



















Preview text:
lOMoAR cPSD| 61458992
CƠ SỞ VĂN HÓA VIỆT NAM CÂU 1: KHÁI NIỆM VĂN HÓA
Văn hóa có từ thuở bình minh của xã hội loài người, là sản phẩm do con người sáng tạo ra.
Vì thế nó thu hút rất nhiều nhà nghiên cứu tìm hiểu, phân tích. Ở phương Đông, từ văn hóa
đã có trong đời sống ngôn ngữ từ rất sớm. Trong Chu Dịch, quẻ Bi đã có từ văn và hóa:
Xem dáng vẻ con người lấy đó mà giáo hóa thiên hạ. Lưu Hướng, người thời Tây Hán, là
người đầu tiên nêu ra từ văn hóa. Nhưng lúc bấy giờ hai chữ văn hóa có nghĩa là “dùng
văn để giáo hóa”. Văn hóa ở đây tức là giáo hóa đối lập với vũ lực. Trong tiếng anh và
tiếng pháp chữ văn hóa là culture. Chữ này có nguồn gốc từ chữ Latinh cultura nghĩa là
trồng trọt ….. Tuy nhiên việc xác định và sử dụng khái niệm văn hóa không đơn giản và
thay đổi theo thời gian. Đến giữa tk XIX, Taylor, nhà nhân loại học đầu tiên của nước Anh
đã nói “ Văn hóa là một tổng thể phức tạp, bao gồm tri thức, tín ngưỡng, nghệ thuật, đạo
đức, pháp luật, phong tục và cả những năng lực, thói quen mà con người đạt được trong
xã hội”. Hiện nay đa số các học giả cho rằng, văn hóa là tổng thể những giá trị vật chất và
tinh thần do con người sáng tạo ra trong quá trình lịch sử.
** Phân tích quan niệm văn hóa của Hồ Chí Minh: “Vì lẽ sinh tồn cũng như mục đích của
cuộc sống, loài người mới sáng tạo và phát minh ra ngôn ngữ, chữ viết, đạo đức, pháp luật,
khoa học, tôn giáo, văn học, nghệ thuật, những công cụ cho sinh hoạt hằng ngày về ăn,
mặc, ở và các phương thức sử dụng toàn bộ những sáng tạo và phát minh đó tức là văn hóa.
Văn hóa là sự tổng hợp của mọi phương thức sinh hoạt cùng với biểu hiện của nó mà loài
người đã sản sinh ra nhằm thích ứng những nhu cầu đời sống và đòi hỏi của sự sinh tồn”.
Quan niệm này của chủ tịch Hồ Chí Minh có thể được xem là một định nghĩa khá đầy đủ,
vừa mang tính giản dị, mực thước, vừa mang tính khoa học, khái quát khi bàn về văn hóa
giữa hàng trăm nghìn định nghĩa về văn hóa của các nhà khoa học trên thế giới. Văn hóa
theo HCM gồm văn hóa vật chất, văn hóa tinh thần và toàn bộ các phương thức sinh
hoạt. đường xa cầu cống , các khu di tích lịch sử, các danh lam thắng cảnh hay những điệu
múa xòe múa nón, các điệu nhạc cung đình, các câu hát trầu văn hay tục thờ cúng tổ tiên,
thờ Thành Hoàng làng, những phương thức sinh hoạt gắn liền với nền nông nghiệp lúa
nước. Tất cả những yếu tố đó đều là những mắt xích nhỏ để cấu tạo nên một nền văn hóa
phong phú mang đậm đà bản sắc dân tộc. Quan niệm trên đề cập tới tính vị nhân sinh của
văn hóa được thể hiện ở hai phương diện. Một là con người là chủ thể sáng tạo ra văn hóa.
Khi con người biết chế tạo ra công cụ đá cũng là lúc họ bắt đầu sáng tạo ra văn hóa. Dần
dần ngoài văn hóa vật chất, họ còn sáng tạo ra nghệ thuật, tôn giáo… Văn hóa xuất hiện
đồng thời cùng với loài người. Thứ hai, con người chính là chủ thể hưởng thụ văn hóa.
Những thành tựu văn hóa ra đời là để con người sử dụng, tuân theo. Đồng thời quan niệm
cũng nhấn mạnh chức năng của văn hóa đó là duy trì đời sống xã hội phục vụ đời sống con
người và từ đó nâng cao chất lượng cuộc sống. Văn hóa là ánh sáng soi đường chỉ lối dẫn
con người ra khỏi vùng vô minh. Nếu không có văn hóa con người không thể phát triển đạt
tới đỉnh cao như bây giờ. Chính nhờ văn hóa đã đưa con người từ thời đại nguyên thủy thô lOMoAR cPSD| 61458992
sơ ăn lông mặc lỗ đến thời đại xã hội phát triển toàn cầu hóa với đủ loại khoa học kĩ thuật tiên tiến
Như vậy văn hóa là tất cả những gì thuộc về con người. Là những điều mà con người có,
con người nghĩ, con người làm, và con người tận hưởng.
PHÂN BIỆT VĂN HÓA VÀ VĂN MINH
Trong CSVH của tác giả Trần Ngọc Thêm (1997) có phân biệt 2 khái niệm văn hóa và văn
minh. Văn hóa là một hệ thống hữu cơ các giá trị vật chất và tinh thần do con người sáng
tạo và tích luỹ qua quá trình hoạt động thực tiễn trong sự tương tác giữa con người với môi
trường tự nhiên và xã hội. Văn minh là trạng thái tiến bộ về cả hai mặt vật chất và tinh thần
của xã hội loài người, tức là trạng thái phát triển cao của nền văn hóa. Sự khác biệt giữa
văn hóa và văn minh được Trần Ngọc Thêm phân tích qua 4 khía cạnh
Thứ nhất, văn hóa luôn có bề dày của quá khứ (tính lịch sử). Ta có thể chứng minh qua nền
văn hóa Việt Nam giàu truyền thống lịch sử: truyền thống yêu nước, uống nước nhớ
nguồn,.. Còn văn minh lại là lát cắt đồng đại, nó cho biết trình độ phát triển của văn hóa ở
từng giai đoạn. Ví dụ như văn minh trống đồng cho thấy giai đoạn phát triển đỉnh cao của
đồ đồng trong lịch sử dân tộc ta.
Thứ hai, nói đến văn minh người ta còn nghĩ đến các tiện nghi. Khi văn hóa chứa đựng cả
các giá trị vật chất lẫn tinh thần, thì văn minh chủ yếu thiên về các giá trị vật chất.
Thứ ba, sự khác biệt của văn hóa và văn minh về giá trị tinh thần và tính lịch sử dẫn đến
sự khác biệt về phạm vi. Văn hóa mang tính dân tộc bởi nó là quá trình tích lũy và sàng lọc
lâu dài. Văn hóa Việt Nam không phải do một người hay một nhóm người tạo ra mà nó là
thành quả của tất cả người dân trên đất nước này nó mang đậm đà bản sắc dân tộc cùng
những phong tục tập quán đa dạng. Vì thế mà văn hóa nước này không thể giống văn hóa
nước khác. Văn hóa VN thì ko thể giống văn hóa Trung Quốc hay văn hóa Nhật Bản được.
Nhắc đến văn minh là nhắc đến tính quốc tế, nó đặc trưng cho một khu vực rộng lớn hoặc
cả nhân loạị, được toàn thể con người công nhận và sử dựng. Kĩ thuật làm giấy của Trung
Quốc là một trong những thành tựu văn minh vĩ đại. Kĩ thuật đó không chỉ được sử dụng
ở mỗi Trung quốc mà nhờ con đường giao thương nó đã du nhập cả đến các nước phương Tây.
Thứ tư, văn hóa và văn minh có sự khác biệt về nguồn gốc. Văn hóa gắn bó nhiều hơn với
phương Đông nông nghiệp còn văn minh gắn bó nhiều hơn với phương Tây đô thị. Các
nền văn hóa phương ĐÔng cổ đại đại lớn như Trung Hoa, Ấn Độ, Lưỡng Hà, Ai Cập..dều
hình thành ở lưu vực các con sông lớn như sôn Nile, sông Hoàng hà, sông
Trường Giang, sông HẰng, sông Ấn. đó là những nơi có địa hình và khí hậu rất thuận lợi
cho việc sản xuất nông nghiệp. Các nền văn hóa phương Tây sớm nhất là Hi-La được hình
thành dựa trên cơ sở tiếp thu những thành tựu của các nền văn hóa Ai Cập và Lưỡng Hà. lOMoAR cPSD| 61458992
Ngoài những sự khác biệt trên thì cá nhân tôi nhận thấy văn minh và văn hóa còn có những
nghĩa riêng biệt với cá nhân không thể trộn lẫn được. Đối với từng cá nhân chúng ta không
thể nói trình độ văn minh mà chỉ có thể nói trình độ văn hóa. Đối với xã hội chỉ có thể nói
thời đại văn minh chứ không nói thời đại văn hóa. Chỗ khác nhau nữa là văn minh là giai
đoạn phát triển cao của văn hóa. Văn hóa được bảo tồn, duy trì liên tục, được truyền từ đời
này sang đời khác gắn liền với thói quen, với nếp sinh hoạt sống của người dân. Ngày nay
người dân Việt Nam ta vẫn duy trì được nhiều nét đẹp văn hóa như tục thờ cúng tổ tiên,
lòng yêu nước, thương dân; tinh thần bất khuất. Văn minh thì thay đổi liên tục để phù hợp
và đáp ứng nhu cầu thay đổi của xã hội. Thời nguyên thủy con người sống với nhau theo
bầy đàn cùng săn bắt hái lươm sử dụng những công cụ thô sơ để lao động ngày nay với
những tiến bộ khoa học thì cs con người tốt đẹp hơn.
ĐẶC TRƯNG VÀ CHỨC NĂNG CỦA VĂN HÓA.
Văn hóa là một hệ thống hữu cơ các giá trị vật chất và tinh thần do con người sáng tạo và
tích luỹ qua quá trình hoạt động thực tiễn trong sự tương tác giữa con người với môi trường
tự nhiên và xã hội. Các đặc trưng và chức năng của văn hóa đã được nhiều nhà nghiên cứu
tìm hiểu phân tích một trong số đó là Trần Ngọc Thêm. TNT đã đề cập tới các đặc trưng
và chức năng của vh trong Cơ sở văn hóa VN (1997). Trong phạm vi bài viết này đề cập đến…. (giáo trình)
GIAO LƯU VÀ TIẾP BIẾN VĂN HÓA
Văn hóa là một hệ thống hữu cơ các giá trị vật chất và tinh thần do con người sáng tạo và
tích luỹ qua quá trình hoạt động thực tiễn trong sự tương tác giữa con người với môi trường
tự nhiên và xã hội (Trần Ngọc Thêm – CSVHVN). Thuật ngữ giao lưu và tiếp biến văn hóa
được sử dụng khá rộng rãi trong nhiều ngành khoa học xã hội như khảo cổ học, dân tộc
học, xã hội học, văn hóa học.. tức là những ngành khoa học có đối tượng nghiên cứu là con
người và xã hội, nhân văn. Giao lưu và tiếp biến văn hóa là hai biểu hiện của cơ chế vận hành văn hóa.
Khái niệm giao lưu và tiếp biến văn hóa được dùng với nhieeuftuwf khác nhau. Người Anh
dùng Cultural Change (trao đổi văn hoá), người Tây Ban Nhau dùng transculturation. Khái
niệm Acculturation của người Hoa Kỳ được các nhà nghiên cứu ở Việt Nam dịch với những
nét nghĩa khác nhau: đan xen văn hoá, hỗn dung văn hoá, giao thoa văn hoá. Cách dịch
được nhiều người chấp nhận là giao lưu và tiếp biến văn hoá.
Nếu quy luật kế thừa là sự khái quát hoá quá trình phát triển văn hoá diễn ra theo trục thời
gian thì giao lưu và tiếp biến văn hoá nhìn nhận sự phát triển văn hoá trong mối quan hệ lOMoAR cPSD| 61458992
không gian với nhiều phạm vi rộng hẹp khác nhau, tuỳ trình độ phát triển và đặc điểm riêng của mỗi dân tộc.
Khái niệm: Giao lưu và tiếp biến văn hoá là sự gặp gỡ, thâm nhập và học hỏi lẫn nhau giữa
các nền văn hóa. Trong quá trình này, các nền văn hoá bổ sung, tiếp nhận và làm giàu cho
nhau, dẫn đến sự biến đổi, phát triển và tiến bộ văn hoá.
Giao lưu văn hoá là quá trình trao đổi thành tựu, thực hành văn hóa giữa các nền văn hóa.
Quá trình tiếp xúc và giao lưu văn hoá thường diễn ra theo hai hình thức: + Hình thức tự
nhiên: Thông qua các hoạt động như buôn bán, thăm hỏi, du lịch, hôn nhân, quà tặng...mà
văn hoá được trao đổi trên tinh thần tự nguyện. Nhà Lý, về tổ chức xã hội, chính trị lấy cơ
chế của Nho giáo làm gốc, và chịu ảnh hưởng rất đậm của Phật Giáo. Hình thức cưỡng
bức: thường gắn liền với các cuộc chiến tranh xâm lược thôn tính đất đai và đồng hoá văn
hoá của một quốc gia này đối với một quốc gia khác. Trong thời kì 1000 năm Bắc thuộc
ngoài việc bóc lột Giao Châu về mọi phương diện, bộ máy cai trị của người Hán còn thực
hiện chính sách đồng hóa, tiêu diệt văn hóa của cư dân bản địa. Trong một thiên niên kỉ
Hán hóa, việc giữ gìn bản sắc dân tộc là một việc không dễ dàng bởi kẻ xâm lược thì muốn
đồng hóa, người xâm lược thì chống đồng hóa. VH Việt luôn đứng trước thử thách lớn lao
tồn tại hay không tồn tại. Giao lưu văn hó vừa là kết quả của sự trao đổi vừa là chính bản
thân sự trao đổi. có hiểu như vậy mới thấy hết tầm quan trọng của giao lưu văn hóa trong
lịch sử nhân loại, vì sản xuất, trao đổi là một động lực thúc đẩy sự phát triển của lịch sử.
Tiếp biến văn hóa là quá trình tiếp thu có cải biến những thành tựu văn hóa có nguồn gốc
ngoại sinh để yếu tố văn hóa mới không xung đột với yếu tố cũ. Phật giáo đến VN tích hợp
với sự sùng bái tự nhiên nên hình thành tín ngưỡng thờ Tứ pháp (Pháp Vân, Pháp Vũ, Pháp Lôi, Pháp Địa)
Quá trình giao lưu và tiếp biến đòi hỏi mỗi nền văn hoá phải biết dựa trên cái nội sinh để
lựa chọn tiếp nhận cái ngoại sinh, từng bước bản địa hoá nó để làm giàu, phát triển văn hoá
dân tộc. Trong tiếp nhận các yếu tố văn hoá ngoại sinh, hệ giá trị xã hội và tâm thức dân
tộc có vai trò rất quan trọng. Nó là "màng lọc" để tiếp nhận những yếu tố văn hoá của các
dân tộc khác, giúp cho văn hoá dân tộc phát triển mà vẫn giữ được sắc thái riêng của mình.
Sự phát triển của cái cải biến đến mức độ nào đó sẽ làm thay đổi chính thực thể văn hóa,
giống như quy luật lượng đổi dẫn đến chất đổi.
Như vậy quá trình giao lưu và tiếp biến văn hóa diễn ra ở hầu khắc các nền văn hóa. Nó là
quy luật phát triển của vh, quy luật tất yếu của đời sống, một nhu cầu tự nhiên của con người hiện tại. LOẠI HÌNH VĂN HÓA
- K/n: loại hình văn hóa là lí thuyết được đưa ra để lí giải sự tương đồng và khác biệt
giữa các nền văn hóa. Lí thuyết loại hình văn hoá được phân biệt dựa trên sự tương lOMoAR cPSD| 61458992
đồng và khác biệt trong điều kiện tự nhiên, môi trường, phương thức sản xuất,
phương thức sinh hoạt, điều kiện lịch sử-xã hội tạo ra nét khác biệt về ngoại hình
giữa các nền văn hóa của cộng đồng, quốc gia và khu vực.
- Theo Trần Ngọc Thêm có 2 loại hình như sau: văn hoá gốc nông nghiệp và văn hoá
gốc du mục (tương ứng là các nền văn hoá phương Đông và phương Tây).
- Do vị trí địa lý nằm ở góc tận cùng phía Đông-Nam Châu Á nên Việt Nam thuộc
loại hình văn hóa gốc nông nghiệp trồng trọt điển hình. Tất cả những đặc trưng của
loại hình văn hóa gốc nông nghiệp trồng trọt đều được thể hiện rất rõ nét trong đặc trưng văn hóa Việt Nam.
o Môi trường tự nhiên: là xứ nóng sinh ra mưa nhiều (ẩm), tạo nên nhiều con
sông lớn và các vùng đồng bằng trù phú
o Cư dân Việt Nam chủ yếu sinh sống bằng nghề nông, trong cách ứng xử với
tự nhiên, do nghề trồng trọt buộc người dân phải sống định cư để chờ cây cối
lớn lên, đơm hoa, kết trái và thu hoạch, từ đó ưa thích lối sống ổn định, cho
rằng” An cư lạc nghiệp” .
o Do sống phụ thuộc vào thiên nhiên nên cư dân nông nghiệp có ý thức tôn
trọng và ước vọng sống hòa hợp với thiên nhiên. Người Việt Nam mở miệng
ra là nói “ nhờ trời”, “lạy trời”… Các tín ngưỡng và lễ hội sung bái tự nhiên
rất phổ biến ở các tộc người trên khắp mọi vùng đât nước.
o Vì nghề nông, nhất là nghề nông nghiệp lúa nước, cùng một lúc phụ thuộc
vào nhiều yếu tố thiên nhiên như : thời tiết, nước, khí hậu,... “ trông trời,
trông đất, trông mây; trông mưa, trông gió, trông ngày, trông đêm…” nên về
mặt nhận thức, hình thành nên lối tư duy tổng hợp- biện chứng, nặng về kinh
nghiệm chủ quan cảm tính: sống lâu lên lão làng, trăm hay không bằng tay
quen… Người làm nông quan tâm không phải là từng yếu tố riêng lẻ mà là
những mối quan hệ giữa chúng. Người Việt tích lũy được một kho kinh
nghiệm hết sức phong phú về các loại quan hệ này: Quạ tắm thì ráo, sáo tắm
thì mưa; Được mùa lúa thì úa mùa cau, được mùa cau thì đau mùa lúa;
Chuồn chuồn bay thấp thì mưa, bay cao thì nắng, bay vừa thì râm… o Trong
tổ chức cộng đồng, con người nông nghiệp ưa tổ chức xã hội theo nguyên tắc
trọng tình, chuộng sự hòa thuận, tương trợ, quan tâm đến những láng giềng. Lối
sống trọng tình đưa đến thái độ trọng đức, trọng văn, trọng Mẫu đề cao nguyên
lý Mẹ. Trong ngôi nhà của người Việt rất coi trọng gian bếp, thể hiện sự coi trọng
phụ nữ. Người Việt coi: Nhất vợ nhì trời; Lệnh ông không bằng cồng bà…
Người phụ nữ cũng được xem là người có vai
trò quyết định trong việc giáo dục con cái: Phúc đức tại mẫu; Con dại cái mang… lOMoAR cPSD| 61458992
o Nguyên tắc trọng tình cũng là cơ sở của tâm lí hiếu hòa, chuộng sự bình đẳng,
dân chủ, đề cao tính cộng đồng, tính tập thể. Sự gắn bó cộng đồng tạo nên
lối sống trọng tình nghĩa: Lá lành đùm lá rách; Bầu ơi thương lấy bí cùng…;
các quan hệ ứng xử thường đặt lý cao hơn tình: Một bồ cái lý không bằng một tí cái tình.
o Lối tư duy tổng hợp biện chứng, cộng với nguyên tắc trọng tình dẫn đến lối
sống linh hoạt, luôn ứng biến cho phù hợp với từng hoàn cảnh cụ thể: Ở bầu
thì tròn, ở ống thì dài; Đi với bụt mặc áo cà sa, đi với ma mặc áo giấy; …
Mặt trái của tính linh hoạt là thói tùy tiện biểu hiện ở tật co giãn giờ giấc, sự
thiếu tôn trọng pháp luật, ý thức kỉ luật kém tệ đi “ cửa sau” để giải quyết
công việc( Nhất quen, nhì thân, tam thần, tứ thế).
o Trong lối ứng xử với môi trường xã hội, tư duy tổng hợp và phong cách linh
hoạt còn quy định thái độ dung hợp trong tiếp nhận: ở Việt Nam không những
không có chiến tranh tôn giáo mà mọi tôn giáo đều được tiếp nhận. Đối phó
với các cuộc chiến tranh xâm lược người Việt Nam luôn hết sức mềm dẻo, hiếu hòa.
o Văn minh nông nghiệp kéo dài đã làm chậm sự phát triển của tiến trình lịch
sử Việt Nam, không tạo ra được những tiền đề và điều kiện để bức ra khỏi
cái khung phong kiến phương Đông, làm hạn chế tính năng động, sáng tạo
của con người Việt Nam và dẫn đến sự trì trệ của xã hội Việt Nam.
- Văn hóa gốc du mục
Văn hóa gốc du mục: chủ yếu ứng với môi trường sống của các cộng đồng cưdân ở phương Tây.
Môi trường tự nhiên: là xứ lạnh với khí hậu khô, không thích hợp cho thực vật sinh
trưởng, trừ những vùng đồng cỏ rộng
Nghề mưu sinh: sinh sống bằng chăn nuôi là chính, do đó hình thành lối sống du cư.
Tổ chức đời sống: lo tổ chức để thường xuyên di chuyển gọn gàng, nhanh
chóng,thuận tiện nên mang tính chất trọng động(cuộc sống năng động, di chuyển nhiều
Ứng xử với môi trường tự nhiên: coi thường và luôn muốn chinh phục, chế ngự
tự nhiên. Cư dân du mục nếu thấy ở nơi này không thuận tiện, có thể dễ dàng bỏ đi
nơi khác, do vậy dẫn đến tâm lý coi thường tự nhiên. Bởi vâỵ, người phương
Tây luôn có tham vọng chinh phục và chế ngự tự nhiên ; tận dụng tự nhiên: chủ
yếu ăn động vật; ưu điểm:khuyến khích con người dũng cảm đối mặt với tự nhiên,
khuyến khích khoa họcvphát triển; nhược điểm: hủy hoại môi trường.
Lối nhận thức, tư duy: phân tích – siêu hình. Khoa học hình thành theo con
đường thực nghiệm, khách quan, lý tính;tính chặt chẽ và sức thuyết phục cao.Đây
là lí do khiến khoa học phát triển nhanh - tư tưởng trước sai sẽ có tư tưởng sau thay lOMoAR cPSD| 61458992
thế; ưu điểm: có sự sâu sắc, phát triển mạnh các ngành khoa học chuyên sâu;
nhược điểm: thiếu toàn diện
Khuynh hướng khoa học: thiên về khoa học tự nhiên và kỹ thuật
Ứng xử xã hội: con người du mục trọng lí trí, dẫn đến trọng sức mạnh, trọng tài,trọng
ve, trọng nam giới. Cuộc sống du cư dẫn đến cách thức tổ chức cộng đồng theo
nguyên tắc với tính tổ chức cao(nếp sống theo pháp luật); quyền lực tuyệt
đối nằm trong tay người cai trị -quân chủ. Tư duy phân tích, cách tổ chức cộng
đồng theo nguyên tắc dẫn đến một đặc điểm quan trọng của văn hóa du mục là tâm
lý trọng cá nhân; ưu điểm:mọi vấn đề đều theo một nguyên tắc khách quan với
các chuẩn mực cố định,văn minh; nhược điểm: mặt trái của nguyên tắc là máy
móc, rập khuôn, cứng rắn, áp đặt, thiếu bình đẳng
Đặc trưng văn hóa: độc tôn trong tiếp nhận và cứng rắn, hiếu thắng trong đối phó.
Tôn giáo: tín ngưỡng đa thần sơ khai nhanh chóng chuyển sang nhất thần giáo và tôn giáo độc tôn.
- Phân biệt vh Vn và vh TQ
VN: gốc nông nghiệp, TQ là gốc du mục
Ko thể phủ nhận sự hợp lí của rất nhiều đặc trưng văn hóa mang tính loại hình đã
được tác giả phân tích nhưng việc xác định các đặc trưng loại hình ở từng nền văn
hóa cụ thể rất dễ hình thành nên những mặc định ko thay đổi về đặc trưng của nền
văn hóa đó. VD: Nói đến VN là lúa nước thì ko phải vì ko phải VN chỗ nào cũng giống nhau.
- Những mặc định ấy còn gạt những thực hành đa dạng, phong phú trong nền văn
hóa. Tạo nên cái nhìn sơ lược, đơn giản về vh trong khi thực tế nó sinh động hơn rất
nhiều. việc phân chia chỉ là sự tham chiếu.
TIẾN TRÌNH VĂN HÓA
1. NỀN VĂN HÓA ĐẠI VIỆT
Nền văn hóa Đại Việt kéo dài suốt gần một thiên niên kỉ, từ năm 938 đến 1858. Đây là giai
đoạn phục hưng, phát triển về văn hóa vì phải duy trì văn hóa trong sức ép của người Hán
và tiếp thu văn hóa Ấn-Trung.
Sau chiến thắng Bạch Đằng, ĐV bước vào thời kì xây dựng quốc gia độc lập. Mở đầu là
nhà Ngô, năm 939, Ngô Quyền không xưng là Tiết độ sứ nữa mà xưng là Ngô Vương và
định đô ở Cổ Loa. Năm 968, Đinh Bộ Lĩnh dẹp loạn 12 sứ quân, thu giang sơn về một mối,
đặt kinh đô ở Hoa Lư, đặt tên nước là Đại Cổ Việt, xây dựng quốc gia, củng cố chính quyền.
Năm 981, Lê Hoàn kế thừa quốc gia của nhà Đinh lập ra nhà Tiền Lê. Năm 1010, nhà Lý
lên ngôi, dời đô về Đại La, đổi tên thành này là thành Thăng Long, năm 1054, đổi tên nước lOMoAR cPSD| 61458992
là Đại Việt. Năm 1226, nhà Trần thay nhà Lý. Năm 1400, nhà Hồ thay thế nhà Trần để rổi
đất nước Đại Việt rơi vào tay quân xâm lược nhà Minh. Năm 1428, sau một thời gian dài
kháng chiến, Lê lợi giành lại độc lập cho đất nước, lên ngôi vua, lập ra nhà Lê. Năm 1527,
nhà Mạc giành ngôi của nhà Lê, sau đó là thời kì Nam Bác triểu và xung đột Lê-Mạc. Từ
năm 1570 đến năm 1786, Đàng Trong và Đàng Ngoài xung đột, giữa một bên là nhà Lê -
Trịnh và một bên là chúa Nguyễn. Năm 1771, anh em Tây Sơn khởi nghĩa, lập lại nền thống
nhất đất nước vào năm 1786. Năm 1802, nhà Nguyễn thắng thế, đặt nền cai trị của mình
trên toàn bộ đất nước. Năm 1858, thực dân Pháp nổ súng xâm lược Việt Nam.
Thành tựu: Việc dời đô về Đại La và đổi tên thành Thăng Long, nhà Lý đã mở đầu một giai
đoạn phục hưng văn hóa Đại Việt. Nhà Trần tiếp tục sự nghiệp của nhà Lý, đưa đất nước
tiếp tục phát triển về mọi mặt. Kiến trúc thời Lý phát triển rất mạnh. Những di tích nhà lý
còn lại đến nay như chùa Giạm, chùa Một Cột, tháp Bảo Thiên. Cùng với kiến trúc, các
nghề thủ công rất phát triển ở thời Lý, như nghề dệt, gốm, mĩ nghệ…thời Trần, nghề thủ
công còn có những bước phát triển mới, hình thành những làng nghề chuyên sản xuất một
mặt hàng nhất định. Kinh thành Thăng Long mở rộng chia thành 61 phường. Tại đây ko
chỉ có chợ mà còn có những phường thủ công và phố xá buôn bán. Đặc trưng nổi trội thời
Lý-Trần là sự dung hòa tam giáo ( Nho- Phật –Đạo), còn gọi là chính sách Tam giáo đồng
nguyên. Năm 1031, triều Lý bỏ tiền ra xây dựng 950 chùa. Nhà vua và tầng lớp quý tộc rất
sùng mộ đạo phật. thời kì này các sư tăng và tín đồ phật giáo phát triển cả về số lượng lẫn
chất lượng. theo nhà sử hoc Lê Văn Hưu, đời Lý “nhân dân quá một nửa làm sãi, trong
nước chỗ nào cũng có chùa”. Nho sĩ còn thưa thớt, vì thế nhà chùa cũng là nơi đào tạo ra
những sư tăng đồng thời là những trí thức thời đại. những trí thức Phật giáo này đã nối liền
Phật giáo với Nho giáo và Đạo giáo. Chính họ là người đã đặt nền cho chính sách tam giáo
đồng nguyên. Phật giáo tham gia vào sự nghiệp giải phóng và xây dựng đất nước. Chẳng
hạn sư Vạn Hạnh đã vận động đưa Lý Công Uẩn lên ngôi vua lập ra triều Lý. Phật giáo
còn có tác động đến tư tưởng tâm lí phong tuc và nếp sống của đâong đảo nhân dân ở các
làng xã. Nó ảnh hưởng to lớn đến cả kiến trúc điêu khắc thơ văn nghệ thuật. Nho giáo dù
chưa phát triển mạnh nhưng nó đã cùng với chữ Hán tồn tại trong xh VN như một hiện
tượng xh tự nhiên. VIệc mở Quốc Tử Giám, mở các khoa thi đã khiến Nho giáo bắt đầu có địa vị trong xã hội.
Nền văn học chữ viết được hình thành với các tác giả hùng hậu được tạo ra từ hai nguồn:
tri thức Phật giáo và tri thức Nho giáo. Phần lớn trong văn học thời Lý là thơ, mà phần lớn
lại là thơ của các nhà sư, Tuy nhiên cũng có nhiều bài thơ có ý nghĩa nhân sinh và giá trị
văn hóa cao như Nam quốc sơ hà của LTK hay Chiếu dời đô của LCU. Thời nhà Trần, đa
số thi nhân đều là các nho sĩ như Chu Văn An, Trương Hán Siêu, Nguyễn Phi Khanh…Bên
cạnh văn học chữ Hán, lịch sử thời kì này chứng kiến sự hình thành của văn học chữ Nôm.
Các tác giả có văn thơ Nôm thời kì này là Trần Nhân Tông, Mạc Đình Chi, Nguyễn lOMoAR cPSD| 61458992
Thuyên..Sự xuất hiện của văn học chữ viết (Hán và Nôm) là bước phát triển cả về chất và
lượng của nền văn hóa.
Đặc điểm: - Đây là thời kì của sự khôi phục, bảo ồn, phát huy giá trị văn hóa bản địa trước
chính sách cưỡng bức văn hóa và trước nguy cơ đồng hóa của các vương triều phong kiến
phương Bắc. Việc chống quân xâm lược liên tục là một nét đặc biệt của ls VN thời kì Đại
Việt. Đó là thời kì lịch sử biến động dữ dội, đầy bão táp. Bọn xâm lược dù đến từ chân trời
nào đều có chung một ý tưởng: hủy hoại nền văn hóa của cộng đồng cư dân bị chúng xâm
lược. Thế nhưng người dân Việt mỗi lần bị xâm lăng là một lần đứng dậy, chứng tỏ lòng
yêu nước bất khuất của mình. Do đó, các nhà nghiên cứu thường khẳng định có ba lần
phực hưng văn hóa dân tộc trong thời kì này. Lần thứ nhất vào thời Lý-Trần diễn ra sau
khi giải phóng đất nước khỏi ách Bắc thuộc. Lần thứ hai vào tk XV, sau khi giặc ngoại xâm
bị quét sạch, văn hóa dân tộc bước vào thời kì phục hưng từ đời Lê Thái Tổ đến Lê Thánh
Tông. Và lần thứ 3 vào cuối tk 18.
- Cho thấy khả năng tiếp biến linh hoạt những giá trị văn hóa Trung Hoa làm giàu
thêm văn hóa dân tộc. Trong đó ý thức quốc gia dân tộc luôn được coi trọng là hạt
nhân vững chắc trong quá trình dựng nước và giữ nước.
- Cho thấy sự kết tinh những giá trị văn hóa bản địa với tinh hoa văn hóa Trung Hoa
và văn hóa Ấn Độ. Sản phấm của quá trình tiếp biến tạo ra sự thay đổi văn hóa
người Việt. Từ cấu trúc văn hóa bản địa (văn hóa Đông Sơn) chuyển thành cấu trúc
văn hóa truyền thống (phong kiến)
2. GIAO LƯU VÀ TIẾP XÚC VĂN HÓA PHƯƠNG TÂY
a. Giai đoạn 1: từ đầu thế kỉ 16 đến giữa thế kỉ 19
Sự tiếp xúc văn hóa trong giai đoạn đầu diễn ra trên phương diện tôn giáo và thương mại.
Vươn cánh tay tới phương trời Đông xa xôi này, nhà truyền giáo và nhà tư bản tất yếu có
nhu cầu liên kết chặt chẽ với nhau. Nhà truyền giáo muốn mở rộng nước Chúa cần phương
tiện để đi xa. Nhà tư bản muốn kiếm lời cần người am hiểu thị trường nên sẵn sàng giúp
đỡ tài chính cho các giáo sĩ và chở họ tới bất cứ đâu. Bù lại, khi đến nơi, các giáo sĩ sẽ vừa
đi truyền đạo, vừa tìm sẵn các nguồn hàng quý hiếm; nhiều khi giáo sĩ giúp nhà buôn bằng
cách can thiệp với chính quyền địa phương xin phép cho họ buôn bán. Dấu ấn giao lưu và
tiếp biến văn hóa thời kì này là Kitto giáo và chữ quốc ngữ. Khi truyền đạo cho người Việt
Nam, khó khăn đầu tiên mà các giáo sĩ vấp phải là sự khác biệt về ngôn ngữ và văn tự. Bởi
vậy, họ đã dùng bộ chữ cái Latinh thêm các dấu phụ để ghi âm tiếng Việt, tạo nên chữ Quốc
ngữ. Tuy chữ Quốc ngữ ban đầu chỉ là công cụ truyền đạo của các giáo sĩ, nhưng do có ưu
điểm là dễ học,nên đã được các nhà Nho tiến bộ tích cực truyền bá để phổ cập giáo dục và nâng cao dân trí
b. Giai đoạn 2 giữa thế kỉ 19- đầu 20: văn hóa VN chịu ảnh hưởng trực tiếp từ văn hóa
Pháp. Dấu ấn để lại trên mọi lĩnh vực: Trên lĩnh vực đô thị, từ cuối thế kỉ XIX, đô lOMoAR cPSD| 61458992
thị Việt Nam từ mô hình cổ truyền với chức năng trung tâm chính trị đã chuyển sang
phát triển theo mô hình đô thị công - thương nghiệp chú trọng chức năng kinh tế. Ở
các đô thị lớn dần hình thành một tầng lớp tư sản dân tộc; nhiều ngành công nghiệp
khác nhau ra đời (khai mỏ, chế biến nông lâm sản...). Các đô thị và thị trấn nhỏ cũng dần dần phát triển
Xuất hiện các kiến trúc đô thị kết hợp khá tài tình phong cách phương Tây với tính
cách dân tộc, phù hợp với điều kiện thiên nhiên Việt Nam. Chẳng hạn,các tòa nhà
của Trường Đại học Đông Dương (nay là Đại học Quốc gia Hà Nội),Bộ Ngoại giao,
Viện Viễn Đông Bác cổ (nay là Bảo tàng lịch sử Hà Nội) đã sử dụng hệ thống mái
ngói, bố cục kiểu tam quan, lầu hình bát giác...làm nổi bật tính dân tộc; đưa các mái
hiên, mái che cửa sổ ra xa để tránh nắng chiếu và mưa hắt.
Trên lĩnh vực giao thông, hàng chục vạn dân định đã được huy động xây dựng hệ
thống đường bộ đến các đồn điền, hầm mỏ... Hệ thống đường sắt với những đường
hầm xuyên núi, những cây cầu lớn ngày càng được kéo dài (cầu Long Biên) Việc
thâm nhập của văn hóa phương Tây đưa lại là sự ra đời của báo chí. Việc này trước
hết nhằm phục vụ cho nhu cầu thông tin cai trị của thực dân Pháp. Gia Định báo là
tờ báo đầu tiên được phát hành bằng chữ Quốc ngữ. Báo chí đã góp phần quan
trọng trong việc nâng cao dân trí, thức tỉnh ý thức dân tộc và tăng cường tính năng
động của người Việt Nam
Sự tiếp xúc với phương Tây đã làm nảy sinh trong lĩnh vực văn học thể loại tiểu
thuyết hiện đại vốn là cái mà truyền thống Việt Nam không có. Chất văn xuôi, tính
cách cá nhân phương Tây còn ảnh hưởng vào cả một lĩnh vực có truyền thống lâu
đời như thơ dẫn đến sự bùng nổ của dòng thơ mới với những tên tuổi như Thế Lữ,
Hàn Mặc Tử, Xuân Diệu, Huy Cận...
Thực dân Pháp đã buộc học trò học tiếng Pháp, bắt theo hệ thống giáo dục kiểu
phương Tây. Năm 1906 lập ra Nha học chính Đông Dương và định ra ba bậc học cơ
sở là ấu học, tiểu học và trung học. Đến năm 1915 ở Bắc Kì và 1918 ở Trung Kì
việc thi Hương bị bãi bỏ, chấm dứt nền Nho học Việt Nam. Hệ thống giáo dục mới
này cùng với sách vở phương Tây đã góp phầngiúp người Việt Nam mở rộng thêm
tầm mắt, tiếp xúc với các tư tưởng dân chủtư sản, rồi sau là tư tưởng Mácxít. Truyền
thống đạo học với lối tư duy tổng hợpnay được bổ sung thêm kiểu tư duy phân tích.
c. Từ giữa tk 20 đến nay: Diễn ra quá trình giao lưu tiếp biến văn hóa với Mĩ, LX, với các nước
Từ sau Cách mạng tháng Tám năm 1945 thành công, việc giao lưu, tiếp xúc văn hóa
p. Tây ở Việt Nam có sự thay đổi rõ nét so với các giai đoạn trước. Với quan điểm
mà đồng chí Đỗ Mười đã tuyên bố tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VII của
Đảng cộng sản Việt Nam: “Việt Nam muốn làm bạn với tất cả các nước”, hoàn cảnh
lịch sử của giao lưu và tiếp biến văn hóa đã thay đổi về nhiều phương diện: Thứ
nhất, sự tiến bộ của các ngành khoa học kĩ thuật, đặc biệt là sự bùng nổ của công lOMoAR cPSD| 61458992
nghệ thông tin khiến cho văn hóa, các sản phẩm văn hóa càng đa dạng và phong
phú. Nói khác đi, giao lưu và tiếp biến văn hóa là giao lưu và tiếp biến văn hoa ở
thời đại tin học. Lịch sử hôm nay có những hình thức sản phẩm giao lưu mà trước
kia chưa hề có, phương tiện giao lưu văn hóa lại đa dạng, phong phú. Thứ hai, công
cuộc đổi mới và mở cửa hôm nay hoàn toàn do dân tộc Việt Nam chủ động, khiến
cho việc giao lưu văn hóa là hoàn toàn tự nguyện, chủ động chứ không hề bị áp đặt
hay cưỡng bức. Văn hóa Việt Nam đã thể hiện sự dung hợp trong tiếp nhận và tiếp
biến văn hóa. Nhiều yếu tố văn hóa đã được biến đổi làm giàu cho văn hóa Việt
Nam mà vẫn giữ được bản sắc dân tộc. d. Kết luận
Quá trình giao lưu và tiếp biến đã làm thay đổi cấu trúc của nền văn hóa Việt Nam. Mặc
dầu thời gian chịu ảnh hưởng trực tiếp của văn hoá Pháp chỉ 60 năm, có thể nói văn
hoá Việt Nam đã thay đổi rõ rệt hơn thời gian tiếp xúc văn hoá Hán. Cấu trúc văn hóa
Việt Nam chuyển từ truyền thống sang hiện đại. Đưa nền văn hóa VN phát triển hội
nhập với thế giới để ko bị lạc điệu trong xh ngày nay. Đồng thời người Việt cũng không
ngừng đấu tranh để giữ gìn bản sắc văn hóa của mình, lựa chọn những giá trị văn hóa
phương Tây mới, đích thực để chống lại sự nô dịch văn hóa của thực dân Pháp; từng
bước giành lại sự chủ động trong tiếp thu văn hóa.
Sự hình thành tầng lớp trí thức Tây học để tiến hành du nhập văn minh phương Tây vào
Việt Nam cũng như giải quyết vấn đề “tính hiện đại” ở một xứ thuộc địa thì họ phải mở
thêm nhiều loại trường đào tạo. Tuy nhiên, khi trình độ dân trí của người Việt được
nâng cao, tinh thần quốc gia dân tộc phát triển mạnh sẽ đụng độ đến quyền lợi, sự tồn
tại của chế độ thuộc địa. Vì thế một mặt chính quyền thực dân mở nhiều trường đào
tạo, mặt khác lại sử dụng chính sách văn hóa nô dịch, ngu dân xen kẽ.
Sự hình thành lối sống Âu hóa. Lối sống Âu hóa theo hướng tiến bộ đã thu hút đông
đảo người dân đô thị, đặc biệt là tầng lớp trẻ. Từ cách ăn mặc, giao tiếp, ứng xử đều có
sự thay đổi. Đó là chưa kể phương thức đi lại (tàu hỏa, ô tô, xe đạp, xe tay…), nhà cửa
và quy chế cá nhân đã thay đổi. Lối tư duy cũng có sự thay đổi, từ lối tư duy kiểu tiên
nghiệm Á Đông dần thay bằng lối tư duy logic, thực chứng của phương Tây. THÀNH TỐ VĂN HÓA
1. Văn hóa làng của văn hóa VN
K/n làng: Đình làng, giếng làng, lũy tre làng hay “một miếng giữa làng bằng 1 sàng giữa
chợ” là những điều quen thuộc, đã ăn sâu vào tiềm thức với hầu hết người dân Việt Nam.
Làng là đơn vị cư trú cơ bản của nông thôn người Việt đã được hình thành từ rất sớm. Làng
ra đời sớm, gắn bó thân thiết với nghề trồng lúa nước, bền vững với thời gian với thăng lOMoAR cPSD| 61458992
trầm lịch sử. Làng Việt gắn kết con người cùng huyết thống và ko cùng huyết thống trong sinh hoạt cộng đồng.
Văn hóa làng bao gồm tổng thể các giá trị (vật chất và tinh thần) do cộng đồng dân cư ở
các làng quê sáng tạo ra trong quá trình tồn tại và phát triển. Đó là kiểu hình văn hóa đặc
trưng, văn hóa “gốc” của nền văn hóa Việt Nam cổ truyền với những sinh hoạt văn hóa,
thiết chế và liên kết xã hội hết sức chặt chẽ.
Theo quan điểm của TNT làng có hai tính đặc trưng là tính cộng đồng và tính tự trị. Tính
cộng đồng là sự liên kết các thành viên trong làng lại với nhau, mỗi người đều hướng tới
những người khác- nó là đặc trưng dương tính, hướng ngoại. Biểu tượng truyền thống của
tính cộng đồng là sân đình-bến nước-cây đa. Làng nào cũng có một CÁI ĐÌNH. Đó là biểu
tượng tập trung nhất của làng về mọi phương diện. Trước hết, nó là một trung tâm hành
chính, nơi diễn ra mọi công việc quan trọng, nơi hội họp, thu sưu thu thuế, nơi giam giữ và
xử tội phạm nhân... Thứ đến, đình là một trung tâm văn hóa, nơi tổ chức các hội hè, ăn
uống (do vậy mà có từ đình đám), nơi hiểu diễn chèo tuồng. Đình còn là một trung tâm về
mặt tôn giáo: Thế đất, hướng đình được xem là quyết định vận mệnh cả làng; đình cũng là
nơi thờ thần Thành Hoàng bảo trợ cho dân làng. Cuối cùng, đình là một trung tâm về mặt
tình cảm: Nói đến làng là nghĩ đến cái đình với tất cả những tình cảm gắn bó thân thương
nhất: Qua đình ngả nón trôngđình, đình bao nhiêu ngói thương mình bấy nhiêu… BẾN
NƯỚC/ GIẾNG NƯỚC) là chỗ hàng ngày chị em gặp nhau cùng rửa rau, vo gạo, giặt giũ,
chuyện trò. CÂY ĐA cổ thụ mọc um tùm ở đầu làng, gốc cây có miếu thờ lúc nào cũng
khói hương nghi ngút - đó là nơi hội tụ của thánh thần: thần cây đa, ma cây gạo, cú cáo cây
đề. Gốc cây đa có quán nước, còn là nơi nghỉ chân gặp gỡ của những người đi làm đồng,
những khách qua đường...Nhờ khách qua đường, gốc cây đa trở thành cánh cửa sổ liên
thông làng với thế giới bên ngoài.
Tính tự trị là làng nào biết làng ấy, các làng tồn tại khá biệt lập với nhau và phần nào độc
lập với triều đình phong kiến. Mỗi làng là một “VƯƠNG QUỐC” nhỏ khép kín với luật
pháp riêng (hương ước) và “tiểu triều đình” riêng. Sự biệt lập đó tạo nên truyền thống phép
vua thua lệ làng. Tình trạng này thể hiện quan hệ dân chủ đặc biệt giữa nhà nước phong
kiến với làng xã ở Việt Nam. Biểu tượng truyền thống của tính tự trị là LŨY TRE. Rặng
tre bao kín quanh làng, trở thành một thứ thành lũy kiên cố bất khả xâm phạm: đốt không
cháy, trèo không được, đào đường hầm thì vướng rễ không qua.
Tính cộng đồng và tính tự trị là hai đặc trưng gốc rễ, Trần Ngọc Thêm cho rằng chúng là
nguồn gốc sản sinh ra hàng loạt ưu điểm và nhược điểm về tính cách của người Việt
Nam. Tính cộng đồng nhấn mạnh vào SỰ ĐỒNG NHẤT. Cho nên người Việt Nam luôn
có tính tập thể rất cao, hòa đồng vào cuộc sống chung, luôn sẵn sàng đoàn kết giúp đỡ
lẫn nhau, coi mọi người trong cộng đồng như anh chị em trong nhà: tay đứt ruột xót, chị
ngã em nâng; là lành đùm lá rách.... Sự đồng nhất cũng chính là ngọn nguồn của nếp sống lOMoAR cPSD| 61458992
dân chủ - bình đẳng. Tuy nhiên tính cộng đồng đã thủ tiêu vai trò cá nhân. Người Việt
Nam hay dựa dẫm, ỷ lại vào tập thể: Nước trôi thì bè trôi, Nước nổi thì thuyền nổ. Tệ hại
hơn nữa là tình trạng Cha chung không ai khóc; lắm sãi không ai đóng cửa chùa.... Điều
này khác hẳn với truyền thống phương Tây, nơi con người được rèn luyện ý thức cá nhân
từ nhỏ. Cùng với thói dựa dẫm, ỷ lại là tư tưởng cầu an và cả nể, làm gì cũng sợ rút dây
động rừng nên có việc gì thường chủ trương đóng cửa bảo nhau…Một nhược điểm trầm
trọng thứ ba là thói đố kị, không muốn cho ai hơn mình: Khôn độc không bằng ngốc đàn;
Chết một đống còn hơn sống một người...Những thói xấu có nguồn gốc từ tính cộng đồng
này khiến cho ở Việt Nam, khái niệm "giá trị" trở nên hết sức tương đối: Cái tốt, nhưng
mà tốt riêng rẽ thì trở thành xấu (khôn độc không bằng ngốc đàn); ngược lại, cái xấu,
nhưng là xấu tập thể thì trở nên bình thường: Toét mắt là lại hướng đình, Cả làng cùng
toét,riêng mình em đâu!
Sự khác biệt - cơ sở của tính tự trị - tạo nên tinh thần tự lập cộng đồng: mỗi làng, mỗi tập
thể phải tự lo liệu lấy. Vì phải tự lo liệu, nên người Việt Nam có truyền thống cần cù, đầu
tắt mặt tối, bán mặt cho đất bán lưng cho trời. Nó cũng tạo nên nếp sống tự cấp tự túc:
mỗi làng tự đáp ứng mọi nhu cầu cho cuộc sống của làng mình; mỗi nhà có vườn rau,
chuồng gà, ao cá - tự đảm bảo nhu cầu về ăn;có bụi tre, rặng xoan, gốc mít - tự đảm bảo nhu cầu về ở.
Mặt khác, cũng chính do nhấn mạnh vào sự khác biệt - cơ sở của tính tự trị - mà người Việt
Nam có thói xấu là óc tư hữu ích kỷ. Ruộng ai người nấy đắp bờ; Ai có thân người nấy lo,
ai có bò người nấy giữ, Óc tư hữu ích kỉ luôn bị chính người Việt phê phán: Của mình thì
giữ bo bo.Của người thì để cho bò nó ăn; Thói xấu thứ hai có nguồn gốc từ tính tự trị là
óc bè phái, địa phương cục bộ, làng nào biết làng ấy, chỉ lo vun vén cho địa phương mình:
Trống làng nào làng nấy đánh, Thánh làng nào làng nấy thờ. Một tính xấu thứ ba là óc gia
trưởng - tôn ti. Cuộc sống nông nghiệp lúa nước và lối tư duy biến chứng dẫn đến sự hình
thành nguyên lí âm dương và lối ứng xử nước đôi. Cho nên tính chất nước đôi chính là
một đặc điểm tính cách của dân tộcViệt. Tất cả những cái tốt và cái xấu ấy cứ đi thành từng
cặp và đều tồn tại ở người Việt Nam; bởi lẽ tất cả đều bắt nguồn từ hai đặc trưng gốc trái
ngược nhau là tính cộng đồng và tính tự trị.Tùy lúc tùy nơi mà mặt tốt hoặc mặt xấu sẽ
được phát huy: Khi đứng trước những khó khăn lớn, những nguy cơ đe doạ sự sống còn
của cả cộng đồng thì cái nổi lên sẽ là tinh thần đoàn kết và tính tập thể; nhưng khi nguy cơ
ấy qua đi thì thói tư hữu và óc bè phái địa phương có thể lại nổi lên.
Trong bối cảnh hiện đại ngày nay, đặc trưng văn hóa làng có tác động tích cực. Làng và
thiết chế làng mang lại tính tự quản, tính bền vững cao, chủ nghĩa tập thể, Làng cũng là
không gian lưu trữ, gia cố, hiệu chỉnh nhiều thực hành văn hóa bản địa, truyền thống. Tuy
nhiên nó cũng để lại tác động tiêu cực. Những cư dân trong làng luôn quen thuộc với những
thứ mà họ thuộc về luôn dè dặt với thứ ở bên ngoài nên trong nhiều trường hợp cái mới ko lOMoAR cPSD| 61458992
dễ được người Việt chấp nhận. Thứ hai là kém năng động với dự biến động của xã hội.
Hình thành tính cục bộ, tính địa phương chỉ chú trọng đến mình.
2. Chức năng của phong tục tập quán
-K/n: là thói quen sinh hoạt trong đời sống được cộng đồng thừa nhân, được truyền từ đời
này sang đời khác. Phong tục tập quán có thể thay đổi được tùy theo thời gian có tính tùy
thuộc vào từng cộng đồng văn hóa. -
Thường gồm có phong tục hôn nhân, tang ma, lễ Tết và lễ hội. Hôn nhân của người
ViệtNam truyền thống không phải là việc hai người lấy nhau mà là việc "hai họ"dựng vợ
gả chồng cho con cái. Tục lệ này xuất phát từ quyền lợi của tập thể. Vì vậy, điều cần làm
đầu tiên chưa phải là lựa chọn một cá nhân cụ thể, mà là lựa chọn một dòng họ, một gia
đình xem cửa nhà hai bên có tương xứng không, có môn đăng hộ đối không. Hôn nhân là
một công cụ duy nhất và thiêng liêng để duy trì dòng dõi và phát triển nguồn nhân lực đáp
ứng nhu cầu nhân lực của nghề trồng lúa. Không chỉ duy trì dòng giống, người con tương
lai còn có trách nhiệm mang lại lợi ích cho gia đình. Con gái phải đảm đang tháo vát, đem
lại nguồn lợi vật chất cho gia đình nhà chồng; con trai phải giỏi giang, đem lại vẻ vang
(nguồn lợi tinh thần) cho gia đình nhà vợ: Chồng sang vợ được đi giày, Vợ ngoan chồng
đượctối ngày cậy trông. Khi các quyền lợi của tập thể cộng đồng đã được tính đến và
đápứng cả rồi, lúc ấy người ta mới lo đến những NHU CẦU RIÊNG TƯ. Trước hết là sự
phù hợp của đôi trai gái xét một cách trừu tượng bằng việc hỏi tuổi (ngày nay gọi là chạm
ngõ, hay lễ dạm) xem đôi trai gái có hợp tuổi nhau hay không, còn nếu xung khắc thì thôi.
Để cho quan hệ vợ chồng được bền vững, khi cưới, đôi vợ chồng trẻ thời Hùng Vương có
tục trao cho nhau nắm đất và gói muối để chúc cho tình nghĩa giữa hai người mặn mà thủy
chung (Gừng cay muối mặn xin đừng quên nhau). Sau này, trong lễ vật dẫn cưới luôn có
một loại bánh su sê (tên đọc chệch đi của phu thê): Đó chính là biểu tượng của triết lí âm
dương) và ngũ hành biểu tượng cho sự vẹn toàn, hòa hợp - hòa hợp của đất trời và của con
người. Quan hệ mẹ chồng - nàng dâu cũng rất được chú ý.
Phong tục tang ma bao gồm nhiều quy trình của những người đang sống thực hiện đối với
người vừa chết. Tang ma và các hình thức thờ cúng là thể hiện lòng xót thương, sự hiếu
thuận của người sống đối với người đã mất. Người Việt bị giằng kéo giữa hai thái cực là:
đưa tiến người chết sang “thế giới bên kia” và xót thương người mất. Đồng thời tác giả
quan niệm rằng con người cấu tạo bởi hai phần xác và hồn, sau khi chết linh hồn sẽ về nơi
thế giới bên kia cộng với thói quen sống bằng tương lai nên người Việt luôn “bình tĩnh,
yên tâm đón chờ cái chết”. Phong tục tang lễ của ta thấm nhuần tinh thần triết lí âm dương
ngũ hành. Về màu sắc (trắng-đen). Về loại số những thứ liên quan đến ng chết là số âm, ng
sống là dương. Lạy trc linh cữu phải là 2 hoặc 4 lạy. Phân biệt tang cha với tang mẹ: cha
thì gậy tre mẹ thì gậy vông. Do thân tre tròn, biểu tượng của dương, cành vông đẽo thành
hình vuông, biểu tượng âm. lOMoAR cPSD| 61458992
Nghề lúa nước mang tính thời vụ cao, lúc có việc thì tối tăm mặt mũi, cho nên lúc rảnh rỗi,
người nông nghiệp có tâm lí chơi bù, ăn bù. Vì vậy mà ở Việt Nam, Tết nhất đã nhiều, hội
hè cũng lắm. Các ngày LỄ TẾT được phân bố theo thời gian trong năm, xen vào các khoảng
trống trong lịch thời vụ. Trong năm, quan trọng nhất là Tết Nguyên Đán đó là dịp duy nhất
trong năm có sự sum họp đầy đủ của tập thể gia đình, gia tiên và gia thần. Con cháu dù đi
làm ăn ở đâu ngày Tết cũng cố gắng về ăn Tết với gia đình; hương hồn ông bà tổ tiên các
thế hệ cũng cùng về gặp mặt; các vị thần phù hộ cho gia đình đều được chăm lo cúng bái.
Lễ Hội là hệ thống phân bố theo không gian. Phần Lễ mang ý nghĩa tạ ơn và cầu xin thần
linh bảo trợ cho cuộc sống của mình. Có 3 loại lễ hội: lễ hội liên quan đến mt tự nhiên (lễ
hội cầu mưa, hội cơm mới..), lễ hội liên quan đến mt xh (hội đền hùng, hội gióng), liên
quan đến đs cộng đồng (lễ hội tông giáo và văn hóa- hội Phủ Dầy). Phần Hội thì gồm các
trò chơi phong phú xuất phát từ những ước vọng thiêng liêng của con người nông nghiệp:
cầu mưa, cầu phồn thực, cầu nhanh nhẹn, tháo vát.. -
Chức năng: . Phong tục tập quán là khuôn mẫu hành vi được xã hội hoá và chuẩn
mựchóa giúp con người đối diện và giải quyết các vấn đề, các nhu cầu, biến cố trong đời
sống cá nhân và đời sống xã hội. PTTQ cung cấp các quy chuẩn xã hội những hành vi được
phép làm (phải tuân thủ) và những hành vi không được phép làm (bị loại trừ). Phong tục
tập quán là khế ước xã hội nhằm đảm bảo sự hợp tác trong quá trình chung sống giữa người
với người. Nó mạnh hơn bất kì khế ước nào.
3. Nguồn gốc và ý nghĩa thờ cúng tổ tiên
- tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên: Tổ tiên là khái niệm dùng để chỉ những người có cùnghuyết
thống nhưng đã mất, những người đã có công sinh thành, nuôi dưỡng và có ảnh hưởng
lớn đến đời sống vật chất và tinh thần của thế hệ người đang sống. Thờ là yếu tố thuộc
ý thức về tổ tiên, là tình cảm biết ơn, tưởng nhớ, hướng về cội nguồn, quá khứ. Cúng
là yếu tố mang tính nghi lễ, là sự thực hành một loạt động tác khấn, vái, quì, lạy. Đó là
hoạt động dưới dạng hành lễ và được qui định bởi quan niệm, phong tục, tập quán của
mỗi cộng đồng, dân tộc. Trải qua nhiều biến cố lịch sử, tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên đã
và vẫn chiếm được vị trí thiêng liêng trong đời sống tinh thần của con người. - Nguồn gốc:
Cơ sở quan trọng đầu tiên cho việc hình thành bất cứ tôn giáo tín ngưỡng nào cũng là quan
niệm tâm linh của con người về thế giới. Cũng như nhiều dân tộc khác, người Việt xuất
phát từ nhận thức “vạn vật hữu linh”- mọi vật đều có linh hồn, và bắt đầu từ giới tự nhiên
xung quanh mình. Tín ngưỡng này còn xuất phát từ tâm lí tình cảm của người sống đối với
người đã khuất. Đó là sự biết ơn, tưởng nhớ, xót thương khi người thân rời xa cõi hồng
trần. Một hiện tượng khá bí ẩn nhưng được con người tin tưởng: đó là âm phùngười chết
phù hộ cho người sống. Ông bà, cha mẹ, dù qua đời nhưng vẫn luôn hiện diện trong tâm
tưởng con cháu, và con cháu luôn cảm thấy trách nhiệm cả về vật chất lẫn tinh thần với họ: lOMoAR cPSD| 61458992
một nén nhang thơm, một bông hoa đượm hương, một chén nước tinh khiết và cả tiền vàng
để họ têu dùng. Bên cạnh ý thức trách nhiệm, còn phần nào bởi yếu tố sợ bị trừng phạt. Tổ
tiên có khả năng trừng phạt vì thế thờ cúng tổ tên mang lại sự an yên, mang lại cảm giác tổ
tiên hài lòng, thì con người sẽ được phù trợ ko bị quở trách trừng phạt. Nền kinh tế tiểu
nông tự cung tự cấp là một môi trường thuận lợi cho sự xuất hiện tín ngưỡng đa thần. Hình
thức tổ chức xã hội cũng là một yếu tố quan trọng trong việc hình thành tín ngưỡng. Có ý
kiến cho rằng, nghi thức thờ cúng tổ tiên được tiến hành trong người Hán rồi dần dần lan
sang người Việt. Văn hóa Hán với cơ sở lí luận Nho giáo đã tạo điều kiện thuận lợi cho tín
ngưỡng thờ cúng tổ tiên được tồn tại và duy trì. Các tư tưởng lý luận của Nho giáo đã trở
thành vũ khí lý luận cho các vương triều pk VN tổ chức quản lý quốc gia trong giai đoạn
độc lập tự chủ. Chính vì thế tín ngương thờ cúng tổ tiên ko chỉ được lễ thức hóa mà còn
được được thừa nhận, thể chế hóa bằng pháp luật. Toàn bộ các nghi thức thờ cúng với vai
trò quan trọng của nam giới ở gđ và dòng họ là nhờ Nho giáo. Bên cạnh Nho gáo, đọa giáo
và phật giáo cũng góp phần thể chế, hệ thống hóa và hoàn chỉnh tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên. - Ý nghĩa:
Thờ cúng tổ tiên đáp ứng nhu cầu tâm linh, tin vào sự tồn tại vĩnh viễn của linh hồn.
Tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên giúp cố kết cộng đồng ng Việt ở cả 3 cấp độ: gđ, dòng
họ; làng xã và quốc gia đều chung 1 vị tổ tiên- chung 1 sự kết nối đều là “con Lạc
cháu Hồng”. Đó là sức mạnh giúp cho dân tộc ta vững vàng trước mọi sự đe dọa
của giặc ngoại xâm. Khi tin vào chung tổ tiên thì tạo nên sự đoàn kết. Tham gia vào
việc tạo dựng các giá trị truyền thống của người việt nhứ ý thức cộng đồng, lòng
yêu nước, đạo lí uống nước nhớ nguồn. Tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên tham gia vào
quá trình tạo dựng bản sắc dân tộc.
5. BẢN SẮC VĂN HÓA LÀ YẾU TỐ VĂN HÓA BẢN ĐỊA TRƯỜNG TỒN TRONG
LỊCH SỬ LÀ ĐÚNG HAY SAI?
- Bản sắc văn hóa là? Khi nói đến bản sắc văn hóa, chúng ta thường nghĩ đến bản sắc của
một cá nhân, một cộng đồng, như tộc người (ethnic group), tôn giáo, và dân tộc
(nationstate). Bản sắc là sự khác biệt được tạo nên bởi các yếu tố hữu hình và vô hình của
văn hóa, và người ta thường chỉ nhận ra sự khác biệt ấy thông qua tương tác với các văn
hóa khác để từ đó cảm nhận được mình thuộc về một cộng đồng tộc người, dân tộc, tôn
giáo hay giai tầng xã hội nào đó.
Đã có nhiều nghiên cứu về bản sắc văn hóa, và được thảo luận sôi nổi cả trên bình diện lý
thuyết và thực tế trong nhiều thập kỷ qua. Nhận xét về bản sắc văn hóa, các nhà nghiên
cứu chia thành hai trường phái Bản thể luận và tình thế luận. Trường phái Bản thể luận cho
rằng văn hóa là thứ gắn với tộc người và không bao giờ thay đổi. Trái ngược với bản thể
luận, các nhà nghiên cứu theo thuyết Tình thế luận lại cho rằng dù các thành tố tạo nên bản lOMoAR cPSD| 61458992
sắc văn hóa được hình thành từ một cộng đồng có chung tổ tiên đi chăng nữa thì nó vẫn có
tính chất tình thế và điều này thường xảy ra trong đời sống hằng ngày. Nếu như bản thể
luận cho rằng bản sắc được tạo nên từ những yếu tố gốc, và do đó có tính bền vững, thì
tình thế luận, ngược lại, tin rằng bản sắc văn hóa chứa đựng nhiều yếu tố đạo đức, xã hội,
và cảm xúc. Nó có thể thay đổi tùy thuộc vào từng hoàn cảnh nhất định. Nếu nhìn nhận
theo trường phái bản thể luận thì đây là quan điểm hoàn toàn đúng đắn.
Nếu nhìn nhận theo trường phái tình thế luận thì đây là quan điểm sai lầm. Bởi văn hóa thì
luôn vận động và phát triển phù hợp với nhu cầu sống của con người. Do đó thì ko có nét
văn hóa nào trường tồn theo thời gian. Nếu bản sắc văn hóa ko thay đổi thì giờ đây có lẽ
chúng ta vẫn nhuộm răng đen, mặc khố. Những phong cách thời trang từ ngoại quốc sẽ ko thể ảnh hg đến ta
Như vậy, hai cách tiếp cận nêu trên đều đưa ra lý lẽ, và các cuộc tranh luận đến nay vẫn
chưa chấm dứt. Bên cạnh hai cách tiếp cận chính ấy còn xuất hiện cách tiếp cận dung hòa,
tức kết hợp những yếu tố có lý của mỗi cách. Chẳng hạn, bản sắc văn hóa vẫn có yếu tố
bền vững, không thể thay đổi, như truyền thống uống nước nhớ nguồn, lá lành đùm lá rách
của đồng bào ta. Tuy nhiên, bản sắc cũng có yếu tố thay đổi do tiếp xúc, tương tác với
những nền văn hóa khác, hay đặt trong bối cảnh khác.
6. Vai trò của Phật giáo
- k/n: là một tôn giáo đồng thời cũng là một hệ thống của triết học bao gồm một loạt cácgiáo
lý, tư tưởng triết học cũng như tư tưởng tư duy về nhân sinh quan, vũ trụ quan, thế giới
quan, giải thích hiện tượng tự nhiên, tâm linh, xã hội, bản chất sự vật và sự việc; các
phương pháp thực hành, tu tập. - Ra đời khoảng thế kỉ VI TCN tại Ấn Độ
- Người sáng lập là Siddhartha Gautama hay còn được gọi là Tất Đạt Đạ / Thích Ca MâuNi (652-544 TCN)
+ Là thái tử nhưng bất bình với sự phân chia đẳng cấp, kì thị màu da và đồng cảm với nỗi
khổ của muôn dân -> tìm con đường giải thoát
+ Rời nhà lúc 29 tuổi, đến 35 tuổi thì giác ngộ được tư tưởng, tìm ra hướng giải thoát.
Trong suốt 40 năm còn lại của cuộc đời đi các nơi để truyền bá tư tưởng của mìn
Giáo lý: Kinh Phật, được xếp thành 3 tạng
- Kinh tạng: chứa các bài thuyết pháp của Phật và một số đệ tử
- Luật tạng: chứa các lời Phật dạy về thế giới luật và phươngt thức sinh hoạt của chúngtăng
- Luận tang: chứa những lời bàn luận lOMoAR cPSD| 61458992
Nội dung giáo lý : học thuyết về nỗi khổ và sự giải thoát, có cốt lõi là “Tứ diệu đế” (Bốn chân lý kì diệu)
1. Khổ đế: bản chất của nỗi khổ “Bát khổ”: sinh, lão, bệnh, tử, ái biệt ly, oán tăng hội, sở
cầu bất đạt, ngũ thụ uẩn
2. Tập đế: chân lý về nguyên nhân của nỗi khổ Đó là ái dục (tham muốn) và vô minh (kém
sáng suốt). Dục vọng thể hiện hành động gọi là Nghiệp; hành động xấu khiến con người
phải nhận hậu quả của nó (nghiệp báo)
=> Luẩn quẩn trong vòng luân hồi
3. Diệt đế : cảnh giới diệt khổ
Nỗi khổ sẽ được tiêu diệt khi nguyên nhân gây ra khổ bị loại trừ.
Sự tiêu diệt khổ đau gọi là niết bàn (nghĩa đen: không ham muốn, dập tắt)
Thế giới của sự giác ngộ và giải thoát
4. Đạo đế : con đường diệt khổ “Bát chính đạo” (tám con đường diệt khổ):
-Rèn luyện đạo đức- GIỚI: chánh ngữ, chánh nghiệp, tránh mạng
- Rèn luyện tư tưởng – ĐỊNH: chánh niệm, chánh định
- Khai sáng trí tuệ - TUỆ: chánh kiến, chánh tư duy, chánh tinh tấn
Phật giáo có 2 phái: Đại thừa & Tiểu thừa
+Tiểu thừa (“cỗ xe nhỏ” - chở được ít người):
- Theo xu hướng bảo thủ, chủ trương bám sát kinh điển, giữ nghiêm giáo luật - Phật
tửphải tự giác ngộ cho bản thân,
- Chỉ thờ Phật Thích Ca và chỉ tu đến bậc La hán (người đã thoát cảnh luân hồi, đángđược tôn kính)
+ Đại thừa (“cỗ xe lớn” - chở được nhiều người):
- Không cố chấp theo kinh điển, khoan dung đại lượng trong thực hiện giáo luật
- Thu nạp tất cả những ai muốn quy y, giác ngộ giải thoát cho nhiều người
- Thờ nhiều Phật, tu qua các bậc La hán, Bồ Tát đến Phật
SỰ DU NHẬP CỦA PHẬT GIÁO VÀO VIỆT NAM: lOMoAR cPSD| 61458992
- Trực tiếp từ Ấn Độ tới cộng đồng người Việt cổ những năm đầu của TNK I sau CN mà
dấu ấn để lại là trung tâm Luy Lâu (BẮc Ninh) và câu chuyện về Man Nương Phật mẫu và Khâu Đà La
- Gián tiếp từ PG trung hoa thời kì bắc thuộc và phong kiến tự chủ VAI TRÒ PHẬT GIÁO
- Sớm hòa nhập với tín ngưỡng và văn hóa bản địa (tứ pháp)
- Là cơ sở của khối đại đoàn kết dân tộc. gắn bó với quá trình đấu tranh, duengj nước và
giữ nước của người Việt
- Thể hiện tinh thần nhập thé góp phần phát triển chung của đất nước trong nhiều thời kì lịch sử
- Với cá nhân góp phần nuôi dưỡng, củng cố và phát triển chủ nghĩa nhân đạo tinh thần
hòa hợp và dung hợp, tinh thần vị tha hướng thiện
6. VĂN HÓA LÀ NỀN TẢNG, ĐỘNG LỰC, MỤC TIÊU CỦA SỰ PHÁT TRIỂN
*Văn hóa là nền tảng tinh thần của xã hội -
Tham gia cải tạo chất lượng người, nguồn nhân lực người nhằm đáp ứng nhu cầu
pháttriển hướng con người theo các giá trị chân-thiện-mĩ
-Hình thành trong phẩm chất mọi thành viên trong xã hội ý thức phát huy các tiềm năng về
thể lực, trí lực và nhân cách
-Tích cực xây dựng một môi trường văn hóa lành mạnh để có đủ sức đề kháng đẩy lùi các
tiêu cực xã hội, bài trừ những văn hóa phản tiến bộ. mọi sự phát triển chỉ có thể thực hiện
trên nền tảng văn hóa vững chắc
*Văn hóa là động lực thúc đẩy sự phát triển của xã hội -
những nhu cầu vh tạo ra động lực cho sự phát triển. vh thúc đẩy sự phát triển đi đúnghướng
-Sự phát triển của một dân tộc gắn liền với cái mới nhưng không tách rời cội nguồn, văn hóa
-Con người là nhân tố có vai trò quan trọng và là không thể thiếu trong sự phát triển của kinh tế, xã hội
-Văn hóa có khả năng tiếp thu và cải biên những yếu tố văn hóa ngoại sinh để biến thành
ngoại lực thúc đẩy sự phát triển của kinh tế, xã hội
-Văn hóa sẽ giải phóng và nhân lên mọi tiềm năng sáng tạo của con người trong mọi lĩnh
vực đời sống xã hội mà trước hết là kinh tế
*Văn hóa là mục tiêu của sự phát triển lOMoAR cPSD| 61458992 -
mọi sự phát triển đều hướng tới xây dựng môi trg văn hóa phục vụ con người 1
cchshiệu quả và hữu ích hơn.
-Mục tiêu của sự phát triển ở nước ta: “Dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh”
Trong chiến lược phát triển kinh tế 2011-2020:
-Xác định: phát huy tối đa nhân tố con người, con người là chủ thể, nguồn lực chủ yếu và
là mục tiêu của sự phát triển”
-Yêu cầu: Tăng trưởng kinh tế kết hợp hài hòa với phát triển văn hóa, thực hiện công bằng
xã hội, không ngừng nâng cao chất lượng cuộc sống của nhân dân”.
Văn hóa có vai trò đặc biệt quan trọng trong việc bồi dưỡng, phát huy nhân tố con người
và xây dựng xã hội mới.Văn hóa giúp mở rộng hiểu biết, nâng cao dân trí, giúp bồi dưỡng
tư tưởng đúng đắn và tình cảm cao đẹp cho con người, cho nhân dân Việt Nam lí tưởng
độc lập dân tộc gắn với chủ nghĩa xã hội, đồng thời bồi dưỡng phong cách, lối sống lành
mạnh, hướng con người đến chân-thiện-mĩ để hoàn thiện bản thân.