



















Preview text:
ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
TIỂU LUẬN KẾT THÚC MÔN
Đề : Dung thông Tam giáo qua tư tưởng Ngô Thì Nhậm
Họ và tên : Ninh Văn Doanh Msv : 20032071 Mục lục : Mở đầu :
Chương 1 : bối cảnh kinh tế xã hội Việt Nam thế kỷ XVI-XVIII
và tiền đề tư tưởng dung thông của Ngô Thì Nhậm
1.1. Khái quát bối cảnh Việt Nam thế kỷ XVI-XVIII 1.1.1.
Bối cảnh chính trị - xã hội 1.1.2.
Bối cảnh kinh tế - xã hội 1.1.3.
Bối cảnh văn hóa – giáo dục
1.2. Tiền đề tư tưởng dung thông của Ngô Thì Nhậm 1.2.1. Nho giáo ( Tống nho )
1.2.2.------------------------------------------------------------- Phật giáo ( Thiền tông ) 1.2.3. Đạo lão – trang
Chương 2 : Những quan niệm về dung thông tam giáo trong tư
tưởng của Ngô Thì Nhậm
2.1. Dung thông tam giáo trong quan niệm về thế giới
2.2 Dung thông tam giáo trong quan niệm về người
2.3 giá trị và hạn chế trong tư tưởng Ngô Thì Nhậm 1 Tổng kết : MỞ ĐẦU :
Nho – phật đạo là ba dòng phái tư tưởng , ba học thuyết , bao tôn giáo không
bắt nguồn từ từ việt nam những cùng tồn tại và phát triển cho nhau trong hệ tư
tưởng người Việt . Nho Phật Đạo là những học thuyết ít nhiều khác nhau về nội
dung , tính chất ,chức năng và vai trò những sự bổ sung ,tác động và ảnh hưởng lẫn
nhau của tam giáo này đã trở thành hiện tượng quen thuộc không chỉ ở việt nam
mà còn có ở các nước đông Á
Dung thông tam giáo về cơ bản là sự tồn tại hòa bình , ảnh hưởng qua lại
đan xen với nhau tạo thành một hợp thể thống nhất . Nội dung tích chất vai trò của
sự dung thông này lại khác nhau theo tùy giai đoạn lịch sử . Như trong thời Lý –
Trần tam giáo để củng cố , phát triển đất nước , đoàn kết chống giặc ngoại xâm ,
còn ở thế kỷ XVII-XVIII là để chỉnh đốn nhân tâm , giải tỏa bế tắc , mẫu thuẫn xã hội .
Ngày nay , trong bối cảnh toàn cầu hóa , nước ta không chỉ hội nhập về kinh
tế mà còn hội nhập về mặt văn hóa và giao lưu về tư tưởng . Vì thế , việc hiểu và
giữ gìn những đặc trưng tư tưởng văn hóa của phương Đông và Việt Nam là yếu tố
quan trọng . Dung thông tam giáo của Ngô Thì Nhậm còn góp phần nhận thức rõ
được sự mềm dẻo , linh hoạt trong bối cảnh rối loạn , suy yếu chế độ phong kiến Việt Nam thế kỷ XVIII. 2
CHƯƠNG I : Bối cảnh kinh tế - xã hội ở Việt Nam ở thế kỷ XVI-
XVIII và tiền đề tư tưởng tam giáo của Ngô Thì Nhậm
1.1Khái quát bối cảnh Việt Nam thế kỷ XVI-XVIII
1.1.1 Bối cảnh chính trị - xã hội
Nước ta từ khi Ngô Quyền đánh đuổi được quân Nam Hán , vua Đinh Tiên
Hoàng dẹp yên được loạn mười hai sứ quân lập thành một nhà nước tự chủ được
gần 600 năm . Đến đầu thế kỷ XVI trong nước trở nên loạn lạc , nhà Mạc nhân dịp
làm sự thoán đoạt . Nhà nước tập quyền phong kiến Lê Sơ bước vào thời kỳ suy
thoái và mục nát . Ở triều đình , các phe phái tranh dành quyền lực và địa vị .
Nhà nước phong kiến Lê sơ được hoàn chỉnh vào thời Lê Thánh Tông trị vì
đã tạo ra một cơ chế quan lieu hành chính khá nặng nề . Triều đình Lê Thánh Tông
cho dù ngăn giảm được khuynh hướng quý tốc hóa những lại xây dựng chế độ
quan liêu hành chính ngày càng cồng kềnh , phức tạp , đã tạo ra một lực lượng nhà
nước – giai cấp . Sang thế kỷ XVI , nhà nước này không đủ sức khắc phục kinh tế -
xã hội mà càng làm mâu thuẫn xã hội càng trở lên gay gắt , đè nặng lên đời sống
nhân dân . Từ đó các cuộc khởi nghĩa nông dân nổ ra những kết cục thất bại nhưng
làm cho nhà nước Lê sơ ngày càng them suy yếu và dần đi đến tan rã
Năm 1522 , Mạc Đăng Dung giết vua Lê Chiêu Tông và bức hại vua Lê
Cung Hoàng năm 1526 . Nhà Lê sơ tồn tại vừa thì bị nhà Mạc thay thế . Mạc Băng
Dung cướp ngôi đã gây ra sự phản ứng dữ dội , có người khởi binh chống lại , có
kể chửi mắng , có người thì tìm cái chết “ khí tiết “ ( phản ứng của các sĩ phu nhà
nho ) . Nhà Mạc tồn tại trong thế trênh vênh , yếu đuối , tuy nhiên thì nhà Mạc tổ
chức nhiều khoa thin ho học để tạo ra tầm lớp sĩ phu mới làm chỗ dựa 3
Việc xác lập vương triề nhà Mạc không những không giải quyết được những
mẫu thuẫn xã hội , không chấm dứt được nội chiến giữa các tập đoàn phong kiến
mà còn làm cho cuộc nội chiến đó trở nên gay gắt . Năm 1533 tướng cũ của nhà
Lê là Nguyễn Kim lập con vua Lê Chiêu Tông lên làm vua , lấy danh nghĩa là khôi
phục nhà Lê để tập hợp lực lượng chống lại nhà Mạc . Nguyễn Kim bị đầu độc
chết con rể nguyễn Kim lên thay là Trinh Kiểm . Từ đó cuộc chiến tranh giữa
Trinh và Mạc là cuộc chiến 2 nhà nước phong kiến nổ ra . Sức người , sức của xã
hội bị tiêu hủy , sản xuất bị sút kém .
Năm 1599 , vua Lê Thế Tông chết triều đại Hậu Lê suy tần và là sự khởi đầu
cho cuộc đấu tranh giữa 2 phe quan lại Trinh – Nguyễn có thế lực tranh giành ảnh
hưởng chính trị dẫn đến phân chia Nam – Bắc . Cuộc chiến này tiếp tục lôi kéo
nhân dân vào vòng binh lửa , đất nước chia cắt làm hai miền . Từ đó gây ra nạn đói
thường xuyên , sưu cao thuế nặng , quan lại cường bào áp bức , gieo những thảm
họa , mầm mống đau khổ của nhân dân , các mâu thuẫn càng ngày càng gia tăng ,
trật tự , kỷ cương trong xã hội ngày càng bị vi phạm nghiêm trọng
Từ 1739 sau nạn đói trầm trọng , phong trào đấu tranh của nông dân đằng
ngoài nổi nên càng ngày càng rầm rộ . phong trào nửa sau thế kỷ XVIII đấu tranh
quyết liệt những tất cả đều bị thất bại , bị nhấn chìm trong biển máu
Năm 1770 về sau , an hem nhà Tây sơn là Nguyễn Nhạc , Nguyễn Huệ ,
Nguyễn Lữ cùng người dân nghèo , những người buôn nhỏ … nổi lên lật đổ chính
quyền Trinh – Nguyễn bước đầu thống nhất đất nước
1.1.2. Bối cảnh kinh tế - xã hội
Trong lúc các tập đoàn phong kiến đang tranh giành quyền vị , đất nước bị
phân chia mặc dù tổn hại nhiều sức lực và của cải trong chiến tranh những vẫn 4
không ngừng cần cù lao động , tạo dựng cuộc sống . Kinh tế thế kỷ XVI- XVIII
nhìn chung vẫn phát triển trong mức độ ổn định . Trong làng xã , các hộ gia đình
nông dân tư hữu ngày càng phát triển . Ở đằng ngoài nhiều vùng đất khai hoang
được mở rộng , xóm làng mọc lên nhiều . Các vùng không có chiến tranh thì vẫn
ổn định . Ở đàng trong nhờ việc khai khẩn đất hoang , thường xuyên mở rộng các
vùng : Thuận Hóa , Quảng Nam đã trở thành khu kinh tế phát triển
Nét mới trong lĩnh vực kinh tế Việt Nam thế kỷ XVII- XVIII là phát triển
mạnh kinh tế hàng hóa . Gia tăng dân số , tiến bộ về hệ thống thủy lợi và những kỷ
thuật canh tác đã tạo nên một lực lượng lao động dư thừa , tạo điều kiện thủ công
nghiệp tách khỏi nông nghiệp từ đó xuất hiện nhiều chợ làng- chợ phiên . Với nền
kinh tế hang hóa nhỏ , phân tán tiếp tục duy trì và củng cố nền kinh tế tiểu nông ,
đã làm cho kết cấu kinh tế của phần lớn làng Việt không còn đơn thuần là nông
nghiệp mà là nông -công- thương-nghiệp , lấy nông nghiệp làm cơ sở , công
thương là bổ sung quan trọng
Vào thế kỷ XVII-XVIII xuất hiện nhiều thành thị , những nét nổi bật của
hưng thịnh đô thị này là sự phát triển toàn diện của những đô thành như : Thăng
Long, Hội An , Phú Xuân … Các đô thị kết cấu đa nguyên đủ bốn thành phần cư
dân : sĩ , nông , công , thương hợp thành thị dân
Thế kỷ XVI- XVIII là một giai đoạn đặc biệt trong đời sống kinh tế Việt .
Đây là những thế kỷ đầy biến động , vừa là của sự suy thoái , vừa là của sự trỗi dậy
. Ở mức độ khác nhau , những yếu tố mới trong nền kinh tế đó đã có những tác
động tích cực , kích thích thúc đẩy nền kinh tế quốc dân 5
1.1.3 Bối cảnh văn hóa – giáo dục
Các nhân tố kinh tế chính trị đã góp phần quy định chủ yếu mọi mặt đời
sống văn hóa tư tưởng của xã hội thời kỳ này . nho giáo vẫn là công cụ chủ yếu của
các tập đoàn phong kiến , được các tập đoàn phong kiến sử dụng để xây dựng
chính quyền phong kiến và củng cố , duy trì trật tự xã hội . giáo dục và thi cử nho
giáo vẫn lấy nội dung trong Tứ thư , Ngũ Kinh .
Cấu trúc cơ bản của đời sống tinh thần người việt từ thế kỷ XVI-XVIII vẫn
là sự chung sống đan xen những tín ngưỡng dân gian với tam giáo : Nho- Phật –
Đạo . Tuy nhiên lúc này xuất hiện nhiều khunh hướng mới , sắc thái mới , quan hệ
vị thế của từng tôn giáo xog xã hội được sắp xếp lại
Trong thời Mạc , nho giáo dù vẫn được coi là cái “ đạo trị nước” chủ yếu ,
nhưng giái cấp phong kiến thống trị , tầng lớp nho sĩ đã giảm sút niềm tin vào nho
giáo và biện hộ của nho giáo đối với những nguyên tắc cơ bản của chế dộ quân chủ
tập quyền . Lúc này , nho giáo tỏ ra không đủ sức giúp nhà vua trị nước , yên dân ,
dưa mọi người tới cảnh thái bình trị , vua sang , tôi hiền , nhân dân hòa mục
Trong thời Trịnh Nguyễn vẫn được duy trì như một hệ tư tưởng chính thống
nhà nước của hai miền . Tuy nhiên , ảnh hưởng của nho giáo ở đàng ngoài mạnh
hơn so với đàng trong . Nhà nước Lê – Trịnh đã cho thi hành một loạt các biện
pháp nhằm chấn chỉnh , củng cố và tăng cường vai trò chi phối của nho giáo trong đời sống xã hội
Sang thế kỷ XVIII khoa cử mở rông thêm nữa , các học vị ở trường thi
Hương trở thành hàng hóa , vì vậy từ người làm ruộng , người đi buôn , kẻ làm
thầy bói … làm đơn nộp tiền đi thi . khoa cử thế kỷ XVIII bị người đương thời chê
là nông cạn , giáo điều , sáo rỗng 6
Nếu như Nho học thời Lê sơ là một học thuyết chính thống giáo điều , bài
trừ phật giáo thì qua thời Lê – Trịnh nho giáo mất dần thế độc tôn , để lại một
khoảng trống trong đời sống tư tưởng , tâm linh của nhân dân . Phật giáo lúc này
chưa được nhà nước chính thức thừa nhận địa vị và vai trò với nho giáo . Trên thực
tế thì Phật giáo đã thu hút được đông đảo tín đồ đủ mọi tầng lớp . xuất hiện nhiều
gia đinh lưỡng giáo “ chồng nho , vợ phật “ thời kỳ này các công trình phật giáo
được xây dựng nhiều đa phần cac quỹ tài trợ của các quý tộc . Từ đó phật giáo
ngày càng được phát triển
Đạo giáo trong thế kỷ XVI-XVIII cũng được truyền bá rộng rãi . giới nho sĩ
tiếp cận với đạo là đạo lão Trang , với những quan niệm vạn vật biến hóa , thái độ
vô vi , tư tưởng thanh nhàn ẩn dật . cùng với chùa chiền , các đạo quán đã được
trùng tu và xây dựng ở nhiều nơi
Những lĩnh vực hoạt động văn hóa và tinh thần trong thời kỳ này đã tạo cho
các nhà tư tưởng đương thời một mặt bằng để tư duy và thể nghiệm . tuy đề cao
nho giáo những lúc này nho giáo không tách biệt với phật và lão , càng không đối
lập nhau . trái lại nho giáo đã kết hợp phật lão vào học thuyết của mình . Hiện
tượng tam giáo trên cơ sở nho giáo ngày càng trở thành xu hướng lúc bấy giờ . Tuy
nhiên , chủ trương tam giáo đồng nguyên đã có từ thời lý trần , vì mỗi học thuyết
đều có phạm vi ảnh hưởng ít nhiều khác nhau , đều có mặt tích cực và hạn chế của nó . 7
1.2 Tiền đề tư tưởng dung thông của Ngô Thì Nhậm
1.2.1 Nho giáo ( Tống nho )
Nho giáo vào Việt Nam, có thể nói là từ khi người Hán đến đất ta từ trước
Công nguyên. Nhưng việc truyền bá có nề nếp là từ thế kỷ I sau Công nguyên.
Theo sách Đại Việt sử ký toàn thư, vào thời kỳ đầu công nguyên, hai viên thái thú
quận Giao Chỉ và Cửu Chân là Tích Quang và Nhâm Diên đã tích cực “dựng học
hiệu” để dạy lễ nghĩa, tức mở trường dạy Nho học và truyền bá phong tục Hán tộc.
Nho giáo vào Việt Nam chính thức từ đây. Đến thế kỷ thứ II, khi Sĩ Nhiếp làm thái
thú Giao Chỉ thì việc học Nho ở nước ta đã tương đối phổ biến. Nhiều sĩ phu Trung
Quốc đến mở trường dạy Nho học. Nhưng Nho giáo du nhập vào nước ta chủ yếu
là do bọn thống trị Trung Quốc áp đặt. Mục đích của việc truyền bá Nho học ở
nước ta lúc bấy giờ là để đào tạo nên những người làm việc cho chính quyền Hán xâm lược.
Người Việt thời kỳ này cũng tham gia học, một số học Nho giáo là để sử
dụng, nhưng cũng có một số người học Nho là để nắm được kiến thức đương thời,
để có thêm cơ sở suy nghĩ về tương lai của đất nước. Tình hình trên làm cho người
Giao Châu dần dần quen với Nho giáo, rồi từ đó có sự thay đổi trong nhận thức,
trong thái độ 32 của họ đối với Nho giáo: từ phản ứng đến tiếp thụ, từ xa lạ đến
gần gũi, từ công cụ của kẻ bên ngoài trở thành công cụ của bản thân mình.
Nửa cuối thế kỷ X dưới triều đại Ngô, Đinh, Tiền Lê, Nho giáo ở nước ta
vẫn chưa có vai trò gì đáng kể. Nhưng bước sang thế kỷ XI khi vương triều Lý
được thành lập, việc xây dựng, củng cố chế độ phong kiến về mọi mặt và phát triển
nền văn hóa phục vụ cho chế độ phong kiến trở thành một yêu cầu cấp bách, thì
giai cấp phong kiến cần phải đề cao Nho giáo và sử dụng Nho giáo như một công
cụ chủ yếu, một lợi khí sắc bén trên lĩnh vực chính trị, văn hóa và tư tưởng. Song 8
phải thấy rằng, Nho giáo du nhập vào Việt Nam không hoàn toàn là Nho nguyên
thủy, mà chủ yếu là Hán Nho và Tống Nho.
Ngô Thì Nhậm cũng không nằm ngoài ảnh hưởng của Tống Nho, bởi ông
không chỉ sinh ra trong gia đình vong tộc nhiều đời theo học Nho và đỗ đạt làm
quan, mà bản thân ông cũng là một người ham học và đạt nhiều 34 thành tựu trong
thi cử Nho học. Ngô Thì Nhậm đã kế thừa quan niệm về “Thái cực” của Chu Đôn
Di trong Thái cực đồ thuyết: Chu Đôn Di đưa ra học thuyết về quá trình phát triển
của thế giới một cách giản ước nhưng có hệ thống hơn. Ngô Thì Nhậm tiếp thu tư
tưởng về lý, khí của Trình Di, Trình Hạo và Chu Hy, tổng hợp các quan niệm trên
của các nhà Lý học Tống Nho để tạo thành quan niệm của ông về thế giới vô cùng đặc sắc.
1.2.2 Phật giáo ( Thiền Tông )
Phật giáo du nhập vào Việt Nam từ rất sớm (khoảng thế kỷ III trước công
nguyên) là Phật giáo nguyên thủy từ Ấn Độ sang và đặc trưng của nó là 36 theo
dòng Đại thừa. Tuy nhiên, thế giới quan và nhân sinh quan của Phật giáo với người
Việt đầu thời kỳ Bắc thuộc là một hiện tượng xa lạ, hơn nữa nó lại được truyền bá
bởi các nhà sư Ấn Độ là những người có hình thể, vóc dáng khác người Việt thì sự
xa lạ đó càng tăng lên gấp bội. Thế nhưng, Phật giáo vẫn có thể làm quen và xâm
nhập vào đất Việt là do hành vi của những người hành đạo bằng thái độ từ bi, nhẫn
nhục, không nề hà trong việc cưu mang người, thành thật cứu vớt người,… đã tác
động và cảm hóa được người Việt rồi từ đó dẫn dắt họ vào làm quen với nội dung giáo lý của Phật.
Người tiếp thu Phật giáo đầu tiên là các nhà buôn, nhưng hiểu được đầy đủ
Phật giáo lại là người tri thức. Công lao đầu tiên trong việc truyền bá Phật giáo vào
Việt Nam là thuộc về các nhà sư Ấn Độ, Trung Á và Trung Quốc. Sự ra đời của 9
Thiền học Thảo Đường đời Lý Thánh Tông trị vì là sự biểu hiện của sự kết hợp
giữa con đường giải thoát tự lực và con đường giải 37 thoát bằng tha lực, giữa
Thiền Tông và Tịnh Độ Tông. Thiền phái này gắn liền với tên tuổi người sáng lập
ra nó là Thiền sư Thảo Đường. Chính vua Lý Thái Tông là đệ tử đầu tiên của
Thiền phái này. Nếu ở thời Lý, sự phát triển của Thiền Tông đã làm nảy sinh ra
phái Thảo Đường thì đến đời Trần, trên nền tảng của Thiền tông, đã xuất hiện phái Trúc Lâm.
Ngô Thì Nhậm tiếp thu và chịu ảnh hưởng trực tiếp những giáo lý Thiền
Trúc Lâm và được người đời coi là “đệ tứ tổ” của Thiền phái này, kế thừa quan
niệm của ba vị tổ Thiền Trúc Lâm 1.2.3 Đạo Lão –Trang
Cùng với Nho và Phật, Đạo Lão - Trang và Đạo giáo cũng được truyền sang
Việt Nam và trở thành một phần trong tư tưởng và quan niệm của người Việt.
Nhưng Đạo giáo là một tôn giáo của Trung Quốc, nó dựa một cách hình thức vào
khái niệm “Đạo” của Lão Tử và thờ Hoàng Đế - Lão Tử sau khi thần thánh hóa
Lão Tử. Đạo giáo có hai hình thái là Đạo giáo thần tiên và Đạo giáo phù thủy đều
ảnh hưởng tới người Việt từ thời kỳ Bắc thuộc. Tuy nhiên, Ngô Thì Nhậm không
đồng tình và thậm chí là phủ nhận các thứ đạo làm phép mê muội, những việc quái
dị, làm mê hoặc quần chúng, thần thánh hóa làm cho con người ta không sáng suốt
của Đạo giáo. Ngược lại, ông chịu ảnh hưởng từ các tư tưởng về thế giới quan và
nhân sinh quan của Đạo Lão – Trang. 10
CHƯƠNG 2 : Những quan niệm về dung thông tam giáo trong tư
tưởng của Ngô Thì Nhậm
2.2 Dung thông tam giáo trong quan niệm về thế giới
Trúc Lâm tông chỉ nguyên thanh là một tác phẩm thuộc thể loại luận thuyết
triết học. Nhan đề của tác phẩm Trúc Lâm tông chỉ nguyên thanh có nghĩa là giáo
lý chân truyền của Thiền phái Trúc Lâm, do đó tư tưởng Phật giáo Thiền tông được
tác giả tập trung thể hiện khá đậm nét. Vì vậy không phải ngẫu nhiên mà tác phẩm
Trúc Lâm tông chỉ nguyên thanh được Ngô Thì Nhậm mở đầu bằng chương Không
thanh. “Phải chăng, tác giả của Trúc Lâm tông chỉ nguyên thanh muốn bắt đầu từ
cảnh giới Chân Không (Không thanh) để đi đến cái Diệu hữu (hai mươi ba thanh
còn lại) để triển khai cái tông chỉ của mình”
Trong chương Ẩn Thanh khi Ngô Thì Nhậm đồng nhất quan điểm từ chương
đầu , quy khởi nguyên thế giới vào Thái cực . Như ông nói : “ Xét ra a bắt đầu từ
một luồng khí thông thoáng, hỗn độn chưa phân chia, muôn vàn hiện tượng đều
sinh ra từ cái Không, cái Không cũng chính là Thái cực. Hai khí âm dương đọng
lại mà thành vật tượng, đều bắt đầu ở mối Ngộ (thức). Ngộ chính là thái cực sinh lưỡng nghi đây”
Không ở đây cũng tương dung với Đạo trong quan niệm của Đạo Lão –
Trang. Theo Lão Tử, Đạo là cái có trước vạn vật: “Đạo sinh ra khí thống nhất, khí
thống nhất sinh ra hai thứ âm dương đối lập, hai thứ âm dương đối lập sinh ra ba
lực lượng “trời, đất, người”, ba lực lượng đó sinh ra vạn vật”. Đạo trong quan niệm
của Lão Tử cũng là một thứ huyền bí, thoát trần và 57 không thể dùng ngôn ngữ để
diễn đạt và nhận thức về nó cũng như Không trong quan niệm của Thiền tông vậy.
Đây chính là âm thanh đầu tiên mà nhóm Hải Lượng thiền sư muốn gõ lên. Phần 11
này thuộc về Thanh dẫn, tương đương với “Niệm” trong Kinh điển Thiền tông.
Tiếp theo là phần chính văn do Ngô Thì Nhậm viết:
“Hải Lượng đại thiền sư đính lễ Trúc Lâm tâm tổ ở quán Huyền Thiên, tăng bê tả
là Hải Hoài, tăng bên hữu là Hải Tịnh, kèm với 24 người đồ đệ khác. Các đồ đệ bạch thầy rằng:
- Nhà Nho nói Lý. Vậy thế nào là Lý? Thầy đáp:
- Lý như cái thớ, cái đốt của cây. Đồ đệ lại bạch: - Nói Dục. Vậy thế nào là Dục? Thầy đáp:
- Dục là như nước chảy xuống, lửa bốc lên. Đệ tử nói:
- Nhưng muốn noi theo cái Lý thì phải như thế nào? Thầy đáp:
- Cái Lý không noi theo hết được!
Sau đó, tăng chúng quay lưng vào án mà ngồi.
Thầy lúc đó thở ra và co một chân lại.
Nhà sư bê tả bạch Thầy rằng:
- Sao thầy chỉ co một chân? 12 Thầy nói:
Vạn thủy giai đông Nhược thủy tây
Cúc hoa bất dữ bách hoa tề Nghĩa là:
Muôn sông đều chảy về đông, chỉ có Nhược thủy chảy về tây,
Hoa cúc không nở cùng với trăm hoa Nhà sư bên tả nói:
Thủy khứ đông tây lô chuyển trục
Hoa khai tảo vãn nghĩ ma bàn
Nghĩa là: Nước chảy đông tây, cần giếng chuyển trục
Hoa nở sớm muộn con kiến bò quanh Thầy bèn quát to:
- Dậy dậy dậy, đánh chẳng dậy
Ngủ ngủ ngủ, chửi cũng ngủ.
Nhà sư bên hữu rời chỗ tiến lên hỏi:
Nước xuôi thì thả thuyền
Đường hiểm thì dừng ngựa Một dừng một đi Đều không phải ý ta.
Lúc bấy giờ Điếu Ngự Giác Hoàng ở dưới cây Cồ đàm, hóa ra làm vô số hoa Cồ
đàm. Hoa Cồ đàm nở chẳng nở, có gió mới nở, rụng chẳng rụng có mưa mới rụng. 13
Lại có chim xanh. Ngậm hoa bay đi, hoa bám vào chim, lông chim thảy đều sinh hoa.
Thầy bèn nhìn chim mà nhận ra hoa lông, đọc kệ rằng:
Thân chim chẳng phải chim Hồn hoa chẳng phải hoa Đứng đi là bởi nó
Ta nào có làm gì được đâu.
Nhà sư bên hữu chắp tay niệm: Sắc chẳng phải sắc Không chẳng phải không
Nhà sư bên tả tiến lên nói:
Ngựa gặp đường phẳng đi bon bon
Gốc cây chằng chịt bửa không ra.
Nhà sư bên hữu mặc áo trật vai phải, đứng dậy đáp: Đường phẳng là ngựa thuận
Lý, gốc rắn là cây nghịch Lý. Lý có thuận nghịch, cho nên người không chấp trước
(câu nệ) thì không bắt buộc phải noi theo Lý.
Thầy bèn cầm ngược gậy tre, đi lên am mà làm lễ Thế Tôn.”
Những câu trả lời của thiền sư Hải Lượng với các thiền sinh trong đoạn đối
đáp trên ngắn gọn, đầy ẩn ý, dùng hình thức kệ để biểu đạt, nhưng thực chất nội
dung của nó chứa đựng triết lý, chứ không phải Thiền học. Tên của thanh mở đầu
tác phẩm mang tính bản thể luận đậm nét của Phật giáo nhưng trong cả phần chính 14
văn của chương Không thanh này lại không một lần nhắc về phạm trù Không nữa
mà dùng khái niệm Lý và Dục của Nho gia để giải thích cho Không.
Khi bàn về “Lý”, Phật giáo thường xem xét dưới góc độ lý thuyết, triết lý,
còn “Dục” là một trong những nguyên nhân chính dẫn con người đến sự khổ đau.
“Dục” có nghĩa là ham muốn, thuộc về Tham trong Tam độc (Tham, Sân, Si). Khi
các thiền sinh hỏi thế nào là Lý, thế nào là Dục, Ngô Thì Nhậm trả lời: “Lý như cái
thớ, cái đốt của cây; Dục như nước chảy xuống, như lửa bốc lên”. Hình ảnh “đốt
cây” mà Hải Lượng thiền sư nói ở đây rõ ràng không phải là Thiền.
Từ trước đến nay, khi đề cập đến Lý, Phật giáo thường luận về thể tính, và
phương pháp tu tập nhằm đi đến giác ngộ Lý tính; khi đề cập đến Dục là chỉ ra
nguồn gốc và phương pháp xa rời và đoạn diệt tham dục. Còn Ngô Thì Nhậm thì
góp phần làm rõ về Lý, Dục bằng cách chỉ ra “hình thức, đặc tính và quá trình biểu
hiện” của hai phạm trù này với câu trả lời hết sức hàm súc. Lý ở đây, nhóm Hải
Lượng thiền sư đã thống nhất nó với Vô cực, Đạo của cái Khí hình nhi thượng. Lý
là Đạo, là con đường để vạn vật hình thành. Lý tồn tại trong mỗi bản thân sự vật, là
cái sinh ra, quy định vạn vật. Mỗi vật đều có bản tính riêng, tức vật nào thì có cái
lý đó, Lý đều do một nguồn mà ra. Lý là cơ sở tồn tại của mọi sự vật hiện tượng
trong vũ trụ và không hề chịu sự chi phối của con người: “Nước xuôi thả thuyền,
đường hiểm dừng ngựa, một dừng một đi, đều không phải ý ta”. Vạn vật đều vận
động theo quy luật khách quan cho nên con người cũng cần phải tuân theo con
đường, quy luật ấy mới sinh tồn được. Bởi vì Đạo bao gồm các quy luật tự nhiên,
thuận theo Đạo ấy thì con người mới sống được. Còn Dục ở đây được Ngô Thì
Nhậm chỉ ra quy luật: “Nước chảy xuống, lửa bốc lên”. Dục là biểu hiện những
thuộc tính bên ngoài của Lý. Nếu như phục tùng cái Lý thông thường thì đó chính
là Dục: “Nước xuôi thì thả thuyền, đường hiểm thì dừng ngựa”. Nhưng ngoài
những quy luật thông thường ra, Lý còn vượt qua Dục và cao hơn Dục nhiều lần. 15
Như ông nói: “Muôn sông chảy về đông, chỉ có Nhược thủy chảy về tây, Hoa cúc
không nở cùng với trăm hoa”. Đây mới chính là giá trị chân thực của Lý. Nước của
các dòng sông thì luôn chảy xuôi về phương đông, chỉ riêng Nhược thủy chảy
được về tây là vùng đất cao vì nước của nó hoàn toàn thanh khiết chìm được lông
vũ nên mới có thể chảy ngược dòng. Muôn hoa nở mùa xuân khi tiết trời trong
lành, ấm áp, là mùa sinh sôi nảy nở. Còn mùa đông lạnh giá, khi các loài hoa khác
úa tàn thì chỉ riêng hoa cúc nở được hoa giữa thời tiết khắc nghiệt. Đứng từ cái Lý
của Nhược thủy, hoa cúc mà xét thì cái Lý hoa nở mùa xuân, nước chảy về đông
không còn là Lý nữa. Còn nếu nước sông Nhược chảy về đông, hoa cúc nở mùa
xuân thì nó biến thành thứ hoa khác chứ không còn là hoa cúc nữa. Các sự vật khác
thường thì có cái Lý khác thường. Do vậy, Lý của nước sông Nhược, của hoa cúc
không cùng với Lý của muôn sông, muôn hoa. Ở đây, một chi tiết đáng lưu ý nữa
là hình ảnh “Nhược thủy” mà tác giả sử dụng. “Nhược thủy” trong cụm từ “Bồng
sơn Nhược thủy” là nơi chốn tiên cảnh của Đạo giáo. Điểm này cho thấy, bên cạnh
việc sử dụng những lý luận của Nho giáo để giải thích cho các phạm trù của Phật
giáo, Trúc Lâm tông chỉ nguyên thanh còn là sự dung hợp giữa Phật giáo Thiền tông và Đạo giáo nữa.
Mở đầu tác phẩm bằng chương Không thanh, bằng việc luận giải về Lý và
Dục, tác giả đã chỉ ra chân tướng của vạn vật, thấy rõ được Sắc – Không chỉ là sự
khác nhau về hình thức biểu hiện, nhưng thực tính của chúng thì không hề khác
nhau. Cho nên người không chấp trước vào ngoại cảnh, “đứng trước vật mà vật
không đồng hóa được mình” thì mới có thể giác ngộ được Lý. Phá chấp chính là
phương thức vô cùng quan trọng đối với những người muốn tu tâm dưỡng tính
theo quan niệm Phật giáo. Sau chương Không thanh, đến chương Ngộ thanh, ông
tiếp tục bàn luận về khái niệm Lý và Dục. Ở đây trong quan niệm về thế giới, bản 16
thể luận được giải thích bằng lý thuyết của Lý học Tống Nho nhưng được nhìn
dưới nhận thức luận là phá chấp của Phật giáo
Ngô Thì Nhậm đã dùng tương quan giữa Lý và Dục để nói về Hữu với Vô,
không chỉ cho thấy sự nhuần nhuyễn các kiến thức Nho giáo, Đạo giáo và Phật
giáo của ông, mà còn cho thấy dụng ý của Ngô Thì Nhậm khi đưa các lý thuyết
tách biệt về lý luận và hệ giá trị gần lại bổ sung cho nhau. Ở đây, chúng ta nhận
thấy, trong tư tưởng dung thông tam giáo của Ngô Thì Nhậm, “nhãn quan Phật
giáo với tính chất bản thể luận là Không với nhận thức luận phá chấp được triển
khai qua các phạm trù Lý và Dục của Nho gia, khiến cho bản thân khái niệm Lý và
Dục trở nên có nhiều điểm khác biệt khi chúng chỉ được soi chiếu dưới nhãn quan Nho giáo”
2.3 Dung thông tam giáo trong quan niệm về con người
Sự dung thông Tam giáo (Nho – Phật – Đạo) trong tư tưởng của Ngô Thì
Nhậm không chỉ biểu hiện trong tư tưởng của ông về thế giới mà còn chủ yếu
trong tư tưởng của ông về con người, đời sống con người và những phạm trù trung
tâm của Phật cũng được lý giải hết sức dễ hiểu, mang đậm chất thực tiễn của nhà Nho
2.3.1 Sự dung thông trong quan niệm về bản tính con người
Quan niệm về bản tính con người trong Trúc Lâm tông chỉ nguyên thanh của
Ngô Thì Nhậm chịu ảnh hưởng sâu sắc từ quan niệm của phái Tống Nho và Đạo
giáo. Ông xuất phát từ quan niệm Nho giáo về “tính trời” và “tính người” và quan
niệm của Đạo giáo về bản tính tự nhiên để đưa con người trở về với cái “chân như” của Phật giáo. 17
Ngô Thì Nhậm cho rằng, con người cũng như vạn vật đều có thiên tính tự
nhiên của nó do trời sinh ra: “Trời sinh người có Dục” .Theo đó, Dục là lòng ham
muốn ở con người. Nó là thiên tính tự nhiên, là những nhu cầu tự nhiên xuất hiện
từ khi con người mới được sinh ra: “Dục là tính tự nhiên, nó ở trong nhật dụng
thường hành, như đói thì muốn ăn, khát thì muốn uống, không có không được”.
Quan niệm này của ông cũng đồng nghĩa với quan niệm về Tính dục trong Phật
giáo và quan niệm về bản tính tự nhiên của con người trong Đạo giáo cho rằng tính
người vốn giản dị, thuần phác và nó tồn tại hoàn toàn độc lập với ý muốn chủ quan của con người.
Do đó, theo Ngô Thì Nhậm, Dục là cái tính tự nhiên của con người nhưng
nếu cứ theo nó, chạy theo ham muốn, dục vọng thì con người ngày càng rời xa cái
bản tính tự nhiên, tính trời, không thể trở về với bản tính chân như hay cái đạo tự
nhiên, thuần phác được. Cho nên, trong quan niệm về mối quan hệ giữa “tính trời”
(Lý) và “tính người” (Dục), Ngô Thì Nhậm chịu ảnh hưởng của cả triết học Đạo
giáo và Tống Nho khi chủ trương xóa bỏ tất cả mọi dục vọng để “Tâm” được tuyệt
đối trong sáng, quay trở lại với bản tính chất phác ban đầu, cái “tính trời” được bảo toàn.
2.3.2 Sự dung thông trong quan niệm về “ nhân “ và “ kỷ “
Trước Ngô Thì Nhậm, các khái niệm Nho quân tử và Nho tiểu nhân chỉ
được đề cập trong Nho giáo chứ Phật giáo không bàn đến hai khái niệm này. Còn
trong tư tưởng của Ngô Thì Nhậm, ông đưa ra cách giải thích mới về Thích quân
tử và Thích tiểu nhân trong sự đối sánh với khái niệm Nho gia: “Nho thì có Nho
quân tử, có Nho tiểu nhân; Thích thì có Thích quân tử, có Thích tiểu nhân. Nho
quân tử thì vị kỷ; Nho tiểu nhân thì vị nhân. Thích quân tử thì vị nhân, Thích tiểu
nhân thì vị kỷ…. Chữ Kỷ và chữ Nhân ở đây trong luận chứng của Ngô Thì Nhậm
là đứng về mặt Tâm tính mà nói, Thích quân tử xả kỷ (bỏ mình) để tế độ người, 18
Thích tiểu nhân đe dọa người để nuôi mình (kỷ), đó là đứng về mặt Lý và Dục mà
phân Nhân và Kỷ. Chữ Nhân và Kỷ của đàng này (Phật) so với chữ Nhân và Kỷ
của đàng kia (Nho) thì công phu, tác dụng không giống nhau, nhưng quy kết về
tâm tính thì là một mà thôi”
Theo Nho giáo, “Người quân tử trông cậy ở mình, tiểu nhân trông cậy ở
người” (Quân tử cầu chư kỷ, tiểu nhân cầu chư nhân) . Theo Ngô Thì Nhậm lý
giải, con người trước hết phải tự lo mình tạo lập cho bản thân trên cơ sở của sự rèn
luyện tu dưỡng bản thân, chịu khó học tập, trau dồi về đạo lý và đức hạnh. “Noi
theo thánh hiền, tâm đắc và thực hành, đó là cái học vị kỷ của nhà Nho”. Trên cơ
sở những phẩm chất tốt đẹp và có chí khí, người quân tử tin tưởng ở bản thân
mình, tự mình làm lên sự nghiệp, “dương danh hiển thân”. Người Nho quân tử
không vị nhân, thì không cầu ăn no, không cầu ở yên, không cầu thanh danh,
không cầu tri ngộ. Còn kẻ tiểu nhân, do ý chí nhu nhược, lười biếng học tập và tu
dưỡng bản thân, bởi vậy luôn tìm cách dựa dẫm vào người khác để cầu và thỏa
mãn được tham vọng của mình. Cho nên nói Nho quân tử vị kỷ, Nho tiểu nhân thì
vị nhân là vậy. Còn chữ Nhân và chữ Kỷ trong Phật giáo lại xét về mặt Lý và Dục
để nói, thì Thích quân tử là người biết được cái Lý, biết được cái Dục, nên học đạo
để diệt đi cái ham muốn, dục vọng, cắt đứt được lục trần, tiêu ma được bảy nghiệp,
để tâm trở về với chân như, giải thoát. Lấy Niết bàn độ chúng sinh, hiện không hoa
tiêu nghiệp chướng, là người quân tử xả mình (từ bỏ ham muốn dục vọng, cái tính
người) để độ người, đó là cái vị Nhân của người Thích quân tử. Quên mình vì mọi
người (Vô ngã vị tha) là một trong những đặc trưng của tư tưởng Phật giáo, hàm
nghĩa rất sâu, đại ý là không còn chấp ngã, không còn chấp vào cái Ta và cái sở
hữu của ta. Chỉ có đạt tới cảnh giới Vô ngã (quên mình) thì mới thực sự thực hành
được cái đạo hạnh Vị tha (vì người khác) một cách hữu hiệu và triệt để. 19