MỞ ĐẦU
1. Giới thiệu & lý do chọn đề tài 1.1. Lý do chọn đề tài
Trong bối cảnh toàn cầu hóa sâu rộng, Việt Nam ngày càng phụ thuộc vào môi trường
hòa bình, ổn định để phát triển kinh tế, củng cố quốc phòng và an ninh.
Đối ngoại trở thành công cụ then chốt để thúc đẩy hội nhập quốc tế, tranh thủ nguồn
lực, nâng cao vị thế quốc gia.
Việc phân tích đường lối đối ngoại tại Đại hội XI có giúp hiểu rõ sự chuyển mình
trong chiến lược sau thời kỳ đổi mới và cùng đánh giá hiệu quả đặt ra.
1.2. Vai trò đối ngoại trong công cuộc đổi mới
Đối ngoại giúp giữ vững môi trường hòa bình, thuận lợi để đẩy mạnh công
nghiệp hóa – hiện đại hóa, bảo vệ độc lập – chủ quyền đất nước. Công tác đối ngoại
sáng tạo kết hợp “sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại”, ưu tiên độc lập – tự chủ
song hành với hội nhập – khai thác nguồn lực ngoại lực phục vụ phát triển. Hội nhập
quốc tế giúp tiếp cận tri thức tiên tiến toàn cầu, đa dạng hóa các lĩnh vực hợp tác,
tăng mức độ đan xen lợi ích, làm cho Việt Nam trở thành thành viên hữu cơ của cộng đồng quốc tế.
1.3. Ý nghĩa việc nghiên cứu đường lối Đại hội XI.
Đại hội XI (tháng 1/2011) xác định phương châm đối ngoại gồm: Độc lập, tự
chủ; hòa bình; hợp tác và phát triển; đa phương hóa, đa dạng hóa quan hệ; chủ động
và tích cực hội nhập quốc tế; là bạn, đối tác tin cậy và thành viên có trách nhiệm
trong cộng đồng quốc tế; vì lợi ích quốc gia, dân tộc, vì một Việt Nam xã hội chủ nghĩa giàu mạnh.
Điểm mới là mở rộng khái niệm “hội nhập quốc tế” không chỉ kinh tế mà bao
phủ chính trị, quốc phòng, an ninh, văn hóa-xã hội; đồng thời nhấn mạnh “thành viên
có trách nhiệm”.Nghiên cứu giúp làm rõ cách áp dụng đường lối trong thực tiễn,
tương tác với dịch chuyển quốc tế, mang đến môi trường hòa bình và cơ hội phát triển.
1.4. Bố cục, phạm vi nghiên cứu của tiểu luận.
Người 2: Khái niệm – vai trò – nguyên tắc đối ngoại
2.1. Khái niệm đối ngoại.
Đối ngoại là tổng thể hoạt động của quốc gia trong quan hệ với các nước, các
tổ chức khu vực và quốc tế, nhằm bảo vệ lợi ích dân tộc, duy trì hòa bình, hợp tác và phát triển.
2.2. Vai trò đối ngoại trong lịch sử & đổi mới.
Trong lịch sử, đối ngoại góp phần giữ vững độc lập dân tộc và tranh thủ sự ủng
hộ quốc tế. Từ khi đổi mới (1986), Đảng ta đã thực hiện đường lối mở cửa, phá thế
bao vây cấm vận, mở rộng quan hệ với nhiều quốc gia và tổ chức quốc tế. Đối ngoại
giúp thu hút vốn, khoa học – công nghệ, kinh nghiệm quản lý; đồng thời tạo môi
trường quốc tế thuận lợi cho công nghiệp hóa, hiện đại hóa và khẳng định vị thế Việt
Nam trên trường quốc tế.
2.3. Nguyên tắc: độc lập, tự chủ, bình đẳng, cùng có lợi.
Kiên định bảo vệ lợi ích quốc gia – dân tộc, không phụ thuộc vào bất cứ thế
lực nào. Bình đẳng: Quan hệ hợp tác trên cơ sở tôn trọng lẫn nhau, không phân biệt
chế độ chính trị hay quy mô quốc gia. Cùng có lợi: Hợp tác hài hòa lợi ích, thúc đẩy
phát triển chung và duy trì hòa bình.
2.4. Ý nghĩa nền tảng trước Đại hội XI.
Đại hội XI Trước Đại hội XI, đối ngoại khẳng định tính đúng đắn, hiệu quả
của đường lối độc lập, tự chủ, hòa bình, hợp tác và phát triển. Thành tựu đối ngoại
tạo nền tảng vững chắc cho Việt Nam hội nhập quốc tế sâu rộng hơn, củng cố hòa
bình, phát triển kinh tế – xã hội và nâng cao uy tín quốc gia. Đây cũng là cơ sở để Đại
hội XI đề ra phương châm: “Chủ động và tích cực hội nhập quốc tế”. Kết luận Đối
ngoại là một bộ phận chiến lược quan trọng trong sự nghiệp cách mạng của Đảng và
dân tộc ta. Những thành tựu đối ngoại trước Đại hội XI không chỉ góp phần tạo dựng
môi trường quốc tế thuận lợi, mà còn nâng cao vị thế đất nước, khẳng định đường lối
đúng đắn, sáng tạo của Đảng Cộng sản Việt Nam.
Người 3: Bối cảnh quốc tế trước Đại hội XI
Trước thềm Đại hội XI của Đảng Cộng sản Việt Nam (2011), tình hình thế giới
có nhiều biến động phức tạp, tác động trực tiếp đến môi trường phát triển của đất nước.
3.1 Xu thế toàn cầu hoá, hội nhập
Đầu thế kỷ XXI, xu thế toàn cầu hoá và hội nhập quốc tế tiếp tục phát triển
mạnh mẽ, trở thành đặc điểm nổi bật của thời đại. Toàn cầu hoá vừa tạo điều kiện
thúc đẩy lưu thông hàng hóa, dịch vụ, vốn, công nghệ và tri thức, vừa mở rộng giao
lưu văn hóa giữa các quốc gia. Việt Nam trong giai đoạn này có thêm cơ hội tiếp cận
các nguồn lực bên ngoài, mở rộng quan hệ đối ngoại, hội nhập kinh tế quốc tế, đặc
biệt sau khi gia nhập Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO) năm 2007. Tuy nhiên,
toàn cầu hóa cũng đặt ra không ít thách thức, như sự cạnh tranh gay gắt trên thị
trường, nguy cơ tụt hậu, gia tăng phụ thuộc vào các nền kinh tế lớn.
3.2 Cạnh tranh chiến lược Mỹ – Trung và các nước lớn
Quan hệ quốc tế giai đoạn này nổi bật với sự điều chỉnh chiến lược của các
nước lớn, đặc biệt là cạnh tranh Mỹ – Trung trên nhiều lĩnh vực: kinh tế, chính trị,
quân sự, an ninh. Ở châu Á – Thái Bình Dương, sự hiện diện của Mỹ gia tăng, trong
khi Trung Quốc trỗi dậy mạnh mẽ. Điều này vừa mở ra cơ hội hợp tác, vừa tiềm ẩn
nhiều rủi ro, tạo môi trường khu vực phức tạp cho Việt Nam.
3.3 Khủng hoảng kinh tế toàn cầu 2008–2009
Cuộc khủng hoảng tài chính bắt nguồn từ Mỹ đã lan rộng toàn cầu, ảnh hưởng
sâu sắc đến kinh tế – thương mại thế giới. Tăng trưởng kinh tế nhiều nước sụt giảm,
thất nghiệp tăng cao, bất ổn xã hội gia tăng. Đối với Việt Nam, khủng hoảng đã tác
động đến xuất khẩu, đầu tư, thị trường tài chính, đặt ra yêu cầu điều chỉnh chính sách
vĩ mô để duy trì ổn định và phát triển.
3.4 Các vấn đề an ninh phi truyền thống
Bên cạnh các thách thức truyền thống, các vấn đề an ninh phi truyền thống nổi
lên ngày càng gay gắt: biến đổi khí hậu, thiên tai, dịch bệnh, khủng bố, tội phạm
xuyên quốc gia. Đây là những mối đe dọa toàn cầu, đòi hỏi sự hợp tác quốc tế sâu
rộng. Với Việt Nam, biến đổi khí hậu, đặc biệt là nước biển dâng ở đồng bằng sông
Cửu Long, cùng dịch bệnh và thiên tai, đã trở thành những thách thức trực tiếp đến phát triển bền vững. Kết luận
Bối cảnh quốc tế trước Đại hội XI vừa mở ra thời cơ, vừa đặt ra nhiều thách
thức cho Việt Nam. Đảng ta cần có đường lối đối ngoại đúng đắn, tận dụng cơ hội từ
hội nhập, đồng thời chủ động ứng phó với những biến động phức tạp của thế giới.
Người 4: Bối cảnh trong nước trước Đại hội XI
4.1. Thành tựu 25 năm đổi mới.
4.2. Những hạn chế, khó khăn còn tồn tại.
4.3. Yêu cầu đặt ra với đối ngoại Việt Nam.
4.4. Sự cần thiết phải đổi mới đường lối đối ngoại.
Người 5: Quan điểm chỉ đạo tại Đại hội XI
Đại hội XI của Đảng họp tại Hà Nội từ ngày 12-19/1/2011, đại hội XI diễn ra
vào thời điểm tình hình thế giới diễn ra phức tạp và nước ta mới vừa trải qua kỉ niệm
1000 năm Thăng Long-Hà Nội. Đại hội đã thông qua các văn kiện quan trọng và
trong đó Cương lĩnh đã chỉ rõ 8 phương hướng cơ bản xây dựng XHCN và trong đó
phương hướng thứ 5 là phương hướng vô cùng quan trọng với mục tiêu độc lập dân
tộc và toàn vẹn lãnh thổ, song song đưa đất nước hội nhập với thế giới.
Bấm Tải xuống để xem toàn bộ.