gửi và lưu
ký giấy tờ có giá tại Sở giao dịch NHNN, có đăng ký chữ ký của lãnh đạo và giới thiệu cán bộ thực hiện nghiệp vụ chiết khấu với NHNN
- Lãi suất chiết khấu: do NHNN xác định và công bố trong từng thời kỳ
- Hình thức chiết khấu:
+ Chiết khấu toàn bộ thời hạn còn lại của giấy tờ có giá (thời hạn còn lại tối đa của giấy tờ có giá là không quá 90 ngày).
Theo hình thức này, NHNN mua hẳn giấy tờ có giá của các ngân hàng theo giá chiết khấu
+ Chiết khấu có kỳ hạn (thời hạn còn lại của giấy tờ có giá lớn hơn thời hạn giao dịch): NHNN chiết khấu các giấy tờ có
giá, đồng thời yêu cầu ngân hàng cam kết mua lại toàn bộ giấy tờ có giá đã chiết khấu sau một thời gian nhất định.
Kỳ hạn chiết khấu tối đa là 91 ngày.
- Các loại giấy tờ có giá được chiết khấu:
+ Tín phiếu NHNN, tín phiếu kho bạc, trái phiếu kho bạc, trái phiếu công trình TW, công trái (được sử dụng trong cả hai hình thức chiết khấu)
+ Trái phiếu đầu tư do Quỹ Hỗ trợ và phát triển phát hành, trái phiếu chính quyền địa phương do UBND thành phố Hà
Nội, TPHCM phát hành (được sử dụng trong hình thức chiết khấu có kỳ hạn)
- Phương thức chiết khấu:
+ Phương thức trực tiếp: các ngân hàng đem giấy đề nghị chiết khấu giấy tờ có giá trực tiếp đến Sở giao dịch NHNN
+ Phương thức gián tiếp: các ngân hàng giao dịch thông qua mạng vi tính hoặc qua Fax tới Sở giao dịch NHNN (trường
hợp qua fax, gửi bản chín theo đường bưu điện)
Các hình thức tái cấp vốn khác
Câu 13: Dự trữ bắt buộc là gì? Nội dung chế độ dự trữ bắt buộc đối với các TCTD được pháp luật quy định như thế nào?
- Dự trữ bắt buộc là số tiền mà TCTD phải gửi tại NHNN để thực hiện chính sách tiền tệ quốc gia.
- Theo điều 14, Luật NHNN năm 2010
NHNN quy định tỷ lệ dự trữ bắt buộc đối với từng loại hình TCTD và từng loại tiền gửi tại TCTD. NHNN quy
định việc trả lãi đối với tiền gửi bắt buộc, tiền gửi vượt dự trữ bắt buộc của từng loại hình TCTD đối với từng loại tiền gửi.
- Điều 1 Quyết định 1158/QĐ-NHNN năm 2018 Tỷ lệ dự trữ bắt buộc áp dụng cho các tổ chức tín dụng, chi nhánh
ngân hàng nước ngoài (sau đây gọi là tổ chức tín dụng) như sau:
1. Quỹ tín dụng nhân dân, tổ chức tài chính vi mô: Tỷ lệ dự trữ bắt buộc đối với các loại tiền gửi bằng đồng Việt
Nam và tiền gửi bằng ngoại tệ là 0%.
2. Ngân hàng chính sách: Tỷ lệ dự trữ bắt buộc theo quy định của Chính phủ.
3. Các tổ chức tín dụng quy định tại các khoản 1 và 2 Điều này trong trường hợp được áp dụng tỷ lệ dự trữ bắt
buộc là 0% đối với tất cả các loại tiền gửi không phải báo cáo Ngân hàng nhà nước về số dư tiền gửi huy động
bình quân phải dự trữ bắt buộc theo quy định về dự trữ bắt buộc đối với các tổ chức tín dụng.
4. Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Việt Nam và Ngân hàng Hợp tác xã áp dụng tỷ lệ dự trữ bắt
buộc tương ứng với từng loại tiền gửi như sau:
Downloaded by Vy T??ng (tuongvy290720@gmail.com) lOMoARcPSD|37955254
a) Tiền gửi bằng đồng Việt Nam không kỳ hạn và có kỳ hạn dưới 12 tháng là 3% trên tổng số dư tiền gửi phải tính dự trữ bắt buộc;
b) Tiền gửi bằng đồng Việt Nam kỳ hạn từ 12 tháng trở lên là 1% trên tổng số dư tiền gửi phải tính dự trữ bắt buộc;
c) Tiền gửi bằng ngoại tệ của tổ chức tín dụng ở nước ngoài là 1 % trên tổng số dư tiền gửi phải tính dự trữ bắt buộc;
d) Tiền gửi bằng ngoại tệ phải tính dự trữ bắt buộc khác không kỳ hạn và có kỳ hạn dưới 12 tháng là 7% trên tổng
số dư tiền gửi phải tính dự trữ bắt buộc;
e) Tiền gửi bằng ngoại tệ phải tính dự trữ bắt buộc khác kỳ hạn từ 12 tháng trở lên là 5% trên tổng số dư tiền gửi
phải tính dự trữ bắt buộc.
5. Tổ chức tín dụng khác (ngoài tổ chức tín dụng quy định tại khoản 1, khoản 2 và khoản 4 Điều này) áp dụng tỷ lệ
dự trữ bắt buộc tương ứng với từng loại tiền gửi như sau:
a) Tiền gửi bằng đồng Việt Nam không kỳ hạn và có kỳ hạn dưới 12 tháng là 3% trên tổng số dư tiền gửi phải tính dự trữ bắt buộc;
b) Tiền gửi bằng đồng Việt Nam kỳ hạn từ 12 tháng trở lên là 1% trên tổng số dư tiền gửi phải tính dự trữ bắt buộc;
c) Tiền gửi bằng ngoại tệ của tổ chức tín dụng ở nước ngoài là 1% trên tổng số dư tiền gửi phải tính dự trữ bắt buộc;
d) Tiền gửi bằng ngoại tệ phải tính dự trữ bắt buộc khác không kỳ hạn và có kỳ hạn dưới 12 tháng là 8% trên tổng
số dư tiền gửi phải tính dự trữ bắt buộc;
e) Tiền gửi bằng ngoại tệ phải tính dự trữ bắt buộc khác kỳ hạn từ 12 tháng trở lên là 6% trên tổng số dư tiền gửi
phải tính dự trữ bắt buộc.
câu 14: Thế nào là nghiệp vụ thị trường mở? Tại sao Ngân hàng trung ương buộc phải thực hiện nghiệp vụ thị
trường mở để điều hành chính sách tiền tệ quốc gia.
- Nghiệp vụ thị trường mở là hoạt động của NHNN mua vào hoặc bán ra những giấy tờ có giá đối với TCTD.
- Nghiệp vụ thị trường mở là công cụ chính sách tiền tệ quan trọng nhất bởi vì những nghiệp vụ này là yếu tố
quyết định đối với những thay đổi trong cơ số tiền tệ và là một nguyên nhân gây nên những biến động trong cung
ứng tiền tệ. Việc NHTW mua trên thị trường mở làm tăng cơ số tiền tệ, do đó tăng lượng tiền cung ứng tiền tệ, còn
việc bán trên thị trường mở sẽ thu hẹp cơ số tiền tệ bằng cách giảm lượng cung ứng tiền tệ.
+ Thứ nhất: Nó là nhân tố quyết định đầu tiên có thể làm thay đổi lãi suất hoặc cơ sở của tiền tệ - nguồn gốc chính
làm thay đổi việc cung ứng tiền của NHTW và trực tiếp tác động đến nguồn dự trữ của các NHTM, từ đó ảnh
hưởng đến nguồn cung ứng tín dụng cho nền kinh tế.
+ Thứ hai: nghiệp vụ thị trường mở vừa linh hoạt nhưng vừa chính xác, có thể sử dụng ở bất kỳ quy mô nào. Khi
có yêu cầu thay đổi về dự trữ hoặc cơ sở tiền tệ dù ở mức nhỏ như thế nào đi nữa, nghiệp vụ thị trường mở cũng
có thể đạt được bằng cách mua hay bán một lượng nhỏ chứng khoán và ngược lại. Với tính linh hoạt của nghiệp vụ
thị trường mở, NHTW có thể sử dụng nó để nới lỏng hoặc thắt chặt tiền tệ bất cứ mức độ nào qua việc mua hoặc
bán chứng khoán với số lượng phù hợp
Câu 15: Thế nào là thị trường mở? Ưu điểm của công cụ thị trường mở trong việc thực hiện chính sách tiền tệ q uốc gia.
- Ưu điểm của thị trường mở trong việc thực hiện chính sách tiên tệ quốc gia
+ Thông qua việc mua – bán các giấy tờ có giá NHTW có thể chủ động can thiệp vào thị trường tiền tệ, từ đó tác
động trực tiếp vào khả năng cung ứng tín dụng của các tổ chức tín dụng.
+ Sử dụng công cụ này đảm bảo độ linh hoạt và chính xác cao. Trong NVTTM, tác động vào cung ứng tiền có thể
sử dụng ở bất kỳ mức độ nào để thay đổi dự trữ hoặc cơ số tiền lớn hay nhỏ. NHTW có thể thực hiện bằng cách
mua, bán khối lượng lớn hay nhỏ chứng khoán. NHTW dễ dàng đảo ngược tình thế khi có một quyết định sai lầm
về việc sử dụng công cụ này bằng cách lập tức đảo ngược lại việc sử dụng công cụ đó. Ví dụ: nếu NHTW thấy
Downloaded by Vy T??ng (tuongvy290720@gmail.com) lOMoARcPSD|37955254
rằng cung ứng tiền tệ tăng quá nhanh do mua quá nhiều giấy tờ có giá trên thị trường mở thì nó có thể sửa chữa
ngay bằng cách tiến hành nghiệp vụ bán trên thị trường mở. Việc tác động đến khối lượng tiền tệ có thể được hoàn
thành nhanh chóng, không gây nên những chậm trễ về mặt hành chính. Khi muốn thay đổi cơ số tiền hoặc dự trữ,
NHTW có thể quyết định và thực hiện ngay trong phiên giao dịch.
+ NHTW luôn có thể chủ động số lượng tiền “bơm” vào hay “hút” ra khỏi lưu thông bằng cách khống chế lượng
mua và bán.Mặt khác tính linh hoạt còn thể hiện ở chỗ NHTW vừa thực hiện mua ngay sau đó lại bán ngược lại.
+ Khi sử dụng công cụ này, NHTW vẫn đảm bảo được tính cạnh tranh của NHTM đặc biệt là trong đấu thầu lãi
suất. Các ngân hàng tham gia nghiệp vụ thị trường mở một cách tự nguyện theo các nguyên tắc của thị trường,
không mang tính chất bắt buộc và không phải chịu một “khoản thuế” như công cụ dự trữ bắt buộc.
+ Nghiệp vụ thị trường mở có hai loại: (1) nghiệp vụ thị trường mở năng động được thực hiện với mục đích thay
đổi dự trữ của hệ thống ngân hàng; (2) nghiệp vụ thị trường mở thụ động thực hiện nhằm bù đắp lại những biến
động của các nhân tố khác ảnh hưởng đến dự trữ (ví dụ những biến động của tiền gửi của Chính phủ tại NHTW,
các can thiệp của NHTW trên thị trường ngoại hối để điều chỉnh tỷ giá…). Hai loại nghiệp vụ này giúp cho việc
điều tiết khối lượng tiền cung ứng của NHTW trở nên linh hoạt hơn nhiều so với các công cụ ra đời trước đó * Nhược điểm
– Thị trường mở là một bộ phận của thị trường tài chính. Do vậy, công cụ này sẽ chỉ phát huy tối đa hiệu quả khi
có một thị trường tài chính phát triển. Hàng hoá của thị trường phải phong phú, có khả năng đáp ứng các nhu cầu
khác nhau của khách hàng. Về bản thân mình, NHTW phải có khả năng dự báo tốt vốn khả dụng của toàn bộ hệ thống ngân hàng.
– Ảnh hưởng của nghiệp vụ thị trường mở tới cơ số tiền tệ có thể bị triệt tiêu bởi các tác động ngược chiều nên dự
trữ của ngân hàng không tăng – giảm tương ứng sau các hoạt động mua – bán chứng khoán của NHTW. Các tác
động ngược chiều này gồm có dòng chảy ngược chiều của vốn do mất cân đối trong cán cân thanh toán hoặc do số
dư tiền gửi của ngân sách tại NHTW tăng lên làm cho các hoạt động mua hoặc bán chứng khoán của NHTW bị
triệt tiêu một phần hoặc toàn bộ.
– Khi lãi suất thị trường giảm như là một kết quả do tiền trung ương MB tăng lên, không phải lúc nào khối lượng
tín dụng của nền kinh tế cũng tăng lên tương ứng. Điều này còn phụ thuộc vào khả năng hấp thụ vốn của nền kinh
tế, mức độ rủi ro và ổn định của môi trường đầu tư.
Vì vậy, mặc dù đây là một công cụ rất chủ động và có tính minh bạch của NHTW song khả năng phát huy hiệu
quả để đạt được các mục tiêu cuối cùng của CSTT không chỉ đơn thuần phụ thuộc vào NHTW mà còn bị chi phối
bởi các yếu tố môi trường vĩ mô, hành vi của công chúng và quyết định của NHTM nữa
Cau 16: Phát hành tiền là gì? Phân tích thẩm quyền phát hành tiền của NHNN theo pháp luật hiện hành
- Phát hành tiền là việc đưa một lượng tiền nhất định vào lưu thông để cân bằng với lượng hàng hóa (hay là bình
ổn giá) và trong một số trường hợp để áp đáp ứng nhu cầu chi tiêu của Chính phủ (tạm ứng cho ngân sách)
- Thẩm quyền phát hành tiền của NHNN theo pháp luật hiện hành
+ Theo khoản 3, điều 2 Luật NHNN năm 2010: NHNN thực hiện chức năng phát hành tiền
+ Theo khoản 1, điều 17 Luật NHNN năm 2010: NHNN là cơ quan duy nhất phát hành tiền giấy của nước CHXHCNVN
NHNN được phép phát hành tiền theo các quy định trong Luật hoặc được Chính phủ phê duyệt (mệnh giá tiền,
loại tiền, mức phát hành,..) nhằm bảo đảm thống nhất và an toàn cho hệ thống lưu thông tiền tệ của quốc gia.
Vai trò độc quyền của NHNN không chỉ đề cập đến quyền lực mà còn bao gồm cả trách nhiệm cũng như phương
thức phát hành để đảm bảo sự ổn định tiền tệ và phát triển kinh tế.
NHNN giữ vai trò quan trọng với tư cách là cơ quan duy nhất được CP giao nhiệm vụ tổ chức thực hiện việc in
tiền, chịu trách nhiệm quản lý nhà nước nói chung về việc in tiền, vận chuyển, phát hành tiền. C
âu 17: NHNNVN có quyền góp vốn, mua cổ phần của TCTD và các doanh nghiệp khác không. Tại sao?
- Theo khoản 3, điều 18 Luật Doanh nghiệp 2014 về quyền thành lập, góp vốn, mua cổ phần, mua phần vốn góp
và quản lý doanh nghiệp thì Cơ quan nhà nước không được quyền góp vốn, mua cổ phần, mua phần vốn góp và
công ty cổ phần, công ty trách nhiệm hữu hạn, công ty hợp danh.
Downloaded by Vy T??ng (tuongvy290720@gmail.com) lOMoARcPSD|37955254
NHNN là cơ quan nhà nước nên không có quyền góp vốn, mua cổ phần của doanh nghiệp để bảo đảm tính khách
quan công bằng, tránh thu lợi riêng vì NHNN nắm các quyền lực hành chính, quản lý nhà nước về tiền tệ, đưa ra
các chính sách,.. áp đặt lên các TCTD, doanh nghiệp.
- Tuy nhiên, trong trường hợp đặc biệt: TCTD bị kiểm soát đặc biệt thì NHNN có quyền góp vốn, mua cổ phần.
Theo khoản 1, điều 3, quyết định 48/2013/QĐ-TTg về việc góp vốn, mua cổ phần bắt buộc của TCTD được kiểm
soát đặc biệt: góp vốn, mua cổ phần bắt buộc là việc NHNN trực tiếp hoặc chỉ định TCTD khác tham gia góp vốn,
mua cổ phần của TCTD được kiểm soát đặc biệt.
Khoản 3, điều 6 của quyết định này: NHNN thực hiện góp vốn, mua cổ phần bắt buộc bằng tiền hoặc phần toàn bộ
giá trị dư nợ khoản vay đặc biệt, dư nợ cho vay tái cấp vốn (nếu có). Ngân hàng Nhà nước có thể sử dụng các công
cụ nợ do Ngân hàng Nhà nước phát hành để thực hiện việc góp vốn, mua cổ phần.
NHNN được góp vốn, mua cổ phần của TCTD bị kiểm soát đặc biệt vì TCTD này bị rơi vào tình trạng mất khả
năng thanh toán và nếu TCTD đó chấm dứt hoạt động có thể mất an toàn hệ thống TCTD nên NHNN phải góp
vốn, mua cổ phần để cứu TCTD, giúp nó thoát khỏi tình trạng mất khả năng thanh toán. C âu 18 : Th
anh tra ngân hàng là gì? Mục đích, đối tượng, nội dung hoạt động của thanh tra ngân hàng.
- Theo khoản 11, điều 6 Luật NHNN năm 2010, thanh tra ngân hàng là hoạt động thanh tra của NHNN đối với các
đối tượng thanh tra ngân hàng trong việc chấp hành pháp luật về tiền tệ và ngân hàng
- Mục đích của hoạt động: điều 50 Luật NHNN năm 2010
- Đối tượng: Điều 52 Luật NHNN năm 2010
- Nội dung: Điều 55 Luật NHNN năm 2010 C
âu 19 : Vi phạm pháp luật về ngân hàng? Việc áp dụng chế tài đối với những hành vi vi phạm pháp luật về
ngân hàng được pháp luật quy định như thế nào?
Là hành vi trái pháp luật, có lỗi của chủ thể có năng lực trách nhiệm pháp lí xâm hại tới quan hệ xã hội được pháp
luật về ngân hàng bảo vệ. Ví dụ: Vi phạm quy định về bảo hiểm tiền gửi, vi phạm quy định pháp luật về huy động
vốn và cung ứng dịch vụ, vi phạm quy định về hoạt động rửa tiền...
Việc áp dụng chế tài với những hành vi vi phạm pháp luật về ngân hàng chủ yếu được quy định trong các VBPL sau:
+ Chế tài phạt hành chính: được quy định ở Nghị định 96/2014/NĐ-CP quy định xử phạt hành vi vi phạm hành
chính trong lĩnh vực tiền tệ và ngân hàng. Các hình thức xử phạt chính gồm: cảnh cáo và phạt tiền. Các hình thức
phạt bổ sung gồm: tước quyền sử dụng giấy phép, giấy chứng nhận do cơ quan có thẩm quyền cấp về một hoặc
một số hoạt động kinh doanh khác thuộc lĩnh vực tiền tệ, ngân hàng; tịch thu tang vật...
+ Chế tài phạt hình sự: được quy định tại Bộ luật hình sự 2015 SĐ, BS 2017 Chương XVIII, Mục 2: Các tội phạm
trong lĩnh vực thuế, tài chính, ngân hàng, chứng khoán, bảo hiểm. Với các tội danh như: điều 203. Tội in, phát
hành, mua bán trái phép hóa đơn, chứng từ thu nộp ngân sách nhà nước với mức phạt tù từ 6 tháng-5 năm; điều
207. Tội làm, tàng trữ, vận chuyển, lưu hành tiền giả với mức tù dao động từ 3 năm- chung thân...
Câu 20: Khái niệm, đặc điểm của tổ chức tín dụng?
Khái niệm: (K1 điều 4 Luật các tổ chức tín dụng SĐ, BS 2017) Tổ chức tín dụng là doanh nghiệp thực hiện 1, 1
số hoặc tất cả các hoạt động ngân hàng. Tổ chức tín dụng bao gồm ngân hàng, tổ chức tín dụng phi ngân hàng, tổ
chức tài chính vi mô và quỹ tín dụng nhân dân. Đặc điểm:
+ Đối tượng kinh doanh: tiền tệ. Tổ chức tín dụng là doanh nghiệp kinh doanh tiền tệ và cung ứng các dịch vụ
ngân hàng. Có thể khẳng định, đối tượng kinh doanh trực tiếp của các Tổ chức tín dụng chính là tiền tệ. Bởi vì,
hoạt động kinh doanh chính, chủ yếu, thường xuyên và mang tính chất nghề nghiệp, mang lại thu nhập chính cho
tổ chức tín dụng là hoạt động ngân hàng. Các tổ chức tín dụng hoạt động kinh doanh chủ yếu theo phương thức
nhận tiền gửi, sử dụng tiền gửi để cấp tín dụng, cho vay lại, cung cấp các dịch vụ thanh toán. Điều này được pháp
luật ngân hàng quy định rõ: “hoạt động ngân hàng là hoạt động kinh doanh tiền tệ và dịch vụ ngân hàng với nội
Downloaded by Vy T??ng (tuongvy290720@gmail.com) lOMoARcPSD|37955254
dung thường xuyên nhận tiền gửi, sử dụng số tiền này để cấp tín dụng và cung ứng các dịch vụ thanh toán”. Đây
là dấu hiệu cơ bản để phân biệt doanh nghiệp là TCTD với các loại hình doanh nghiệp kinh doanh trong các lĩnh vực.
+ Hoạt động kinh doanh đặc thù:
Huy động vốn: nhận tiền gửi vay vốn ngân hàng nhà nước
Sử dụng vốn: cấp tín dụng cung ứng dịch vụ thanh toán
+ Tính rủi ro: nguy cơ mất vốn hoặc có thể gây ra rủi ro cho toàn hệ thống tín dụng. Các rủi ro thường gặp có thể
là rủi ro ngoại hối, rủi ro thanh khoản, rủi ro lãi suất, rủi ro công nghệ và hoạt động,…
+ Quản lý tổ chức tín dụng: chủ thể quản lý là ngân hàng nhà nước Việt Nam. Luật Ngân hàng 2010 quy định:
Ngân hàng Nhà nước Việt Nam thực hiện chức năng quản lý nhà nước về tiền tệ và hoạt động ngân hàng. Đồng
thời, luật Ngân hàng còn nêu rõ một trong những nhiệm vụ, quyền hạn của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam là cấp,
thu hồi giấy phép thành lập và hoạt động của các tổ chức tín dụng, trừ trường hợp do Thủ tướng chính phủ quyết
định. Ngoài ra, pháp luật ngân hàng cũng ghi nhận việc cấp, thu hồi giấy phép hoạt động ngân hàng các tổ chức
khác cũng thuộc thẩm quyền của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam. Điều 8 Luật các tổ chức tín dụng SĐ, BS 2017
qui định: “tổ chức có đủ điều kiện qui định theo Luật này và các qui định khác của pháp luật có liên quan được
Ngân hàng Nhà nước cấp giấy thì được thực hiện một phần hoặc toàn bộ hoạt động ngân hàng tại VN.”
+ Điều kiên thành lập và hoạt động vô cùng chặt chẽ, yêu cầu vốn theo quy định và nguồn nhân lực có chuyên
môn nghiệp vụ: được quy định tại Luật Dân sự (đáp ứng yêu cầu của pháp nhân), luật Doanh nghiệp, luật Ngân
hàng, luật các tổ chức tín dụng,...
Câu 21: Tại sao nói: Nguyên tắc đi vay để cho vay là nguyên tắc đặc trưng trong hoạt động kinh doanh ngân hàng?
Ngân hàng là một doanh nghiệp kinh doanh hàng hoá đặc biệt với hoạt động chủ yếu là đi vay để cho vay
với phương châm kinh doanh phải đảm bảo an toàn, hiệu quả và tự chịu trách nhiệm. Ngân hàng là tổ chức kinh
doanh tiền tệ, trong đó chủ yếu là huy động dưới hình thức tiền gửi để cho vay thông qua hoạt động của mình.
Trong hoạt động kinh doanh tiền tệ thì tiền tệ vừa là phương tiện vừa là mục đích kinh doanh khi ngân hàng
thực hiện kinh doanh tạo ra lợi nhuận đòi hỏi phải tìm đầu ra trước, sau đó định ra việc huy động vốn đầu vào.
Trong quản trị và điều hành kinh doanh tiền tệ ngân hàng phải chú ý đảm bảo khả năng chi trả, đặc biệt là việc giải
ngân cho các khoản vay, các dự án đầu tư, phải tìm được nguồn vốn đầu vào có chi phí thấp, phải có chính sách
đối với khách hàng, để thiết lập được quan hệ thân tín với khách hàng.
Trong kinh doanh ngân hàng phải đa dạng hoá các hình thức huy động vốn để thu hút được mọi nguồn vốn
nhàn rỗi trong xã hội vào ngân hàng, tạo nên nguồn vốn của ngân hàng để đầu tư cho nền kinh tế. Ngân hàng phải
cải tiến liên tục, đảm bảo thanh toán nhanh chóng thuận tiện, an toàn tài sản cho khách hàng. Ngoài ra cần có một
số biện pháp tâm lý khách hàng ... phải luôn luôn đảm bảo tạo ra lợi nhuận đạt tỷ lệ tối ưu.
Muốn có lợi nhuận tối ưu thì việc tạo thu nhập, giá thành về vốn thấp ( chi phí đầu vào thấp ) để tạo ra chênh
lệch giữa thu nhập và chi phí cao, còn phải phân bổ hợp lý tài sản có sinh lời, giảm thấp tỷ lệ rủi ro.
Trong quá trình tuần hoàn vốn của nền kinh tế, giữa các doanh nghiệp, đơn vị, tổ chức kinh tế, các cá nhân
trong xã hội luôn xảy ra hiện tượng thừa thiếu vốn tại một thời điểm nhất định nào đó. Hiện tượng xảy ra đối với
các doanh nghiệp, tổ chức kinh tế không trùng nhau. Để giải quyết mâu thuẫn này thì hệ thống ngân hàng đã đứng
ra huy động vốn tức là tập trung mọi khoản tiền nhàn rỗi tạm thời chưa sử dụng đến của các chủ thể trong nền kinh
tế đế tạo nên quỹ cho vay. Trên cơ sở đó cung cấp cho các chủ thể cần vốn.
Như vậy ngân hàng thương mại đóng vai trò là một tổ chức môi giới, vừa là người đi vay vừa là người cho
vay. Nói cách khác ngân hàng thương mại “Đi vay để cho vay”.
Câu 22: So sánh tổ chức tín dụng là ngân hàng với tổ chức tin dụng phi ngân hàng?
Ngân hàng và các tổ chức tín dụng phi ngân hàng đều là các tổ chức hoạt động trong lĩnh vực tài chính, tiền
tệ, đều chịu sự điều chỉnh của pháp luật ngân hàng và tiền tệ. Tuy nhiên, chúng có một số điểm khác nhau như sau:
Downloaded by Vy T??ng (tuongvy290720@gmail.com) lOMoARcPSD|37955254
- Về nguồn vốn: Vốn của ngân hàng là các khoản tiền nhận gửi, các khoản tiền vay, khoản tiền tự có, còn nguồn
vốn của các tổ chức tài chính phi ngân hàng là vốn tự góp, các quỹ trợ cấp, tiền thu được khi phát hành cổ phiếu trái khoán…
- Về hoạt động: Ngân hàng được nhận tiền gửi, đi vay các khoản nhỏ và cho vay các khoản lớn còn các tổ chức
tín dụng phi ngân hàng thì không được nhận tiền gửi và phải đi vay các khoản lớn và cho vay các khoản nhỏ.
- Về vấn đề quản lý của Nhà nước: Ngân hàng chịu sự quản lý của Nhà nước và ràng buộc về tiền gửi dựng trữ,
bảo hiểm khoản vay… không được tham gia vào thị trường chứng khoán; các tổ chức tín dụng phi ngân hàng
không bị ràng buộc nhiều như ngân hàng thương mại, hoạt động chủ yếu là đầu tư cổ phiếu, thương phiếu, bất động sản…
- Khả năng sinh lời: Ngân hàng có thể nhận tiền gửi và xoay vòng đồng tiền trong khi tổ chức tài chính phi ngân
hàng phải đảm bảo bù đắp về chi phí và có tích lũy để phát triển. Lãi suất của ngân hàng thường cao hơn tổ chức tài chính phi ngân hàng.
Câu 23: Các loại hình tổ chức tín dụng theo pháp luật Việt Nam?
Theo khoản 1 điều 4 Luật các tổ chức tín dụng SĐ, BS 2017 thì tổ chức tín dụng bao gồm: Ngân hàng, tổ chức tín
dụng phi ngân hàng, tổ chức tài chính vi mô và quỹ tín dụng nhân dân.
Ngân hàng là loại hình tổ chức tín dụng có thể được thực hiện tất cả các hoạt động ngân hàng. Theo tính chất và
mục tiêu hoạt động, các loại hình ngân hàng bao gồm ngân hàng thương mại, ngân hàng chính sách, ngân hàng
hợp tác xã. ( khoản 2 điều 4)
Tổ chức tín dụng phi ngân hàng là loại hình tổ chức tín dụng được thực hiện một hoặc một số hoạt động ngân
hàng , trừ các hoạt động nhận tiền gửi của cá nhân và cung ứng các dịch vụ thanh toán qua tài khoản của khách
hàng. Tổ chức tín dụng phi ngân hàng bao gồm công ty tài chính, công ty cho thuê tài chính và các tổ chức tín
dụng phi ngân hàng khác. (khoản 4 điều 4)
Tổ chức tài chính vi mô là loại hình tổ chức tín dụng chủ yếu thực hiện một số hoạt động ngân hàng nhằm đáp
ứng nhu cầu của các cá nhân, hộ gia đình có thu nhập thấp và doanh nghiệp siêu nhỏ. (khoản 5 điều 4)
Quỹ tín dụng nhân dân là tổ chức tín dụng do các pháp nhân, cá nhân và hộ gia đình tự nguyện thành lập dưới
hình thức hợp tác xã để thực hiện một số hoạt động ngân hàng theo quy định của Luật các tổ chức và Luậưt hợp
tác xã nhằm mục tiêu chủ yếu là tương trợ nhau phát triển sản xuất, kinh doanh và đời sống. (khoản 6 điều 4)
Câu 24: Ngân hàng thương mại là gì? Phân biệt ngân hàng thương mại cổ phần và ngân hàng thương mại
100% vốn nhà nước?
Định nghĩa: Ngân hàng thương mại là loại hình ngân hàng được thực hiện tất cả các hoạt động ngân hàng và các
hoạt động kinh doanh khác nhằm mục đích lợi nhuận. (khoản 3 điều 4 Luật các tổ chức tín dụng SĐ, BS 2017).
Ngân hàng thương mại cổ phần là ngân hàng thương mại được thành lập, tổ chức dưới hình thức công ty cổ phần.
Ngân hàng thương mại cổ phần hoạt động tuân theo các luật riêng của Chính phủ và các quy chế, quy định của
Ngân hàng Nhà nước Việt Nam khi hoạt động. Mỗi cá nhân hay công ty góp vốn chỉ được sở hữu một số cổ phần
hạn định theo quy định của ngân hàng Nhà nước Việt Nam.
Ngân hàng thương mại 100% vốn nhà nước là ngân hàng thương mại trong đó nhà nước sở hữu 100% vốn điều lệ.
Về tổ chức bộ máy điều hành ở Ngân hàng thương mại cổ phần có thêm Đại hội đồng cổ đông mà Ngân hàng
100% vốn nhà nước không có. Theo đó, số cổ đông tối thiểu là 100, quy định mức sở hữu không quá 20% vốn
điều lệ của ngân hàng.
Về việc họp HĐQT: Với ngân hàng TMCP họp HĐQT khi có ¾ tổng số thành viên dự họp. Với NHTMNN thì
họp khi có 2/3 tổng số thành viên trở lên dự họp.
Tổng giám đốc NHTMCP có nhiều nhiệm vụ, quyền hạn và thẩm quyền hơn tổng giám đốc NHTMNN.
Downloaded by Vy T??ng (tuongvy290720@gmail.com) lOMoARcPSD|37955254
- Với NHTMNN, quyền của chủ sở hữu được nhấn mạnh: Quyết định mức vốn điều lệ ban đầu và việc thay đổi
vốn điều lệ của ngân hàng; Quyết định cơ cấu tổ chức quản lý của ngân hàng; quyết định việc bổ nhiệm, bãi nhiệm
và miễn nhiệm những người đại diện theo ủy quyền làm Chủ tịch và thành viên Hội đồng quản trị, Trưởng ban và
thành viên Ban Kiểm soát của ngân hàng phù hợp với các tiêu chuẩn và điều kiện quy định tại luật; Phê chuẩn các
Quy định nội bộ về tổ chức và hoạt động của Hội đồng quản trị và Ban Kiểm soát; Quyết định mức thù lao, thưởng
và các lợi ích khác đối với thành viên Hội đồng quản trị, thành viên Ban Kiểm soát và ngân sách hoạt động của
Hội đồng quản trị, Ban Kiểm soát; Theo dõi và đánh giá hoạt động cùa Hội đồng quản trị và Ban Kiểm soát, bao
gồm cả hoạt động của Chủ tịch Hội đồng quản trị, Trưởng Ban Kiểm soát trước khi được bổ nhiệm lại làm thành
viên Hội đồng quản trị, Ban Kiểm soát; Quyết định các biện pháp áp dụng đối với thành viên Hội đồng quản trị và
thành viên Ban Kiểm soát vi phạm quyền hạn và nhiệm vụ của mình. Khiếu nại hoặc khởi kiện thành viên Hội
đồng quản trị, thành viên Ban Kiểm soát, Tổng giám đốc khi không thực hiện đúng nghĩa vụ, gây thiệt hại tới lợi
ích của mình hoặc của ngân hàng theo quy định của pháp luật…
Câu 25: Các hoạt động của ngân hàng thương mại?
Được quy định tại điều 98 Luật các tổ chức tín dụng SĐ, BS 2017 gồm:
1. Nhận tiền gửi không kỳ hạn, tiền gửi có kỳ hạn, tiền gửi tiết kiệm và các loại tiền gửi khác.
2. Phát hành chứng chỉ tiền gửi, kỳ phiếu, tín phiếu, trái phiếu để huy động vốn trong nước và nước ngoài.
3. Cấp tín dụng dưới các hình thức sau đây: A, Cho vay
B, Chiết khấu, tái chiết khấu công cụ chuyển nhượng và giấy tờ có giá khác C, Bảo lãnh ngân hàng
D, Phát hành thẻ tín dụng
Đ, Bao thanh toán trong nước; bao thanh toán quốc tế với các ngân hàng được phép thực hiện thanh toán quốc tế
E, Các hình thức cấp tín dụng khác sau khi được Ngân hàng Nhà nước chấp thuận
4. Mở tài khoản thanh toán cho khách hàng
5. Cung ứng các phương tiện thanh toán
6. Cung ứng các dịch vụ thanh toán sau đây:
Thực hiện dịch vụ thanh toán trong nước bao gồm séc, lệnh chi, ủy nhiệm chi, nhờ thu, ủy nhiệm thu, thư tín dụng,
thẻ ngân hàng, dịch vụ thu hộ và chi hộ.
Thực hiện dịch vụ thanh toán quốc tế và các dịch vụ thanh toán khác sau khi được Ngân hàng Nhà nước chấp thuận.
Theo bài giảng của cô:
Ngân hàng thương mại thực hiện 4 hoạt động chính:
Một là, hoạt động huy động vốn. Đây là hoạt động nhận tiền gửi của các tổ chức, cá nhân dưới hình thức nhận tiền
gửi; phát hành giấy tờ có giá là kỳ phiếu, trái phiếu; vay vốn trên thị trường liên ngân hàng và vay vốn từ Ngân hàng Nhà nước
Hai là, hoạt động cho vay. Ngân hàng cho vay, chiết khấu, tái chiết khấu giấy tờ có giá, bảo lãnh ngân hàng.
Ba là, hoạt động trung gian thanh toán. Ngân hàng cung ứng dịch vụ thanh toán cho khách hàng gồm chuyển tiền, thu hộ, chi hộ.
Bôn là, hoạt động đầu tư tài chính. Đây là hoạt động duy trì mối liên kết giữa Ngân hàng thương mại với các công
ty liên quan trong lĩnh vực tài chính. Chẳng hạn, Ngân hàng thương mại có thể góp vốn thành lập công ty chứng
khoán trực thuộc do ngân hàng thương mại sở hữu 100% phần vốn góp. Hoặc tham gia góp vốn vào công ty bảo
hiểm, công ty bất động sản….
Câu 26: So sánh cơ cấu quản trị nội bộ của Ngân hàng thương mại cổ phần theo Luật các tổ chức tín dụng
và của công ty cổ phần theo Luật doanh nghiệp?
Ngân hàng thương mại cổ phần
Công ty cổ phần (LDN (LCTCTD SĐ, BS 2017) 2014)
Downloaded by Vy T??ng (tuongvy290720@gmail.com) lOMoARcPSD|37955254 Bầu, bổ nhiệm bộ
Luật quy định cụ thể, chi tiết các giới
Luật không quy định chi tiết, máy quản trị và
hạn trong việc bầu, bổ nhiệm bộ máy
chỉ quy định các tiêu chuẩn điều hành quản trị, điều hành:
làm thành viên trong bộ máy
- Các trường hợp không được đảm
quản trị và điều hành.
nhiệm chức vụ (Điều 33)
- Các trường hợp không cùng đảm
nhiệm chức vụ (Điều 34)
- Các trường hợp đương nhiên mất tư cách (Điều 35) Sự tham gia của
Có sự tham gia của NHNN trong
Việc tổ chức bộ máy quản chủ thể khác trong
việc tổ chức bộ máy quản trị, điều
trị, điều hành không có sự tổ chức bộ máy hành:
tham gia của chủ thể khác quản trị, điều hành
- Việc miễn nhiệm, bãi nhiệm,
trường hợp đương nhiên mất tư cách
của Ban quản trị, điều hành đề phải có văn bản báo cáo NHNN
- NHNN có quyền chỉ định, tạm đình
chỉ các chức danh trong Ban quản trị, điều hành
- Danh sách ứng viên Ban quản trị,
điều hành để bầu, bổ nhiệm phải
được báo cáo và có sự chấp thuận
của NHNN bằng văn bản (Điều 51) Mô hình quản trị
Mô hình quản trị phức tạp hơn:
Công ty có quyền lựa chọn
- Không được lựa chọn mô hình
mô hình quản trị theo 1 trong quản trị 2 mô hình (Điều 134)
- Vừa có Ban kiểm soát, vừa có
thành viên HĐQT độc lập và các Ủy ban trực thuộc. Đại hội đồng cổ
Ít nhất phải có 100 cổ đông ( K6
- Ít nhất phải có 03 cổ đông đông Điều 52) (Điều 110)
- Mỗi cá nhân sở hữu không quá 5%,
- Không yêu cầu tỉ lệ sở hữu
tổ chức sở hữu không quá 15%, trừ của các cổ đông
một số trường hợp ngoại lệ (điều 55)
- Chỉ hạn chế quyền chuyển
- Nhiều hạn chế được đặt ra trong
nhượng cổ phần phổ thông
việc chuyển nhượng cổ phần của ban
của cổ đông sáng lập (Điều
Quản trị, điều hành, ban kiểm soát 119)
và cổ đông sáng lập (Điều 56)
- HĐQT có thẩm quyền yêu
- NHNN có thẩm quyền yêu cầu
cầu triệu tập ĐHĐCĐ (Điều
triệu tập ĐHĐCĐ (Điều 60) 136) Hội đồng quản trị
- Phải có ít nhất 1 thành viên HĐQT
Tùy từng trường hợp mà có độc lập hoặc không có thành viên
- Ít nhất ½ số thành viên là thành HĐQT độc lập
viên HĐQT độc lập + thành viên
Downloaded by Vy T??ng (tuongvy290720@gmail.com)