


















Preview text:
Nguyễn Cẩm Ly
Tư tưởng HCM K44
Câu 1. Từ một chính sách công cụ thể anh/chị hãy phân tích vai trò của chính sách công trong đời sống xã hội.
*Vai trò chung:
-Vai trò của cs là tác dụng mà cs có thể phát huy trong việc quản lý đời sống
xã hội. Các csc có các vai trò cơ bản sau đây:
Vai trò định hướng (hướng dẫn): Định hướng hoạt động của các chủ thể
trong các lĩnh vực kinh tế-xã hội theo những mục tiêu, phương hướng, kế hoạch
xác định của nhà nước.
Vai trò kích thích phát triển:
- Nhằm tạo ra động lực mạnh mẽ cho sự phát triển kinh tế-xã hội.
- Không mang tính bắt buộc mà tạo ra cơ chế khuyến khích.
Vai trò điều tiết: Nhà nước dùng chính sách để điều tiết sự mất cân bằng
nhằm đảm bảo sự ổn định, phát triển xã hội.
Tóm lại, cs là sự phân phối lợi ích đối với toàn xã hội có chọn lọc, sau khi đã
cân nhắc các mâu thuẫn lợi ích và sự phân phối đó chỉ thực hiện sau khi chính
sách thực thi.
Ví dụ: chính sách bảo hiểm y tế (BHYT) toàn dân, được triển khai mạnh mẽ từ năm 2009 và không ngừng hoàn thiện cho đến nay. Chính sách BHYT toàn dân góp phần đảm bảo rằng mọi người dân, không phân biệt thu nhập, giới tính hay nơi cư trú, đều có cơ hội tiếp cận dịch vụ y tế. Điều này giúp thu hẹp khoảng cách y tế giữa các vùng miền, giữa người giàu và người nghèo, từ đó thúc đẩy công bằng xã hội. Thông qua chính sách BHYT, người dân được khám chữa bệnh định kỳ, phát hiện sớm các bệnh lý và được hỗ trợ chi phí điều trị. Điều này không chỉ nâng cao chất lượng cuộc sống mà còn góp phần duy trì nguồn lực lao động khỏe mạnh, phục vụ phát triển kinh tế - xã hội. Khi người dân không còn phải lo lắng về chi phí y tế đột xuất, đặc biệt trong trường hợp bệnh nặng hoặc tai nạn, chính sách BHYT đóng vai trò như một cơ chế chia sẻ rủi ro, từ đó góp phần ổn định đời sống người dân và ổn định xã hội.
Câu 2. Từ một chính sách công cụ thể hãy phân tích vai trò của các chủ thể chính sách công.
Chủ thể chính sách được hiểu là những cá nhân, tổ chức tham gia vào quá trình chính sách. Chủ thể chính sách bao giờ cũng ở cấp số đông- những nhóm xã hội và luôn có sự hiện diện của Nhà nước-chủ thể cơ bản và chủ yếu. Những chủ thể cơ bản trong quá trình chính sách:
a. Những người làm chính sách:
Là tổ chức, cá nhân, nhóm xã hội có ảnh hưởng quan trọng đến nội dung và kết quả của các chính sách.
- Nhóm các nhà phân tích: trường đại học, viện nghiên cứu, nhà phân tích chính sách chuyên nghiệp.
- Nhóm ảnh hưởng đến các quyết định chính sách: tổ chức, cá nhân có quyền lợi liên quan.
- Nhóm các nhà quyết định chính sách: cá nhân, cơ quan nhà nước có thẩm quyền.
b. Những người thực hiện chính sách:
Đưa chính sách từ giấy tờ thành hiện thực, tạo ra thay đổi trong thực tế.
- Cơ quan nhà nước (cùng các công chức): cầu nối chính sách từ chính quyền đến người dân.
- Đối tượng chính sách.
- Tổ chức chính trị, xã hội ngoài nhà nước.
c. Những người hưởng lợi của chính sách:
Là những người được tiếp nhận một cách trực tiếp hoặc gián tiếp các thành quả hoặc lợi ích từ các chính sách của nhà nước đem lại. Tùy theo mục đích, đối tượng, phạm vi tác động của mỗi chính sách mà sẽ tồn tại những nhóm hưởng lợi khác nhau.
+ Những tổ chức và cá nhân nhất trí với nhà nước hoặc cơ bản là ủng hộ nhà nước: những chủ thể ra sức ủng hộ các chính sách từ nhà nước.
+ Những người đại diện cho phương hướng phát triển của lực lượng sản xuất của xã hội: vì phát triển lực lượng sản xuất xã hội là nhiệm vụ hàng đầu của các chính phủ nên những chủ thể này tất nhiên hưởng lợi từ chính sách.
+ Đa số thành viên xã hội: chính sách công đề ra để giải quyết các nhu cầu chung của xã hội, vì vậy, càng nhiều người được hưởng lợi thì sẽ càng ít người phản đối chính sách.
Ví dụ: Chương trình Mục tiêu Quốc gia về giảm nghèo bền vững, được triển khai tại Việt Nam trong nhiều giai đoạn, từ năm 2005 đến nay.
Nhà nước (Quốc hội, Chính phủ, Bộ ngành Trung ương) là chủ thể trung tâm và có vai trò quyết định trong toàn bộ quá trình chính sách. Định hướng, xây dựng và đảm bảo nguồn lực, cơ chế vận hành chính sách.
Chính quyền địa phương (Tỉnh, huyện, xã) trực tiếp thực thi và triển khai chính sách đến từng hộ dân: Điều tra, xác định hộ nghèo, cận nghèo. Phân bổ hỗ trợ (về tài chính, đào tạo nghề, nhà ở, đất đai, vay vốn...). Tổ chức tuyên truyền, vận động người dân tham gia chính sách. Cầu nối giữa trung ương và người dân; đảm bảo chính sách đến đúng đối tượng, đúng nhu cầu thực tiễn.
Người dân (đặc biệt là người nghèo và cận nghèo) vừa là đối tượng thụ hưởng, vừa là chủ thể tham gia thực hiện chính sách: Tham gia các chương trình hỗ trợ như vay vốn, đào tạo nghề, sản xuất. Phản hồi, góp ý về hiệu quả thực tế của chính sách. Vươn lên thoát nghèo trên cơ sở hỗ trợ của nhà nước.
Câu 3. Phân tích phương pháp phân tích chi phí – lợi ích trong phân tích chính sách công. Vận dụng phương pháp này vào phân tích một chính sách công cụ thể.
Phân tích chi phí – lợi ích (CBA) là một phương pháp định lượng quan trọng trong phân tích chính sách công. Nó giúp so sánh giữa tổng chi phí và tổng lợi ích mà một chính sách mang lại, từ đó hỗ trợ nhà hoạch định chính sách quyết định có nên thực hiện chính sách đó hay không.
*Các bước cơ bản trong phân tích chi phí – lợi ích:
1. Xác định mục tiêu chính sách
2. Liệt kê chi phí và lợi ích
3. Đo lường và định lượng
4. So sánh chi phí và lợi ích
5. Đưa ra quyết định
* Đặc điểm
- Lâu đời, thông dụng, quan tâm đến hiệu quả
- Lợi ích xã hội và kinh tế thuần tuý của chính sách
+ Quan tâm đến phân tích lợi ích xã hội và kinh tế thuần tuý của chính sách, dùng để lựa chọn phương án hoặc giải pháp chính sách có hiệu quả kinh tế lớn nhất trên cơ sở kết hợp sử dụng thông tin và toán học
+ Việc phát triển các phương pháp, công cụ để xác định tính tối ưu là 1 hướng quan trọng trong nghiên cứu chính sách hiện nay
- Phương pháp có 2 nguyên tắc phải tuân thủ là:
1. Giả định rằng, nếu phương án hoặc giải pháp được lựa chọn, lợi ích mà nó mang lại cho cộng đồng bắt buộc phải lớn hơn chi phí bỏ ra.
2. Trong cùng một vấn đề, có thể có nhiều giải pháp lợi ích lớn hơn chi phí, trong trường hợp này chỉ có phương án hoặc giải pháp có khoảng cách giữa lợi ích-chi phí lớn nhất mới được chọn.
* Chính sách công mà em quan tâm: Chính sách về y tế công bằng và tiếp cận các dịch vụ y tế đầy đủ cho mọi công dân
=> Vận dụng phương pháp phân tích chi phí – lợi ích vào phân tích chính sách
- Chính sách này nhằm đảm bảo rằng mọi người, bao gồm cả những người có thu nhập thấp, sẽ có quyền truy cập vào dịch vụ y tế chất lượng cao
- Để phân tích chi phí, ta cần tính toán chi phí của việc phát triển khai chính sách này, bao gồm việc xây dựng cơ sở hạ tầng y tế mới, mua sắm trang thiết bị y tế, tăng cường đào tạo cho nhân viên y tế, chi phí cho việc thu thập dữ liệu và phân tích các thông tin liên quan đến dịch vụ y tế
- Để phân chia lợi ích, ta cần tính toán giá trị của các lợi ích mà chính sách này được trả lại. Lợi ích có thể bao gồm tăng cường sức khoẻ của người dân, giảm tỷ lệ bệnh tật và tử vong, tăng cường năng suất lao động, giảm chi phí y tế cá nhân và gia đình, tăng cường sự hài lòng của công dân về dịch vụ y tế
=> Có thể so sánh chi phí và lợi ích để đưa ra quyết định chính sách này có đáng đầu tư hay không. Nếu lợi ích lớn hơn chi phí, thì chính sách này có thể được khai thác và ngược lại.
Câu 4. Phân tích phương pháp thực nghiệm kinh điển trong phân tích chính sách công. Vận dụng phương pháp này vào phân tích một chính sách công cụ thể.
Phân tích chính sách là quá trình sử dụng các kiến thức khoa học, các phương pháp và kỹ thuật đa dạng để xử lí các thông tin thực tế về chính sách và trong quy trình chính sách, từ đó rút ra những điểm cần sửa đổi, bổ sung để nâng cao hiệu lực và hiệu quả của chính sách.
Với kỹ thuật phân tích theo phương pháp thực nghiệm kinh điển, người ta thiết lập 2 nhóm đối tượng tương đẳng với nhau theo nhiều khía cạnh nhưng cũng phân biệt với nhau để so sánh, đó là: (i) nhóm thực nghiệm: nhóm chịu tác động của chính sách; và (ii) nhóm so sánh: nhóm không chịu tác động của chính sách.
Mục tiêu chủ yếu ở đây là đo lường và khẳng định hiệu quả của một chính sách bằng cách chứng thực được những tác động và biến chuyển ( của nhóm thực nghiệm) theo như dự định, còn nhóm không được tác động thì không có biến chuyển gì.
Để phân tích tác động của Điều 3 Nghị định 49/2010/NĐ-CP Quy định về miễn, giảm học phí, hỗ trợ chi phí học tập và cơ chế thu, sử dụng học phí đối với cơ sở giáo dục thuộc hệ thống giáo dục quốc dân, có quy định sinh viên sư phạm, người theo học các khóa đào tạo nghiệp vụ sư phạm để đạt chuẩn nghề nghiệp được miễn học phí, đặt sự so sánh tác động của chính sách đối với nhóm đối tượng này với nhóm đối tượng là sinh viên các khối ngành khác sẽ thấy chính sách có tác động khuyến khích những sinh viên có hoàn cảnh khó khăn vẫn có điều kiện học đại học, cân bằng số lượng sinh viên giữa các khối ngành, hỗ trợ các sinh viên đam mê với các ngành liên quan đến nghiệp vụ sư phạm, sinh viên các khối ngành khác vẫn đóng học phí theo quy định của nhà trường.
Câu 5. Phân tích các căn cứ hoạch định chính sách công. Liên hệ thực tiễn tại Việt Nam.
a. Căn cứ pháp luật:
Pháp luật là những quy tắc xử sự chung do nhà nước ban hành để điều chỉnh các quan hệ xã hội, trong đó, các quan hệ chính sách phù hợp với ý chí của nhà nước.
Các chính sách không được trái với những quy định pháp luật, vì vậy mà hoạt động xây dựng chính sách phải căn cứ vào hệ thống pháp luật hiện hành, đặc biệt là cần nắm vững được các quy định pháp luật đang điều tiết hoặc liên quan đến lĩnh vực chính sách đó.
Các thể chế pháp luật không gây ra hành động nhưng có tác động đến các chính sách bằng cách xác định hình thức thể hiện vấn đề và các giải pháp cụ thể. Đồng thời, cung cấp cho các nhà hoạch định những quy tắc hành động, tiêu chuẩn xây dựng chính sách, cũng như những ràng buộc và khuôn khổ nhất định.
Để chính sách đi vào cuộc sống, nhà nước phải thể chế hóa chính sách thành các quy phạm pháp luật vừa khuyến khích, vừa cưỡng chế đối với việc thi hành chính sách đó.
Liên hệ: Chính sách Cải cách tiền lương được thực hiện từ năm 2024 là một ví dụ rõ ràng.
Việc cải cách này phải bám sát Luật Ngân sách nhà nước, Bộ luật Lao động, Luật Cán bộ công chức, Luật Viên chức và các văn bản hướng dẫn thi hành.
Nhà nước đã thể chế hóa chính sách cải cách tiền lương bằng việc ban hành Nghị định điều chỉnh mức lương cơ sở (từ 1/7/2024 lên 1,8 triệu đồng/tháng), có hiệu lực bắt buộc với toàn bộ hệ thống công quyền.
Đây là quá trình chuyển hóa chính sách thành quy phạm pháp luật, bảo đảm việc thực thi có tính cưỡng chế và đồng bộ trên cả nước.
b. Căn cứ xã hội:
Việc đề ra chính sách phải xuất phát từ những căn cứ xã hội, như: mức sống dân cư, thực trạng lao động, công bằng xã hội, trình độ dân trí, chất lượng giáo dục, y tế, an ninh trật tự, tâm lý dư luận…Chúng là điều kiện xuất phát, có ảnh hưởng và tác động trực tiếp đến sự xuất hiện của một chính sách. Vì vậy, hoạch định chính sách luôn phải xác định rõ các yếu tố nào tác động đến lĩnh vực chính sách và các ảnh hưởng đối với xã hội khi chính sách được thực hiện.
Liên hệ: Chính sách giảm nghèo đa chiều giai đoạn 2021–2025 được xây dựng dựa trên các yếu tố xã hội như:
Mức sống dân cư không đồng đều giữa thành thị – nông thôn – miền núi.
Tỷ lệ hộ nghèo, cận nghèo còn cao ở vùng sâu, vùng xa, đồng bào dân tộc thiểu số.
Chính phủ đã dựa vào chỉ số đo lường nghèo đa chiều (thu nhập, y tế, giáo dục, nhà ở, nước sạch, tiếp cận thông tin...) để thiết kế chính sách phù hợp.
Ngoài ra, chính sách còn phản ánh tâm lý dư luận và mong muốn công bằng xã hội, góp phần ổn định trật tự xã hội.
c. Căn cứ khoa học-công nghệ:
Vì sự phát triển nhảy vọt của khoa học công nghệ, làm biến đổi sâu sắc mọi lĩnh vực của đời sống xã hội và hình thành nền kinh tế tri thức, điều này tác động lớn đến sự thành công của một chính sách. Các nước có thể cải thiện vị thế của mình thông qua việc áp dụng khoa học công nghệ vào chính sách.
Đối với Việt Nam, khoa học-công nghệ được xác minh là chìa khóa mở đường để bước vào thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa. Do đó, mọi chính sách đề ra đều phải tiếp thu và tận dụng những thành tựu tiến của khoa học và công nghệ.
Liên hệ: Chính sách chuyển đổi số quốc gia là minh chứng điển hình cho việc hoạch định chính sách dựa trên căn cứ khoa học – công nghệ:
Thực tế phát triển nhanh của AI, big data, blockchain, IoT đã tạo tiền đề cho chính phủ xây dựng Chương trình chuyển đổi số quốc gia đến năm 2025, định hướng đến 2030.
Việt Nam đặt mục tiêu chính phủ số, kinh tế số, xã hội số, coi công nghệ là đòn bẩy để hiện đại hóa bộ máy và phát triển bền vững.
Chính sách còn thúc đẩy ứng dụng công nghệ trong giáo dục, y tế, hành chính công, như Cơ sở dữ liệu quốc gia, CCCD gắn chip, học bạ điện tử,...
d. Bối cảnh quốc tế:
Bối cảnh quốc tế trong những thập kỷ gần đây có sự biến động hết sức to lớn. CNXH hiện thực tạm thời lâm vào thoái trào nhưng vẫn có điều kiện và khả năng phục hồi và phát triển. Toàn cầu hóa trở thành xu thế tất yếu khách quan ngày càng thu hút nhiều nước tham gia và trở thành một động lực chính, thúc đẩy sự tương tác giữa các quốc gia trong mọi lĩnh vực kinh tế, công nghệ, văn hóa và quản lý. Đồng thời, toàn cầu hóa cũng dẫn đến sự thay đổi về chính sách liên quốc gia cũng như chính sách của từng nước nhằm tăng tính hiệu quả kinh tế thông qua hội nhập kinh tế, hoặc nới lỏng sự kiểm soát các thị trường quốc gia.
Liên hệ: Trước xu thế toàn cầu hóa và hội nhập kinh tế sâu rộng, Việt Nam cần điều chỉnh chính sách để đáp ứng yêu cầu sân chơi chung (về thuế quan, lao động, môi trường, sở hữu trí tuệ...).
Việc ký kết và thực thi các hiệp định này thúc đẩy cải cách thể chế, cải thiện môi trường đầu tư và nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia.
Ngoài ra, biến động địa chính trị và kinh tế toàn cầu (như chiến tranh thương mại Mỹ – Trung, đại dịch COVID-19) cũng khiến Việt Nam phải điều chỉnh chính sách về chuỗi cung ứng, an ninh lương thực và y tế dự phòng.
Câu 6. Phân tích những đặc trưng của vấn đề chính sách. Lựa chọn một chính sách công cụ thể và phân tích những đặc trưng của vấn đề chính sách đó.
Vấn đề chính sách được hiểu là những hiện tượng xã hội được con người quan tâm rộng rãi và đòi hỏi phải giải quyết. Tính công cộng là đặc trưng cơ bản của các vấn đề xã hội.
Những vấn đề của các chính sách đều xuất phát từ yêu cầu thực hiện các mục tiêu chiến lược trong điều kiện cụ thể của nước ta, có những đặc trưng:
Một là, sự phụ thuộc lẫn nhau của các vấn đề chính sách.
Các vấn đề chính sách là một phần của toàn bộ hệ thống các vấn đề. Hệ thống thường khó giải quyết và ít khi được giải quyết độc lập. Hệ thống các vấn đề phụ thuộc lẫn nhau đòi hỏi cách tiếp cận vấn đề không tách biệt khỏi các hệ thống mà xem chúng là một bộ phận hợp thành.
Hai là, các vấn đề chính sách là sản phẩm của sự phán xét chủ quan của con người.
Các vấn đề chính sách không tồn tại tách rời với các cá nhân và nhóm người đã xác định chúng. Các vấn đề chính sách cũng có thể được tạo ra từ trí óc bởi sự truyền đạt các kinh nghiệm qua sự phán xét của con người. Nếu sự chênh lệch giữa nhận thức thực tế và mong muốn đạt được là không đáng kể thì vấn đề nảy sinh trong thực tế sẽ không phát triển thành chính sách. Ngược lại, sự chênh lệch này chỉ mang tính tương đối thì chính sách có thể ra đời. Tóm lại, vấn đề chính sách nảy sinh như một nhu cầu đời sống xã hội, là sự gặp gỡ giữa thực tế khách quan và nhận thức chủ quan của con người về hiện tượng nào đó và cần được chính sách để giải quyết.
Ba là, sự năng động của vấn đề chính sách.
Bởi có nhiều giải pháp khác nhau cho một vấn đề đưa ra cũng như có nhiều cách xác định vấn đề này. Các vấn đề và các giải pháp là một dòng liên tục. Các giải pháp đối với vấn đề có thể trở nên không phù hợp ngay cả khi vấn đề mà các giải pháp đó nhằm vào vẫn giữ nguyên tính bức xúc.
Ví dụ: Chế độ trợ cấp cho các gia đình thương binh, liệt sĩ từ ngày 01/07/2021.Tóm tắt, chế độ này sẽ trợ cấp tài chính, hỗ trợ giáo dục, y tế, phương tiện đi lại,..cho những đối tượng, hộ gia đình có thương binh, liệt sĩ.
Chính sách này là sự kết hợp hài hòa giữa việc ghi nhớ công lao anh hùng chiến sĩ hy sinh vì nước với những chính sách xã hội liên quan đến y tế, giáo dục, giao thông và an sinh xã hội. Bên cạnh đó, chính sách thể hiện truyền thống “uống nước nhớ nguồn” dễ dàng nhận được cái nhìn thiện cảm từ nhân dân, tăng tín nhiệm của Đảng với nhân dân. Cuối cùng, chính sách này áp dụng với đối tượng thân nhân của những thương binh, liệt sĩ nói chung mà các nhóm đối tượng nói riêng, khi thân nhân của các cựu chiến sĩ là sự tập hợp của nhiều tầng lớp trong xã hội. Để hỗ trợ những đối tượng khác nhau sẽ cần những phương pháp khác nhau. Điều này thể hiện tính năng động của chính sách.
Câu 7. Phân tích phương pháp kinh tế trong thực hiện chính sách công. Lựa chọn một chính sách công cụ thể và phân tích việc sử dụng phương pháp kinh tế trong thực hiện chính sách công đó.
*Phương pháp kinh tế:
Là cách thức tác động có chủ đích và biện pháp chi phối trực tiếp lên các đối tượng tham gia thực hiện chính sách bằng các lợi ích để thực hiện mục tiêu chính sách. Đây là phương pháp tác động trực tiếp đến lợi ích của nhóm đối tượng chính sách, nên nó có tác dụng rất mạnh so với các phương pháp khác.
Chính sách này giúp đối tượng chính sách chủ động, sáng tạo làm theo những yêu cầu chính sách, nó không chỉ có tác động về mặt kinh tế mà còn có tác động về mặt xã hội. Tuy nhiên, biện pháp này dễ gây tranh cãi, mâu thuẫn do tác động trực tiếp đến lợi ích kinh tế của đối tượng, ngoài ra có những chính sách thực hiện theo biện pháp này phải sửa đổi liên tục để cân bằng nhất giữa nguyện vọng của đối tượng và lợi ích xã hội. Vậy nên, phương pháp kinh tế nếu thực hiện song song cùng các biện pháp khác sẽ tạo hiệu quả toàn diện.
VD: khi mới ban hành Quyết định số 1368/QĐ-TTg quy định mọi công dân đều phải làm căn cước công dân có gắn chíp, đã khiến nhân dân bối rối, thậm chí phản đối khi việc đổi CMND sang CCCD cũ chưa lâu, vì vậy để đảm bảo hiệu quả của chính sách là mọi người dân đều có CCCD gắn chíp, bên cạnh việc giáo dục tuyên truyền thông qua các cán bộ ở phường, xã, phương tiện truyền thông thì các nhà thực hiện chính sách còn quy định các trường hợp cụ thể phải đổi từ CCCD cũ sang CCCD gắn chíp nếu không sẽ bị phạt hành chính từ 300.000 đến 500.000 - tức là các nhà thực hiện chính sách đã áp dụng phương pháp kinh tế và phương pháp hành chính.
Câu 8. Phân tích phương pháp giáo dục, thuyết phục trong thực hiện chính sách công. Lựa chọn một chính sách công cụ thể và phân tích việc sử giáo dục, thuyết phục trong thực hiện chính sách công đó.
*Phương pháp giáo dục thuyết phục: Là cách thức tác động lên các đối tượng và quá trình chính sách bằng biện pháp tâm lý, tư tưởng; tạo ra môi trường đồng thuận về mặt tinh thần trong quá trình thực hiện chính sách.
Bằng cách vận dụng các quy luật tâm lý, tác động vào nhận thức và tình cảm của con người để khiến họ tin tưởng, thực hiện chính sách với hiệu quả tốt nhất, phương pháp này giúp đối tượng chính sách nhận thức được sâu sắc và thực hiện chính sách một cách chủ động hoàn toàn nếu có sự tin tưởng, gắn bó. Tuy nhiên, phương pháp này dễ bị kẻ xấu lạm dụng để “thao túng” đối tượng chính sách thiếu hiểu biết và điều kiện để thực hiện phương pháp này chưa đủ để phổ rộng lên tất cả đối tượng chính sách, hơn nữa, hiệu quả giáo dục không phải lúc nào cũng thành công nếu chỉ thông qua lời diễn thuyết, thông báo, văn bản thông thường,... Để phương pháp giáo dục thuyết phục tối ưu nhất cần kết hợp với các phương pháp khác một cách uyển chuyển, linh hoạt.
VD: Trong chính sách tiêm chủng vắc xin COVID-19 tại Việt Nam, phương pháp giáo dục, thuyết phục được triển khai mạnh mẽ nhằm nâng cao nhận thức và khuyến khích người dân tự nguyện tiêm chủng. Nhà nước đã sử dụng truyền thông đại chúng, huy động người nổi tiếng, chuyên gia y tế để tuyên truyền lợi ích của vắc xin; đồng thời cử cán bộ y tế cơ sở đến từng hộ dân để giải thích, tư vấn cụ thể, đặc biệt ở vùng sâu vùng xa. Ngoài ra, thông tin sai lệch về vắc xin cũng được xử lý và phản bác kịp thời. Nhờ các biện pháp này, tỷ lệ người dân đồng thuận tiêm chủng đạt mức cao, góp phần kiểm soát hiệu quả dịch bệnh trên cả nước.
Câu 9. Phân tích phương pháp hành chính trong thực hiện chính sách công. Lựa chọn một chính sách công cụ thể và phân tích việc sử dụng phương pháp hành chính trong thực hiện chính sách công đó
Là các tác động mang tính pháp quyền của nhà nước lên các hoạt động và quan hệ xã hội nhằm hướng các hành vi xã hội đạt tới các mục tiêu chính sách đã đề ra.
Phương pháp này mang tính áp dụng quyền lực của pháp luật cao, buộc đối tượng chính sách phải tuân thủ dù muốn hay không, được sử dụng trong trường hợp các phương pháp khác không còn hoặc không thể áp dụng. Phương pháp này chính sách để có độ chính xác cao, các nhà thực hiện chính sách phải xem xét kĩ lưỡng những trường hợp thực hiện cưỡng chế, tránh áp dụng nhầm đối tượng, nhầm trường hợp gây lên những hậu quả nghiêm trọng, ngoài ra phương pháp này còn trở nên phản tác dụng nếu các đối tượng tỏ ý lách luật, chống đối.
VD: khi mới ban hành Quyết định số 1368/QĐ-TTg quy định mọi công dân đều phải làm căn cước công dân có gắn chíp, đã khiến nhân dân bối rối, thậm chí phản đối khi việc đổi CMND sang CCCD cũ chưa lâu, vì vậy để đảm bảo hiệu quả của chính sách là mọi người dân đều có CCCD gắn chíp, bên cạnh việc giáo dục tuyên truyền thông qua các cán bộ ở phường, xã, phương tiện truyền thông thì các nhà thực hiện chính sách còn quy định các trường hợp cụ thể phải đổi từ CCCD cũ sang CCCD gắn chíp nếu không sẽ bị phạt hành chính từ 300.000 đến 500.000 - tức là các nhà thực hiện chính sách đã áp dụng phương pháp kinh tế và phương pháp hành chính.
Câu 10. Phân tích các điều kiện thực hiện chính sách công. Lựa chọn một chính sách công cụ thể và phân tích các điều kiện thực hiện chính sách công đó.
a. Tính rõ ràng và nhất quán của mục tiêu chính sách.
Việc thực hiện chính sách phụ thuộc một cách quyết định ở tính đúng đắn, khoa học và đáp ứng yêu cầu thực tiễn của công tác hoạch định chính sách trong đó có vấn xác định mục tiêu chính sách.
b. Phải có đủ nguồn lực cần thiết.
Các nguồn lực chính là những yếu tố tham gia vào quá trình thực hiện chính sách để góp phần tạo nên những biến đổi cần thiết. Các chính sách khác nhau về quy mô, phạm vi và lĩnh vực tác động sẽ có nhu cầu khác nhau về việc sử dụng nguồn lực. là cơ sở đảm bảo cho một chính sách có thể thực hiện, các nguồn lực cần bảo đảm ở mức hợp lý và đủ lớn để đáp ứng các yêu cầu tối thiểu của chính sách.
Thông thường, nguồn lực của chính sách có thể được tạo lập từ hai nguồn chính: Một là, nguồn lực từ ngân sách nhà nước. Hai là, nguồn lực được huy động từ các đối tượng chịu tác động của chính sách bằng phương thức nhà nước và nhân dân cùng làm. Biện pháp này áp dụng nhằm giảm bớt các chi phí ngân sách đồng thời nâng cao trách nhiệm cộng đồng xã hội của dân cư. Ngoài ra, các nguồn tài trợ của các tổ chức quốc tế và các nước phát triển cũng đang được nhiều nước sử dụng để thực hiện chính sách.
Nhìn chung thì các chính sách đều phải có các nguồn lực cơ bản như:
+ Tổ chức: là một cơ cấu được lập ra nhằm thực hiện một hoặc một số nhiệm vụ hay chức vụ được hợp thức hóa.
+ Nhân lực (nguồn lực con người): quyết định trong lực lượng sản xuất mới, người đứng đầu có vai trò quan trọng, được chỉ định theo cách thức chính trị, phụ thuộc nhiều vào đội ngũ công chức.
+ Kinh phí: tiền đề vật chất đảm bảo cho chính sách được thực hiện, chi phí xây dựng cơ sở vật chất, mua sắm vật tư, phương tiện kỹ thuật, trả lương, bồi thường cho những người thiệt hại do thực hiện chính sách gây ra.
+ Vật lực thông tin: là những trang thiết bị, phương tiện vật chất kỹ thuật, điều kiện và trình độ thông tin...Những thông tin có ích cho việc ra quyết định hoặc giải quyết một số nhiệm vụ nào đó, là phương tiện để người lãnh đạo thực hiện chức năng điều khiển.
c. Thời hạn thực hiện chính sách:
Thời gian thực hiện chính sách phải thỏa mãn đủ dài để chuẩn bị, nghiên cứu, thích nghi, thay đổi, thời gian không quá dài tránh lu mờ ý nghĩa của chính sách.
Ví dụ: Chính sách hỗ trợ người lao động và doanh nghiệp bị ảnh hưởng bởi COVID-19 (Nghị quyết 68/NQ-CP – năm 2021)
+ Tính rõ ràng và nhất quán của mục tiêu chính sách:
Mục tiêu của chính sách được xác định rõ ràng: hỗ trợ kịp thời, đúng đối tượng là người lao động mất việc, ngừng việc hoặc doanh nghiệp gặp khó khăn do đại dịch. Nội dung hỗ trợ đa dạng gồm tiền mặt, giảm mức đóng bảo hiểm, tạm hoãn đóng quỹ hưu trí… Điều này giúp chính sách bám sát thực tiễn, dễ hiểu, dễ triển khai và tạo sự đồng thuận trong xã hội.
+ Đảm bảo đủ nguồn lực:
Chính phủ huy động nguồn ngân sách trung ương kết hợp với đóng góp của địa phương để phân bổ kinh phí. Hệ thống tổ chức thực hiện gồm Bộ LĐTB&XH, BHXH Việt Nam, UBND các cấp đã vào cuộc, triển khai hướng dẫn cụ thể. Tuy nhiên, nguồn nhân lực thực thi ở nhiều nơi còn yếu, dẫn đến hiện tượng chậm giải ngân, thiếu thông tin khiến một số đối tượng không tiếp cận được hỗ trợ. Điều này cho thấy dù có nguồn tài chính nhưng các nguồn lực tổ chức, nhân lực, thông tin chưa đồng đều, ảnh hưởng đến hiệu quả thực hiện.
+ Thời hạn thực hiện chính sách:
Chính sách quy định thời hạn hỗ trợ cụ thể từ tháng 7 đến hết năm 2021. Mặc dù thời gian này đủ để các cơ quan chức năng chuẩn bị và triển khai, nhưng một số địa phương lúng túng do dịch diễn biến nhanh, nhiều lần giãn cách. Vì vậy, việc điều chỉnh thời gian linh hoạt và gia hạn thêm là cần thiết để đảm bảo chính sách phát huy hiệu quả thực sự.
Câu 11. Phân tích các tiêu chí đánh giá chính sách công. Liên hệ thực tiễn một chính sách công ở Việt Nam
Đánh giá chính sách công là việc xem xét mức độ đạt được mục tiêu đề ra (hiệu quả kinh tế - xã hội của một chính sách) làm căn cứ cho việc lựa chọn và hoàn thành chính sách công. Đánh giá chính sách công trả lời cho những những câu hỏi: chính sách có cần thiết hay không; mục đích của chính sách là gì; chính sách đã tác động đến đối tượng ra sao, hiệu quả thế nào; ai đánh giá các tác động; các phản hồi của chính sách là gì; những tiêu chuẩn để đánh giá chính sách; các chính sách đó nên tiếp tục duy trì, phát triển hay chấm dứt?
Tóm lại, đánh giá chính sách là việc xem xét, nhận định về giá trị các kết quả thu được khi thực hiện một chính sách công. Tiêu chí là thước đo, chuẩn mực được đặt ra trong từng điều kiện, hoàn cảnh cụ thể, làm công cụ để phân tích, đánh giá lựa chọn các phương án và giải pháp chính sách.
Nhìn chung, các tiêu chí đánh giá cần đáp ứng các yêu cầu sau: tính khoa học, tính khách quan, tính so sánh, tính phương hướng, tính chuẩn xác. Có 6 tiêu chí đánh giá được thừa nhận rộng rãi sau:
*Tính hiệu lực của csc:
Là tiêu chí phản ánh mức độ tác động, làm biến đổi hoặc duy trì tồn tại xã hội của chính sách đó trên thực tế hoặc mong muốn của chính phủ. Đánh giá hiệu lực của chính sách trả lời cho câu hỏi: Chính sách có đạt được hiệu quả có giá trị hay không?
Hiệu lực của chính sách bao gồm hiệu lực lý thuyết và hiệu lực thực tế. Hiệu lực của một chính sách cao hay thấp chủ yếu phụ thuộc vào hiệu lực thực tế tốt hay xấu, bởi vì, đối với người dân, kết quả của một chính sách là quan trọng hơn so với ý định ban đầu của chính sách đó. Song, chính sách đạt được hiệu lực thực tế tốt đẹp nếu nó được hoạch định đúng đắn và mặt lý thuyết. Như vậy, hiệu lực của một chính sách phản ánh tính đúng đắn của cả hoạt động thực tế lẫn lý thuyết; là kết quả tác động tổng hợp của cả hiệu lực lý thuyết lẫn hiệu lực thực tế. Trên thực tế, hiện tượng kém hiệu lực hoặc không có hiệu lực thực tế tế của chính sách bắt nguồn từ những nguyên nhân sau:
- Nguyên nhân khách quan: các chính sách ra đời, phát huy tác dụng và suy giảm hiệu lực theo quy luật vòng đời của chính sách. Thông thường, vòng đời của chính sách trải qua 4 giai đoạn: giai đoạn đầu ( đưa chính sách vào thực hiện) -> giai đoạn 2 (giai đoạn hiệu quả và hiệu lực) -> giai đoạn 3 (giai đoạn hiệu lực giảm) -> giai đoạn 4 ( giai đoạn lạc hậu). - Nguyên nhân chủ quan:
+ Các chính sách không đem lại lợi ích thiết thực cho xã hội
+ Chính sách được đề ra không đủ các điều kiện thực thi; hoặc nó được ra tùy tiện cùng một lúc hàng loạt chính sách.
+ “Độ nhờn chính sách”.
+ Các lực lượng chống đối chính sách quá mạnh mà nhà nước lại không đủ năng lực để đối phó, xử lý.
+ Kỷ cương pháp luật không nghiêm.
=> Khả năng thành bại của một chính sách phụ thuộc vào rát nhiều yếu tố, đòi hỏi các nhà hoạch định chính sách phải biết phân tích, lựa chọn phương án tối ưu để thực hiện chính sách đó. Đánh giá chính sách hiệu lực của chính đòi hỏi nhiều thông tin và phương pháp tiến hành phức tạp nhưng nó rất hữu ích cho các nhà hoạch định chính sách trong việc thay đổi hoặc duy trì một chính sách hiện hành.
*Tính hiệu quả của csc:
Hiệu quả của một chính sách được xem xét ở mức độ đạt tới mục tiêu và thành công của một chính sách. Đánh giá hiệu quả của chính sách là sự trả lời cho câu hỏi: cần bao nhiêu nỗ lực để đạt được kết quả có giá trị?
Tính hiệu quả của một chính sách phản ánh tương quan so sánh giữa kết quả đạt được của chính sách với chi phí và công sức đã bỏ ra để đạt được kết quả ấy. Vì vậy, để đánh giá xác thực hiệu quả của chính sách, yêu cầu thiết là phải cụ thể và chi tiết hóa được các yếu tố liên quan đến chi phí và lợi ích của chính sách đó. Hiệu quả của chính sách không chỉ được tính một lần, mà nó được tính trong suốt quãng thời gian chính sách phát huy hiệu lực theo quy luật vòng đời của chính sách, do đó nó phải được tính thông qua một tổng kết quả chung. Về nguyên tắc, khi đánh giá hiệu quả của một chính sách người ta phải đánh giá hiệu quả tổng hợp của chính sách. Đó là kết quả tổng hợp về kinh tế - xã hội của chính sách đó. Ngoài ra, hiệu quả của một chính sách còn được thể hiện ở hiệu quả của hoạt động phối hợp chính sách. Đây là một tất yếu khách quan, bởi ranh giới giữa tác động và chi phí của các chính sách thường không rõ ràng mà chúng đan xen, chi phối lẫn nhau.
*Tính hữu dụng của chính sách:
Tính hữu dụng của chính sách phản ánh mức độ chính sách đã giải quyết được vấn đề đến đâu. Đánh giá tính hữu dụng của chính sách trả lời cho câu hỏi: Các kết quả của chính sách đã giải quyết được vấn đề ở mức độ nào?
*Tính công bằng của chính sách:
Là sự trả lời cho câu hỏi: các chi phí và lợi ích có được phân phối công bằng giữa các cá nhân và các nhóm người khác nhau hay không? Nội dung cơ bản nhất của công bằng xã hội là xử lý hợp lý nhất mqh giữa quyền lợi và nghĩa vụ trong điều kiện, hoàn cảnh nhất định. Chỉ có nhà nước với vai trò và quyền lực của mình mới có khả năng giải quyết các vấn đề liên quan tới công bằng xã hội. Vì vậy, các nhà nước trên thế giới đều quan tâm điều tiết công bằng xã hội thông qua các chính sách thuế, chính sách trợ cấp xã hội, chính sách xóa đói giảm nghèo,... Đồng thời, mỗi chính sách khi giải quyết vấn đề nhất định cũng phản ánh tính công bằng trong mục tiêu và giải pháp của nó.
Thông thường, một chính sách công đem lại lợi ích cho nhóm người này nhiều hơn nhóm người khác, thậm chí là gây thiệt hại cho nhóm người khác, lợi ích của mọi người trong cùng một nhóm cũng không giống nhau, do đó cần phải xử lý đúng đắn mối quan hệ giữa lợi ích công cộng và lợi ích đặc thù. Việc nhà nước thực hiện sự công bằng đến đâu tùy thuộc và sự đúng đắn và hợp lý của các chính sách đề ra. Tuy nhiên, dù nhà nước có tác động đến đâu thì sự cạnh tranh trong nền kinh tế thị trường cũng không thể đạt được sự công bằng tuyệt đối. Vấn đề là ở chỗ, nhà nước phải làm gì để xã hội bớt bất bình đẳng hơn nhưng vẫn duy trì được sự phát triển sản xuất một cách có hiệu quả. Công bằng trong chính sách của nhà nước chủ yếu là việc tạo ra những cơ hội ngang bằng nhau cho các đối tượng khác nhau.
*Tính đáp ứng yêu cầu của đối tượng chính sách:
Là sự trả lời cho câu hỏi: việc thực hiện chính sách đề ra có đáp ứng được mong muốn nhu cầu của các đối tượng của chính sách hay không? Trên thực tế, nhiều chính sách đề ra không đáp ứng được đầy đủ nguyện vọng của nhóm đối tượng chính sách.
*Kết hợp hợp lý giữa hiệu quả và công bằng ( hay tính thích đáng của chính sách): Thông thường, sự tác động của chính phủ nhằm tạo ra sự công bằng trong xã hội sẽ dẫn đến sự kém hiệu quả về mặt kinh tế. Do đó, phải đánh giá tác động của chính sách đến các đối tượng trong mối quan hệ giữa hiệu quả và tính công bằng. Mối quan hệ giữa tính hiệu quả và tính công bằng được đánh giá tương quan giữa giữa mục tiêu xã hội và mục tiêu kinh tế của chính sách, cũng như tương quan giữa chính sách kinh tế và chính sách xã hội.
Các chính sách không chỉ thúc đẩy phát triển kinh tế nhanh mà còn phải làm cho nó phát triển toàn diện. Tăng trưởng kinh tế tạo điều kiện thuận lợi cho việc thực hiện các mục tiêu xã hội; nhưng bản thân các mục tiêu xã hội hợp quy luật, thuận lòng dân lại có thể tạo ra động lực to lớn thúc đẩy tăng trưởng kinh tế.
Mỗi chính sách kinh tế đều phải nhằm mục tiêu phát triển xã hội, mỗi chính chính sách xã hội đều phải hàm chứa nội dung và ý nghĩa kinh tế, dù trực tiếp hay gián tiếp, trước mắt hoặc lâu dài. Xuất phát từ nhận thức chung đó, các giải pháp kinh tế - xã hội cần quán triệt yêu cầu: Thúc đẩy tăng trưởng kinh tế phải gắn liền với phát triển xã hội ngay từ đầu và trong suốt quá trình thực hiện các chính sách phát triển. Đồng thời, trong mỗi bước đi phải xác định mức độ hợp lý giữa tăng trưởng kinh tế với thực hiện tiến bộ và công bằng xã hội, sao cho hai mặt này không cản trở, triệt tiêu lẫn nhau mà còn hỗ trợ cho nhau.
Tóm lại, đánh giá chính sách thật chính xác là sự kết hợp của nhiều yếu tố, nhiều tiêu chí khác nhau như tính hiệu lực, tính hiệu quả, tính hữu dụng, tính công bằng, tính đáp ứng yêu cầu của đối tượng chính sách và tính thích đáng của chính sách. Đó là những cơ sở cho việc chọn ra những chính sách phù hợp nhất với hoàn cảnh, với nhân dân, là cơ sở để Nhà nước ta thực hiện nhiệm vụ lãnh đạo đất nước.
VD: Chính sách bảo hiểm y tế toàn dân tại Việt Nam
+Tính hiệu lực
Chính sách bảo hiểm y tế toàn dân đã đạt hiệu lực cao khi tỷ lệ người dân tham gia bảo hiểm tăng mạnh qua các năm (đạt hơn 92% dân số vào năm 2023). Đây là kết quả phản ánh sự tác động mạnh mẽ của chính sách tới toàn xã hội, thể hiện cả hiệu lực lý thuyết (thiết kế hợp lý) và hiệu lực thực tiễn (triển khai rộng khắp).
+Tính hiệu quả
Chính sách sử dụng nguồn lực lớn từ ngân sách nhà nước và người dân đóng góp. Tuy chi phí cao nhưng đổi lại, người dân giảm gánh nặng tài chính khi khám chữa bệnh. So sánh giữa chi phí đóng và quyền lợi nhận được cho thấy chính sách có hiệu quả tương đối tốt, nhất là với nhóm yếu thế.
+Tính hữu dụng
Chính sách đã góp phần giải quyết vấn đề khó tiếp cận dịch vụ y tế của người thu nhập thấp, vùng sâu vùng xa. Việc chi trả viện phí, thuốc men từ bảo hiểm giúp giảm tỷ lệ người dân rơi vào nghèo đói do bệnh tật.
+Tính công bằng
Mặc dù toàn dân đều có thể tham gia, nhưng mức đóng được chia theo thu nhập (người nghèo được miễn/giảm), cho thấy chính sách hướng tới sự công bằng trong tiếp cận. Tuy nhiên, vẫn còn chênh lệch chất lượng khám chữa bệnh giữa các tuyến, làm ảnh hưởng đến sự công bằng về dịch vụ.
+Tính đáp ứng yêu cầu đối tượng
Phần lớn người dân đánh giá chính sách có ích, nhưng một bộ phận chưa hài lòng với thủ tục, chất lượng dịch vụ, thái độ phục vụ của cán bộ y tế… Điều này cho thấy cần tiếp tục cải thiện để tăng tính đáp ứng.
+Kết hợp giữa hiệu quả và công bằng
Chính sách thể hiện nỗ lực của nhà nước trong việc vừa thúc đẩy an sinh xã hội, vừa giữ ổn định tài chính công. Đây là sự kết hợp khá cân bằng giữa hiệu quả kinh tế và công bằng xã hội.
Câu 12. Phân tích hình thức đánh giá chính sách thông qua thăm dò ý kiến của các đối tượng chính sách và vận dụng vào đánh giá một chính sách công cụ thể ở Việt Nam.
*Đánh giá chính sách thông qua thăm dò ý kiến
Hình thức này lấy căn cứ đánh giá là nguyện vọng hay các mục tiêu mà các đối tượng chính sách mong muốn đạt được. Hình thức đánh giá này thể hiện nhận định của đối tượng chính sách về các mục tiêu và giá trị của chính sách. Các phương pháp đánh giá được sử dụng ở đây là: phỏng vấn, phiếu thăm dò,điều tra nhanh, phân tích điều tra, phân tích luận chứng.
Ưu điểm của hình thức này là độ chính xác cao do lấy ý kiến trực tiếp từ những đối tượng tác động của chính sách, ngoài ra nó giúp các nhà hoạch định và thực hiện chính sách xác định nhanh chóng, rõ ràng hơn những mục tiêu cần thiết để điều chỉnh chính sách sao cho phù hợp. Nhưng khi lấy ý kiến, cần tìm đúng đối tượng, thực hiện khoa học, bài bản, không ít những trường hợp, sự đánh giá lẻ tẻ, tự phát của nhân dân bị bỏ qua
Ví dụ: Người khuyết tật sẽ được hưởng những ưu tiên khi tham gia giao thông trên các phương tiện giao thông công cộng.
Theo Điều 5 Thông tư 39/2012/TT-BGTVT quy định về chính sách ưu tiên cho người khuyết tật khi tham gia giao thông bằng phương tiện giao thông công cộng như sau:
(1) Ưu tiên khi mua vé, sắp xếp chỗ ngồi.
(2) Thực hiện miễn, giảm giá vé, giá dịch vụ cho người khuyết tật khi tham gia giao thông bằng phương tiện giao thông công cộng.
(3) Thông tin trợ giúp người khuyết tật. Ngoài ra, Điều 12 Nghị định 28/2012/NĐ-CP quy định về miễn, giảm giá vé, giá dịch vụ giao thông công cộng cho người khuyết tật.
Khi áp dụng hình thức đánh giá thông qua thăm dò ý kiến của các đối tượng chính sách thì chúng ta cần lưu ý là những chính sách cần thăm dò ý kiến có phù hợp với trình độ nhận thức của đối tượng hay không. Đối với chính sách giao thông thân thiện với người khuyết tật nhận được thiện cảm của người dân vì nó mang lại lợi ích tinh thần cao cả, giáo dục bằng hành động cho người dân về tinh thần tương thân tương ái và thể hiện con người Việt Nam có sự tinh tế quan tâm đến mọi tầng lớp trong xã hội, thể hiện tính dân chủ và phục vụ quyền công dân. Ngược lại, đối với những chính sách như luật đất đai được sửa đổi mới đây, phạm vi thăm dò ý kiến sẽ bị hạn chế vì khả năng cũng như trình độ của đại đa số người dân về chính sách này thiếu đầy đủ. Chỉ có những đối tượng nhận thức được lợi ích của chính sách mới có thể đóng góp ý kiến, thường là ý kiến có lợi cho họ.
Câu 13. Phân tích các nguyên tắc và hình thức điều chỉnh chính sách công. Liên hệ một chính sách công cụ thể ở Việt Nam.
Điều chỉnh chính sách là căn cứ vào kết quả đánh giá chính sách để bổ sung, sửa đổi hoặc chấm dứt một chính sách đang trong quá trình thực hiện.
Điều chỉnh chính sách là các giải pháp tác động bổ sung trong quá trình thực thi chính sách.
Điều chỉnh chính sách phải tuân thủ các quy tắc dưới đây:
- Chỉ điều chỉnh chính sách khi không thể không điều chỉnh: quy tắc này đòi hỏi các cơ quan thực thi chính sách không được tùy tiện, ngẫu hứng, chủ quan trong việc điều chỉnh chính sách mà phải thận trọng và tính hết hậu quả do việc điều chỉnh đem lại.
- Chỉ điều chỉnh ở đúng mức độ phải điều chỉnh: (ở mục tiêu, phương hướng, cách làm, bộ máy tổ chức,..), tránh kiểu điều chỉnh theo quán tính hay dây chuyền.
- Chỉ điều chỉnh trong phạm vi nguồn lực bổ sung cho điều chỉnh là đủ, tránh điều chỉnh tùy tiện vượt quá khả năng điều kiện cho phép.
Việc điều chỉnh chính sách có thể diễn ra dưới những hình thức sau:
- Điều chỉnh hình thức thực hiện chính sách: áp dụng cho các trường hợp các chính sách kém hiệu lực và hiệu quả do hình thức lựa chọn không đúng.
- Điều chỉnh mục tiêu của chính sách: đây là trường hợp mục tiêu đặt ra chưa sát mà các cơ quan thực hiện chính sách phải tính toán, điều chỉnh cho phù hợp để tạo ra sự thích nghi và bổ sung giá trị chính sách.
- Điều chỉnh cơ quan thực hiện chính sách: là trường hợp do lựa chọn các cơ quan chủ trì và phối hợp thực hiện chính sách không đúng, gây nhiều bất cập trong quá trình thực hiện chính sách, do đó nhà nước phải điều chỉnh.
- Điều chỉnh ngân sách cho thực hiện chính sách: khi ban hành hoặc vận hành một chính sách, không tránh khỏi trường hợp ngân sách thực tế vượt xa hoặc thâm hụt so với dự kiến, vậy nên Nhà nước cần điều chỉnh lại ngân sách để đảm bảo cho hiệu quả của việc thực hiện chính sách.
=> Việc điều chỉnh chính sách cần luôn được thực hiện thường xuyên để phù hợp với hoàn cảnh, giúp chính sách ngày càng hoàn thiện hơn do các chính sách được đề ra có thể chưa phù hợp hoàn toàn hoặc không phù hợp với đối tượng chính sách, điều kiện thực hiện chính sách.
VD: Chính sách tăng học phí theo Nghị định 81/2021/NĐ-CP là một chính sách công nhằm điều chỉnh mức đóng góp phù hợp với chi phí đào tạo. Tuy nhiên, trước phản ứng của xã hội và bối cảnh kinh tế khó khăn sau dịch COVID-19, Chính phủ đã điều chỉnh chính sách theo đúng nguyên tắc: chỉ điều chỉnh khi cần thiết, trong phạm vi nguồn lực cho phép và đúng mức độ cần điều chỉnh. Cụ thể, Nhà nước tạm dừng tăng học phí, điều chỉnh mục tiêu từ bù đắp chi phí sang đảm bảo an sinh xã hội, đồng thời bổ sung ngân sách hỗ trợ cho các địa phương. Đây là ví dụ điển hình cho việc điều chỉnh chính sách công đúng nguyên tắc và linh hoạt theo hoàn cảnh thực tiễn.
Câu 14. Phân tích nội dung, ý nghĩa của chính sách “ngụ binh ư nông” trong lịch sử phong kiến Việt Nam và vận dụng trong giai đoạn hiện nay.
Bối cảnh, nội dung của chính sách:
Chính sách “Ngụ binh ư nông” cho binh lính lao động, sản xuất tại địa phương trong một khoảng thời gian xác định, là chính sách xây dựng lực lượng quân sự thời phong kiến ở Việt Nam, áp dụng từ thời nhà Đinh đến thời Lê sơ. Nhà Đinh là triều đại phong kiến đầu tiên ở Việt Nam áp dụng chính sách này. Bắt đầu từ thời Lý, quân đội được xây dựng mang tính chính quy và phân cấp thành quân triều đình và quân địa phương.
Chính sách “ngụ binh ư nông” – gửi binh ở nhà nông có tác dụng đảm bảo lực lượng tham gia sản xuất trong thời bình nhưng khi có chiến tranh hay bất cứ khi nào triều đình cần đều có thể đáp ứng ngay. Cho binh lính lao động, sản xuất tại địa phương trong một khoảng thời gian xác định. Chủ yếu được thực hiện đối với hoạt động sản xuất nông nghiệp. Và việc tiến hành mang đến kinh nghiệm. Vừa đảm bảo giỏi đánh giặc, vừa có chuyên môn và khả năng phát triển đất nước, tăng gia sản xuất. Là chính sách xây dựng lực lượng quân sự thời phong kiến ở Việt Nam. Với các công việc trong phân bố hợp lý lực lượng với các tổ chức hiệu quả. Hàng năm, chia quân sĩ thành phiên thay nhau đi luyện tập. Bên cạnh các thanh niên đăng ký tên vào sổ nhưng vẫn ở nhà sản xuất. Khi có chiến tranh, khi cần triều đình sẽ điều động. Tức là đảm bảo theo tên và danh sách đối với lực lượng cần thiết. Với các trai tráng trong độ tuổi có sức khỏe. Chiến tranh có xảy ra thì lực lượng sẽ được điều động. Nhưng trong thời bình, họ vẫn được làm việc với tính chất ổn định, không xáo trộn cuộc sống.
Ngụ binh ư nông là việc liên kết hài hòa giữa việc quân sự và nông nghiệp, giữa kinh tế và quân sự, chuyển hóa nhanh từ thời bình và sang thời chiến khi cần. Có thể thấy nhu cầu bảo vệ đất nước và bảo vệ chính quyền cai trị cần một lực lượng quân đội hùng hậu. Tuy nhiên, nhu cầu nhân lực để sản xuất nông nghiệp cho đời sống cũng rất lớn. Vì vậy việc đưa quân về địa phương luân phiên cày cấy giúp lực lượng này tự túc được về lương thực, bớt gánh nặng về lương thực nuôi quân cho triều đình.
Ưu điểm của chính sách này chính là:
– Thể hiện quan điểm nông binh bất phân không phân biệt quân đội và nhân dân, ở đâu có dân là ở đó có quân, phù hợp với điều kiện xây dựng nền quốc phòng của một đất nước không rộng, người không đông, cần phải huy động tiềm lực cả nước vừa sản xuất vừa đánh giặc.
– Chính sách ngụ binh ư nông thể hiện tình quân dân thắm thiết, đây cũng chính là yếu tố quan trọng giúp quân đội Việt Nam chiến thắng những trận đánh lớn.
– Ngoài ra chính sách này là nước đi thông minh, vừa đảm bảo quân số vừa đảm bảo lương thực cần thiết để duy trì quân số, duy trì cho các cuộc đánh lâu dài. Giúp bộ đội rèn luyện tinh thần thích ứng với mọi điều kiện khó khăn
Ý nghĩa của chính sách trong lịch sử phong kiến Việt Nam:
- Ngụ binh ư nông là việc liên kết hài hòa giữa việc quân sự và nông nghiệp, giữa kinh tế và quân sự. Chuyển hóa nhanh từ thời bình và sang thời chiến khi cần. Và với khó khăn bấy giờ của đất nước ta, các nhu cầu trong phát triển nông nghiệp được khuyến khích thúc đẩy.
=> Có thể thấy nhu cầu bảo vệ đất nước và bảo vệ chính quyền cai trị cần một lực lượng quân đội hùng hậu. Tuy nhiên, nhu cầu nhân lực để sản xuất nông nghiệp cho đời sống cũng rất lớn. Và giặc đói, giặc dốt cũng nhiều hơn khi không đảm bảo lương thực và phát triển đất nước. Do đó mà khôi phục, ổn định và phát triển sản xuất cũng được xác định là một vai trò vô cùng quan trọng.
- Thể hiện quan điểm nông binh bất phân không phân biệt quân đội và nhân dân, ở đâu có dân là ở đó có quân. Phù hợp với điều kiện xây dựng nền quốc phòng của một đất nước không rộng, người không đông. Cần phải huy động tiềm lực cả nước vừa sản xuất vừa đánh giặc.
- Thể hiện tình quân dân thắm thiết. Việc kết hợp cũng như cùng nhau hợp tác thực hiện công việc chung của đất nước được tiến hành. Đây cũng chính là yếu tố quan trọng giúp quân đội Việt Nam chiến thắng những trận đánh lớn. Đoàn kết là sức mạnh lớn nhất giúp nhân dân ta chiến thắng được giặc xâm lược.
- Vừa đảm bảo quân số vừa đảm bảo lương thực cần thiết để duy trì quân số, duy trì cho các cuộc đánh lâu dài. Khi các dự trữ là cần thiết với các giai đoạn khó khăn tương lai được xác định. Giúp bộ đội rèn luyện tinh thần thích ứng với mọi điều kiện khó khăn. Với thời gian tham gia chiến đấu, người lính cần được yên tâm với chất lượng ăn uống. Từ đó có được sức khỏe và sức mạnh thể hiện tinh thần dân tộc.
Vận dụng chính sách trong giai đoạn hiện nay: (hỏi cô)
Câu 15. Phân tích nội dung, ý nghĩa của chính sách dân tộc trong lịch sử phong kiến Việt Nam và vận dụng trong giai đoạn hiện nay.
Việt Nam tuy là một quốc gia nhỏ nhưng lại có 54 dân tộc anh em. Là nước láng giềng của một thế lực lớn như Trung Quốc, Việt Nam ta từ xưa phải đề ra những chính sách phòng chống giặc ngoại xâm, trong đó, có chính sách đoàn kết dân tộc. Trong lịch sử phong kiến Việt Nam, chính sách dân tộc được thể hiện:
Thứ nhất, giải quyết đúng đắn vấn đề dân tộc. Vấn đề dân tộc “có vị trí chiến lược lớn’’, “luôn luôn có vị trí chiến lược’’, “có vị trí chiến lược lâu dài trong sự nghiệp cách mạng nước ta"... Việc xác định vị trí chiến lược lâu dài của công tác dân tộc chính là xuất phát từ đặc điểm của cộng đồng dân tộc ở nước ta. Bởi vì, vấn đề dân tộc vừa là vấn đề giai cấp, vừa là vấn đề quốc phòng - an ninh và bảo vệ chủ quyền lãnh thổ trong điều kiện của một quốc gia đa tộc người, đa dạng về văn hóa như ở Việt Nam. Đó là một đặc điểm lớn, là đặc trưng, diện mạo lịch sử, văn hóa của Việt Nam. Thứ hai, bình đẳng giữa các dân tộc là quyền ngang nhau của các dân tộc, không phân biệt dân tộc đó là đa số hay thiểu số, trình độ văn hóa, dân trí cao hay thấp, là bình đẳng trên mọi lĩnh vực kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội và được bảo đảm bằng pháp luật. Theo đó, bình đẳng giữa các dân tộc thể hiện trước hết ở sự bảo đảm và tạo mọi điều kiện để các dân tộc có cơ hội phát triển ngang nhau.
Thứ ba, tương trợ, giúp đỡ lẫn nhau giữa các dân tộc .
Thứ tư, chú trọng tính đặc thù của từng vùng, từng dân tộc. Bên cạnh đó, còn có những chính sách như ban thưởng của cải vật chất, miễn thuế, ban họ vua, phát huy văn hóa dân tộc và tổ chức các cuộc liên hôn chính trị, điển hình là gả công chúa cho các tù trưởng của bộ lạc,...
Ý nghĩa:
- Thể hiện tinh thần đoàn kết giữa các dân tộc Việt Nam.
- Thể hiện tinh thần tương thân tương ái, vì nơi cư trú của các dân tộc Việt Nam ngày xưa chủ yếu là ở vùng núi cao, khó di chuyển. Với suy nghĩ “nước xa không cứu được lửa gần”, vì vậy mà các dân tộc với nhau cần có sự liên minh và giúp đỡ để duy trì mối quan hệ tốt đẹp, giúp đỡ.
- Thể hiện chiến lược hòa bình của người Việt ta ngày xưa, khi là nước láng giềng của thế lực phong kiến phương Bắc, để có được bình yên cho đất nước phải duy trì sự “trong ấm, ngoài êm”. Chiến lược mối quan hệ hòa hiếu với các dân tộc trong nước và sử dụng các phương pháp ngoại giao mềm dẻo nhưng kiên quyết, cứng rắn đối với các thế lực thù địch.
Trong thời đại phát triển ngày nay, chính sách này vẫn tiếp tục duy trì:
Từ chủ trương của Đảng về vấn đề dân tộc, xác định rõ phát triển vùng dân tộc thiểu số và miền núi phải gắn với những vấn đề đổi mới cơ cấu kinh tế và tổ chức sản xuất theo hướng chuyển sang sản xuất hàng hóa phù hợp với đặc điểm kinh tế của từng vùng, tiểu vùng, dân tộc; gắn phát triển kinh tế - xã hội với giải quyết vấn đề dân tộc và quốc phòng - an ninh. Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ ban hành 41 chương trình, chính sách, trong đó có 15 chính sách trực tiếp cho đồng bào dân tộc thiểu số, vùng dân tộc thiểu số và 36 chính sách chung có ưu tiên cho đồng bào các dân tộc thiểu số. Nội dung các chính sách giai đoạn 2016 - 2018 tập trung chủ yếu vào lĩnh vực giảm nghèo; phát triển sản xuất trong nông, lâm nghiệp, thủy sản; phát triển giáo dục - đào tạo, văn hóa, như: Chính sách hỗ trợ đất ở, đất sản xuất, nước sinh hoạt, phát triển sản xuất và ổn định đời sống cho người dân tộc thiểu số nghèo, hộ nghèo vùng đặc biệt khó khăn; ổn định cuộc sống cho người dân tộc thiểu số di cư tự phát; phát triển kinh tế - xã hội cho các dân tộc thiểu số rất ít người; phát triển nguồn nhân lực các dân tộc thiểu số, người có uy tín trong đồng bào các dân tộc thiểu số; tuyên truyền và phổ biến, giáo dục pháp luật trong vùng đồng bào dân tộc thiểu số.
Tính đến tháng 10-2020, có 118 chính sách đang có hiệu lực triển khai thực hiện ở vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi, trong đó có 54 chính sách trực tiếp cho các đồng bào dân tộc thiểu số, vùng dân tộc thiểu số và miền núi, 64 chính sách chung có ưu tiên cho đồng bào các dân tộc thiểu số. Ngoài những chính sách tác động trực tiếp đến vùng dân tộc thiểu số và miền núi, hiện nay còn 21 chương trình mục tiêu có nội dung gián tiếp tác động đến vùng này. Nhờ vậy, vùng đồng bào các dân tộc thiểu số đã có sự phát triển mạnh mẽ hơn, phong phú và đa dạng hơn, đời sống vật chất và tinh thần của người dân được cải thiện rõ rệt so với trước thời kỳ đổi mới, trên tất cả các phương diện: ăn, ở, mặc, đi lại, học hành, chăm sóc sức khỏe, nghe, nhìn. Tỷ lệ hộ nghèo ở các xã, thôn, bản đặc biệt khó khăn giảm trung bình 3,5%/năm.