



















Preview text:
ĐỀ CƯƠNG PHÁP LUẬT ĐẠI CƯƠNG
CHƯƠNG 1: LÝ LUẬN VỀ NHÀ NƯỚC
Câu 1 (4 điểm): Trình bày quan điểm của Chủ nghĩa Mác-Lênin về nguồn gốc của nhà nước?
- Định nghĩa: Nhà nước là tổ chức quyền lực đặc biệt của xã hội, bao gồm
một lớp người được tách ra từ xã hội để chuyên thực thi quyền lực, nhằm tổ
chức và quản lý xã hội, phục vụ lợi ích chung của toàn xã hội cũng như
lợi ích của lực lượng cầm quyền.
- Quan điểm của chủ nghĩa Mác- Lênin về nguồn gốc của nhà nước:
● Theo quan điểm của chủ nghĩa Mác – Lênin thì nhà nước nảy sinh từ
xã hội và là sản phẩm có điều kiện của xã hội loài người.
● Nhà nước không ra đời ngay từ khi xã hội loài người mới xuất hiện
mà chỉ ra đời khi xã hội đã phát triển đến giai đoạn nhất định. Đó
là giai đoạn có sự phân chia con người thành giai cấp, thành kẻ giàu,
người nghèo, thành người tự do, chủ nô và nô lệ, thành kẻ giàu có đi
bóc lột và kẻ nghèo khó bị bóc lột, tức là thành những lực lượng xã
hội có khả năng kinh tế và địa vị xã hội khác biệt nhau, mâu thuẫn
và đấu tranh với nhau; đồng thời có sự tích tụ của cải và tập trung
quyền lực vào tay một số ít người, một lực lượng xã hội nào đó.
● Trong lịch sử xã hội loài người đã có thời kỳ chưa có nhà nước, đó là
thời kỳ cộng sản nguyên thủy, song tất cả những nguyên nhân và
điều kiện dẫn đến sự ra đời của nhà nước lại nảy sinh trong thời kỳ này.
Câu 2 (4 điểm): Hình thức nhà nước được hình thành từ các yếu tố nào? Làm rõ các yếu tố đó
- Hình thức nhà nước là một trong những vấn đề cơ bản của lý luận chung về
nhà nước. Hình thức nhà nước là yếu tố quan trọng quyết định kết quả thống
trị chính trị của giai cấp thống trị.
- Hình thức nhà nước được hình thành từ 3 yếu tố: a) Hình thức chính thể
- Hình thức chính thể có hai dạng cơ bản là chính thể quân chủ và chính thể cộng hoà.
● Thứ nhất, chính thể quân chủ là hình thức nhà nước trong đó quyền lực tối
cao của nhà nước tập trung toàn bộ (hay một phần) vào trong tay người đứng
đầu nhà nước theo nguyên tắc thừa kế.
○ Với việc tập trung quyền lực tối cao của nhà nước một phần hay toàn
bộ vào trong tay người đứng đầu nhà nước theo nguyên tắc truyền
ngôi mà chính thể quân chủ có hai biến dạng: quân chủ tuyệt đối và quân chủ hạn chế.
○ Ở các quốc gia có hình thức nhà nước chính thể quân chủ tuyệt đối,
vua (hoàng đế) có quyền lực vô hạn, các quyền lập pháp, hành pháp
và tư pháp tối cao đều nằm trong tay người đứng đầu nhà nước. Hình
thức này chủ yếu tồn tại trong hai kiểu nhà nước đầu tiên là nhà nước
chủ nô và nhà nước phong kiến.
○ Ở nhà nước có chính thể quân chủ hạn chế, người đứng đầu nhà
nước hình thành bằng con đường truyền ngôi chỉ nắm một phần
quyền lực nhà nước tối cao, bên cạnh họ có các cơ quan nhà nước
hình thành bằng bầu cử chia sẻ quyền lực nhà nước với họ; ví dụ Nghị
viện trong các nhà nước tư sản có chính thể quân chủ nắm quyền lập
pháp, Chính phủ tư sản nắm quyền hành pháp và quyền tư pháp thuộc
về Tòa án tư sản, còn nữ hoàng hay quốc vương thông thường chỉ đại
diện cho truyền thống và tình đoàn kết dân tộc (như Anh, Nhật bản).
● Thứ hai, đối với chính thể cộng hòa là hình thức chính thể trong đó quyền
lực tối cao của nhà nước thuộc về những cơ quan đại diện được bầu ra trong
một thời hạn nhất định (như Quốc hội, Nghị viện). Chính thể cộng hoà cũng
có hai biến dạng là cộng hoà dân chủ và cộng hòa quý tộc.
○ Trong những quốc gia có chính thể cộng hòa dân chủ, quyền tham gia
bầu cử để thành lập các cơ quan đại diện được quy định dành cho mọi
công dân. Tuy nhiên, để có thể hiểu đúng bản chất của vấn đề cần phải
xem xét điều kiện cụ thể để tham gia bầu cử trong từng nhà nước,
chẳng hạn như trong nhà nước dân chủ chủ nô, chỉ có giai cấp chủ nô
với có quyền công dân, các tầng lớp nhân dân khác, đặc biệt là nô lệ
không được công nhận có quyền công dân trong xã hội (nhà nước
A-ten). Trong thực tế, giai cấp thống trị của các nhà nước bóc lột
thường đặt ra nhiều quy định để hạn chế quyền bầu cử của nhân dân lao động.
○ Trong các quốc gia có hình thức chính thể cộng hoà quý tộc, quyền
bầu cử hình thành các cơ quan đại diện chỉ dành cho giai cấp quý
tộc (nhà nước S-pác, nhà nước
b) Hình thức cấu trúc nhà nước
- Có hai hình thức cấu trúc nhà nước cơ bản là cấu trúc nhà nước đơn nhất
và cấu trúc nhà nước liên bang.
- Cấu trúc nhà nước đơn nhất là hình thức trong đó lãnh thổ của nhà nước là
toàn vẹn, thống nhất, nhà nước được chia thành các đơn vị hành chính –
lãnh thổ không có chủ quyền quốc gia, có hệ thống các cơ quan nhà nước
thống nhất từ trung ương xuống đến địa phương.Ví dụ: Trung Quốc, Việt
Nam, Campuchia, Lào, Pháp,… là những nhà nước đơn nhất.
- Cấu trúc nhà nước liên bang là những nhà nước có từ hai hay nhiều nước
thành viên hợp lại. Trong nhà nước liên bang không chỉ có liên bang có dấu
hiệu chủ quyền quốc gia mà trong từng bang thành viên đều có dấu hiệu chủ
quyền, ví dụ: Ấn Độ, Mỹ và Liên Xô trước đây,… Ở nhà nước liên bang có
hai hệ thống cơ quan quyền lực và hai hệ thống cơ quan quản lý: một hệ
thống chung cho toàn liên bang và một cho từng nhà nước thành viên. c) Chế độ chính trị
- Chế độ chính trị có quan hệ chặt chẽ với bản chất của nhà nước, với nội dung
hoạt động của nó và đời sống chính trị xã hội nói chung.
- Trong lịch sử xã hội có giai cấp và nhà nước, giai cấp thống trị sử dụng nhiều
biện pháp, phương pháp để thực hiện quyền lực nhà nước, nhìn chung có thể phân
các phương pháp, biện pháp này thành hai loại chính: phương pháp dân chủ và
phương pháp phản dân chủ, tương ứng với hai phương pháp này có chế độ chính
trị dân chủ và chế độ chính trị phản dân chủ.
● Trong chế độ chính trị dân chủ, giai cấp thống trị thường sử dụng chủ yếu
phương pháp giáo dục – thuyết phục. Tuy nhiên, phương pháp dân chủ có
nhiều dạng khác nhau, phụ thuộc vào bản chất của từng nhà nước cụ thể,
như: dân chủ hình thức, dân chủ thực sự, dân chủ giả hiệu, dân chủ rộng
rãi,… Ví dụ như chế độ dân chủ trong nhà nước tư sản là biểu hiện cao độ
của chế độ dân chủ hình thức, còn chế độ dân chủ xã hội chủ nghĩa là dân
chủ thực sự và rộng rãi.
● Trong chế độ chính trị phản dân chủ, giai cấp thống trị thường sử dụng các
hình thức, phương pháp mang nặng tính cưỡng chế, đỉnh cao của chế độ
này là chế độ độc tài, phát xít.
Câu 3 (4 điểm): Nêu bản chất, đặc trưng của Nhà nước Cộng hòa XHCN Việt Nam
- Về bản chất: Điều 2 Hiếu pháp 2013 khẳng định: “Nhà nước Cộng hòa xã
hội chủ nghĩa Việt Nam là nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của Nhân
dân, do Nhân dân, vì Nhân dân. Nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam
do Nhân dân làm chủ; tất cả quyền lực nhà nước thuộc về Nhân dân mà nền
tảng là liên minh giữa giai cấp công nhân với giai cấp nông dân và đội ngũ
trí thức. Quyền lực nhà nước là thống nhất, có sự phân công, phối hợp, kiểm
soát giữa các cơ quan nhà nước trong việc thực hiện các quyền lập pháp, hành pháp, tư pháp”.
- Bản chất của Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam theo Hiến
pháp 2013 là nhà nước của dân, do dân và vì dân. Cụ thể:
● Nhân dân là chủ thể tối cao của quyền lực nhà nước;
● Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là nhà nước của tất
cả các dân tộc trên lãnh thổ Việt Nam, là biểu hiện tập trung của
khối đại đoàn kết toàn dân tộc;
● Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam được tổ chức và hoạt
động trên cơ sở nguyên tắc bình đẳng trong mối quan hệ giữa nhà nước và công dân;
● Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là nhà nước dân chủ và pháp quyền. - Về đặc trưng:
● Tính giai cấp công nhân của Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam
○ Tính giai cấp công nhân của Nhà nước ta được quy định bởi
tính tiên phong và sự lãnh đạo của giai cấp này. Tính tiên
phong của giai cấp công nhân được thể hiện trong quá trình
đấu tranh cách mạng, ở sự trung thành với lý tưởng cách
mạng, ở khả năng nhận thức và tư tưởng đổi mới, phát triển.
○ Bản chất giai cấp của Nhà nước ta thể hiện bản chất của giai
cấp công nhân, là giai cấp tiên tiến nhất, cách mạng nhất,
phấn đấu vì lợi ích của nhân dân lao động và của toàn xã hội.
● Tính dân tộc của Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam
○ Nhà nước ta là nhà nước của tất cả các dân tộc sống trên đất
nước Việt Nam, là biểu hiện tập trung của khối đoàn kết dân
tộc. Các dân tộc anh em đều bình đẳng trước pháp luật. Mỗi
dân tộc đều có ngôn ngữ riêng, được Nhà nước tạo điều kiện,
hỗ trợ về mọi mặt để phát triển văn hóa, kinh tế, xã hội. Các
chính sách xã hội thể hiện tính dân chủ, nhân đạo của nhà
nước xã hội chủ nghĩa đang được triển khai thực hiện ở vùng
đồng bào các dân tộc. Ngày nay, tính dân tộc đó được phát huy
nhờ kết hợp với tính giai cấp, tính nhân dân và tính thời đại.
● Tính nhân dân của Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam
○ Quyền lực nhà nước thuộc về nhân dân: Nhân dân thiết lập
nên Nhà nước bằng quyền bầu cử Quốc hội và Hội đồng nhân
dân, sử dụng quyền lực nhà nước chủ yếu thông qua Quốc hội
và Hội đồng nhân dân các cấp. Ngoài ra, nhân dân còn thực
hiện quyền lực nhà nước bằng các hình thức giám sát, khiếu
nại, tố cáo, khiếu kiện các quyết định, hành vi của các cơ quan
nhà nước và các cá nhân có thẩm quyền làm thiệt hại đến quyền
lợi của họ; tham gia góp ý vào các dự án chính sách, pháp luật.
○ Tính nhân dân không phủ nhận các biện pháp cương quyết,
mạnh mẽ của Nhà nước nhằm chống lại các hành vi gây mất
ổn định chính trị, vi phạm pháp luật, xâm hại đến lợi ích của
Nhà nước, tập thể và công dân. Vì vậy, cùng với việc đổi mới,
tăng cường hiệu lực, hiệu quả quản lý của các cơ quan nhà
nước, Nhà nước cần tăng cường bộ máy cưỡng chế để đảm
bảo an ninh, an toàn cho xã hội và cho từng cá nhân con người.
● Tính thời đại của Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam
○ Nhà nước ta hiện nay đang thực hiện chính sách phát triển
kinh tế hàng hóa nhiều thành phần có sự quản lý của Nhà
nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa, đồng thời thực hiện
dân chủ hóa đời sống xã hội. Nhà nước ta thừa nhận nền kinh
tế thị trường theo định hướng xã hội chủ nghĩa là phương tiện
để đạt mục tiêu “dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng,
dân chủ, văn minh”. Bên cạnh việc chăm lo phát triển kinh tế,
Nhà nước Việt Nam còn quan tâm đến việc giải quyết các vấn
đề xã hội, chú trọng phát triển giáo dục, y tế, văn hóa…
○ Tính thời đại của Nhà nước ta còn được thể hiện sinh động
trong chính sách đối ngoại với phương châm: “Việt Nam
muốn làm bạn với tất cả các nước trên thế giới”. Nhà nước
Việt Nam thực hiện chính sách hòa bình, hữu nghị, hợp tác
trên cơ sở tôn trọng độc lập, chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ,
không can thiệp vào nội bộ của nhau.
Câu 4 (4 điểm): Bộ máy nhà nước là gì ? Kể tên hệ thống cơ quan nhà nước ở Việt Nam hiện nay
- Bộ máy nhà nước là tổng thể các cơ quan nhà nước từ trung ương tới địa
phương hợp thành hệ thống được tổ chức, hoạt động theo những nguyên tắc
thống nhất, tạo thành cơ chế đồng bộ nhằm thực hiện nhiệm vụ, chức năng của nhà nước.
- Bộ máy Nhà nước Việt Nam bao gồm 3 loại cơ quan: Cơ quan lập pháp,
Cơ quan hành pháp và cơ quan tư pháp.
● Quốc hội là cơ quan duy nhất thực hiện quyền lập hiến, lập pháp,
quyết định các vấn đề quan trọng của đất nước và giám sát tối cao đối
với hoạt động của Nhà nước (theo Điều 69 Hiến pháp 2013)
● Nhóm cơ quan hành pháp bao gồm các cơ quan hành chính Nhà
nước đứng đầu là Chính phủ. Sau đó là các Bộ, cơ quan ngang Bộ, cơ
quan trực thuộc Chính phủ và Ủy ban nhân dân cấp tỉnh, huyện, xã, các sở, phòng, ban…
● Cơ quan tư pháp bao gồm các cơ quan xét xử và các cơ quan kiểm sát.
Câu 5 (3 điểm): Vì sao nói Nhà nước là công cụ sắc bén nhất để suy trì sự thống trị giai cấp thống trị
- Theo quan điểm của Chủ nghĩa Mac-Lenin thì nhà nước thực chất là một tổ
chức đặc biệt của quyền lực chính trị, một bộ máy chuyên làm nhiệm vụ
cưỡng chế và thực hiện chức năng quản lý đặc biệt nhằm duy trì trật tự xã
hội, thực hiện mục đích bảo vệ địa vị của giai cấp thống trị trong xã hội. - Nguồn gốc:
● Học thuyết Mác - Lênin xem xét nguồn gốc ra đời của nhà nước gắn
liền với sự phát triển của kinh tế, xã hội.
● Trong xã hội cộng sản nguyên thủy:
○ Do công cụ lao động thô sơ, năng suất lao động thấp nên con
người không tạo ra được của cải dư thừa. Khi con người biết
chế tạo ra các công cụ lao động bằng đồng, bằng sắt, năng
suất lao động cao hơn, xuất hiện của cải dư thừa, sở hữu tư
nhân xuất hiện. => Có sự phân công lao động trong xã hội,
xuất hiện giai cấp và đấu tranh giai cấp, xuất hiện người bóc
lột và người bị bóc lột.
○ Các xung đột trong xã hội ngày càng gay gắt và quyết liệt
hơn. Tổ chức thị tộc, bộ lạc không còn phù hợp để quản lí xã
hội và xã hội cần có một tổ chức quyền lực đặc biệt đủ sức
mạnh để điều hòa các mối quan hệ trong xã hội => Nhà nước ra đời. - Nguyên nhân:
● Nguyên nhân kinh tế là sự xuất hiện chế độ tư hữu về tư liệu sản xuất.
● Nguyên nhân xã hội là sự ra đời các giai cấp đối kháng cũng như sự
mâu thuẫn giữa chúng phát triển đến mức không thể điều hoà được
một cách tự nhiên mà cần có một bộ máy đặc biệt có sức mạnh
cưỡng chế, bộ máy đó chính là Nhà nước. - Vai trò của nhà nước:
● Nhà nước và kinh tế:
○ Nhà nước được quy định bởi kinh tế, do điều kiện kinh tế
quyết định. Từ sự xuất hiện của nhà nước, bản chất, chức năng,
hình thức, bộ máy nhà nước đều phụ thuộc vào đòi hỏi khách quan của cơ sở kinh tế:
■ Nhà nước cùng các bộ phận khác của kinh tế tác động
tích cực đến sự phát triển kinh tế, thúc đẩy phát triển
nhanh thông qua các chính sách kinh tế có căn cứ khoa
học và phù hợp với quy luật tiến hóa của nhân loại
trong chừng mực nó phù hợp với lợi ích giai cấp thống trị.
■ Nhà nước cũng có thể đóng vai trò tiêu cực, cản trở sự
phát triển kinh tế. Thể hiện chính sách kinh tế lỗi thời,
không còn phù hợp với sự phát triển chung của thế giới,
kìm hãm sự phát triển của quan hệ sản xuất tiến bộ.
→ Trong một thời kỳ lịch sử nhất định, nhà nước đồng thời có tác động tích cực
hoặc tiêu cực đối với kinh tế phụ thuộc vào khả năng nhận thức và nắm bắt kịp
thời hoặc không kịp thời các phương diện khác nhau của quy luật vận động của
kinh tế cũng như phụ thuộc vào lợi ích của giai cấp thống trị.
● Nhà nước và tổ chức chính trị xã hội: Trong các tổ chức chính trị xã
hội, nhà nước là trung tâm vì:
○ Nhà nước là tổ chức quyền lực chính trị công cộng đặc biệt, là
tổ chức mà quyền lực của nó bắt buộc đối với mọi người trong
quốc gia thông qua pháp luật.
○ Nhà nước là công cụ sắc bén nhất của quyền lực chính trị, là tổ
chức có sức mạnh cưỡng chế đủ sức thực hiện những nhiệm
vụ mà không một tổ chức chính trị nào làm nổi vì nhà nước có
bộ máy chuyên cưỡng chế như: Tòa án, quân đội, cảnh sát, nhà
tù… nắm trong tay nguồn tài nguyên, có quyền đặt ra và thu thuế…
○ Nhà nước là tổ chức chính trị độc lập có chủ quyền, thực hiện
quyển đối nội, đối ngoại độc lập không phụ thuộc vào bất kỳ quốc gia nào
→Nhà nước thực sự là trung tâm của đời sống chính trị của hệ
thống chính trị xã hội, là bộ phận không thể thay thế được của
bộ máy chuyên chính giai cấp, là tổ chức thực hiện chức năng
quản lý xã hội hiệu quả nhất. Nhà nước và tổ chức xã hội có
quan hệ chặt chẽ theo nguyên tắc hỗ trợ, giúp đỡ lẫn nhau.
○ Trong các tổ chức chính trị, Đảng chính trị có vai trò đặc biệt,
là lực lượng có vai trò lãnh đạo, định hướng sự phát triển xã
hội. Các đảng chính trị là tổ chức của các giai cấp, thể hiện lợi
ích giai cấp và gồm những đại biểu tích cực nhất đấu tranh cho
lợi ích giai cấp mình. Cầm quyền vạch ra chính sách lớn định
hướng cho hoạt động của nhà nước, kiểm tra hoạt động Đảng
viên trong việc thực hiện chính sách Đảng, các đảng viên giữ
chức vụ lãnh đạo trong bộ máy nhà nước.
● Nhà nước và chính trị: Chính trị với tư cách hiện tượng phổ biến xác
định quan hệ giai cấp, tương quan lực lượng giai cấp, là sự biểu hiện
tập trung của kinh tế trong xã hội có giai cấp. Trong xã hội, nó là sợi
dây liên kết giữa nhà nước với cơ sở hạ tầng kinh tế với các bộ
phận khác trong kiến trúc thượng tầng. Các tổ chức chính trị đểu
thông qua chính trị để tác động lẫn nhau, đồng thời tác động đến các
bộ phận khác của kiến trúc thượng tầng cũng như tác động đến cơ sở kinh tế của xã hội.
● Nhà nước đối với PL: Pháp luật là công cụ để nhà nước duy trì sự
thống trị, thực hiện chức năng, nhiệm vụ. Quyền lực của nhà nước
dựa trên cơ sở pháp luật, được thực hiện thông qua pháp luật và bị
hạn chế bởi pháp luật.
- Nói Nhà nước là công cụ sắc bén để duy trì sự thống trị của giai cấp vì:
● Thông qua nhà nước giai cấp thống trị tổ chức và thực hiện quyền
lực chính trị của mình. Hợp pháp hóa ý chí của giai cấp mình thành ý
chí của nhà nước, buộc các giai cấp khác phải tuân theo trật tự phù
hợp với lợi ích của giai cấp thống trị. => Nắm quyền lực kinh tế và chính trị.
● Nhà nước mang bản chất giai cấp sâu sắc vì nó củng cố và bảo vệ lợi
ích của giai cấp thống trị. Nhà nước xã hội chủ nghĩa là bộ máy
củng cố địa vị thống trị và bảo vệ lợi ích của giai cấp công nhân và
nhân dân lao động, đảm bảo sự thống trị của đa số đối với thiểu số.
● Nhà nước còn là tổ chức quyền lực công, là phương thức tổ chức
đảm bảo lợi ích chung của xã hội.
● Nhà nước giải quyết mọi vấn đề nảy sinh trong xã hội, đảm bảo các
giá trị xã hội đã đạt được, bảo đảm xã hội trật tự, ổn định và phát
triển, thực hiện chức năng này hoặc chức năng khác phù hợp yêu cầu
của xã hội, cũng đảm bảo lợi ích nhất định của các giai cấp trong
chừng mực lợi ích đó không đối lập gay gắt với lợi ích giai cấp thống trị.
Câu 6 (3 điểm): Nhà nước là công cụ sắc bén nhất duy trì sự thống trị giai cấpm đúng hay sai? Tại sao?
Nói Nhà nước là công cụ sắc bén nhất duy trì sự thống trị giai cấp là đúng. Bởi vì:
- Bản chất của nhà nước: Các nhà kinh điển chủ nghĩa Mác khẳng định: nhà
nước, xét về bản chất, trước hết là một bộ máy trấn áp đặc biệt của giai cấp
này đối với giai cấp khác, là bộ máy duy trì sự thống trị giai cấp.
- Thông qua nhà nước giai cấp thống trị tổ chức và thực hiện quyền lực
chính trị của mình. Hợp pháp hóa ý chí của giai cấp mình thành ý chí của
nhà nước, buộc các giai cấp khác phải tuân theo trật tự phù hợp với lợi ích
của giai cấp thống trị. => Nắm quyền lực kinh tế và chính trị.
- Nhà nước mang bản chất giai cấp sâu sắc vì nó củng cố và bảo vệ lợi ích
của giai cấp thống trị. Nhà nước xã hội chủ nghĩa là bộ máy củng cố địa vị
thống trị và bảo vệ lợi ích của giai cấp công nhân và nhân dân lao động,
đảm bảo sự thống trị của đa số đối với thiểu số.
- Nhà nước còn là tổ chức quyền lực công, là phương thức tổ chức đảm
bảo lợi ích chung của xã hội.
- Nhà nước giải quyết mọi vấn đề nảy sinh trong xã hội, đảm bảo các giá trị
xã hội đã đạt được, bảo đảm xã hội trật tự, ổn định và phát triển, thực hiện
chức năng này hoặc chức năng khác phù hợp yêu cầu của xã hội, cũng đảm
bảo lợi ích nhất định của các giai cấp trong chừng mực lợi ích đó không
đối lập gay gắt với lợi ích giai cấp thống trị.
- Trong một thời kỳ lịch sử nhất định, nhà nước đồng thời có tác động tích
cực hoặc tiêu cực đối với kinh tế phụ thuộc vào khả năng nhận thức và
nắm bắt kịp thời hoặc không kịp thời các phương diện khác nhau của quy
luật vận động của kinh tế cũng như phụ thuộc vào lợi ích của giai cấp thống trị.
- Nhà nước thực sự là trung tâm của đời sống chính trị của hệ thống chính
trị xã hội, là bộ phận không thể thay thế được của bộ máy chuyên chính
giai cấp, là tổ chức thực hiện chức năng quản lý xã hội hiệu quả nhất. Nhà
nước và tổ chức xã hội có quan hệ chặt chẽ theo nguyên tắc hỗ trợ, giúp đỡ lẫn nhau.
- Trong xã hội, chính trị là sợi dây liên kết giữa nhà nước với cơ sở hạ tầng
kinh tế với các bộ phận khác trong kiến trúc thượng tầng. Các tổ chức
chính trị đều thông qua chính trị để tác động lẫn nhau, đồng thời tác động
đến các bộ phận khác của kiến trúc thượng tầng cũng như tác động đến cơ
sở kinh tế của xã hội.
- Pháp luật mà nhà nước ban hành là công cụ để nhà nước duy trì sự thống
trị, thực hiện chức năng, nhiệm vụ. Quyền lực của nhà nước dựa trên cơ sở
pháp luật, được thực hiện thông qua pháp luật và bị hạn chế bởi pháp luật.
Câu 7 (3 điểm): Phù hợp với mỗi kiểu quan hệ sản xuất có giai cấp là một kiểu
nhà nước ? Đúng hay sai ?
Mỗi kiểu quan hệ sản xuất có giai cấp là một kiểu nhà nước là nhận định đúng:
- Trong nhà nước chủ nô và nhà nước tư sản, tồn tại quan hệ sản xuất sở hữu
tư về tư liệu sản xuất
- Trong nhà nước phong kiến, tồn tại quan hệ sản xuất chế độ sở hữu của địa
chủ phong kiến với tư liệu sản xuất và nô lệ.
- Trong nhà nước vô sản, tồn tại quan hệ sản xuất sở hữu công về tư liệu sản xuất
→ Như vậy, ta có thể thấy rõ rằng trong lịch sử nhân loại tồn tại 4 kiểu nhà nước
khác nhau và mỗi kiểu nhà nước tương ứng với quan hệ sản xuất khác nhau thể
hiện rõ bản chất và chức năng riêng của từng kiểu nhà nước. Đều là nhà nước
bóc lột được xây dựng trên nền tảng của chế độ tư hữu về tư liệu sản xuất, là
công cụ để duy trì và bảo vệ sự thống trị của giai cấp bóc lột đối với đông đảo
nhân dân lao động trong xã hội. Nhà nước xã hội chủ nghĩa là kiểu nhà nước
mới, tiến bộ vì đặc điểm đông đảo nhân dân lao động trong xã hội tiến tới xây
dựng một xã hội công bằng, văn minh.
Câu 8(4 điểm): Nêu các nguyên tắc cơ bản trong tổ chức và hoạt động của bộ
máy nhà nước Cộng hòa XHCN Việt Nam. Liên hệ thực tiễn
- Thứ nhất, nguyên tắc Đảng cộng sản Việt Nam lãnh đạo Nhà nước và xã hội.
● Khoản 1 Điều 4 Hiến pháp 2013 khẳng định:
○ 1. Đảng Cộng sản Việt Nam – Đội tiên phong của giai cấp
công nhân, đồng thời là đội tiên phong của nhân dân lao động
và của dân tộc Việt Nam, đại biểu trung thành lợi ích của giai
cấp công nhân, nhân dân lao động và của cả dân tộc, lấy chủ
nghĩa Mác – Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh làm nền tảng
tư tưởng, là lực lượng lãnh đạo Nhà nước và xã hội.
○ 2. Đảng Cộng sản Việt Nam gắn bó mật thiết với Nhân dân,
phục vụ Nhân dân, chịu sự giám sát của Nhân dân, chịu trách
nhiệm trước Nhân dân về những quyết định của mình.
○ 3. Các tổ chức của Đảng và đảng viên Đảng Cộng sản Việt Nam
hoạt động trong khuôn khổ Hiến pháp và pháp luật.”.
→ Đây chính là cơ sở pháp lý quan trọng để ban hành văn bản pháp luật quy
định trách nhiệm của Đảng Cộng sản Việt Nam trong việc gắn bó mật thiết với
nhân dân, phục vụ nhân dân. Đồng thời tạo cơ chế để nhân dân giám sát hoạt động
của Đảng về những quyết định của Đảng. Và chính vì vậy mà nhân dân ta ngày
càng tin tưởng vào vai trò, vị trí của Đảng trong đời sống của dân tộc.
→ Sự lãnh đạo của Đảng đối với Nhà nước là một tất yếu khách quan, là sự bảo
đảm cho Nhà nước ta thực sự là Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, Nhà
nước của Nhân dân, do Nhân dân, vì Nhân dân.
- Thứ hai, nguyên tắc tất cả quyền lực Nhà nước thuộc về Nhân dân.
● Điều 2 Hiến pháp 2013 quy định: “Nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa
Việt Nam do Nhân dân làm chủ; tất cả quyền lực Nhà nước thuộc
về Nhân dân mà nền tảng là liên minh giữa giai cấp công nhân với
giai cấp nông dân và đội ngũ trí thức”.
● Nhân dân sử dụng quyền lực Nhà nước thông qua Quốc hội và Hội
đồng nhân dân. Quốc hội và Hội đồng nhân dân bao gồm các đại
biểu của Nhân dân do Nhân dân bầu ra, đại diện cho ý chí, nguyện
vọng của Nhân dân, thay mặt Nhân dân thực hiện quyền lực Nhà
nước, quyết định những vấn đề quan trọng nhất của đất nước và ở địa phương.
● Ngoài ra Nhân dân còn trực tiếp thực hiện quyền lực Nhà nước bằng nhiều cách khác nhau như:
○ Nhân dân trực tiếp tham gia vào công việc quản lý Nhà nước.
○ Tham gia thảo luận Hiến pháp và luật; trực tiếp bầu ra các
đại biểu Quốc hội và Hội đồng nhân dân, giám sát hoạt động
của các đại biểu Quốc hội và Hội đồng nhân dân, bãi nhiệm
các đại biểu này khi họ không còn xứng đáng với sự tín nhiệm của Nhân dân;
○ Bỏ phiếu trưng cầu ý dân về những vấn đề quan trọng thuộc
nhiệm vụ quyền hạn của Nhà nước.
- Thứ ba, nguyên tắc bình đẳng, đoàn kết và giúp đỡ giữa các dân tộc.
● Điều 5 Hiến pháp 2013 quy định:
○ 1. Nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là quốc gia
thống nhất của các dân tộc cùng sinh sống trên đất nước Việt Nam
○ 2. Các dân tộc bình đẳng, đoàn kết, tôn trọng và giúp nhau
cùng phát triển; nghiêm cấm mọi hành vi kỳ thị, chia rẽ dân tộc.
● Nhà nước thực hiện chính sách bình đẳng, đoàn kết, tương trợ giữa
các dân tộc, nghiêm cấm mọi hành vi kỳ thị, chia rẽ dân tộc. Các dân
tộc có quyền dùng tiếng nói chữ viết, giữ gìn bản sắc dân tộc và phát
huy những phong tục, tập quán, truyền thống và văn hóa tốt đẹp
của mình. Nhà nước thực hiện chính sách phát triển về mọi mọi mặt,
từng bước nâng cao đời sống vật chất và tinh thần của đồng bào dân tộc thiểu số”.
● Thực hiện nguyên tắc này trong tổ chức và hoạt động của bộ máy
Nhà nước đòi hỏi, tất cả các dân tộc phải có đại diện của mình trong
các cơ quan Nhà nước đặc biệt trong Quốc hội và Hội đồng nhân
dân các cấp. Các cơ quan Nhà nước phải xuất phát từ lợi ích của
Nhân dân, của các dân tộc, bảo đảm sự bình đẳng về quyền và
nghĩa vụ giữa các dân tộc. Nhà nước có chính sách ưu tiên giúp đỡ
để các dân tộc ít người mau đuổi kịp trình độ phát triển chung của toàn xã hội.
● Bên cạnh đó, Nhà nước nghiêm trị những hành vi miệt thị gây chia
rẽ, hằn thù giữa các dân tộc cũng như bất cứ hành vi nào lợi dụng
chính sách dân tộc để phá hoại an ninh chính trị, trật tự an toàn xã
hội và chính sách đại đoàn kết dân tộc của Đảng, Nhà nước ta.
- Thứ tư, nguyên tắc tập trung dân chủ.
● Điều 6 Hiến pháp 2013 quy định Nhân “
dân thực hiện quyền lực Nhà
nước bằng dân chủ trực tiếp, bằng dân chủ đại diện thông qua
Quốc hội, Hội đồng nhân dân và thông qua các cơ quan khác của Nhà nước.”
● Khoản 1 Điều 8 cũng có quy định: “Nhà nước được tổ chức và hoạt
động theo Hiến pháp và pháp luật, quản lý xã hội bằng Hiến pháp và
pháp luật, thực hiện nguyên tắc tập trung dân chủ.”
○ Bản chất của nguyên tắc này thể hiện sự thống nhất biện
chứng giữa chế độ tập trung lợi ích của Nhà nước, sự trực
thuộc, phục tùng của các cơ quan Nhà nước cấp dưới trước
các cơ quan Nhà nước cấp trên và chế độ dân chủ, tạo điều
kiện cho việc phát triển sự sáng tạo, chủ động và quyền tự
quản của các cơ quan Nhà nước cấp dưới.
○ Tập trung và dân chủ là hai mặt của một thể thống nhất kết
hợp hài hòa với nhau. Nếu chỉ chú trọng sự tập trung thì dễ
dẫn đến chuyên quyền, độc đoán, mất dân chủ, nhưng nếu chỉ
chú trọng phát triển dân chủ mà không bảo đảm sự tập trung
thì dễ dẫn đến tình trạng vô chính phủ, cục bộ địa phương. Để
bảo đảm thực hiện tốt nguyên tắc này đòi hỏi trong tổ chức và
hoạt động của bộ máy Nhà nước phải đáp ứng các yêu cầu sau đây:
■ Thứ nhất, bộ máy Nhà nước phải do Nhân dân xây
dựng nên. Nhân dân thông qua bầu cử để lựa chọn
những đại biểu xứng đáng, thay mặt Nhân dân thực hiện
quyền lực Nhà nước, chịu trách nhiệm trước Nhân dân
và phục vụ lợi ích của Nhân dân.
■ Thứ hai, quyết định của cấp trên, của trung ương buộc
cấp dưới, địa phương phải thực hiện. Tuy nhiên, trong
quá trình thực hiện, cấp dưới, địa phương có quyền phản
ánh những kiến nghị của mình đối với cấp trên, trung
ương, có quyền sáng kiến trong quá trình thực hiện cho
phù hợp với tình hình, đặc điểm của đơn vị, địa phương.
■ Thứ ba, những vấn đề quan trọng của cơ quan Nhà
nước phải được đưa ra thảo luận tập thể và quyết định theo . đa số
- Thứ năm, nguyên tắc pháp chế xã hội chủ nghĩa.
● Điều 8 Hiến pháp 2013 quy định “Nhà nước được tổ chức và hoạt động
theo Hiến pháp và pháp luật, quản lý xã hội bằng Hiến pháp và pháp luật,
thực hiện nguyên tắc tập trung dân chủ.”.
● Nguyên tắc này đòi hỏi:
○ Thứ nhất, Nhà nước phải xây dựng một hệ thống pháp luật hoàn
thiện. Đây là cơ sở pháp lý hết sức cần thiết để thực hiện nguyên tắc
pháp chế xã hội chủ nghĩa trong tổ chức và hoạt động của bộ máy Nhà nước.
○ Thứ hai, việc tổ chức và hoạt động của các cơ quan Nhà nước phải
được tiến hành theo đúng pháp luật. Tất cả các cơ quan Nhà nước,
cán bộ, công chức phải tuân thủ Hiến pháp và pháp luật một cách nghiêm túc.
○ Thứ ba, tăng cường công tác kiểm tra, giám sát việc thực hiện Hiến
pháp và pháp luật, xử lý nghiêm minh những hành vi vi phạm pháp
luật. Bất cứ mọi hành vi vi phạm pháp luật của bất cứ cá nhân nhân, tổ
chức nào cũng phải được xử lý nghiêm minh theo đúng quy định của pháp luật.
○ Thứ tư, các cơ quan Nhà nước có trách nhiệm tuyên truyền, giáo dục
pháp luật để nâng cao ý thức pháp luật của mọi công dân để mọi
công dân hiểu biết pháp luật, tôn trọng pháp luật nghiêm chỉnh
chấp hành pháp luật và tích cực đấu tranh với mọi hành vi vi phạm pháp luật.
Câu 9 (3 điểm): Phân tích khái niệm nhà nước. Phân biệt nhà nước với các tổ
chức tồn tại song song với nhà nước bằng những tiêu chí nào? -
Phân tích khái niệm nhà nước : Nhà nước là tổ chức đặc biệt của quyền
lực chính trị; có bộ máy chuyên làm nhiệm vụ cưỡng chế và thực hiện các
chức năng quản lý nhằm duy trì,bảo vệ trật tự xã h i
ộ ,bảo vệ địa vị của giai
cấp thống trị trong xã hội có giai c p ấ .
- Phân biệt nhà nước với các tổ chức xã hội khác t n ồ tại song song với nhà
nước: Tổ chức xã hội khác là các tổ chức tự nguyện của những người có
cùng mục đích, chính kiến, nghề nghiệp, độ tu i
ổ , … được thành lập và
hoạt động nhằm đại diện và bảo vệ lợi ích của các hội viên, hội cựu chiến
binh,hội liên hiệp phụ nữ, hội chữ thập đỏ, hội nông dân, ủy ban mặt trận Tổ qu c ố ,tỉnh đoàn,... Tiêu chí so sánh Nhà nước Tổ chức xã hội khác Về quyền lực
- Nhà nước là tổ chức quyền lực đặc - Các tổ chức xã hội khác cũng có biệt của xã h i ộ
quyền lực chung song quyền lực
Nhà nước là tổ chức quyền lực chung đó chỉ có tác động tới các hội
của toàn xã hội, quyền lực của nhà viên trong tổ chức đó và không
nước có tác động bao trùm lên toàn một tổ chức nào có bộ máy riêng xã hội, tới m i
ọ tổ chức, cá nhân, m i ọ
để chuyên thực thi quyền lực như
khu vực lãnh thổ quốc gia và các lĩnh nhà nước. Cơ sở xã hội và phạm
vực cơ bản của đời sống: kinh tế, chính vi tác động c a ủ các tổ chức xã hội
trị, văn hóa, giáo dục... Mọi cá nhân và khác đều hẹp hơn nhà nước, chỉ
tổ chức đang sống và hoạt đ ng ộ
trong tới một bộ phận của dân cư.
phạm vi lãnh thổ quốc gia đều phải
phục tùng quyền lực và ý chí của nhà
nước. Do đó, nhà nước là tổ chức có cơ
sở xã hội và phạm vi tác động r n ộ g lớn nhất trong quốc gia.
Nhà nước có một lớp người tách ra
khỏi lao động sản xuất để chuyên thực
thi quyền lực nhà nước, họ tham gia
vào bộ máy nhà nước để làm hình
thành nên một hệ thống các cơ quan
nhà nước từ trung ương tới địa
phương, trong đó có các cơ quan b o ạ
lực, cưỡng chế như quân đội, c n ả h
sát, tòa án... Nhờ có quyền lực và bộ
máy chuyên thực thi quyền lực đó mà
nhà nước có thể điều hành và quản lý
xã hội, thiết lập và giữ gìn trật tự xã
hội, phục vụ và bảo vệ lợi ích chung
của toàn xã hội cũng như lợi ích của lực lượng cầm quyền. Về quản lý
dân - Nhà nước thực hiện việc quản lý dân
- Các tổ chức xã hội khác thường cư/thành viên cư theo lãnh thổ
tập hợp và quản lý dân cư theo
mục đích, chính kiến, lý tưởng,
Nhà nước luôn lấy việc quản lý dân cư
nghề nghiệp, độ tuổi hoặc giới
theo lãnh thổ làm điểm xuất phát. tính...
Người dân không phân biệt huyết
thống, dân tộc, giới tính... cứ sống trên
một khu vực lãnh thổ nhất định thì
chịu sự quản lý của một nhà nước
nhất định và do vậy, họ thực hiện
quyền và nghĩa vụ đối với nhà nước ở
nơi mà họ cư trú. Nhà nước thực hiện
việc quản lý dân cư trong phạm vi lãnh
thổ quốc gia của mình cũng theo địa
bàn cư trú của họ hay theo các đơn vị
hành chính - lãnh thổ. Nó phân chia
lãnh thổ thành các đơn vị hành chính
và quản lý dân cư theo các đơn vị đó. Về tham gia đ i
ố - Nhà nước nắm giữ và thực thi chủ - Các tổ chức xã hội khác chỉ nội, đối ngo i ạ quyền quốc gia
được thành lập, tồn tại và hoạt
động một cách hợp pháp khi
Chủ quyền quốc gia là khái niệm chỉ
được nhà nước cho phép hoặc
quyền quyết định tối cao của quốc gia
công nhận, đồng thời chỉ có thể
trong quan hệ đối nội và quyền độc l p ậ
nhân danh chính tổ chức đó khi
tự quyết trong quan hệ đối ngoại. Nhà
tham gia vào các quan hệ đối n i ộ ,
nước là đại diện chính thức cho toàn
đối ngoại và chỉ được tham gia
quốc gia, dân tộc trong các quan hệ đ i ố
vào quan hệ đối ngoại nào mà
nội và đối ngoại. Trong quan hệ đ i ố nhà nước cho phép. n i
ộ , quy định của nhà nước có giá trị
bắt buộc phải tôn trọng hoặc với các tổ
chức thực hiện đối và cá nhân có liên
quan; nhà nước có thể cho phép các tổ
chức xã hội khác được thành lập và
hoạt động hoặc nhà nước công nhận
sự tồn tại và hoạt động hợp pháp c a ủ
các tổ chức xã hội khác. Trong quan hệ đối ngo i
ạ , nhà nước có toàn quyền
xác định và thực hiện các đường lối, chính sách đ i ố ngoại của mình.
Về ban hành văn - Nhà nước ban hành pháp luật và
- Các tổ chức xã hội khác chỉ có bản pháp lý
dùng pháp luật làm công cụ quản lý xã quyền ban hành các quy định h i ộ
dưới dạng điều lệ, chỉ thị, nghị
quyết có giá trị bắt buộc phải tôn
Pháp luật là hệ thống các quy tắc ử x
trọng và thực hiện với các h i ộ
sự chung có giá trị bắt buộc phải tôn
viên trong tổ chức; đồng thời bảo
trọng hoặc thực hiện đối với các tổ
đảm cho các quy định đó được
chức và cá nhân có liên quan trong thực hiện bằng sự tự giác của các
phạm vi lãnh thổ quốc gia. Nhà nước hội viên và bằng các hình thức kỷ
bảo đảm cho pháp luật được thực luật của tổ chức.
hiện bằng nhiều biện pháp: tuyên
truyền, phổ biến, giáo dục, thuyết
phục, tổ chức thực hiện, động viên, khen thưởng, áp d ng ụ các biện pháp
cưỡng chế nhà nước. Nhà nước sử
dụng pháp luật đến quản lý xã hội,
điều chỉnh các quan hệ xã hội theo
mục đích của nhà nước và pháp luật là
một trong những công cụ quản lý có
hiệu quả nhất của nhà nước. Về thu thuế, phí
- Nhà nước quy định và thực hiện - Các tổ chức xã hội khác hoạt việc thu thuế
động trên cơ sở nguồn kinh phí
Thuế là khoản tiền hay hiện vật mà do các h i ộ viên đóng
người dân buộc phải nộp cho nhà nước theo quy định c a ủ pháp luật. Nhà nước
là một bộ máy được tách ra khỏi lao
động sản xuất trực tiếp để chuyên thực
hiện chức năng quản lý xã hội nên nó
phải được nuôi dưỡng từ nguồn c a ủ
cải do dân cư đóng góp, không có thuế
bộ máy nhà nước không thể tồn t i ạ
được và thuế luôn là quốc sách c a ủ
mọi nhà nước. Thuế còn là nguồn của
cải quan trọng phục vụ cho việc phát
triển các mặt của đời sống. Ngoài thuế,
nhà nước còn có quyền phát hành
tiền, công trái, vì thế, nhà ướ n c có lực
lượng vật chất to lớn, không chỉ có
thể trang trải cho các hoạt động c a ủ nó, những hoạt đ ng ộ cơ bản của xã hội,