Đề : Phân tích một số vấn đề thực tế của chính sách tài khóa và liên hệ thực tiễn
Việt Nam trong 5 năm gần đây.
Lời mở đầu
Trong những năm gần đây, dịch bệnh Covid-19 đang là một trong những
mối đe doạ to lớn, ảnh hưởng tiêu cực đến tốc độ tăng trưởng kinh tế của các
nước trên thế giới. Việt Nam cũng là một trong số các quốc gia phải chịu ảnh
hưởng từ cơn đại dịch này. Chính vì vậy, chính sách tài khoá của Việt Nam
luôn trong tình trạng kém hiệu quả. Chính phủ và những nhà kinh tế ở tầm vĩ
mô cũng lo ngại về tác động tiêu cực mà lỗ hổng này gây ra cho nhiều cân đối
kinh tế vĩ mô của đnc. Điều đó cũng gây nên những lo ngại nhất định từ phía
Chính phủ cùng các cơ quan quản lí tài chính nhà nước kiểm soát, khắc phục và
điểu chỉnh CSTK.
Khi phải đối mặt với tình hình căng thẳng đó, đặc biệt là đối với một đất nước
đang trong quá trình tiến đến hội nhập quốc tế như Việt Nam thì việc nghiên
cứu, tìm tòi, khám phá để tìm ra kết luận từ đó đưa ra các giải pháp phù hợp cho
vấn đề là một việc vô cùng cấp thiết. Nhận thức được tầm quan trọng của vấn đề
trên, em lựa chọn “phân tích một số vấn đề thực tế của chính sách tài khóa và
liên hệ thực tiễn ở Việt Nam trong 5 năm gần đây” qua đó làm sáng tỏ một số
thực trạng liên quan đến vấn đề thực tiễn từ năm 2017-2021. Từ đó đưa ra cách
khắc phục, bù đắp lỗ hổng về chính sách tài khoá ở VN hnay.
Đối tượng nghiên cứu :
- Đối tượng : một số vấn đề thực tế của chính sách tài khóa và liên hệ thực
tiễn ở Việt Nam trong 5 năm gần đây ( gđ 2017-2021)
- Phạm vi nghiên cứu :
+ Thời gian : từ năm 2017-2021
+ Không gian : một số vấn đề thực tế của chính sách tài khóa và liên
hệ thực tiễn ở Việt Nam trong 5 năm gần đây
Phương pháp nghiên cứu : thu thập số liệu, phân tích, tổng hợp và đánh giá.
Kết cấu của tiểu luận bao gồm 3 phần
- Phần I: cơ sở lý luận của chính sách tài khoá
- Phần II: thực trạng của tích một số vấn đề thực tế của chính sách tài khóa
và liên hệ thực tiễn ở Việt Nam trong 5 năm gần đây
- Phần III: Giải pháp khắc phục để nhằm phát huy hiệu quả chính sách tài
khoá.
NỘI DUNG
I. Chương 1 : Cơ sở lí luận của chính sách tài khoá
1. Khái niệm :
- Theo trang Wikipedia : “ CSTK trong kinh tế học vĩ mô là chính sách
thông qua chế độ thuế và đầu tư công để tác động tới nền kinh tế.
- Bên cạnh đó, trang web bePro.vn cho rằng CSTK ( Fiscal Policy ) là
những nỗ lực của chính phủ nhằm cải thiện tình hình kinh tế vĩ mô thông
qua việc thay đổi chi tiêu của chính phủ và thuế. Mặc dù CSTK có thể ảnh
hưởng đến tiết kiệm, đầu tư và tăng trưởng kinh tế trong thời gian dài hạn,
tuy nhiên CCSTK chủ yếu ảnh hưởng đến tổng cầu về hàng hoá, dịch vụ.
- Vì vậy, mỗi người sẽ có một cách hiểu khác nhua nhưng nếu quy chung
về thì chính sách tài khoá đươc hiểu một cách đơn giản là một công cụ
giúp nhà nước cải thiện tình hình kinh tế vĩ mô thông qua việc thay đổi
chi tiêu chính phủ và thuế.
2. Phân loại :
- CSTK mở rông: Hay còn gọi là chính sách thâm hụt. Là chính sách để
tăng cường chi tiêu cho chính phủ so với nguồn thu. Khi nền kinh tế đang
ở tình trạng suy thoái, nhà nhước có thể giảm nguồn từ thuế nhưng không
giảm chi tiêu. Hoặc vừa tăng mức độ chi tiêu của chính phủ và vừa giảm
nguồn thu từ thuế. Được áp dụng để kích thích thị trường tăng trưởng, tạo
thêm nhiều công ăn việc làm cho NLĐ.
- CSTK thắt chặt : Hay có tên gọi khác là chính sách tài khóa thặng dư. Là
chính sách hạn chế chi tiêu của chính phủ bằng một số nguồn thu khác.
dụ như chi tiêu của chính phủ sẽ ít đi nhưng không tăng thu. Hoặc không
giảm chi tiêu nhưng lại tăng thu từ thuế. Hoặc là vừa giảm chi tiêu vừa
tăng thu từ thuế. Được áp dụng trong trường hợp nền kinh tế có dấu hiệu
tăng trưởng nhanh, thiếu bền vững hoặc bị lạm phát cao.
- CSTK trong đk có sự ràng buộc về ngân sách : Trong một vài năm gần
đây khi mà chính phủ nhiều nước có các khoản thâm hụt ngân sách Nhà
nước quá nhiều. Thì việc tăng chi tiêu của chính phủ hoặc giảm thuế.
Nhằm kích thích nền kinh tế trong bối cảnh suy thoái được đánh giá là ít
có sự khả thi về mặt chính trị. Đặt mục tiêu này sẽ đòi hỏi chính phủ các
nước cắt giảm chi tiêu, tăng thuế. Do đó ít phạm vi hơn cho tăng chi tiêu,
giảm thuế để kích thích toàn bộ nền kinh tế.
- Cơ chế tác động của chính sách tài khoá : GT t123
3. Công cụ :
- Chi tiêu của chính phủ ( G – Government Spending ) : đây là các khoản
chi tiêu, đầu tư của chính phủ thực sự bỏ ra để phục vụ cho đời sống
người dân và để đổi lấy hàng hoá dịch vụ ( có hàng hoá đối ứng ). Trong
G bao gồm 4 khoản chi lớn sau :
Chi tiêu đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng
Chi quốc phòng
Chi trả lương cán bộ, lương công nhân viên chức
Chi phòng chống thiên tai
- Thuế ( T- Tax ) : là khoản phí mà một cá nhân phải trả cho chính phủ để
tài trợ cho các khoản chi tiêu công.
- Chính sách tài khoá và cán cân ngân sách: CCNS thường được coi là một
chỉ báo về CSTK. CCNS được tính bằng chênh lệch giữa tất cả các khoản
chi tiêu của CP trừ đi tổng thu nhập mà CP nhận đc trong 1 khoản thời
gian nhất định
B= G-T
Trong đó :
G là chi tiêu của chính phủ về thu mua hàng hoá, dịch vụ
T là thuế ròng
II. Chương 2 : Thực trạng của một số vấn đề thực tế của chính sách tài
khóa và liên hệ thực tiễn ở Việt Nam trong 5 năm gần đây ( giai đoạn
2017-2021)
II.1. Thực tiễn CSTK ở VN trong 5 năm gần đây.
Bảng thống kê hoạt động thu chi ngân sách giai đoạn 2017-2021
2017 2018 2019 2020 2021
Thu
nsnn( nghìn
tỷ đồng )
1.3cv 1.422 1.549,5 1.453 1.563,3
Chi nsnn
( nghìn tỷ
đồng )
1.390,480 153.110 1.526.892 1.686,2 1.839,2
(Nguồn số liệu: Bộ Tài chính và Tổng cục thống kê)
Về thu ngân sách nhà nước :
Tính từ giai đoạn 2017-2021, tổng thu ngân sách nhà nước đạt 7,386
triệu tỷ đồng. Theo thông tin từ Bộ Tài Chính, tổng ngân sách nhà
nước năm 2021 đạt 1.563,3 nghìn tỉ đồng, vượt 2016,9 nghìn tỷ đồng
so với dự toán ( 16,4%) và tăng 3,7% so với thực hiện năm 2021. Đây
là một con số vô cùng tích cực trong điều kiện dịch bệnh hoành hành.
Năm 2017, thu ngân sách nhà nước có nhiều điểm tích cực, vượt
dự toán ngân sách nhà nước. nhờ việc sử dụng chính sách tài khoá một
cách chủ động, tổng thu ngân sách nhà nước trong năm 2017 ước tính
đạt tới gần 1.3 nghìn tỷ đồng, vượt gần 70.000 tỷ đồng so với kế
hoạch.
Năm 2018, tổng thu cân đối NSNN đạt 1.422 nghìn tỷ đồng, vượt
103,5 nghìn tỷ đồng, đạt trên 107% so với dự toán. Quy mô thu tăng so
với năm 2017 nhưng nhìn chung còn khiêm tốn và có xu hướng giảm
dần.
Năm 2019, thu cân đối NSNN đến ngày 31/12/2019 đạt đến
1.549,5 nghìn tỷ đồng,v ượt 138,2 nghìn tỷ đồng ( tăng 9,97%) so với
dự toán. Tổng thu NSNN tiếp tục có chuyển biến tốt và ngày càng có
xu hướng bền vững hơn, tỷ trọng thu nội địa tăng dần, từ mữa gần 68%
bình quân giai đoạn 2011-2015 lên trên 82% năm 2019.
Năm 2020, tổng thu NSNN ước đạt 1.453 nghìn tỷ đồng, bằng
96% so với dự toán ( ước tính giảm 31,9 nghìn tỷ đồng ). Nhìn chung,
thu ngân sách năm 2020 có sự sụt giảm rõ rệt.
Năm 2021. Tổng số thu NSNN đạt 1.563,3 nghìn tỷ đồng, vượt
219,9 nghìn tỷ đồng do với dự toán ( tăng 16,4%) và tăng 3,7% so với
thực hiện năm 2020. Trong 6 tháng đầu nưm 2021, tổng thu NSNN
ước tính đạt 781.180 tỷ đồng, bằng 58,2% dự toán, bằng 116.3% so
với cùng kì.
Về chi ngân sách nhà nước:
Trong 5 năm gần đây từ năm 2017-2021, bội chi NSNN bình quân
khoảng 3,3% GDP. Đến cuối năm 2021, nợ công của VIệt Nam khoảng
3,708 nghìn tỷ đồng, khoảng 43,7% GDP, nợ chính phủ ở mức 39,5%
GDP, trong phạm vi giới hạn cho phép, giảm so với mức tương ứng là
55,3% và 51,8% năm 2017.
Năm 2017, với định hướng thực hiện chi NSNN tiết kiệm, chặt
chẽ, hiệu quả quản lý công an toàn, bền vững, thực tế đã đạt được tổng
số chi là 1.390,480 tỷ đồng, bội chi NSNN là 178.300 tỷ đồng, tương
đương 3,5% GDP.
Năm 2018, chi NSNN chưa thực sự hiệu quả khi tỷ trọng chi
thường xuyên chưa có dấu hiệu giảm xuống. VIệc tăng cường hiệu quả
nguồn lực trong cung cấp dịch vụ công còn hạn chế khi lộ trình thực
hiện chưa thực sự thu hút nguồn lực ngoài NSNN vào phát triển dịch
vụ công. Bội chi NSNN năm 2018 ước tính dưới 3,6% GDP thực hiện ,
nợ công dưới 61% GDP
Năm 2019, tỷ trọng đầu tư phát triển đạt khoảng 27% ( mục
tiêu là 25-26%), chi thường xuyên còn khoảng 61% tổng chi NSNN
( mục tiêu dưới 64%). Đồng thời, đã kiểm soát chặt chẽ, phấn đấu
giảm chi NSNN thấp hơn. Đến cuối năm 2019, dư nợ công dưới 55%
GDP, nợ Chính phủ dưới 48,5% GDP.
Năm 2020, đến hết tháng 11, ngân sách nhà nước đã chi hơn
1.686,2 nghìn tỷ đồng. Trong 6 tháng đầu năm 2020, NSNN đã chi
4,65 nghìn tỷ đồng; tính từ năm 2020 đến hết tháng 6 năm 2021, chính
phủ đã chi đến 21,5 tỷ đồng.
Năm 2021, tổng chi NSNN ước tính đạt 1.839,2 nghìn tỷ
đồng ( bằng 109% dự toán ). Chi thường xuyên bằng 102,3%, chi đầu
tư phát triển bằng 106,4% dự toán; chi trả nợ lãi bằng 96,2%. Ước tính
NSNN năm 2021 bội chi khoảng 315,8 nghìn tỷ đồng
II.2. Đánh giá thực tiễn CSTK ở VN trong 5 năm gần đây
Tích cưc:
Trong 5 năm gần đây, CSTK đã được điều hành chặt chẽ, linh hoạt.
Qua đó, đã tạo ra những kết quả tích cực, như : Huy động thu ngân sách
đạt 24-25% GDP ( vượt kế hoạch là 23,5% GDP ), tỷ trọng thu nội địa
tăng từ mữa 68% năm 2015, lên khoảng 85% năm 2020; tỷ trọng dự toán
chi đầu tư phát triển tăng từ mức 26,2% dự toán năm 2018 lên mức 28%
dự toán năm 2021. Tỷ trọng dự toán chi thường xuyên tăng từ 61,8% dự
toán năm 2018 lên 65,1% dự toán năm 2021. Bội chi trong 5 năm 2017-
2021 dưới 3,3% GDP, theo đúng mục tiêu giai đoạn, nợ công được cải
thiện, giảm từ mức 61,3% GDP, xuống còn khoảng 43,7% GDP năm
2021.
Qua đó góp phần giúp cho nền kinh tế vĩ mô trở nên ổn định, tháo gỡ
khó khăn cho các doanh nghiệp, thu hút các dòng vốn đầu tư, thúc đẩy
nền kinh tế, nhằm đẩy nhanh quá trình công nghiệp hoá trình công nghiệp
hoá – hiện đại hoá, cái thiện hệ thống giao thông nội địa, đầu tư nông
nghiệp, cơ sở hạ tầng, mở rộng và nâng cao mức bảo đảm an sinh xã hội.
Tình hình kinh tế - xã hội trong nước ngày càng chuyển biến tích cực,
toàn diện trên nhiều mặt, nâng cao uy tín, nâng cao chỗ đứng của Việt
Nam trên thị trường quốc tế.
Hạn chế :
việc thực hiện CSTK gặp khó khăn do ảnh hưởng tiêu cực của đại dịch
Covid-19 , nhà nước còn gặp nhiều khó khăn trong việc đầu tư ở một số
lĩnh vực, ngành còn chưa hợp lý, nợ nước ngoài có xu hướng gia tăng và
việc trả nợ nước ngoài vẫn đang là một vấn đề nan giải, việc hỗ trợ tài
chính cho một số tổ chức, đơn vị còn nhiều điểm bất cập
III. Chương 3. Giải pháp trong việc thực hiện chính sách tài khoá.
Trước hết, trong thời gian sắp tới, khi phải đối mặt với những
thay đổi khôn lường từ ảnh hưởng của dịch Covid-19, Chính phủ cần
phải nắm bắt chính xác tình hình cả trong nước và ngoài nước, tăng
cường công tác nghiên cứu, nắm rõ từng biến động, áp dụng thông
minh những nguyên tắc nhằm đem lại những hiệu quả cho việc phát
triển kinh tế - xã hội.
Không những vậy, Chính phủ cần đẩy mạnh hoàn thiện công tác
chi trả hợp lý, cải thiện và tạo dựng môi trường đầu tư thuận lợi, công
khai, minh bạch, tăng cường công tác kiểm tra, đảm bảo ngân sách nhà
nước được sử dụng một cách đúng đắn. Kiểm soát chặt chẽ các khoả
vay, khoản đầu tư của ngân sách nhà nước nhằm giảm thiểu tối đa các
rủi ro đem lại. Đổi mới cơ chế sử dụng NSNN trong các lĩnh vực giáo
dục, y tế, văn hoá, thể dục – thể thao trên cơ sở xây dựng và từng bước
thực hiện chính sách đấu thầu do Nhà nước đặt hàng. Nghiêm túc xử lí
các trường hợp gian thương bán lận, tham ô, trốn thuế theo đúng quy
định của nhà nước.
Thực hiện việc đổi mới, tăng trưởng theo hướng dựa vào công
nghệ hiện đại, phát huy tính năng động sáng tạo của doanh nghiệp tư
nhân, xây dựng và tạo dựng môi trường đầu tư thuận lợi, xây dựng
nhiều chính sách khuyến khích đầu tư, phát triển. Đối với việc sử dụng
các nguồn vốn đầu tư ngoài nhà nước vào các công trình công ích, Nhà
nước không nhất thiết phải ưu đãi về kinh tế và tài chính mà nên có cơ
chế cân đối lợi ích giữa các bên tham gia, cân đối các nguồn hoàn trả
vốn và tạo lợi ích cho các nhà đầu tư như: đổi đất lấy hạ tầng, cho
phép thu phí khai thác….
Kết luận
Như vậy, qua việc nghiên cứu một số vấn đề thực tế của chính sách
tài khoá và liên hệ thực tiễn ở Việt Nam có thể thấy được tầm quan
trọng của chính sách tài khoá trong việc phát triển kinh tế, đó là một
trong 2 công cụ quan trọng của nhà nước giúp điều tiết nền kinh tế và
thúc đẩy sự cân bằng thị trường.
Kết quả của việc nghiên cứu cho thấy, từ năm 2017 tới năm 2020,
chính sách tài khoá đang cho thấy những dấu hiệu tích cực bên cạnh đó
vẫn còn những khó khăn nhất định về công tác quản lý, một số vấn đề
còn tồn tại về thu, chi. Từ những phân tích, tiểu luận đã đề ra một số
những giải pháp có thể cải thiện những vấn đề còn tồn đọng, góp phần
tích cực nhằm đem lại hiệu quả phát triển cao cho kinh tế - xã hội.
TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. PGS.TS Nguyễn Văn Dần_TS Đỗ Thị Thục_Giái trình kinh tế vĩ
mô_Học Viện Tài Chính
2. TS. Dìu Đức Hà_2019. Một số giải pháp góp phần thực hiện hiệu
quả chính sách tài khoá ở Việt Nam
3. Lê Xuân Nghĩa, Phạm Đình Cường và Yi Houng Lee. Kỷ yếu Hội
thảo khoa học về tăng cường hiệu quả phối hợp giữa chính sách
tiền tệ và chính sách tài khóa ở Việt Nam, 2013
4. Bùi Nhật Tân. Tác động của chính sách tài khóa đến phát triển
kinh tế Việt Nam. Luận án tiến sỹ kinh tế, Học viện Tài chính, 2015.
5. Sử Đình Thành, Bùi Thị Mai Hoài và Mai Đình Lâm. Chính sách
tài khóa gắn với tăng trưởng kinh tế bền vững giai đoạn 2011 –
2020. Tạp chí phát triển kinh tế, số 02-2014.
STT Hạng Số lượng Số buồng
1 5 sao
2 4 sao
5 1 sao
6 Đạt tiêu chuẩn tối thiểu
Tổng cộng

Preview text:

Đề : Phân tích một số vấn đề thực tế của chính sách tài khóa và liên hệ thực tiễn
ở Việt Nam trong 5 năm gần đây. Lời mở đầu
Trong những năm gần đây, dịch bệnh Covid-19 đang là một trong những
mối đe doạ to lớn, ảnh hưởng tiêu cực đến tốc độ tăng trưởng kinh tế của các
nước trên thế giới. Việt Nam cũng là một trong số các quốc gia phải chịu ảnh
hưởng từ cơn đại dịch này. Chính vì vậy, chính sách tài khoá của Việt Nam
luôn trong tình trạng kém hiệu quả. Chính phủ và những nhà kinh tế ở tầm vĩ
mô cũng lo ngại về tác động tiêu cực mà lỗ hổng này gây ra cho nhiều cân đối
kinh tế vĩ mô của đnc. Điều đó cũng gây nên những lo ngại nhất định từ phía
Chính phủ cùng các cơ quan quản lí tài chính nhà nước kiểm soát, khắc phục và điểu chỉnh CSTK.
Khi phải đối mặt với tình hình căng thẳng đó, đặc biệt là đối với một đất nước
đang trong quá trình tiến đến hội nhập quốc tế như Việt Nam thì việc nghiên
cứu, tìm tòi, khám phá để tìm ra kết luận từ đó đưa ra các giải pháp phù hợp cho
vấn đề là một việc vô cùng cấp thiết. Nhận thức được tầm quan trọng của vấn đề
trên, em lựa chọn “phân tích một số vấn đề thực tế của chính sách tài khóa và
liên hệ thực tiễn ở Việt Nam trong 5 năm gần đây” qua đó làm sáng tỏ một số
thực trạng liên quan đến vấn đề thực tiễn từ năm 2017-2021. Từ đó đưa ra cách
khắc phục, bù đắp lỗ hổng về chính sách tài khoá ở VN hnay.
Đối tượng nghiên cứu :
- Đối tượng : một số vấn đề thực tế của chính sách tài khóa và liên hệ thực
tiễn ở Việt Nam trong 5 năm gần đây ( gđ 2017-2021) - Phạm vi nghiên cứu :
+ Thời gian : từ năm 2017-2021
+ Không gian : một số vấn đề thực tế của chính sách tài khóa và liên
hệ thực tiễn ở Việt Nam trong 5 năm gần đây
Phương pháp nghiên cứu : thu thập số liệu, phân tích, tổng hợp và đánh giá.
Kết cấu của tiểu luận bao gồm 3 phần
- Phần I: cơ sở lý luận của chính sách tài khoá
- Phần II: thực trạng của tích một số vấn đề thực tế của chính sách tài khóa
và liên hệ thực tiễn ở Việt Nam trong 5 năm gần đây
- Phần III: Giải pháp khắc phục để nhằm phát huy hiệu quả chính sách tài khoá. NỘI DUNG I.
Chương 1 : Cơ sở lí luận của chính sách tài khoá 1. Khái niệm :
- Theo trang Wikipedia : “ CSTK trong kinh tế học vĩ mô là chính sách
thông qua chế độ thuế và đầu tư công để tác động tới nền kinh tế.
- Bên cạnh đó, trang web bePro.vn cho rằng CSTK ( Fiscal Policy ) là
những nỗ lực của chính phủ nhằm cải thiện tình hình kinh tế vĩ mô thông
qua việc thay đổi chi tiêu của chính phủ và thuế. Mặc dù CSTK có thể ảnh
hưởng đến tiết kiệm, đầu tư và tăng trưởng kinh tế trong thời gian dài hạn,
tuy nhiên CCSTK chủ yếu ảnh hưởng đến tổng cầu về hàng hoá, dịch vụ.
- Vì vậy, mỗi người sẽ có một cách hiểu khác nhua nhưng nếu quy chung
về thì chính sách tài khoá đươc hiểu một cách đơn giản là một công cụ
giúp nhà nước cải thiện tình hình kinh tế vĩ mô thông qua việc thay đổi
chi tiêu chính phủ và thuế. 2. Phân loại :
- CSTK mở rông: Hay còn gọi là chính sách thâm hụt. Là chính sách để
tăng cường chi tiêu cho chính phủ so với nguồn thu. Khi nền kinh tế đang
ở tình trạng suy thoái, nhà nhước có thể giảm nguồn từ thuế nhưng không
giảm chi tiêu. Hoặc vừa tăng mức độ chi tiêu của chính phủ và vừa giảm
nguồn thu từ thuế. Được áp dụng để kích thích thị trường tăng trưởng, tạo
thêm nhiều công ăn việc làm cho NLĐ.
- CSTK thắt chặt : Hay có tên gọi khác là chính sách tài khóa thặng dư. Là
chính sách hạn chế chi tiêu của chính phủ bằng một số nguồn thu khác. Ví
dụ như chi tiêu của chính phủ sẽ ít đi nhưng không tăng thu. Hoặc không
giảm chi tiêu nhưng lại tăng thu từ thuế. Hoặc là vừa giảm chi tiêu vừa
tăng thu từ thuế. Được áp dụng trong trường hợp nền kinh tế có dấu hiệu
tăng trưởng nhanh, thiếu bền vững hoặc bị lạm phát cao.
- CSTK trong đk có sự ràng buộc về ngân sách : Trong một vài năm gần
đây khi mà chính phủ nhiều nước có các khoản thâm hụt ngân sách Nhà
nước quá nhiều. Thì việc tăng chi tiêu của chính phủ hoặc giảm thuế.
Nhằm kích thích nền kinh tế trong bối cảnh suy thoái được đánh giá là ít
có sự khả thi về mặt chính trị. Đặt mục tiêu này sẽ đòi hỏi chính phủ các
nước cắt giảm chi tiêu, tăng thuế. Do đó ít phạm vi hơn cho tăng chi tiêu,
giảm thuế để kích thích toàn bộ nền kinh tế.
- Cơ chế tác động của chính sách tài khoá : GT t123 3. Công cụ :
- Chi tiêu của chính phủ ( G – Government Spending ) : đây là các khoản
chi tiêu, đầu tư của chính phủ thực sự bỏ ra để phục vụ cho đời sống
người dân và để đổi lấy hàng hoá dịch vụ ( có hàng hoá đối ứng ). Trong
G bao gồm 4 khoản chi lớn sau :
Chi tiêu đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng Chi quốc phòng
Chi trả lương cán bộ, lương công nhân viên chức Chi phòng chống thiên tai
- Thuế ( T- Tax ) : là khoản phí mà một cá nhân phải trả cho chính phủ để
tài trợ cho các khoản chi tiêu công.
- Chính sách tài khoá và cán cân ngân sách: CCNS thường được coi là một
chỉ báo về CSTK. CCNS được tính bằng chênh lệch giữa tất cả các khoản
chi tiêu của CP trừ đi tổng thu nhập mà CP nhận đc trong 1 khoản thời gian nhất định B= G-T Trong đó :
G là chi tiêu của chính phủ về thu mua hàng hoá, dịch vụ T là thuế ròng II.
Chương 2 : Thực trạng của một số vấn đề thực tế của chính sách tài
khóa và liên hệ thực tiễn ở Việt Nam trong 5 năm gần đây ( giai đoạn 2017-2021)
II.1. Thực tiễn CSTK ở VN trong 5 năm gần đây.
Bảng thống kê hoạt động thu chi ngân sách giai đoạn 2017-2021 2017 2018 2019 2020 2021 Thu 1.3cv 1.422 1.549,5 1.453 1.563,3 nsnn( nghìn tỷ đồng ) Chi nsnn 1.390,480
153.110 1.526.892 1.686,2 1.839,2 ( nghìn tỷ đồng )
(Nguồn số liệu: Bộ Tài chính và Tổng cục thống kê)
Về thu ngân sách nhà nước :
Tính từ giai đoạn 2017-2021, tổng thu ngân sách nhà nước đạt 7,386
triệu tỷ đồng. Theo thông tin từ Bộ Tài Chính, tổng ngân sách nhà
nước năm 2021 đạt 1.563,3 nghìn tỉ đồng, vượt 2016,9 nghìn tỷ đồng
so với dự toán ( 16,4%) và tăng 3,7% so với thực hiện năm 2021. Đây
là một con số vô cùng tích cực trong điều kiện dịch bệnh hoành hành.
Năm 2017, thu ngân sách nhà nước có nhiều điểm tích cực, vượt
dự toán ngân sách nhà nước. nhờ việc sử dụng chính sách tài khoá một
cách chủ động, tổng thu ngân sách nhà nước trong năm 2017 ước tính
đạt tới gần 1.3 nghìn tỷ đồng, vượt gần 70.000 tỷ đồng so với kế hoạch.
Năm 2018, tổng thu cân đối NSNN đạt 1.422 nghìn tỷ đồng, vượt
103,5 nghìn tỷ đồng, đạt trên 107% so với dự toán. Quy mô thu tăng so
với năm 2017 nhưng nhìn chung còn khiêm tốn và có xu hướng giảm dần.
Năm 2019, thu cân đối NSNN đến ngày 31/12/2019 đạt đến
1.549,5 nghìn tỷ đồng,v ượt 138,2 nghìn tỷ đồng ( tăng 9,97%) so với
dự toán. Tổng thu NSNN tiếp tục có chuyển biến tốt và ngày càng có
xu hướng bền vững hơn, tỷ trọng thu nội địa tăng dần, từ mữa gần 68%
bình quân giai đoạn 2011-2015 lên trên 82% năm 2019.
Năm 2020, tổng thu NSNN ước đạt 1.453 nghìn tỷ đồng, bằng
96% so với dự toán ( ước tính giảm 31,9 nghìn tỷ đồng ). Nhìn chung,
thu ngân sách năm 2020 có sự sụt giảm rõ rệt.
Năm 2021. Tổng số thu NSNN đạt 1.563,3 nghìn tỷ đồng, vượt
219,9 nghìn tỷ đồng do với dự toán ( tăng 16,4%) và tăng 3,7% so với
thực hiện năm 2020. Trong 6 tháng đầu nưm 2021, tổng thu NSNN
ước tính đạt 781.180 tỷ đồng, bằng 58,2% dự toán, bằng 116.3% so với cùng kì.
Về chi ngân sách nhà nước:
Trong 5 năm gần đây từ năm 2017-2021, bội chi NSNN bình quân
khoảng 3,3% GDP. Đến cuối năm 2021, nợ công của VIệt Nam khoảng
3,708 nghìn tỷ đồng, khoảng 43,7% GDP, nợ chính phủ ở mức 39,5%
GDP, trong phạm vi giới hạn cho phép, giảm so với mức tương ứng là 55,3% và 51,8% năm 2017.
Năm 2017, với định hướng thực hiện chi NSNN tiết kiệm, chặt
chẽ, hiệu quả quản lý công an toàn, bền vững, thực tế đã đạt được tổng
số chi là 1.390,480 tỷ đồng, bội chi NSNN là 178.300 tỷ đồng, tương đương 3,5% GDP.
Năm 2018, chi NSNN chưa thực sự hiệu quả khi tỷ trọng chi
thường xuyên chưa có dấu hiệu giảm xuống. VIệc tăng cường hiệu quả
nguồn lực trong cung cấp dịch vụ công còn hạn chế khi lộ trình thực
hiện chưa thực sự thu hút nguồn lực ngoài NSNN vào phát triển dịch
vụ công. Bội chi NSNN năm 2018 ước tính dưới 3,6% GDP thực hiện , nợ công dưới 61% GDP
Năm 2019, tỷ trọng đầu tư phát triển đạt khoảng 27% ( mục
tiêu là 25-26%), chi thường xuyên còn khoảng 61% tổng chi NSNN
( mục tiêu dưới 64%). Đồng thời, đã kiểm soát chặt chẽ, phấn đấu
giảm chi NSNN thấp hơn. Đến cuối năm 2019, dư nợ công dưới 55%
GDP, nợ Chính phủ dưới 48,5% GDP.
Năm 2020, đến hết tháng 11, ngân sách nhà nước đã chi hơn
1.686,2 nghìn tỷ đồng. Trong 6 tháng đầu năm 2020, NSNN đã chi
4,65 nghìn tỷ đồng; tính từ năm 2020 đến hết tháng 6 năm 2021, chính
phủ đã chi đến 21,5 tỷ đồng.
Năm 2021, tổng chi NSNN ước tính đạt 1.839,2 nghìn tỷ
đồng ( bằng 109% dự toán ). Chi thường xuyên bằng 102,3%, chi đầu
tư phát triển bằng 106,4% dự toán; chi trả nợ lãi bằng 96,2%. Ước tính
NSNN năm 2021 bội chi khoảng 315,8 nghìn tỷ đồng
II.2. Đánh giá thực tiễn CSTK ở VN trong 5 năm gần đây Tích cưc:
Trong 5 năm gần đây, CSTK đã được điều hành chặt chẽ, linh hoạt.
Qua đó, đã tạo ra những kết quả tích cực, như : Huy động thu ngân sách
đạt 24-25% GDP ( vượt kế hoạch là 23,5% GDP ), tỷ trọng thu nội địa
tăng từ mữa 68% năm 2015, lên khoảng 85% năm 2020; tỷ trọng dự toán
chi đầu tư phát triển tăng từ mức 26,2% dự toán năm 2018 lên mức 28%
dự toán năm 2021. Tỷ trọng dự toán chi thường xuyên tăng từ 61,8% dự
toán năm 2018 lên 65,1% dự toán năm 2021. Bội chi trong 5 năm 2017-
2021 dưới 3,3% GDP, theo đúng mục tiêu giai đoạn, nợ công được cải
thiện, giảm từ mức 61,3% GDP, xuống còn khoảng 43,7% GDP năm 2021.
Qua đó góp phần giúp cho nền kinh tế vĩ mô trở nên ổn định, tháo gỡ
khó khăn cho các doanh nghiệp, thu hút các dòng vốn đầu tư, thúc đẩy
nền kinh tế, nhằm đẩy nhanh quá trình công nghiệp hoá trình công nghiệp
hoá – hiện đại hoá, cái thiện hệ thống giao thông nội địa, đầu tư nông
nghiệp, cơ sở hạ tầng, mở rộng và nâng cao mức bảo đảm an sinh xã hội.
Tình hình kinh tế - xã hội trong nước ngày càng chuyển biến tích cực,
toàn diện trên nhiều mặt, nâng cao uy tín, nâng cao chỗ đứng của Việt
Nam trên thị trường quốc tế. Hạn chế :
việc thực hiện CSTK gặp khó khăn do ảnh hưởng tiêu cực của đại dịch
Covid-19 , nhà nước còn gặp nhiều khó khăn trong việc đầu tư ở một số
lĩnh vực, ngành còn chưa hợp lý, nợ nước ngoài có xu hướng gia tăng và
việc trả nợ nước ngoài vẫn đang là một vấn đề nan giải, việc hỗ trợ tài
chính cho một số tổ chức, đơn vị còn nhiều điểm bất cập … III.
Chương 3. Giải pháp trong việc thực hiện chính sách tài khoá.
Trước hết, trong thời gian sắp tới, khi phải đối mặt với những
thay đổi khôn lường từ ảnh hưởng của dịch Covid-19, Chính phủ cần
phải nắm bắt chính xác tình hình cả trong nước và ngoài nước, tăng
cường công tác nghiên cứu, nắm rõ từng biến động, áp dụng thông
minh những nguyên tắc nhằm đem lại những hiệu quả cho việc phát triển kinh tế - xã hội.
Không những vậy, Chính phủ cần đẩy mạnh hoàn thiện công tác
chi trả hợp lý, cải thiện và tạo dựng môi trường đầu tư thuận lợi, công
khai, minh bạch, tăng cường công tác kiểm tra, đảm bảo ngân sách nhà
nước được sử dụng một cách đúng đắn. Kiểm soát chặt chẽ các khoả
vay, khoản đầu tư của ngân sách nhà nước nhằm giảm thiểu tối đa các
rủi ro đem lại. Đổi mới cơ chế sử dụng NSNN trong các lĩnh vực giáo
dục, y tế, văn hoá, thể dục – thể thao trên cơ sở xây dựng và từng bước
thực hiện chính sách đấu thầu do Nhà nước đặt hàng. Nghiêm túc xử lí
các trường hợp gian thương bán lận, tham ô, trốn thuế theo đúng quy định của nhà nước.
Thực hiện việc đổi mới, tăng trưởng theo hướng dựa vào công
nghệ hiện đại, phát huy tính năng động sáng tạo của doanh nghiệp tư
nhân, xây dựng và tạo dựng môi trường đầu tư thuận lợi, xây dựng
nhiều chính sách khuyến khích đầu tư, phát triển. Đối với việc sử dụng
các nguồn vốn đầu tư ngoài nhà nước vào các công trình công ích, Nhà
nước không nhất thiết phải ưu đãi về kinh tế và tài chính mà nên có cơ
chế cân đối lợi ích giữa các bên tham gia, cân đối các nguồn hoàn trả
vốn và tạo lợi ích cho các nhà đầu tư như: đổi đất lấy hạ tầng, cho phép thu phí khai thác…. Kết luận
Như vậy, qua việc nghiên cứu một số vấn đề thực tế của chính sách
tài khoá và liên hệ thực tiễn ở Việt Nam có thể thấy được tầm quan
trọng của chính sách tài khoá trong việc phát triển kinh tế, đó là một
trong 2 công cụ quan trọng của nhà nước giúp điều tiết nền kinh tế và
thúc đẩy sự cân bằng thị trường.
Kết quả của việc nghiên cứu cho thấy, từ năm 2017 tới năm 2020,
chính sách tài khoá đang cho thấy những dấu hiệu tích cực bên cạnh đó
vẫn còn những khó khăn nhất định về công tác quản lý, một số vấn đề
còn tồn tại về thu, chi. Từ những phân tích, tiểu luận đã đề ra một số
những giải pháp có thể cải thiện những vấn đề còn tồn đọng, góp phần
tích cực nhằm đem lại hiệu quả phát triển cao cho kinh tế - xã hội. TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. PGS.TS Nguyễn Văn Dần_TS Đỗ Thị Thục_Giái trình kinh tế vĩ mô_Học Viện Tài Chính
2. TS. Dìu Đức Hà_2019. Một số giải pháp góp phần thực hiện hiệu
quả chính sách tài khoá ở Việt Nam
3. Lê Xuân Nghĩa, Phạm Đình Cường và Yi Houng Lee. Kỷ yếu Hội
thảo khoa học về tăng cường hiệu quả phối hợp giữa chính sách
tiền tệ và chính sách tài khóa ở Việt Nam, 2013
4. Bùi Nhật Tân. Tác động của chính sách tài khóa đến phát triển
kinh tế Việt Nam. Luận án tiến sỹ kinh tế, Học viện Tài chính, 2015.
5. Sử Đình Thành, Bùi Thị Mai Hoài và Mai Đình Lâm. Chính sách
tài khóa gắn với tăng trưởng kinh tế bền vững giai đoạn 2011 –
2020. Tạp chí phát triển kinh tế, số 02-2014. STT Hạng Số lượng Số buồng 1 5 sao 2 4 sao … 5 1 sao 6
Đạt tiêu chuẩn tối thiểu Tổng cộng