










Preview text:
1
Chương 2: Cơ sở thực tiễn, Quá trình hình thành và phát triển tư
tưởng Hồ Chí Minh
Bối cảnh Việt Nam cuối tk 19 đầu tk 20:
Xã hội việt nam trước khi Pháp xâm lược là xã hội phong kiến độc lập, nền nông
nghiệp lạc hậu trì trệ. Nhà nguyễn cùng với các chính sách trì trệ bảo thủ đã không
phát huy được sức mạnh dân tộc, không bảo vệ được tổ quốc, chống lại âm mưu xâm
lược của thực dân phương tây
1858, pháp xâm lược việt nam, triều đình nguyễn hèn hạ kí các hiệp ước và đến
1884 việt nam chính thức thành thuộc địa nửa pk. Sau khi bình định vn, pháp nô dịch
trên nhiều lĩnh vực với những chính sách ngu dân. Việt nam xuất hiện các giai cấp tầng
lớp mới như giai cấp công nhân, tầng lớp tiểu tư sản và tư sản. Trong xã hội tồn tại hai
mẫu thuẫn giữa toàn thể nhân dân việt nam với thực dân pháp và giữa nhân dân với địa chủ phong kiến
Kể từ khi pháp xâm lược, nhiều phong trào yêu nước đấu tranh chống pháp diễn
ra. Tiêu biểu là những phong trào mang ý thức hệ tư tưởng phong kiến (cần vương, yên
thế), thất bại chứng tỏ gcap địa chủ pk ko đủ sức giữ vai trò lãnh đạo với cm vn. Pt yêu
nước dân chủ tư sản (đông du, phan bội châu, phan châu trinh, lương văn can), mang
xu hướng bạo động, cải lương nhưng đều không thành công. Các pt đấu tranh của cn,
nd và binh lính ngừi việt trong quân đội pháp, chỉ nặng về đấu tranh kinh tế, chưa có
định hướng chính trị. Cuối 19 đầu 20, các phong trào diễn ra mạnh mẽ nhưng đều bị
td pháp đàn áp dã man, cm vn rơi vào tình trạng khủng hoảng về đường lối cứu nước:
chưa có đường lối đúng đắn, chưa có tổ chức đủ mạnh tập hợp nhân dân.
Hồ Chí Minh sinh ra trong bối cảnh nước mất nhà tan và lớn lên trong phong
trào cứu nước của dân tộc, Người đã sớm tìm ra nguyên nhân thất bại của các phong
trào giải phóng dân tộc là: các phong trào giải phóng dân tộc đều không gắn với tiến
bộ xã hội, chưa tập hợp được toàn dân, chưa xác định được đúng đắn con đường cứu
nước. Hồ Chí Minh quyết định ra đi tìm đường cứu nước - con đường này đưa Hồ Chí
Minh đến với chủ nghĩa Mác – Leenin và tìm ra con đường cứu nước cho dân tộc Việt
Nam: độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội. Như vậy, sự xuất hiện tư tưởng Hồ
Chí Minh là một tất yếu, đáp ứng nhu cầu lịch sử của cách mạng Việt Nam. 2 Thực tiễn thế giới
chủ nghĩa tư bản phương Tây chuyển từ giai đoạn tự do cạnh tranh sang chủ
nghĩa tư bản độc quyền - giai đoạn đế quốc chủ nghĩa - tiến hành tranh giành thị
trường, đẩy mạnh xâm chiếm thuộc địa, nhằm khai thác nguyên liệu, bóc lột và nô dịch
Tình hình đó đã làm sâu sắc thêm mâu thuẫn giữa giai cấp tư sản với giai cấp
vô sản ở các nước tư bản chủ nghĩa và mâu thuẫn giữa các nước tư bản, đế quốc với
nhau, làm nảy sinh mâu thuẫn giữa nhân dân các dân tộc thuộc địa với chủ nghĩa đế
quốc thực dân. Sự tranh giành thị trường giữa các nước đế quốc dẫn tới cttg thứ nhất
(1914-1918). Qua đó thúc đẩy phong trào giành đl của các nước thuộc địa
Thắng lợi của Cách mạng Tháng Mười Nga, với sự ra đời của Nhà nước xã hội
chủ nghĩa đầu tiên trên thế giới, đã mở ra thời đại mới, thời đại quá độ từ chủ nghĩa tư
bản lên chủ nghĩa xã hội. Thắng lợi của Cách mạng Tháng Mười Nga đã cổ vũ và thúc
đẩy sự phát triển của phong trào cộng sản và công nhân quốc tế, phong trào giải
phóng dân tộc trên thế giới. Thực tiễn của Cách mạng Tháng Mười, sự ra đời của Nhà
nước Xôviết, phong trào cách mạng thế giới của giai cấp công nhân phát triển với sự
ra đời và dẫn dắt của Quốc tế III cũng như phong trào giải phóng dân tộc trên thế giới
là những nguồn gốc thực tiễn quốc tế cho sự hình thành tư tưởng Hồ Chí Minh.
HCM đã sống, làm việc và khảo sát các cuộc cm trên tg trong bối cảnh lịch sử
tg nhiều biến động. Chính những điều đó tác động mạnh đến nhân thức, thúc đẩy hcm
đến với ánh sáng cn macslenin, tìm ra con đường đúng đắn giải phóng dân tộc vn 3
Quá trình hình thành và phát triển tư tưởng Hồ Chí Minh
Thời kỳ giữa năm 1911 đến 1920: tìm thấy con đường cứu nước, giải phóng dân tộc
- Năm 1911, Nguyễn Tất Thành sang Phương Tây tìm đường cứu nước. Cuộc hành trình
đến nhiều nước thuộc địa, phụ thuộc, tư bản, đế quốc. Người nhận thấy ở đâu nhân
dân cũng mong muốn thoát khỏi ách áp bức, bóc lột.
Tư tưởng Hồ Chí Minh về giải phóng dân tộc được hình thành từng bước trong suốt
quá trình tìm đường cứu nước, quá trình sống, học tập, tham gia đấu tranh cách mạng.
Hồ Chí Minh đến nhiều quốc gia, nhiều vùng khác nhau trên thế giới. Từ chủ nghĩa yêu
nước, Hồ Chí Minh đồng cảm với các dân tộc cùng cảnh ngộ, dần hình thành ý thức
đoàn kết quốc tế giữa các dân tộc thuộc địa và vô sản thế giới.
- Bước đầu nhận thức mới về quyền tự do dân chủ của nhân dân trong tư tưởng Hồ
Chí Minh, khi Hồ Chí Minh gửi bản “Yêu sách của nhân dân An Nam” (1919)
- Việc biểu quyết tán thành Quốc tế III, tham gia thành lập Đảng Cộng Sản Pháp, trở
thành người cộng sản Việt Nam đầu tiên, đã đánh dấu bước chuyển biến trong tư
tưởng Nguyễn Ái Quốc. Hồ Chí Minh tìm thấy và xác định rõ phương hướng đấu tranh
giải phóng dân tộc Việt Nam theo con đường cách mạng vô sản khi Hồ Chí Minh
nghiên cứu Luận cương về vấn đề dân tộc và thuộc địa (1920).
Đây là thời kỳ Hồ Chí Minh đã có sự chuyển biến vượt bậc: Từ giác ngộ chủ nghĩa dân
tộc tiến đến giác ngộ chủ nghĩa Mác- Lênin; từ một người yêu nước trở thành thành
một chiến sỹ cộng sản; đây là một bước chuyển biến cơ bản về tư tưởng cứu nước của Hồ Chí Minh.
Thời kỳ 1920 đến 1930: hình thành cơ bản tư tưởng về cách mạng Việt Nam
- 1920 đến 1930, Nguyễn Ái Quốc có những hoạt động thực tiễn, lý luận trên địa bàn
nước Pháp (1921 – 1923), Liên Xô (1923 – 1924), Trung Quốc (1924 – 1927), Thái Lan
(1928 – 1229). Trong thời gian này, tư tưởng Hồ Chí Minh về cách mạng Việt Nam đã hình thành về cơ bản.
Hồ Chí Minh viết nhiều bài báo tố cáo chủ nghĩa thực dân, đề cập đến mối quan hệ
mật thiết giữa cách mạng thuộc địa và cách mạng vô sản ở chính quốc, khẳng định
cách mạng giải phóng dân tộc thuộc địa, giải phóng dân tộc thuộc địa là một bộ phận
của cách mạng vô sản thế giới.
Các văn kiện, tác phẩm của Hồ Chí Minh viết trong thời kì này chứa đựng nhiều tư
tưởng lớn, đặc biệt về con đường cách mạng Việt Nam: Cách mạng giải phóng dân
tộc muốn giành thắng lợi phải đi theo con đường cách mạng vô sản. Việt Nam sẽ trải
qua hai cuộc cách mạng kế tiếp nhau: Trước làm dân tộc cách mạng, sau làm thế giới
cách mệnh, tức từ đầu xác định mục tiêu độc lập dân tộc, mục tiêu xã hội chủ nghĩa.
Hồ Chí Minh thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam với cương lĩnh chính trị đúng đắn,
sáng tạo đã chấm dứt khủng hoảng về đường lối và tổ chức lãnh đạo cách mạng Việt Nam. 4
Chương 3: Tư tưởng Hồ Chí Minh về Độc lập dân tộc
1.1. Độc lập, tự do là quyền thiêng liêng bất khả xâm phạm của các dân tộc
Hồ Chí Minh khẳng định độc lập và tự do là giá trị cao nhất của mỗi dân tộc. Từ việc
tiếp thu các tư tưởng tiến bộ của nhân loại và thực tiễn đấu tranh cách mạng, Người
nêu chân lý phổ quát: “Tất cả các dân tộc đều sinh ra bình đẳng, đều có quyền sống,
quyền sung sướng và quyền tự do”. Tư tưởng “Không có gì quý hơn độc lập, tự do” trở
thành nền tảng, mục tiêu và động lực của cách mạng Việt Nam.
1.2. Độc lập dân tộc phải gắn liền với tự do, hạnh phúc của nhân dân
Theo Hồ Chí Minh, độc lập dân tộc chỉ có ý nghĩa khi mang lại đời sống ấm no, hạnh
phúc cho nhân dân. Người luôn nhấn mạnh độc lập phải đi đôi với cơm no, áo ấm,
học hành và quyền làm chủ của nhân dân; đó là mục tiêu xuyên suốt của sự nghiệp cách mạng.
1.3. Độc lập dân tộc phải là độc lập thật sự, hoàn toàn và triệt để
Hồ Chí Minh bác bỏ mọi hình thức “độc lập giả hiệu”. Độc lập dân tộc phải đầy đủ trên
các lĩnh vực chính trị, kinh tế, quân sự, ngoại giao; có quyền tự quyết, khả năng tự bảo
vệ và gắn liền với hòa bình, công bằng trong quan hệ quốc tế.
1.4. Độc lập dân tộc gắn liền với thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ
Người luôn kiên quyết chống lại mọi âm mưu chia cắt đất nước. Độc lập dân tộc không
thể tách rời thống nhất Tổ quốc và toàn vẹn lãnh thổ, đây là nguyên tắc bất di bất dịch,
xuyên suốt trong tư tưởng và hoạt động cách mạng của Hồ Chí Minh.
Từ tư tưởng độc lập dân tộc của Hồ Chí Minh, em nhận thức rõ vai trò và
trách nhiệm của sinh viên, thanh niên trong sự nghiệp bảo vệ độc lập dân tộc hiện
nay. Trong điều kiện đất nước hòa bình và hội nhập quốc tế, bảo vệ độc lập dân tộc
không chỉ là giữ gìn chủ quyền lãnh thổ mà còn là bảo vệ độc lập về chính trị, kinh tế,
văn hóa và tư tưởng. Với vai trò là sinh viên, em cần không ngừng học tập, rèn luyện
đạo đức, nâng cao trình độ chuyên môn và bản lĩnh chính trị; tích cực tham gia các
hoạt động xã hội, chấp hành tốt pháp luật và đấu tranh phản bác những quan điểm
sai trái, thù địch. Bằng những hành động thiết thực trong học tập và cuộc sống, em
góp phần nhỏ bé của mình vào việc giữ gìn và phát huy giá trị độc lập dân tộc mà các
thế hệ đi trước đã dày công vun đắp 5
Chương 5: Đại đoàn kết dt
1. Vai trò của đại đoàn kết toàn dân tộc
1.1. Đại đoàn kết toàn dân tộc là vấn đề có ý nghĩa chiến lược, quyết định thành công của cách mạng
- Đại đoàn kết dân tộc là một chiến lược cơ bản, nhất quán, lâu dài
Hồ Chí Minh coi đoàn kết, đại đoàn kết là một vấn đề mang tính chiến lược lâu dài,
quyết định sự thành bại của cách mạng. Trong từng thời kỳ và trong từng nhiệm vụ cụ
thể khác nhau của cách mạng cần có phương pháp tổ chức, bố trí lực lượng tương
ứng với những yêu cầu và nhiệm vụ cụ thể trong từng thời kỳ cách mạng đó. Người coi
đoàn kết là một chiến lược lâu dài, quyết định thành công của sự nghiệp cách mạng
bởi sự nghiệp cách mạng là rất to lớn, những người cách mạng phải đoàn kết với nhau
để thực hiện sự nghiệp đó.
- Đoàn kết làm nên sức mạnh
Hồ Chí Minh đã chỉ ra rằng, trong thời đại mới, để đánh bại các thế lực đế quốc thực
dân nhằm giải phóng dân tộc, giải phóng giai cấp và giải phóng con người, nếu chỉ có
tinh thần yêu nước thì chưa đủ, cách mạng muốn thành công và thành công đến nơi,
phải tập hợp được tất cả mọi lực lượng có thể tập hợp, xây dựng được khối đại đoàn
kết dân tộc bền vững. Đó là chiến lược tập hợp lực lượng nhằm hình thành sức mạnh
to lớn của toàn dân tộc trong cuộc đấu tranh với kẻ thù dân tộc.
- Đại đoàn kết dân tộc được khẳng định là vấn đề sống còn
Theo Hồ Chí Minh, đại đoàn kết là vấn đề sống còn của dân tộc, là một chiến lược
cách mạng - chiến lược huy động, tập hợp mọi lực lượng có thể tập hợp được, hình
thành sức mạnh to lớn của toàn dân tộc trong đấu tranh cách mạng. "Đoàn kết là sức
mạnh, đoàn kết là thắng lợi"; Đoàn kết là điểm mẹ: "Điểm này mà thực hiện tốt thì đẻ
ra con cháu đều tốt"; “Đoàn kết, đoàn kết, đại đoàn kết; Thành công, thành công, đại thành công”. 6
1.2. Đại đoàn kết toàn dân tộc là một mục tiêu, nhiệm vụ hàng đầu của cách mạng Việt Nam
- Đại đoàn kết dân tộc phải được quán triệt trong tất cả mọi lĩnh vực.
Trong tư tưởng Hồ Chí Minh, yêu nước – nhân nghĩa - đoàn kết là sức mạnh, là mạch
nguồn của thắng lợi. Do đó, đại đoàn kết dân tộc phải được xác định là mục tiêu,
nhiệm vụ hàng đầu của Đảng, lực lượng duy nhất lãnh đạo cách mạng Việt Nam, phải
được quán triệt trong tất cả mọi lĩnh vực, từ đường lối, chủ trương, chính sách, tới
hoạt động thực tiễn của Đảng. Trong lời kết thúc buổi ra mắt Đảng Lao động Việt Nam
ngày 3-3-1951, Hồ Chí Minh tuyên bố: “Mục đích của Đảng Lao động Việt Nam có thể
gồm trong tám chữ là: ĐOÀN KẾT TOÀN DÂN, PHỤNG SỰ TỔ QUỐC”
- Đại đoàn kết dân tộc phải được khẳng định là nhiệm vụ hàng đầu của mọi giai đoạn cách mạng
Hồ Chí Minh nhấn mạnh vấn đề này là nhấn mạnh tới vai trò của thực lực cách mạng.
Bởi cách mạng muốn thành công nếu chỉ có đường lối đúng chưa đủ mà trên cơ sở
của đường lối đúng, Đảng phải cụ thể hoá thành những mục tiêu, nhiệm vụ và phương
pháp cách mạng phù hợp với từng giai đoạn lịch sử để lôi kéo, tập hợp quần chúng,
tạo thực lực cho cách mạng. Thực lực đó chính là khối đoàn kết dân tộc.
- Đại đoàn kết dân tộc là mục tiêu, nhiệm vụ hàng đầu của cả dân tộc
Hồ Chí Minh còn chỉ ra rằng, đại đoàn kết dân tộc không phải chỉ là mục tiêu của Đảng,
mà còn là nhiệm vụ hàng đầu của cả dân tộc. Bởi vì, cách mạng là sự nghiệp của quần
chúng, phải do quần chúng, vì quần chúng. Từ trong phong trào đấu tranh để tự giải
phóng và xây dựng xã hội mới tốt đẹp, quần chúng nảy sinh nhu cầu đoàn kết và sự
hợp tác. Đảng Cộng sản phải có sứ mệnh thức tỉnh, tập hợp, hướng dẫn quần chúng,
chuyển những nhu cầu, đòi hỏi khách quan, tự phát của quần chúng thành những đòi
hỏi tự giác, thành hiện thực có tổ chức trong khối đoàn kết, tạo nên sức mạnh tổng
hợp trong cuộc đấu tranh vì độc lập cho dân tộc, tự do cho nhân dân và hạnh phúc cho con người.
Là một sinh viên, em nhận thức rõ trách nhiệm của bản thân trong việc phát
huy khối đại đoàn kết toàn dân tộc. Trước hết, em cần không ngừng học tập, nâng cao
nhận thức chính trị, hiểu đúng về vai trò của đoàn kết dân tộc, từ đó có thái độ và hành
động đúng đắn. Trong môi trường học đường, em có trách nhiệm tôn trọng sự khác
biệt, đoàn kết, giúp đỡ bạn bè trong học tập và cuộc sống. Bên cạnh đó, em tích cực
tham gia các hoạt động tình nguyện, vì cộng đồng, góp phần lan tỏa tinh thần tương
thân tương ái. Đồng thời, em sử dụng mạng xã hội một cách văn minh, có trách nhiệm,
không chia sẻ thông tin gây chia rẽ. Qua những việc làm thiết thực đó, em góp phần
củng cố và phát huy khối đại đoàn kết toàn dân tộc. 7
Chương 6: Văn hóa, đạo đức
3.1. Nói đi đôi với làm, nêu gương về đạo đức
- Hồ Chí Minh coi nguyên tắc nói đi đôi với làm là nguyên tắc quan trọng bậc
nhất trong xây dựng nền đạo đức mới. Nguyên tắc cơ bản này là sự thống nhất giữa lý
luận và thực tiễn, nó đã trở thành phương pháp luận trong cuộc sống và là nền tảng
triết lý sống của Người.
- Nêu gương về đạo đức là một nét đẹp của truyền thống văn hóa phương Đông.
Sự gương mẫu của cán bộ, đảng viên trong lời nói và việc làm không chỉ là cách thức
để giáo dục đạo đức cho quần chúng, mà còn là một phương pháp để tự giáo dục bản thân mình.
Như vậy, một nền đạo đức mới chỉ được xây dựng trên một cái nền rộng lớn,
vững chắc, khi những chuẩn mực đạo đức trở thành hành vi đạo đức hằng ngày của
mỗi người và của toàn xã hội, mà những tấm gương đạo đức của những người tiêu
biểu có ý nghĩa thúc đẩy cho quá trình đó.
3.2. Xây đi đôi với chống
- Hồ Chí Minh cho rằng, đây là đòi hỏi của nền đạo đức mới, thể hiện tính nhân
đạo chiến đấu vì mục tiêu của sự nghiệp cách mạng; xây tức là xây dựng, bồi dưỡng
các giá trị, các chuẩn mực đạo đức mới; chống là chống các biểu hiện, các hành vi vô
đạo đức, suy thoái đạo đức. Để xây dựng một nền đạo đức mới, cần phải kết hợp xây
phải đi đôi với chống, muốn xây phải chống, chống nhằm mục đích xây, lấy xây làm chính.
- Xây dựng đạo đức mới theo Hồ Chí Minh phải được tiến hành bằng việc giáo
dục những phẩm chất, những chuẩn mực đạo đức mới từ trong gia đình đến nhà
trường và ngoài xã hội, nhất là trong những tập thể - nơi mà phần lớn thời gian cuộc
đời mỗi người gắn bó bằng hoạt động thực tiễn của mình. Mặt khác, việc giáo dục đạo
đức mới phải được tiến hành phù hợp với từng giai đoạn cách mạng, phù hợp với từng
lứa tuổi, ngành nghề, giai cấp, tầng lớp và trong từng môi trường khác nhau; phải khơi
dậy được ý thức đạo đức lành mạnh ở mỗi người.
- Để xây và chống có kết quả, theo Hồ Chí Minh phải tuyên truyền, vận động
hình thành phong trào quần chúng rộng rãi đấu tranh cho sự lành mạnh, trong sạch
về đạo đức, thôi thúc trách nhiệm đạo đức cá nhân để mọi người phấn đấu tự bồi
dưỡng và nâng cao phẩm chất đạo đức cách mạng; phải chú trọng kết hợp giáo dục
đạo đức với tăng cường tính nghiêm minh của pháp luật. Thực tiễn chứng minh những
cuộc vận động đó đã mang lại kết quả rất lớn.
3.3. Tu dưỡng đạo đức suốt đời
- Theo Hồ Chí Minh, tu dưỡng đạo đức là một cuộc cách mạng trường kỳ, gian
khổ. Một nền đạo đức mới chỉ có thể được xây dựng trên cơ sở tự giác tu dưỡng đạo
đức của mỗi người. Người nhắc lại luận điểm của Khổng Tử “Cách vật, trí tri, tu thân,
tề gia, trị quốc, bình thiên hạ”. 8
- Đạo đức cách mạng đòi hỏi mỗi người phải tự giác rèn luyện thông qua các
hoạt động thực tiễn, trong công việc, trong các mối quan hệ của mình, phải nhìn thẳng
vào mình, không tự lừa dối, huyễn hoặc; phải thấy rõ cái hay, cái tốt, cái thiện của
mình để phát huy và thấy rõ cái dở, cái xấu, cái ác của mình để khắc phục; phải kiên
trì rèn luyện liên tục, tu dưỡng suốt đời, trong đó, thời tuổi trẻ đặc biệt quan trọng.
- Hồ Chí Minh đòi hỏi mọi người phải thường xuyên được giáo dục và tự giáo
dục về mặt đạo đức. Thực hiện việc này phải kiên trì, bền bỉ. Có rèn luyện như vậy, con
người mới có được phẩm chất đạo đức tốt đẹp, và những phẩm chất ấy ngày càng
được bồi đắp, nâng cao.
Qua tư tưởng Hồ Chí Minh, là sinh viên, em cần tu dưỡng đạo đức trước hết
bằng việc nói đi đôi với làm, học tập nghiêm túc, sống trung thực, có trách nhiệm với
lời nói và hành động của mình, đồng thời nêu gương tốt trong học tập và sinh hoạt tập
thể. Bên cạnh đó, sinh viên cần xây đi đôi với chống, tích cực rèn luyện các phẩm chất
đạo đức tốt như cần cù, nhân ái, kỷ luật, đồng thời kiên quyết đấu tranh với những
biểu hiện tiêu cực như lười biếng, gian lận, vô trách nhiệm. Ngoài ra, sinh viên phải
xác định tu dưỡng đạo đức là quá trình suốt đời, thường xuyên tự soi, tự sửa, rèn luyện
bản thân trong học tập, lao động và các mối quan hệ xã hội, coi tuổi trẻ là giai đoạn
quan trọng để hình thành nền tảng đạo đức vững chắc. 9
Chương 4:Nguyên tắc
- Đảng lấy chủ nghĩa Mác – Lênin làm nền tảng tư tưởng và kim chỉ nam cho hàng động
Về tầm quan trọng của lý luận, Người nhắc lại lời của Lênin trong tác phẩm Làm
gì: không có lý luận cách mạng thì không có phong trào cách mạng, chỉ có Đảng nào
có lý luận tiên phong mới làm nổi vai trò cách mệnh tiên phong” và khẳng định, Đảng
muốn vững phải có chủ nghĩa làm cốt. Đảng không có chủ nghĩa làm cốt ví như người
không có trí khôn, tàu không có bàn chỉ nam.
Bây giờ học thuyết nhiều, chủ nghĩa nhiều, nhưng chân chính nhất, chắc chắn
nhất, cách mệnh nhất là chủ nghĩa Lênin. Toàn Đảng, ai cũng phải hiểu, phải theo chủ
nghĩa ấy . Người coi chủ nghĩa Mác - Lênin "không chỉ là mặt trời soi sáng cho chúng
ta trên con đường cách mạng mà còn là cẩm nang thần kỳ" đưa sự nghiệp cách mạng đến thắng lợi.
Hồ Chí Minh yêu cầu toàn Đảng và mỗi cán bộ đảng viên phải hiểu và vận dụng
sáng tạo chủ nghĩa Mác – Lênin.
Đối với cơ quan và tổ chức Đảng, Nhà nước, Hồ Chí Minh yêu cầu:
Chủ nghĩa Mác - Lênin là kim chỉ nam cho hành động chứ không phải là kinh
thánh. Phải nắm vững phép duy vật biện chứng và duy vật lịch sử, phải căn cứ vào
thực tiễn để xác định đúng quan điểm, đường lối chính sách, pháp luật; phải vận dụng
sáng tạo, không máy móc, giáo điều, dập khuôn.
Phải tìm các giải pháp, biện pháp thực hiện, phải có quyết tâm, “đường lối 1,
biện pháp phải 10, quyết tâm phải 20-30”
Phải tổng kết kinh nghiệm của Đảng mình, các Đảng anh em, tổng kết thực tiễn
rút ra những bài học thành công, chưa thành công.
Phải tổ chức việc học tập, bồi dưỡng lý luận cho cán bộ, đảng viên phù hợp,
đồng thời phải tuyên truyền vận động quần chúng thực hiện đường lối, chính sách.
Đối với cán bộ, đảng viên, Hồ Chí Minh yêu cầu:
Học lý luận, hiểu lý luận là phải vận dụng vào thực tiễn, “học mà không hành là
cái hòm đựng sách”, “để lòe thiên hạ”, để “ra vẻ ta đây”. Phải chống các biểu hiện kém
lý luận, coi thường lý luận, lý luận suông, lý luận giáo điều.
Phải tin tưởng nhất trí với quan điểm, đường lối của Đảng, Nhà nước và quyết
tâm thực hiện; phải bảo vệ quan điểm đường lối chính sách, giữ vững kỷ luật Đảng và
kỷ luật cơ quan đoàn thể.
Phải lấy hiệu quả công tác, hoàn thành nhiệm vụ làm thước đo sự hiểu và vận
dụng chủ nghĩa Mác - Lênin; “công việc bê trễ thì không thể nói là hiểu chủ nghĩa Mác - Lênin được”.
Phải coi việc thường xuyên học tập lý luận là nhiệm vụ và tiêu chuẩn đảng viên.
Phải sống với nhau có tình có nghĩa. 10
- Tự phê bình và phê bình : Theo Hồ Chí Minh đây cũng là nguyên tắc sinh hoạt của
Đảng, là quy luật phát triển của Đảng.
Phê bình là nêu ưu điểm và khuyết điểm của đồng chí mình. Tự phê bình là nêu
ưu điểm và khuyết điểm của bản thân mình : Tự phê bình và phê bình là để nhận rõ ưu
khuyết điểm của mình và đồng chí mình để có hướng phát huy và khắc phục. Theo Hồ
Chí Minh : "Một đảng mà giấu giếm khuyết điểm của mình là một Đảng hỏng. Một Đảng
có gan thừa nhận khuyết điểm của mình, xem khuyết điểm đó từ đâu tới rồi tìm mọi
cách sửa chữa. Như vậy mới là một Đảng mạnh dạn, chắc chắn chân chính”
Với mỗi cán bộ, đảng viên Hồ Chí Minh nói: "Người đời không phải thánh thần,
không ai tránh khỏi khuyết điểm". Phải tự phê bình trước, phải biết mình phải quấy
chỗ nào trước rồi phê bình người khác. "Tiên trách kỷ, hậu trách nhân” phải hiểu là như vậy.
Mục đích của phê bình và tự phê bình: Là giúp nhau tiến bộ, giúp nhau sửa chữa
khuyết điểm; làm cái ác mất dần đi, cái thiện nảy nở sinh sôi, để làm việc tốt hơn; toàn
Đảng sẽ dần hết khuyết điểm, ưu điểm ngày càng nhiều thêm.
Thái độ, tinh thần tự phê bình: Triệt để, thật thà, không nể nang, không thêm
bớt; phải có tinh thần nhân ái, "phê bình việc làm chứ không phê bình người"; "không
soi mói chua cay, mỉa mai, đâm thọc"; không phải đập cho tơi bời, không trù dập người phê bình mình.
Phương pháp phê bình: Công khai có tổ chức; phải thực sự dân chủ, mềm dẻo,
khéo léo; phải cụ thể, chính xác, nói có sách, mách có chứng.
Phê bình trong nội bộ đảng đồng thời phải tự phê bình trước quần chúng. Người
nói: dân ta rất tốt, ai có khuyết điểm mà thành thật tự phê bình trước dân, quyết tâm
sửa chữa thì dân sẵn sàng tha cho.
Tự phê bình, phê bình phải thường xuyên như hàng ngày rửa mặt. 11
- Đảng phải thường xuyên tự chỉnh đốn:
Để xứng đáng là đảng chân chính cách mạng, là người lãnh đạo, người đày tớ
thật trung thành của nhân dân, một đảng “vừa là đạo đức, vừa là văn minh”, tất yếu
Đảng phải thường xuyên tự chỉnh đốn, tự đổi mới.
Hồ Chí Minh thường nói, cách mạng càng tiến lên nhiệm vụ càng khó khăn,
nặng nề đòi hỏi năng lực trình độ của cán bộ đảng viên, của toàn đảng phải không
ngừng được nâng cao. Chỉnh đốn và đổi mới Đảng là nhằm làm đảng mạnh cả về tư
tưởng chính trị và tổ chức, là nâng cao năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu cho cán
bộ đảng viên và toàn Đảng.
Trong chỉnh đốn, đổi mới Đảng, Hồ Chí Minh đặc biệt quan tâm tới những lúc
cách mạng chuyển giai đoạn, gặp khó khăn vấp váp. Đây là những thời điểm dễ nảy
sinh chao đảo, giao động trong tư tưởng nhận thức.
Trong điều kiện Đảng cầm quyền việc chỉnh đốn, đổi mới Đảng được Hồ Chí
Minh coi là công việc thường xuyên và gắn với công tác phê bình, tự phê bình. Lời
Người căn dặn: “Một dân tộc, một Đảng và mỗi con người hôm qua là vĩ đại, có sức
hấp dẫn lớn, không nhất định hôm nay và ngày mai vẫn được mọi người yêu mến và
ca ngợi, nếu lòng dạ không trong sáng nữa, nếu sa vào chủ nghĩa cá nhân”. Chỉ rõ điều
này, Người thấy rõ hai mặt quyền lực của đảng cầm quyền. Mặt phải là sức mạnh to
lớn để Đảng lãnh đạo công cuộc cải tạo xã hội cũ, xây dựng xã hội mới và mặt trái là
sự thoái hóa, ham chuộng quyền lực của cán bộ đảng viên, lợi dụng đảng cầm quyền
để mưu đặc quyền đặc lợi. Chỉnh đốn, đổi mới Đảng thường xuyên là để ngăn chặn,
hạn chế, đẩy lùi mọi biểu hiện thoái hóa, biến chất của cán bộ đảng viên trong điều kiện Đảng cầm quyền.
Tuy nhiên, điều mà Hồ Chí Minh lưu ý là chỉnh đốn, đổi mới Đảng là công việc
cực kỳ hệ trọng đòi hỏi phải có chuẩn bị chu đáo, có tổ chức lãnh đạo chặt chẽ và
phải từng bước thực hiện, đúng qui định, qui trình. Qui trình đó là: Chỉnh đốn cán bộ
rồi mới chỉnh đốn chi bộ; chỉnh đốn tư tưởng rồi mới chỉnh đốn tổ chức; chỉnh huấn
cán bộ cấp cao là công việc của Trung ương, do Trung ương thực hiện có chỉ đạo và
kiểm tra chặt chẽ vì có quan hệ tới toàn bộ công tác chỉnh đốn Đảng. Nguyên tắc và
qui trình này cho tới nay vẫn có giá trị lý luận, thời sự rất thiết thực.