CÂU HỎI ÔN THI
MÔN PHÁP LUẬT ĐẠI CƯƠNG
1. Trình bày quan điểm của Chủ nghĩa Mác-Lênin về nguồn gốc của nhà nước.`
Khái niệm NN: NN một tổ chức đặc biệt của quyền lực chính trị, có một bộ máy chuyên làm
nhiệm vụ cưỡng chế thực hiện các chức năng quản đặc biệt nhằm thực hiện những mục
đích và bảo vệ lợi ích của giai cấp thống trị trong xã hội có giai cấp đổi kháng.
*Nguồn gốc:
- Các nhà kinh điển chủ nghĩa Mác-Lênin đã chỉ ra rằng: nhà nước không phải là hiện tượng vĩnh
cửu, bất biến, một phạm trù lịch sử quá trình phát sinh, phát triển tiêu vong. Theo
học thuyết Mác-Lênin, nhà nước là sản phẩm của những biến đổi trực tiếp ngay trong lòng xã hội
công nguyên thủy. Công nguyên thủy hình thái kinh tế hội đầu tiên trong lịch sử xã
hội loài người, một xã hội không biết đến giai cấp, nhà nước và pháp luật.
Chế độ cộng sản nguyên thủy và tổ chức thị tộc, bộ lạc.
- Cơ sở kinh tế:
+ Chế độ sở hữu chung về tư liệu sản xuất và sản phẩm lao động.
+ Phân phối sản phẩm theo nguyên tắc bình quân.
+ Phân công lao động mang tính tự nhiên theo giới tính và độ tuổi.
- Cơ sở xã hội:
+ Tổ chức xã hội giản đơn; Thị tộc là tế bào cấu thành của xã hội
+ Thị tộc được tổ chức theo huyết thống, là đơn vị kinh tế vừa sản xuất vừa tiêu dùng, tất cả mọi
người đều tự do, bình đẳng, không ai có đặc quyền, đặc lợi
+ Thị tộc trở thành hình thức tự quản đầu tiên, mức độ thấp, tổ chức đơn giản, tập hợp nhiều
thị tộc gần gũi nhau về huyết tộc và địa bàn cư trú trở thành bạo tộc. Nhiều bạo tộc kết hợp thành
bộ lạc, đơn vị lớn nhất của xã hội là liên minh các bộ lạc.
+ Đã xuất hiện nhu cầu quản lý, điều hành các hoạt động xã hội.
+ Muốn quản điều hành hội phải cố quyền lực, tức khả năng bắt các tổ chức
nhân trong hội phải phục tùng ý chí của một chủ thể nhất định. Tồn tại hệ thống quản lý các
công việc của thị tộc.
+ Đã quyền lực với hiệu lực từ tế cao: đó là quyền lực xã hội được tổ chức thực hiện dựa trên
sở của những nguyên tắc dân chủ thực sự, xuất phát từ hội và phục vụ lợi ích cho toàn bộ
cộng đồng, không có bộ máy riêng để thực hiện cưỡng chế
+ Sự tan của tổ chức thị tộc sự xuất hiện nhà nước: theo quan điểm chủ nghĩa Mác-Lênin
nguyên nhân trực tiếp làm xuất hiện nhà nước, đó là sự phân hóa xã hội thành giai cấp với những
quyền lợi đối kháng: nhà nước là sản phẩm và biểu hiện của những mâu thuẫn giai cấp không thể
điều hòa được
Sự tan rã của chế độ cộng sản nguyên thủy, thị tộc và sự xuất hiện của nhà nước:
- Cơ sở kinh tế
+ Lực lượng sản xuất phát triển, con người nâng cao thể lực, trí lực kinh nghiệm lao động;
công cụ lao động cải tiến bằng việc con người phát hiện ra kim loại.
+ Phân công lao động hội: thời kỳ cuối của chế độ cộng sản nguyên thủy đã lần lượt xảy ra
ba lần phân công lao động xã hội lớn:
Lần một: chăn nuôi tách khỏi trồng trọt.
Lần hai: Thủ công nghiệp tách khỏi nông nghiệp.
Lần ba: buôn bán phát triển và thương nghiệp xuất hiện
1
năng suất lao động tăng, sản phẩm làm ra ngày càng nhiều do đó, đã phát sinh khả năng
chiếm đoạt sản phẩm dư thừa làm của riêng. Tư hữu xuất hiện.
- Cơ sở xã hội
+ Hoạt động sản xuất phát triển
+ Không đòi hỏi phải lao động tập thể
+ Gia đình hình thành trở thành đơn vị sản xuất độc lập.
+ Phân hóa giàu nghèo rõ, thành hai bộ phận đối lập: số ít người giàu có, chiếm giữ nhiều tư
liệu sản xuất → giai cấp bóc lột. Đại đa số nghèo khó → giai cấp bị bóc lột
+ Giai cấp xuất hiện và mâu thuẫn giai cấp không thể điều hòa được → nhà nước ra đời
2.Trình bày khái niệm nhà nước và phân tích bản chất của nhà nước.`
*Phân tích bản chất:
Bản chất NN tất cả các phương diện bản quy định sự tồn tại phát triển của NN. Nhà
nước là thể thống nhất về tính xã hội và tính giai cấp
* Tính giai cấp của nhà nước:
NN bộ máy do giai cấp thống trị lập ra, nhiệm vụ bảo vệ cho lợi ích của giai cấp thống trị.
Sự thống trị của giai cấp này đối với giai cấp khác thể hiện dưới ba hình thức: quyền lực kinh tế,
quyền lực chính trị và quyền lực tư tưởng.
+ Quyền lực kinh tế: giữ vai trò quyết định, sở bảo đảm sự thống trị giai cấp. Quyền lực
kinh tế thuộc về giai cấp nắm trong tay liệu sản xuất trong hội, với liệu sản xuất trong
tay, chủ sở hữu thể bắt người bị bóc lột phải phụ thuộc về mặt kinh tế. Nhờ có NN, giai cấp
nắm trong tay tư liệu sản xuất trở thành giai cấp thống trị về kinh tế.
+ Quyền lực chính trị: bạo lực tổ chức của một giai cấp để trấn áp giai cấp khác. NN là
một bộ máy bạo lực do giai cấp thống trị tổ chức ra để trấn áp các giai cấp đối kháng. Với ý
nghĩa đó, NN một tổ chức đặc biệt của quyền lực chính trị. Giai cấp thống trị sử dụng NN là
công cụ để thực hiện quyền lực chính trị. Ý chí của giai cấp thống trị thông qua NN trở thành ý
chí của NN, ý chí của NN sức mạnh buộc các giai cấp khác phải tuân theo một “trật tự” do
giai cấp thống trị đặc ra, phải phục vụ lợi ích của giai cấp thống trị.
+ Quyền lực về tư tưởng:
Giai cấp thống trị đã thông qua NN để xây dựng hệ tư tưởng của giai cấp mình thành hệ tư tưởng
thống trị trong xã hội, bắt các giai cấp khác phải lệ thuộc mình về mặt tư tưởng.
* Tính xã hội của NN:
Song nhà nước không chỉ có tính giai cấp mà còn có vai trò xã hội bởi lẽ NN được sinh ra không
chỉ do nhu cầu thống trị giai cấp mà còn do nhu cầu tổ chức và quản lý xã hội. Một NN sẽ không
thể tồn tại nếu chỉ phục vụ lợi ích của giai cấp thống trị mà không tính đến lợi ích, nguyện vọng
ý chí của các giai tầng khác trong xã hội. Bên cạnh đó, NN phải đảm bảo các giá trị xã hội đã
đạt được, bảo đảm hội trật tự, ổn định phát triển, thực hiện chức năng này hay chức năng
khác phù hợp với yêu cầu của xã hội
3.Trình bày khái niệm nhà nước và phân tích các đặc điểm cơ bản của nhà nước.`
*Phân tích đặc điểm cơ bản:
- Nhà nước thiết lập một quyền lực công đặc biệt. Quyền lực nhà nước chi phối quyền lực của
các tổ chức khác chỉ tác động trong phạm vi nội bộ của tổ chức mình phải chịu sự chi phối
của quyền lực nhà nước. Để thực hiện quyền lực của mình, nhà nước có một lớp người đặc biệt
2
được tổ chức thành các quan nhà nước chuyên làm nhiệm vụ quản thực hiện sự cưỡng
chế đối với toàn xã hội (như quân đội, cảnh sát, tòa án, nhà tù...)
- Nhà nước tập hợp quản dân theo lãnh thổ không phụ thuộc vào chính kiến, huyết
thống, nghề nghiệp hoặc giới tính ... Nhà nước thực thi quyền lực chính trị trên phạm vi toàn bộ
lãnh thổ. Mỗi nhà nước có lãnh thổ riêng, trên mỗi lãnh thổ lại phân thành các đơn vị hành chính
nhỏ
- Nhà nước nắm giữ thực hiện chủ quyền quốc gia. Chủ quyền quốc gia mang nội dung chính
trị pháp lý, thể hiện quyền độc lập tự quyết của một quốc gia trong việc đưa ra và thực hiện
những chính sách đối nội và đối ngoại không phụ thuộc vào các yếu tố bên ngoài.
- Nhà nước ban hành pháp luật và thực hiện sự quản lý bắt buộc đối với toàn xã hội. Với tư cách
tổ chức đại diện chính thức của toàn bộ hội, nhà nước quyền ban hành pháp luật – một
công cụ quản hội sắc bén hiệu quả nhất. Pháp luật do nhà nước ban hành có tính bắt
buộc chung, mọi tổ chức và cá nhân đều phải tôn trọng và thực hiện pháp luật.
- Nhà nước quy định thu các loại thuế, ngoài ra còn phát hành tiền dưới các hình thức bắt
buộc, với số lượng thời hạn ấn định trước. Nhà nước quy định và thu các loại thuế nhằm nuôi
bộ máy của nhà nước. Ngoài ra, nhà nước còn phải dùng nguồn tài chính của mình để xây dựng
các công trình và tiến hành các hoạt động chung vì lợi ích chung của toàn xã hội.
4.Kiểu nhà nước gì? Trình bày đặc trưng của các kiểu nhà nước và sự thay thế các kiểu
nhà nước trong lịch sử.`
- Khái niệm: Kiểu nhà nước tổng thể các dấu hiệu (đặc điểm) bản của nhà nước thể hiện
bản chất của nhà nước những điều kiện tồn tại và phát triển của nhà nước trong một hình thái
kinh tế - xã hội nhất định.
- Đặc trưng của các kiểu nhà nước:
Trong lịch sử xã hội có giai cấp đã tồn tại bốn hình thái kinh tế - xã hội : Chiếm hữu nô lệ, phong
kiến, bản chủ nghĩa xã hội chủ nghĩa. Phù hợp với 4 kiểu quan hệ sản xuất ấy là 4 kiểu nhà
nước:
(1)Kiểu nhà nước chủ nô
tổ chức quyền lực chính trị của giai cấp chủ nô. Nhà nước chủ nô ra đời trên cơ sở tan rã
của chế độ thị tộc, bộ lạc gắn liền với sự xuất hiện của chế độ hữu sự phân chia hội
thành các giai cấp đối kháng. Bản chất của nhà nước chủ thực hiện nền chuyên chính của
giai cấp chủ nô, duy trì sự thống trị bảo vệ lợi ích của chủ nô; đàn áp lệ tầng lớp lao
động khác.
(2)Kiểu nhà nước phong kiến
Ra đời trên sự tan của chế độ chiếm hữu nô lệ hoặc xuất hiện trực tiếp từ sự tan rã của xã
hội cộng sản nguyên thủy. sở hình thành của nhà nước phong kiến chế độ sở hữu của địa
chủ phong kiến với liệu sản xuất và nô lệ. Bản chất của nhà nước phong kiến là công cụ trong
tay giai cấp địa chủ phong kiến để thực hiện chuyên chính với giai cấp nông dân, thợ thủ công và
các tầng lớp lao động khác, là phương tiện duy trì địa vị kinh tế bảo vệ lợi ích và sự thống trị của
địa chủ phong kiến.
3
(3)Kiểu nhà nước tư sản
Ra đời, tồn tại phát triển trong lòng hình thái kinh tế – xã hội tư bản chủ nghĩa. Bản chất
của nhà nước tư sản do chính những điều kiện nội tại của xã hội tư sản quyết định, đó chính là cơ
sở kinh tế, sở hội sở tưởng. Thiết lập nguyên tắc chủ quyền nhà nước trên danh
nghĩa thuộc về nhân dân; Thực hiện nguyên tắc phân chia quyền lực và kiềm chế, đối trọng giữa
các quan lập pháp, hành pháp, pháp; Thực hiện chế độ đa nguyên, đa đảng trong bầu cử
nghị viện tổng thống; hình thức chính thể phổ biến của nhà nước sản là cộng hòa và quân
chủ lập hiến.
(4)Kiểu nhà nước xã hội chủ nghĩa
sở hình thành của nhà nước hội chủ nghĩa quan hệ sản xuất dựa trên chế độ công
hữu về tư liệu sản xuất. Thiết lập và đảm bảo quyền lực nhà nước thuộc về nhân dân; Đảng Cộng
sản lực lượng lãnh đạo nhà nước, lãnh đạo hội; Tất cả các quan nhà nước đều được tổ
chức hoạt động theo nguyên tắc tập trung dân chủ; quyền lực nhà nước thống nhất trên cơ sở
sự phân công và phối hợp hoạt động giữa các cơ quan thực hiện các chức năng lập pháp, hành
pháp và tư pháp; đảm bảo sự đoàn kết, bình đẳng và tương trợ giữa các dân tộc
Các kiểu nhà nước chủ nô, phong kiến, tư sản có chung bản chất vì đều được xây dựng trên
sở hữu về liệu sản xuất, đều những công cụ bạo lực, bộ máy chuyên chính của các
giai cấp bóc lột chống lại nhân dân lao động
Nhà nước hội chủ nghĩa kiểu nhà nước tiến bộ nhất cuối cùng trong lịch sử nhân
loại có bản chất khác hẳn ba kiểu nhà nước trước đó vì được xây dựng trên cơ sở công hữu về Tư
liệu sản xuất quan hệ thân thiện giữa những người lao động, do Nhân dân thiết lập hoạt
động vì Nhân dân.
- Sự thay thế các kiểu Nhà nước trong lịch sử:
Sự thay thế kiểu nhà nước này bằng kiểu nhà nước mới tiến bộ hơn là quy luật tất yếu. Quy
luật về sự thay thế các kiểu nhà nước phù hợp với quy luật về sự phát triển thay thế của các
hình thái kinh tế - hội. Một kiểu nhà nước mới xuất hiện trong quá trình cách mạng khi giai
cấp cầm quyền bị lật đổ giai cấp thống trị mới giành được chính quyền. Các cuộc cách
mạng khác nhau diễn ra trong lịch sử đều tuân theo quy luật đó. Tuy nhiên quá trình thay thế các
kiểu nhà nước trên thế giới diễn ra không giống nhau và trên thực tế không phải xã hội nào cũng
đều tuần tự trải qua tuần tự bốn kiểu nhà nước trên. Chẳng hạn như nước ta đi lên chủ nghĩa xã
hội bỏ qua giai đoạn phát triển tư bản chủ nghĩa, vì thế kiểu nhà nước tư sản không tồn tại ở Việt
Nam.
5.Hình thức nhà nước được hình thành từ các yếu tố nào? Hãy làm rõ các yếu tố đó?`
- KN: cách thức tổ chức quyền lực những phương pháp để thực hiện quyền lực ấy. Hình
thức NN được hình thành từ 3 yếu tố: hình thức chính thể, hình thức cấu trúc NN chế độ
chính trị
a- Hình thức chính thể: Hình thức chính thể cách tổ chức, cấu, trình tự thành lập các
quan NN cao nhất mối liên hệ của chúng với nhau cũng như mức độ tham gia của nhân dân
vào việc thiết lập các cơ quan này. Hình thức chính thể gồm 2 dạng cơ bản là chính thể quân chủ
và chính thể cộng hòa.
4
Chính thể quân chủ: hình thức trong đó quyền lực tối cao của NN tập trung toàn bộ (hay
một phần) trong tay người đứng đầu NN (vua, hoàng đế…) theo nguyên tắc thừa kế. Chính thể
quân chủ tuyệt đối: Là chính thể mà trong đó quyền lực nhà vua là tuyệt đối, có quyền lực vô hạn
không hiến pháp. Chính thể quân chủ lập hiến: người đứng đầu NN chỉ nắm 1 phần quyền lực
tối cao và bên cạnh đó còn có 1 cơ quan quyền lực khác nữa.
Chính thể cộng hòa: hình thức trong đó quyền lực tối cao của NN thuộc về một cơ quan
được bầu ra trong 1 thời gian nhất định. Tùy thuộc vào quyền bầu cử để thành lập các cơ quan tối
cao của quyền lực NN, hình thức chính thể cộng hòa được chia thành hai loại cơ bản là cộng hòa
dân chủ và cộng hòa quý tộc.
Cộng hòa quý tộc: Quyền tham gia bầu cử để lập ra cơ quan quyền lực của NN chỉ quy định
thuộc về tầng lớp quý tộc. Loại hình thức chính thể này không phổ biến trong lịch sử, chỉ
xuất hiện trong một số nước như cộng hòa quý tộc chủ nô Spac ở Hy Lạp, cộng hòa quý tộc chủ
La Mã. Cộng hòa dân chủ: hình thức chính thể trong đó quyền tham gia bầu cử để lập ra
quan quyền lực của NN thuộc về nhân dân, mang tính phổ thông, không đặc quyền, đặc
lợi.
- Các nước bản chủ nghĩa hình thức chính thể cộng hòa dân chủ biến dạng thành 3 loại sau:
Cộng hòa tổng thống: tổng thống do nhân dân trực tiếp bầu ra hoặc do các đại diện cử tri bầu ra,
vai trò rất lớn, vừa người đứng đầu NN, vừa người đứng đầu chính phủ, quyền giải
quyết các đạo luật do nghị viện đưa ra. Cộng hòa đại nghị: được đặc trưng bởi việc nghị viện
thành lập ra chính phủ khả năng của nghị viện kiểm tra hoạt động của chính phủ. Tổng thống
do nghị viện bầu ra vai trò không lớn. Cộng hòa hỗn hợp hình thức hỗn hợp giữa cộng
hòa tổng thống cộng hòa đại nghị. Nghị viện thành lập ra chính phủ, thủ tướng bầu ra thủ
tướng chính phủ.
- Các nước XHCN, hình thức chính thể cộng hòa dân chủ với các biến dạng Công Paris,
Cộng hòa Xô-viết Cộng hòa dân chủ nhân dân; NN XHCN chỉ nên sử dụng chính thể cộng
hòa cho phép thể hiện quyền lực nhân dân tạo điều kiện để nhân dân thể thay thế
nhau trong quản lý chính quyền.
b- Hình thức cấu trúc NN: sự tổ chức NN theo các đơn vị hành chính lãnh thổ và mối quan
hệ giữa các quan NN trung ương với các cơ quan NN địa phương. Các hình thức cấu trúc NN
bao gồm các loại: NN đơn nhất, NN liên bang.
NN đơn nhất: NN chủ quyền chung, các bộ phận hợp thành NN là các đơn vị hành
chính lãnh thổ có chủ quyền quốc gia, đồng thời có các hệ thống cơ quan NN thống nhất từ trung
ương đến địa phương. Trong nước chỉ 1 hệ thống pháp luật, mỗi công dân chỉ mang 1 quốc
tịch
VD: Việt Nam, Lào, Ba Lan
NN liên bang: NN từ 2 hay nhiều nước thành viên hợp lại. Trong NN liên bang
không chỉ liên bang các dấu hiệu của NN, mà các NN thành viên cũng có chủ quyền riêng và
mức độ này hay mức độ khác dấu hiệu của NN. NN liên bang có 2 hệ thống cơ quan quyền
lực và quản lý: 1 hệ thống chung cho toàn liên bang và 1 hệ thống trong mỗi nước thành viên. Có
2 hệ thống pháp luật của bang và của liên bang. Công dân mang 2 quốc tịch
Ví dụ: Mỹ, Đức, Ấn Độ, Nga
c- Chế độ chính trị: Chế độ chính trị là tổng thể các phương pháp, cách thức mà các cơ quan NN
sử dụng để thực hiện quyền lực NN. Nhân tố chủ đạo trong khái niệm chế độ chính trị là phương
pháp cai trị quản xã hội của giai cấp cầm quyền. Phương pháp thực hiện quyền lực NN của
5
các NN trong lịch sử rất đa dạng, nhưng tựu chung lại chúng gồm 2 loại chính: phương pháp dân
chủ và phản dân chủ
Phương pháp dân chủ: nhiều loại, thể hiện dưới các hình thức khác nhau như dân chủ
thực sự dân chủ giả hiệu, dân chủ rộng rãi dân chủ hạn chế, dân chủ trực tiếp và dân chủ
gián tiếp
Phương pháp phản dân chủ: thể hiện tính chất độc tài, đáng chú ý nhất khi phương
pháp cai trị quản lý xã hội này phát triển đến mức độ cao sẽ trở thành những phương pháp tàn
bạo, quân phiệt và phát xít.
6.Phân tích bản chất của Nhà nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam.`
- Điều 2 Hiến pháp 2013 quy định: “NNCHXHCNVN NN pháp quyền XHCN của nhân dân,
do nhân dân, vì nhân dân. Tất cả quyền lực NN thuộc về nhân dân mà nền tảng là liên minh giữa
giai cấp công nhân với giai cấp nông dân và đội ngũ trí thức”.
*Bản chất:
Nhân dân là chủ thể tối cao của quyền lực nhà nước
NN CHXHCNVN ngày nay NN của dân, do dân mà nòng cốt là liên minh công nông trí
thức tự tổ chức định đoạt quyền lực NN. Quyền lực NN Việt Nam không thuộc về 1 cá nhân
nào, 1 nhóm người nào thuộc về toàn thể nhân dân. Nhân dân sử dụng quyền lực của mình
thông qua các đại biểu quốc hội và đại biểu hội đồng nhân dân các cấp. Nhân dân có quyền kiểm
tra, giám sát hoạt động của bộ máy nhà nước, đồng thời quyền khiếu nại, tố cáo hành vi vi
phạm pháp luật của quan nhà nước, cán bộ công chức nhà nước. Nhân dân có quyền trực tiếp
đưa ra các kiến nghị với các cơ quan nhà nước có thẩm quyền.
NN CHXHCNVN là một NN dân chủ thực sự, có tính xã hội rộng rãi
Trong lĩnh vực kinh tế: NN thực hiện chủ trương tự do, bình đẳng về kinh tế, tạo ra những
điều kiện làm cho nền kinh tế đất nước tính năng động, xây dựng quan hệ sản xuất phù hợp
với tính chất trình độ phát triển của llsx. Chủ trương phát triển nền kinh tế hàng hóa nhiều
thành phần, đa sở hữu và hình thức tổ chức sản xuất, kinh doanh cho phép mọi đơn vị kinh tế đều
thể hoạt động theo chế tự chủ trong sản xuất, kinh doanh, hợp tác và cạnh tranh với nhau
và đều bình đẳng trước pháp luật. Bảo đảm lợi ích kinh tế của người lao động, coi đó là động lực,
mục tiêu của dân chủ
Trong lĩnh vực chính trị: NN tạo cơ sở pháp lý vững chắc, trong đó quy định tất cả các quyền
tự do, dân chủ trong sinh hoạt chính trị, bảo đảm cho người dân được làm chủ về mặt chính trị.
NN xác lập thực hiện chế dân chủ đại diện thông qua chế độ bầu cử và bãi miễn đại biểu
nhân dân vào các quan dân cử.. Bên cạnh đó, nhà nước chú trọng thiết lập bảo đảm thực
hiện đầy đủ chế độ dân chủ trực tiếp, tạo điều kiện cho nhân dân tham gia thực sự vào công việc
quản NN, quản hội, tham gia đóng góp ý kiến, kiến nghị, thảo luận một cách dân chủ,
bình đẳng các vấn đề thuộc đường lối, chủ trương, chính sách, các dự thảo luật pháp quan trọng
làm cho nhân dân thực sự là chủ thể của những chủ trương, chính sách và văn bản pháp luật đó
Trong lĩnh vực tư tưởng văn hóa và xã hội: NN chủ trương tự do tư tưởng và giải phóng tinh
thần nhằm phát huy mọi khả năng của con người. NN quy định các quyền tự do trong lĩnh vực
văn hoá tưởng bảo đảm cho mọi người thực hiện các quyền đó như tự do ngôn luận, tín
ngưỡng, nghỉ ngơi, lao động. NN chủ trương tự do tư tưởng, tuy nhiên cũng nghiêm cấm hành vi
lợi dụng tự do, dân chủ để làm tổn hại lợi ích quốc gia, lợi ích dân tộc
NN thống nhất các dân tộc cùng sinh sống trên đất nước Việt Nam
6
NN Cộng hòa XHCN Việt Nam trong tất cả các thời kỳ phát triển của mình đều coi "đại đoàn kết
dân tộc" một nguyên tắc cơ bản để thiết lập chế độ dân chủ, phát huy quyền lực nhân dân, bảo
đảm công bằng XH, đồng thời sở để tạo ra sức mạnh của một NN thống nhất. Chính sách
đại đoàn kết dân tộc thể hiện dưới bốn hình thức cơ bản của Nhà nước Việt Nam:
+ Một là, xây dựng một sở pháp lý vững vàng cho việc thiết lập và củng cố khối đại đoàn kết
dân tộc.
+ Hai là, NN tổ chức thực hiện trong các hoạt động cụ thể của mình của toàn bộ hệ thống
chính trị để đảm bảo nguyên tắc đoàn kết dân tộc.
+ Ba là, trong khi tổ chức thực hiện, nhà nước luôn chú trọng việc ưu tiên đối với các dân tộc ít
người, các vùng núi, vùng sâu, vùng xa, tạo điều kiện để các dân tộc tương trợ giúp đỡ lẫn nhau,
cùng tồn tại phát triển trên sở hòa hợp, đoàn kết, vì mục tiêu dân giàu, nước mạnh, xã hội
công bằng văn minh.
+ Bốn là, chú ý tới điều kiện, hoàn cảnh cụ thể của mỗi dân tộc, mỗi địa phương, tôn trọng các
giá trị văn hóa tinh thần, truyền thống của mỗi dân tộc, xây dựng bản sắc riêng của dân tộc Việt
Nam với đầy đủ tính phong phú mà vẫn bảo đảm sự nhất quán và thống nhất.
NN CHXHCNVN thể hiện tính xã hội rộng rãi
- Với mục tiêu xây dựng 1 xã hội văn minh, nhân đạo, bảo đảm công bằng xã hội, NN Việt Nam
đã quan tâm đặc biệt toàn diện tới việc giải quyết các vấn đề hội như: xây dựng các công
trình phúc lợi hội, đầu cho việc phòng chống thiên tai, giải quyết các vấn đề bức xúc như
xóa đói, giảm nghèo, chăm sóc sức khỏe nhân dân, giải quyết việc làm, thất nghiệp, giúp đỡ
người già cô đơn, trẻ mồ côi, chống các tệ nạn xã hội
- NN không những chỉ đặt ra những sở pháp còn đầu thỏa đáng cho việc giải quyết
các vấn đề này là nhiệm vụ của mọi cấp, mọi ngành và của NN nói chung
NN thực hiện đường lối đối ngoại hòa bình, hợp tác và hữu nghị.
- Phương châm “Việt Nam sẵn sàng bạn, đối tác tin cậy của tất cả các nước trong cộng
đồng quốc tế, phấn đấu vì hòa bình, độc lập và phát triển” thể hiện một đường lối ngoại giao mở
của NN ta. Đặc điểm này xuất phát từ đường lối đối ngoại của đất nước Việt Nam ghi nhận tại
Điều 12 Hiến pháp 2013, theo đó Nước Cộng hòa hội chủ nghĩa Việt Nam thực hiện chính
sách đối ngoại độc lập, tự chủ, hòa bình, hữu nghị, hợp tác phát triển, chú trọng đa phương
hóa đa dạng hóa quan hệ, tích cực hội nhập hợp tác quốc tế, tuân thủ các nguyên tắc của
Hiến chương Liên hợp quốc.
7. Trình bày các biểu hiện cụ thể khẳng định “Nhà nước Cộng hòa hội chủ nghĩa
Việt Nam là một nhà nước dân chủ thực sự và rộng rãi”.
NN CHXHCNVN là một NN dân chủ thực sự, có tính xã hội rộng rãi
- Thật sự chỗ Quyền tự do dân chủ của nhân dân được ghi nhận trong các văn bản pháp luật.
Nhà nước biện pháp bảo đảm quyền tự do dân chủ của người dân trên thực tế. Rộng rãi ở chỗ
NN đảm bảo quyền tự do dân chủ cho mọi công dân không phân biệt giới tính, tôn giáo, nghề
nghiệp. NN thể hiện tính dân chủ trên tất cả các lĩnh vực từ kinh tế, chính trị, tư tưởng, văn hóa
và xã hội.
Chi tiết nội dung ở câu 6
7
8.Trình bày các loại cơ quan trong bộ máy nhà nước ở Việt Nam hiện nay.`
Bộ máy nhà nước Việt Nam là hệ thống các cơ quan nhà nước từ trung ương xuống cơ sở, được
tổ chức theo những nguyên tắc chung thống nhất, tạo thành một cơ chế đồng bộ để thực hiện các
chức năng và nhiệm vụ của nhà nước.
1. Quốc hội và Hội đồng nhân dân các cấp
Việt Nam, Quốc hội quan đại biểu cao nhất của nhân dân quan quyền lực nhà
nước cao nhất. Quốc hội quan duy nhất quyền lập hiến lập pháp; quyết định những
vấn đề trọng đại nhất của đất nước và thực hiện quyền giám sát tối cao với toàn bộ hoạt động của
cơ quan nhà nước.
Hội đồng nhân dân các cấp quan quyền lực nhà nước địa phương, đại diện cho ý chí,
nguyện vọng của nhân dân, do nhân dân trực tiếp bầu ra, phải chịu trách nhiệm trước nhân dân
địa phương và cơ quan nhà nước cấp trên.
2. Chủ tịch nước
Chủ tịch nước người đứng đầu nhà nước, thay mặt nhà nước về đối nội và đối ngoại. Chủ tịch
nước do Quốc hội bầu trong số đại biểu Quốc hội, chịu trách nhiệm và báo cáo trước Quốc hội.
Chủ tịch nước được trao nhiều quyền hạn trong cả ba lĩnh vực lập pháp, hành pháp và tư pháp, là
người giữ quyền thống lĩnh các lực lượng trang nhân dân giữ chức vụ Chủ tịch Hội đồng
quốc phòng và an ninh.
3. Các cơ quan hành chính nhà nước
Các quan hành chính nhà nước được gọi quan chấp hành của quan quyền lực nhà
nước. nước ta, hệ thống quan hành chính nhà nước gồm có: Chính phủ, các bộ, quan
ngang bộ, các cơ quan thuộc Chính phủ và Ủy ban nhân dân các cấp.
4. Các cơ quan xét xử
Hệ thống quan xét xử loại quan chức năng đặc thù của bộ máy nhà nước xã hội chủ
nghĩa. Tính đặc thù của quan nhà nước này thể hiện chỗ chúng chịu trách nhiệm báo cáo
trước cơ quan quyền lực nhà nước, nhưng trong hoạt động lại độc lập và chỉ tuân theo pháp luật.
nước ta, hệ thống quan xét xử gồm có: Tòa án nhân dân tối cao.Tòa án nhân dân cấp cao,
các Tòa án nhân dân địa phương, các Tòa án quân sự và các Tòa án khác do luật định. Khi xét xử
có Hội thẫm tham gia và Hội thẩm ngang quyền với thẩm phán.
5. Các cơ quan kiểm sát
Hệ thống quan kiểm sát của bộ máy nhà nước xã hội chủ nghĩa được tổ chức ra không chỉ để
thực hiện quyền công tố mà còn để kiểm sát việc tuân theo pháp luật của các cơ quan, tổ chức và
của công dân trong hoạt động pháp nhằm bảo đảm cho pháp luật được chấp hành nghiêm
chỉnh và thống nhất.
nước ta, hệ thống quan kiểm sát gồm: Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Viện kiểm sát nhân
dân cấp cao, các Viện kiểm sát nhân dân địa phương, các Viện kiểm sát quân sự.
6. Hội đồng bầu cử quốc gia và Kiểm toán nhà nước
Hội đồng bầu cử quốc gia Kiểm toán nhà nước hai thiết chế lần đầu tiên được quy định
trong Hiến pháp năm 2013.
8
- Hội đồng bầu cử quốc gia quan do Quốc hội thành lập, nhiệm vụ tổ chức bầu cử đại
biểu Quốc hội;chỉ đạo hướng dẫn công tác bầu cử đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp. Hội
đồng bầu cử quốc gia gồm Chủ tịch, các Phó Chủ tịch và các ủy viên.
- Kiểm toán nhà nước là cơ quan do Quốc hội thành lập, hoạt động độc lập và chỉ tuân theo pháp
luật, thực hiện kiểm toán việc quản lý, sử dụng tài chính, tài sản công.
9. Trình bày các nguyên tắc bản trong tổ chức hoạt động của bộ máy nhà nước
Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam.`
- Bộ máy NN hội chủ nghĩa hệ thống các quan NN từ trung ương xuống cơ sở, được tổ
chức theo những nguyên tắc chung thống nhất, tạo thành một chế đồng bộ để thực hiện các
chức năng NN và nhiệm vụ của NN XHCN.
- Để bộ máy của NN XHCN hoạt động có hiệu lực và hiệu quả trong quản lý xã hội thì điều quan
trọng là phải bảo đảm cho nó có một cơ cấu tổ chức hợp lý, một cơ chế hoạt động đồng bộ và đội
ngũ cán bộ đủ năng lực thực hiện nhiệm vụ được giao. Muốn vậy trong tổ chức và hoạt động
của bộ máy NN phải tuân theo những nguyên tắc nhất định. Trong tổ chức hoạt động của
BMNN XHCN rất nhiều nguyên tắc, trong đó những nguyên tắc bản, một trong
những nguyên tắc cơ bản đó là:
1. Nguyên tắc bảo đảm quyền lực nhân dân trong tổ chức và hoạt động của bộ máy NN.
- Nhà nước bảo đảm cho nhân dân tham gia đông đảo và tích cực vào việc thành lập và tổ chức
lập ra bộ máy nhà nước. Sự bảo đảm này thể hiện trước hết ở chỗ Nhà nước xây dựng cơ sở pháp
các biện pháp tổ chức phù hợp để nhân dân thể hiện ý chí của mình, phát huy quyền làm
chủ bầu ra các quan đại diện của mình thông qua hệ thống quan đại diện để lập ra các
hệ thống cơ quan khác.
- Phải đảm cho nhân dân tham gia đông đảo vào việc quản các công việc nhà nước và quyết
định những vấn đề trọng đại của đất nước. V.I.Lenin coi đây là phương pháp tuyệt diệu, phương
pháp đặc thù chỉ có thể thực hiện được một cách đầy đủ trong xã hội chủ nghĩa
- Ngoài việc “dân biết, dân bàn” thì phải chế bảo đảm cho nhân dân thực hiện việc kiểm
tra, giám sát hoạt động của các quan nhà nước, nhân viên nhà nước, các tổ chức và cá nhân
khác được trao cho những quyền hạn nhất định để quản lý một số công việc của nhà nước, tức là
“dân kiểm tra’. Đây là vấn đề có tính nguyên tắc, đồng thời là một trong những phương pháp bảo
đảm cho bộ máy nhà nước hoạt động đúng mục đích phục vụ bảo vệ lợi ích của nhân dân,
chống những biểu hiện tiêu cực như quan liêu, hách dịch, cửa quyền, tham nhũng, xa rời quần
chúng của đội ngũ cán bộ nhà nước.
2. Nguyên tắc bảo đảm sự lãnh đạo của Đảng đối với NN.
Sự lãnh đạo của Đảng giữ vai trò quyết định trong việc xác định phương hướng tổ chức và hoạt
động của NN XHCN, điều kiện quyết định để nâng cao hiệu lực quản của NN, phát huy
quyền làm chủ của nhân dân trong việc tham gia vào công việc của NN.
Đảng vạch ra đường lối, chủ trương phương hướng tổ chức hoạt động của bộ máy
NN. Đồng thời chỉ đạo quá trình xây dựng PL, nhất những đạo luật quan trọng nhằm thông
qua NN thể chế hoá các chủ trương, chính sách của Đảng thành PL, thành những quy định chung
thống nhất trên quy mô toàn XH, thực hiện và phát huy quyền làm chủ của nhân dân
Thường xuyên theo dõi, kiểm tra, hướng dẫn các cơ quan NN hoạt động theo đúng đường
lối chính sách của Đảng và đào tạo cán bộ tăng cường cho bộ máy NN.
Đảng lãnh đạo NN bằng vai trò, tác phong gương mẫu của Đảng viên trong việc chấp
hành đường lối, chính sách của Đảng, PL của NN, đặc biệt thông qua các tổ chức Đảng các
9
đảng viên làm việc trong bộ máy NN. Đảng lựa chọn cán bộ ưu của Đảng vào các vị trí lãnh
đạo của cơ quan NN.
3. Nguyên tắc tập trung dân chủ
- Nội dung của nguyên tắc này được biểu hiện trên 3 mặt chủ yếu: tổ chức bộ máy, cơ chế hoạt
động, chế độ thông tin báo cáo kiểm tra xử lý các vấn đề trong quá trình tổ chức và thực hiện
quyền lực NN:
+ Về mặt tổ chức: các nước XHCN nói chung và nước ta nói riêng, nguyên tắc tập trung dân
chủ này xuất phát từ nguyên tắc: tất cả quyền lực NN thuộc về ND. Nhân dân trực tiếp bầu ra hệ
thống quan đại diện, trao quyền cho các cơ quan đại diện bầu ra hoặc phê chuẩn các hệ thống
quan khác. Tính tập trung biểu hiện quan trọng của bộ máy NN, nhưng sự tập trung đó đều
bắt nguồn dựa trên sở cửa chế độ dân chủ dân chủ sau khi đã được tập trung phải chịu sự
chỉ đạo của tập trung. Các cơ quan NN, công chức NN được trao quyền để quản lý các công việc
NN, nhưng đều phải chịu trách nhiệm trước nhân dân và chịu sự kiểm tra giám sát của nhân dân.
+ Về mặt hoạt động: Tập trung vào các cơ quan NN ở trung ương có quyền quyết định các vấn
đề bản, quan trọng về chính trị, kinh tế, văn hóa, hội, an ninh, quốc phòng, đối ngoại trên
phạm vi toàn quốc. Quyết định các vấn đề ở tầm vĩ mô, tạo khuôn khổ thống nhất cho hoạt động
của cả hội. Các quan NN địa phương quyết định những vấn đề thuộc phạm vi của địa
phương mình. Quyết định của quan NN cấp trên có ý nghĩa bắt buộc đối với cơ quan NN cấp
dưới.
Đồng thời phải phân cấp quản để phát huy trách nhiệm tính chủ động của quan địa
phương, quan NN địa phương, quan cấp dưới quyền tự quyết định chịu trách
nhiệm về những vấn đề cụ thể địa phương. quan NN trung ương, quan cấp trên
quyền kiểm tra, giám sát hoạt động của các quan cấp dưới quan NN địa phương.
quyền hủy bỏ, đình chỉ quyết định của cơ quan cấp dưới (nếu như quyết định đó trái với quy định
của PL) nhưng đồng thời phải tạo điều kiện cho quan cấp dưới, địa phương phát huy quyền
chủ động, sáng tạo trong giải quyết các vấn đề Ở địa phương.
+ Thực hiện nguyên tắc tập trung dân chủ trong tổ chức hoạt động của bộ máy nhà nước cần
chú trọng xây dựng thực hiện tốt chế độ thông tin, báo cáo, kiểm tra xử các vấn đề
kịp thời, đúng đắn; khách quan và khoa học.
4. Nguyên tắc bình đẳng, đoàn kết giữa các dân tộc
- Đoàn kết truyền thống quý báu của nhân dân Việt Nam, một một trong những nhân tố
quyết định sự thành công của sự nghiệp dựng nước, giữ nước, phát triển đất nước. Đối với
Đảng, Nhà nước nhân dân ta đại đoàn kết dân tộc một chính sách lớn được khẳng định
trong Điều 5 Hiến pháp năm 2013:
1. Nước CHXHCNVN quốc gia thống nhất của các dân tộc cùng sinh sống trên đất nước Việt
Nam.
2. Các dân tộc bình đẳng, đoàn kết, tôn trọng giúp nhau cùng phát triển; nghiêm cấm mọi
hành vi kỳ thị, chia rẽ dân tộc.
3. Ngôn ngữ quốc gia tiếng Việt. Các dân tộc quyền dùng tiếng nói, chữ viết, giữ gìn bản
sắc dân tộc, phát huy phong tục, tập quán, truyền thống và văn hóa tốt đẹp của mình.
4. Nhà nước thực hiện chính sách phát triển toàn diện tạo điều kiện để các dân tộc thiểu số
phát huy nội lực, cùng với phát triển đất nước.
- Bình đẳng đoàn kết giữa các dân tộc nhằm mục tiêu chung là: giữ vững độc lập, chủ quyền,
thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ, phấn đấu xoá bỏ nghèo nàn, lạc hậu, tiến tới dân giàu, nước mạnh,
hội công bằng, dân chủ,văn minh. Bình đẳng, đoàn kết giữa các dân tộc trở thành một trong
những nguyên tắc cơ bản trong tổ chức mọi hoạt động của bộ máy nhà nước Việt Nam.
10
5. Nguyên tắc pháp chế XHCN.
- Nguyên tắc này đòi hỏi các quan trong bộ máy nhà nước phải bảo đảm thực hiện quyền lực
nhà nước là thống nhất, có sự phân công và phối hợp một cách nhịp nhàng, đồng bộ.
- Trong quá trình tổ chức hoạt động đó, yêu cầu phải tiến hành theo đúng pháp luật cà trên cơ
sở của pháp luật; phải nghiêm chỉnh triệt để tôn trọng pháp luật khi thực thi quyền hạn
nhiệm vụ của mình; tăng cường công tác kiểm tra, giám sát xử nghiêm minh mọi hành vi vi
phạm pháp luật.
- Nguyên tắc pháp chế được quy định ở Điều 8 Hiến pháp năm 2013: “Nhà nước được tổ chức và
hoạt động theo Hiến pháp và pháp luật, quản lý xã hội bằng Hiến pháp và pháp luật...”
- Để xây dựng nhà nước pháp quyền hội chủ nghĩa Việt Nam phải tăng cường hơn nữa pháp
chế hội chủ nghĩa trong tổ chức và hoạt động của bộ máy nhà nước. Nhà nước phải đẩy mạnh
hơn nữa công tác xây dựng hoàn chỉnh hệ thống pháp luật làm sở pháp cho tổ chức và
hoạt động của bộ máy nhà nước, tổ chức tốt công tác thực hiện pháp luật, đồng thời phải tăng
cường công tác kiểm tra, giám sát, xử lý nghiêm minh các hành vi vi phạm pháp luật.
Ngoài 5 nguyên tắc trên, trong tổ chức hoạt động của bộ máy nhà nước xã hội chủ nghĩa còn
những nguyên tắc khác như: nguyên tắc tổ chức lao động khoa học, nhà nước bảo đảm tính
kinh tế, nguyên tắc công khai hoá.
10. Phân tích nội dung nguyên tắc tập trung dân chủ trong tổ chức hoạt động của bộ
máy nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam.
- Nội dung của nguyên tắc này được biểu hiện trên 3 mặt chủ yếu: tổ chức bộ máy, cơ chế hoạt
động, chế độ thông tin báo cáo kiểm tra xử lý các vấn đề trong quá trình tổ chức và thực hiện
quyền lực NN:
+ Về mặt tổ chức: các nước XHCN nói chung và nước ta nói riêng, nguyên tắc tập trung dân
chủ này xuất phát từ nguyên tắc: tất cả quyền lực NN thuộc về ND. Nhân dân trực tiếp bầu ra hệ
thống quan đại diện, trao quyền cho các cơ quan đại diện bầu ra hoặc phê chuẩn các hệ thống
quan khác. Tính tập trung biểu hiện quan trọng của bộ máy NN, nhưng sự tập trung đó đều
bắt nguồn dựa trên sở cửa chế độ dân chủ dân chủ sau khi đã được tập trung phải chịu sự
chỉ đạo của tập trung. Các cơ quan NN, công chức NN được trao quyền để quản lý các công việc
NN, nhưng đều phải chịu trách nhiệm trước nhân dân và chịu sự kiểm tra giám sát của nhân dân.
+ Về mặt hoạt động: Tập trung vào các cơ quan NN ở trung ương có quyền quyết định các vấn
đề bản, quan trọng về chính trị, kinh tế, văn hóa, hội, an ninh, quốc phòng, đối ngoại trên
phạm vi toàn quốc. Quyết định các vấn đề ở tầm vĩ mô, tạo khuôn khổ thống nhất cho hoạt động
của cả hội. Các quan NN địa phương quyết định những vấn đề thuộc phạm vi của địa
phương mình. Quyết định của quan NN cấp trên có ý nghĩa bắt buộc đối với cơ quan NN cấp
dưới.
Đồng thời phải phân cấp quản để phát huy trách nhiệm tính chủ động của quan địa
phương, quan NN địa phương, quan cấp dưới quyền tự quyết định chịu trách
nhiệm về những vấn đề cụ thể địa phương. quan NN trung ương, quan cấp trên
quyền kiểm tra, giám sát hoạt động của các quan cấp dưới quan NN địa phương.
quyền hủy bỏ, đình chỉ quyết định của cơ quan cấp dưới (nếu như quyết định đó trái với quy định
của PL) nhưng đồng thời phải tạo điều kiện cho quan cấp dưới, địa phương phát huy quyền
chủ động, sáng tạo trong giải quyết các vấn đề Ở địa phương.
11
+ Thực hiện nguyên tắc tập trung dân chủ trong tổ chức hoạt động của bộ máy nhà nước cần
chú trọng xây dựng thực hiện tốt chế độ thông tin, báo cáo, kiểm tra xử các vấn đề
kịp thời, đúng đắn; khách quan và khoa học.
11.Trình bày phương hướng xây dựng hoàn thiện bộ máy Nhà nước Cộng hòa hội
chủ nghĩa Việt Nam.`
Bộ máy nhà nước Việt Nam hệ thống các quan nhà nước từ trung ương xuống sở
được tổ chức theo một nguyên tắc, nhất tạo thành một chế đồng bộ để thực hiện các chức
năng nhiệm vụ của nhà nước.
Vấn đề xây dựng và hoàn thiện bộ máy nhà nước.
Bộ máy nhà nước cộng hòa hội chủ nghĩa Việt Nam được thiết lập từ sau cách mạng
8/1945. Sau hơn nửa thế kỷ bộ máy nhà nước ta đã được củng cố phát triển hoàn thành nhiệm vụ
của mình trong sự nghiệp đấu tranh, bảo vệ, độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ và
xây dựng chế độ xã hội mới. Tuy nhiên, trong tổ chức và hoạt động, bộ máy nhà nước ta còn bộc
lộ khuyết điểm yếu kém như: bộ máy nhà nước còn cồng kềnh, kém hiệu lực, chế độ trách
nhiệm không ràng, phong cách làm việc nặng về hình thức, giấy tờ, quyết định thì chậm,
thiếu cơ sở khoa học,...
Trên sở phân tích sâu sắc thực trạng bộ máy nhà nước ta yêu cầu của tình hình mới,
đảng đã đề ra chủ trương thực hiện một cuộc cải cách lớn phải đáp ứng những yêu cầu cơ bản là:
Tiếp tục phát huy cao độ bản chất dân chủ, tạo điều kiện cho nhân dân thực hiện quyền làm chủ
của mình thông qua các hình thức dân chủ đại diện dân chủ trực tiếp, tham gia tích cực vào
việc xây dựng bảo vệ nhà nước. Kiểm tra, giám sát hoạt động của quan nhà nước cán
bộ, công chức, viên chức nhà nước. Kiện toàn bộ máy nhà nước trong sạch, vững mạnh, tinh
giản, gọn nhẹ, hoạt động hiệu lực hiệu quả; nâng cao trách nhiệm của cán bộ, công chức
nhà nước trước nhân dân. Tăng cường sự lãnh đạo của đảng.
Bộ máy nhà nước cần được cải cách theo những phương hướng chủ yếu sau:
Cải tiến tổ chức hoạt động của Quốc Hội chính quyền địa phương để làm đúng chức
năng theo luật định. Quốc Hội phải có cơ cấu tổ chức hợp lý và đội ngũ đại biểu Quốc Hội có đủ
tiêu chuẩn là người đại diện cho ý chí, nguyện vọng của các tầng lớp nhân dân.
Cải cách nền hành chính nhà nước, xây dựng một hệ thống cơ quan quản lý thống nhất, thông
suốt, hiệu lực hiệu quả, đủ năng lực thực thi các nhiệm vụ trên các lĩnh vực. Tiến hành sắp
xếp tổ chức phân định chức năng, thẩm quyền giữa các cấp, thực hiện nguyên tắc kết hợp
quản ngành quản lãnh thổ. Tăng cường công tác tổ chức hoạt động thanh tra, kiện
toàn tổ chức chính quyền địa phương, xây dựng đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức đủ
phẩm chất và năng lực hoàn thành công việc trong bộ máy nhà nước.
Tăng cường hiệu lực của các cơ quan bảo vệ pháp luật, đổi mới tổ chức và hoạt động của hệ
thống viện kiểm sát nhân dân và tòa án nhân dân, bảo đảm các điều kiện và phương tiện cần thiết
để các cơ quan bảo vệ pháp luật thực hiện đúng chức năng và quyền hạn của mình.
Tăng cường sự lãnh đạo của đảng đối với tổ chức và hoạt động của bộ máy nhà nước nhằm
giữ vững bản chất của nhà nước, bảo đảm quyền lực nhân dân, đưa công cuộc đổi mới đi đúng
12
định hướng hội chủ nghĩa. Đổi mới nội dung phương thức lãnh đạo của đảng đối với bộ
máy nhà nước, đảm bảo chất lượng công tác lãnh đạo của đảng, đồng thời phát huy trách nhiệm,
tính chủ động và hiệu lực cao trong quản lý, điều hành bộ máy nhà nước.
Tiến hành kiên quyết thường xuyên cuộc đấu tranh chống quan liêu, Tham nhũng, xử lý
nghiêm minh những người hành vi vi phạm pháp luật, đồng thời tăng cường công tác xây
dựng pháp luật, giáo dục ý thức pháp luật và cùng cố kỷ luật trong nội bộ cơ quan nhà nước. Các
văn kiện của đảng đã luôn nhấn mạnh: tăng cường tổ chức và cơ chế, tiếp tục đẩy mạnh cuộc đấu
tranh chống tham nhũng trong bộ máy nhà nước toàn bộ hệ thống chính trị các cấp, các
ngành, từ trung ương đến cơ sở.
12. Trình bày nguồn gốc ra đời của pháp luật.`
*Khái niệm:
Pháp luật hệ thống các quy tắc xử sự tính bắt buộc chung do nhà nước đặt ra và bảo đảm thực
hiện, thể hiện ý chí của giai cấp thống trị nhằm điều chỉnh các quan hệ xã hội, tạo lập trật tự ổn định
cho sự phát triển của xã hội.
*Nguồn gốc:
- Theo quan điểm chung của xã hội:
+ hội cộng sản nguyên thủy, do nhu cầu của cuộc sống cộng đồng, các quan hệ xã hội giữa
người người được điều chỉnh bằng các quy tắc đạo đức, phong tục, tập quán các quy tắc
tôn giáo. Khi hội xuất hiện sở hữu tư nhân và sự phân chia giai cấp, đồng thời nảy sinh những
mâu thuẫn giai cấp đối kháng, đòi hỏi phải những quy tắc xử sự mang tính bắt buộc chung
được bảo đảm thực hiện bằng sức mạnh cưỡng chế.
+ Những nguyên nhân dẫn đến sự ra đời của Nhà nước cũng là những nguyên nhân dẫn đến sự ra
đời của pháp luật. Pháp luật hình thành bằng ba con đường chủ yếu: Nhà nước thừa nhận những
tập quán đã từ trước phù hợp với lợi ích của mình nâng lên thành pháp luật. Bằng con
đường này, Nhà nước tạo ra hình thức pháp luật đầu tiên tập quán pháp. Nhà nước thừa nhận
các quyết định trước về từng vụ việc cụ thể của quan xét xử hoặc cơ quan hành chính cấp
trên để trở thành khuôn mẫu cho các cơ quan cấp dưới tương ứng giải quyết những vụ việc tương
tự xảy ra sau này. Con đường này tạo ra hình thức pháp luật thứ hai là án lệ pháp. Nhà nước ban
hành những quy phạm pháp luật mới để điều chỉnh các quan hệ xã hội mới nảy sinh do nhu cầu
quản duy trì trật tự xã hội. Con đường này hình thành hình thức pháp luật thứ ba là văn bản
quy phạm pháp luật.
- Theo quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin:
+ Theo quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin, pháp luật ra đời cùng với sự ra đời của nhà nước.
Những nguyên nhân dẫn đến sự ra đời của nhà nước cũng chính những nguyên nhân dẫn đến
sự ra đời của pháp luật.
+ Trong hội cộng sản nguyên thủy chưa nhà nước nên cũng chưa pháp luật. Để hướng
dẫn cách xử sự cho con người, xã hội nguyên thủy sử dụng phong tục tập quán, đạo đức, tín điều
tôn giáo... Các quy tắc ứng xử này hình thành một cách tự phát trong cộng đồng trên cơ sở điều
kiện hoàn cảnh kinh tế xã hội cụ thể lúc bấy giờ.
+ Khi điều kiện kinh tế, xã hội thay đổi, trong xã hội xuất hiện các quan hệ xã hội mới, tương đối
đa dạng, phức tạp các quy tắc đạo đức, phong tục tập quán... không điều chỉnh hết hoặc điều
chỉnh không hiệu quả hoặc không thể điều chỉnh được. Trong điều kiện đó, nhà nước xuất
13
hiện, để tổ chức, quản đời sống hội phức tạp đó, nhà nước từng bước làm xuất hiện một
loại quy tắc ứng xử mới, đó chính pháp luật. Thông qua nhà nước, pháp luật hình thành bằng
các con đường, một là, nhà nước thừa nhận các quy tắc xử sự có sẵn trong xã hội nhưng phù hợp
với ý chí của nhà nước, nâng chúng lên thành pháp luật; hai là, nhà nước thừa nhận cách giải
quyết các vụ việc cụ thể trong thực tế, sử dụng làm khuôn mẫu để giải quyết các vụ việc khác có
tính tương tự; ba là, nhà nước đặt ra các quy tắc xử sự mới.
13.Trình bày khái niệm pháp luật và bản chất của pháp luật.`
*Bản chất: PL luôn mang tính giai cấp:
- PL thể hiện ý chí NN của giai cấp thống trị. Giai cấp thống trị nắm trong tay quyền lực, thông
qua NN để thể hiện ý chí của giai cấp mình một cách tập trung, thống nhất hợp pháp hóa
thành ý chí của NN. Ý chí đó được cụ thể hóa trong các văn bản PL do các quan thẩm
quyền của NN ban hành.
- Tính giai cấp của PL còn thể hiện mục đích điều chỉnh các quan hệ xã hội. Mục đích của PL
trước hết nhằm điều chỉnh quan hệ giữa các giai cấp, tầng lớp trong xã hội. Vì vậy, PL là nhân tố
để điều chỉnh về mặt giai cấp các quan hệ xã hội nhằm hướng các quan hệ xã hội phát triển theo
một “trật tự” phù hợp với ý chí của giai cấp thống trị, bảo vệ và củng cố địa vị của giai cấp thống
nhất.
- PL do NN đại diện chính thức của toàn xã hội nên còn thể hiện ý chí nguyện vọng và lợi ích
của các giai tầng khác trong hội, vậy PL mang tính xã hội. PL dc xây dựng trên cơ sở của
đời sống xh, phương tiện để NN quản trật tự xh. Ghi nhận bảo vệ lợi ích của các giai
cấp tầng lớp khác: PL với kinh tế: kinh tế giữ vai trò quyết định đối với PL. Chế độ kinh tế là
sở của PL, sự thay đổi của chế độ kinh tế sẽ dẫn đến sự thay đổi về pháp luật. PL với chính
trị: PL 1 trong những hình thức biểu hiện cụ thể của chính trị. Đường lối của giai cấp thống trị
luôn giữ vai trò chủ đạo đối với PL. PL với đạo đức: PL luôn phản ánh đạo đức của giai cấp cầm
quyền. PL với NN: 2 hiện tượng thuộc tầng chính trị - pháp lý, luôn có mối quan hệ chặt chẽ,
bổ sung cho nhau.
14.Phân tích mối quan hệ giữa pháp luật với kinh tế, pháp luật với chính trị và liên hệ vào
điều kiện Việt Nam hiện nay.`
a. Trong mối quan hệ với kinh tế, pháp luật tính độc lập tương đối. Một mặt, pháp luật do
điều kiện kinh tế quyết định. Mặt khác, pháp luật lại có sự tác động trở lại mạnh mẽ đối với kinh
tế. Chế độ kinh tế sở của pháp luật. Pháp luật phản ánh trình độ phát triển của kinh tế, nó
không thể cao hơn hoặc thấp hơn trình độ kinh tế. Nhưng pháp luật tác động trở lại với nền kinh
tế: Khi pháp luật phản ánh đúng trình độ phát triển của kinh tế thì pháp luật có nội dung tiến bộ
tác dụng tích cực; Ngược lại khi pháp luật thể hiện ý chí của giai cấp thống trị đã lỗi thời,
dùng pháp luật để duy trì các quan hệ kinh tế lạc hậu thì lúc đó pháp luật tác động vào kinh tế
theo chiều hướng tiêu cực, kìm hãm sự phát triển của kinh tế.
b. Trong mối quan hệ với chính trị, pháp luật một trong những hình thức biểu hiện cụ thể
của chính trị. Đường lối, chính sách của giai cấp thống trị: luôn giữ vai trò chủ đạo đối với pháp
luật. Đường lối chính trị thể hiện trước hết chính sách kinh tế. Các chính sách đó được cụ thể
hóa trong pháp luật thành những quy định chung, thống nhất trong toàn hội. Chính trị còn là
14
mối quan hệ giữa các giai cấp và lực lượng khác nhau trong XH trên tất cả các lĩnh vực. => Pháp
luật không chỉ phản ánh các chính sách kinh tế còn thể hiện các quan hệ giai cấp và mức độ
của cuộc đấu tranh giai cấp.
*Liên hệ điều kiện VN hiện nay:
Về PL KT: Trong nền kinh tế thị trường định hướng XHCN Việt Nam hiện nay, pháp luật
đóng vai trò quan trọng trong việc định hướng, hướng dẫn, tạo khung cho việc tổ chức, hoạt
động phát triển của nền kinh tế. Pháp luật xác định rõ chế độ kinh tế, các thành phần kinh tế,
các hình thức sở hữu, chính sách tài chính. Trên sở Điều 51, Hiến pháp 2013, hàng loạt các
đạo luật, bộ luật về kinh tế - dân sự - lao động ra đời như Bộ Luật Dân sự, Bộ Luật Lao động,
Luật Doanh nghiệp, Luật Đầu tư... => Kinh tế tác động trở lại pháp luật vì các bộ luật này trong
nền kinh tế bao cấp không thể có. Pháp luật bảo vệ môi trường từng bước được hình thành đem
lại tác động tích cực, bảo vệ tài nguyên thiên nhiên. Pháp luật hạn chế những rủi ro, khuyết tật
của kinh tế thị trường. Nhìn chung, nếu thiếu đi pháp luật, nền kinh tế thị trường của nước ta
trong thời kỳ quá độ sẽ rất khó vận hành hoặc vận hành thiếu hiệu quả. Do đó, cần chú trọng mối
quan hệ giữa pháp luật với kinh tế để xây dựng đất nước.
Về PL_CT: Hệ thống chính trị Việt Nam gắn liền với vai trò tổ chức lãnh đạo của Đảng
Cộng sản Việt Nam - chính đảng duy nhất lãnh đạo cầm quyền. Pháp luật trong vai trò hình
thành, tổ chức bộ máy nhà nước quy định quyền hạn, nhiệm vụ, trách nhiệm và phương pháp
tổ chức hoạt động phù hợp. Bộ máy nhà nước Việt Nam đang ngày càng được hoàn thiện nên các
bộ luật liên tục được sửa đổi, bổ sung như: Luật tổ chức chính phủ (Cơ quan hành pháp), Luật tổ
chức quốc hội (Cơ quan lập pháp), Luật tổ chức tòa án nhân dân Luật tổ chức viện kiểm sát nhân
dân (Cơ quan pháp)... Pháp luật chính trị trong quan hệ ngoại giao giữa các quốc gia: Tạo
môi trường ổn định cho việc thiết lập mối quan hệ ngoại giao giữa các quốc gia. Pháp luật với
đường lối chính sách của giai cấp thống trị, thể chế hóa đường lối, chính sách của Đảng, phù hợp
với quá trình đổi mới và hội nhập.
15.Phân tích mối quan hệ giữa pháp luật với nhà nước, pháp luật với đạo đức liên hệ
thực tiễn Việt Nam hiện nay.`
- Giữa nhà nước và pháp luật có mối liên hệ mật thiết với nhau:
+ Nhà nước pháp luật hai hiện tượng hội luôn gắn liền với nhau, do đó nguyên nhân về
sự ra đời của nhà nước cũng nguyên nhân làm xuất hiện pháp luật. Nhà nước tổ chức đặc
biệt của quyền lực chính trị, được thực hiện và có hiệu lực trên cơ sở pháp luật. Còn pháp luật do
nhà nước ban hành bảo đảm thực hiện. Nhà nước đại diện cho sức mạnh còn pháp luật đại
diện cho ý chí.
+ Sự tác động của nhà nước đến pháp luật thể hiện trước hết việc nhà nước ban hành, thay
đổi, hủy bỏ, hoàn thiện pháp luật, bảo vệ pháp luật khỏi sự vi phạm, bảo đảm pháp luật, đưa pháp
luật vào đời sống. Pháp luật là phương tiện kiểm soát hoạt động nhà nước, xác định giới hạn cho
phép hay không cho phép, đảm bảo sự kiểm soát đối với nhà nước bằng pháp luật mà quy định
cấu tổ chức bên trong hoạt động của nhà nước, của các quan nhà nước. Việc đổi mới,
hoàn thiện nhà nước pháp luật chỉ thực sự ý nghĩa hiệu quả khi được tiến hành song
15
song, đồng bộ trên sở giám sát tham gia, đánh giá khách quan của toàn hội. Hiệu lực,
hiệu quả của nhà nước và pháp luật tác động phụ thuộc lẫn nhau.
+ Liên hệ: Trước đổi mới, Đảng và Nhà nước ta có thực hiện chính sách ngoại giao khép kín. Hệ
thống pháp luật của nước ta ngăn cấm các hoạt động đầu của bản nước ngoài vào. Tuy
nhiên từ khi mở cửa hội nhập nền kinh tế Nhà nước đã đặt quan ngoại giao với hơn 180
quốc gia vùng lãnh thổ trên thế giới. Trước tình hình đó pháp luật của Việt Nam đã có những
thay đổi để phù hợp với xu thế chung. Đặc biệt, Nhà nước ta đã có nhiều  chính sách nhằm thu
hút nguồn vốn đầu tư nước ngoài như tạo môi trường đầu tư thông thoáng, giảm các loại thuế, rút
gọn các thủ tục... Những chính sách đó đã được thể hiện tập trung trong pháp  luật Việt Nam hiện
hành. 
- Mối quan hệ giữa pháp luật và đạo đức
Pháp luật đạo đức mối quan hệ tác động tương hỗ với nhau nhằm thực hiện nhiệm vụ điều
chỉnh hành vi xử sự của con người duy trì trật tự hội. vậy giữa pháp luật đạo đức
luôn có một mối quan hệ mật thiết, gắn bó chặt chẽ và tác động qua lại lẫn nhau.
+ Thứ nhất tác động của đạo đức tới pháp luật: thể thấy đạo đức là nền tảng tinh thần
để thực hiện các quy định của pháp luật. Các nhân trong hội thực hiện một hành vi pháp
luật hợp pháp không phải họ hiểu các quy định của pháp luật thể do xuất phát từ các
quy tắc của đạo đức. Nhiều quy tắc, yêu cầu, đòi hỏi các chuẩn mực đạo đức được nhà nước sử
dụng và nâng lên thành quy phạm pháp luật.
+ Thứ hai tác động của pháp luật với đạo đức: Pháp luật không chỉ sự ghi nhận các
chuẩn mực đạo đức, còn công cụ phương tiện bảo vệ chuẩn mực đạo đức một cách hữu
hiệu bằng các biện pháp, chế tài cụ thể. Pháp luật vai trò to lớn trong việc duy trì, bảo vệ và
phát triển các quy tắc đạo đức phù hợp, tiến bộ trong xã hội.
+ Liên hệ: Pháp luật tác động đến đạo đức thể hiện rất rõ qua nhiều khía cạnh.
+ Trong Luật Hôn nhân gia đình năm 2014 theo quy định tại điều 8 thì điều kiện kết hôn như
sau:
” Điều 8. Điều kiện kết hôn
1. Nam, nữ kết hôn với nhau phải tuân theo các điều kiện sau đây:
a) Nam từ đủ 20 tuổi trở lên, nữ từ đủ 18 tuổi trở lên;
b) Việc kết hôn do nam và nữ tự nguyện quyết định;
c) Không bị mất năng lực hành vi dân sự;
d) Việc kết hôn không thuộc một trong các trường hợp cấm kết hôn theo quy định tại các điểm a,
b, c và d khoản 2 Điều 5 của Luật này”.
=> Pháp luật đã bỏ các chuẩn mực đạo đức lỗi thời, loại bỏ tư tưởng cha mẹ đặt đâu con ngồi đó,
tảo hôn, kết hôn sớm...
16. Phân tích các thuộc tính cơ bản của pháp luật.`
Tính quy phạm phổ biến:
PL những quy tắc xử sự chung, khuôn mẫu, thước đo hành vi xử sự của con người trong
những trường hợp cụ thể. Trong hội, không phải chỉ pháp luật mới tính quy phạm. Các
16
quan hệ hội còn được điều chỉnh bởi các quy phạm hội khác nhau như đạo đức, tôn giáo,
tập quán..song không mang tính phổ biến. Trong khi đó, pháp luật lại điều chỉnh hành vi của mọi
người cũng như của mọi cơ quan nhà nước , các tổ chức.
-VD: Luật đội bảo hiểm, được áp dụng cho toàn thể mọi người. Nếu không chấp hành sẽ bị
phạt hành chính.
Tính xác định chặt chẽ về mặt hình thức, rõ ràng về ND.
Đặc trưng của pháp luật phải ràng, chuẩn xác nội dung của pháp luật bằng các điều khoản ,
văn bản quy phạm pháp luật và hệ thống văn bản quy phạm pháp luật tương xứng.
VD: Về hình thức, luôn ràng, sạch đẹp; không tồn tại dấu “..v.v..”, “…”. Chương
->Điều->Khoản.
Về nội dung, sử dụng câu chữ trong ngành luật như: “cá thể”, “người”, …
Nếu như pháp luật không đủ, không rõ, không chính xác và đặc biệt bản thân nó chứa đựng mâu
thuẫn thị pháp luật sẽ tạo ra những kẽ hở cho sự lạm quyền, vi phạm pháp luật.
Tính cưỡng chế nhà nước.
PC do nhà nước ban hành hoặc thừa nhận, được đảm bảo thực hiện bằng sức mạnh cưỡng chế
của quyền lực nhà nước. Có các biện pháp cao hơn là cưỡng chế cần thiết, giải pháp thuyết phục,
khuyến khích… để đảm bảo PL được thực hiện đúng nghiêm chỉnh. Việc tuân thủ PL không
phụ thuộc vào ý chí chủ quan của các cá nhân mà phụ thuộc vào mức độ vi phạm của cá nhân đó
đối với PL. Mỗi quốc gia, dân tộc các tầng lớp khác nhau. vậy PL được xây dựng thể
phù hợp với giai cấp này nhưng mâu thuẫn với giai cấp khác PL cần có tính cưỡng chế thì mới
có thể giải quyết mâu thuẫn.
VD: Nếu không chấp hành sẽ bị phạt.
17.Trình bày bản chất của pháp luật xã hội chủ nghĩa.`
*Khái niệm: PL XHCN hệ thống những quy tắc xử sự của con người thể hiện ý chí của giai
cấp công nhân nhân dân lao động dưới sự lãnh đạo của Đảng cộng sản, do NN hội chủ
nghĩa ban hành bảo đảm thực hiện bằng sức mạnh cưỡng chế của NN trên sở giáo dục,
thuyết phục mọi người tôn trọng và thực hiện.
*Bản chất của PL XHCN
- Xét về góc độ chung, PL xhcn có bản chất vừa thể hiện tính giai cấp vừa thể hiện tính xh và có
những đặc trưng bản của PL nói chung. Tuy nhiên dựa trên sở kinh tế, chính trị, xh của
cnxh, cho nên PL xhcn có những đặc thù riêng
a. PL XHCN là hệ thống các quy tắc xử sự có tính thống nhất nội tại cao.
Tính hệ thống của PL nói lên sự đa dạng của các quy phạm PL do các cơ quan nhà nước có
thẩm quyền ban hành trong những thời điểm khác nhau để điều chỉnh các quan hệ xh tương ứng
trên các lĩnh vực của đời sống xh. Mặc dù hệ thống pháp luật bao gồm nhiều loại quy phạm khác
nhau... nhưng tất cả đều thống nhất với nhau. Là 1 hệ thống quy phạm đồng bộ, bởi vì chúng đều
chung 1 bản chất của giai cấp công nhân, pháp luật xhcn được xây dựng trên cơ sở của quan
hệ kinh tế xhcn.
b. PL xã hội chủ nghĩa thể hiện ý chí của giai cấp công nhân và đông đảo nhân dân lao động
PL hội chủ nghĩa cũng giống như các kiểu PL khác thể hiện ý chí của giai cấp cầm
quyền và là công cụ bảo vệ lợi ích của giai cấp cầm quyền. Tuy nhiên, nếu như các kiểu PL trước
đều một đặc điểm chung bảo vệ cho quyền lợi của một thiểu số giai cấp bóc lột thì PL xã
hội chủ nghĩa “là PL thực sự dân chủ bảo vệ quyền tự do, dân chủ rộng rãi cho nhân dân
lao động”, số đông, chiếm đại đa số trong dân cư. Đây điểm khác nhau bản của PL
17
hội chủ nghĩa đối với các kiểu PL khác. Điều đó vì: PL xhcn thể hiện ý chí của giai cấp công
nhân và nhân dân lao động, được ban hành bởi NN xã hội chủ nghĩa, bản chất của NN xã hội chủ
nghĩa là NN dân chủ, tất cả quyền lực thuộc về nhân dân.
c. Pháp luật xhcn do nhà nước ban hành và bảo đảm thực hiện
Pháp luật nói chung đều do nhà nước ban hành pháp luật bao giờ cũng thể hiện ý chí của nhà
nước, hình thành bằng con đường nhà nước, phạm vi tác động rất lớn, tới tất cả mọi chủ thể
trong hội. Pháp luật được nhà nước bảo đảm thực hiện cho nên đối với hành vi vi phạm pháp
luật, tùy theo mức độ khác nhau, nhà nước sẽ áp dụng các biện pháp cưỡng chế cần thiết. Ở nhà
nước xhcn, các biện pháp cưỡng chế thường được áp dụng kết hợp dựa trên sở các biện
pháp giáo dục và thuyết phục.
d. PL XHCN có quan hệ chặt chẽ với chế độ kinh tế xã hội chủ nghĩa.
Chế độ kinh tế giữ vai trò quyết định đối với pháp luật, pháp luật luôn phản ánh trình độ phát
triển của chế độ kinh tế xhcn. Mọi sự thay đổi của chế độ kinh tế sẽ dẫn đến những thay đổi
tương ứng của pháp luật. Ngược lại pháp luật sẽ tác động trở lại 1 cách mạnh mẽ đối với sự
phát triển của chế độ kinh tế xhcn.
e. PL XHCN có quan hệ mật thiết với đường lối của Đảng cộng sản.
Đường lối, chính sách của đảng giữ vai trò chỉ đạo, là phương hướng xây dựng pháp luật, chỉ
đạo nội dung pháp luật và chỉ đạo việc tổ chức thực hiện, áp dụng pháp luật. Pháp luật luôn phản
ánh đường lối của đảng, sự thể chế hóa đường lối, chính sách của đảng thành các quy định
chung thống nhất trên quy mô toàn xh. Cho nên khi xây dựng và tổ chức thực hiện pháp luật phải
thấm nhuần đường lối, chính sách của đảng để thể chế hóa thành hệ thống các quy phạm pháp
luật cho phù hợp
f. PL XHCN có quan hệ qua lại với các quy phạm xã hội khác trong CNXH.
Pháp luật Xhcn luôn quan hệ chặt chẽ với các quy phạm xh khác như quy phạm đạo đức,
quy tắc xử sự của các tổ chức xh đoàn thể quần chúng. Bên cạnh quy phạm pháp luật, quy
phạm đạo đức còn tồn tại các quy phạm do tổ chức xh đề ra nhằm điều chỉnh trong nội bộ của
các tổ chức đó như: quy định kết nạp hội viên, quy định mục đích, nguyên tắc hoạt động. Để
pháp luật thể hiện đúng bản chất của mình, đồng thời phù hợp với điều kiện kinh tế - xh trong
mỗi giai đoạn cần phải xem xét giải quyết tốt các mối quan hệ của pháp luật với các hiện
tượng trên.
18.Trình bày khái niệm quy phạm pháp luật và phân tích cơ cấu của quy phạm pháp luật.`
1. Quy phạm pháp luật là gì?
Quy phạm pháp luật là một loại quy phạm xã hội, là những quy tắc xử sự chung bắt buộc mọi
người thực hiện, do nhà nước xác lập, ban hành bảo đảm việc thực hiện, để điều chỉnh các
hành vi của cá nhân hoặc tổ chức theo ý chí của nhà nước.
2. Cơ cấu của quy phạm pháp luật
Quy phạm pháp luật phải rõ ràng, chính xác, vì vậy nó phải có cơ cấu đầy đủ, được xác định
bởi ba bộ phận cấu thành, bao gồm: giả định, quy định và chế tài .
- Giả định
+ Khái niệm: Giả định một phần của quy phạm pháp luật trong đó nêu ra những tình huống
(hoàn cảnh, điều kiện) thể xảy ra trong đời sống hội quy phạm pháp luật sẽ tác động
đối với những chủ thể (tổ chức, nhân) nhất định, nói cách khác giả định nêu lên phạm vi tác
18
động của quy phạm pháp luật đối với nhân hay tổ chức nào? Trong những hoàn cảnh, điều
kiện nào?
- Quy định
+ Khái niệm: Quy định bộ phận của quy phạm pháp luật trong đó nêu cách xử sự mà tổ chức
hay nhân vào hoàn cảnh, điều kiện đã nêu trong bộ phận giả định của quy phạm pháp luật
được phép hoặc buộc phải thực hiện. Bộ phận quy định trả lời cho câu hỏi: “Phải làm gì? Được
làm gì? Không được làm gì? Làm như thế nào?
dụ về quy phạm pháp luật: Điều 1, Pháp lệnh thuế nông nghiệp có viết: “Mọi tổ chức và cá
nhân sử dụng đất nông nghiệp các loại đất khác vào sản xuất nông nghiệp thì phải nộp thuế
nông nghiệp.” Trong quy phạm này bộ phận quy định (phải làm gì?) là: “phải nộp thuế nông
nghiệp”.
- Chế tài
+ Khái niệm: Chế tài một bộ phận của quy phạm pháp luật nêu lên những biện pháp tác động
nhà nước dự kiến để đảm bảo cho pháp luật được thực hiện nghiêm chỉnh. Các biện pháp tác
động nêu bộ phận chế tài sẽ được áp dụng đối với tổ chức hay cá nhân nào vi phạm pháp luật,
không thực hiện đúng mệnh lệnh của nhà nước đã nêu bộ phận quy định của quy phạm pháp
luật.
dụ quy phạm pháp luật: Khoản 1 Điều 100 Bộ luật hình sự 1999 đã nêu: “Người nào đối xử
tàn ác, thường xuyên ức hiếp, ngược đãi hoặc làm nhục người lệ thuộc mình làm người đó tự sát,
thì bị từ hai năm đến bảy năm.” Bộ phận chế tài của quy phạm này là “thì bị tù từ hai đến bảy
năm”.
19.Văn bản quy phạm pháp luật gì? Trình bày các loại văn bản quy phạm pháp luật
Việt Nam hiện nay.`
*Khái niệm: Văn bản quy phạm pháp luật văn bản do quan nhà nước ban hành hoặc phối
hợp ban hành theo thẩm quyền, hình thức, trình tự, thủ tục theo luật định, trong đó có quy tắc xử
sự chung, hiệu lực bắt buộc chung, được Nhà nước bảo đảm thực hiện để điều chỉnh các quan
hệ xã hội.
*Phân loại:
Văn bản luật: văn bản quy phạm pháp luật do Quốc hội, cơ quan quyền lực nhà nước
cao nhất ban hành
- Hiến pháp: quy định những vấn đề bản của nhà nước như: hình thức, bản chất của nhà
nước; chế độ chính trị, chế độ kinh tế, văn hóa, hội, quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân,
hệ thống tổ chức, nguyên tắc hoạt động và thẩm quyền của các cơ quan nhà nước
- Luật: Luật quy định những vấn đề cơ bản, quan trọng thuộc các lĩnh vực về đối nội, đối ngoại,
nhiệm vụ kinh tế - hội, quốc phòng, an ninh của đất nước, những nguyên tắc chủ yếu về tổ
chức và hoạt động của bộ máy nhà nước, về quan hệ xã hội và hoạt động của công dân
- Nghị quyết: Nghị quyết của Quốc hội có chứa đựng quy phạm pháp luật là những văn bản quy
phạm pháp luật do Quốc hội ban hành để cụ thể hóa Hiến pháp, nhằm điều chỉnh các quan hệ xã
hội trong các lĩnh vực hoạt động của nhà nước
Văn bản QPPL dưới luật:
19
- Ủy ban thường vụ Quốc hội
+ Pháp lệnh: quy định về những vấn đề được Quốc hội giao cho, 1 số pháp lệnh sau 1 thời gian
được thực hiện có thể được Quốc hội xem xét, quyết định ban hành thành luật
+ Nghị quyết: giải thích Hiến pháp, luật, pháp lệnh, giám sát việc thi hành Hiến pháp, văn bản
QPPL của Quốc hội
- Chủ tịch nước: Lệnh, quyết định để thực hiện những nhiệm vụ, quyền hạn của Chủ tịch nước
do Hiến pháp, luật quy định
- Chính phủ: nghị định quy định chi tiết thi hành luật, nghị quyết của QH; pháp lệnh, nghị quyết
của UBTVQH; lệnh, quyết định của Chủ tịch nước; quy định nhiệm vụ, quyền hạn, tổ chức bộ
máy của các bộ, quan ngang bộ, quan thuộc Chính phủ…. Quy định những vấn đề hết sức
cần thiết nhưng chưa đủ điều kiện xây dựng thành luật hoặc pháp lệnh để đáp ứng nhu cầu quản
lý nhà nước, quản lý kinh tế, xã hội
- Thủ tướng chính phủ: Quyết định: quyết định các chủ trương, biện pháp lãnh đạo, điều hành
hoạt động của Chính phủ và hệ thống hành chính nhà nước từ TW đến cơ sở….
- Bộ trưởng, Thủ tướng quan ngang bộ; Chánh án TANDTC; Viện trưởng VKSNDTC:
Thông tư, thông tư liên tịch
- Tổng kiểm toán nhà nước: quyết định
- UBTVQH/Chính phủ; cơ quan TW của các tổ chức chính trị - xã hội: nghị quyết liên tịch
- Hội đồng thẩm phán TANDTC: nghị quyết
- HĐND: Nghị quyết
-UBND: Quyết định, chỉ thị
20. Phân tích các yếu tố cấu thành quan hệ pháp luật. Lấy ví dụ minh họa.`
Quan hệ pháp luật các quan hệ hội được điều chỉnh bởi các quy phạm pháp luật khác
nhau, những quan hệ hội này xác lập, phát triển, tồn tại hay chấm dứt dựa trên quy định của
pháp luật, các bên tham gia vào quan hệ đó là những chủ thể có quyền chủ thể và nghĩa vụ pháp
phát sinh được pháp luật quy định và Nhà nước sẽ bảo đảm thực hiện. Quan hệ pháp luật được
cấu thành bởi chủ thể, nội dung và khách thể. Trong đó:
- Chủ thể quan hệ pháp luật là cá nhân, tổ chức phải có năng lực pháp luật, năng lực hành vi phù
hợp phù hợp để tham gia vào các quan hệ đó và thực hiện các quyền, lợi ích hợp pháp cũng như
nghĩa vụ pháp lý theo quy định.
+ Chủ thể quan hệ pháp luật nhân: Năng lực pháp luật của cá nhân là khả năng để cá nhân
đó quyền nghĩa vụ dân sự. Còn năng lực hành vi dân sự của nhân khả năng
nhân đó bằng hành vi của mình để xác lập, thực hiện quyền và nghĩa vụ dân sự.
+ Chủ thể quan hệ pháp luật tổ chức: Năng lực pháp luật dân sự năng lực hành vi sẽ xuất
hiện đồng thời khi tổ chức đó thành lập theo quy định của pháp luật và chấm dứt tư cách pháp lý
khi bị phá sản, giải thể.
- Nội dung của quan hệ pháp luật bao gồm quyền và nghĩa vụ của chủ thể.
+ Quyền của chủ thể trong quan hệ pháp luật: là khả năng xử sự của những người tham gia quan
hệ pháp luật được quy phạm pháp luật xác định trước và được bảo đảm thực hiện bằng nhà nước.
+ Nghĩa vụ của chủ thể trong quan hệ pháp luật: cách xử nhà nước bắt buộc chủ thể phải
thực hiện nhằm đáp ứng việc hưởng quyền của chủ thể khác.
20

Preview text:

CÂU HỎI ÔN THI
MÔN PHÁP LUẬT ĐẠI CƯƠNG 1.
Trình bày quan điểm của Chủ nghĩa Mác-Lênin về nguồn gốc của nhà nước.`
Khái niệm NN: NN là một tổ chức đặc biệt của quyền lực chính trị, có một bộ máy chuyên làm
nhiệm vụ cưỡng chế và thực hiện các chức năng quản lý đặc biệt nhằm thực hiện những mục
đích và bảo vệ lợi ích của giai cấp thống trị trong xã hội có giai cấp đổi kháng.
*Nguồn gốc:
- Các nhà kinh điển chủ nghĩa Mác-Lênin đã chỉ ra rằng: nhà nước không phải là hiện tượng vĩnh
cửu, bất biến, mà là một phạm trù lịch sử có quá trình phát sinh, phát triển và tiêu vong. Theo
học thuyết Mác-Lênin, nhà nước là sản phẩm của những biến đổi trực tiếp ngay trong lòng xã hội
công xã nguyên thủy. Công xã nguyên thủy là hình thái kinh tế xã hội đầu tiên trong lịch sử xã
hội loài người, một xã hội không biết đến giai cấp, nhà nước và pháp luật.
Chế độ cộng sản nguyên thủy và tổ chức thị tộc, bộ lạc. - Cơ sở kinh tế:
+ Chế độ sở hữu chung về tư liệu sản xuất và sản phẩm lao động.
+ Phân phối sản phẩm theo nguyên tắc bình quân.
+ Phân công lao động mang tính tự nhiên theo giới tính và độ tuổi. - Cơ sở xã hội:
+ Tổ chức xã hội giản đơn; Thị tộc là tế bào cấu thành của xã hội
+ Thị tộc được tổ chức theo huyết thống, là đơn vị kinh tế vừa sản xuất vừa tiêu dùng, tất cả mọi
người đều tự do, bình đẳng, không ai có đặc quyền, đặc lợi
+ Thị tộc trở thành hình thức tự quản đầu tiên, ở mức độ thấp, tổ chức đơn giản, tập hợp nhiều
thị tộc gần gũi nhau về huyết tộc và địa bàn cư trú trở thành bạo tộc. Nhiều bạo tộc kết hợp thành
bộ lạc, đơn vị lớn nhất của xã hội là liên minh các bộ lạc.
+ Đã xuất hiện nhu cầu quản lý, điều hành các hoạt động xã hội.
+ Muốn quản lý và điều hành xã hội phải cố quyền lực, tức là khả năng bắt các tổ chức và cá
nhân trong xã hội phải phục tùng ý chí của một chủ thể nhất định. Tồn tại hệ thống quản lý các
công việc của thị tộc.
+ Đã có quyền lực với hiệu lực từ tế cao: đó là quyền lực xã hội được tổ chức thực hiện dựa trên
cơ sở của những nguyên tắc dân chủ thực sự, xuất phát từ xã hội và phục vụ lợi ích cho toàn bộ
cộng đồng, không có bộ máy riêng để thực hiện cưỡng chế
+ Sự tan rã của tổ chức thị tộc và sự xuất hiện nhà nước: theo quan điểm chủ nghĩa Mác-Lênin
nguyên nhân trực tiếp làm xuất hiện nhà nước, đó là sự phân hóa xã hội thành giai cấp với những
quyền lợi đối kháng: nhà nước là sản phẩm và biểu hiện của những mâu thuẫn giai cấp không thể điều hòa được
Sự tan rã của chế độ cộng sản nguyên thủy, thị tộc và sự xuất hiện của nhà nước: - Cơ sở kinh tế
+ Lực lượng sản xuất phát triển, con người nâng cao thể lực, trí lực và kinh nghiệm lao động;
công cụ lao động cải tiến bằng việc con người phát hiện ra kim loại.
+ Phân công lao động xã hội: ở thời kỳ cuối của chế độ cộng sản nguyên thủy đã lần lượt xảy ra
ba lần phân công lao động xã hội lớn:
Lần một: chăn nuôi tách khỏi trồng trọt.
Lần hai: Thủ công nghiệp tách khỏi nông nghiệp.
Lần ba: buôn bán phát triển và thương nghiệp xuất hiện 1
⇒ năng suất lao động tăng, sản phẩm làm ra ngày càng nhiều do đó, đã phát sinh khả năng
chiếm đoạt sản phẩm dư thừa làm của riêng. Tư hữu xuất hiện. - Cơ sở xã hội
+ Hoạt động sản xuất phát triển
+ Không đòi hỏi phải lao động tập thể
+ Gia đình hình thành trở thành đơn vị sản xuất độc lập.
+ Phân hóa giàu nghèo rõ, thành hai bộ phận đối lập: số ít là người giàu có, chiếm giữ nhiều tư
liệu sản xuất → giai cấp bóc lột. Đại đa số nghèo khó → giai cấp bị bóc lột
+ Giai cấp xuất hiện và mâu thuẫn giai cấp không thể điều hòa được → nhà nước ra đời
2.Trình bày khái niệm nhà nước và phân tích bản chất của nhà nước.` *Phân tích bản chất:
Bản chất NN là tất cả các phương diện cơ bản quy định sự tồn tại và phát triển của NN. Nhà
nước là thể thống nhất về tính xã hội và tính giai cấp
* Tính giai cấp của nhà nước:
NN là bộ máy do giai cấp thống trị lập ra, có nhiệm vụ bảo vệ cho lợi ích của giai cấp thống trị.
Sự thống trị của giai cấp này đối với giai cấp khác thể hiện dưới ba hình thức: quyền lực kinh tế,
quyền lực chính trị và quyền lực tư tưởng.
+ Quyền lực kinh tế: giữ vai trò quyết định, là cơ sở bảo đảm sự thống trị giai cấp. Quyền lực
kinh tế thuộc về giai cấp nắm trong tay tư liệu sản xuất trong xã hội, với tư liệu sản xuất trong
tay, chủ sở hữu có thể bắt người bị bóc lột phải phụ thuộc về mặt kinh tế. Nhờ có NN, giai cấp
nắm trong tay tư liệu sản xuất trở thành giai cấp thống trị về kinh tế.
+ Quyền lực chính trị: là bạo lực có tổ chức của một giai cấp để trấn áp giai cấp khác. NN là
một bộ máy bạo lực do giai cấp thống trị tổ chức ra để trấn áp các giai cấp đối kháng. Với ý
nghĩa đó, NN là một tổ chức đặc biệt của quyền lực chính trị. Giai cấp thống trị sử dụng NN là
công cụ để thực hiện quyền lực chính trị. Ý chí của giai cấp thống trị thông qua NN trở thành ý
chí của NN, ý chí của NN có sức mạnh buộc các giai cấp khác phải tuân theo một “trật tự” do
giai cấp thống trị đặc ra, phải phục vụ lợi ích của giai cấp thống trị.
+ Quyền lực về tư tưởng:
Giai cấp thống trị đã thông qua NN để xây dựng hệ tư tưởng của giai cấp mình thành hệ tư tưởng
thống trị trong xã hội, bắt các giai cấp khác phải lệ thuộc mình về mặt tư tưởng.
* Tính xã hội của NN:
Song nhà nước không chỉ có tính giai cấp mà còn có vai trò xã hội bởi lẽ NN được sinh ra không
chỉ do nhu cầu thống trị giai cấp mà còn do nhu cầu tổ chức và quản lý xã hội. Một NN sẽ không
thể tồn tại nếu chỉ phục vụ lợi ích của giai cấp thống trị mà không tính đến lợi ích, nguyện vọng
và ý chí của các giai tầng khác trong xã hội. Bên cạnh đó, NN phải đảm bảo các giá trị xã hội đã
đạt được, bảo đảm xã hội trật tự, ổn định và phát triển, thực hiện chức năng này hay chức năng
khác phù hợp với yêu cầu của xã hội
3.Trình bày khái niệm nhà nước và phân tích các đặc điểm cơ bản của nhà nước.`
*Phân tích đặc điểm cơ bản:
- Nhà nước thiết lập một quyền lực công đặc biệt. Quyền lực nhà nước chi phối quyền lực của
các tổ chức khác chỉ tác động trong phạm vi nội bộ của tổ chức mình và phải chịu sự chi phối
của quyền lực nhà nước. Để thực hiện quyền lực của mình, nhà nước có một lớp người đặc biệt 2
được tổ chức thành các cơ quan nhà nước chuyên làm nhiệm vụ quản lý và thực hiện sự cưỡng
chế đối với toàn xã hội (như quân đội, cảnh sát, tòa án, nhà tù...)
- Nhà nước tập hợp và quản lý dân cư theo lãnh thổ không phụ thuộc vào chính kiến, huyết
thống, nghề nghiệp hoặc giới tính ... Nhà nước thực thi quyền lực chính trị trên phạm vi toàn bộ
lãnh thổ. Mỗi nhà nước có lãnh thổ riêng, trên mỗi lãnh thổ lại phân thành các đơn vị hành chính nhỏ
- Nhà nước nắm giữ và thực hiện chủ quyền quốc gia. Chủ quyền quốc gia mang nội dung chính
trị pháp lý, nó thể hiện quyền độc lập tự quyết của một quốc gia trong việc đưa ra và thực hiện
những chính sách đối nội và đối ngoại không phụ thuộc vào các yếu tố bên ngoài.
- Nhà nước ban hành pháp luật và thực hiện sự quản lý bắt buộc đối với toàn xã hội. Với tư cách
là tổ chức đại diện chính thức của toàn bộ xã hội, nhà nước có quyền ban hành pháp luật – một
công cụ quản lý xã hội sắc bén và có hiệu quả nhất. Pháp luật do nhà nước ban hành có tính bắt
buộc chung, mọi tổ chức và cá nhân đều phải tôn trọng và thực hiện pháp luật.
- Nhà nước quy định và thu các loại thuế, ngoài ra còn phát hành tiền dưới các hình thức bắt
buộc, với số lượng và thời hạn ấn định trước. Nhà nước quy định và thu các loại thuế nhằm nuôi
bộ máy của nhà nước. Ngoài ra, nhà nước còn phải dùng nguồn tài chính của mình để xây dựng
các công trình và tiến hành các hoạt động chung vì lợi ích chung của toàn xã hội.
4.Kiểu nhà nước là gì? Trình bày đặc trưng của các kiểu nhà nước và sự thay thế các kiểu
nhà nước trong lịch sử.`

- Khái niệm: Kiểu nhà nước là tổng thể các dấu hiệu (đặc điểm) cơ bản của nhà nước thể hiện
bản chất của nhà nước và những điều kiện tồn tại và phát triển của nhà nước trong một hình thái
kinh tế - xã hội nhất định.
- Đặc trưng của các kiểu nhà nước:
Trong lịch sử xã hội có giai cấp đã tồn tại bốn hình thái kinh tế - xã hội : Chiếm hữu nô lệ, phong
kiến, tư bản chủ nghĩa và xã hội chủ nghĩa. Phù hợp với 4 kiểu quan hệ sản xuất ấy là 4 kiểu nhà nước:
(1)Kiểu nhà nước chủ nô
Là tổ chức quyền lực chính trị của giai cấp chủ nô. Nhà nước chủ nô ra đời trên cơ sở tan rã
của chế độ thị tộc, bộ lạc gắn liền với sự xuất hiện của chế độ tư hữu và sự phân chia xã hội
thành các giai cấp đối kháng. Bản chất của nhà nước chủ nô là thực hiện nền chuyên chính của
giai cấp chủ nô, duy trì sự thống trị và bảo vệ lợi ích của chủ nô; đàn áp nô lệ và tầng lớp lao động khác.
(2)Kiểu nhà nước phong kiến
Ra đời trên sự tan rã của chế độ chiếm hữu nô lệ hoặc xuất hiện trực tiếp từ sự tan rã của xã
hội cộng sản nguyên thủy. Cơ sở hình thành của nhà nước phong kiến là chế độ sở hữu của địa
chủ phong kiến với tư liệu sản xuất và nô lệ. Bản chất của nhà nước phong kiến là công cụ trong
tay giai cấp địa chủ phong kiến để thực hiện chuyên chính với giai cấp nông dân, thợ thủ công và
các tầng lớp lao động khác, là phương tiện duy trì địa vị kinh tế bảo vệ lợi ích và sự thống trị của địa chủ phong kiến. 3
(3)Kiểu nhà nước tư sản
Ra đời, tồn tại và phát triển trong lòng hình thái kinh tế – xã hội tư bản chủ nghĩa. Bản chất
của nhà nước tư sản do chính những điều kiện nội tại của xã hội tư sản quyết định, đó chính là cơ
sở kinh tế, cơ sở xã hội và cơ sở tư tưởng. Thiết lập nguyên tắc chủ quyền nhà nước trên danh
nghĩa thuộc về nhân dân; Thực hiện nguyên tắc phân chia quyền lực và kiềm chế, đối trọng giữa
các cơ quan lập pháp, hành pháp, tư pháp; Thực hiện chế độ đa nguyên, đa đảng trong bầu cử
nghị viện và tổng thống; hình thức chính thể phổ biến của nhà nước tư sản là cộng hòa và quân chủ lập hiến.
(4)Kiểu nhà nước xã hội chủ nghĩa
Cơ sở hình thành của nhà nước xã hội chủ nghĩa là quan hệ sản xuất dựa trên chế độ công
hữu về tư liệu sản xuất. Thiết lập và đảm bảo quyền lực nhà nước thuộc về nhân dân; Đảng Cộng
sản là lực lượng lãnh đạo nhà nước, lãnh đạo xã hội; Tất cả các cơ quan nhà nước đều được tổ
chức và hoạt động theo nguyên tắc tập trung dân chủ; quyền lực nhà nước thống nhất trên cơ sở
có sự phân công và phối hợp hoạt động giữa các cơ quan thực hiện các chức năng lập pháp, hành
pháp và tư pháp; đảm bảo sự đoàn kết, bình đẳng và tương trợ giữa các dân tộc
Các kiểu nhà nước chủ nô, phong kiến, tư sản có chung bản chất vì đều được xây dựng trên
cơ sở tư hữu về Tư liệu sản xuất, đều là những công cụ bạo lực, bộ máy chuyên chính của các
giai cấp bóc lột chống lại nhân dân lao động
Nhà nước Xã hội chủ nghĩa là kiểu nhà nước tiến bộ nhất và cuối cùng trong lịch sử nhân
loại có bản chất khác hẳn ba kiểu nhà nước trước đó vì được xây dựng trên cơ sở công hữu về Tư
liệu sản xuất và quan hệ thân thiện giữa những người lao động, do Nhân dân thiết lập và hoạt động vì Nhân dân.
- Sự thay thế các kiểu Nhà nước trong lịch sử:
Sự thay thế kiểu nhà nước này bằng kiểu nhà nước mới tiến bộ hơn là quy luật tất yếu. Quy
luật về sự thay thế các kiểu nhà nước phù hợp với quy luật về sự phát triển và thay thế của các
hình thái kinh tế - xã hội. Một kiểu nhà nước mới xuất hiện trong quá trình cách mạng khi giai
cấp cầm quyền cũ bị lật đổ và giai cấp thống trị mới giành được chính quyền. Các cuộc cách
mạng khác nhau diễn ra trong lịch sử đều tuân theo quy luật đó. Tuy nhiên quá trình thay thế các
kiểu nhà nước trên thế giới diễn ra không giống nhau và trên thực tế không phải xã hội nào cũng
đều tuần tự trải qua tuần tự bốn kiểu nhà nước trên. Chẳng hạn như nước ta đi lên chủ nghĩa xã
hội bỏ qua giai đoạn phát triển tư bản chủ nghĩa, vì thế kiểu nhà nước tư sản không tồn tại ở Việt Nam.
5.Hình thức nhà nước được hình thành từ các yếu tố nào? Hãy làm rõ các yếu tố đó?`
- KN: Là cách thức tổ chức quyền lực và những phương pháp để thực hiện quyền lực ấy. Hình
thức NN được hình thành từ 3 yếu tố: hình thức chính thể, hình thức cấu trúc NN và chế độ chính trị
a- Hình thức chính thể: Hình thức chính thể là cách tổ chức, cơ cấu, trình tự thành lập các cơ
quan NN cao nhất và mối liên hệ của chúng với nhau cũng như mức độ tham gia của nhân dân
vào việc thiết lập các cơ quan này. Hình thức chính thể gồm 2 dạng cơ bản là chính thể quân chủ và chính thể cộng hòa. 4
Chính thể quân chủ: là hình thức trong đó quyền lực tối cao của NN tập trung toàn bộ (hay
một phần) trong tay người đứng đầu NN (vua, hoàng đế…) theo nguyên tắc thừa kế. Chính thể
quân chủ tuyệt đối
: Là chính thể mà trong đó quyền lực nhà vua là tuyệt đối, có quyền lực vô hạn
không có hiến pháp. Chính thể quân chủ lập hiến: người đứng đầu NN chỉ nắm 1 phần quyền lực
tối cao và bên cạnh đó còn có 1 cơ quan quyền lực khác nữa.
Chính thể cộng hòa: là hình thức trong đó quyền lực tối cao của NN thuộc về một cơ quan
được bầu ra trong 1 thời gian nhất định. Tùy thuộc vào quyền bầu cử để thành lập các cơ quan tối
cao của quyền lực NN, hình thức chính thể cộng hòa được chia thành hai loại cơ bản là cộng hòa
dân chủ và cộng hòa quý tộc
.
Cộng hòa quý tộc: Quyền tham gia bầu cử để lập ra cơ quan quyền lực của NN chỉ quy định
thuộc về tầng lớp quý tộc. Loại hình thức chính thể này không phổ biến trong lịch sử, mà chỉ
xuất hiện trong một số nước như cộng hòa quý tộc chủ nô Spac ở Hy Lạp, cộng hòa quý tộc chủ
nô La Mã. Cộng hòa dân chủ: Là hình thức chính thể trong đó quyền tham gia bầu cử để lập ra
cơ quan quyền lực của NN thuộc về nhân dân, mang tính phổ thông, không có đặc quyền, đặc lợi.
- Các nước tư bản chủ nghĩa hình thức chính thể cộng hòa dân chủ biến dạng thành 3 loại sau:
Cộng hòa tổng thống: tổng thống do nhân dân trực tiếp bầu ra hoặc do các đại diện cử tri bầu ra,
có vai trò rất lớn, vừa là người đứng đầu NN, vừa là người đứng đầu chính phủ, có quyền giải
quyết các đạo luật do nghị viện đưa ra. Cộng hòa đại nghị: được đặc trưng bởi việc nghị viện
thành lập ra chính phủ và khả năng của nghị viện kiểm tra hoạt động của chính phủ. Tổng thống
do nghị viện bầu ra và có vai trò không lớn. Cộng hòa hỗn hợp là hình thức hỗn hợp giữa cộng
hòa tổng thống và cộng hòa đại nghị. Nghị viện thành lập ra chính phủ, thủ tướng bầu ra thủ tướng chính phủ.
- Các nước XHCN, hình thức chính thể cộng hòa dân chủ với các biến dạng là Công xã Paris,
Cộng hòa Xô-viết và Cộng hòa dân chủ nhân dân; NN XHCN chỉ nên sử dụng chính thể cộng
hòa vì nó cho phép thể hiện quyền lực nhân dân và tạo điều kiện để nhân dân có thể thay thế
nhau trong quản lý chính quyền.
b- Hình thức cấu trúc NN: là sự tổ chức NN theo các đơn vị hành chính lãnh thổ và mối quan
hệ giữa các cơ quan NN trung ương với các cơ quan NN địa phương. Các hình thức cấu trúc NN
bao gồm các loại: NN đơn nhất, NN liên bang. ●
NN đơn nhất: Là NN có chủ quyền chung, các bộ phận hợp thành NN là các đơn vị hành
chính lãnh thổ có chủ quyền quốc gia, đồng thời có các hệ thống cơ quan NN thống nhất từ trung
ương đến địa phương. Trong nước chỉ có 1 hệ thống pháp luật, mỗi công dân chỉ mang 1 quốc tịch VD: Việt Nam, Lào, Ba Lan ●
NN liên bang: Là NN có từ 2 hay nhiều nước thành viên hợp lại. Trong NN liên bang
không chỉ liên bang có các dấu hiệu của NN, mà các NN thành viên cũng có chủ quyền riêng và
ở mức độ này hay mức độ khác có dấu hiệu của NN. NN liên bang có 2 hệ thống cơ quan quyền
lực và quản lý: 1 hệ thống chung cho toàn liên bang và 1 hệ thống trong mỗi nước thành viên. Có
2 hệ thống pháp luật của bang và của liên bang. Công dân mang 2 quốc tịch
Ví dụ: Mỹ, Đức, Ấn Độ, Nga
c- Chế độ chính trị: Chế độ chính trị là tổng thể các phương pháp, cách thức mà các cơ quan NN
sử dụng để thực hiện quyền lực NN. Nhân tố chủ đạo trong khái niệm chế độ chính trị là phương
pháp cai trị và quản lý xã hội của giai cấp cầm quyền. Phương pháp thực hiện quyền lực NN của 5
các NN trong lịch sử rất đa dạng, nhưng tựu chung lại chúng gồm 2 loại chính: phương pháp dân chủ và phản dân chủ ●
Phương pháp dân chủ: có nhiều loại, thể hiện dưới các hình thức khác nhau như dân chủ
thực sự và dân chủ giả hiệu, dân chủ rộng rãi và dân chủ hạn chế, dân chủ trực tiếp và dân chủ gián tiếp ●
Phương pháp phản dân chủ: thể hiện tính chất độc tài, đáng chú ý nhất là khi phương
pháp cai trị và quản lý xã hội này phát triển đến mức độ cao sẽ trở thành những phương pháp tàn
bạo, quân phiệt và phát xít.
6.Phân tích bản chất của Nhà nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam.`
- Điều 2 Hiến pháp 2013 quy định: “NNCHXHCNVN là NN pháp quyền XHCN của nhân dân,
do nhân dân, vì nhân dân. Tất cả quyền lực NN thuộc về nhân dân mà nền tảng là liên minh giữa
giai cấp công nhân với giai cấp nông dân và đội ngũ trí thức”.
*Bản chất:
Nhân dân là chủ thể tối cao của quyền lực nhà nước
NN CHXHCNVN ngày nay là NN của dân, do dân mà nòng cốt là liên minh công nông trí
thức tự tổ chức và định đoạt quyền lực NN. Quyền lực NN Việt Nam không thuộc về 1 cá nhân
nào, 1 nhóm người nào mà thuộc về toàn thể nhân dân. Nhân dân sử dụng quyền lực của mình
thông qua các đại biểu quốc hội và đại biểu hội đồng nhân dân các cấp. Nhân dân có quyền kiểm
tra, giám sát hoạt động của bộ máy nhà nước, đồng thời có quyền khiếu nại, tố cáo hành vi vi
phạm pháp luật của cơ quan nhà nước, cán bộ công chức nhà nước. Nhân dân có quyền trực tiếp
đưa ra các kiến nghị với các cơ quan nhà nước có thẩm quyền. ●
NN CHXHCNVN là một NN dân chủ thực sự, có tính xã hội rộng rãi
Trong lĩnh vực kinh tế: NN thực hiện chủ trương tự do, bình đẳng về kinh tế, tạo ra những
điều kiện làm cho nền kinh tế đất nước có tính năng động, xây dựng quan hệ sản xuất phù hợp
với tính chất và trình độ phát triển của llsx. Chủ trương phát triển nền kinh tế hàng hóa nhiều
thành phần, đa sở hữu và hình thức tổ chức sản xuất, kinh doanh cho phép mọi đơn vị kinh tế đều
có thể hoạt động theo cơ chế tự chủ trong sản xuất, kinh doanh, hợp tác và cạnh tranh với nhau
và đều bình đẳng trước pháp luật. Bảo đảm lợi ích kinh tế của người lao động, coi đó là động lực, mục tiêu của dân chủ
Trong lĩnh vực chính trị: NN tạo cơ sở pháp lý vững chắc, trong đó quy định tất cả các quyền
tự do, dân chủ trong sinh hoạt chính trị, bảo đảm cho người dân được làm chủ về mặt chính trị.
NN xác lập và thực hiện cơ chế dân chủ đại diện thông qua chế độ bầu cử và bãi miễn đại biểu
nhân dân vào các cơ quan dân cử.. Bên cạnh đó, nhà nước chú trọng thiết lập và bảo đảm thực
hiện đầy đủ chế độ dân chủ trực tiếp, tạo điều kiện cho nhân dân tham gia thực sự vào công việc
quản lý NN, quản lý xã hội, tham gia đóng góp ý kiến, kiến nghị, thảo luận một cách dân chủ,
bình đẳng các vấn đề thuộc đường lối, chủ trương, chính sách, các dự thảo luật pháp quan trọng
làm cho nhân dân thực sự là chủ thể của những chủ trương, chính sách và văn bản pháp luật đó
Trong lĩnh vực tư tưởng văn hóa và xã hội: NN chủ trương tự do tư tưởng và giải phóng tinh
thần nhằm phát huy mọi khả năng của con người. NN quy định các quyền tự do trong lĩnh vực
văn hoá tư tưởng và bảo đảm cho mọi người thực hiện các quyền đó như tự do ngôn luận, tín
ngưỡng, nghỉ ngơi, lao động. NN chủ trương tự do tư tưởng, tuy nhiên cũng nghiêm cấm hành vi
lợi dụng tự do, dân chủ
để làm tổn hại lợi ích quốc gia, lợi ích dân tộc
NN thống nhất các dân tộc cùng sinh sống trên đất nước Việt Nam 6
NN Cộng hòa XHCN Việt Nam trong tất cả các thời kỳ phát triển của mình đều coi "đại đoàn kết
dân tộc" là một nguyên tắc cơ bản để thiết lập chế độ dân chủ, phát huy quyền lực nhân dân, bảo
đảm công bằng XH, đồng thời là cơ sở để tạo ra sức mạnh của một NN thống nhất. Chính sách
đại đoàn kết dân tộc thể hiện dưới bốn hình thức cơ bản của Nhà nước Việt Nam:
+ Một là, xây dựng một cơ sở pháp lý vững vàng cho việc thiết lập và củng cố khối đại đoàn kết dân tộc.
+ Hai là, NN tổ chức thực hiện trong các hoạt động cụ thể của mình và của toàn bộ hệ thống
chính trị để đảm bảo nguyên tắc đoàn kết dân tộc.
+ Ba là, trong khi tổ chức thực hiện, nhà nước luôn chú trọng việc ưu tiên đối với các dân tộc ít
người, các vùng núi, vùng sâu, vùng xa, tạo điều kiện để các dân tộc tương trợ giúp đỡ lẫn nhau,
cùng tồn tại và phát triển trên cơ sở hòa hợp, đoàn kết, vì mục tiêu dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng văn minh.
+ Bốn là, chú ý tới điều kiện, hoàn cảnh cụ thể của mỗi dân tộc, mỗi địa phương, tôn trọng các
giá trị văn hóa tinh thần, truyền thống của mỗi dân tộc, xây dựng bản sắc riêng của dân tộc Việt
Nam với đầy đủ tính phong phú mà vẫn bảo đảm sự nhất quán và thống nhất. ●
NN CHXHCNVN thể hiện tính xã hội rộng rãi
- Với mục tiêu xây dựng 1 xã hội văn minh, nhân đạo, bảo đảm công bằng xã hội, NN Việt Nam
đã quan tâm đặc biệt và toàn diện tới việc giải quyết các vấn đề xã hội như: xây dựng các công
trình phúc lợi xã hội, đầu tư cho việc phòng chống thiên tai, giải quyết các vấn đề bức xúc như
xóa đói, giảm nghèo, chăm sóc sức khỏe nhân dân, giải quyết việc làm, thất nghiệp, giúp đỡ
người già cô đơn, trẻ mồ côi, chống các tệ nạn xã hội
- NN không những chỉ đặt ra những cơ sở pháp lý mà còn đầu tư thỏa đáng cho việc giải quyết
các vấn đề này là nhiệm vụ của mọi cấp, mọi ngành và của NN nói chung ●
NN thực hiện đường lối đối ngoại hòa bình, hợp tác và hữu nghị.
- Phương châm “Việt Nam sẵn sàng là bạn, là đối tác tin cậy của tất cả các nước trong cộng
đồng quốc tế, phấn đấu vì hòa bình, độc lập và phát triển”
thể hiện một đường lối ngoại giao mở
của NN ta. Đặc điểm này xuất phát từ đường lối đối ngoại của đất nước Việt Nam ghi nhận tại
Điều 12 Hiến pháp 2013, theo đó Nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam thực hiện chính
sách đối ngoại độc lập, tự chủ, hòa bình, hữu nghị, hợp tác và phát triển, chú trọng đa phương
hóa và đa dạng hóa quan hệ, tích cực hội nhập và hợp tác quốc tế, tuân thủ các nguyên tắc của
Hiến chương Liên hợp quốc. 7.
Trình bày các biểu hiện cụ thể khẳng định “Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa
Việt Nam là một nhà nước dân chủ thực sự và rộng rãi”.
NN CHXHCNVN là một NN dân chủ thực sự, có tính xã hội rộng rãi
- Thật sự ở chỗ Quyền tự do dân chủ của nhân dân được ghi nhận trong các văn bản pháp luật.
Nhà nước có biện pháp bảo đảm quyền tự do dân chủ của người dân trên thực tế. Rộng rãi ở chỗ
NN đảm bảo quyền tự do dân chủ cho mọi công dân không phân biệt giới tính, tôn giáo, nghề
nghiệp. NN thể hiện tính dân chủ trên tất cả các lĩnh vực từ kinh tế, chính trị, tư tưởng, văn hóa và xã hội.
Chi tiết nội dung ở câu 6 7
8.Trình bày các loại cơ quan trong bộ máy nhà nước ở Việt Nam hiện nay.`
Bộ máy nhà nước Việt Nam là hệ thống các cơ quan nhà nước từ trung ương xuống cơ sở, được
tổ chức theo những nguyên tắc chung thống nhất, tạo thành một cơ chế đồng bộ để thực hiện các
chức năng và nhiệm vụ của nhà nước.
1. Quốc hội và Hội đồng nhân dân các cấp
Ở Việt Nam, Quốc hội là cơ quan đại biểu cao nhất của nhân dân và là cơ quan quyền lực nhà
nước cao nhất. Quốc hội là cơ quan duy nhất có quyền lập hiến và lập pháp; quyết định những
vấn đề trọng đại nhất của đất nước và thực hiện quyền giám sát tối cao với toàn bộ hoạt động của cơ quan nhà nước.
Hội đồng nhân dân các cấp là cơ quan quyền lực nhà nước ở địa phương, đại diện cho ý chí,
nguyện vọng của nhân dân, do nhân dân trực tiếp bầu ra, phải chịu trách nhiệm trước nhân dân
địa phương và cơ quan nhà nước cấp trên. 2. Chủ tịch nước
Chủ tịch nước là người đứng đầu nhà nước, thay mặt nhà nước về đối nội và đối ngoại. Chủ tịch
nước do Quốc hội bầu trong số đại biểu Quốc hội, chịu trách nhiệm và báo cáo trước Quốc hội.
Chủ tịch nước được trao nhiều quyền hạn trong cả ba lĩnh vực lập pháp, hành pháp và tư pháp, là
người giữ quyền thống lĩnh các lực lượng vũ trang nhân dân và giữ chức vụ Chủ tịch Hội đồng quốc phòng và an ninh.
3. Các cơ quan hành chính nhà nước
Các cơ quan hành chính nhà nước được gọi là cơ quan chấp hành của cơ quan quyền lực nhà
nước. Ở nước ta, hệ thống cơ quan hành chính nhà nước gồm có: Chính phủ, các bộ, cơ quan
ngang bộ, các cơ quan thuộc Chính phủ và Ủy ban nhân dân các cấp.
4. Các cơ quan xét xử
Hệ thống cơ quan xét xử là loại cơ quan có chức năng đặc thù của bộ máy nhà nước xã hội chủ
nghĩa. Tính đặc thù của cơ quan nhà nước này thể hiện ở chỗ chúng chịu trách nhiệm báo cáo
trước cơ quan quyền lực nhà nước, nhưng trong hoạt động lại độc lập và chỉ tuân theo pháp luật.
Ở nước ta, hệ thống cơ quan xét xử gồm có: Tòa án nhân dân tối cao.Tòa án nhân dân cấp cao,
các Tòa án nhân dân địa phương, các Tòa án quân sự và các Tòa án khác do luật định. Khi xét xử
có Hội thẫm tham gia và Hội thẩm ngang quyền với thẩm phán.
5. Các cơ quan kiểm sát
Hệ thống cơ quan kiểm sát của bộ máy nhà nước xã hội chủ nghĩa được tổ chức ra không chỉ để
thực hiện quyền công tố mà còn để kiểm sát việc tuân theo pháp luật của các cơ quan, tổ chức và
của công dân trong hoạt động tư pháp nhằm bảo đảm cho pháp luật được chấp hành nghiêm chỉnh và thống nhất.
Ở nước ta, hệ thống cơ quan kiểm sát gồm: Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Viện kiểm sát nhân
dân cấp cao, các Viện kiểm sát nhân dân địa phương, các Viện kiểm sát quân sự.
6. Hội đồng bầu cử quốc gia và Kiểm toán nhà nước
Hội đồng bầu cử quốc gia và Kiểm toán nhà nước là hai thiết chế lần đầu tiên được quy định trong Hiến pháp năm 2013. 8
- Hội đồng bầu cử quốc gia là cơ quan do Quốc hội thành lập, có nhiệm vụ tổ chức bầu cử đại
biểu Quốc hội;chỉ đạo và hướng dẫn công tác bầu cử đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp. Hội
đồng bầu cử quốc gia gồm Chủ tịch, các Phó Chủ tịch và các ủy viên.
- Kiểm toán nhà nước là cơ quan do Quốc hội thành lập, hoạt động độc lập và chỉ tuân theo pháp
luật, thực hiện kiểm toán việc quản lý, sử dụng tài chính, tài sản công. 9.
Trình bày các nguyên tắc cơ bản trong tổ chức và hoạt động của bộ máy nhà nước
Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam.`
- Bộ máy NN xã hội chủ nghĩa là hệ thống các cơ quan NN từ trung ương xuống cơ sở, được tổ
chức theo những nguyên tắc chung thống nhất, tạo thành một cơ chế đồng bộ để thực hiện các
chức năng NN và nhiệm vụ của NN XHCN.
- Để bộ máy của NN XHCN hoạt động có hiệu lực và hiệu quả trong quản lý xã hội thì điều quan
trọng là phải bảo đảm cho nó có một cơ cấu tổ chức hợp lý, một cơ chế hoạt động đồng bộ và đội
ngũ cán bộ có đủ năng lực thực hiện nhiệm vụ được giao. Muốn vậy trong tổ chức và hoạt động
của bộ máy NN phải tuân theo những nguyên tắc nhất định. Trong tổ chức và hoạt động của
BMNN XHCN có rất nhiều nguyên tắc, trong đó có những nguyên tắc cơ bản, và một trong
những nguyên tắc cơ bản đó là:
1. Nguyên tắc bảo đảm quyền lực nhân dân trong tổ chức và hoạt động của bộ máy NN.
- Nhà nước bảo đảm cho nhân dân tham gia đông đảo và tích cực vào việc thành lập và tổ chức
lập ra bộ máy nhà nước. Sự bảo đảm này thể hiện trước hết ở chỗ Nhà nước xây dựng cơ sở pháp
lý và các biện pháp tổ chức phù hợp để nhân dân thể hiện ý chí của mình, phát huy quyền làm
chủ bầu ra các cơ quan đại diện của mình và thông qua hệ thống cơ quan đại diện để lập ra các hệ thống cơ quan khác.
- Phải đảm cho nhân dân tham gia đông đảo vào việc quản lý các công việc nhà nước và quyết
định những vấn đề trọng đại của đất nước. V.I.Lenin coi đây là phương pháp tuyệt diệu, phương
pháp đặc thù chỉ có thể thực hiện được một cách đầy đủ trong xã hội chủ nghĩa
- Ngoài việc “dân biết, dân bàn” thì phải có cơ chế bảo đảm cho nhân dân thực hiện việc kiểm
tra, giám sát
hoạt động của các cơ quan nhà nước, nhân viên nhà nước, các tổ chức và cá nhân
khác được trao cho những quyền hạn nhất định để quản lý một số công việc của nhà nước, tức là
“dân kiểm tra’. Đây là vấn đề có tính nguyên tắc, đồng thời là một trong những phương pháp bảo
đảm cho bộ máy nhà nước hoạt động đúng mục đích phục vụ và bảo vệ lợi ích của nhân dân,
chống những biểu hiện tiêu cực như quan liêu, hách dịch, cửa quyền, tham nhũng, xa rời quần
chúng của đội ngũ cán bộ nhà nước.
2. Nguyên tắc bảo đảm sự lãnh đạo của Đảng đối với NN.
Sự lãnh đạo của Đảng giữ vai trò quyết định trong việc xác định phương hướng tổ chức và hoạt
động của NN XHCN, là điều kiện quyết định để nâng cao hiệu lực quản lý của NN, phát huy
quyền làm chủ của nhân dân trong việc tham gia vào công việc của NN. −
Đảng vạch ra đường lối, chủ trương và phương hướng tổ chức và hoạt động của bộ máy
NN. Đồng thời chỉ đạo quá trình xây dựng PL, nhất là những đạo luật quan trọng nhằm thông
qua NN thể chế hoá các chủ trương, chính sách của Đảng thành PL, thành những quy định chung
thống nhất trên quy mô toàn XH, thực hiện và phát huy quyền làm chủ của nhân dân −
Thường xuyên theo dõi, kiểm tra, hướng dẫn các cơ quan NN hoạt động theo đúng đường
lối chính sách của Đảng và đào tạo cán bộ tăng cường cho bộ máy NN. −
Đảng lãnh đạo NN bằng vai trò, tác phong gương mẫu của Đảng viên trong việc chấp
hành đường lối, chính sách của Đảng, PL của NN, đặc biệt thông qua các tổ chức Đảng và các 9
đảng viên làm việc trong bộ máy NN. Đảng lựa chọn cán bộ ưu tú của Đảng vào các vị trí lãnh đạo của cơ quan NN.
3. Nguyên tắc tập trung dân chủ
- Nội dung của nguyên tắc này được biểu hiện trên 3 mặt chủ yếu: tổ chức bộ máy, cơ chế hoạt
động, chế độ thông tin và báo cáo kiểm tra xử lý các vấn đề trong quá trình tổ chức và thực hiện quyền lực NN:
+ Về mặt tổ chức: Ở các nước XHCN nói chung và nước ta nói riêng, nguyên tắc tập trung dân
chủ này xuất phát từ nguyên tắc: tất cả quyền lực NN thuộc về ND. Nhân dân trực tiếp bầu ra hệ
thống cơ quan đại diện, trao quyền cho các cơ quan đại diện bầu ra hoặc phê chuẩn các hệ thống
cơ quan khác. Tính tập trung là biểu hiện quan trọng của bộ máy NN, nhưng sự tập trung đó đều
bắt nguồn và dựa trên cơ sở cửa chế độ dân chủ dân chủ sau khi đã được tập trung phải chịu sự
chỉ đạo của tập trung. Các cơ quan NN, công chức NN được trao quyền để quản lý các công việc
NN, nhưng đều phải chịu trách nhiệm trước nhân dân và chịu sự kiểm tra giám sát của nhân dân.
+ Về mặt hoạt động: Tập trung vào các cơ quan NN ở trung ương có quyền quyết định các vấn
đề cơ bản, quan trọng về chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội, an ninh, quốc phòng, đối ngoại trên
phạm vi toàn quốc. Quyết định các vấn đề ở tầm vĩ mô, tạo khuôn khổ thống nhất cho hoạt động
của cả xã hội. Các cơ quan NN ở địa phương quyết định những vấn đề thuộc phạm vi của địa
phương mình. Quyết định của cơ quan NN cấp trên có ý nghĩa bắt buộc đối với cơ quan NN cấp dưới.
Đồng thời phải phân cấp quản lý để phát huy trách nhiệm và tính chủ động của cơ quan địa
phương, cơ quan NN ở địa phương, cơ quan cấp dưới có quyền tự quyết định và chịu trách
nhiệm về những vấn đề cụ thể Ở địa phương. Cơ quan NN trung ương, cơ quan cấp trên có
quyền kiểm tra, giám sát hoạt động của các cơ quan cấp dưới và cơ quan NN địa phương. Có
quyền hủy bỏ, đình chỉ quyết định của cơ quan cấp dưới (nếu như quyết định đó trái với quy định
của PL) nhưng đồng thời phải tạo điều kiện cho cơ quan cấp dưới, địa phương phát huy quyền
chủ động, sáng tạo trong giải quyết các vấn đề Ở địa phương.
+ Thực hiện nguyên tắc tập trung dân chủ trong tổ chức và hoạt động của bộ máy nhà nước cần
chú trọng xây dựng và thực hiện tốt chế độ thông tin, báo cáo, kiểm tra và xử lý các vấn đề
kịp thời, đúng đắn; khách quan và khoa học.

4. Nguyên tắc bình đẳng, đoàn kết giữa các dân tộc
- Đoàn kết là truyền thống quý báu của nhân dân Việt Nam, là một một trong những nhân tố
quyết định sự thành công của sự nghiệp dựng nước, giữ nước, và phát triển đất nước. Đối với
Đảng, Nhà nước nhân dân ta đại đoàn kết dân tộc là một chính sách lớn và được khẳng định
trong Điều 5 Hiến pháp năm 2013:
1. Nước CHXHCNVN là quốc gia thống nhất của các dân tộc cùng sinh sống trên đất nước Việt Nam.
2. Các dân tộc bình đẳng, đoàn kết, tôn trọng và giúp nhau cùng phát triển; nghiêm cấm mọi
hành vi kỳ thị, chia rẽ dân tộc.
3. Ngôn ngữ quốc gia là tiếng Việt. Các dân tộc có quyền dùng tiếng nói, chữ viết, giữ gìn bản
sắc dân tộc, phát huy phong tục, tập quán, truyền thống và văn hóa tốt đẹp của mình.
4. Nhà nước thực hiện chính sách phát triển toàn diện và tạo điều kiện để các dân tộc thiểu số
phát huy nội lực, cùng với phát triển đất nước.
- Bình đẳng đoàn kết giữa các dân tộc nhằm mục tiêu chung là: giữ vững độc lập, chủ quyền,
thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ, phấn đấu xoá bỏ nghèo nàn, lạc hậu, tiến tới dân giàu, nước mạnh,
xã hội công bằng, dân chủ,văn minh. Bình đẳng, đoàn kết giữa các dân tộc trở thành một trong
những nguyên tắc cơ bản trong tổ chức mọi hoạt động của bộ máy nhà nước Việt Nam. 10
5. Nguyên tắc pháp chế XHCN.
- Nguyên tắc này đòi hỏi các cơ quan trong bộ máy nhà nước phải bảo đảm thực hiện quyền lực
nhà nước là thống nhất, có sự phân công và phối hợp một cách nhịp nhàng, đồng bộ.
- Trong quá trình tổ chức và hoạt động đó, yêu cầu phải tiến hành theo đúng pháp luật cà trên cơ
sở của pháp luật; phải nghiêm chỉnh và triệt để tôn trọng pháp luật khi thực thi quyền hạn và
nhiệm vụ của mình; tăng cường công tác kiểm tra, giám sát xử lý nghiêm minh mọi hành vi vi phạm pháp luật.
- Nguyên tắc pháp chế được quy định ở Điều 8 Hiến pháp năm 2013: “Nhà nước được tổ chức và
hoạt động theo Hiến pháp và pháp luật, quản lý xã hội bằng Hiến pháp và pháp luật...”
- Để xây dựng nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam phải tăng cường hơn nữa pháp
chế xã hội chủ nghĩa trong tổ chức và hoạt động của bộ máy nhà nước. Nhà nước phải đẩy mạnh
hơn nữa công tác xây dựng và hoàn chỉnh hệ thống pháp luật làm cơ sở pháp lý cho tổ chức và
hoạt động của bộ máy nhà nước, tổ chức tốt công tác thực hiện pháp luật, đồng thời phải tăng
cường công tác kiểm tra, giám sát, xử lý nghiêm minh các hành vi vi phạm pháp luật.
Ngoài 5 nguyên tắc trên, trong tổ chức và hoạt động của bộ máy nhà nước xã hội chủ nghĩa còn
có những nguyên tắc khác như: nguyên tắc tổ chức lao động khoa học, nhà nước bảo đảm tính
kinh tế, nguyên tắc công khai hoá.
10. Phân tích nội dung nguyên tắc tập trung dân chủ trong tổ chức và hoạt động của bộ
máy nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam.

- Nội dung của nguyên tắc này được biểu hiện trên 3 mặt chủ yếu: tổ chức bộ máy, cơ chế hoạt
động, chế độ thông tin và báo cáo kiểm tra xử lý các vấn đề trong quá trình tổ chức và thực hiện quyền lực NN:
+ Về mặt tổ chức: Ở các nước XHCN nói chung và nước ta nói riêng, nguyên tắc tập trung dân
chủ này xuất phát từ nguyên tắc: tất cả quyền lực NN thuộc về ND. Nhân dân trực tiếp bầu ra hệ
thống cơ quan đại diện, trao quyền cho các cơ quan đại diện bầu ra hoặc phê chuẩn các hệ thống
cơ quan khác. Tính tập trung là biểu hiện quan trọng của bộ máy NN, nhưng sự tập trung đó đều
bắt nguồn và dựa trên cơ sở cửa chế độ dân chủ dân chủ sau khi đã được tập trung phải chịu sự
chỉ đạo của tập trung. Các cơ quan NN, công chức NN được trao quyền để quản lý các công việc
NN, nhưng đều phải chịu trách nhiệm trước nhân dân và chịu sự kiểm tra giám sát của nhân dân.
+ Về mặt hoạt động: Tập trung vào các cơ quan NN ở trung ương có quyền quyết định các vấn
đề cơ bản, quan trọng về chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội, an ninh, quốc phòng, đối ngoại trên
phạm vi toàn quốc. Quyết định các vấn đề ở tầm vĩ mô, tạo khuôn khổ thống nhất cho hoạt động
của cả xã hội. Các cơ quan NN ở địa phương quyết định những vấn đề thuộc phạm vi của địa
phương mình. Quyết định của cơ quan NN cấp trên có ý nghĩa bắt buộc đối với cơ quan NN cấp dưới.
Đồng thời phải phân cấp quản lý để phát huy trách nhiệm và tính chủ động của cơ quan địa
phương, cơ quan NN ở địa phương, cơ quan cấp dưới có quyền tự quyết định và chịu trách
nhiệm về những vấn đề cụ thể Ở địa phương. Cơ quan NN trung ương, cơ quan cấp trên có
quyền kiểm tra, giám sát hoạt động của các cơ quan cấp dưới và cơ quan NN địa phương. Có
quyền hủy bỏ, đình chỉ quyết định của cơ quan cấp dưới (nếu như quyết định đó trái với quy định
của PL) nhưng đồng thời phải tạo điều kiện cho cơ quan cấp dưới, địa phương phát huy quyền
chủ động, sáng tạo trong giải quyết các vấn đề Ở địa phương. 11
+ Thực hiện nguyên tắc tập trung dân chủ trong tổ chức và hoạt động của bộ máy nhà nước cần
chú trọng xây dựng và thực hiện tốt chế độ thông tin, báo cáo, kiểm tra và xử lý các vấn đề
kịp thời, đúng đắn; khách quan và khoa học.

11.Trình bày phương hướng xây dựng và hoàn thiện bộ máy Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam.`
Bộ máy nhà nước Việt Nam là hệ thống các cơ quan nhà nước từ trung ương xuống cơ sở
được tổ chức theo một nguyên tắc, nhất tạo thành một cơ chế đồng bộ để thực hiện các chức
năng nhiệm vụ của nhà nước.
Vấn đề xây dựng và hoàn thiện bộ máy nhà nước.
Bộ máy nhà nước cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam được thiết lập từ sau cách mạng
8/1945. Sau hơn nửa thế kỷ bộ máy nhà nước ta đã được củng cố phát triển hoàn thành nhiệm vụ
của mình trong sự nghiệp đấu tranh, bảo vệ, độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ và
xây dựng chế độ xã hội mới. Tuy nhiên, trong tổ chức và hoạt động, bộ máy nhà nước ta còn bộc
lộ khuyết điểm và yếu kém như: bộ máy nhà nước còn cồng kềnh, kém hiệu lực, chế độ trách
nhiệm không rõ ràng, phong cách làm việc nặng về hình thức, giấy tờ, mà quyết định thì chậm,
thiếu cơ sở khoa học,...
Trên cơ sở phân tích sâu sắc thực trạng bộ máy nhà nước ta và yêu cầu của tình hình mới,
đảng đã đề ra chủ trương thực hiện một cuộc cải cách lớn phải đáp ứng những yêu cầu cơ bản là:
Tiếp tục phát huy cao độ bản chất dân chủ, tạo điều kiện cho nhân dân thực hiện quyền làm chủ
của mình thông qua các hình thức dân chủ đại diện và dân chủ trực tiếp, tham gia tích cực vào
việc xây dựng và bảo vệ nhà nước. Kiểm tra, giám sát hoạt động của cơ quan nhà nước và cán
bộ, công chức, viên chức nhà nước. Kiện toàn bộ máy nhà nước trong sạch, vững mạnh, tinh
giản, gọn nhẹ, hoạt động có hiệu lực và hiệu quả; nâng cao trách nhiệm của cán bộ, công chức
nhà nước trước nhân dân. Tăng cường sự lãnh đạo của đảng.
Bộ máy nhà nước cần được cải cách theo những phương hướng chủ yếu sau:
Cải tiến tổ chức và hoạt động của Quốc Hội và chính quyền địa phương để làm đúng chức
năng theo luật định. Quốc Hội phải có cơ cấu tổ chức hợp lý và đội ngũ đại biểu Quốc Hội có đủ
tiêu chuẩn là người đại diện cho ý chí, nguyện vọng của các tầng lớp nhân dân.
Cải cách nền hành chính nhà nước, xây dựng một hệ thống cơ quan quản lý thống nhất, thông
suốt, có hiệu lực và hiệu quả, đủ năng lực thực thi các nhiệm vụ trên các lĩnh vực. Tiến hành sắp
xếp tổ chức phân định rõ chức năng, thẩm quyền giữa các cấp, thực hiện nguyên tắc kết hợp
quản lý ngành và quản lý lãnh thổ. Tăng cường công tác tổ chức và hoạt động thanh tra, kiện
toàn tổ chức chính quyền địa phương, xây dựng đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức có đủ
phẩm chất và năng lực hoàn thành công việc trong bộ máy nhà nước.
Tăng cường hiệu lực của các cơ quan bảo vệ pháp luật, đổi mới tổ chức và hoạt động của hệ
thống viện kiểm sát nhân dân và tòa án nhân dân, bảo đảm các điều kiện và phương tiện cần thiết
để các cơ quan bảo vệ pháp luật thực hiện đúng chức năng và quyền hạn của mình.
Tăng cường sự lãnh đạo của đảng đối với tổ chức và hoạt động của bộ máy nhà nước nhằm
giữ vững bản chất của nhà nước, bảo đảm quyền lực nhân dân, đưa công cuộc đổi mới đi đúng 12
định hướng xã hội chủ nghĩa. Đổi mới nội dung và phương thức lãnh đạo của đảng đối với bộ
máy nhà nước, đảm bảo chất lượng công tác lãnh đạo của đảng, đồng thời phát huy trách nhiệm,
tính chủ động và hiệu lực cao trong quản lý, điều hành bộ máy nhà nước.
Tiến hành kiên quyết và thường xuyên cuộc đấu tranh chống quan liêu, Tham nhũng, xử lý
nghiêm minh những người có hành vi vi phạm pháp luật, đồng thời tăng cường công tác xây
dựng pháp luật, giáo dục ý thức pháp luật và cùng cố kỷ luật trong nội bộ cơ quan nhà nước. Các
văn kiện của đảng đã luôn nhấn mạnh: tăng cường tổ chức và cơ chế, tiếp tục đẩy mạnh cuộc đấu
tranh chống tham nhũng trong bộ máy nhà nước và toàn bộ hệ thống chính trị ở các cấp, các
ngành, từ trung ương đến cơ sở. 12.
Trình bày nguồn gốc ra đời của pháp luật.` *Khái niệm:
Pháp luật là hệ thống các quy tắc xử sự có tính bắt buộc chung do nhà nước đặt ra và bảo đảm thực
hiện, thể hiện ý chí của giai cấp thống trị nhằm điều chỉnh các quan hệ xã hội, tạo lập trật tự ổn định
cho sự phát triển của xã hội. *Nguồn gốc:
- Theo quan điểm chung của xã hội:
+ Ở xã hội cộng sản nguyên thủy, do nhu cầu của cuộc sống cộng đồng, các quan hệ xã hội giữa
người và người được điều chỉnh bằng các quy tắc đạo đức, phong tục, tập quán và các quy tắc
tôn giáo. Khi xã hội xuất hiện sở hữu tư nhân và sự phân chia giai cấp, đồng thời nảy sinh những
mâu thuẫn giai cấp đối kháng, đòi hỏi phải có những quy tắc xử sự mang tính bắt buộc chung
được bảo đảm thực hiện bằng sức mạnh cưỡng chế.
+ Những nguyên nhân dẫn đến sự ra đời của Nhà nước cũng là những nguyên nhân dẫn đến sự ra
đời của pháp luật. Pháp luật hình thành bằng ba con đường chủ yếu: Nhà nước thừa nhận những
tập quán đã có từ trước phù hợp với lợi ích của mình và nâng lên thành pháp luật. Bằng con
đường này, Nhà nước tạo ra hình thức pháp luật đầu tiên là tập quán pháp. Nhà nước thừa nhận
các quyết định có trước về từng vụ việc cụ thể của cơ quan xét xử hoặc cơ quan hành chính cấp
trên để trở thành khuôn mẫu cho các cơ quan cấp dưới tương ứng giải quyết những vụ việc tương
tự xảy ra sau này. Con đường này tạo ra hình thức pháp luật thứ hai là án lệ pháp. Nhà nước ban
hành những quy phạm pháp luật mới để điều chỉnh các quan hệ xã hội mới nảy sinh do nhu cầu
quản lý và duy trì trật tự xã hội. Con đường này hình thành hình thức pháp luật thứ ba là văn bản quy phạm pháp luật.
- Theo quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin:
+ Theo quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin, pháp luật ra đời cùng với sự ra đời của nhà nước.
Những nguyên nhân dẫn đến sự ra đời của nhà nước cũng chính là những nguyên nhân dẫn đến
sự ra đời của pháp luật.
+ Trong xã hội cộng sản nguyên thủy chưa có nhà nước nên cũng chưa có pháp luật. Để hướng
dẫn cách xử sự cho con người, xã hội nguyên thủy sử dụng phong tục tập quán, đạo đức, tín điều
tôn giáo... Các quy tắc ứng xử này hình thành một cách tự phát trong cộng đồng trên cơ sở điều
kiện hoàn cảnh kinh tế xã hội cụ thể lúc bấy giờ.
+ Khi điều kiện kinh tế, xã hội thay đổi, trong xã hội xuất hiện các quan hệ xã hội mới, tương đối
đa dạng, phức tạp mà các quy tắc đạo đức, phong tục tập quán... không điều chỉnh hết hoặc điều
chỉnh không có hiệu quả hoặc không thể điều chỉnh được. Trong điều kiện đó, nhà nước xuất 13
hiện, để tổ chức, quản lý đời sống xã hội phức tạp đó, nhà nước từng bước làm xuất hiện một
loại quy tắc ứng xử mới, đó chính là pháp luật. Thông qua nhà nước, pháp luật hình thành bằng
các con đường, một là, nhà nước thừa nhận các quy tắc xử sự có sẵn trong xã hội nhưng phù hợp
với ý chí của nhà nước, nâng chúng lên thành pháp luật; hai là, nhà nước thừa nhận cách giải
quyết các vụ việc cụ thể trong thực tế, sử dụng làm khuôn mẫu để giải quyết các vụ việc khác có
tính tương tự; ba là, nhà nước đặt ra các quy tắc xử sự mới.
13.Trình bày khái niệm pháp luật và bản chất của pháp luật.`
*Bản chất: PL luôn mang tính giai cấp:
- PL thể hiện ý chí NN của giai cấp thống trị. Giai cấp thống trị nắm trong tay quyền lực, thông
qua NN để thể hiện ý chí của giai cấp mình một cách tập trung, thống nhất và hợp pháp hóa
thành ý chí của NN. Ý chí đó được cụ thể hóa trong các văn bản PL do các cơ quan có thẩm quyền của NN ban hành.
- Tính giai cấp của PL còn thể hiện ở mục đích điều chỉnh các quan hệ xã hội. Mục đích của PL
trước hết nhằm điều chỉnh quan hệ giữa các giai cấp, tầng lớp trong xã hội. Vì vậy, PL là nhân tố
để điều chỉnh về mặt giai cấp các quan hệ xã hội nhằm hướng các quan hệ xã hội phát triển theo
một “trật tự” phù hợp với ý chí của giai cấp thống trị, bảo vệ và củng cố địa vị của giai cấp thống nhất.
- PL do NN là đại diện chính thức của toàn xã hội nên còn thể hiện ý chí nguyện vọng và lợi ích
của các giai tầng khác trong xã hội, vì vậy PL mang tính xã hội. PL dc xây dựng trên cơ sở của
đời sống xh, Là phương tiện để NN quản lý trật tự xh. Ghi nhận và bảo vệ lợi ích của các giai
cấp và tầng lớp khác: PL với kinh tế: kinh tế giữ vai trò quyết định đối với PL. Chế độ kinh tế là
cơ sở của PL, sự thay đổi của chế độ kinh tế sẽ dẫn đến sự thay đổi về pháp luật. PL với chính
trị: PL là 1 trong những hình thức biểu hiện cụ thể của chính trị. Đường lối của giai cấp thống trị
luôn giữ vai trò chủ đạo đối với PL. PL với đạo đức: PL luôn phản ánh đạo đức của giai cấp cầm
quyền. PL với NN: là 2 hiện tượng thuộc tầng chính trị - pháp lý, luôn có mối quan hệ chặt chẽ, bổ sung cho nhau.
14.Phân tích mối quan hệ giữa pháp luật với kinh tế, pháp luật với chính trị và liên hệ vào
điều kiện Việt Nam hiện nay.`

a. Trong mối quan hệ với kinh tế, pháp luật có tính độc lập tương đối. Một mặt, pháp luật do
điều kiện kinh tế quyết định. Mặt khác, pháp luật lại có sự tác động trở lại mạnh mẽ đối với kinh
tế. Chế độ kinh tế là cơ sở của pháp luật. Pháp luật phản ánh trình độ phát triển của kinh tế, nó
không thể cao hơn hoặc thấp hơn trình độ kinh tế. Nhưng pháp luật tác động trở lại với nền kinh
tế: Khi pháp luật phản ánh đúng trình độ phát triển của kinh tế thì pháp luật có nội dung tiến bộ
và tác dụng tích cực; Ngược lại khi pháp luật thể hiện ý chí của giai cấp thống trị đã lỗi thời,
dùng pháp luật để duy trì các quan hệ kinh tế lạc hậu thì lúc đó pháp luật tác động vào kinh tế
theo chiều hướng tiêu cực, kìm hãm sự phát triển của kinh tế.
b. Trong mối quan hệ với chính trị, pháp luật là một trong những hình thức biểu hiện cụ thể
của chính trị. Đường lối, chính sách của giai cấp thống trị: luôn giữ vai trò chủ đạo đối với pháp
luật. Đường lối chính trị thể hiện trước hết ở chính sách kinh tế. Các chính sách đó được cụ thể
hóa trong pháp luật thành những quy định chung, thống nhất trong toàn xã hội. Chính trị còn là 14
mối quan hệ giữa các giai cấp và lực lượng khác nhau trong XH trên tất cả các lĩnh vực. => Pháp
luật không chỉ phản ánh các chính sách kinh tế mà còn thể hiện các quan hệ giai cấp và mức độ
của cuộc đấu tranh giai cấp.
*Liên hệ điều kiện VN hiện nay:
Về PL KT
: Trong nền kinh tế thị trường định hướng XHCN ở Việt Nam hiện nay, pháp luật
đóng vai trò quan trọng trong việc định hướng, hướng dẫn, tạo khung cho việc tổ chức, hoạt
động và phát triển của nền kinh tế. Pháp luật xác định rõ chế độ kinh tế, các thành phần kinh tế,
các hình thức sở hữu, chính sách tài chính. Trên cơ sở Điều 51, Hiến pháp 2013, hàng loạt các
đạo luật, bộ luật về kinh tế - dân sự - lao động ra đời như Bộ Luật Dân sự, Bộ Luật Lao động,
Luật Doanh nghiệp, Luật Đầu tư... => Kinh tế tác động trở lại pháp luật vì các bộ luật này trong
nền kinh tế bao cấp không thể có. Pháp luật bảo vệ môi trường từng bước được hình thành đem
lại tác động tích cực, bảo vệ tài nguyên thiên nhiên. Pháp luật hạn chế những rủi ro, khuyết tật
của kinh tế thị trường. Nhìn chung, nếu thiếu đi pháp luật, nền kinh tế thị trường của nước ta
trong thời kỳ quá độ sẽ rất khó vận hành hoặc vận hành thiếu hiệu quả. Do đó, cần chú trọng mối
quan hệ giữa pháp luật với kinh tế để xây dựng đất nước.
Về PL_CT: Hệ thống chính trị ở Việt Nam gắn liền với vai trò tổ chức và lãnh đạo của Đảng
Cộng sản Việt Nam - chính đảng duy nhất lãnh đạo và cầm quyền. Pháp luật trong vai trò hình
thành, tổ chức bộ máy nhà nước quy định rõ quyền hạn, nhiệm vụ, trách nhiệm và phương pháp
tổ chức hoạt động phù hợp. Bộ máy nhà nước Việt Nam đang ngày càng được hoàn thiện nên các
bộ luật liên tục được sửa đổi, bổ sung như: Luật tổ chức chính phủ (Cơ quan hành pháp), Luật tổ
chức quốc hội (Cơ quan lập pháp), Luật tổ chức tòa án nhân dân Luật tổ chức viện kiểm sát nhân
dân (Cơ quan tư pháp)... Pháp luật và chính trị trong quan hệ ngoại giao giữa các quốc gia: Tạo
môi trường ổn định cho việc thiết lập mối quan hệ ngoại giao giữa các quốc gia. Pháp luật với
đường lối chính sách của giai cấp thống trị, thể chế hóa đường lối, chính sách của Đảng, phù hợp
với quá trình đổi mới và hội nhập.
15.Phân tích mối quan hệ giữa pháp luật với nhà nước, pháp luật với đạo đức và liên hệ
thực tiễn Việt Nam hiện nay.`

- Giữa nhà nước và pháp luật có mối liên hệ mật thiết với nhau:
+ Nhà nước và pháp luật là hai hiện tượng xã hội luôn gắn liền với nhau, do đó nguyên nhân về
sự ra đời của nhà nước cũng là nguyên nhân làm xuất hiện pháp luật. Nhà nước là tổ chức đặc
biệt của quyền lực chính trị, được thực hiện và có hiệu lực trên cơ sở pháp luật. Còn pháp luật do
nhà nước ban hành và bảo đảm thực hiện. Nhà nước đại diện cho sức mạnh còn pháp luật đại diện cho ý chí.
+ Sự tác động của nhà nước đến pháp luật thể hiện trước hết là ở việc nhà nước ban hành, thay
đổi, hủy bỏ, hoàn thiện pháp luật, bảo vệ pháp luật khỏi sự vi phạm, bảo đảm pháp luật, đưa pháp
luật vào đời sống. Pháp luật là phương tiện kiểm soát hoạt động nhà nước, xác định giới hạn cho
phép hay không cho phép, đảm bảo sự kiểm soát đối với nhà nước bằng pháp luật mà quy định
cơ cấu tổ chức bên trong và hoạt động của nhà nước, của các cơ quan nhà nước. Việc đổi mới,
hoàn thiện nhà nước và pháp luật chỉ thực sự có ý nghĩa và hiệu quả khi được tiến hành song 15
song, đồng bộ trên cơ sở giám sát và tham gia, đánh giá khách quan của toàn xã hội. Hiệu lực,
hiệu quả của nhà nước và pháp luật tác động phụ thuộc lẫn nhau.
+ Liên hệ: Trước đổi mới, Đảng và Nhà nước ta có thực hiện chính sách ngoại giao khép kín. Hệ
thống pháp luật của nước ta ngăn cấm các hoạt động đầu tư của tư bản nước ngoài vào. Tuy
nhiên từ khi mở cửa và hội nhập nền kinh tế Nhà nước đã đặt quan hê ̣ ngoại giao với hơn 180
quốc gia và vùng lãnh thổ trên thế giới. Trước tình hình đó pháp luật của Việt Nam đã có những
thay đổi để ̣ phù hợp với xu thế chung. Đặc biệt, Nhà nước ta đã có nhiều ̣ chính sách nhằm thu
hút nguồn vốn đầu tư nước ngoài như tạo môi trường đầu tư thông thoáng, giảm các loại thuế, rút
gọn các thủ tục... Những chính sách đó đã được thể hiện tập trung trong pháp ̣ luật Việt Nam hiện hành. ̣
- Mối quan hệ giữa pháp luật và đạo đức
Pháp luật và đạo đức có mối quan hệ tác động tương hỗ với nhau nhằm thực hiện nhiệm vụ điều
chỉnh hành vi xử sự của con người và duy trì trật tự xã hội. Vì vậy giữa pháp luật và đạo đức
luôn có một mối quan hệ mật thiết, gắn bó chặt chẽ và tác động qua lại lẫn nhau.
+ Thứ nhất là tác động của đạo đức tới pháp luật: Có thể thấy đạo đức là nền tảng tinh thần
để thực hiện các quy định của pháp luật. Các cá nhân trong xã hội thực hiện một hành vi pháp
luật hợp pháp không phải vì họ hiểu các quy định của pháp luật mà có thể do xuất phát từ các
quy tắc của đạo đức. Nhiều quy tắc, yêu cầu, đòi hỏi các chuẩn mực đạo đức được nhà nước sử
dụng và nâng lên thành quy phạm pháp luật.
+ Thứ hai là tác động của pháp luật với đạo đức: Pháp luật không chỉ là sự ghi nhận các
chuẩn mực đạo đức, mà còn là công cụ phương tiện bảo vệ chuẩn mực đạo đức một cách hữu
hiệu bằng các biện pháp, chế tài cụ thể. Pháp luật có vai trò to lớn trong việc duy trì, bảo vệ và
phát triển các quy tắc đạo đức phù hợp, tiến bộ trong xã hội.
+ Liên hệ: Pháp luật tác động đến đạo đức thể hiện rất rõ qua nhiều khía cạnh.
+ Trong Luật Hôn nhân gia đình năm 2014 theo quy định tại điều 8 thì điều kiện kết hôn như sau:
” Điều 8. Điều kiện kết hôn
1. Nam, nữ kết hôn với nhau phải tuân theo các điều kiện sau đây:
a) Nam từ đủ 20 tuổi trở lên, nữ từ đủ 18 tuổi trở lên;
b) Việc kết hôn do nam và nữ tự nguyện quyết định;
c) Không bị mất năng lực hành vi dân sự;
d) Việc kết hôn không thuộc một trong các trường hợp cấm kết hôn theo quy định tại các điểm a,
b, c và d khoản 2 Điều 5 của Luật này”.
=> Pháp luật đã bỏ các chuẩn mực đạo đức lỗi thời, loại bỏ tư tưởng cha mẹ đặt đâu con ngồi đó,
tảo hôn, kết hôn sớm... 16.
Phân tích các thuộc tính cơ bản của pháp luật.`
Tính quy phạm phổ biến:
PL là những quy tắc xử sự chung, là khuôn mẫu, là thước đo hành vi xử sự của con người trong
những trường hợp cụ thể. Trong xã hội, không phải chỉ pháp luật mới có tính quy phạm. Các 16
quan hệ xã hội còn được điều chỉnh bởi các quy phạm xã hội khác nhau như đạo đức, tôn giáo,
tập quán..song không mang tính phổ biến. Trong khi đó, pháp luật lại điều chỉnh hành vi của mọi
người cũng như của mọi cơ quan nhà nước , các tổ chức.
-VD: Luật đội mũ bảo hiểm, được áp dụng cho toàn thể mọi người. Nếu không chấp hành sẽ bị phạt hành chính. ❖
Tính xác định chặt chẽ về mặt hình thức, rõ ràng về ND.
Đặc trưng của pháp luật là phải rõ ràng, chuẩn xác nội dung của pháp luật bằng các điều khoản ,
văn bản quy phạm pháp luật và hệ thống văn bản quy phạm pháp luật tương xứng.
VD: Về hình thức, luôn rõ ràng, sạch đẹp; không tồn tại dấu “..v.v..”, “…”. Chương ->Điều->Khoản.
Về nội dung, sử dụng câu chữ trong ngành luật như: “cá thể”, “người”, …
Nếu như pháp luật không đủ, không rõ, không chính xác và đặc biệt bản thân nó chứa đựng mâu
thuẫn thị pháp luật sẽ tạo ra những kẽ hở cho sự lạm quyền, vi phạm pháp luật. ❖
Tính cưỡng chế nhà nước.
PC do nhà nước ban hành hoặc thừa nhận, được đảm bảo thực hiện bằng sức mạnh cưỡng chế
của quyền lực nhà nước. Có các biện pháp cao hơn là cưỡng chế cần thiết, giải pháp thuyết phục,
khuyến khích… để đảm bảo PL được thực hiện đúng và nghiêm chỉnh. Việc tuân thủ PL không
phụ thuộc vào ý chí chủ quan của các cá nhân mà phụ thuộc vào mức độ vi phạm của cá nhân đó
đối với PL. Mỗi quốc gia, dân tộc có các tầng lớp khác nhau. Vì vậy PL được xây dựng có thể
phù hợp với giai cấp này nhưng mâu thuẫn với giai cấp khác ⇨PL cần có tính cưỡng chế thì mới
có thể giải quyết mâu thuẫn.
VD: Nếu không chấp hành sẽ bị phạt.
17.Trình bày bản chất của pháp luật xã hội chủ nghĩa.`
*Khái niệm: PL XHCN là hệ thống những quy tắc xử sự của con người thể hiện ý chí của giai
cấp công nhân và nhân dân lao động dưới sự lãnh đạo của Đảng cộng sản, do NN xã hội chủ
nghĩa ban hành và bảo đảm thực hiện bằng sức mạnh cưỡng chế của NN trên cơ sở giáo dục,
thuyết phục mọi người tôn trọng và thực hiện.

*Bản chất của PL XHCN
- Xét về góc độ chung, PL xhcn có bản chất vừa thể hiện tính giai cấp vừa thể hiện tính xh và có
những đặc trưng cơ bản của PL nói chung. Tuy nhiên dựa trên cơ sở kinh tế, chính trị, xh của
cnxh, cho nên PL xhcn có những đặc thù riêng
a. PL XHCN là hệ thống các quy tắc xử sự có tính thống nhất nội tại cao.
Tính hệ thống của PL nói lên sự đa dạng của các quy phạm PL do các cơ quan nhà nước có
thẩm quyền ban hành trong những thời điểm khác nhau để điều chỉnh các quan hệ xh tương ứng
trên các lĩnh vực của đời sống xh. Mặc dù hệ thống pháp luật bao gồm nhiều loại quy phạm khác
nhau... nhưng tất cả đều thống nhất với nhau. Là 1 hệ thống quy phạm đồng bộ, bởi vì chúng đều
có chung 1 bản chất của giai cấp công nhân, pháp luật xhcn được xây dựng trên cơ sở của quan hệ kinh tế xhcn.
b. PL xã hội chủ nghĩa thể hiện ý chí của giai cấp công nhân và đông đảo nhân dân lao động
PL xã hội chủ nghĩa cũng giống như các kiểu PL khác là thể hiện ý chí của giai cấp cầm
quyền và là công cụ bảo vệ lợi ích của giai cấp cầm quyền. Tuy nhiên, nếu như các kiểu PL trước
đều có một đặc điểm chung là bảo vệ cho quyền lợi của một thiểu số giai cấp bóc lột thì PL xã
hội chủ nghĩa “là PL thực sự dân chủ vì nó bảo vệ quyền tự do, dân chủ rộng rãi cho nhân dân
lao động”, là số đông, chiếm đại đa số trong dân cư. Đây là điểm khác nhau cơ bản của PL xã 17
hội chủ nghĩa đối với các kiểu PL khác. Điều đó vì: PL xhcn thể hiện ý chí của giai cấp công
nhân và nhân dân lao động, được ban hành bởi NN xã hội chủ nghĩa, bản chất của NN xã hội chủ
nghĩa là NN dân chủ, tất cả quyền lực thuộc về nhân dân.
c. Pháp luật xhcn do nhà nước ban hành và bảo đảm thực hiện
Pháp luật nói chung đều do nhà nước ban hành pháp luật bao giờ cũng thể hiện ý chí của nhà
nước, hình thành bằng con đường nhà nước, có phạm vi tác động rất lớn, tới tất cả mọi chủ thể
trong xã hội. Pháp luật được nhà nước bảo đảm thực hiện cho nên đối với hành vi vi phạm pháp
luật, tùy theo mức độ khác nhau, nhà nước sẽ áp dụng các biện pháp cưỡng chế cần thiết. Ở nhà
nước xhcn, các biện pháp cưỡng chế thường được áp dụng kết hợp và dựa trên cơ sở các biện
pháp giáo dục và thuyết phục.
d. PL XHCN có quan hệ chặt chẽ với chế độ kinh tế xã hội chủ nghĩa.
Chế độ kinh tế giữ vai trò quyết định đối với pháp luật, pháp luật luôn phản ánh trình độ phát
triển của chế độ kinh tế xhcn. Mọi sự thay đổi của chế độ kinh tế sẽ dẫn đến những thay đổi
tương ứng của pháp luật. Ngược lại pháp luật sẽ có tác động trở lại 1 cách mạnh mẽ đối với sự
phát triển của chế độ kinh tế xhcn.
e. PL XHCN có quan hệ mật thiết với đường lối của Đảng cộng sản.
Đường lối, chính sách của đảng giữ vai trò chỉ đạo, là phương hướng xây dựng pháp luật, chỉ
đạo nội dung pháp luật và chỉ đạo việc tổ chức thực hiện, áp dụng pháp luật. Pháp luật luôn phản
ánh đường lối của đảng, ;à sự thể chế hóa đường lối, chính sách của đảng thành các quy định
chung thống nhất trên quy mô toàn xh. Cho nên khi xây dựng và tổ chức thực hiện pháp luật phải
thấm nhuần đường lối, chính sách của đảng để thể chế hóa thành hệ thống các quy phạm pháp luật cho phù hợp
f. PL XHCN có quan hệ qua lại với các quy phạm xã hội khác trong CNXH.
Pháp luật Xhcn luôn có quan hệ chặt chẽ với các quy phạm xh khác như quy phạm đạo đức,
quy tắc xử sự của các tổ chức xh và đoàn thể quần chúng. Bên cạnh quy phạm pháp luật, quy
phạm đạo đức còn tồn tại các quy phạm do tổ chức xh đề ra nhằm điều chỉnh trong nội bộ của
các tổ chức đó như: quy định kết nạp hội viên, quy định mục đích, nguyên tắc hoạt động. Để
pháp luật thể hiện đúng bản chất của mình, đồng thời phù hợp với điều kiện kinh tế - xh trong
mỗi giai đoạn cần phải xem xét và giải quyết tốt các mối quan hệ của pháp luật với các hiện tượng trên.
18.Trình bày khái niệm quy phạm pháp luật và phân tích cơ cấu của quy phạm pháp luật.`
1. Quy phạm pháp luật là gì?
Quy phạm pháp luật là một loại quy phạm xã hội, là những quy tắc xử sự chung bắt buộc mọi
người thực hiện, do nhà nước xác lập, ban hành và bảo đảm việc thực hiện, để điều chỉnh các
hành vi của cá nhân hoặc tổ chức theo ý chí của nhà nước.
2. Cơ cấu của quy phạm pháp luật
Quy phạm pháp luật phải rõ ràng, chính xác, vì vậy nó phải có cơ cấu đầy đủ, được xác định
bởi ba bộ phận cấu thành, bao gồm: giả định, quy định và chế tài . - Giả định
+ Khái niệm: Giả định là một phần của quy phạm pháp luật trong đó nêu ra những tình huống
(hoàn cảnh, điều kiện) có thể xảy ra trong đời sống xã hội mà quy phạm pháp luật sẽ tác động
đối với những chủ thể (tổ chức, cá nhân) nhất định, nói cách khác giả định nêu lên phạm vi tác 18
động của quy phạm pháp luật đối với cá nhân hay tổ chức nào? Trong những hoàn cảnh, điều kiện nào? - Quy định
+ Khái niệm: Quy định là bộ phận của quy phạm pháp luật trong đó nêu cách xử sự mà tổ chức
hay cá nhân ở vào hoàn cảnh, điều kiện đã nêu trong bộ phận giả định của quy phạm pháp luật
được phép hoặc buộc phải thực hiện. Bộ phận quy định trả lời cho câu hỏi: “Phải làm gì? Được
làm gì? Không được làm gì? Làm như thế nào?
○ Ví dụ về quy phạm pháp luật: Điều 1, Pháp lệnh thuế nông nghiệp có viết: “Mọi tổ chức và cá
nhân sử dụng đất nông nghiệp và các loại đất khác vào sản xuất nông nghiệp thì phải nộp thuế
nông nghiệp.” Trong quy phạm này bộ phận quy định (phải làm gì?) là: “phải nộp thuế nông nghiệp”. - Chế tài
+ Khái niệm: Chế tài là một bộ phận của quy phạm pháp luật nêu lên những biện pháp tác động
mà nhà nước dự kiến để đảm bảo cho pháp luật được thực hiện nghiêm chỉnh. Các biện pháp tác
động nêu ở bộ phận chế tài sẽ được áp dụng đối với tổ chức hay cá nhân nào vi phạm pháp luật,
không thực hiện đúng mệnh lệnh của nhà nước đã nêu ở bộ phận quy định của quy phạm pháp luật.
● Ví dụ quy phạm pháp luật: Khoản 1 Điều 100 Bộ luật hình sự 1999 đã nêu: “Người nào đối xử
tàn ác, thường xuyên ức hiếp, ngược đãi hoặc làm nhục người lệ thuộc mình làm người đó tự sát,
thì bị tù từ hai năm đến bảy năm.” Bộ phận chế tài của quy phạm này là “thì bị tù từ hai đến bảy năm”.
19.Văn bản quy phạm pháp luật là gì? Trình bày các loại văn bản quy phạm pháp luật ở Việt Nam hiện nay.`
*Khái niệm: Văn bản quy phạm pháp luật là văn bản do cơ quan nhà nước ban hành hoặc phối
hợp ban hành theo thẩm quyền, hình thức, trình tự, thủ tục theo luật định, trong đó có quy tắc xử
sự chung, có hiệu lực bắt buộc chung, được Nhà nước bảo đảm thực hiện để điều chỉnh các quan hệ xã hội. *Phân loại:
Văn bản luật: Là văn bản quy phạm pháp luật do Quốc hội, cơ quan quyền lực nhà nước cao nhất ban hành
- Hiến pháp: quy định những vấn đề cơ bản của nhà nước như: hình thức, bản chất của nhà
nước; chế độ chính trị, chế độ kinh tế, văn hóa, xã hội, quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân,
hệ thống tổ chức, nguyên tắc hoạt động và thẩm quyền của các cơ quan nhà nước
- Luật: Luật quy định những vấn đề cơ bản, quan trọng thuộc các lĩnh vực về đối nội, đối ngoại,
nhiệm vụ kinh tế - xã hội, quốc phòng, an ninh của đất nước, những nguyên tắc chủ yếu về tổ
chức và hoạt động của bộ máy nhà nước, về quan hệ xã hội và hoạt động của công dân
- Nghị quyết: Nghị quyết của Quốc hội có chứa đựng quy phạm pháp luật là những văn bản quy
phạm pháp luật do Quốc hội ban hành để cụ thể hóa Hiến pháp, nhằm điều chỉnh các quan hệ xã
hội trong các lĩnh vực hoạt động của nhà nước
Văn bản QPPL dưới luật: 19
- Ủy ban thường vụ Quốc hội
+ Pháp lệnh: quy định về những vấn đề được Quốc hội giao cho, 1 số pháp lệnh sau 1 thời gian
được thực hiện có thể được Quốc hội xem xét, quyết định ban hành thành luật
+ Nghị quyết: giải thích Hiến pháp, luật, pháp lệnh, giám sát việc thi hành Hiến pháp, văn bản QPPL của Quốc hội
- Chủ tịch nước: Lệnh, quyết định để thực hiện những nhiệm vụ, quyền hạn của Chủ tịch nước
do Hiến pháp, luật quy định
- Chính phủ: nghị định quy định chi tiết thi hành luật, nghị quyết của QH; pháp lệnh, nghị quyết
của UBTVQH; lệnh, quyết định của Chủ tịch nước; quy định nhiệm vụ, quyền hạn, tổ chức bộ
máy của các bộ, cơ quan ngang bộ, cơ quan thuộc Chính phủ…. Quy định những vấn đề hết sức
cần thiết nhưng chưa đủ điều kiện xây dựng thành luật hoặc pháp lệnh để đáp ứng nhu cầu quản
lý nhà nước, quản lý kinh tế, xã hội
- Thủ tướng chính phủ: Quyết định: quyết định các chủ trương, biện pháp lãnh đạo, điều hành
hoạt động của Chính phủ và hệ thống hành chính nhà nước từ TW đến cơ sở….
- Bộ trưởng, Thủ tướng cơ quan ngang bộ; Chánh án TANDTC; Viện trưởng VKSNDTC:
Thông tư, thông tư liên tịch
- Tổng kiểm toán nhà nước: quyết định
- UBTVQH/Chính phủ; cơ quan TW của các tổ chức chính trị - xã hội: nghị quyết liên tịch
- Hội đồng thẩm phán TANDTC: nghị quyết - HĐND: Nghị quyết
-UBND: Quyết định, chỉ thị

20. Phân tích các yếu tố cấu thành quan hệ pháp luật. Lấy ví dụ minh họa.`
Quan hệ pháp luật là các quan hệ xã hội được điều chỉnh bởi các quy phạm pháp luật khác
nhau, những quan hệ xã hội này xác lập, phát triển, tồn tại hay chấm dứt dựa trên quy định của
pháp luật, các bên tham gia vào quan hệ đó là những chủ thể có quyền chủ thể và nghĩa vụ pháp
lý phát sinh được pháp luật quy định và Nhà nước sẽ bảo đảm thực hiện. Quan hệ pháp luật được
cấu thành bởi chủ thể, nội dung và khách thể. Trong đó:
- Chủ thể quan hệ pháp luật là cá nhân, tổ chức phải có năng lực pháp luật, năng lực hành vi phù
hợp phù hợp để tham gia vào các quan hệ đó và thực hiện các quyền, lợi ích hợp pháp cũng như
nghĩa vụ pháp lý theo quy định.
+ Chủ thể quan hệ pháp luật là cá nhân: Năng lực pháp luật của cá nhân là khả năng để cá nhân
đó có quyền và nghĩa vụ dân sự. Còn năng lực hành vi dân sự của cá nhân là khả năng mà cá
nhân đó bằng hành vi của mình để xác lập, thực hiện quyền và nghĩa vụ dân sự.
+ Chủ thể quan hệ pháp luật là tổ chức: Năng lực pháp luật dân sự và năng lực hành vi sẽ xuất
hiện đồng thời khi tổ chức đó thành lập theo quy định của pháp luật và chấm dứt tư cách pháp lý
khi bị phá sản, giải thể.
- Nội dung của quan hệ pháp luật bao gồm quyền và nghĩa vụ của chủ thể.
+ Quyền của chủ thể trong quan hệ pháp luật: là khả năng xử sự của những người tham gia quan
hệ pháp luật được quy phạm pháp luật xác định trước và được bảo đảm thực hiện bằng nhà nước.
+ Nghĩa vụ của chủ thể trong quan hệ pháp luật: là cách xử mà nhà nước bắt buộc chủ thể phải
thực hiện nhằm đáp ứng việc hưởng quyền của chủ thể khác. 20