











Preview text:
TRƯỜNG ĐẠI HỌC THƯƠNG MẠI
Khoa HTTT kinh tế và Thương mại điện tử
Ngành quản trị hệ thống thông tin quản lí *** HỌC PHẦN
THƯƠNG MẠI ĐIỆN TỬ
ĐỀ BÀI : Giải quyết tình huống bài 27 NHÓM 1 (STT 1-10) MÃ LỚP HP: 2355PCOM0111
Khoa HTTT kinh tế và Thương mại điện tử GVHD: Nguyễn Bình Minh
Hà Nam,ngày 2 tháng 2 năm 2023
Khái quát về thương mại điện tử:
“Thương mại điện tử” (tiếng Anh là electronic commerce, viết
tắt là e-commerce) còn được biết đến với nhiều tên gọi khác nhau
như: Thương mại trực tuyến (online trade), thương mại phi giấy tờ
(paperless commerce), kinh doanh điện tử (electronic business),…
thường được hiểu là thương mại được tiến hành trên các phương tiện
điện tử và mạng viễn thông, đặc biệt là qua máy tính và mạng internet.
Nếu ta hiểu theo nghĩa rộng, thương mại điện tử (e-commerce) là
hoạt động kinh doanh truyền thống sử dụng công nghệ điện tử. Theo
khái niệm này, thương mại điện tử thực chất đã được triển khai từ
lâu trong nhiều lĩnh vực của nền kinh tế thông qua các phương tiện
điện tử như điện thoại, fax, telex, v.v. Còn theo nghĩa hẹp, thương
mại điện tử được định nghĩa là các hoạt động trên Internet. Tuy
nhiên, do việc sử dụng rộng rãi Internet trong thương mại điện tử,
ngày nay người ta thường đề cập đến kinh doanh qua Internet.
Thuật ngữ "thương mại điện tử" thực sự bắt nguồn từ các hoạt động
kinh doanh được thực hiện qua Internet.
Hiện nay, việc mua sắm trực tuyến thông qua các trang thương mại
điện tử, các nền tảng mạng xã hội đang ngày càng phổ biến trên thế
giới cũng như tại Việt Nam. Trong bối cảnh dịch bệnh COVID-19 diễn
biến phức tạp, mua sắm trực tuyến nổi lên như một “cứu cánh”,
không chỉ giúp người tiêu dùng bảo đảm cuộc sống và công việc mà
còn giúp các nhà sản xuất, nhà phân phối hàng hóa phát triển sản
xuất, kinh doanh.Theo nghiên cứu của NIELSEN, ảnh hưởng của
Covid-19 đến người Việt Nam khiến tăng 25% các hoạt động mua
sắm trực tuyến, đi kèm với đó là sự sụt giảm mạnh tần suất mua
hàng trực tiếp. Cách thức mua sắm trực tuyến của người tiêu dùng
cũng khá đa dạng như họ có thể mua sắm qua các sàn giao dịch
thương mại điện tử như Lazada.vn, Shopee.vn, Sendo.vn,
Hotdeal.vn, Zalora.vn, Tiki.vn, Adayroi.com, Lotte.vn hoặc qua mạng
xã hội Facebook, Instagram, Zalo,...
Bên cạnh đó, người tiêu dùng Việt cũng có xu hướng mua hàng
qua chương trình quảng cáo trên ti vi (tiến hành giao dịch qua điện
thoại). Kênh TMĐT này đem lại nhiều lợi ích cho người tiêu dùng:
Nhanh chóng, dễ dàng tiếp cận thông tin, so sánh giá cả, tiết kiệm
thời gian, đặc biệt với những người thích tìm hiểumvề đánh giá
(review) và sau đó tìm mua ngay trên mạng, trải nghiệm mua sắm
khác biệt so với mua sắm trực tiếp,.. Tuy nhiên, hình thức mua sắm
này cũng tiềm ẩn rất nhiều rủi ro cho người mua hàng. I.
Hiểm họa nào là khó tránh nhất đối với người mua khi tham gia vào TMĐT?
Hiểm hoạ đến từ máy tính cá nhân là hiểm hoạ khó tránh nhất
của người mua khi tham gia sàn thương mại điện tử :
Khi truy cập internet nói chung cũng như sàn thương mại điện tử
nói riêng khó tránh nhất chín là Malware (malicious software - phần
mềm độc hại) chỉ thuật ngữ mô tả các chương trình hoặc mã độc có
khả năng cản trở hoạt động bình thường của hệ thống bằng cách
xâm nhập, kiểm soát, làm hỏng hoặc vô hiệu hóa hệ thống mạng,
máy tính, máy tính bảng và thiết bị di động,… Malware bao gồm
virus máy tính, worms, Trojan và phần mềm gián điệp (spyware)…
Trong quá trình sử dụng Internet, những thao tác sau có thể khiến bạn bị nhiễm Malware:
- Truy cập các trang web độc hại, tải trò chơi, file nhạc nhiễm
Malware, cài đặt thanh công cụ/phần mềm từ nhà cung cấp lạ, mở
tệp đính kèmmemailmđộc hại (malspam) hoặc các dữ liệu tải xuống
không được quét bởi phần mềm bảo mật.
- Tải nhầm các ứng dụng độc hại ngụy trang dưới dạng các ứng dụng
hợp pháp, các thông báo cảnh báo khi cài đặt ứng dụng, đặc biệt khi
ứng dụng yêu cầu quyền truy cập email hoặc thông tin cá nhân.
- Tải ứng dụng ở các nguồn không đáng tin cậy.
- Vô tình cài đặt các phần mềm bổ sung đi kèm với ứng dụng
(potentially unwanted program) chứa Malware.
- Ngoài ra, việc không sử dụng các chương trình bảo mật cũng là lý
do khiến Malware xâm nhập dễ dàng hơn.
Đầu tiên phải kể đến Virus . Theo sự phát triển rộng rãi của
Internet trên thế giới mà hiện nay các hình thức lây nhiễm virus qua
Internet trở thành các phương thức chính của virus ngày nay. Lây
nhiễm khi đang truy cập các trang web trong thương mại điện tử
được cài đặt virusm(theo cách vô tình hoặc cố ý): Các trang web có
thể có chứa các mã hiểm độc gây lây nhiễm virus và phần mềm độc
hại vào máy tính của người sử dụng khi truy cập vào các trang web đó.
Thứ hai là Worm máy tính : các chương trình tự sao chép và
chúng lây lan mà không có sự can thiệp của con người. Trong khi đó,
virus máy tính là các chương trình tự sao chép và thường yêu cầu
một số hành động từ phía con người để lây sang các thiết bị khác.
Tốc độ lây lan của Worm máy tính là cực nhanh. Chúng có thể tự
nhân đôi lây sang các máy tính khác chưa bị nhiễm trong cùng
mạng thông qua việc xâm nhập vào hệ điều hành. Những worm máy
tính nhắm mục tiêu vào các trang web (thương mại điện tử ) thứ
hạng cao nhưng có tính bảo mật kém. Chúng có thể lây nhiễm sang
các máy tính đang truy cập website đó và lây sang những thiết bị
khác thông qua kết nối internet hoặc trong một mạng LAN.Chính vì
khả năng lan sang mạng khác một cách nhanh chóng như vậy khi
người dùng truy cập internet nói chung và thương mại điện tử nói
riêng khó tránh khỏi hiểm hoạ bị phần mềm độc hại này sâm nhập .
Khi worm lần đầu tiên xuất hiện, chúng không có mục tiêu nào khác
ngoài việc sinh sôi nảy nở càng rộng càng tốt. Các tin tặc ban đầu
đã tạo ra những worm này để giải trí cho riêng mình, thể hiện kỹ
năng hoặc để chứng minh các lỗ hổng và điểm yếu trong những hệ điều hành hiện tại.
Những "worm tinh khiết" này thường sẽ gây hại hoặc làm gián
đoạn - tác dụng phụ của các quy trình dự kiến - mặc dù bản thân
chúng không được thiết kế để gây ra những việc này. Worm ngốn
nhiều tài nguyên có thể làm chậm hoặc thậm chí làm hỏng máy tính
chủ, bằng cách tiêu tốn quá nhiều sức mạnh xử lý, trong khi những
worm khác làm tắc nghẽn mạng bằng cách đẩy nhu cầu băng thông
lên mức cực cao khi chúng lây lan.
Thật không may, cuối cùng, các tin tặc đã sớm nhận ra rằng
worm có thể được sử dụng làm cơ chế phân phối phần mềm độc hại
bổ sung. Trong những trường hợp này, code bổ sung do worm tạo ra
được gọi là "payload" của nó. Một chiến lược phổ biến là trang bị cho
các worm một payload mở ra một “cửa hậu” (backdoor) trên các
máy bị nhiễm, cho phép tội phạm mạng quay lại sau để kiểm soát
hệ thống. Các payload khác có thể thu thập dữ liệu cá nhân nhạy
cảm, cài đặt ransomware hoặc biến những máy tính mục tiêu thành
“zombie” để sử dụng trong các cuộc tấn công botnet.
Thứ ba , Theo truyền thuyết, người Hy Lạp đã giành chiến thắng
trong cuộc chiến thành Troy bằng cách ẩn trong một con ngựa
khổng lồ bằng gỗ rỗng lẻn vào thành Troy kiên cố. Trong thế giới
máy tính ngày nay, một Trojan horse được định nghĩa là một
“chương trình độc hại ngụy trang như một cái gì đó được cho là lành
tính“.Ví dụ, bạn tải về những chương trình đơn giản như một ứng
dụng mua bán trong sàn thương mại điện tử, nhưng khi bạn click
vào nó, bạn có thể mở ra một chương trình nguy hiểm xóa đĩa cứng
của bạn, gửi số thẻ tín dụng và mật khẩu của bạn với một người lạ,
hoặc cho phép người lạ chiếm quyền điều khiển máy tính của bạn
hay trở thành một phần tử trong mạng botnet để góp phần vào một
cuộc tấn công DDoS.Những thứ tưởng chừng như vô tình lại biến
thành hiểm hoạ khó tránh đối với mỗi người khi không cẩn thận
Thứ tư , Spyware hay phần mềm gián điệp là thuật ngữ thường
được sử dụng để chỉ các phần mềm thực hiện hành vi nhất định như
quảng cáo, thu thập thông tin người dùng hoặc thay đổi cấu hình
máy tính của bạn, nói chung là không có sự đồng thuận của người
dùng. Bạn gặp phần mềm gián điệp hay các phần mềm không mong muốn khi:
1. Khi bạn thấy các pop-up quảng cáo bật lên trên màn hình máy
tính ngay cả khi bạn không vào web.
2. Các trang xuất hiện đầu tiên đầu tiên khi bạn mở trình duyêt
(Homepage) hoặc những cài đặt các tìm kiếm mặc định trên
trình duyệt bị thay đổi mà bạn không hề biết.
3. Bạn thấy một thanh công cụ mới trong trình duyệt của bạn mà
bạn không muốn và cảm thấy khó khăn để thoát khỏi nó.
4. Máy tính của bạn chậm hơn bình thường, mất nhiều thời gian
để thực hiện một việc hơn bình thường
5. Kinh nghiệm cho thấy máy tính của bạn thường bị crash, màn
hình xanh, hay không thể vào được windows. 6. …
Cuối cùng ,phần mềm quảng cáo hay còn gọi là Adware đề cập
đến một loại phần mềm độc hại hiển thị các quảng cáo không mong
muốn trên máy tính hoặc thiết bị của bạn. Phần mềm quảng cáo
thường vô tình được kích hoạt khi người dùng đang cố gắng cài đặt
các ứng dụng hợp pháp mà phần mềm quảng cáo đi kèm. Trong khi
đôi khi, phần mềm quảng cáo có thể an toàn, một số cửa sổ bật lên
có ý định không chỉ hiển thị quảng cáo mà còn thu thập dữ liệu và
thông tin để nhắm mục tiêu bạn bằng các quảng cáo tùy chỉnh.
Trong những trường hợp này, phần mềm quảng cáo có thể hướng
bạn đến các trang web độc hại và các trang bị nhiễm thông qua các
liên kết quảng cáo khác nhau, khiến bạn có nguy cơ bị nhiễm vi-rút máy tính.
Tất cả các phần mềm trên đều gây ra hiểm hoạ khó tránh khỏi bởi
chúng được thiết kế một cách tinh vi khiến người dùng không cố ý
mà vô tình khiến chúng xâm nhập vào máy tính và lấy cắp những thông tin bảo mật… II.
Các giải pháp nào giúp người mua có thể tránh được cái rủi ro này?
Giải pháp tránh phần mềm độc hại (malware - phần mềm độc hại) là:
• Tránh cài đặt bừa bãi các phần mềm không rõ nguồn gốc hoặc tải về từ các trang web lạ.
• Thường xuyên bật chế độ tường lửa trong Windows để nhận các
bản vá lỗi từ Microsoft.
• Để đảm bảo an toàn, nên cài đặt phần mềm chống vi-rút đặc biệt trên máy tính.
• Sau khi cài đặt phần mềm, hãy thường xuyên quét máy tính của
bạn để tìm phần mềm độc hại.
• Để giữ an toàn cho máy tính của bạn, bạn nên thường xuyên cập
nhật phần mềm chống vi-rút để phát hiện phần mềm độc hại mới nhất.
• Hạn chế cài đặt phần mềm không rõ nguồn gốc.
• Luôn cập nhật máy tính của bạn
• Chỉ tải xuống phần mềm từ các trang web đáng tin cậy. Nếu bạn
không chắc mình có thể tin tưởng chương trình mình đang tải xuống
hay không, hãy nhập tên chương trình đó vào công cụ tìm kiếm yêu
thích của bạn để xem liệu có ai đó đã báo cáo chương trình đó hay
không. Có chứa phần mềm gián điệp hay không.
• Đọc tất cả các cảnh báo bảo mật, thỏa thuận cấp phép và tuyên
bố về quyền riêng tư đi kèm với phần mềm bạn tải xuống.
• Đừng bao giờ nhấp vào "Tôi đồng ý" hoặc "OK" để đóng cửa sổ mà
bạn nghi ngờ có thể là phần mềm gián điệp. Thay vào đó, hãy bấm
vào ký hiệu "x" màu đỏ ở góc cửa sổ hoặc nhấn Alt + F4 trên bàn phím để đóng cửa sổ.
• Cẩn thận với các chương trình chia sẻ tệp nhạc và phim "miễn phí"
phổ biến và đảm bảo rằng bạn hiểu tất cả phần mềm đi kèm với các chương trình đó.
• Sử dụng tài khoản người dùng thông thường thay vì tài khoản quản
trị viên. Tài khoản quản trị viên có quyền truy cập vào tất cả nội
dung hệ thống và bất kỳ phần mềm độc hại nào chạy trong tài
khoản quản trị viên đều có thể sử dụng đặc quyền của quản trị viên
để lây nhiễm hoặc làm hỏng hệ thống.
• Cẩn thận khi cài đặt phần mềm. Chúng ta thường không đọc kỹ
EULA mà vội bấm vào Chấp nhận cài đặt. Tốt nhất bạn nên đọc EULA
và đảm bảo mọi phần mềm trung gian bạn cài đặt đều an toàn.
• Hiểu biết về malware. Đảm bảo bạn luôn cập nhật thông tin về malware mới nhất.
• Sao lưu dữ liệu thường xuyên, sẵn sàng phòng trường hợp máy
tính của bạn gặp sự cố.
• Không nhấp vào liên kết hoặc tệp đính kèm trong email trừ khi bạn
chắc chắn về nội dung của chúng.
• Sử dụng chương trình chặn pop-ip và không kích vào bất kỳ đường link gì trong pop-up.
• Sử dụng sandbox để kiểm tra chương trình. Nếu bạn tải xuống một
ứng dụng mà bạn không chắc chắn về nó, hãy sandbox ứng dụng đó trước để kiểm tra.
• Kiểm tra các quy trình và dịch vụ giả mạo. Việc này khá dễ dàng
nhưng bạn nên thực hiện thường xuyên để đảm bảo không có gì chạy ngầm.
• Sử dụng máy ảo cho những phần mềm không rõ ràng, cũng giống như sandbox vậy.
• Tạo chính sách cho thiết bị PnP
• Xác định quy tắc xử lý tệp
• Luôn cài đặt và sử dụng phần mềm chống vi-rút chính hãng.
Giải pháp tránh rủi ro khi kết nối mạng không dây:
• Không chia sẻ tệp qua mạng công cộng
• Giữ an toàn khi truy cập wifi công cộng với điện thoại di động
• Luôn cập nhật hệ điều hành của điện thoại.
• Sử dụng các chương trình chống vi-rút trên thiết bị di động
• Mạng Wi-Fi công cộng có tốc độ càng chậm càng ẩn chứa sự ‘nguy hiểm’
• Tuyệt đối tránh mua sắm trực tuyến hoặc chuyển khoản ngân hàng qua mạng công cộng
• Sử dụng xác thực hai yếu tố để tăng cường bảo mật.
• Tìm hiểu nguồn gốc của mạng Wi-Fi mà bạn đang kết nối
• Duy trì kết nối với mạng bằng mật khẩu
• Sử dụng giao thức HTTPS trên các trang web được cung cấp
• Không sử dụng đường dây công cộng để tài chính trực tuyến hoạt động
• Sử dụng nhiều tên đăng nhập và mật khẩu
• Cẩn thận với những người xung quanh khi nhập mật khẩu
• Khi đi du lịch nước ngoài, hãy mua quyền truy cập mạng từ sim 3G của nước sở tại
thay vì kết nối với wifi công cộng
• Sử dụng VPN (mạng riêng ảo) . Hình thức này mã hóa thông tin
người dùng ngăn chặn sự xâm nhập của bên thứ ba. Thứ hai, bạn có
thể tắt kết nối tự động. Điều này ngăn bạn tự động kết nối với mạng
mà bạn không có ý định kết nối.
• Không chia sẻ thông tin đăng nhập của bạn. Bạn không nên đặt
khách sạn, vé tàu hoặc chuyến bay khi đang kết nối với mạng Wi-Fi công cộng.
Tránh rủi ro lưu trữ thông tin cá nhân trên các trang web mua sắm:
• Cảnh giác với các email không mong muốn hoặc không xác định.
• Không bao giờ truy cập các liên kết bên ngoài trong email.
• Dùng thử các công cụ miễn phí giúp bạn phân biệt giữa các trang web nguy hiểm và an toàn
• Hãy cẩn trọng vì ngay cả các trang web "an toàn" cũng có thể bị tấn công. III. Các rủi ro khác:
Không chỉ có những hiểm họa đã nêu, thương mại điện tử vẫn
còn nhiều rủi ro tiềm ẩn đối với người mua. Có thể kể đến như :
1, Những rủi ro liên quan đến mua bán online:
-Một là, người mua hàng có thể gặp phải hàng giả, hàng kém chất
lượng. Lý do bởi khách hàng không thể xác định được chính xác
nguồn gốc sản phẩm. Việc mua hàng tất cả đều dựa trên niềm tin
vào lời quảng cáo về xuất xứ sản phẩm nên khi gặp cơ sở bán hàng
không uy tín thì rủi ro gặp phải hàng không đúng quảng cáo, hàng
giả... thường sử dụng các hình ảnh có thể hàng thật, hàng chính
hãng để quảng cáo, chào bán với giá rẻ hơn rất nhiều so với các cửa
hàng, địa chỉ bán hàng chính hãng nhằm lôi kéo người tiêu dùng có
nhu cầu mua sắm, sử dụng hàng hiệu nhưng với giá rẻ.
Điển hình là các mặt hàng đồng hồ, kính mắt, quần áo, giày dép...
Các đối tượng vi phạm thường tận dụng mọi kẽ hở để vừa cung cấp
thông tin về hàng hóa, thông tin giao dịch trên Internet, quảng bá
trực tuyến và khuyến mãi rầm rộ, vừa thẩm lậu hoặc đưa những
hàng hóa không rõ nguồn gốc, xuất xứ qua cửa khẩu, biên giới, cảng
biển, sân bay... để bán tràn lan trên thị trường nội địa với quy mô
ngày một lớn. Để qua mắt người tiêu dùng, các đối tượng thường sử
dụng một địa chỉ không liên quan, địa chỉ không có thật hoặc giả
mạo địa chỉ để giao dịch nhưng tập kết, tàng trữ hàng hóa tại nhiều
địa điểm khác nhau hoặc kết hợp vừa làm nơi giao dịch vừa làm nơi
ở, cất giấu hàng hóa nên khó khăn cho công tác điều tra, trinh sát,
kiểm tra, bắt giữ và xử lý hành vi vi phạm.
-Hai là, khách hàng mua sắm online qua phương tiện điện tử, đọc
review từ những khách hàng khác, không nhìn trực tiếp sản phẩm.
Do đó, có thể gặp sản phẩm không đúng ý thích, sai kích thước so
với hình ảnh quảng cáo, sai mẫu mã, sai màu...
-Ba là, TMĐT gắn liền với dịch vụ chuyển phát nhằm tiết kiệm thời
gian cho khách hàng trong việc mua sắm. Tuy nhiên rất nhiều người
tiêu dùng khiếu nại về việc nhận hàng chậm, hàng bị vỡ, hỏng, mất
hàng... do khách hàng chỉ được mở xem hàng sau khi đã thanh toán.
vấn đề an toàn thông tin của khách hàng không được bảo đảm.
Công ty cổ phần An ninh mạng Việt Nam đã nhận được nhiều yêu
cầu hỗ trợ từ các tổ chức kinh doanh thương mại điện tử. Yêu cầu hỗ
trợ phổ biến nhất là hạn chế tấn công DOS/DDOS, loại hình tấn công
này không làm mất dữ liệu người dùng nhưng khiến cho công việc
kinh doanh bị thiệt hại do ngưng trệ hệ thống và không thể phục vụ
khách hàng. Các công ty cung cấp dịch vụ trực tuyến 24/7 thường
gặp tấn công này như: Bán vé trực tuyến, đặt chỗ khách sạn,…
Nhiều rủi ro nghiêm trọng về thương mại điện tử tồn tại từ lâu và rất
có thể đã bị kẻ xấu lợi dụng khi dữ liệu khách hàng bị đánh cắp.
Nhiều tài khoản khách hàng được người dùng sử dụng chung với các
dịch vụ khác, dẫn đến một số khách hàng bị đánh cắp thông tin liên
quan đến tài khoản ngân hàng, bị hack các trang cá nhân để sử
dụng lừa đảo những người khác. 2
. Tấn công từ chối dịch vụ
Tấn công từ chối dịch vụ (DOS - Denial Of Service attack, DDOS
– Distributed DOS hay DR DOS) là kiểu tấn công khiến một hệ thống
máy tính hoặc một mạng bị quá tải, dẫn tới không thể cung cấp dịch
vụ hoặc phải dừng hoạt động.Những cuộc tấn công DoS có thể là
nguyên nhân khiến cho mạng máy tính ngừng hoạt động và trong
thời gian đó, người sử dụng sẽ không thể truy cập vào các website
thương mại điện tử. Những tấn công này cũng đồng nghĩa với những
khoản chi phí rất lớn vì trong thời gian website ngừng hoạt động,
khách hàng không thể thực hiện các giao dịch mua bán. Đồng thời,
sự gián đoạn hoạt động này sẽ ảnh hưởng đến uy tín và tiếng tăm
của doanh nghiệp, những điều không dễ dàng gì lấy lại được. Mặc dù
những cuộc tấn công này không phá huỷ thông tin hay truy cập vào
những vùng cấm của máy chủ nhưng tạo ra phiền toái, gây trở ngại
cho hoạt động của nhiều doanh nghiệp. 3,
Phishing – “ kẻ giả mạo”
Phishing là một loại tội phậm công nghệ cao sử dụng email, tin
nhắn pop-up hay trang web để lừa người dùng cung cấp các thông
tin cá nhân nhạy cảm như thẻ tín dụng, mật khẩu, số tài khoản ngân
hàng. Thông thường các tin tặc thường giả mạo là các công ty nổi
tiếng yêu cầu khách hàng cung cấp những thông tin nhạy cảm này.
Các website thường xuyên bị giả mạo đó là Paypal, Ebay, MSN,
Yahoo, BestBuy, American Online….Kẻ giả mạo thường hướng tới
phishing những khách hàng của ngân hàng và người tiêu dùng
thường mua sắm trực tuyến. Những thông tin ăn cắp đươc sẽ được
kẻ giả mạo dùng để truy cập với mục đích xấu, nếu là thông tin về
tài khoản thanh toán thì sẽ dùng vào mục đích mua hàng hoặc rút
tiền. Bất cứ ai cũng có thể phishing được vì phần mềm phishing là có
nhiều trên mạng với hướng dẫn chi tiết cùng với danh sách địa chỉ email.
4, Rủi ro về gian lận thẻ tín dụng
Trong thương mại điện tử, các hành vi gian lận thẻ tín dụng
xảy ra đa dạng và phức tạp hơn nhiều so với thương mại truyền
thống. Nếu như trong thương mại truyền thống, việc mất thẻ hoặc
thẻ bị đánh cắp là mối đe doạ lớn nhất đối với khách hàng thì trong
thương mại điện tử mối đe doạ lớn nhất là bị “mất” (hay bị lộ) các
thông tin liên quan đến thẻ tín dụng hoặc các thông tin giao dịch sử
dụng thẻ tín dụng trong quá trình thực hiện các giao dịch mua sắm
qua mạng và các thiết bị điện tử. Các tệp chứa dữ liệu thẻ tín dụng
của khách hàng thường là những mục tiêu hấp dẫn đối với tin tặc khi
tấn công vào website thương mại điện tử. Hơn thế, những tên tội
phạm có thể đột nhập vào các cơ sở dữ liệu của website thương mại
điện tử để lấy cắp các thông tin của khách hàng như tên, địa chỉ,
điện thoại… với những thông tin này chúng có thể mạo danh khách
hàng thiết lập các khoản tín dụng mới nhằm phục vụ những mục đích phi pháp.
5. Tin tặc (hacker) , các ch
ương trình phá hoại (cybervandalism và)
k ẻ trộm trên mạng (sni ffer) :
Tin tặc hay tội phạm máy tính là thuật ngữ dùng để chỉ những
người truy cập trái phép vào một website, một cơ sở dữ liệu hay hệ
thống thông tin. Thực chất mục tiêu của các hacker rất đa dạng. Có
thể là hệ thống dữ liệu của các website thương mại điện tử, hoặc với
ý đồ nguy hiểm hơn chúng có thể sử dụng các chương trình phá hoại
(cybervandalism) nhằm gây ra các sự cố, làm mất uy tín hoặc phá
huỷ website trên phạm vi toàn cầu.
Kẻ trộm trên mạng (sniffer) là một dạng của chương trình theo
dõi, nghe trộm, giám sát sự di chuyển của thông tin trên mạng. Khi
sử dụng vào những mục đích hợp pháp, nó có thể giúp phát hiện ra
những yếu điểm của mạng, nhưng ngược lại, nếu sử dụng vào các
mục đích phi pháp, các phần mềm ứng dụng này sẽ trở thành các
mối hiểm hoạ lớn và rất khó có thể phát hiện. Kẻ trộm sử dụng các
phần mềm này nhằm lấy cắp các thông tin có giá trị như thư điện tử,
dữ liệu kinh doanh của các doanh nghiệp, các báo cáo mật…từ bất cứ nơi nào trên mạng.
6, Mất tiền oan do trục trặc hệ thống
Mất tiền oan do trục trặc hệ thống là trường hợp ngân hàng đã
thông báo chuyển khoản thành công và số tiền trong tài khoản đã bị
trừ. Tuy nhiên tài khoản được thụ hưởng lại không nhận được số tiền đã chuyển đến.
Nguyên nhân dẫn đến rủi ro là do:
- Đường truyền Internet và hệ thống nhận chuyển khoản của bạn
hoặc bên đối tượng thụ hưởng gặp trục trặc, hoạt động không ổn định.
- Ngân hàng đang quá tải giao dịch hoặc đnag bảo trì dẫn dến tiền
không tới được bên người nhận.
Kết luận: Thương mại điện tử trong những năm vừa qua đã có
những chuyển biến khá mạnh mẽ tiếp cận đến được hầu hết người
tiêu dùng. Tuy nhiên nó còn tiềm ẩn nhiều rủi ro gây ảnh hưởng tới
chúng ta, chính vì vậy mỗi chúng ta hãy tự trang bị cho mình những
kiến thức để tránh các mối hiểm họa không đáng có, trở thành người tiêu dùng thông minh. -The End-