












Preview text:
10:28, 08/01/2026
Đề cương môn CSVH 2 - Văn hoá Việt Nam từ thời Lý đến Hậu Lê - Studocu
Chương 3: Trình văn hóa
1. Văn hóa Việt Nam thời Lý - Trần, Hậu Lê
- Kéo dài từ 938 đến trước khi PhápLuồng lược (1858)
- Các triều đại thay nhau nắm quyềnnền
- Lãnh thổ không ngừng mở rộng về phía Nam. Đếngiữa thế kỷ XVIII, việc khai phá Nlà Bộ cơ hoàn thành.
- Đấu tranh chống nhiều cuộc xâm lược, đó là 2 lần chống Tống, 3 lần chống quân Mông
Nguyên, chống nhà Minh, quân xiêm,Quân Thanh.
1.1. Văn bản đặc trưng của Tran
- Đây là sự hưng hưng văn hóa dân cưLoại thứ nhất sau thuộc tính Bắc
- Thời gian : từ thế kỷ XI đến thế kỷ XV
- Kinh Đô : Thăng Long ; Quốc hiệu : Đại ViKHÔNG - Văn hóa vật chất
+ Kiến trúc: Thành Thăng Long. Trung tâm của hoàng thành thăng long đã được công nhMỘT
là sản phẩm văn hóa thế giới. Ngoài ra còn có nhiều ngôi chùa đc xcây bút, giáo giáo lên ngôi
như chùa Một cột, chùa Phật tích.
+ Nghệ thuật điêu khắc trên đá, các cột chân làm bằng đá khrối loạn nhiều văn bản, chi tiết
+ Nghề thủ công phát triển như làm gbạch, keo, vật
+ « An Nam tứ đại khí » (Tượng Phật chùa Quỳnh Lâm ; Tháp Báo Thiên ; Chuông Quy
Điền, Vạc Phổ Minh). Tuy nhiên khi nhà Minh đô hộ nước ta, cả 4 cái này là nhàMinh thu
lại, nấu và nấuc làm vũ khí. - Tư vấn
+ Tam giáo đồng nguyên (Nho, Phật, Đạo) nhưng ảnhảnh hưởng quan trọng nhất vẫn là Phật Giáo
+ Quốc giáo : Phật giáo, rất nhiều chùa được dựng lên, các vumột gian hàng trần trụi theo tư
Tưởng từ bi bác ái của phậtGiáo
+ Giao giáo dục : thời kỳ lí trần nho ginước có bước phát triển mới với 3 cột điện :Năm 1070 xây dựng
Văn Miếu, năm 1075 mở khoa thi đầutiên, năm 1076 mở Quốc Tử Giám
+ Từ đời Trần, nho sĩ càng trở nênên đông đảo.5
- Nền văn hóa bác học hình thành và phát triển
+ Văn học viết chữ Hán rộng rãi
+ Hình thành văn học chữ Nôm
+ Phát triển mạnh : chèo, tuồng, múa, múa rối nước
D/C : Tượng A Di Đà ở chùa Phật Tích (Bắc Ninh) được thực hiện dưới thời điểm hiện tạià Lý trở thành
vật quốc gia. Cột đá chùa Dạmcó rất nhiều chi tiết ở nhà Lý Đc khắc lên.
1.2. Đặc điểm văn bản hóa Hậu Lê 10:28, 08/01/2026
Đề cương môn CSVH 2 - Văn hoá Việt Nam từ thời Lý đến Hậu Lê - Studocu
- Là sự hưng hưng văn hóa dân tộc lcần thứ hai của thời kỳ Lí- Trần các laoij sách vở văn hiến
có giá trị bị nhà Minh lấy mất, cáicó gtri gì thì sẽ bị đốt sạch.Thậm chí bộ Đại Việt Sử dụng ký hiệu
Lê Văn Hưu đến nay vẫn chưaTìm thấy.
- Tư tưởng : Nho giáo sử dụng địa vịưu tiên. Giữ vị trí tôn giáo - Xuất hiện Kito giáo
- Pháp luật : Luật Hồng Đức bị cấmaction under Lê Thánh Tông, sau liên kết nàyẨm và
sung, có thể phát triển sự phát triển vềvăn học và pháp lý
- Giao giáo mở mang, vua LêThánh Tông rất coi trọng việc học. Vì vậyã cho khắc tên của
những trạng thái, tiến trình trên bimột đá để ghi nhớ.
- Xuất chữ quốc tế. Dù cóđược sử dụng nhiều nhưng vẫn tồn tại âm thanh trong đnhân
dân, tạo bc tiền đề cho sự sdmở rộng sau này
- Văn học phát triển, đặđặc biệt là văn học chữ Nôm, ngữ ra vănhọc chữ Hán cũng phát triển.
- Quan tâm đến bồi đê : đê Hồng Đức
- Thủ công nghiệp và thương nghiệp rất phphát triển nghề làm gốm sứ : gốm Bát Tràng buộc,
đào tạo Chu Đậu. Phi đoàn tàu thương mại phuwongTây đến buôn bán rất nhiều.
- Xuất hiện nhiều loại tín hiệu truyền thôngthống kê : thờ thành hoàng làng, thờ Mẫu
- Văn hóa hóa diễn đàn trong hội nhập và sáng sủatạo
D/C : Chùa Tây Phương Thạch Thất, HN, Đình Tây Đằng- Ba Vì HN
Chương 5: Một số văn bản hóa thành tố A. TÍN NGƯỠNG
Tín ngưỡng dân gian: đặc điểm chung, một số tín hiệu biểu tượng
- Tín ngưỡng sùng bái tự nhiên
- Tín ngưỡng sùng bái con người
- Tín ngưỡng thờ Thành Hoàng Làng
Tưởng niệm: Tín ngưỡng là thần thánhsự hóa hóa của con người đói với một hay nhiều hi;S,
nhân vật nào đó, là sản phẩm văn hóa hóa thành hình trong mối quan hệ giữa ctrên người với
môi trường tự nhiên, môi trường xã hội vàchính thân chúng
1, Tín ngưỡng sùng bái tự nhiên
Khái niệm và nguồn gốc : Cư dân Việt làcư dân nông nghiệp trồng lúa nước vàsống cuộc đời đời
của cư dân nông nghiệp luôn gắn chthiết lập tự động bằng cách trồng hoa thủ công phát gắn chặt với
nhiều yếu tố như thời tiết và khí hậu. LÀMvậy mà khi con người gặp phải những điều hiện tạiợng của
tự nhiên sẽ không được giải quyếtcon người sùng bái hóa, tinh thần hóa các hiện- đó
hay còn được gọi là tín ngưỡng sùng bái ttự nhiên. Điều này cũng có thể thực hiện ước tính của người dùng
Việt về cầu mong mưa thuận gió hòa, câykhông tốt tươi. 10:28, 08/01/2026
Đề cương môn CSVH 2 - Văn hoá Việt Nam từ thời Lý đến Hậu Lê - Studocu
Đặc điểm : Tín ngưỡng sùng bái tự nhitên ở Việt Nam có thể được xác định rõ ràngmột việc
thờ đa thần và người Việt vẫn có xu hướng đồng nhấtc vị thần cai quản tự nhiên với các bạn nữ hơn
Mẫu thờ: thờ Bà Mây, Bà Mưa, Bà Sấm, Bà Chớp, Bà Lửa, Mẹ Lúa,… và vì cái đích đó
người Việt đang hướng tới sự dồi dàoc.hình tượng nữ thần của người Vinókhông phải
các cô gái trẻ đẹp thường là cácBà Mẹ, các Mẫu, những người phụ nữ đã trải qua công việc
sinh nở ít nhất một lần ? Biểu hiện
Thư mục thờ tự các hiện tượng: Thư mục thờ tự các hiện tượngđược biểu hiện qua thời gian
các hiện tượng tự nhiên như: Ngãthờ Sấm, thờ Trời Mưa, thờ Đất, thờ Đá,t Núi,…
Tục thờ cúng: Trong tín ngưỡng sùng bái tự nhiên, người Việt còncó một vật thể và thời gian liên tục
thực vật. Rùa, rắn, cácá sấu là loài vô cùng phổ biến ở vùng sông nước, vậy nên là chúng
thuộc loại động vật được sùng bái hàng đầu. Ngoài ra, chính vì loại hình văn hómột trang trại
mà các con vật như Rồng, được tăng cường bằng biểu tượngng by có thể theo truyền đạt thì tổ hợp
người Việt đầu tiên là con rồng, cháu Tiên”. Hơn thế nữa, cư dân Việtvẫn còn những vật phẩm đó
sức mạnh như hổ, sư tử, chim ưng,…
Bên bờ đó, thực vật cũng được sùng bái, thờ cúng . Người Việt vẫn tiếp tụcthờ cây đa, nhà thờ
cây xanh, bụi chuối,ờ gốc tre… và lễ lúa lúa vẫn tiếp tục được tổ chứcNgười Việt hay các dân tộc
nhiều nhất các loại sùng bái
?Ý nghĩa: Tín ngưỡng sùng bái tự nhiên là một tín ngưỡng dân gian văn việt, có lịch sử lbạn
đời. Việc cung cấp chính tự nhiênlà biểu tượng cho những ước nguyện của người dân về sức khỏe
khỏe, tài lộc, may mắn và ước vyên bình, thuận lợi của yên giấc.
2, Tín ngưỡng sùng bái con người
? Nguồn gốc và biểu hiện : Tục thờ cúng tổ tiên
Người Việt và một số dân tộcở Đông Nam Á quan niệm rằng con ngườibao gồm có Hồn – Vía –
Thể xác, ví dụ là một phần để kkết nối giữa linh hồn và có thể xác định để tạo ra mộtcon người, một người
hoàn chỉnh. Khi con người chết đi,linh hồn và vía sẽ được xác định, chỉ có thống xác mất đi còn
linh hồn và vía vẫn tồn tại trên nhângian, đi theo phù hộ, bảo vệ cho con, cho cháu. Chính vì vậy
người Việt vẫn tiếp tục lập bmột nhà thờ để thờ cúng những người đã khuất có cùng huyTết
Người phương Tây coi trọng ngày sinh thì người Việt coi trọng ngày mất. Họ tin rằng khi
người ta bị mất sẽ nghỉ vềnơi nào có vàng. Ban thờ của tổ tiên bao giờ cũngđược đặt ở nơi
trang quan trọng nhất. Trên thời gian cấm, dù thiếu cái gì đi nữa thì cũng không được thiếu nưhoặc
rượu, điều này vẫn có thể hiện đượcnh sông nước trong đời sống văn hóa của người Vinó 10:28, 08/01/2026
Đề cương môn CSVH 2 - Văn hoá Việt Nam từ thời Lý đến Hậu Lê - Studocu
Người có công với làng xã, danh nhân, anh hùng và thờ vua tổ: Không chỉ thờ cúng
những người đã mất trong phạm vi huyết thống, gia đình, họ tộc mà người Việt vẫn tiếp tục tnửa vời
những người có công ở làng xã, những người đđã đặt nền móng cho hòa bình đất nước
Bằng chứng: Trong hậu cung của Đồng Nhân cóset icon Hai Bà Trưng để
Ghi nhớ công lao chiến đấu giặc nước của Hai Bà, cánhtay của Hai Bà Trưng đã được giải quyết
Cao lên với ý nghĩa mở dòng nước để đsến với bờ
Và ngoài ra còn có rất nhiều đền thờ như: đền tNửa Ngô Quyền, đền thờ An Dương Vương,…
Đây là một điểm đánh dấu tín hiệuđẹp văn hóa, là một đặc sảnvốn của người Việt có thể hiện
truyền thống uống nước nhớ nguồn, đạo lý làm người đề cao đạo huyền, đề cao tinh thtrần hướng về nguồn.
3, Tín ngưỡng thờ Thành hoàng làng
?Nguồn gốc và khái niệm:
Tín ngưỡng thờ Thành hoàng làng là một tín ngưỡng phổ biến ở làng xã của người Việt
nguồn gốc từ Trung Quốc . Thành Hoàng là một từ Hán Việt: “ThànhHoàng có nghĩa là
thành hào, hào có nước gọi làtrì, không có nước gọi là hoàng. Đắp đất làm “đ”, đào hào
làm “hoàng”. Thành hoàng ở đâylà một vị thần cai quản , che chở , định tiền phúc họa cho
dân làng. Tín ngưỡng thờ Thành hoàng đã được du nhậpenter to Viet Nam chúng ta ở thời kỳ Việt Nam thuộc Đường.
Vị thần thành hoàng đầu tiên được chínhquyền nhà Đường sắc phong trên đất Việtđó chính
là thần sông Tô Lịch hay còn gọi là Đô thquả hoàng – vị thần thành hoàng bảo vệ, bảo trợ cho
thành Đại La của Cao Biên.
Khi tín ngưỡng thờ Thành hoàng làng về đếncác vùng quê đặc biệt của người Việt từthời kỳ kì
Hậu Lê, trong số các vị tríthờ ở một làng quê; dân làng sẽ chọn ra msọc vị thần và được
triều định sắc phong thành “Thành hoàng” đồng thờivị thần đó sẽ được gọi là “Thành hoàng Họ”.
Thành hoàng làng có thể là thitên thần, nhiên thần hay nhân thần và cũng có khilà người có
công lập ra xã xã hoặc là nhữngười chết bất ngờ. Thành Hồàng của các làng Việt
không phải lúc nào cũng có vị trí thần thánhBảo vệ thành hào của làng mà chủ ythiếu những người có
công với dân với nước, người lnhập ra làng, người truyền dạy bất cứ nghề nào cho dân tộcĐám,
hoặc là một ông quan tốt.
Thành hoàng thường được thờ ở trong đình . Đình vừa không có gian textization, vừa phải
tôn giáo, tín ngưỡng, đồng thời làđơn vị cơ sở hành chính làng của người Vinó
Tuy nguồn gốc từ Trung Quốc thế nhưng làm thần, phủ ởViệt Nam có tính lịch sử khác.
cách thờ cúng và tổ chức ldễ dàng biến đổi cho phù hợp. Điều này cũng tđể hiện tổng hợp,
dung hợp hoạt động của văn hóa Vikhi tiếp tục căng thẳng với các nền văn hóa ngoại trừ ltrí tuệ nhân tạo 10:28, 08/01/2026
Đề cương môn CSVH 2 - Văn hoá Việt Nam từ thời Lý đến Hậu Lê - Studocu
Thông thường việc thờ cúng thành hoàng lđược diễn ra thường xuyên thông qua công việc tsửa chữa
hương và ánh sáng được diễn ra trong các lễ hội du Xuân, Tết cổtruyền thống.Hàng năm, ngày
giỗ Thành hoàng là ngày đông vui, sôi động nhất củadân làng Trong những ngày hội, bên ngoài
việc làm, ăn uống còn rrất nhiều lễ như diễn lại sự tích về Thành Hoàng, lễ lễ, rước kiệu
hay nhất trò chơi vui vẻ: đấu Võ,sinh gà, nấu cơm thi, óc chó, đánh du, đánh ccờ người, hát chèo, diễn đàn
tuồng… Có nhiều lễ gắn với ngưỡng tín hiệuờ cúng Thành Hoàng làng và tiêu biểu là lỪm hội
ở đóng D tại đóng Vitôi Xá, xã Hòa Long, thành phố Bắc Ninh nhắmđể tưởng nhớ công ơn
khai sinh ra làn sóng quan họ Bkhắc Ninh của Vua Bà là con gái vua HTrong. Ngoài racòn có dịch vụ
hội làng Lê ở làng La, phường Dương Nội, Hà Nội. Hội này để nhớ đến Thành hoàng đương
Cảnh báo Công và hai người vợ của ông là Tuyên Nương và Trinh Nương. Ý nghĩa:
Là một loại tín hiệu đặc biệtc nhất, phản ánh ánh sáng hiện thực đời sống của cộng đồng làng ,
xã giúp liên đoàn dân tộc, nếp sống cộng cảm hòa đồng, đất lề quê lịch được bảo tồn. Đồng
thời gian thực hiện đạo tiềm, ghi nhớcông ơn đối với những người có công xã xã, vừa là sự cầu
mong cho sự an yên, yên tâm.
B. VĂN HOÁ GIAO TIẾP VIẾT
1. Giao tiếp Thái độ - Thích giao tiếp tiếp theo nhưng lại có tín hiệuh hay ngại, e dè.
Việt Nam là một đất nưthước đi lên nông nghiệp. By như vậy mà đời sống của ngườiViệt gắn liền
với cây lúa, với đồng ruộng. Công cục đồng sáng cần có sự trợ giúp của nhiều ngưVì vậy họ
thường sống tập trung thành những làng, xã ngay tại khu vực thuận lợi cho sinh hoạt.
Họ sống phụ thuộc lẫn nhau và rất coi nhauviệc quan trọng là giữ mối quan hệ tốt với những người khác tr
cộng đồng làng xã. Chính tính cộng đồng này tạo ra người Vicông việc tiếp theo rất quan trọng. Năng
lực giao tiếp của người Việt Nam xem là tiêu chuẩnđể đánh giá một kẻ lừa đảo. Ca dao có câu:
“Vàng thì thử lửa, thử hơn,
Chuông kêu thử tiếng, người ngoan thử lời.”
“Chim khôn kêu tiếng rảnh rang
Người khôn ăn nói dịu dàng dễ nghe.”
Coi trọng giao tiếp, cho nên người Việt Nam rất thích giao tiếp. Việc thích giao tiếp này thể
hiện ở hai điểm: thích thăm viếng và hiếu khách.
Từ góc độ của chủ thể giao tiếp thì người Việt Nam có tính thích thăm viếng. Thường xuyên
thăm hỏi là cách thể hiện tình cảm, tình nghĩa với nhau, có tác dụng thắt chặt mối quan hệ. Có
thể hai người thân thiết đến mức mỗi ngày đều gặp nhau, nhưng khi rảnh rỗi vẫn trò chuyện,
thăm hỏi nhau. Điểm này rất khác với phương Tây, họ thường chỉ đến thăm viếng những người
mà bình thường ít có điều kiện gặp gỡ. Còn khi nhìn từ phía đối tượng giao tiếp, hay nói cách
khác là cách đối xử với người khác, người ta nhận thấy người Việt rất hiếu khách. Khách đến 10:28, 08/01/2026
Đề cương môn CSVH 2 - Văn hoá Việt Nam từ thời Lý đến Hậu Lê - Studocu
nhà chơi, dù sang giàu hay nghèo khó, gia chủ vẫn muốn tiếp đãi khách một cách thịnh soạn
nhất có thể. Chẳng thế mà khi bạn đến chơi, cụ Nguyễn Khuyến lại nghĩ đến những thứ ngon
nhất trong nhà để tiếp đãi bạn:
“Ao sâu nước cả, khôn chài cá
Vườn rộng rào thưa, khó đuổi gà.
Cải chửa ra cây, cà mới nụ,
Bầu vừa rụng rốn, mướp đương hoa....”
(Nguyễn Khuyến, Bạn đến chơi nhà)
Ông cha ta cũng luôn răn dạy con cháu phải có lòng hiếu khách qua những câu ca dao tục ngữ:
“Nhịn miệng tiếp khách đường xa
Cũng bằng gửi của chồng ta ăn đường.” (Ca dao)
“Khách đến nhà, chẳng gà thì vịt” (Tục ngữ)
GS. Phan Ngọc [1966:38] nhận xét: “Bạn đi công tác, đến đâu có dân là ở đấy có sự che chở.
Người ta nhường cho bạn nơi nào? Gian thờ. Gian nhà được xem là trang trọng nhất. Mà bạn
nào giúp đỡ gì cho họ đâu, nào có bà con gì với họ đâu? Họ nghèo thì chịu nghèo, đói thì chịu
đói chứ không để cho bạn đói...”
Du khách nước ngoài khi đến Việt Nam cũng đánh giá: “Con người Việt Nam hiếu khách, cởi
mở.” Lòng mến khách ấy bắt nguồn từ cách cư xử trọng tình của người Việt. Người Việt rất
hay cười, nhìn nhau là cười, đặc biệt với người nước ngoài. Nhưng đó không phải là một phép
lịch sự, mà xuất phát từ tình cảm chân thật, mộc mạc, không chút tính toán của con người sinh
sống trên dải đất hình chữ S này.
Đi cùng với thích giao tiếp, người Việt lại có tính rụt rè, e ngại. Đặc tính này cũng xuất phát
từ môi trường sinh sống của người Việt. Làng xã là những nơi có nhiều người thân quen, tình
cảm gắn bó khăng khít. Khi tiếp xúc trong phạm vi quen thuộc đó - tính cộng đồng của làng xã
ngự trị, người ta thường tỏ ra cởi mở, tự tin. Nhưng ở ngoài cộng đồng – lúc tính tự trị chiếm
ưu thế, khi tiếp xúc với những người xa lạ và môi trường lạ lẫm thì thường thu mình lại, rụt rè,
e ngại hơn. Hai mặt đối lập nhưng lại không hề mâu thuẫn, bởi nó được đặt trong hai môi
trường khác nhau. Đây cũng là biểu hiện cho tính linh hoạt trong ứng xử của người Việt.
2. Quan hệ giao tiếp - Trọng tình cảm
Trong giao tiếp ứng xử, người Việt rất coi trọng chữ tình. Nguyên nhân đầu tiên phải kể đến
là nguồn gốc văn hoá nông nghiệp. Do điều kiện sản xuất nhỏ, tự cung tự cấp, bó hẹp trong
phạm vi làng xã, không gắn với sự phát triển của khoa học kĩ thuật, tư duy lí tính ít phát triển.
Trong hoàn cảnh đó, những quan hệ dựa vào chữ “tín”, chữ “tình” có điều kiện chiếm ưu thế.
Trải qua hàng nghìn năm sống trong cảnh nghèo đói, lầm than, đến mức nó trở thành nỗi 10:28, 08/01/2026
Đề cương môn CSVH 2 - Văn hoá Việt Nam từ thời Lý đến Hậu Lê - Studocu
ám ảnh truyền kiếp của con người nơi đây, họ dần thấu hiểu nhau, thương lấy nhau, rồi
đến đùm bọc lẫn nhau. Người ta lấy cái tình để đối đãi với nhau, không so đo tính toán. Cách
cư xử ấy lâu ngày trở thành một truyền thống của người Việt, khiến nếp sống dựa trên chữ tình
này vẫn có một vị trí đặc biệt, dù đã trải qua hàng trăm, hàng nghìn năm.
Bàn về điều này, Trần Ngọc Thêm đã viết: “Nếu nói khái quát, người Việt Nam lấy sự hài hoà
âm dương làm trọng nhưng lại thiên về âm hơn thì trong cuộc sống, người Việt sống có lí, có
tình nhưng thiên về tình hơn.” (Trần Ngọc Thêm, Tìm về bản sắc văn hoá Việt Nam, tr.309).
Quả thực, trong tâm lí người Việt luôn mặc định đặt cái tình lên trên hết: “Một bồ cái lí
không bằng một tí cái tình”. Từ xưa đã có câu: “Tình sâu nghĩa nặng”, “Tình ngay lí gian”,
“Của tiền có có không không – Có tình có nghĩa còn mong hơn tiền”. Chữ tình bao giờ cũng
đứng trước chữ lí, chữ nghĩa, điều đó phản ánh tâm lí người Việt rất coi trọng chữ tình.
Rất trọng tình nên người Việt thường lấy tình cảm ra làm nguyên tắc ứng xử. Vì thế nên
những quyết định, suy nghĩ của người Việt thường rất chủ quan và cảm tính:
“Yêu nhau yêu cả đường đi
Ghét nhau ghét cả tông ti họ hàng.”
“Yêu nhau mọi việc chẳng nề
Một trăm chỗ lệch cũng kê cho bằng…”
3. Với đối tượng giao tiếp - Ưa quan sát, tìm hiểu, đánh giá đối tượng
Nếu người phương Tây tránh hỏi tuổi tác, địa vị xã hội, tình trạng gia đình,… thì đây lại là
những vấn đề người Việt thường quan tâm. Nghiên cứu về nguyên nhân của thói quen này,
Trần Ngọc Thêm đã nêu rõ: “Do tính cộng đồng làng xã, người Việt tự thấy mình có trách
nhiệm phải quan tâm đến người khác. Mà muốn quan tâm thì phải biết rõ hoàn cảnh. Mặt
khác, do phân biệt chi ly các quan hệ xã hội, mỗi cặp giao tiếp đều có những cách xưng hô
riêng, mà muốn chọn được từ xưng hô cho thích hợp thì cần phải có đủ các thông tin cần thiết
về người đối thoại.” (Trần Ngọc Thêm, Tìm về bản sắc văn hoá Việt Nam, tr.310).
Không chỉ quan sát, tìm hiểu, người Việt còn ưa đánh giá đối tượng, hay nói cách khác là
thích đánh giá người khác qua vẻ bề ngoài. Trong kho tàng ca dao tục ngữ, người xưa để lại
rất nhiều bài học kinh nghiệm xem tướng:
“Xấu mặt dễ sai, đẹp trai khó khiến” (Tục ngữ)
“Người khôn con mắt dịu hiền
Người dại con mắt láo liên nhìn trời” (Ca dao)
Mục đích của việc đánh giá này là để chọn đối tượng giao tiếp phù hợp với bản thân, tránh
những người bẩn tính, xấu xa, không đáng để giao du, kết bạn.
4. Với chủ thể giao tiếp – Trọng danh dự, sợ dư luận 10:28, 08/01/2026
Đề cương môn CSVH 2 - Văn hoá Việt Nam từ thời Lý đến Hậu Lê - Studocu
“Tốt danh hơn lành áo”
“Đói cho sạch, rách cho thơm”
Một nhà báo nước ngoài đã nhận xét thế này: “Ở Ý, người ta đi làm bằng xe cũ rích, còn ở Việt
Nam lại cố gồng mình lên mua xe đẹp rồi oằn mình trả nợ.” (Mua xe hay không là quyết định
của người đó, ở đây không đề cập đến vấn đề coi trọng vẻ hào nhoáng bên ngoài). Ca dao tục
ngữ - người bên trong sáng tạo, câu nhận xét – người bên ngoài nói ra, điều đó chứng tỏ người
Việt thực sự rất coi trọng thể diện, coi trọng danh dự. Có thể chết đói, chết rét, chết trong
bom đạn, nhưng không bao giờ để chết trong tai tiếng, sỉ vả.
Cũng vì quá coi trọng nên có không ít người mắc “bệnh sĩ diện”:
“Một giếng giữa đàng bằng một sàng xó bếp.”
“Một quan tiền công không bằng một đồng tiền thưởng.” (Tục ngữ)
Chỉ cần có cái danh tốt đẹp, được người khác khen ngợi, trầm trồ thì bên trong thế nào không
quan trọng. Lối sống này dẫn đến cơ chế tin đồn, khiến dư luận trở thành vũ khí lợi hại. Người
Việt Nam sợ dư luận đến mức: “Người ta chỉ dám dựa theo dư luận mà sống chứ ai dám dẫm
lên dư luận mà đi theo ý mình.” (Lê Lựu, Tiểu thuyết Thời xa vắng).
5. Về cách thức giao tiếp – Ưa sự tế nhị, ý tứ, trọng sự hoà thuận
Người Việt nặng tình nặng nghĩa, rất sợ làm mất lòng người khác, vì thế mà lời nói, cử chỉ đều
rất ý tứ, tế nhị, luôn trong tâm thế “rào trước đón sau”. Khác với người phương Tây, thích
bắt đầu trực tiếp, nói thẳng vấn đề thì người Việt lại hay vòng vo, không nói vào chủ đề. Điển
hình là những lời ướm hỏi, đối đáp có chồng hay chưa của đôi trai gái:
“Bây giờ mận mới hỏi đào
Vườn hồng đã có ai vào hay chưa
Mận hỏi thì đào xin thưa
Vườn hồng có lối nhưng chưa ai vào.” (Ca dao)
Hay là cách thông báo rằng mình vẫn chưa lấy vợ rất khéo của người thanh niên:
“Áo anh sứt chỉ đường tà
Vợ thì chưa có, mẹ già chưa khâu.” (Ca dao)
Lối giao tiếp ưu tế nhị, ý tứ này tạo cho người việt thói quen căn nhắc, suy nghĩ kĩ càng trước khi nói:
“Ăn có nhai, nói có nghĩ.”
“Uốn lưỡi bảy lần trước khi nói.” (Thành ngữ, tục ngữ)
“Lời nói không mất tiền mua, 10:28, 08/01/2026
Đề cương môn CSVH 2 - Văn hoá Việt Nam từ thời Lý đến Hậu Lê - Studocu
Lựa lời mà nói cho vừa lòng nhau.” (Ca dao)
Đây vừa là ưu điểm, vừa là hạn chế của người việt. Vì luôn cân nhắc, đắn đo nên người ta
thường hay do dự, thiếu quyết đoán. Mang tâm lí sợ sai, sợ mất lòng người khác nên người
Việt thường chọn cách im lặng, để rồi “quan tám cũng ừ, quan tư cũng gật”. Phương Tây luôn
thích bày tỏ ý kiến, quan điểm của mình, dù có phải tranh chấp, cãi cọ. Còn người Việt Nam
thì ngược lại. Họ rất ít khi tranh cãi, luôn muốn giữ được sự hoà thuận, cân bằng. Đến đây
ta mới nhận ra, người Việt cười nhiều như vậy không chỉ để trao cho nhau tình cảm chân thật,
mà còn để giữ được mối quan hệ ở ngưỡng cần thiết.
6. Nghi thức lời nói phong phú
- Hệ thống xưng hô phong phú. Trong tiếng anh, ngôi thứ nhất số ít chỉ có một từ “I”, hay
trong tiếng Nga chỉ có “я” thì trong tiếng Việt lại có đến hàng chục từ: “anh, chị, em, con,
cháu, ông, tôi, ta, tớ, mình,...”
- Có tính thân mật hoá: Tất cả mọi người trong cộng đồng đều trở thành họ hàng trong một gia đình.
- Có tính cụ thể hoá: Với mỗi trường hợp lại dùng một cách xưng hô khác nhau.
- Có tính đa nghĩa: Cùng một người nhưng có thể có nhiều cách xưng hô khác nhau.
- Có tôn ti trật tự: thể hiện rõ tuổi tác, thứ bậc trong gia đình, xã hội
- Tâm lí nhường nhịn, hiều hoà: Xưng khiêm hô tôn, tự xưng thì khiêm nhương, còn gọi đối
tượng giao tiếp với mình thì tôn kính. Khi chưa biết đối phương là ai, thứ bậc thế nào thương
gọi “bác”, xưng “em”. Đến khi hỏi, biết thì mới dựa theo đó mà xưng hô. - Nghi thức chào hỏi:
+ Ưa vòng vo nên mỗi khi gặp nhau thường chào theo không gian, không chào theo thời gian
như người nước ngoài. VD: đang đi trên đường sẽ hỏi “Đi đâu đấy”, “Đi học à”,...
+ Không có lời cảm ơn, xin lỗi cụ thể mà tuỳ từng trường hợp sẽ có cách nói khác nhau.
VD: Khi được người lớn cho gì đó: “Cháu (con) xin ạ!”
Cảm ơn khi được tiếp đón chu đáo: “Bác bày vẽ quá!” ... C. TỔ CHỨC LÀNG VIỆT
1. Định nghĩa : Là một đơn vị quần cư của một cộng đồng người có liên kết với nhau về mặt
huyết thống, lịch sử cư trú hoặc phương thức kinh tế. Đây là đơn vị xã hội rất quan
trọng đối với văn hóa Việt Nam vì dân ta chủ yếu sống ở nông thôn, trồng lúa nước. Đây là nơi
an cư lập nghiệp mấy ngàn năm của con người Việt Nam. Nhắc đến làng cũng chính là quê
hương, gắn liền với tuổi thơ mỗi người, là nơi nuôi dưỡng tình yêu nước, yêu dân tộc trong mỗi con người Việt nam.
2. Nguyên tắc tổ chức: 10:28, 08/01/2026
Đề cương môn CSVH 2 - Văn hoá Việt Nam từ thời Lý đến Hậu Lê - Studocu
a) Cùng huyết thống : trong quá trình lập làng, những người thuộc cùng dòng họ đến khai hoang lập nên làng đó.
- Làng là nơi ở của dòng họ, nên lấy tên họ làm tên làng.
VD: Đỗ Xá (Làng của người họ Đỗ),…
- Cách ứng xử: Đề cao mối quan hệ họ hàng, máu mủ ruột rà:
“Một giọt máu đào hơn ao nước lã”
“Khác máu tanh lòng”
b) Cùng địa vực: Những người không cùng huyết thống nhưng họ cùng sinh cư lập nghiệp ở một ngôi làng.
- Tên làng: có 2 tên, tên Hán Việt và tên Nôm.
VD: Triều Khúc có tên Nôm là Đơ Thao.
Quê Bác là làng Kim Liên và tên Nôm là làng Sen.
- Cách ứng xử: Đề cao mối quan hệ láng giềng, phân biệt rạch ròi giữa dân chính cư và dân ngụ cư.
“Bán anh em xa, mua láng giềng gần”
“Láng giềng còn để ba ngày
Chồng cô, vợ cậu nửa ngày cũng không” 3. Phân loại làng
+ Làng nông nghiệp : có vị trí quan trọng nhất, chiếm tỉ lệ cao nhất, sản xuất nông nghiệp là chủ đạo
+ Làng nghề : những cư dân sản xuất thủ công nghiệp (làm gốm sứ như làng Bàu Trúc, Bát
Tràng, Chu Đậu. Ngoài ra có nghe đúc đồng như Ngũ Xã, nghệ thuật chạm khắc gỗ như ở Bắc Ninh, Hà Nội)
-> Việc phân chia này chỉ mang tính chất tương đối vì người dân ở mỗi làng có thể làm cả 2
hoặc có bộ phận khác làm công việc nông nghiệp/ làm nghề
+ Làng buôn : số lượng không nhiều như làng nghề (LÀNG buôn Phù Lưu ở Bắc Ninh, làng
Đa Ngưu buôn thuốc bắc ở Bắc Ninh)
+ Làng chài : vì nước ta mang đậm tính sông nước nên xuất hiện những làng chuyên khai thác
thủy hải sản. Có các làng chài ven sông, đó là làng chài sống trên bờ và làng chài sống trực
tiếp trên mặt sông. Các làng chài lưới khai thác biển có số lượng rất lớn từ Quảng Ninh cho đến Hà Tiên.
+ Làng khoa bảng : Làng nổi tiếng có nhiều người đỗ đạt, đỗ tiến sĩ, trạng nguyên. Ở Hà Nội
có làng Đông Ngạc với hơn 10 vị tiến sĩ trong lịch sử.
+ Làng theo tôn giáo: Làng Công giáo toàn tòng mà ở đó hầu hết người dân theo thiên chúa giáo 4. Không gian làng : 10:28, 08/01/2026
Đề cương môn CSVH 2 - Văn hoá Việt Nam từ thời Lý đến Hậu Lê - Studocu
+ Không gian sản xuất bao gồm 2 bộ phận : ruộng (ngoài làng) và ao hồ (trong làng)
+ Không gian cư trú : thôn, xóm được định vị theo phương hướng (có xóm Thượng, xóm
Trung, xóm Hạ), vị trí về mặt địa lí (xóm Bắc, xóm Đông, xóm Nam, xóm Đoài), vị trí của
xóm trong làng (xóm ở gần đình gọi là xóm đình, xóm gần chợ gọi là xóm chợ)
+ Không gian tâm linh : đình, chùa, miếu, đền và làng nào cũng có những nghĩa địa
5. Cấu trúc xã hội
Cấu trúc xã hội đa dạng :
+ Lứa tuổi : người từ 18 tuổi trở nên, nam giới gọi là Đinh. Trên Đinh thì có Lão
+ Phân chia theo nghề nghiệp : nông dân chiếm số lượng lớn, ngoài ra còn thương nhân, thợ
thủ công, thư sinh. Do đó xã hội truyền thống có 4 tầng lớp cơ bản, gọi là « Tứ dân » : sĩ- nông-công-thương.
+ Giới tính : đàn ông có vai trò quan trọng hơn nữ giới.
+ Tín ngưỡng : ngày xưa có tổ chức xã hội Giáp, đây là tổ chức xh của ng đàn ông làm nhiệm
vụ thờ cúng thần thành hoàng làng. Các giáp chịu trách nhiệm luân phiên nhau hàng năm thờ
cúng thần Thành hoàng làng. Có nhiều giáp trong một làng, chia theo khu vực sống hoặc theo
số nhất nhị tam tứ. Ngày nay ở Hà Nội có Giaps Bát hay còn gọi là làng Tám. Tên gọi cho thấy
truwocs khi Giáp bát nằm trong 1 làn rất lớn dần dần tách ra thành 1 làng riêng. 6. Đặc trưng:
a) Tính cộng đồng bền chặt: coi trọng cộng đồng hơn cá nhân, hàng xóm sang chơi ăn cơm
nhà nhau, khác hoàn toàn với lối sống đô thị kín cổng cao tường.
Người trong làng là những ngườiân quen, có mối quan hệ thân thiết với nhau: Cùng dòng
họ, phường, hội, giáp,…
Biểu tượng: Cây đa, mái đình, giếng nước,…
Ưu điểm: Hỗ trợ kết nối tương thíchau, có thể tập tin.
Chế độ: Cào, cào bằng, đối xứng, trcá nhân tiêu chuẩn biểu thức. b) Tự trị :
- Là có sự tự quản về kinh tế, chính trị, tư pháp, an ninh, văn hoá,… Người dẫn làng có nhiđiều
quyền trong tổ chức đời sống xã hộihội dù vẫn đảm bảo điều tiết của nhà nước phong kiến (không đầy đủ).
“Phép vua thừa lệ làng”
Hương ước của làng đượcthống nhất, có các quy định chặt chẽsản phẩm, tín hiệu, hành động Xử.
Biểu tượng: Hương ước làng xã (lệ làng), , tre
Ưu điểm: Cần cù chịu khó, làm cơ sở cho lòng yêu nước
Hàm chế: Thói tư hữu ích kỷ, gia trưcầu bè
D. TỔ CHỨC NƯỚC – QUỐC GIA 10:28, 08/01/2026
Đề cương môn CSVH 2 - Văn hoá Việt Nam từ thời Lý đến Hậu Lê - Studocu
1. Cơ sở hình thành nhà nước Quy luật chung:
- Sự xuất hiện của chế độ tư hữu tư liệu sản xuất
- Sự phân hoá giai cấp sâu sắc
-> Hình thành nhà nước Đặc thù phương Đông:
- Do nhu cầu làm thuỷ lợi
Truyền thuyết Sơn Tinh Thuỷ tinh, một trong những truyền thuyết cổ xưa của người Việt đã
thể hiện khát vọng của con người lúc bấy giờ, chinh phục được thiên nhiên, khắc chế được bão
lũ. Có người nói, “Lịch sử Việt Nam là lịch sử đắp đê”. Việt Nam là một quốc gia nằm trong
vùng sông nước nên lũ lụt là thiên tai ghê gớm nhất. Và chống lụt là nhiệm vụ hàng đầu, quyết
định sinh mệnh sống còn của người dân. Đây cũng là nguyên nhân đầu tiên dẫn đến việc hình
thành nhà nước sơ khai ở Việt Nam. - Chống giặc ngoại xâm
Việt Nam nằm ở vị trí chiến lược, giàu tiềm năng trong khu vực châu Á – Thái Bình Dương, là
tâm điểm chú ý của các nước lớn trên nhiều phương diện. Cũng bởi lí do đó, Việt Nam thường
xuyên bị các nước lớn nhòm ngó, phải đối mặt liên tục với nạn ngoại xâm. Truyền thuyết
Thánh Gióng, một trong những câu chuyện quan trọng thời kì dựng nước đã thể hiện ước vọng
của nhân dân: không phải sống trong cảnh chiến tranh loạn lạc, đói khổ lầm than. 2. Đặc điểm
- Nước ra đời khá sớm, từ thời đại kim khí, cách ngày nay khoảng 4000 đến 2700 năm
“Bốn ngàn năm dựng cơ đồ,
Vạn năm từ thuở ấu thơ loài người”
- Là sự mở rộng, tập hợp của các làng.
“Nước là họp từ các làng mà thành. Từ làng đến nước, dạy dân nên tục, vương chính lấy làng làm trước”
(Chiếu của vua Gia Long năm 1804)
- Đặc trưng và chức năng của nước giống với làng, chỉ khác về quy mô.
- Mang tính dân chủ thân dân kiểu văn hoá nông nghiệp. 10:28, 08/01/2026
Đề cương môn CSVH 2 - Văn hoá Việt Nam từ thời Lý đến Hậu Lê - Studocu