BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ QUỐC DÂN
BÀI TẬP NHÓM 1
Đề tài: PHÂN TÍCH PHẠM TRÙ CÁI CHUNG – CÁI RIÊNG TỪ
GÓC ĐỘ TRIẾT HỌC MÁC – LÊNIN
Giảng viên
Lớp học phần
Nhóm
Tên
Mã sinh viên
: Nguyễn Thị Lê Thư
: LLNL1105(123)_02
: 01
: Nguyễn Hoà An
: 11234240
Hà Nội, 2023
1
MỤC LỤC
LỜI MỞ ĐẦU..........................................................................................................3
Phần I: Những vấn đề chung..................................................................................4
1. Phép biện chứng duy vật và các cặp phạm trù cơ bản.................................4
a. Phép biện chứng duy vật.............................................................................4
b. Các cặp phạm trù cơ bản............................................................................4
2. Cặp phạm trù cái chung – cái riêng...............................................................5
a. Khái niệm.....................................................................................................5
b. Mối liên hệ biện chứng................................................................................7
3. Ý nghĩa phương pháp luận...........................................................................10
Phần II: Liên hệ thực tiễn.....................................................................................12
1. Khái niệm về chủ nghĩa cá nhân dưới góc nhìn triết học Mác- Lênin.....12
2. Những mặt tiêu cực và tích cực của chủ nghĩa cá nhân.............................14
a. Chủ nghĩa cá nhân có thể mang lại những tiêu cực cho xã hội.............14
b. Những mặt tích cực chủ nghĩa cá nhân cho xã hội................................15
3. Những biện pháp để giải quyết vấn đề chủ nghĩa cá nhân........................15
CÁC TÀI LIỆU THAM KHẢO...........................................................................17
2
LỜI MỞ ĐẦU
Phép biện chứng duy vật là linh hồn sống, là nhân tố cơ bản quyết định quá
trình hình thành và phát triển của triết học Mác. Phép biện chứng duy vật có tính
ứng dụng thực tế cao, kết tạo phương pháp luận chung nhất từ việc nghiên cứu dựa
trên các nguyên lí, thể hiện qua các phạm trù và quy luật cơ bản giúp con người áp
dụng hiệu quả trong việc đề ra các nguyên tắc tương ứng, định hướng hoạt động lí
luận và thực tiễn vào cuộc sống.
Trải qua quá trình vận động và phát triển không ngơi nghỉ, con người đã
hình thành nên ý thức, chúng ta biết nhận thức và đánh giá hiện thực khách quan
về thế giới xung quanh. Cho đến ngày nay, giới trẻ - lớp người nắm giữ tương lai
đất nước - đang ngày càng mong muốn khẳng định giá trị bản thân. Chủ nghĩa cá
nhân đang được khai thác mạnh mẽ trên nhiều khía cạnh nhằm thúc đẩy đem lại
những giá trị cho bản thân cũng như cộng đồng. Tuy nhiên không phải ai cũng có
thể dễ dàng nhận biết được thế mạnh của bản thân cũng như khai thác, trau dồi và
phát triển nó. Điều này đã đưa đến yêu cầu cần có định hướng lý luận và cơ sở để
có biện pháp giải quyết vấn đề này.
Từ những lí do trên, em nhận thức được sự cần thiết của việc nắm rõ và
vận dụng phép biện chứng duy vật trong Triết học Mác-Lenin, đặc biệt là cặp
phạm trù “cái chung- cái riêng” vào giải quyết các vấn đề thực tiễn cuộc sống.
Chính vì vậy, em lựa chọn đề tài: Phân tích cặp phạm trù cái chung- cái riêng làm
đề tài nghiên cứu cho tiểu luận của nhóm.
3
Phần I: Những vấn đề chung
1. Phép biện chứng duy vật và các cặp phạm trù cơ bản.
a. Phép biện chứng duy vật.
Phép biện chứng duy vật là vấn đề lý luận đóng vai trò quan trọng trong quá
trình hình thành thế giới quan và phương pháp luận của chủ nghĩa Mác – Lênin, có
sự thống nhất giữa thế giới quan (duy vật biện chứng) và phương pháp luận (biện
chứng duy vật). Ăng-ghen định nghĩa: “Phép duy vật biện chứng là môn khoa học
về những quy luật phổ biến của sự vận động và sự phát triển của tự nhiên, của xã
hội loài người và của tư duy.” “Phép biện chứng là khoa học về sự liên hệ phổ
biến.”, tức ông quan sát và nhấn mạnh ở góc độ nguyên lý về mối liên hệ phổ biến.
Trong khi đó, V.I.Lênin khẳng định: “...Phép biện chứng, tức là học thuyết về sự
phát triển dưới hình thức hoàn bị nhất, sâu sắc nhất và không phiến diện, học
thuyết về tính tương đối của nhận thức của con người, nhận thức này phản ánh vật
chất luôn phát triển không ngừng.”, tức ông quan sát và nhấn mạnh ở góc độ
nguyên lý về sự phát triển.
Như vậy, về khái niệm, phép biện chứng duy vật là học thuyết nghiên cứu
sự vận động và phát triển trên cả phương diện thời gian – mối liên hệ, không
gian – quá trình phát triển. Về vai trò, phép biện chứng duy vật không chỉ giải
thích thế giới một cách đúng đắn mà còn là phương pháp luận chung nhất để nhận
thức và cải tạo thế giới dựa trên cơ sở khoa học thông qua việc nghiên cứu các mối
liên hệ, quy luật trong quá trình vận động và phát triển tự nhiên.
b. Các cặp phạm trù cơ bản.
Phép biện chứng duy vật bao gồm hai nguyên lý: nguyên lý về mối liên hệ
phổ biến với 6 mối liên hệ tương đương , 6 cặp phạm trù nguyên lý về sự phát
triển với . Ở đây, chúng ta đề cập đến 6 cặp phạm trù cơ bản của phép 3 quy luật
biện chứng duy vật.
Phạm trù là khái niệm chuyên ngành, nó phản ánh những thuộc tính, mối
liên hệ cơ bản và chung nhất của các sự vật, hiện tượng thuộc các lĩnh vực khác
nhau, ví như ta nói điểm là phạm trù vật lý, đường tròn là phạm trù toán học...
4
Theo đó, phạm trù triết học là khái niệm triết học rộng nhất, chung nhất phản ánh
các mặt, các mối liên hệ với bản chất của sự vật, hiện tượng trong tự nhiên, xã hội
và tư duy. Phạm trù triết học có tính chất là hoạt động trí óc phổ biến của con
người, là những mô hình tư tưởng phản ánh những thuộc tính và mối liên hệ vốn
có ở tất cả các đối tượng hiện thực. Ta có sau:các cặp phạm trù phổ biến
Cái chung - cái riêng.
Nguyên nhân - kết quả.
Tất nhiên - ngẫu nhiên.
Nội dung - hình thức.
Bản chất - hiện tượng.
Khả năng - hiện thực.
2. Cặp phạm trù cái chung – cái riêng.
a. Khái niệm.
Trong quá trình nhận thức, con người thâm nhập càng sâu vào các nhóm đối
tượng nhằm nắm bắt và thể hiện đối tượng thông qua việc giải thích, nêu khái
niệm. Từ việc quan sát và phân tích tỉ mỉ, chúng ta bắt gặp những sự vật, hiện
tượng tuy khác nhau nhưng lại nằm trong một mối quan hệ khăng khít, và khi so
sánh chúng, con người tự nhiên dẫn đến sự phân biệt cái riêng, cái chung. Một ví
dụ điển hình: một bầy sư tử là kết hợp của nhiều cá thể khác nhau (sự tồn tại của
mỗi cá thể là cái riêng), bầy thú này chia làm hai loài là sư tử đực và sư tử cái (sự
khác nhau giữa sư tử đực và sư tử cái là cái đơn nhất), chúng đều là động vật ăn
thịt sống và là loài sư tử (những điểm giống nhau gọi là cái chung).
Cái riêng là phạm trù triết học dùng để chỉ một sự vật, hiện tượng nhất
định, một quá trình hay một hệ thống sự vật tạo thành chỉnh thể tồn tại độc lập
tương đối với những cái riêng khác. Thí dụ, một người với mái tóc đen và đôi mắt
xanh nước biển, một chiếc xe Rolls Royce màu trắng, một căn nhà sơn tường trắng
với hồ bơi và vườn cây trước sân nhà...
Cái chung là phạm trù triết học dùng để chỉ những mặt, những thuộc tính
không những có ở sự vật, hiện tượng nào đó mà còn lặp lại ở nhiều sự vật, hiện
tượng khác. Thí dụ: cái cây là từ chung chỉ những loại cây như cây bàng, cây mai,
cây đào...; chuyên ngành thuộc lĩnh vực kinh tế bao gồm các ngành như bảo hiểm,
tài chính – ngân hàng, quản trị kinh doanh, kinh tế quốc tế...
5
Cái đơn nhất là phạm trù triết học chỉ cái riêng tồn tại độc lập, cá biệt, nó
là những thuộc tính vốn chỉ của một sự vật, hiện tượng, quá trình và không
xuất hiện ở cái riêng khác. Thí dụ, ta có các con sông Nile, sông Mê Công, đặc
điểm dài hơn của sông Nile, giàu phù sa hơn của sông Mê Công là cái đơn nhất; ta
có bánh gạo và bánh quy bơ, hương vị và kết cấu khác nhau của hai loại bánh là cái
đơn nhất.
Như vậy, giữa cái riêng, cái chung, cái đơn nhất có mối liên hệ biện chứng
với nhau. Cái riêng thì bằng cái chung cộng với cái đơn nhất.
Thí dụ, lớp Triết học 02 có bạn An và bạn Linh, giữa hai bạn có điểm chung
đều là K65, học trường Đại học Kinh tế Quốc dân, học chung 1 lớp Triết và chung
nhóm với nhau, điểm đơn nhất là các bạn có những đặc điểm về ngoại hình, tính
cách, năng lực khác nhau. Khi cộng những điểm chung và điểm đơn nhất vào với
nhau, ta được bạn An và bạn Linh là cái riêng.
6
An
(cái riêng)
Linh
(cái riêng)
Cái đơn nhất Cái đơn nhất
Cái chung
b. Mối liên hệ biện chứng.
Trong lịch sử hình thành và phát triển triết học, có hai xu hướng trái ngược
nhau về mối quan hệ giữa cái riêng và cái chung, đó là quan điểm duy thực duy
danh.
Phái duy thực đồng nhất thượng đế với cái chung và cho rằng chỉ có cái
chung mới tồn tại vĩnh viễn, thật sự độc lập với ý thức con người, cái riêng chỉ
tồn tại tạm thời, thoáng qua, không phải tồn tại vĩnh viễn, tiêu biểu cho quan
điểm này là Plato. Ví dụ, trong trường đại học Kinh tế quốc dân có rất nhiều sinh
viên, mỗi sinh viên này là một cái riêng lẻ và sau 4 năm học các sinh viên này sẽ ra
trường, sinh viên khác lại vào và ra như vậy, nhưng khái niệm “sinh viên” nói
chung vẫn tồn tại mãi mãi gắn với trường.
Đối ngược với phái duy thực, các nhà triết học như P.Abơla (1079 duy danh
– 1142), Đumxcot (1265 – 1308) cho rằng chỉ những sự vật, hiện tượng tồn tại
riêng biệt với những chất lượng riêng của chúng mới là có thực còn cái chung
là những tên gọi trống rỗng, do tư tưởng con người bịa đặt ra, không phản ánh
cái gì trong hiện thực. Chẳng hạn như, họ cho khái niệm con người, giai cấp, đấu
tranh giai cấp, sinh viên... không có ý nghĩa gì trong cuộc sống của con người, chỉ
là những từ trống rỗng. Ngay cả đến những khái niệm như vật chất, chủ nghĩa duy
vật, chủ nghĩa duy tâm, ... họ cũng cho là những từ không có ý nghĩa. Như vậy,
ranh giới giữa chủ nghĩa duy vật và chủ nghĩa duy tâm bị xóa nhòa và con người
không cần phải quan tâm đến cuộc đấu tranh giữa các quan điểm triết học.
Cả hai quan niệm của phái duy thực và phái duy danh đều sai lầm ở chỗ họ
đã tách rời cái riêng khỏi cái chung, tuyệt đối hóa cái riêng, phủ nhận cái
chung, hoặc ngược lại. Họ không thấy được sự tồn tại khách quan và mối liên hệ
khăng khít giữa chúng. Trong khi phép biện chứng duy vật cho rằng cái riêng, cái
chung và cái đơn nhất đều tồn tại khách quan, giữa chúng có mối liên hệ hữu cơ
với nhau.
7
Như đã đề cập ở trên, ta có công thức: Cái riêng = Cái chung + Cái đơn nhất.
Từ công thức phổ quát này, ta rút ra được các mối quan hệ tồn tại giữa cái riêng,
cái chung và cái đơn nhất:
Trước hết, cái chung chỉ tồn tại trong cái riêng, thông qua cái riêng mà
biểu hiện sự tồn tại của mình. Điều này khác hoàn toàn so với quan niệm của phái
duy thực: cái chung tồn tại độc lập, cái riêng chỉ là thoáng qua và cái chung thậm
chí sinh ra cái riêng. Có thể nói, phép biện chứng duy vật đã khắc phục những
khiếm khuyết của duy thực luận, tiến đến những lập luận đúng đắn và chặt chẽ
hơn. Trong thực tại khách quan, cái chung có tồn tại, nhưng nó không tồn tại độc
lập thuần túy bên ngoài cái riêng.
Thí dụ, thuộc tính là trung tâm kinh tế, chính trị, văn hóa của quốc gia, dân
tộc, thủ đô chỉ có thể tồn tại thông qua cái riêng là các thủ đô Hà Nội, Viên Chăn,
Mát-xcơ-va, Phnôm Pênh...Một ví dụ khác, quy luật chung về giá trị trong nền
kinh tế thị trường không tồn tại độc lập, riêng biệt mà nó thông qua việc trao đổi
buôn bán của các nước trên thế giới để biểu hiện chính mình. Hay ngay trong cuộc
sống hàng ngày, ta hoàn toàn thấy một cách rõ ràng rằng không có cái cây nào gọi
là cây chung cả, cây gắn với từng loài (cóc, mận, ổi, xoài, mít...) và trở thành một
cá thể riêng biệt trong hệ thống sinh thái...
Mọi cái riêng đều là sự thống nhất của các mặt đối lập, vừa là cái đơn nhất
vừa là cái chung. Thông qua những thuộc tính, những những đặc điểm không lặp
lại của mình, cái riêng thể hiện là cái đơn nhất; song thông qua những thuộc tính
lặp lại ở đối tượng khác, cái riêng lại thể hiện mình là cái chung. Như vậy, dễ dàng
khẳng định không có cái riêng nào tồn tại tuyệt đối độc lập, không có liên hệ với
cái chung. Cái riêng chỉ tồn tại trong mối liên hệ với cái chung.
Triết học là các hệ thống tri thức chung nhất về thế giới, bản thân sự tồn tại
của tư duy triết học đã chứng minh những cái riêng trên thế giới này đều có một
hoặc một vài mặt, phương diện chung giống nhau. Các loại nấm độc sẽ có đặc
điểm nhận dạng chung, các con vật thuộc bộ bò sát sẽ có đặc điểm nhận dạng
chung...Theo ví dụ gần gũi hơn, mỗi chúng ta là một cá thể riêng biệt không thể
nhầm lẫn với bất kì cá thể nào khác (cái riêng) nhưng không có ai không chịu sự
tác động của xã hội, tự nhiên, bởi những quy luật sinh học: có những kiến thức cơ
bản về cuộc sống, trải qua ốm đau bệnh tật, qua thời trẻ đến khi già rồi mất
đi...Mối liên hệ này cũng thể hiện rõ ràng qua ví dụ đơn giản sau: một lớp có 30
bạn, sự tồn tại của mỗi bạn này là một cái riêng, 30 cái riêng này liên hệ với nhau
và ta có những điểm chung của các bạn như đồng niên (cùng năm sinh), đồng
hương (cùng quê quán), đồng môn (cùng thầy/cô)...
8
Và từ công thức cái riêng là sự kết hợp của cái chung và cái đơn nhất, rõ
ràng cái chung là một bộ phận cái riêng là cái toàn bộ, cái chung là cái bộ phận,
của cái riêng, cái riêng không gia nhập hết vào cái chung. Do đó, cái riêng phong
phú hơn cái chung. Tuy nhiên, cái chung sâu sắc hơn cái riêng. Cái riêng phong
phú hơn cái chung bởi nó nắm giữ nhiều đặc điểm khác biệt mà cái chung không
có được. Ngược lại cái chung lại sâu sắc hơn cái riêng vì nó có nhiều đặc điểm
hơn, phản ánh những thuộc tính, mối liên hệ lặp lại ở nhiều cái riêng cùng loại.
Trong môi trường Đại học, cái chung của các bạn sinh viên là còn trẻ, đang được
đào tạo tri thức, sẽ tốt nghiệp và ra tường trong tương lai,... Rõ ràng, cái chung đã
phản ánh bản chất, đặc điểm sâu sắc của các “sinh viên”. Tuy nhiên, mỗi sinh viên
lại có giá trị năng lực khác nhau, có tính cách, ngoại hình riêng, có những thế mạnh
riêng, đây là điểm phong phú của cái riêng.
Tuy vậy, cái riêng không phải vĩnh cửu, sông có thể cạn, đá có thể mòn, đời
người rồi sẽ đi đến hồi kết. Triết học Mác-Lenin vì thế đặt ra và giải quyết câu
hỏi: Cái riêng chỉ tồn tại trong một khoảng thời gian có hạn, vậy thì cái chung có
tồn tại vĩnh viễn, vô hạn trong thời gian không?
Cái riêng là cái đặc biệt và không lặp lại, theo lẽ đó, cái riêng xuất hiện chỉ
tồn tại được trong một khoảng thời gian nhất định và khi nó mất đi sẽ không bao
giờ xuất hiện lần nữa, một người sau khi mất đi sẽ không bao giờ có thể xuất hiện
với những gì vẹn toàn là người đó được.
Song cái chung tồn tại trong nhiều cái riêng, khi một cái riêng nào đó mất đi
thì những cái chung tồn tại ở cái riêng ấy sẽ không mất đi, mà nó vẫn còn tồn tại ở
nhiều cái riêng khác. Dù bao lớp người trôi đi, vẫn không thể phủ nhận những đặc
điểm chỉ có riêng ở con người: có trí nghĩ, tư duy linh hoạt, nhạy bén...
Ăng-ghen bày tỏ: “Chúng ta cũng tin chắc rằng, qua tất cả mọi sự chuyển
hóa của nó, vật chất vẫn cứ vĩnh viễn như thế, rằng không bao giờ một thuộc tính
của nó lại có thể mất đi, và vì thế, nếu như một ngày kia nó phải hủy diệt mất đóa
hoa rực rỡ nhất của nó trên trái đất, tức là cái tinh thần đang tư duy thì nhất định nó
lại phải... tái sinh ra cái tinh thần ấy ở một nơi nào khác và trong một thời gian
khác.”
Mối liên hệ giữa cái đơn nhất với cái chung thể hiện trước hết ở mối liên hệ
lẫn nhau trong một thể thống nhất gồm các mặt, các yếu tố đơn lẻ vốn có trong một
sự vật, hiện tượng này và các mặt, các yếu tố được lặp lại ở nó và trong các sự vật,
hiện tượng khác. Trong Cái đơn nhất và cái chung có thể chuyển hóa lẫn nhau.
9
thực tiễn, cái đơn nhất khi gặp điều kiện phù hợp sẽ dần hoàn thiện và phổ biến trở
thành cái chung; còn cái chung nếu không còn thích hợp sẽ dần biến mất và trở
thành cái đơn nhất. Đây được xem là sự chuyển hóa của các mặt đối lập của sự vật.
Thí dụ, trong thời kì bao cấp nước ta đã áp dụng mô hình hợp tác xã, sản phẩm thu
được chia theo đầu người. Tuy nhiên, năng suất lao động ngày càng giảm, mô hình
này không còn phù hợp để thúc đẩy lao động và tăng trưởng kinh tế. Do vậy mô
hình chung của nền kinh tế chủ nghĩa xã hội đã dần biến mất, trở thành cái đơn
nhất khi chỉ còn rất ít nước chủ nghĩa xã hội sử dụng mô hình kinh tế cũ này.
Kết luận rằng, cái chung, cái riêng hay cái đơn nhất không tồn tại độc lập
thuần túy mà có mối liên hệ chặt chẽ với nhau. Mối liên hệ đó có thể biểu diễn theo
công thức: Cái riêng = Cái chung + Cái đơn nhất.
3. Ý nghĩa phương pháp luận.
Thứ nhất, bởi vì cái chung chỉ tồn tại trong cái riêng và thông qua cái riêng
biểu hiện chính mình nên trong thực tiễn, tùy vào trường hợp khi áp dụng
phương pháp luận xuất phát từ cái chung cần xem xét thay đổi, chỉnh sửa sao
cho phù hợp với điều kiện riêng của từng trường hợp.
Nếu bất cứ cái chung nào cũng chỉ tồn tại trong cái riêng, là thuộc tính chung
của một vài cái riêng, nằm trong mối liên hệ chặt chẽ với cái đơn nhất và tự khoác
cho mình một hình thức riêng biệt thì các phương pháp luận áp dụng vào thực tiễn
dựa trên việc vận dụng một quy luật chung nhất đều sẽ xảy ra thay đổi nhất định.
Thay vào đó, còn cần phải đánh giá, xem xét từng cái riêng để có thể đưa ra
phương pháp phù hợp nhất. Trong trường hợp này, ta thấy cái chung đã bị cá biệt
hóa, trong khi mọi sự vật, hiện tượng không phải là một và không giống nhau hoàn
toàn, từ cái chung, giờ đây nó đã biến thành những cái chung dựa trên nền những
cái đơn nhất, khiến cho phương pháp luận xuất phát từ cái chung đó cũng cần thay
đổi, cá biệt hóa sao cho phù hợp. Ngược lại, nếu xem thường cái chung mà tuyệt
đối hóa cái riêng sẽ rơi vào bệnh cục bộ, địa phương chủ nghĩa. Ví dụ, sau năm
1975, nước ta đã áp dụng nguyên mẫu mô hình sản xuất của Liên Xô và không đạt
được mục tiêu đẩy mạnh kinh tế đã đề ra từ trước. Điều đó cho thấy cần phải dựa
vào những đặc điểm đơn nhất, những điều kiện của Việt Nam để áp dụng một cách
phù hợp, linh hoạt.
cái chung là cái bản chất, sâu sắc hơn cái riêng. Như đã đề cập Thứ hai,
trong mối liên hệ ở phần trên, cái chung là cái bộ phận sâu sắc hơn, còn cái riêng là
cái toàn bộ phong phú hơn. Nếu bất kì phương pháp nào cũng bao hàm cả cái
chung và cái đơn nhất – có những đặc điểm lặp lại ở sự vật hiện tượng khác và có
10
những đặc điểm sự vật, hiện tượng khác không hề có, thì trong hoạt động thực
tiễn, cần tìm được những nguyên lí chung xuất phát từ những cái riêng lẻ để
làm phương pháp lí luận chung, tránh trường hợp hoạt động không có đường
lối, mù quáng. Chẳng hạn, từ những đặc điểm của các thị trường kinh tế trên thế
giới, người ta rút ra được những quy luật cơ bản chung trong nền kinh tế thị trường
(quy luật cung – cầu, quy luật giá trị, quy luật cạnh tranh, quy luật lưu thông tiền
tệ...). Hay trong sinh học, khi nghiên cứu đặc điểm của một số cây như cây đỗ đen,
cây đỗ xanh, người ta rút ra được các đặc điểm chung của những cây họ đỗ.
cái đơn nhất và cái chung có thể chuyển hoá lẫn nhau trong quá Thứ ba,
trình phát triển của sự vật, vậy nên cần phải tạo điều kiện cho cái đơn nhất và cái
chung chuyển hóa lẫn nhau theo chiều hướng tiến bộ, có lợi, tạo điều kiện thuận
lợi để "cái đơn nhất" có lợi cho con người trở thành "cái chung" và "cái chung" bất
lợi trở thành "cái đơn nhất". Bởi lẽ, cái mới không bao giờ xuất hiện đầy đủ ngay
mà ban đầu xuất hiện dưới dạng cái đơn nhất. Về sau theo quy luật, cái mới hoàn
thiện dần và thay thế cái cũ, trở thành cái chung, cái phổ biến, nhưng về sau nữa,
khi không còn phù hợp với điều kiện mới, cái chung lại bị mất dần đi và trở thành
cái đơn nhất.
Như vậy sự chuyển hóa từ cái đơn nhất thành cái chung là biểu hiện của quá
trình cái mới hình thành và thay thế cái cũ. Ngược lại, sự chuyển hóa từ cái chung
thành cái đơn nhất là biểu hiện của quá trình cái cũ, cái lỗi thời bị phủ định. Ban
đầu một cá thể riêng biệt có thể có một đặc tính riêng , do điều kiện môi trường
thay đổi và đặc tính riêng biệt đó trở nên phù hợp nên đặc tính đó sẽ được
bảo tồn, duy trì ở nhiều thế hệ và trở thành phổ biến của nhiều cá thể. Những đặc
tính không phù hợp với điều kiện sẽ dần tiêu biến và trở thành điểm đơn nhất của
cá thế đó. Trong thực tiễn, người ta áp dụng điều này vào rất nhiều lĩnh vực, nổi
trội là lĩnh vực nông nghiệp, trong tạo giống bằng phương pháp gấy đột biến,
người ta thường lựa chọn đặc điểm đơn nhất của một số giống để tao ưu thế lai như
giống lúa Mộc Tuyền có khả năng chín sớm, chịu phèn cao; lai giống dưa hấu
không hạt để tạo năng suất cao hơn.
11
Phần II: Liên hệ thực tiễn
Từ góc nhìn triết học Mác - Lênin về cái chung và cái riêng, việc giải quyết
các vấn đề thực tiễn cần phải dựa trên mối quan hệ biện chứng giữa hai phạm trù
này. Và hiện nay, chủ nghĩa cá nhân của thanh niên hiện nay đang là một vấn đề
thực tiễn khá được quan tâm.
1. Khái niệm về chủ nghĩa cá nhân dưới góc nhìn triết học Mác- Lênin
Chủ nghĩa cá nhân là một lối sống tuyệt đối hóa lợi ích, sự tự do cá nhân,
hướng tới thỏa mãn những suy nghĩ, nhu cầu, mục đích, hành vi vụ lợi, hưởng thụ
của cá nhân, coi đó là chuẩn mực cao nhất trong cuộc sống.
Theo triết học Mác - Lênin, chủ nghĩa cá nhân là một lối sống tiêu cực, là
biểu hiện của bản chất ích kỷ của con người trong xã hội có giai cấp.
Trong xã hội có giai cấp, con người bị phân chia thành các giai cấp đối lập
nhau, mỗi giai cấp có lợi ích riêng của mình.
Chủ nghĩa cá nhân là sản phẩm của xã hội có giai cấp, là kết quả của sự tác
động lẫn nhau giữa bản chất ích kỷ của con người và điều kiện khách quan của xã
hội.
Chủ nghĩa cá nhân là một triết lý tập trung vào giá trị và quyền lợi của cá
nhân, đặt sự tự do cá nhân và quyền riêng tư lên hàng đầu. Trong ngữ cảnh của chủ
nghĩa cá nhân, khái niệm về có thể được hiểu theo nhiều cái chung cái riêng
cách:
Một số khía cạnh của trong chủ nghĩa cá nhân:cái chung
Cái chung trong bản chất của con người: Con người là một sinh vật xã
hội, có bản chất cộng đồng. Con người có nhu cầu sống, nhu cầu phát triển,
12
nhu cầu được yêu thương, được tôn trọng,... Những nhu cầu này là chung
đối với tất cả mọi người.
Cái chung trong điều kiện sống của con người: Con người sống trong một
xã hội loài người, chịu sự tác động của các quy luật chung của xã hội, như
quy luật kinh tế, quy luật chính trị, quy luật văn hóa, ... Những quy luật này
cũng là chung đối với tất cả mọi người
Cái chung trong mục tiêu của con người: Mục tiêu chung của con người
là xây dựng một xã hội tốt đẹp, nơi mà mọi người đều có cuộc sống hạnh
phúc, ấm no, tự do, bình đẳng.
Cái chung trong chủ nghĩa cá nhân là cơ sở để hình thành và phát triển chủ
nghĩa cá nhân. Tuy nhiên, cái chung trong chủ nghĩa cá nhân chỉ là một
phần, còn lại là cái riêng, là sự tuyệt đối hóa lợi ích cá nhân, coi lợi ích cá
nhân là trên hết.
Cái riêng trong ngữ cảnh của chủ nghĩa cá nhân thường liên quan đến quyền
lợi, tự do và đặc điểm cá nhân của mỗi người. Nhìn chung có thể chia làm hai loại
chính:
Cái riêng về mặt quyền lợi, lợi ích:
+Cái riêng thường ám chỉ quyền tự do cá nhân mà mỗi người có, bao gồm tự
do cá nhân, tự do ngôn luận, và tự do tư tưởng.
+Chủ nghĩa cá nhân thường nhấn mạnh quyền sở hữu và tự do tài chính, cho
phép mỗi người kiểm soát và quản lý tài chính cá nhân theo cách tốt nhất
cho họ.
+Cái riêng cũng có thể mô tả quyền lợi cá nhân trong mối quan hệ và giao
tiếp, bao gồm quyền lựa chọn về việc gặp gỡ, tương tác xã hội, và quyết
định về mối quan hệ cá nhân.
+Mỗi người có lợi ích từ việc phát triển bản thân, định hình và làm nổi bật
các đặc điểm và kỹ năng cá nhân.
Cái riêng về mặt lợi ích của chủ nghĩa cá nhân thường thể hiện ở việc con
người chỉ quan tâm đến lợi ích của bản thân mà không quan tâm đến lợi ích
của cộng đồng.
13
Ví dụ: một người chỉ quan tâm đến việc kiếm tiền cho bản thân mà không quan
tâm đến việc đóng góp cho xã hội, một người chỉ quan tâm đến việc thỏa mãn nhu
cầu cá nhân mà không quan tâm đến việc giúp đỡ người khác, ...
Cái riêng về mặt thái độ:
+Cái riêng có thể liên quan đến tư tưởng và quan điểm riêng của từng người
đối với các vấn đề xã hội, chính trị, văn hóa, và đời sống.
+Cái riêng thường bao gồm quyền tự do tư tưởng, có nghĩa là mỗi người có
quyền hình thành và giữ vững quan điểm cá nhân một cách tự do.
+Cái riêng có thể liên quan đến tư cách và tự trọng cá nhân, tức là sự đánh
giá cao bản thân trong xã hội.
+Tư duy độc lập là một khía cạnh của cái riêng trong mặt thái độ, trong đó
mỗi người có khả năng suy nghĩ và đưa ra quyết định riêng một cách tự chủ.
Cái riêng về mặt thái độ của chủ nghĩa cá nhân thường thể hiện ở việc con
người có những thái độ ích kỷ, hẹp hòi, chỉ biết nghĩ cho bản thân.
Ví dụ: một người luôn cho rằng mình là nhất, không coi ai ra gì, một người luôn
ghen tị với thành công của người khác, một người luôn đổ lỗi cho người khác khi
gặp khó khăn, ...
2. Những mặt tiêu cực và tích cực của chủ nghĩa cá nhân
a. Chủ nghĩa cá nhân có thể mang lại những tiêu cực cho xã hội
Gây mất đoàn kết, chia rẽ trong xã hội: Cái riêng về lợi ích khiến con
người chỉ quan tâm đến lợi ích của bản thân, không quan tâm đến lợi ích của
cộng đồng. Điều này dẫn đến sự mất đoàn kết, chia rẽ trong xã hội, làm suy
yếu sức mạnh của cộng đồng. Khi mỗi người tập trung vào lợi ích cá nhân,
có thể gia tăng bất bình đẳng xã hội, với những người có điều kiện tốt ngày
càng có nhiều cơ hội và lợi ích hơn.
Gây thiệt hại cho xã hội: Cái riêng về thái độ khiến con người có những
hành vi tiêu cực, gây thiệt hại cho xã hội, giảm sự tương tác và liên kết xã
hội, ... Ví dụ, tham nhũng, lừa đảo, gây ô nhiễm môi trường, ...
Gây ảnh hưởng xấu đến đạo đức xã hội: Cái riêng của chủ nghĩa cá nhân
khiến con người trở nên ích kỷ, coi trọng lợi ích cá nhân hơn lợi ích chung.
Điều này dẫn đến sự suy thoái đạo đức xã hội, làm mất đi những giá trị tốt
đẹp của con người.
14
Chủ nghĩa cá nhân có thể dẫn đến sự hiểu lầm về việc không chấp nhận sự
chia sẻ chi phí xã hội cho y tế và giáo dục, từ đó hệ thống không công bằng
và thiếu chất lượng. Trong một số trường hợp, chủ nghĩa cá nhân có thể dẫn
đến sự thiếu hệ thống an sinh xã hội mạnh mẽ, khiến cho những người gặp
khó khăn không nhận được đủ hỗ trợ.
b. Những mặt tích cực chủ nghĩa cá nhân cho xã hội
Mặc dù chủ nghĩa cá nhân là một lối sống tiêu cực, là biểu hiện của bản chất
ích kỷ của con người trong xã hội có giai cấp. Tuy nhiên, chủ nghĩa cá nhân cũng
có những mặt tích cực, thể hiện ở một số khía cạnh sau:
Kích thích sự sáng tạo, đổi mới: Chủ nghĩa cá nhân đề cao sự tự do, độc
lập của cá nhân. Điều này tạo điều kiện cho cá nhân phát huy khả năng sáng
tạo, đổi mới của mình.
Thúc đẩy sự phát triển kinh tế: Chủ nghĩa cá nhân khuyến khích cá nhân
cạnh tranh, phấn đấu để đạt được mục tiêu của mình. Điều này thúc đẩy sự
phát triển kinh tế, tạo ra nhiều sản phẩm, dịch vụ mới đáp ứng nhu cầu của
xã hội.
Nâng cao chất lượng cuộc sống: Chủ nghĩa cá nhân đề cao việc thỏa mãn
nhu cầu cá nhân. Điều này giúp nâng cao chất lượng cuộc sống của con
người, tạo ra một xã hội giàu có, văn minh.
Tuy nhiên, những mặt tốt của chủ nghĩa cá nhân chỉ có thể phát huy được trong
một xã hội lành mạnh, nơi mà mọi người đều có cơ hội phát triển, không bị phân
biệt đối xử.
3. Những biện pháp để giải quyết vấn đề chủ nghĩa cá nhân
Nếu chủ nghĩa cá nhân phát triển quá mức, sẽ dẫn đến những tác động tiêu cực,
chính vì vậy để khắc phục những mặt tiêu cực của chủ nghĩa cá nhân và phát triển
những mặt tích cực ta cần phải khẳng định những mặt chung trong chủ nghĩa cá
nhân, hướng cái riêng vào phục vụ cái chung:
Cần giúp con người hiểu rõ bản chất, ý nghĩa của cái chung và cái riêng,
từ đó có thể phát huy những mặt tích cực của cái riêng, hướng cái riêng vào
phục vụ cái chung. Tạo ra không gian và cơ hội để mọi người tham gia vào
các hoạt động cộng đồng, tăng cường ý thức về tư cách cộng đồng và trách
nhiệm cá nhân đối với cộng đồng. Khuyến khích và tạo điều kiện để mọi
15
người tham gia vào các hoạt động xã hội, từ đó tăng sự tương tác và hợp tác
trong cộng đồng.
Cần xây dựng một xã hội công bằng, dân chủ, văn minh, nơi mà mọi
người đều có cơ hội phát triển, từ đó hạn chế những hành vi tiêu cực của
chủ nghĩa cá nhân. Đặt ra và thực thi luật pháp để bảo vệ quyền lợi của cộng
đồng và ngăn chặn sự lạc quan hoá cá nhân. Xây dựng chính sách tài chính
công bằng, giảm bất bình đẳng thu nhập và tăng cường sự công bằng trong
việc chia sẻ lợi ích kinh tế.
Những biện pháp cụ thể có thể thực hiện:
Tổ chức các sự kiện xã hội, như ngày hội cộng đồng, hoặc các dự án tình
nguyện để tạo ra sự kết nối và hỗ trợ trong cộng đồng.
Cần mở những lớp giáo dục, định hướng cho thanh niên về giá trị của lao
động, ý nghĩa của việc cống hiến cho xã hội. Đồng thời, cần tạo điều kiện
cho thanh niên phát huy năng lực, sở trường, tham gia các hoạt động xã hội,
cộng đồng vì hiện nay một số người trẻ chỉ quan tâm đến hưởng thụ, không
quan tâm đến việc rèn luyện bản thân, đóng góp cho xã hội, họ có thể sa đà
vào các tệ nạn xã hội, gây ảnh hưởng xấu đến cộng đồng.
Một quốc gia nên thiết lập chính sách an sinh xã hội bao gồm bảo hiểm y tế,
chăm sóc trẻ em và người cao tuổi, đảm bảo mọi người đều có quyền lợi cơ
bản. Thiết lập mức thuế thu nhập biểu đồ, nơi những người có thu nhập cao
phải đóng nhiều hơn để đảm bảo chia sẻ công bằng của trách nhiệm tài
chính.
=> Trong thực tiễn còn có rất nhiều ví dụ khác về việc khắc phục chủ nghĩa cá
nhân bằng cái chung và cái riêng. Việc khắc phục chủ nghĩa cá nhân là một quá
trình lâu dài, cần có sự nỗ lực của toàn xã hội.
16
CÁC TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. Giáo trình Triết học Mác- Lenin (Dành cho bậc đại học hệ không chuyên lý
luận chính trị).
2. Giáo trình Những nguyên lí cơ bản của Chủ nghĩa Mác- Lenin.
3. https://vi.wikipedia.org/wiki/Quan_h%E1%BB%87_gi%E1%BB%AFa_c
%C3%A1i_chung_v%C3%A0_c%C3%A1i_ri%C3%AAng
4. https://luatminhkhue.vn/cap-pham-tru-cai-chung-va-cai-rieng.aspx
5. https://www.tuoitrephuyen.vn/tu-tuong-ho-chi-minh/quan-diem-
cua-ho-chi-minh-ve-chong-chu-nghia-ca-nhan-va-cong-tac-xay-
dung-dang-hien-nay-2262.html
17

Preview text:

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ QUỐC DÂN BÀI TẬP NHÓM 1
Đề tài: PHÂN TÍCH PHẠM TRÙ CÁI CHUNG – CÁI RIÊNG TỪ
GÓC ĐỘ TRIẾT HỌC MÁC – LÊNIN Giảng viên : Nguyễn Thị Lê Thư Lớp học phần : LLNL1105(123)_02 Nhóm : 01 Tên : Nguyễn Hoà An Mã sinh viên : 11234240 Hà Nội, 2023 1 MỤC LỤC
LỜI MỞ ĐẦU..........................................................................................................3
Phần I: Những vấn đề chung..................................................................................4
1. Phép biện chứng duy vật và các cặp phạm trù cơ bản.................................4
a. Phép biện chứng duy vật.............................................................................4
b. Các cặp phạm trù cơ bản............................................................................4
2. Cặp phạm trù cái chung – cái riêng...............................................................5
a. Khái niệm.....................................................................................................5
b. Mối liên hệ biện chứng................................................................................7
3. Ý nghĩa phương pháp luận...........................................................................10
Phần II: Liên hệ thực tiễn.....................................................................................12
1. Khái niệm về chủ nghĩa cá nhân dưới góc nhìn triết học Mác- Lênin.....12
2. Những mặt tiêu cực và tích cực của chủ nghĩa cá nhân.............................14
a. Chủ nghĩa cá nhân có thể mang lại những tiêu cực cho xã hội.............14
b. Những mặt tích cực chủ nghĩa cá nhân cho xã hội................................15
3. Những biện pháp để giải quyết vấn đề chủ nghĩa cá nhân........................15
CÁC TÀI LIỆU THAM KHẢO...........................................................................17 2 LỜI MỞ ĐẦU
Phép biện chứng duy vật là linh hồn sống, là nhân tố cơ bản quyết định quá
trình hình thành và phát triển của triết học Mác. Phép biện chứng duy vật có tính
ứng dụng thực tế cao, kết tạo phương pháp luận chung nhất từ việc nghiên cứu dựa
trên các nguyên lí, thể hiện qua các phạm trù và quy luật cơ bản giúp con người áp
dụng hiệu quả trong việc đề ra các nguyên tắc tương ứng, định hướng hoạt động lí
luận và thực tiễn vào cuộc sống.
Trải qua quá trình vận động và phát triển không ngơi nghỉ, con người đã
hình thành nên ý thức, chúng ta biết nhận thức và đánh giá hiện thực khách quan
về thế giới xung quanh. Cho đến ngày nay, giới trẻ - lớp người nắm giữ tương lai
đất nước - đang ngày càng mong muốn khẳng định giá trị bản thân. Chủ nghĩa cá
nhân đang được khai thác mạnh mẽ trên nhiều khía cạnh nhằm thúc đẩy đem lại
những giá trị cho bản thân cũng như cộng đồng. Tuy nhiên không phải ai cũng có
thể dễ dàng nhận biết được thế mạnh của bản thân cũng như khai thác, trau dồi và
phát triển nó. Điều này đã đưa đến yêu cầu cần có định hướng lý luận và cơ sở để
có biện pháp giải quyết vấn đề này.
Từ những lí do trên, em nhận thức được sự cần thiết của việc nắm rõ và
vận dụng phép biện chứng duy vật trong Triết học Mác-Lenin, đặc biệt là cặp
phạm trù “cái chung- cái riêng” vào giải quyết các vấn đề thực tiễn cuộc sống.
Chính vì vậy, em lựa chọn đề tài: Phân tích cặp phạm trù cái chung- cái riêng làm
đề tài nghiên cứu cho tiểu luận của nhóm. 3
Phần I: Những vấn đề chung
1. Phép biện chứng duy vật và các cặp phạm trù cơ bản.
a. Phép biện chứng duy vật.

Phép biện chứng duy vật là vấn đề lý luận đóng vai trò quan trọng trong quá
trình hình thành thế giới quan và phương pháp luận của chủ nghĩa Mác – Lênin, có
sự thống nhất giữa thế giới quan (duy vật biện chứng) và phương pháp luận (biện
chứng duy vật). Ăng-ghen định nghĩa: “Phép duy vật biện chứng là môn khoa học
về những quy luật phổ biến của sự vận động và sự phát triển của tự nhiên, của xã
hội loài người và của tư duy.”
“Phép biện chứng là khoa học về sự liên hệ phổ
biến.”
, tức ông quan sát và nhấn mạnh ở góc độ nguyên lý về mối liên hệ phổ biến.
Trong khi đó, V.I.Lênin khẳng định: “...Phép biện chứng, tức là học thuyết về sự
phát triển dưới hình thức hoàn bị nhất, sâu sắc nhất và không phiến diện, học
thuyết về tính tương đối của nhận thức của con người, nhận thức này phản ánh vật
chất luôn phát triển không ngừng.”
, tức ông quan sát và nhấn mạnh ở góc độ
nguyên lý về sự phát triển.
Như vậy, về khái niệm, phép biện chứng duy vật là học thuyết nghiên cứu
sự vận động và phát triển trên cả phương diện thời gian – mối liên hệ, không
gian – quá trình phát triển
. Về vai trò, phép biện chứng duy vật không chỉ giải
thích thế giới một cách đúng đắn mà còn là phương pháp luận chung nhất để nhận
thức và cải tạo thế giới dựa trên cơ sở khoa học thông qua việc nghiên cứu các mối
liên hệ, quy luật trong quá trình vận động và phát triển tự nhiên.
b. Các cặp phạm trù cơ bản.
Phép biện chứng duy vật bao gồm hai nguyên lý: nguyên lý về mối liên hệ
phổ biến với 6 mối liên hệ tương đương 6 cặp phạm trù, nguyên lý về sự phát
triển
với 3 quy luật. Ở đây, chúng ta đề cập đến 6 cặp phạm trù cơ bản của phép biện chứng duy vật.
Phạm trù là khái niệm chuyên ngành, nó phản ánh những thuộc tính, mối
liên hệ cơ bản và chung nhất của các sự vật, hiện tượng thuộc các lĩnh vực khác
nhau, ví như ta nói điểm là phạm trù vật lý, đường tròn là phạm trù toán học... 4
Theo đó, phạm trù triết học là khái niệm triết học rộng nhất, chung nhất phản ánh
các mặt, các mối liên hệ với bản chất của sự vật, hiện tượng trong tự nhiên, xã hội
và tư duy. Phạm trù triết học có tính chất là hoạt động trí óc phổ biến của con
người, là những mô hình tư tưởng phản ánh những thuộc tính và mối liên hệ vốn
có ở tất cả các đối tượng hiện thực. Ta có các cặp phạm trù phổ biến sau: 
Cái chung - cái riêng.
Nguyên nhân - kết quả.
Tất nhiên - ngẫu nhiên.
Nội dung - hình thức.
Bản chất - hiện tượng.
Khả năng - hiện thực.
2. Cặp phạm trù cái chung – cái riêng. a. Khái niệm.
Trong quá trình nhận thức, con người thâm nhập càng sâu vào các nhóm đối
tượng nhằm nắm bắt và thể hiện đối tượng thông qua việc giải thích, nêu khái
niệm. Từ việc quan sát và phân tích tỉ mỉ, chúng ta bắt gặp những sự vật, hiện
tượng tuy khác nhau nhưng lại nằm trong một mối quan hệ khăng khít, và khi so
sánh chúng, con người tự nhiên dẫn đến sự phân biệt cái riêng, cái chung. Một ví
dụ điển hình: một bầy sư tử là kết hợp của nhiều cá thể khác nhau (sự tồn tại của
mỗi cá thể là cái riêng), bầy thú này chia làm hai loài là sư tử đực và sư tử cái (sự
khác nhau giữa sư tử đực và sư tử cái là cái đơn nhất), chúng đều là động vật ăn
thịt sống và là loài sư tử (những điểm giống nhau gọi là cái chung).
Cái riêng là phạm trù triết học dùng để chỉ một sự vật, hiện tượng nhất
định
, một quá trình hay một hệ thống sự vật tạo thành chỉnh thể tồn tại độc lập
tương đối với những cái riêng khác. Thí dụ, một người với mái tóc đen và đôi mắt
xanh nước biển, một chiếc xe Rolls Royce màu trắng, một căn nhà sơn tường trắng
với hồ bơi và vườn cây trước sân nhà...
Cái chung là phạm trù triết học dùng để chỉ những mặt, những thuộc tính
không những có ở sự vật, hiện tượng nào đó mà còn lặp lại ở nhiều sự vật, hiện
tượng khác.
Thí dụ: cái cây là từ chung chỉ những loại cây như cây bàng, cây mai,
cây đào...; chuyên ngành thuộc lĩnh vực kinh tế bao gồm các ngành như bảo hiểm,
tài chính – ngân hàng, quản trị kinh doanh, kinh tế quốc tế... 5
Cái đơn nhất là phạm trù triết học chỉ cái riêng tồn tại độc lập, cá biệt, nó
là những thuộc tính vốn chỉ của một sự vật, hiện tượng, quá trình và không
xuất hiện ở cái riêng khác.
Thí dụ, ta có các con sông Nile, sông Mê Công, đặc
điểm dài hơn của sông Nile, giàu phù sa hơn của sông Mê Công là cái đơn nhất; ta
có bánh gạo và bánh quy bơ, hương vị và kết cấu khác nhau của hai loại bánh là cái đơn nhất.
Như vậy, giữa cái riêng, cái chung, cái đơn nhất có mối liên hệ biện chứng
với nhau. Cái riêng thì bằng cái chung cộng với cái đơn nhất.
Thí dụ, lớp Triết học 02 có bạn An và bạn Linh, giữa hai bạn có điểm chung
đều là K65, học trường Đại học Kinh tế Quốc dân, học chung 1 lớp Triết và chung
nhóm với nhau, điểm đơn nhất là các bạn có những đặc điểm về ngoại hình, tính
cách, năng lực khác nhau. Khi cộng những điểm chung và điểm đơn nhất vào với
nhau, ta được bạn An và bạn Linh là cái riêng. Cái đơn nhất Cái đơn nhất An Linh (cái riêng) (cái riêng) Cái chung 6
b. Mối liên hệ biện chứng.
Trong lịch sử hình thành và phát triển triết học, có hai xu hướng trái ngược
nhau
về mối quan hệ giữa cái riêng và cái chung, đó là quan điểm duy thựcduy danh.
Phái duy thực đồng nhất thượng đế với cái chung và cho rằng chỉ có cái
chung mới tồn tại vĩnh viễn, thật sự độc lập với ý thức con người, cái riêng chỉ
tồn tại tạm thời, thoáng qua, không phải tồn tại vĩnh viễn,
tiêu biểu cho quan
điểm này là Plato. Ví dụ, trong trường đại học Kinh tế quốc dân có rất nhiều sinh
viên, mỗi sinh viên này là một cái riêng lẻ và sau 4 năm học các sinh viên này sẽ ra
trường, sinh viên khác lại vào và ra như vậy, nhưng khái niệm “sinh viên” nói
chung vẫn tồn tại mãi mãi gắn với trường.
Đối ngược với phái duy thực, các nhà triết học duy danh như P.Abơla (1079
– 1142), Đumxcot (1265 – 1308) cho rằng chỉ những sự vật, hiện tượng tồn tại
riêng biệt với những chất lượng riêng của chúng mới là có thực còn cái chung
là những tên gọi trống rỗng, do tư tưởng con người bịa đặt ra, không phản ánh
cái gì trong hiện thực.
Chẳng hạn như, họ cho khái niệm con người, giai cấp, đấu
tranh giai cấp, sinh viên... không có ý nghĩa gì trong cuộc sống của con người, chỉ
là những từ trống rỗng. Ngay cả đến những khái niệm như vật chất, chủ nghĩa duy
vật, chủ nghĩa duy tâm, ... họ cũng cho là những từ không có ý nghĩa. Như vậy,
ranh giới giữa chủ nghĩa duy vật và chủ nghĩa duy tâm bị xóa nhòa và con người
không cần phải quan tâm đến cuộc đấu tranh giữa các quan điểm triết học.
Cả hai quan niệm của phái duy thực và phái duy danh đều sai lầm ở chỗ họ
đã tách rời cái riêng khỏi cái chung, tuyệt đối hóa cái riêng, phủ nhận cái
chung, hoặc ngược lại.
Họ không thấy được sự tồn tại khách quan và mối liên hệ
khăng khít giữa chúng. Trong khi phép biện chứng duy vật cho rằng cái riêng, cái
chung và cái đơn nhất đều tồn tại khách quan, giữa chúng có mối liên hệ hữu cơ với nhau. 7
Như đã đề cập ở trên, ta có công thức: Cái riêng = Cái chung + Cái đơn nhất.
Từ công thức phổ quát này, ta rút ra được các mối quan hệ tồn tại giữa cái riêng,
cái chung và cái đơn nhất:

Trước hết, cái chung chỉ tồn tại trong cái riêng, thông qua cái riêng mà
biểu hiện sự tồn tại của mình
. Điều này khác hoàn toàn so với quan niệm của phái
duy thực: cái chung tồn tại độc lập, cái riêng chỉ là thoáng qua và cái chung thậm
chí sinh ra cái riêng. Có thể nói, phép biện chứng duy vật đã khắc phục những
khiếm khuyết của duy thực luận, tiến đến những lập luận đúng đắn và chặt chẽ
hơn. Trong thực tại khách quan, cái chung có tồn tại, nhưng nó không tồn tại độc
lập thuần túy bên ngoài cái riêng.
Thí dụ, thuộc tính là trung tâm kinh tế, chính trị, văn hóa của quốc gia, dân
tộc, thủ đô chỉ có thể tồn tại thông qua cái riêng là các thủ đô Hà Nội, Viên Chăn,
Mát-xcơ-va, Phnôm Pênh...Một ví dụ khác, quy luật chung về giá trị trong nền
kinh tế thị trường không tồn tại độc lập, riêng biệt mà nó thông qua việc trao đổi
buôn bán của các nước trên thế giới để biểu hiện chính mình. Hay ngay trong cuộc
sống hàng ngày, ta hoàn toàn thấy một cách rõ ràng rằng không có cái cây nào gọi
là cây chung cả, cây gắn với từng loài (cóc, mận, ổi, xoài, mít...) và trở thành một
cá thể riêng biệt trong hệ thống sinh thái...
Mọi cái riêng đều là sự thống nhất của các mặt đối lập, vừa là cái đơn nhất
vừa là cái chung. Thông qua những thuộc tính, những những đặc điểm không lặp
lại của mình, cái riêng thể hiện là cái đơn nhất; song thông qua những thuộc tính
lặp lại ở đối tượng khác, cái riêng lại thể hiện mình là cái chung. Như vậy, dễ dàng
khẳng định không có cái riêng nào tồn tại tuyệt đối độc lập, không có liên hệ với
cái chung. Cái riêng chỉ tồn tại trong mối liên hệ với cái chung.

Triết học là các hệ thống tri thức chung nhất về thế giới, bản thân sự tồn tại
của tư duy triết học đã chứng minh những cái riêng trên thế giới này đều có một
hoặc một vài mặt, phương diện chung giống nhau. Các loại nấm độc sẽ có đặc
điểm nhận dạng chung, các con vật thuộc bộ bò sát sẽ có đặc điểm nhận dạng
chung...Theo ví dụ gần gũi hơn, mỗi chúng ta là một cá thể riêng biệt không thể
nhầm lẫn với bất kì cá thể nào khác (cái riêng) nhưng không có ai không chịu sự
tác động của xã hội, tự nhiên, bởi những quy luật sinh học: có những kiến thức cơ
bản về cuộc sống, trải qua ốm đau bệnh tật, qua thời trẻ đến khi già rồi mất
đi...Mối liên hệ này cũng thể hiện rõ ràng qua ví dụ đơn giản sau: một lớp có 30
bạn, sự tồn tại của mỗi bạn này là một cái riêng, 30 cái riêng này liên hệ với nhau
và ta có những điểm chung của các bạn như đồng niên (cùng năm sinh), đồng
hương (cùng quê quán), đồng môn (cùng thầy/cô)... 8
Và từ công thức cái riêng là sự kết hợp của cái chung và cái đơn nhất, rõ
ràng cái riêng là cái toàn bộ, cái chung là cái bộ phận, cái chung là một bộ phận
của cái riêng, cái riêng không gia nhập hết vào cái chung. Do đó, cái riêng phong
phú hơn cái chung. Tuy nhiên, cái chung sâu sắc hơn cái riêng. Cái riêng phong
phú hơn cái chung bởi nó nắm giữ nhiều đặc điểm khác biệt mà cái chung không
có được. Ngược lại cái chung lại sâu sắc hơn cái riêng vì nó có nhiều đặc điểm
hơn, phản ánh những thuộc tính, mối liên hệ lặp lại ở nhiều cái riêng cùng loại.
Trong môi trường Đại học, cái chung của các bạn sinh viên là còn trẻ, đang được
đào tạo tri thức, sẽ tốt nghiệp và ra tường trong tương lai,... Rõ ràng, cái chung đã
phản ánh bản chất, đặc điểm sâu sắc của các “sinh viên”. Tuy nhiên, mỗi sinh viên
lại có giá trị năng lực khác nhau, có tính cách, ngoại hình riêng, có những thế mạnh
riêng, đây là điểm phong phú của cái riêng.
Tuy vậy, cái riêng không phải vĩnh cửu, sông có thể cạn, đá có thể mòn, đời
người rồi sẽ đi đến hồi kết. Triết học Mác-Lenin vì thế đặt ra và giải quyết câu
hỏi: Cái riêng chỉ tồn tại trong một khoảng thời gian có hạn, vậy thì cái chung có
tồn tại vĩnh viễn, vô hạn trong thời gian không?
Cái riêng là cái đặc biệt và không lặp lại, theo lẽ đó, cái riêng xuất hiện chỉ
tồn tại được trong một khoảng thời gian nhất định và khi nó mất đi sẽ không bao
giờ xuất hiện lần nữa, một người sau khi mất đi sẽ không bao giờ có thể xuất hiện
với những gì vẹn toàn là người đó được.
Song cái chung tồn tại trong nhiều cái riêng, khi một cái riêng nào đó mất đi
thì những cái chung tồn tại ở cái riêng ấy sẽ không mất đi, mà nó vẫn còn tồn tại ở
nhiều cái riêng khác. Dù bao lớp người trôi đi, vẫn không thể phủ nhận những đặc
điểm chỉ có riêng ở con người: có trí nghĩ, tư duy linh hoạt, nhạy bén...
Ăng-ghen bày tỏ: “Chúng ta cũng tin chắc rằng, qua tất cả mọi sự chuyển
hóa của nó, vật chất vẫn cứ vĩnh viễn như thế, rằng không bao giờ một thuộc tính
của nó lại có thể mất đi, và vì thế, nếu như một ngày kia nó phải hủy diệt mất đóa
hoa rực rỡ nhất của nó trên trái đất, tức là cái tinh thần đang tư duy thì nhất định nó
lại phải... tái sinh ra cái tinh thần ấy ở một nơi nào khác và trong một thời gian khác.”
Mối liên hệ giữa cái đơn nhất với cái chung thể hiện trước hết ở mối liên hệ
lẫn nhau trong một thể thống nhất gồm các mặt, các yếu tố đơn lẻ vốn có trong một
sự vật, hiện tượng này và các mặt, các yếu tố được lặp lại ở nó và trong các sự vật,
hiện tượng khác. Cái đơn nhất và cái chung có thể chuyển hóa lẫn nhau. Trong 9
thực tiễn, cái đơn nhất khi gặp điều kiện phù hợp sẽ dần hoàn thiện và phổ biến trở
thành cái chung; còn cái chung nếu không còn thích hợp sẽ dần biến mất và trở
thành cái đơn nhất. Đây được xem là sự chuyển hóa của các mặt đối lập của sự vật.
Thí dụ, trong thời kì bao cấp nước ta đã áp dụng mô hình hợp tác xã, sản phẩm thu
được chia theo đầu người. Tuy nhiên, năng suất lao động ngày càng giảm, mô hình
này không còn phù hợp để thúc đẩy lao động và tăng trưởng kinh tế. Do vậy mô
hình chung của nền kinh tế chủ nghĩa xã hội đã dần biến mất, trở thành cái đơn
nhất khi chỉ còn rất ít nước chủ nghĩa xã hội sử dụng mô hình kinh tế cũ này.
Kết luận rằng, cái chung, cái riêng hay cái đơn nhất không tồn tại độc lập
thuần túy mà có mối liên hệ chặt chẽ với nhau. Mối liên hệ đó có thể biểu diễn theo
công thức: Cái riêng = Cái chung + Cái đơn nhất.
3. Ý nghĩa phương pháp luận.
Thứ nhất, bởi vì cái chung chỉ tồn tại trong cái riêng và thông qua cái riêng
biểu hiện chính mình nên trong thực tiễn, tùy vào trường hợp khi áp dụng
phương pháp luận xuất phát từ cái chung cần xem xét thay đổi, chỉnh sửa sao
cho phù hợp với điều kiện riêng của từng trường hợp.

Nếu bất cứ cái chung nào cũng chỉ tồn tại trong cái riêng, là thuộc tính chung
của một vài cái riêng, nằm trong mối liên hệ chặt chẽ với cái đơn nhất và tự khoác
cho mình một hình thức riêng biệt thì các phương pháp luận áp dụng vào thực tiễn
dựa trên việc vận dụng một quy luật chung nhất đều sẽ xảy ra thay đổi nhất định.
Thay vào đó, còn cần phải đánh giá, xem xét từng cái riêng để có thể đưa ra
phương pháp phù hợp nhất. Trong trường hợp này, ta thấy cái chung đã bị cá biệt
hóa, trong khi mọi sự vật, hiện tượng không phải là một và không giống nhau hoàn
toàn, từ cái chung, giờ đây nó đã biến thành những cái chung dựa trên nền những
cái đơn nhất, khiến cho phương pháp luận xuất phát từ cái chung đó cũng cần thay
đổi, cá biệt hóa sao cho phù hợp. Ngược lại, nếu xem thường cái chung mà tuyệt
đối hóa cái riêng sẽ rơi vào bệnh cục bộ, địa phương chủ nghĩa. Ví dụ, sau năm
1975, nước ta đã áp dụng nguyên mẫu mô hình sản xuất của Liên Xô và không đạt
được mục tiêu đẩy mạnh kinh tế đã đề ra từ trước. Điều đó cho thấy cần phải dựa
vào những đặc điểm đơn nhất, những điều kiện của Việt Nam để áp dụng một cách phù hợp, linh hoạt.
Thứ hai, cái chung là cái bản chất, sâu sắc hơn cái riêng. Như đã đề cập
trong mối liên hệ ở phần trên, cái chung là cái bộ phận sâu sắc hơn, còn cái riêng là
cái toàn bộ phong phú hơn. Nếu bất kì phương pháp nào cũng bao hàm cả cái
chung và cái đơn nhất – có những đặc điểm lặp lại ở sự vật hiện tượng khác và có 10
những đặc điểm sự vật, hiện tượng khác không hề có, thì trong hoạt động thực
tiễn, cần tìm được những nguyên lí chung xuất phát từ những cái riêng lẻ để
làm phương pháp lí luận chung, tránh trường hợp hoạt động không có đường
lối, mù quáng.
Chẳng hạn, từ những đặc điểm của các thị trường kinh tế trên thế
giới, người ta rút ra được những quy luật cơ bản chung trong nền kinh tế thị trường
(quy luật cung – cầu, quy luật giá trị, quy luật cạnh tranh, quy luật lưu thông tiền
tệ...). Hay trong sinh học, khi nghiên cứu đặc điểm của một số cây như cây đỗ đen,
cây đỗ xanh, người ta rút ra được các đặc điểm chung của những cây họ đỗ.
Thứ ba, cái đơn nhất và cái chung có thể chuyển hoá lẫn nhau trong quá
trình phát triển của sự vật, vậy nên cần phải tạo điều kiện cho cái đơn nhất và cái
chung chuyển hóa lẫn nhau theo chiều hướng tiến bộ, có lợi,
tạo điều kiện thuận
lợi để "cái đơn nhất" có lợi cho con người trở thành "cái chung" và "cái chung" bất
lợi trở thành "cái đơn nhất". Bởi lẽ, cái mới không bao giờ xuất hiện đầy đủ ngay
mà ban đầu xuất hiện dưới dạng cái đơn nhất. Về sau theo quy luật, cái mới hoàn
thiện dần và thay thế cái cũ, trở thành cái chung, cái phổ biến, nhưng về sau nữa,
khi không còn phù hợp với điều kiện mới, cái chung lại bị mất dần đi và trở thành cái đơn nhất.
Như vậy sự chuyển hóa từ cái đơn nhất thành cái chung là biểu hiện của quá
trình cái mới hình thành và thay thế cái cũ. Ngược lại, sự chuyển hóa từ cái chung
thành cái đơn nhất là biểu hiện của quá trình cái cũ, cái lỗi thời bị phủ định. Ban
đầu một cá thể riêng biệt có thể có một đặc tính riêng , do điều kiện môi trường
thay đổi và đặc tính riêng biệt đó trở nên phù hợp nên đặc tính đó sẽ được
bảo tồn, duy trì ở nhiều thế hệ và trở thành phổ biến của nhiều cá thể. Những đặc
tính không phù hợp với điều kiện sẽ dần tiêu biến và trở thành điểm đơn nhất của
cá thế đó. Trong thực tiễn, người ta áp dụng điều này vào rất nhiều lĩnh vực, nổi
trội là lĩnh vực nông nghiệp, trong tạo giống bằng phương pháp gấy đột biến,
người ta thường lựa chọn đặc điểm đơn nhất của một số giống để tao ưu thế lai như
giống lúa Mộc Tuyền có khả năng chín sớm, chịu phèn cao; lai giống dưa hấu
không hạt để tạo năng suất cao hơn. 11
Phần II: Liên hệ thực tiễn
Từ góc nhìn triết học Mác - Lênin về cái chung và cái riêng, việc giải quyết
các vấn đề thực tiễn cần phải dựa trên mối quan hệ biện chứng giữa hai phạm trù
này. Và hiện nay, chủ nghĩa cá nhân của thanh niên hiện nay đang là một vấn đề
thực tiễn khá được quan tâm.
1. Khái niệm về chủ nghĩa cá nhân dưới góc nhìn triết học Mác- Lênin
Chủ nghĩa cá nhân là một lối sống tuyệt đối hóa lợi ích, sự tự do cá nhân,
hướng tới thỏa mãn những suy nghĩ, nhu cầu, mục đích, hành vi vụ lợi, hưởng thụ
của cá nhân, coi đó là chuẩn mực cao nhất trong cuộc sống.
Theo triết học Mác - Lênin, chủ nghĩa cá nhân là một lối sống tiêu cực, là
biểu hiện của bản chất ích kỷ của con người trong xã hội có giai cấp.
Trong xã hội có giai cấp, con người bị phân chia thành các giai cấp đối lập
nhau, mỗi giai cấp có lợi ích riêng của mình.
Chủ nghĩa cá nhân là sản phẩm của xã hội có giai cấp, là kết quả của sự tác
động lẫn nhau giữa bản chất ích kỷ của con người và điều kiện khách quan của xã hội.
Chủ nghĩa cá nhân là một triết lý tập trung vào giá trị và quyền lợi của cá
nhân, đặt sự tự do cá nhân và quyền riêng tư lên hàng đầu. Trong ngữ cảnh của chủ
nghĩa cá nhân, khái niệm về cái chungcái riêng có thể được hiểu theo nhiều cách:
Một số khía cạnh của cái chung trong chủ nghĩa cá nhân:
Cái chung trong bản chất của con người: Con người là một sinh vật xã
hội, có bản chất cộng đồng. Con người có nhu cầu sống, nhu cầu phát triển, 12
nhu cầu được yêu thương, được tôn trọng,... Những nhu cầu này là chung
đối với tất cả mọi người.
Cái chung trong điều kiện sống của con người: Con người sống trong một
xã hội loài người, chịu sự tác động của các quy luật chung của xã hội, như
quy luật kinh tế, quy luật chính trị, quy luật văn hóa, ... Những quy luật này
cũng là chung đối với tất cả mọi người
Cái chung trong mục tiêu của con người: Mục tiêu chung của con người
là xây dựng một xã hội tốt đẹp, nơi mà mọi người đều có cuộc sống hạnh
phúc, ấm no, tự do, bình đẳng.
Cái chung trong chủ nghĩa cá nhân là cơ sở để hình thành và phát triển chủ
nghĩa cá nhân. Tuy nhiên, cái chung trong chủ nghĩa cá nhân chỉ là một
phần, còn lại là cái riêng, là sự tuyệt đối hóa lợi ích cá nhân, coi lợi ích cá nhân là trên hết.
Cái riêng trong ngữ cảnh của chủ nghĩa cá nhân thường liên quan đến quyền
lợi, tự do và đặc điểm cá nhân của mỗi người. Nhìn chung có thể chia làm hai loại chính:
Cái riêng về mặt quyền lợi, lợi ích:
+Cái riêng thường ám chỉ quyền tự do cá nhân mà mỗi người có, bao gồm tự
do cá nhân, tự do ngôn luận, và tự do tư tưởng.
+Chủ nghĩa cá nhân thường nhấn mạnh quyền sở hữu và tự do tài chính, cho
phép mỗi người kiểm soát và quản lý tài chính cá nhân theo cách tốt nhất cho họ.
+Cái riêng cũng có thể mô tả quyền lợi cá nhân trong mối quan hệ và giao
tiếp, bao gồm quyền lựa chọn về việc gặp gỡ, tương tác xã hội, và quyết
định về mối quan hệ cá nhân.
+Mỗi người có lợi ích từ việc phát triển bản thân, định hình và làm nổi bật
các đặc điểm và kỹ năng cá nhân.
Cái riêng về mặt lợi ích của chủ nghĩa cá nhân thường thể hiện ở việc con
người chỉ quan tâm đến lợi ích của bản thân mà không quan tâm đến lợi ích của cộng đồng. 13
Ví dụ: một người chỉ quan tâm đến việc kiếm tiền cho bản thân mà không quan
tâm đến việc đóng góp cho xã hội, một người chỉ quan tâm đến việc thỏa mãn nhu
cầu cá nhân mà không quan tâm đến việc giúp đỡ người khác, ...
Cái riêng về mặt thái độ:
+Cái riêng có thể liên quan đến tư tưởng và quan điểm riêng của từng người
đối với các vấn đề xã hội, chính trị, văn hóa, và đời sống.
+Cái riêng thường bao gồm quyền tự do tư tưởng, có nghĩa là mỗi người có
quyền hình thành và giữ vững quan điểm cá nhân một cách tự do.
+Cái riêng có thể liên quan đến tư cách và tự trọng cá nhân, tức là sự đánh
giá cao bản thân trong xã hội.
+Tư duy độc lập là một khía cạnh của cái riêng trong mặt thái độ, trong đó
mỗi người có khả năng suy nghĩ và đưa ra quyết định riêng một cách tự chủ.
Cái riêng về mặt thái độ của chủ nghĩa cá nhân thường thể hiện ở việc con
người có những thái độ ích kỷ, hẹp hòi, chỉ biết nghĩ cho bản thân.
Ví dụ: một người luôn cho rằng mình là nhất, không coi ai ra gì, một người luôn
ghen tị với thành công của người khác, một người luôn đổ lỗi cho người khác khi gặp khó khăn, ...
2. Những mặt tiêu cực và tích cực của chủ nghĩa cá nhân
a. Chủ nghĩa cá nhân có thể mang lại những tiêu cực cho xã hội

Gây mất đoàn kết, chia rẽ trong xã hội: Cái riêng về lợi ích khiến con
người chỉ quan tâm đến lợi ích của bản thân, không quan tâm đến lợi ích của
cộng đồng. Điều này dẫn đến sự mất đoàn kết, chia rẽ trong xã hội, làm suy
yếu sức mạnh của cộng đồng. Khi mỗi người tập trung vào lợi ích cá nhân,
có thể gia tăng bất bình đẳng xã hội, với những người có điều kiện tốt ngày
càng có nhiều cơ hội và lợi ích hơn.
Gây thiệt hại cho xã hội: Cái riêng về thái độ khiến con người có những
hành vi tiêu cực, gây thiệt hại cho xã hội, giảm sự tương tác và liên kết xã
hội, ... Ví dụ, tham nhũng, lừa đảo, gây ô nhiễm môi trường, ...
Gây ảnh hưởng xấu đến đạo đức xã hội: Cái riêng của chủ nghĩa cá nhân
khiến con người trở nên ích kỷ, coi trọng lợi ích cá nhân hơn lợi ích chung.
Điều này dẫn đến sự suy thoái đạo đức xã hội, làm mất đi những giá trị tốt đẹp của con người. 14
Chủ nghĩa cá nhân có thể dẫn đến sự hiểu lầm về việc không chấp nhận sự
chia sẻ chi phí xã hội cho y tế và giáo dục, từ đó hệ thống không công bằng
và thiếu chất lượng. Trong một số trường hợp, chủ nghĩa cá nhân có thể dẫn
đến sự thiếu hệ thống an sinh xã hội mạnh mẽ, khiến cho những người gặp
khó khăn không nhận được đủ hỗ trợ.
b. Những mặt tích cực chủ nghĩa cá nhân cho xã hội
Mặc dù chủ nghĩa cá nhân là một lối sống tiêu cực, là biểu hiện của bản chất
ích kỷ của con người trong xã hội có giai cấp. Tuy nhiên, chủ nghĩa cá nhân cũng
có những mặt tích cực, thể hiện ở một số khía cạnh sau:
Kích thích sự sáng tạo, đổi mới: Chủ nghĩa cá nhân đề cao sự tự do, độc
lập của cá nhân. Điều này tạo điều kiện cho cá nhân phát huy khả năng sáng
tạo, đổi mới của mình.
Thúc đẩy sự phát triển kinh tế: Chủ nghĩa cá nhân khuyến khích cá nhân
cạnh tranh, phấn đấu để đạt được mục tiêu của mình. Điều này thúc đẩy sự
phát triển kinh tế, tạo ra nhiều sản phẩm, dịch vụ mới đáp ứng nhu cầu của xã hội.
Nâng cao chất lượng cuộc sống: Chủ nghĩa cá nhân đề cao việc thỏa mãn
nhu cầu cá nhân. Điều này giúp nâng cao chất lượng cuộc sống của con
người, tạo ra một xã hội giàu có, văn minh.
Tuy nhiên, những mặt tốt của chủ nghĩa cá nhân chỉ có thể phát huy được trong
một xã hội lành mạnh, nơi mà mọi người đều có cơ hội phát triển, không bị phân biệt đối xử.
3. Những biện pháp để giải quyết vấn đề chủ nghĩa cá nhân
Nếu chủ nghĩa cá nhân phát triển quá mức, sẽ dẫn đến những tác động tiêu cực,
chính vì vậy để khắc phục những mặt tiêu cực của chủ nghĩa cá nhân và phát triển
những mặt tích cực ta cần phải khẳng định những mặt chung trong chủ nghĩa cá
nhân, hướng cái riêng vào phục vụ cái chung:
Cần giúp con người hiểu rõ bản chất, ý nghĩa của cái chung và cái riêng,
từ đó có thể phát huy những mặt tích cực của cái riêng, hướng cái riêng vào
phục vụ cái chung. Tạo ra không gian và cơ hội để mọi người tham gia vào
các hoạt động cộng đồng, tăng cường ý thức về tư cách cộng đồng và trách
nhiệm cá nhân đối với cộng đồng. Khuyến khích và tạo điều kiện để mọi 15
người tham gia vào các hoạt động xã hội, từ đó tăng sự tương tác và hợp tác trong cộng đồng.
Cần xây dựng một xã hội công bằng, dân chủ, văn minh, nơi mà mọi
người đều có cơ hội phát triển, từ đó hạn chế những hành vi tiêu cực của
chủ nghĩa cá nhân. Đặt ra và thực thi luật pháp để bảo vệ quyền lợi của cộng
đồng và ngăn chặn sự lạc quan hoá cá nhân. Xây dựng chính sách tài chính
công bằng, giảm bất bình đẳng thu nhập và tăng cường sự công bằng trong
việc chia sẻ lợi ích kinh tế.
Những biện pháp cụ thể có thể thực hiện:
Tổ chức các sự kiện xã hội, như ngày hội cộng đồng, hoặc các dự án tình
nguyện để tạo ra sự kết nối và hỗ trợ trong cộng đồng.
Cần mở những lớp giáo dục, định hướng cho thanh niên về giá trị của lao
động, ý nghĩa của việc cống hiến cho xã hội. Đồng thời, cần tạo điều kiện
cho thanh niên phát huy năng lực, sở trường, tham gia các hoạt động xã hội,
cộng đồng vì hiện nay một số người trẻ chỉ quan tâm đến hưởng thụ, không
quan tâm đến việc rèn luyện bản thân, đóng góp cho xã hội, họ có thể sa đà
vào các tệ nạn xã hội, gây ảnh hưởng xấu đến cộng đồng.
Một quốc gia nên thiết lập chính sách an sinh xã hội bao gồm bảo hiểm y tế,
chăm sóc trẻ em và người cao tuổi, đảm bảo mọi người đều có quyền lợi cơ
bản. Thiết lập mức thuế thu nhập biểu đồ, nơi những người có thu nhập cao
phải đóng nhiều hơn để đảm bảo chia sẻ công bằng của trách nhiệm tài chính.
=> Trong thực tiễn còn có rất nhiều ví dụ khác về việc khắc phục chủ nghĩa cá
nhân bằng cái chung và cái riêng. Việc khắc phục chủ nghĩa cá nhân là một quá
trình lâu dài, cần có sự nỗ lực của toàn xã hội. 16
CÁC TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. Giáo trình Triết học Mác- Lenin (Dành cho bậc đại học hệ không chuyên lý luận chính trị).
2. Giáo trình Những nguyên lí cơ bản của Chủ nghĩa Mác- Lenin.
3. https://vi.wikipedia.org/wiki/Quan_h%E1%BB %87_gi%E1%BB%AFa_c
%C3%A1i_chung_v%C3%A0_c%C3%A1i_ri%C3%AAng
4. https://luatminhkhue.vn/cap-pham-tru-cai-chung-va-cai-rieng.a spx 5. https://www.tuoitr
ephuyen.vn/tu-tuong-ho-chi-minh/quan-diem-
cua-ho-chi-minh-ve-chong-chu-nghia-ca-nhan-va-cong-tac-xay- dung-dang-hien-nay-2262.html 17