








Preview text:
lOMoAR cPSD| 61256830
Câu 1. Điều kiện ra đời và tồn tại của sản xuất hàng hóa. Ưu thế của sản xuất hàng hóa
Trong lịch sử, có 2 hình thức sản xuất rõ rệt: sản xuất tự cung tự cấp và sản xuất hàng hóa
Sản xuất tự cung tự cấp là sản xuất ra sản phẩm để thỏa mãn chính nhu cầu của người sản xuất trong nội bộ
đơn vị kinh tế. Sản xuất hàng hóa là hình thức tổ chức sản xuất ra sản phẩm để bán và trao đổi trên thị trường.
Có 2 điều kiện ra đời sản xuất hàng hóa: 1
là sự phân công lao động xã hội. Phân công lao động xã hội là sự phân chia lao động vào các ngành,
mỗingười chỉ sản xuất ra một hoặc một vài sản phẩm nhất định. Đây là kết quả của sự phát triển của lực lượng
sản xuất, biểu hiện thông qua sự chuyên môn hóa sản xuất. Một người có thừa sản phẩm do chính họ làm ra
nhưng lại thiếu các sản phẩm khác. Trao đổi hàng hóa là tất yếu và có lợi cho mỗi người sản xuất. Đây là điều
kiện cần cho sự ra đời của sản xuất hàng hóa. 2
là tách biệt tương đối về mặt kinh tế của những người sản xuất. Điều này dẫn đến việc những người
sảnxuất độc lập với nhau, họ tạo ra sản phẩm dựa trên tư liệu của mình và có quyền chi phối sản phẩm đó. Sự
tách biệt này xuất phát từ sự ra đời của chế độ tư hữu về tư liệu sản xuất làm cho những người sản xuất độc
lập, đối lập với nhau. Tuy nhiên, sự phân công lao động xã hội lại làm họ phụ thuộc vào nhau. Sản xuất hàng
hóa giải quyết mâu thuẫn này. Muốn sản phẩm khác thì phải trao đổi hàng hóa. Đây là điều kiện đủ cho sự ra
đời của sản xuất hàng hóa.
Ở Việt Nam, sự tách biệt tương đối về mặt kinh tế giữa những người sản xuất được thể hiện chủ yếu qua sự
đa dạng hóa về hình thức sở hữu, tách biệt quyền sử dụng ra khỏi quyền sở hữu các sản phẩm của nhà nước,
thừa nhận quyền sở hữu tư nhân. Theo đó, nhà nước nắm quyền sở hữu và trao quyền sử dụng cho doanh
nghiệp, doanh nghiệp tiến hành sản xuất và phân phối hàng hóa, trao đổi hàng hóa theo nguyên tắc thuận mua vừa bán
Ưu thế của sản xuất hàng hóa có 4 điểm:
1 là khai thác hiệu quả điều kiện tự nhiên xã hội của con người, của từng vùng, từng địa phương. Từ đó,chuyên
môn hóa sản xuất dẫn đến việc tăng NSLĐ
2 là cải tiến kỹ thuật, đổi mới bộ máy quản lý dẫn đến việc tăng NSLĐ
3 là kích thích nghiên cứu, áp dụng khoa học kĩ thuật hiện đại => Tăng LLSX (tư liệu sản xuất, người laođộng)
4 là mở cửa kinh tế, giao lưu văn hóa.
Mặt trái của sản xuất hàng hóa có 3 điểm:
1 là chạy theo lợi nhuận, bất chấp luật pháp quy định
2 là gia tăng sự chênh lệch giàu nghèo 3 là sự phá
hoại môi trường sinh thái.
Phải có cả 2 điều kiện, thiếu thì không có sản xuất hàng hóa, sản phẩm lao động không mang hình thái hàng hóa
Câu 2: Hai thuộc tính của hàng hóa. Lượng giá trị hàng hóa và các nhân tố ảnh hưởng
Hàng hóa là sản phẩm của lao động, thỏa mãn nhu cầu nào đó của con người thông qua trao đổi, mua bán.
Mỗi hàng hóa của hai thuộc tính: giá trị và giá trị sử dụng.
1. Hai thuộc tính của hàng hóa
Đầu tiên, giá trị sử dụng của hàng hóa là công dụng của vật phẩm để thỏa mãn nhu cầu của con người. Giá trị
sử dụng được quy định bởi các thuộc tính tự nhiên của hàng hóa nên nó là phạm trù vĩnh viễn. Khi KHKT
phát triển, con người tìm tòi ra nhiều thuộc tính, lợi ích của vật chất nên có ngày càng nhiều sản phẩm và giá
trị sử dụng của sản phẩm. Một sản phẩm muốn trở thành hàng hóa thì giá trị sử dụng của nó phải được thông
qua trao đổi, mua bán; nghĩa là phải có giá trị trao đổi. Trong nền KT hàng hóa, giá trị sử dụng là cái mang giá trị trao đổi.
Thuộc tính tiếp theo của hàng hóa là giá trị của hàng hóa. Trước hết, ta phải nhắc đến giá trị trao đổi của hàng
hóa. Giá trị trao đổi là mối quan hệ về lượng, là tỉ lệ giữa các giá trị sử dụng của hàng hóa. Cơ sở để hai hàng
hóa có thể trao đổi được với nhau trên thị trường là hao phí lao động xã hội để sản xuất ra hai hàng hóa đó.
Giá trị của hàng hóa là hao phí lao động xã hội cần thiết để sản xuất ra hàng hóa. Hao phí lao động xã hội bao
gồm hao phí lao động sống của người lao động trực tiếp sản xuất ra hàng hóa và hao phí lao động quá khứ để
sản xuất ra tư liệu sản xuất. Hao phí lao động xã hội càng cao thì giá trị hàng hóa càng cao, giá trị trao đổi lOMoAR cPSD| 61256830
càng cao và ngược lại. Khi KH-KT phát triển, giá trị hàng hóa có xu hướng giảm vì hao phí lao động xã hội giảm.
Như vậy, hai thuộc tính của hàng hóa là giá trị sử dụng và giá trị; 2 mặt vừa thống nhất và vừa mâu thuẫn với nhau.
2. Lượng giá trị hàng hóa
Lượng giá trị hàng hóa là lượng hao phí lao động xã hội để sản xuất ra hàng hóa, do thời gian lao động quy
định. Trên thực tế, một sản phẩm do nhiều người lao động sản xuất ra, mà mỗi người lại có trình độ tay nghề,
điều kiện sản xuất khác nhau nên thời gian lao động cá biệt khác nhau. Tuy nhiên, lượng giá trị hàng hóa lại
không được tính bằng thời gian lao động cá biệt mà phải phản ánh thời gian lao động xã hội trong ngành nên
lượng giá trị hàng hóa được đo lường bằng thời gian lao động xã hội cần thiết (thời gian để sản xuất ra một
đơn vị sản phẩm trong điều kiện trung bình của xã hội). Như vậy, lượng giá trị hàng hóa bị chi phối bởi hao
phí lao động cá biệt của nhóm cung ứng đại bộ phận sản phẩm ra thị trưởng, do hao phí lao động cá biệt của
nhóm có điều kiện sản xuất trung bình quyết định.
3. Các nhân tố ảnh hưởng đến lượng giá trị hàng hóa
Có 2 nhân tố ảnh hưởng đến lượng giá trị hàng hóa: năng suất lao động và mức độ phức tạp của lao động.
Năng suất lao động là năng lực sản xuất của người lao động. được tính bằng số lượng sản phẩm sản xuất ra
trên một đơn vị thời gian, hoặc khoảng thời gian dùng để sản xuất ra một đơn vị sản phẩm.
Năng suất lao động tăng thì thời gian lao động cá biệt giảm, vì thế mà sản lượng tăng và giá trị hàng hóa giảm.
Vì động cơ lợi nhuận, người sản xuất luôn muốn năng suất lao động tăng lên để hao phí lao động cá biệt nhỏ
hơn hao phí lao động xã hội. Các biện pháp để tăng năng suất lao động:
1 là áp dụng những tiến bộ của KH-KT vào quá trình sản xuất
2 là nâng cao trình độ tay nghề, đào tạo cho người lao động; hoặc tăng tiền lương để thu hút lao động cótrình độ cao
3 là nâng cao trình độ quản lý, tổ chức, sản xuất, hợp lý hóa các khâu trong quá trình sản xuất
4 là khai thác hiệu quả các điều kiện tự nhiên
Mức độ phức tạp hay giản đơn của lao động. Lao động được chia làm hai loại: lao động phức tạp và lao động
giản đơn. Lao động giản đơn là loại lao động mà người lao động chỉ cần điều kiện bình thường, không cần
đào tạo cũng có thể làm được. Lao động phức tạp là lao động yêu cầu người lao động có trình độ chuyên môn,
và được đào tạo bài bản mới có thể làm được. Vì thế, trong một đơn vị thời gian, lao động phức tạp tạo ra
nhiều giá trị hơn lao động giản đơn. Tuy nhiên, để đảm bảo công bằng, trong quá trình trao đổi, người ta quy
mọi lao động phức tạp thành lao động giản đơn, trung bình. Vì thế mà lượng giá trị hàng hóa được đo bằng
thời gian lao động cần thiết, giản đơn và trung bình.
Câu 3: Bản chất của tiền tệ và các chức năng của tiền tệ.
1. Bản chất của tiền tệ:
Tiền tệ là kết quả của sự phát triển của hoạt động mua bán và trao đổi hàng hóa; là kết quả của quá trình phát
triển của các hình thái giá trị hàng hóa.
Hình thái thứ nhất là hình thái giản đơn hay ngẫu nhiên. Khi ấy trao đổi mang tính ngẫu nhiên, hàng đổi lấy
hàng. Ví dụ: 1A = 1B. Giá trị sử dụng của hàng hóa A được dùng để biểu hiện giá trị của hàng hóa B được gọi
là hình thức vật ngang giá.
Hình thái thứ hai là hình thái phức tạp hay mở rộng. Khi trình độ phát triển tăng lên và nhu cầu trao đổi hàng
hóa thường xuyên hơn, một hàng hóa có thể được đặt trong mối quan hệ với nhiều loại hàng hóa khác. Ví dụ: 1A = 1B, 1A = 2C,…
Hình thái thứ ba là hình thái chung của giá trị. Khi trình độ phát triển KH-KT ngày càng tiên tiến và nhu cầu
trao đổi ngày càng phổ biến hơn, một hàng hóa trở thành vật ngang giá chung. Ví dụ: 2C hoặc 5B hoặc 3D =
1A. Tuy nhiên, vật ngang giá chung chưa thống nhất ở một loại hàng hóa nào.
Hình thái thứ tư là hình thái tiền. Khi lực lượng sản xuất phát triển, nhu cầu trao đổi hàng hóa ngày càng mở
rộng phức tạp hơn, hàng hóa làm vật ngang giá chung sẽ gây trở ngại cho việc trao đổi hàng hóa giữa các địa
phương trong một nước, hơn thế là giữa các quốc gia. Vì thế, vàng xuất hiện làm vật ngang giá chung thống
nhất cho thế giới hàng hóa. Ví dụ: 2B, 5C, 3D = 0,1g vàng.
Về bản chất, tiền tệ là một loại hàng hóa đặc biệt, là kết quả của quá trình phát triển của mua bán và trao
đổi hàng hóa, là yếu tố ngang giá chung cho thế giới hàng hóa. lOMoAR cPSD| 61256830
2. Các chức năng của tiền tệ (5 chức năng) Thước đo giá trị:
Tiền được dùng để đo lường, biểu hiện giá trị của hàng hóa khác. Giá cả là hình thức biểu hiện bằng tiền của
giá trị, giá trị là nhân tố nội sinh hình thành giá cả. Giá cả vận động lên xuống xoay quanh trục giá trị, các
nước càng phát triển thì sự vận động ấy của giá cả càng ổn định. Giá cả bị ảnh hưởng bởi các yếu tố như giá
trị hàng hóa, giá trị của tiền, ảnh hưởng của cung-cầu. Phương tiện lưu thông:
Tiền được dùng làm môi giới, trung gian của quá trình mua bán. Bản thân tiền giấy không có giá trị, chỉ là ký
hiệu của giá trị. Nhà nước ban hành và buộc XH công nhận. Cần phải tính toán thực tế thị trường để điều tiết
lượng tiền lưu thông trên thị trường cho hợp lý, nếu lượng tiền lưu thông quá lớn có thể dẫn đến đồng tiền
mất giá và khủng hoảng lạm phát. Phương tiện cất trữ:
Tiền được rút ra khỏi lưu thông đưa vào cất trữ để phục vụ cho nhu cầu tiêu dùng trong tương lai. Nên cất trữ
tiền dưới dạng tiền vàng hoặc loại tiền có tính thanh khoản cao.
Phương tiện thanh toán: Sau khi các giao dịch được thanh toán hoàn tất, phương tiện thanh toán là phương
tiện mở rộng của lưu thông. Tiền tệ thế giới:
Tiền là công cụ mua bán, thanh toán quốc tế giữa các nước với nhau
Chỉ có những đồng tiền được công nhận là phương tiện thanh toán quốc tế mới có chức năng tiền tệ thế giới
(ví dụ: đồng đô-la Mỹ)
Câu 4: Quy luật giá trị và tác động của quy luật giá trị
1. Quy luật giá trị:
Theo nội dung của quy luật giá trị, sản xuất và trao đổi hàng hóa phải dựa trên hao phí lao động xã hội cần thiết.
Trong sản xuất hàng hóa, mỗi người có hao phí lao động cá biệt riêng nhưng giá trị hàng hóa không dựa vào
hao phí lao động cá biệt mà phải phụ thuộc vào hao phí lao động xã hội. Vì vậy, muốn bán được hàng và có
lãi, người sản xuất phải tìm cách điều chỉnh hao phí lao động cá biệt sao cho phù hợp với hao phí lao động xã
hội, với mức chi phí xã hội chấp nhận.
Lưu thông hàng hóa cũng dựa trên hao phí lao động xã hội, hay trao đổi hàng hóa phải tuân theo nguyên tắc
ngang giá (giá trị bằng giá cả). Trên thị trường với vô số người mua và người bán, quá trình trao đổi chỉ diễn
ra khi thuận mua vừa bán (giá cả bằng giá trị). Khi có sự mất cân đối diễn ra, giá cả khác giá trị sẽ dẫn đến
nguyên tắc trao đổi không ngang giá. Nhưng đây chỉ là hiện tượng tạm thời vì xu hướng vận động của giá cả
vẫn là quay về cân bằng với giá trị.
Trong kinh tế hàng hóa, ngoài giá trị, giá cả còn bị chi phối bởi một số nhân tố ngoại sinh như giá trị tiền tệ,
cạnh tranh, quan hệ cung-cầu,.... Những nhân tố này làm cho giá cả tách rời khỏi giá trị dẫn đến sự vận động
lên xuống của giá cả xoay quanh trục giá trị, đây cũng chính là cơ chế hoạt động của quy luật giá trị. Thông
qua sự vận động của giá cả thị trường mà quy luật giá trị phát huy tác dụng.
2. Tác động của quy luật giá trị (3 tác động)
Thứ nhất, đó là điều phối sản xuất và lưu thông hàng hóa. Đối với sản xuất hàng hóa, quy luật giá trị giúp
phân phối lại nguồn lực sản xuất vào các ngành sao cho hợp lý để đạt được cân đối kinh tế nhất định (cân
bằng về giá, cân bằng cung cầu). Ví dụ, một ngành có cung lớn hơn cầu dẫn đến giá cả thị trường thấp hơn
giá trị dẫn đến thua lỗ cho người sản xuất. Quy luật giá trị sẽ giúp cho việc dịch chuyển dần nguồn lực từ
ngành ấy sang các ngành đang có nguồn lực kém hơn. Đối với lưu thông hàng hóa, quy luật giá trị giúp di
chuyển hàng hóa từ nơi có giá thấp sang nơi có giá cao. Ví dụ, ở thành phố A do cung lớn hơn cầu nên giá cả
p1 thấp hơn giá trị; ở thành phố B có cung bé hơn cầu nên giá cả p2 cao hơn giá trị. Quy luật giá trị sẽ giúp
cho sự dịch chuyển hàng hóa từ thành phố A sang thành phố B cho đến khi giá cả p1 bằng giá cả p2.
Thứ hai, đó là kích thích sự phát triển của lực lượng sản xuất.
Thứ ba, đó là bình chọn tự nhiên giữa những người sản xuất.
Ý nghĩa của quy luật giá trị là một mặt giúp giữ lại những nhân tố tích cực, loại bỏ những nhân tố yếu kém;
mặt khác lại làm gia tăng chênh lệch giàu nghèo, bất bình đẳng xã hội. lOMoAR cPSD| 61256830
Câu 5: Công thức chung của tư bản và mâu thuẫn của công thức chung của tư bản; điều kiện ra đời
và hai thuộc tính của hàng hóa sức lao động.
1. Công thức chung của tư bản và mâu thuẫn của công thức chung của tư bản.
Tư bản là tiền vận động theo công thức T-H-T’, trong đó T’ là tiền thu về lớn hơn T là tiền ban đầu. T’-T
= ∆T là giá trị thặng dư hay giá trị tăng thêm.
Trong lưu thông, nguyên tắc trao đổi hàng hóa phổ biến trên thị trường là trao đổi ngang giá, tức là T’=T nên
không sinh ra ∆T. Trao đổi không ngang giá chỉ là hiện tượng tạm thời và không phổ biến vì theo quy luật giá
trị, giá cả luôn có xu hướng quay trở về cân bằng với giá trị.
Một là trường hợp mua rẻ, tức là giá cả bé hơn giá trị hàng hóa, người mua được lợi. Nhưng trường hợp
này không tạo ra ∆T vì trong một hành vi mua bán khác, người mua cũng sẽ là người bán. Hai là trường hợp
bán đắt, tức là giá cả lớn hơn giá trị hàng hóa, người bán được lợi. Nhưng trường hợp này cũng không tạo ra
∆T vì trong một hành vi mua bán khác, người bán cũng sẽ là người mua. Ba là trường hợp mua rẻ, bán đắt.
Trường hợp này chỉ diễn ra ở một bộ phận người, sẽ có một bộ phận khác phải chịu thua thiệt, và tổng giá trị
sản phẩm trong xã hội không thay đổi mà chỉ đang đơn thuần phân phối lại giá trị nên ∆T không được sinh ra.
=> ∆T không được sinh ra trong lưu thông.
Ngoài lưu thông, tiền được rút ra khỏi lưu thông trở thành phương tiện cất trữ không thể tự sinh ra thêm giá
trị. Hàng hóa ngoài lưu thông được chia làm hai loại là hàng cất trữ và hàng tiêu dùng. Hàng cất trữ có xu
hướng giảm giá trị theo thời gian (ngoại trừ đồ cổ và rượu). Hàng tiêu dùng được chia làm hai loại là tư liệu
sinh hoạt và tư liệu sản xuất. Trong sản xuất, tư liệu sau sản xuất không thể tự sinh ra giá trị. Trong tiêu dùng,
tư liệu thuộc quyền sở hữu cá nhân và tiêu dùng cũng không thể sinh ra thêm giá trị. =>∆T không được sinh ra ngoài lưu thông.
∆T không được sinh ra trong lưu thông, không được sinh ra ngoài lưu thông nhưng nhà tư bản vẫn thu được
giá trị thặng dư. Mâu thuẫn này chứng tỏ ∆T chắc chắn phải được sinh ra trong lưu thông hoặc ngoài lưu thông.
2. Điều kiện ra đời và hai thuộc tính của hàng hóa sức lao động
Sức lao động là toàn bộ thể lực và trí lực của người lao động được dùng để sản xuất và tạo ra sản phẩm.
Điều kiện ra đời của hàng hóa sức lao động:
Điều kiện cần là người lao động phải được tự do thân thể, làm chủ sức lao động của bản thân; từ đó mới có
thể đem sức lao động của mình đi bán như một loại hàng hóa.
Điều kiện đủ là người lao động phải bị tước hết tư liệu sản xuất, tư liệu sinh hoạt, phải bán đi sức lao động để tồn tại.
Hai thuộc tính của hàng hóa sức lao động là giá trị và giá trị sử dụng.
Giá trị của hàng hóa sức lao động là hao phí lao động xã hội cần thiết để tạo ra sức lao động. Giá trị của hàng
hóa sức lao động là giá trị của tư liệu sinh hoạt cần thiết cho người lao động.
Giá trị của hàng hóa sức lao động được cấu thành từ giá trị của tư liệu sinh hoạt cần thiết cho người lao động,
giá trị của tư liệu sinh hoạt cần thiết cho gia đình của người lao động, phí tổn đào tạo người lao động. Giá trị
của hàng hóa mang tính tinh thần và lịch sử.
Giá trị sử dụng của hàng hóa sức lao động chỉ được biểu hiện qua quá trình sử dụng sức lao động. Đó là quá
trình sản xuất ra một loại hàng hóa nào đó, đồng thời tạo ra giá trị mới (v+m) bên cạnh giá trị của bản thân
hàng hóa sức lao động (v). Phần lớn hơn đó (m) chính là giá trị thặng dư bị chiếm đoạt bởi nhà tư bản. Như
vậy, giá trị sử dụng của hàng hóa sức lao động có tính chất đặc biệt và là nguồn gốc sinh ra giá trị thặng dư.
Đây là chìa khóa giải quyết mâu thuẫn của công thức chung của tư bản.
=> Hàng hóa sức lao động cũng vì thế mà trở thành một loại hàng hóa đặc biệt duy nhất có thể tự sinh ra thêm
giá trị sau khi tiêu dùng, là nguồn gốc của giá trị thặng dư.
Câu 6: Quá trình sản xuất giá trị thặng dư, hai phương pháp sản xuất giá trị thặng dư, giá trị thặng dư siêu ngạch.
1. Quá trình sản xuất giá trị thặng dư lOMoAR cPSD| 61256830
Sản xuất tư bản chủ nghĩa là sản xuất hàng hóa với quy mô lớn, kết hợp của 3 quá trình: sản xuất ra giá trị,
sản xuất ra giá trị sử dụng, sản xuất ra giá trị thặng dư.
Sản xuất tư bản chủ nghĩa là kết hợp tư liệu sản xuất của người sản xuất và sức lao động của người làm thuê
với 2 điều kiện. Một là người lao động làm việc dưới sự giám sát và quản lý của nhà tư bản. Hai là mọi sản
phẩm do người lao động làm ra đều thuộc quyền sở hữu của nhà tư bản.
Giả định nghiên cứu quá trình sản xuất giá trị thặng dư là nguyên tắc trao đổi ngang giá và điều kiện sản xuất
trung bình của xã hội. Giả định nguyên tắc trao đổi ngang giá cho thấy ngay cả khi mua và bán hàng hóa đúng
với giá trị hàng hóa thì vẫn có thể thu được GTTD.
Xét ví dụ sản xuất sợi từ bông: để sản xuất 10kg sợi cần 20kg bông, tổng tiền là $10. Để sản xuất được số sợi
đó, cần 6h lao động, hao mòn máy móc là $2. Tiền mua giá trị sức lao động trong ngày là $3 nên mỗi giờ
người lao động làm ra lượng giá trị là $0.5/h. Nếu công nhân làm trong 6h: Chi phí sản xuất Giá trị sản phẩm - Tiền mua bông: $10
- Giá trị của bông chuyển qua sản phẩm: $10 - Hao mòn máy móc: $2
- Giá trị của hao mòn máy móc chuyển qua
- Tiền mua giá trị SLĐ: $3 sản phẩm: $2 Tổng: $15
- Giá trị mới do sức lao động tạo ra: $3 Tổng: $15
Nếu nhà tư bản thuê người lao động trong 6h thì giá trị thặng dư không được tạo ra. Nếu công nhân làm trong 12h: Chi phí sản xuất Giá trị sản phẩm - Tiền mua bông: $20
- Giá trị của bông chuyển qua sản phẩm: $20 - Hao mòn máy móc: $4
- Giá trị của hao mòn máy móc chuyển qua
- Tiền mua giá trị SLĐ: $3 sản phẩm: $4 Tổng: $27
- Giá trị mới do sức lao động tạo ra: $6 Tổng: $30
Nếu nhà tư bản thuê người lao động trong 12h thì giá trị thặng dư thu được là $3.
GTTD là giá trị dôi ra giá trị sức lao động do người lao động tạo ra nhưng bị nhà tư bản chiếm đoạt. Kết luận:
GT sản phẩm được chia làm 2 là giá trị cũ và giá trị mới. Giá trị cũ (c=$24) là giá trị của tư liệu sản xuất (máy
móc, thiết bị, nguyên vật liệu) được bảo tồn chuyển sang sản phẩm. Giá trị mới (v+m=$6) là giá trị của sức
lao động tạo ra. Giá trị sản phẩm bằng tổng giá trị cũ và giá trị mới.
Ngày lao động của công nhân được chia làm 2 phần: thời gian lao động tất yếu và thời gian lao động thặng
dư. Thời gian lao động tất yếu là khoảng thời gian mà người công nhân sản xuất ra lượng giá trị bằng với giá
trị của sức lao động. Thời gian lao động thặng dư là khoảng thời gian người lao động sản xuất ra giá trị thặng dư.
Sau nghiên cứu này, ta thấy mâu thuẫn của công thức chung của tư bản đã được giải quyết. Trong lưu thông,
nhà tư bản mua được một loại hàng hóa đặc biệt là hàng hóa sức lao động. Sau đó anh ta đem loại hàng hóa
này vào sản xuất, nghĩa là ngoài lưu thông, để sản xuất ra GTTD cho nhà tư bản. Do đó, tiền của nhà tư bản chuyển thành tư bản.
2. Hai phương pháp sản xuất giá trị thặng dư
Có 2 phương pháp sản xuất GTTD: phương pháp sản xuất GTTD tuyệt đối và phương pháp sản xuất GTTD tương đối.
Phương pháp sản xuất GTTD tuyệt đối là phương pháp sản xuất GTTD bằng cách tăng ngày lao động vượt
quá thời gian lao động cần thiết mà năng suất lao động, giá trị sức lao động, thời gian lao động tất yếu không
đổi. Vì thế mà thời gian lao động thặng dư tăng lên dẫn đến tỷ suất giá trị thặng dư tăng lên, và giá trị thặng
dư tuyệt đối tăng lên. Giới hạn của phương pháp này là độ dài ngày tự nhiên có hạn, sức khỏe tinh thần và thể
chất của người lao động có hạn và sự phản kháng của người công nhân. Điều này dẫn đến việc nhà tư bản
không thể kéo dài vô hạn ngày lao động. Thay vào đó, họ tăng cường độ lao động/ mức độ khẩn trương bằng
cách bóc lột hoặc giảm lương hoặc giảm đơn giá tiền lương tính trên 1 sản phẩm.
Phương pháp sản xuất GTTD tương đối là phương pháp sản xuất GTTD bằng cách giảm thời gian lao động
tất yếu nhờ việc tăng năng suất lao động. Từ đó, thời gian lao động thặng dư giảm xuống mà điều kiện ngày lOMoAR cPSD| 61256830
lao động không thay đổi. Để giảm thời gian lao động tất yếu thì cần phải giảm giá trị sức lao động. Để giảm
giá trị sức lao động thì phải giảm giá trị tư liệu sinh hoạt cần thiết của người lao động. Và để giảm giá trị tư
liệu sinh hoạt cần thiết của người lao động thì phải tăng năng suất lao động của tất cả các ngành nói chung,
các ngành sản xuất tư liệu sản xuất cho tư liệu sinh hoạt của người lao động nói riêng.
Giai đoạn đầu của chủ nghĩa tư bản thì nhà tư bản sử dụng phương pháp sản xuất GTTD tuyệt đối là chủ yếu.
Càng về sau, cùng với sự phát triển của KH-KT, phương pháp sản xuất GTTD tương đối lại là chủ yếu. Hai
phương pháp này được nhà tư bản kết hợp sử dụng để nâng cao trình độ bóc lột công nhân, gia tăng GTTD.
Cùng với sự phát triển của tự động hóa, nhà tư bản vẫn tiếp tục tăng cường độ lao động nhưng dưới hình thức
căng thẳng về trí lực nhiều hơn là thể lực.
3. Giá trị thặng dư siêu ngạch
GTTD siêu ngạch là phần giá trị thặng dư thu được do tăng năng suất lao động, làm cho giá trị cá biệt của
hàng hóa thấp hơn giá trị thị trường của nó.
Giá trị thặng dư siêu ngạch không chỉ phản ánh mối quan hệ bóc lột giữa nhà tư bản và người lao động mà
còn thể hiện sự cạnh tranh giữa các nhà tư bản với nhau.
GTTD siêu ngach vừa có tính phổ biến trong toàn xã hội, vừa có tính tạm thời đối với các nhà tư bản nói riêng.
GTTD siêu ngạch có tính phổ biến trong xã hội vì mục tiêu theo đuổi cuối cùng của các nhà tư bản luôn là
GTTD siêu ngạch, từ đó đẩy mạnh phát triển KH-KT để nâng cao NSLĐ cá biệt. Ngoài ra, luôn tồn tại những
nhà tư bản có GTTD siêu ngạch, tức là có trình độ phát triển, điều kiện sản xuất hơn các nhà tư bản khác.
GTTD siêu ngạch có tính tạm thời đối với các nhà tư bản nói riêng vì trong thời điểm này GTTD siêu ngạch
có thể mất đi ở tư bản này nhưng lại xuất hiện ở nhà tư bản khác. Hơn thế, GTTD siêu ngạch ở thời điểm này
nhà tư bản này không có vì bị bắt kịp kỹ thuật nhưng anh ta rồi sẽ cố gắng cải tiến kỹ thuật, đẩy mạnh sản
xuất để đạt được GTTD siêu ngạch sau này. lOMoAR cPSD| 61256830
Câu 7: Tích lũy tư bản và quy luật chung của tích lũy.
- Khái niệm: Tích lũy tư bản là sự chuyển hóa một phần GTTD thành tư bản- Động cơ của tích lũy tư bản:
+ Nhằm tái sản xuất mở rộng – sản xuất với quy mô mở rộng
+ Nhằm cải tiến kỹ thuật, đổi mới máy móc, công nghệ => doanh nghiệp tích lũy vốn đầu tư để chuẩn bị cho
sự đổi mới công nghệ trong tương lai.
- Bản chất của tích lũy tư bản là tư bản hóa GTTD
+ Là quá trình tái sản xuất mở rộng TBCN thông qua việc chuyển hóa GTTD thành tư bản phụ thêm để tiếp
tục mở rộng quy mô sản xuất thông qua việc mua thêm tư liệu sản xuất và sức lao động.
+ Phần tích lũy được sử dụng làm nguồn vốn cho các chu kỳ sản xuất tiếp theo.
- Tổng vốn của doanh nghiệp nhờ tích lũy tăng lên theo thời gian, tỷ trọng vốn đầu tư ban đầu trong tổngvốn
k của doanh nghiệp sẽ giảm xuống. C.Mác đã từng nói: “Tư bản ứng trước chỉ là giọt nước trong dòng sông
tích lũy ngày càng lớn.”
- Biện pháp gia tăng quy mô tích lũy tư bản: + Tăng tỉ lệ thắt lưng buộc bụng, tiết kiệm
+ Tăng GTTD (m) – gia tăng bóc lột người lao động, biến quỹ tiêu dùng của người lao động thành quỹ tiêu dùng của nhà tư bản.
- Nhân tố ảnh hưởng đến tích lũy tư bản (giả sử nếu tỷ lệ tích lũy và tiêu dùng đã được xác định => quy môtích
lũy tư bản ảnh hưởng đến GTTD):
+ Trình độ khai thác SLĐ => tỷ suất giá trị thặng dư tăng lên => GTTD tăng lên => tích lũy tư bản tăng lên.
+ Nâng cao trình độ lao động => giá trị tư liệu sinh hoạt giảm => giá trị SLĐ giảm => giảm thời gian lao động tất yếu => GTTD tăng.
+ Sử dụng máy móc hiệu quả (nhà tư bản không cần đầu tư nhiều vào máy móc => quỹ khấu hao tăng lên có
thể dùng để mua sức lao động)
+ Đại lượng tư bản ứng trước
- Quy luật chung của tích lũy tư bản:
+ Quy luật tích lũy tư bản dẫn đến hiện tượng tích tụ và tập trung tư bản:
• Tích tụ tư bản là sự tăng thêm quy mô của TB cá biệt dẫn đến sự tăng thêm của TBXH do GTTD biến
thành tư bản ứng thêm. Đây là kết quả trực tiếp của tích lũy tư bản.
• Tập trung tư bản là sự tăng thêm quy mô của TB cá biệt nhưng không làm tăng thêm quy mô của
TBXH do hợp nhất các TB cá biệt vào 1 chỉnh thể tạo thành TB cá biệt lớn hơn
+ Làm thay đổi cấu tạo hữu cơ của tư bản
• Cấu tạo hữu cơ là cấu tạo giá trị được quyết định bởi cấu tạo kỹ thuật và phản ánh sự biến đổi của cấu
tạo kỹ thuật của tư bản. (c/v)
• Cấu tạo hữu cơ là tỷ lệ của tư bản bất biến với tư bản khả biến
Cấu tạo hữu cơ có xu hướng tăng do cấu tạo kỹ thuật có xu hướng tăng.
+ Chênh lệch giàu nghèo sinh ra từ quy luật giá trị , của sự đào thải tự nhiên. Qua quá trình tích lũy, sự chênh
lệch này ngày càng sâu sắc. Người lao động từ nghèo tương đối mà còn nghèo tuyệt đối so với giới chủ vì bị
mất việc, bị công nghệ mới thay thế.
Câu 8: Lợi nhuận, tỷ suất lợi nhuận, cạnh tranh trong nội bộ ngành và cạnh tranh giữa các ngành 1. Lợi nhuận
Lợi nhuận là hình thức biểu hiện của giá trị thặng dư nhưng lại biểu hiện ra bên ngoài như là kết quả của tài
kinh doanh của nhà tư bản hay vốn đầu tư của nhà tư bản đem lại.
Lợi nhuận = Doanh thu – Chi phí sản xuất hay p= (c+v+m) – (c+v) Nguyên
nhân dẫn đến sự chuyển hóa từ GTTD (m) sang lợi nhuận (p): 1
là vì lợi nhuận p được sinh ra bởi bộ phận v sức lao động nay được thay thế bởi tổng chi phí sản xuất
c+vnên nhiều người cho rằng p là con đẻ của tư bản ứng trước. 2
là nhà tư bản chỉ cần điều chỉnh giá bán cao hơn giá trị hàng hóa là thu được lợi nhuận. Nếu giá cả=giá
trịthì p=m, giá cả>giá trị thì p>m, giá cảtổng giá trị tức tổng lợi nhuận bằng tổng giá trị thặng dư. Sự thống nhất giữa lợi nhuận và giá trị thặng dư
càng che giấu bản chất bóc lột của nhà tư bản.
2. Tỷ suất lợi nhuận:
Tỷ suất lợi nhuận (p’) là tỷ lệ phần trăm giữa giá trị thặng dư và toàn bộ tư bản ứng trước: lOMoAR cPSD| 61256830 p’=m/(c+v).100%
Nó phản ánh hiệu quả của việc đầu tư sinh lời
Các nhân tố ảnh hưởng đến tỷ suất lợi nhuận bao gồm:
1 là tỷ suất giá trị thặng dư. m’ càng cao thì p’ càng cao
2 là cấu tạo hữu cơ của tư bản (c/v) càng cao thì p’ càng thấp với điều kiện là m GTTD không đổi
3 là tốc độ chu chuyển của tư bản càng cao thì giá trị thặng dư thu về trên 1 năm càng lớn nên tỷ suất lợinhuận tăng.
4 là tiết kiệm tư bản bất biến, giảm c thì tổng chi phí sản xuất c+v giảm dẫn đến p’ tăng.
3. Cạnh tranh trong nội bộ ngành
Cạnh tranh trong nội bộ ngành là cạnh tranh giữa những người sản xuất cùng một sản phẩm nhằm giành được
điều kiện sản xuất tốt nhất để có được lợi nhuận siêu ngạch. Các nhà tư bản đẩy mạnh cải tiến kĩ thuật, nâng
cao NSLĐ làm cho giá trị cá biệt của hàng hóa thấp hơn giá trị xã hội, giá trị thị trường. Kết quả của quá trình
này đối với riêng nhà tư bản là thu được nhiều lợi nhuận hơn, nhiều giá trị thặng dư siêu ngạch hơn. Còn đối
với toàn xã hội, quá trình này dẫn đến sự ra đời của giá trị thị trường (giá trị xã hội) của từng loại hàng hóa:
trong điều kiện kĩ thuật phát triển không ngừng thì giá trị thị trường cũng có xu hướng giảm.
4. Cạnh tranh giữa các ngành
Cạnh tranh giữa các ngành là cạnh tranh giữa những người sản xuất thuộc các ngành khác nhau nhằm tìm nơi
có lợi cho đầu tư nhất (tỷ suất lợi nhuận cao nhất). Cùng một lượng vốn đầu tư nhưng vì cấu tạo hữu cơ của
mỗi ngành là khác nhau nên tỷ suất lợi nhuận cũng khác nhau. Các nhà sản xuất dịch chuyển vốn đầu tư của
mình từ ngành có tỷ suất lợi nhuận thấp sang ngành có tỷ suất lợi nhuận cao. Sự dịch chuyển này làm cho sản
phẩm của ngành có tỷ suất lợi nhuận cao tăng lên, giá cả giảm xuống, tỷ suất lợi nhuận giảm xuống. Nó làm
thay đổi tỷ suất lợi nhuận cá biệt của từng ngành và chỉ tạm dừng khi tỷ suất lợi nhuận của các ngành tương
đương nhau. Từ đó xuất hiện khái niệm tỷ suất lợi nhuận bình quân.
Tỷ suất lợi nhuận bình quân là tỷ lệ phần trăm giữa tổng giá trị thặng dư và tổng vốn đầu tư của nhà tư bản vào các ngành.
Lợi nhuận bình quân là số lợi nhuận bằng nhau của những nhà tư bản khác nhau, bất kể cấu tạo hữu cơ của tư bản có như nào.
Câu 9: Nguồn gốc, bản chất của tư bản thương nghiệp. Cơ sở xác định giá bán TBCN-TBTN. Cho ví dụ minh họa
1. Nguồn gốc, bản chất của tư bản thương nghiệp a. Khái niệm
TBTN là tư bản chuyên môn hóa trong lĩnh vực lưu thông hàng hóa.
Trong tư bản chủ nghĩa, TBTN là một bộ phận tách rời của TBCN, phục vụ quá trình lưu thông hàng hóa của TBCN.
Lợi nhuận thương nghiệp (pTN = giá bán – giá mua) b.
Nguồn gốc, bản chất của TBTN
- Phong kiến: TBTN sinh ra nhờ mua rẻ, bán đắt, nhờ lừa người sản xuất mà có
- Tư bản chủ nghĩa: TBTN sinh ra một phần từ giá trị thặng dư thu được trong quá trình sản xuất, một phầndo
TBCN nhượng lại vì TBTN đảm nhận khâu bán hàng (khâu mua tư liệu sản xuất) cho TBCN.
=> Nguồn gốc: là do một phần lợi nhuận TBCN nhượng lại
Bản chất: là do GTTD do người lao động tạo ra trong quá trình sản xuất.
2. Cơ sở xác định giá bán TBCN – TBTN
TBCN nhượng lại một phần GTTD bằng cách bán hàng hóa với giá thấp hơn giá trị hàng hóa, TBTN bán lại
hàng hóa đó cho người tiêu dùng với giá bằng giá trị hàng hóa.
TBCN muốn bán cho TBTN với giá càng cao càng tốt, TBTN muốn mua lại với giá càng thấp càng tốt. Tuy
nhiên lợi nhuận TBCN nhượng lại cho TBTN không thể bằng lợi nhuận TBCN thu được sau khi nhượng vì
lượng vốn bỏ ra của TBCN lớn hơn TBTN nhiều lần. Để 2 bên hài lòng và tiến hành quan hệ mua bán được
thì tỷ suất lợi nhuận cả hai bên phải bằng nhau bằng tỷ suất lợi nhuận bình quân. 3. Ví dụ minh họa lOMoAR cPSD| 61256830
Một TBCN ứng ra 1000 tư bản để sx hàng hóa, cấu tạo hữu cơ tư bản là 4/1, tỷ suất giá trị thặng dư là 125%. TBTN ứng ra 250 tư bản. k=800c+200v m=250
g=1250 => TBCN bán ra thị trường với giá 1250 thu được lợi nhuận là 250
Tỷ suất lợi nhuận công nghiệp = tỷ suất lợi nhuận thương nghiệp = tỷ suất lợi nhuận bình quân = 250/(1000+250).100%=20%
Giá bán TBCN bán cho TBTB là 1000+1000.20%= 1200 và lợi nhuận CN là 200
Giá bán TBTN bán ra thị trường bằng giá trị hàng hóa là 1250 => lợi nhuận TN là 1250-1200=50.