



















Preview text:
lOMoAR cPSD| 61463864
1. Giao lưu văn hóa, tiếp biến văn hóa a) Khái niệm
Giao lưu và tiếp biến văn hóa là sự tiếp nhận văn hóa nước ngoài bởi dân tộc chủ thể
Giao lưu văn hóa là sự trao đổi văn hóa với nhau
Tiếp biến văn hóa là sự tiếp thu có cải biến những thành tựu vân hóa có nguồn
gốc ngoại sinh vào bên trong nền văn hóa sao cho yếu tố mới không xung đột
cũng không lạc hậu với những yếu tố cũ
Hai dạng thể hiện thái độ của tộc người chủ thể đối với việc tiếp nhận trong giao lưu văn hóa:
Tự nguyện tiếp nhận
Cưỡng bức tiếp nhận
Mức độ tiếp nhận trong giao lưu văn hóa
Tiếp nhận đơn thuần
Tiếp nhận có sáng tạo b) Nguyên nhân
Giao lưu văn hóa là quy luật khách quan của tự nhiên, xã hội
Tự nhiên: mọi sự vật, hiện tượng trong vũ trụ không tồn tại biệt lập mà
tương tác, phụ thuộc, chuyển hóa lẫn nhau
Xã hội: không cộng đồng nào thỏa mãn được nhu cầu phát triển của nó
nếu không tương tác với các cộng đồng khác
=> Văn hóa không đứng ngoài quy luật của tự nhiên và xã hội đó
Lịch sử loài người phát triển sang nền kinh tế hàng hóa => trao đổi hàng hóa
Hoạt động phi kinh tế: trao đổi tặng phẩm, hôn nhân, vật phẩm tôn giáo, ngoại giao
Các cuộc thiên di lớn nhỏ
Sự tiếp nhận, chọn lọc của loài người khi xây dựng nền văn hóa của mình
Giao lưu và tiếp biến văn hóa đề nhằm đáp ứng nhu cầu của các thành viên xã hội
Chức năng quan trọng của văn hóa là chức năng điều chỉnh xã hội, chức năng giao tiếp
Chính tâm lí tò mò đã kích thích con người tìm hiểu và khám phá những điều mới lạ lOMoAR cPSD| 61463864
c) Quan hệ biện chứng giữa nội sinh và ngoại sinh
Hai yếu tố này luôn có khả năng chuyển hóa cho nhau và rất khó tách biệt
trong một thực thể văn hóa. Có yếu tố ở giai đoạn này là yếu tố ngoại sinh
nhưng đến giai đoạn sau, những tính chất của yếu tố ngoại sinh ấy không còn
hoặc nhạt dần đến nỗi người ta tưởng rằng đó là yếu tố ngoại sinh
Kết quả của sự tương tác giữa hai yếu tố này thường diễn ra theo hai trạng thái:
Một là yếu tố ngoại sinh lấn át, triệt tiêu yếu tố nội sinh
Hai là có sự cộng hưởng lẫn nhau, yếu tố ngoại sinh dần trở thành yếu tố
nội sinh hoặc bị phai nhạt căn tính của yếu tố ngoại sinh
Nhìn ở phương diện thái độ của tộc người chủ thể, sự tiếp nhận các yếu tố
ngoại sinh cũng có hai dạng thể hiện: Một là tự nguyện tiếp nhận
Hai là bị cưỡng bức tiếp nhận
Mức độ của sự tiếp nhận trong giao lưu cũng khác nhau
Sự tiếp nhận đơn thuần (phổ biến trong mọi người ở tộc người chủ
thể khi nhìn ở ý nghĩa tương đối)
Sự tiếp nhận sáng tạo (là sự tiếp nhận có sự kiểm soát của lí trí 3
mức của sự tiếp nhận có sáng tạo:
Không tiếp nhận toàn bộ mà chỉ chọn lọc lấy những giá trị thích
hợp cho tộc người mình
Tiếp nhận cả hệ thống nhưng đã có sự sắp xếp lại theo quan
niệm giá trị của tộc người chủ thể
Mô phỏng và biến thể một số thành tựu của văn hóa tộc người
khác bởi tộc người chủ thể
=> như vậy, quan hệ biện chứng giữa yếu tố nội sinh và ngoại
sinh đặt ra đòi hỏi với chính tộc người chủ thể là nội lực của
chính nó, hay nói cách khác là bản sắc là truyền thống văn hóa
của tộc người tiếp nhận.
Ngày nay, chúng ta đã nhận thức được rằng tiếp biến và giao lưu
văn hóa là quy luật phát triển của văn hóa, quy luật tất yếu của
đời sống, một nhu cầu tự nhiên của con người hiện tại
Chữ Nôm – văn hóa Trung Hoa
Thời kỳ: Thế kỷ X đến thế kỉ XX lOMoAR cPSD| 61463864 Hướng viết:
Truyền thống: viết dọc, xếp hàng từ phải sang trái
Hiện đại: viết ngang, trái sang phải d) Tác động, xu hướng Tích cực
Chọn lọc và tiếp thu tinh hoa văn hóa nhân loại
Tô đậm bản sắc văn hóa riêng của mỗi dân tộc
Biến đổi một phần nền văn hóa dân tộc để thích ứng với những yếu tố mới Tiêu cực
Những văn hóa tiêu cực xâm nhập
Có thể dẫn tới đồng hóa văn hóa
Xu hướng: tiếp biến văn hóa theo hình thức tự nguyện Định hướng
Hội nhập văn hóa sâu rộng, hội nhập toàn cầu, tích cực và toàn diện
Tiếp biến văn hóa theo hướng tích cực: giao lưu với thế giới Bài học
Nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lí của Nhà nước đối với lĩnh vực văn hóa
Xây dựng những giá trị văn hóa tốt đẹp phù hợp với giá trị cốt lõi của dân tộc
Kiên quyết đấu tranh, bác bỏ những tiêu cực, những biểu hiện “sùng ngoại”, “lai căng”
Cần chủ động hội nhập, tăng cường hợp các, giao lưu quốc tế về văn hóa,
tiếp thu những tinh hoa văn hóa của nhân loại
2. Khái niệm văn minh và sự khác biệt giữa văn minh và văn hóa
a) Phân biệt văn hóa và văn minh Văn hóa Văn minh
Văn hóa có đặc trưng lịch sử truyền Văn minh gắn với hiện đại và thành tựu
thống. Ta có thể chứng minh qua nền khoa học kĩ thuật hiện đại. Nói đến văn
văn hóa Việt Nam giàu truyền thống minh, ta thường nhớ đến một nét
lịch sử: truyền thống yêu nước, uống nghĩa chung là “trình độ phát triển”, lOMoAR cPSD| 61463864
nước nhớ nguồn, yêu thương đồng một lát cắt đồng đại. Ví dụ nền ta nói loại…
văn minh nhân loại phát triển
rực rỡ với sự ra đời của điện và hệ
thống máy móc hiện đại.
Là một quá trình tích lũy và được sang Là những sáng tạo, phát kiến mang tính
lọc lâu dài. Văn hóa Việt Nam trải qua cá nhân. Ví dụ như Thomas Edison phát
mấy ngàn năm đã giữ lại được nhiều minh ra bóng đèn, Anbe phát minh ra
nét văn hóa đẹp, giàu bản sắc và loại bỏ chiếc máy tính đầu tiên…
đi những văn hóa cổ hủ, không theo kịp
thời đại (trọng nam khinh nữ, tảo hôn,..)
Mang tính cộng đồng, dân tộc, bản sắc. Mang giá trị phổ thông toàn nhân loại,
Văn hóa Việt Nam không được tạo từ quốc tế. Văn minh mang nét nghĩa rộng
một người, hay một nhóm người mà là lớn, là thành quả của toàn nhân loại,
thành quả chung của cộng đồng người được toàn thể con người công nhận và
Việt, từ nhiều dân tộc Việt. Vì vậy mà sử dụng. trở nên vô cùng đa
dạng và đậm đà bản sắc
Được bảo lưu, duy trì, ổn định, gắn với Thay đổi liên tục. Để phù hợp với sự
thói quen, tập quán, tâm linh. Dân tộc thay đổi của xã hội, văn minh biến đổi
Việt Nam duy trì được nhiều nét đẹp theo. Trước kia,con người luôn cho
văn hóa như thờ cúng tổ tiên, biết ơn, rằng trái đất đứng yên nhưng đến thế …
kỉ 17,con người đã thay đổi cách nhìn
và cho rằng trái đất quay quanh mặt trời.
Văn hóa gắn bó với nhiều hơn vơi Văn minh gắn bó nhiều hơn với phương
phương Đông nông nghiệp. Văn hóa Tây đô thị. Phương Tây có nhiều phát
Việt Nam được hình thành ven lưu vực minh hiện đại.
các con sông lớn, thuân lợi cho sản xuất nông nghiệp. lOMoAR cPSD| 61463864
b) Đặc trưng và chức năng của văn hóa
Đặc trưng của văn hóa
Các nhà nghiên cứu về văn hóa trong và ngoài nước đúc kết thành
nhiều đặc trưng của văn hóa, trong đó nổi bật nhất bà bốn đặc trưng cơ bản sau:
Một là, tính hệ thống. Văn hóa là một hệ thống hữu cơ các giá trị
về văn hóa vật chất, văn hóa xã hội và văn hóa tinh thần của
cộng đồng người. Từ những thành tố căn bản này đã nẩy sinh
và bao gồm những tập hợp nhỏ nhiều tầng bậc khác nhau tạo
thành một tổng thể phức tạp, phong phú. => chức năng cơ bản: tổ chức xã hội
Hai là, tính giá trị. Văn hóa bao gồm các giá trị (giá trị thuộc về
đời sống vật chất, giá trị thuộc về đời sống tinh thần) trở thành
thước đó về mức độ nhân bản của xã hội và con người. Trong
lịch sử phát triển của nhân loại có giá trị của văn hóa => điều chỉnh xã hội
Ba là, tính lịch sử. Văn hóa bao giờ cũng được hình thành qua
một quá trình và được tích lũy qua nhiều thế hệ, là những thành
tựu do cộng đồng người trong quá trình tương tác với môi trường
tự nhiên và xã hội mà được sáng tạo và luôn hướng tới sự hoàn
thiện để đạt đến tính giá trị. => giáo dục
Bốn là, tính nhân sinh. Văn hóa là một hiện tượng thuộc về xã
hội loài người, gắn liền với hoạt động thực tiễn của con người,
là những giá trị do một cộng đồng người sáng tạo ra, thuộc về
con người, ở trong con người và mang dấu ấn người. Điều đó
cho thấy, con người vừa là chủ thể của văn hóa, đồng thời là
khách thể của văn hóa, lại vừa là sản phẩm văn hóa. =>giao tiếp
Chức năng của văn hóa
Chức năng tổ chức xã hội
Chức năng điều chính xã hội
Chức năng giao tiếp Chức năng giáo dục 3. Cơ tầng văn hóa a) Khái niệm
Cơ tầng văn hóa là khái niệm dùng để chỉ tầng văn hóa nền, tầng văn hóa đầu
tiên hình thành của một nền văn hóa
b) Giá trị của cơ tầng văn hóa
Đánh dấu điểm khởi đầu của nền văn minh lOMoAR cPSD| 61463864
Trong cơ sở văn hóa Việt Nam, tầng văn hóa được định nghĩa trừu tượng
chỉ khoảng thời gian, là giá trị văn hóa đầu tiên của một nền văn hóa
Xác định tính chất bản địa, phi bản địa
Văn hóa bản địa: là văn hóa của một cộng đồng, dân tộc trong một địa
phương, khu vực, vùng, miền nhất định – được chính động đồng sinh sống
đó sáng tại, tích lũy và đúc kết nên – có bản sắc riêng đặc trưng và
dễ phân biệt với văn hóa bản địa ở địa phương, khu vực, vùng, miền khác
Văn hóa phi bản địa: là những nền văn hóa được du nhập từ các nền văn
hóa khác trong quá trình giao lưu và từ quá trình di cư của các người dân ở nơi khác
Là những giai đoạn phát triển sau của văn hóa, luôn kế thừa và phát huy
những giá trị từ tầng văn hóa trước đó Vd:
Nền văn hóa Việt Nam về kinh tế có đầy đủ cả 3 loại hình trồng trọt,
chăn nuôi, đánh bắt. Tuy nhiên, dấu ấn của nông nghiệp trồng trọt vẫn
đậm nhất bởi cơ tầng văn hóa là dân nông nghiệp trồng trọt, chăn nuôi
và đánh bắt phát triển về sau
Thế kỉ XXI, giữa chốn đô thị văn minh xuất hiện làng trong phố => dấu
ấn nông nghiệp còn ảnh hưởng lâu dài
4. Văn hóa Việt Nam thuộc loại hình văn hóa gốc nông nghiệp trồng trọt a) Vị trí địa lí
Nằm ở góc tận cùng phía Đông Nam châu Á nên VN thuộc loại hình văn hóa
gốc nông nghiệp trồng trọt điển hình
b) Những nét đặc trưng của nền văn hóa gốc nông nghiệp
Trong cách ứng xử với môi trường tự nhiên
Cư dân Việt Nam chủ yếu sinh sống bằng nghề nông nên buộc người dân
phải sống định cư để chờ cây cối lớn lên, đơm hoa, kết trái, thu hoạch
=> ưa thích lối sống ổn định “An cư lạc nghiệp”
Do sống phụ thuộc vào thiên nhiên => cư dân luôn có ý thức tôn trọng và
sống hòa hợp với thiên nhiên, tôn sùng thiên nhiên, thể hiện đức hiếu sinh
Vì nghề nông, nhất là nghề nông nghiệp lúa nước cùng một lúc phụ thuộc
vào rất nhiều yếu tố thiên nhiên như thời tiết, nước, khí hậu (“trông trời,
trông đất, trông mây; trông mưa, trông gió, trông ngày, trông đêm…”) => lOMoAR cPSD| 61463864
trong nhận thức hình thành nên lối tư duy tổng hợp – biện chứng (tổng
hợp kéo theo biện chứng, tổng hợp: bao quát mọi yếu tố, biện chứng: chú
trọng đến mối quan hệ), nặng về kinh nghiệm chủ quan cảm tính: sống lâu
lên lão làng, trăm hay không bằng tay quen… Người làm nông quan tâm
không phải là từng yếu tố riêng lẻ mà là những mối quan hệ giữa chúng.
Người Việt tích lũy được một kho kinh nghiệm hết sức phong phú về các
loại quan hệ này: Quạ tắm thì ráo, sáo tắm thì mưa; Được mùa lúa thì úa
mùa cau, được mùa cau thì đau mùa lúa; Chuồn chuồn bay thấp thì mưa,
bay cao thì nắng, bay vừa thì râm…
Trong tổ chức cộng đồng
Con người nông nghiệp ưa tổ chức xã hội theo nguyên tắc trọng tình,
chuộng sự hòa thuận, tương trợ, quan tâm đến láng giềng Lối sống trọng
tình đưa đến thái độ trọng đức, trọng văn
Đức: tính cách, giá trị của một con người
Văn: vẻ đẹp hòa nhã, lễ độ, tốt đẹp
Nguyên tắc trọng tình trọng nghĩa cũng là cơ sở của tâm lí hiếu hòa,
chuộng sự bình đẳng, dân chủ, đề cao tính cộng đồng, tập thể
Lối sống trọng tình đưa đến thái độ trọng đức, trọng văn, trọng Mẫu đề cao nguyên lí Mẹ
Vùng nông nghiệp Đông Nam Á được các học giả phương Tây gọi là “xứ sở mẫu hệ”
Về mặt tổ chức cộng đồng, người Việt có lỗi sống cố định lâu dài nên tạo
ra những mối quan hệ tình cảm thân thiết, gắn bó, hình thành nên lối
sống trọng tình.. Nhưng cũng từ đây hình thành lối sống tự trị, khép kín,
hướng nội. Lỗi sống trọng tình cảm tất yếu dẫn đến thái độ trọng đức,
trọng văn, trọng phụ nữ. Trong ngôi nhà của người Việt rất coi trọng gian
bếp, thể hiện sự coi trọng phụ nữ. Người Việt coi: Nhất vợ nhì trời; Lệnh
ông không bằng cồng bà… Người phụ nữ cũng được xem là người có vai
trò quyết định trong việc giáo dục con cái: Phúc đức tại mẫu; Con dại cái
mang… Sự gắn bó cộng đồng tạo nên lối sống trọng tình nghĩa: Lá lành
đùm lá rách; Bầu ơi thương lấy bí cùng…; các quan hệ ứng xử thường
đặt lý cao hơn tình: Một bồ cái lý không bằng một tí cái tình.
Lối tư duy tổng hợp và biện chứng
Lối tư duy tổng hợp biện chứng cộng với nguyên tắc trọng tình => lối sống linh
hoạt, luôn ứng biến phù hợp với từng hoàn cảnh cụ thể: Ở bầu thì tròn, ở ống
thì dài; Đi với bụt mặc áo cà sa, đi với ma mặc áo giấy; … Mặt trái của tính linh lOMoAR cPSD| 61463864
hoạt là thói tùy tiện biểu hiện ở tật co giãn giờ giấc, sự thiếu tôn trọng pháp luật,
tệ đi “ cửa sau” để giải quyết công việc( Nhất quen, nhì thân, tam thần, tứ thế).
Vì sống theo tình cảm nên mọi người phải biết tôn trọng và cư xử
bình đẳng, dân chủ với nhau. Lối sống trọng tình và cách cư xử dân
chủ dẫn đến tâm lý coi trọng cộng đồng, coi trọng tập thể. Người
nông nghiệp làm gì cũng phải tính đến tập thể, luôn có tập thể sau lưng
Trong lối ứng xử với môi trường xã hội
Tư duy tổng hợp và phong cách linh hoạt của văn hóa nông nghiệp còn
quy định thái độ dung hợp trong tiếp nhận các yếu tố
ở Việt Nam không có chiến tranh, ngược lại mọi tôn giáo trên thế giới
đều được chấp nhận và bình đẳng
đối với các cuộc chiến tranh xâm lược, người Việt Nam luôn hết sức mềm dẻo, hiếu hòa
Như vậy, hầu như tất cả những đặc trưng của loại hình văn hóa gốc nông
nghiệp trồng trọt đều được thể hiện rõ nét trong cách tố chức đời sống,
phương thức tư duy, lối ứng xử của người Việt truyền thống.
Tuy nhiên, mặt trái của tính linh hoạt và trọng tình là nó dẫn đến thái độ
tùy tiện, coi thường tính nguyên tắc, ý thức tổ chức kỷ luật kém. Văn minh
nông nghiệp kéo dài đã làm chậm sự phát triển của tiến trình lịch sử Việt
Nam, không tạo ra được những tiền đề và điều kiện để bức ra khỏi cái lOMoAR cPSD| 61463864
khung phong kiến phương Đông, làm hạn chế tính năng động, sáng tạo
của con người Việt Nam và dẫn đến sự trì trệ của xã hội Việt Nam.
c) Vai trò của văn hóa trong sự phát triển
Văn hóa là nền tảng tinh thần của xã hội
Đào tạo con người theo các giá trị chân-thiện-mĩ
Hình thành trong phẩm chất mọi thành viên trong xã hội ý thức phát huy
các tiềm năng về thể lực, trí lực và nhân cách
Tích cực xây dựng một môi trường văn hóa lành mạnh để có đủ sức đề
kháng đẩy lùi các tiêu cực xã hội, bài trừ những văn hóa phản tiến bộ.
Văn hóa là động lực thúc đẩy sự phát triển của xã hội
Sự phát triển của một dân tộc gắn liền với cái mới nhưng không tách rời cội nguồn, văn hóa
Con người là nhân tố có vai trò quan trọng và là không thể thiếu trong sự
phát triển của kinh tế, xã hội
Văn hóa có khả năng tiếp thu và cải biên những yếu tố văn hóa ngoại sinh
để biến thành ngoại lực thúc đẩy sự phát triển của kinh tế, xã hội
Văn hóa sẽ giải phóng và nhân lên mọi tiềm năng sáng tạo của con người
trong mọi lĩnh vực đời sống xã hội mà trước hết là kinh tế Văn hóa là
mục tiêu của sự phát triển
Mục tiêu của sự phát triển ở nước ta: “Dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh”
Trong chiến lược phát triển kinh tế 2011-2020:
Xác định: phát huy tối đa nhân tố con người, con người là chủ thể,
nguồn lực chủ yếu và là mục tiêu của sự phát triển”
Yêu cầu: Tăng trưởng kinh tế kết hợp hài hòa với phát triển văn hóa,
thực hiện công bằng xã hội, không ngừng nâng cao chất lượng cuộc sống của nhân dân”.
Phát triển phải hướng tới mục tiêu văn hóa- xã hội mới đảm bảo được sự
bền vững và trường tồn cho sự giàu mạnh của tổ quốc.
Văn hóa có vai trò đặc biệt quan trọng trong việc bồi dưỡng, phát huy
nhân tố con người và xây dựng xã hội mới.Văn hóa giúp mở rộng hiểu
biết, nâng cao dân trí, giúp bồi dưỡng tư tưởng đúng đắn và tình cảm
cao đẹp cho con người, cho nhân dân Việt Nam lí tưởng độc lập dân tộc lOMoAR cPSD| 61463864
gắn với chủ nghĩa xã hội, đồng thời bồi dưỡng phong cách, lối sống lành
mạnh, hướng con người đến chân-thiện-mĩ để hoàn thiện bản thân.
5. Văn hóa Việt Nam gắn với cơ tầng văn hóa Đông Nam Á tiền sử
a) Văn hóa Việt Nam gắn liền với cơ tầng văn hóa ĐNA tiền sử Phức thế
văn hóa lúa nước với 3 yếu tố: văn hóa núi, văn hóa đồng bằng, văn hóa biển
Cái nôi của cây lúa nước
Một trong năm trung tâm cây trồng lớn nhất thế giới
Hoạt động kinh tế chính của ĐNA là sản xuất nông nghiệp
Người phụ ngữ có vai trò quyết định trong hoạt động gia đình
Tín ngưỡng: bái vật giáo, thờ các thần Đất, thân Mưa,... đặc biệt là tín ngưỡng
phồn thực và thờ cúng tổ tiên b) Văn hóa Việt Nam Không gian văn hóa
Theo tiến trình lịch sử, không gian văn hóa VN đã được mở rộng dần về
phương Nam, đến tận vùng ĐBSCL
Không gian gốc: nằm trong khu vực cư trú của người Bách Việt (hình tam
giác với đáy là sông Dương Tử, đỉnh là Bắc Trung Bộ)
Phạm vi rộng hơn: nằm trong địa bàn cư trú của người Indonesien lục địa
=> cội nguồn: không gian văn hóa VN nằm trên nền không gian văn hóa ĐNA c) Thời gian văn hóa
- Thời sơ sử: kéo dài khoảng 2000 năm TCN
d) Văn hóa VN gắn với cơ tầng văn hóa ĐNA tiền sử
Khí hậu: nhiệt đới gió mùa, nóng ẩm, mưa nhiều thích hợp với sự phát triển
nông nghiệp, đặc biệt là cây lúa nước. Vì thế, người dân từ xa xưa đã biết
trồng lúa nước và nhiều loại cây ăn quả khác
Đất đai: đất phù sa màu mỡ thường xuyên được bồi đắp sau mưa
Năm trong khu vực ĐNA, văn hóa VN ngay từ trong thời kì tiền sử đã mang
những sắc thái của văn hóa ĐNA
e) Những yếu tố tạo nên sự gắn kết giữa văn hóa Việt Nam và văn hóa Đông Nam Á Vị trí địa lí lOMoAR cPSD| 61463864
Việt nam nằm ở bán đảo Đông Dương, giữa ĐNA lục địa và ĐNA hải đảo
nên chịu ảnh hưởng của nền văn hóa bán đảo
Khí hậu mang tính bán đảo rõ nét: vùng song nước, xứ nóng ẩm
Đặc trưng của khu vực phía Đông Nam là loại hình văn hóa gốc nông nghiệp, lúa nước ...
Về chủ thể văn hóa VN
Văn hóa VN được hình thành trong không gian văn hóa cội nguồn đó là
văn hóa ĐNA và nơi sinh sống là nơi ở của người Indonesien (ĐNA tiền sử)
Về nguồn gốc dân tộc Việt Nam – chủ thể văn hóa, từng có khá nhiều giả thuyết khác nhau.
Trên nền của những sự kiện trên, quá trình hình thành các dân tộc Việt
Nam có thể được hình dung theo ba giai đoạn:
Vào thời đồ đá giữa (khoảng 10.000 năm về trước)
Từ cuối thời đá mới. Đầu thời đại đồ đồng (khoảng 5.000 năm về trước)
+ Quá trình chia tách này tiếp tục diễn tiến, dần dần đã dẫn đến sự hình
thành các tộc người cụ thể
Dấu ấn ĐNA tiền sử ở VN
Văn hóa Núi Đọ, Sơn Vi (chưa biết làm đồ gốm)
Văn hóa Hòa Bình, Bắc Sơn Nông nghiệp trồng trọt (lúa nước) (biết làm đồ gốm)
Văn hóa Việt Nam có sự ảnh hưởng từ các nền văn hóa ĐNA tiền sử như
Đại Việt, Sa Huỳnh, Đông Sơn
6. Văn hóa Việt Nam có từ lâu đời và đã trải qua nhiều biến động trong lịch sử
7. Dân tộc Việt Nam là một dân tộc đa sắc tộc lOMoAR cPSD| 61463864
Chương 2. Diễn trình văn hóa Việt Nam Tiền và sơ sử
=> Bắc thuộc và chống Bắc thuộc
=> Quân chủ (phong kiến tự chủ)
=> Pháp thuộc và chống Pháp thuộc
=> Thời kì từ Nhà nước dân chủ nhân dân 1945 đến nay
8. Văn hóa Việt Nam thời tiền sử (những thành tựu thuộc 3 phương
diện: văn hóa vật chất, văn hóa tinh thần, văn hóa tổ chức đời sống)
Thời kì tiền sử (thời kì nguyên thủy) là thời kì đầu tiên và cũng là
kéo dài nhất trong lịch sử phát triển của xã hội loài người, tính từ
khi có con người xuất hiện đến hết thời đại đồ đá Niên đại
bắt đầu: cách ngày nay khoảng 80 vạn đến gần 1 triệu năm
kết thúc: cách ngày nay khoảng 4000 năm (khi chấm dứt thời kì đồ đá)
đặc trưng: sự xuất hiện của người nguyên thủy với việc chế tác công cụ đồ đá
lưu ý: quan niệm Việt Nam là một trong những cái nôi của loài
người không đủ cơ sở. Nên nhận thức là VN trong bối cảnh ĐNA
là địa bàn đã chứng kiến sự xuất hiện từ khá sớm của những cá
thể người đầu tiên - người tối cổ Văn hóa vật chất Thời đại đá cũ
Sơ kì = sự xuất hiện dấu tích người tối cổ (hay vượn người)
Di chỉ An Khê (cách ngày nay 80 vạn đến gần 1 triệu năm) công
cụ tìm thấy: rìu đá ghè đặc trưng lOMoAR cPSD| 61463864
Di chỉ Núi Đọ (cách ngày nay khoảng 30 vạn năm): hiện vật tìm
được: hàng vạn mảnh tước, công cụ chặt đập thô sơ
Hậu kì = Sự xuất hiện người tinh khôn (hay người hiện đại)
9. Văn hóa Việt Nam thời sơ sử (những thành tựu thuộc 3 phương
diện: văn hóa vật chất, văn hóa tinh thần, văn hóa tổ chức đời sống)
10.Văn hóa Việt Nam thời kì Bắc thuộc và chống Bắc thuộc (2 hiểu
hiện: Bắc thuộc và chống Bắc thuộc)
11.Văn hóa Việt Nam thời kì tự chủ (Đại Việt) (những thành tựu qua các triều đại)
12.Văn hóa Việt Nam thời kì Pháp thuộc và chống Pháp thuộc (2 hiểu
hiện: Pháp thuộc và chống Pháp thuộc)
13.Văn hóa Việt Nam thời kì mới (những thành tựu thuộc 3 phương
diện: văn hóa vật chất, văn hóa tinh thần, văn hóa tổ chức đời
sống) - Thời kì Nhà nước dân chủ nhân dân 1945 đến nay a) bối cảnh lịch sử 14.Ngôn ngữ - chữ viết
Quá trình hình thành và phát triển của tiếng Việt
Tiếng Việt trong thời kì dựng nước và thời kì Bắc thuộc
Tiếng Việt được xác định thuộc họ ngôn ngữ Nam Á. Tiếng Việt
có nguồn gốc bản địa và tiến trình phát triển của nó gắn bó với
nguồn gốc của dân tộc.
Trong nhiều thiên niên kỉ, qua sự tiếp xúc với nhiều ngôn ngữ
khác nhau, họ ngôn ngữ Nam Á đã phân chia thành một số dòng,
trong đó có dòng Môn-Khmer. Từ dòng Môn-Khmer đã tách ra lOMoAR cPSD| 61463864
tiếng Việt-Mường (tiếng Việt cổ) và cuối cùng tách ra tiếng Việt
và tiếng Mường, sự phân hóa này diễn ra cách đây 1000 đến 1500 năm .
Sự tiếp xúc với người Hán, tiếng Hán, văn hoá Hán đã xảy ra trước
khi người Hán xâm lược, nhưng để lại dấu ấn sâu đậm vẫn là sự
tiếp xúc trực tiếp trong suốt 1000 năm Bắc thuộc. Ảnh hưởng
của tiếng Hán, nền văn hoá Hán không toả ra đồng đều trên lãnh
thổ bị chiếm đóng. Ảnh hưởng đó ở vùng phía bắc sâu đậm hơn
ở vùng phía nam, ở vùng đồng bằng sâu đậm hơn ở vùng núi.
Tiếng Việt dưới thời độc lập tự chủ
Từ thế kỷ XI, cùng với việc xây dựng và củng cố nhà nước, Nho
học được đề cao và giữ vị trí quan trọng, việc học ngôn ngữ - văn
tự Hán được các triều đại Việt Nam chủ động đẩy mạnh, một nền
văn chương - chữ viết Hán mang sắc thái Việt Nam hình thành và phát triển.
Từ năm 939, Việt Nam giành được độc lập tự chủ. Mối quan hệ
với tiếng Hán không còn là quan hệ trực tiếp như trước nữa. Mặc
dù nhà nước phong kiến Việt Nam vẫn duy trì việc sử dụng chữ
Hán, coi chữ Hán là văn tự chính thức, việc tổ chức học hành, thi
cử bằng chữ Hán ngày càng có quy mô, nhưng tiếng Hán không
còn là sinh ngữ như trước nữa. Từ đây tiếng Việt diễn biến theo
quy luật nội tại, nó còn bắt cả kho từ ngữ gốc Hán diễn biến theo quy luật của mình.
Tiếng Việt thời kì Pháp thuộc và từ 1945 đến nay
Dưới thời Pháp thuộc, mặc dù chữ Hán mất địa vị nhưng tiếng
Việt vẫn tiếp tục bị chèn ép ,ngôn ngữ hành chính, ngoại giao,
giáo dục lúc này là tiếng Pháp.
Sự hình thành của chữ Quốc ngữ gắn liền với sự truyền giáo của
các giáo sĩ phương Tây. Chữ Quốc ngữ là thứ chữ được xây dựng
theo nguyên tắc ghi âm bằng chữ Latin. Đến thế kỉ XVII, một số lOMoAR cPSD| 61463864
giáo sĩ phương Tây đem nguyên tắc ấy dùng vào việc ghi âm tiếng
Việt, tạo ra một thứ chữ thuận lợi hơn đối với mục
đích truyền đạo. Mấy thế kỉ tiếp theo, chữ quốc ngữ chỉ được
dùng hạn chế trong những kinh bổn đạo Thiên Chúa.
Sự áp đặt chế độ thuộc địa Pháp đưa đến việc bãi bỏ việc học,
việc thi cử, việc dùng chữ Hán; đưa đến sự thắng lợi của chữ quốc ngữ.
Với nền văn hoá Pháp đã dẫn đến sự hình thành nền báo chí Việt
Nam bằng chữ quốc ngữ, nền văn xuôi Việt Nam hiện đại, sự đổi
mới trong thơ ca, những tiếp thu về từ vựng, ngữ pháp.
Cách mạng tháng Tám năm 1945 thành công đã đưa lại “địa vị
ngôn ngữ chính thức của quốc gia” cho tiếng Việt. Từ đó, tiếng
Việt đã phát triển nhanh chóng, toàn diện, có ảnh hưởng sâu
rộng đến tất cả các ngôn ngữ thiểu số ở Việt Nam.
Tiếng Việt đã góp phần tạo nên bản sắc Việt Nam trong suốt quá
trình hình thành và phát triển của dân tộc, là nhân tố, chìa khóa tạo
nên sự thống nhất, hòa hợp, đoàn kết trong đấu tranh giải phóng
dân tộc và xây dựng đất nước. Tiếng Việt luôn là niềm tự hào vang
lên trên các diễn đàn, trên trường quốc tế.
B. Đặc điểm của tiếng Việt Phương ngữ
Tiếng Việt có sự thay đổi trong giọng nói từ Bắc => Nam
Sự khác nhau giữa các giọng là ở ngữ điệu và từ địa phương Ngữ âm
Nguyên âm (tiếng Việt có cả nguyên âm đôi, nguyên âm 3) Phụ âm
Thanh điệu (6 thanh): ngang, huyền, sắc, hỏi, ngã, nặng Ngữ pháp lOMoAR cPSD| 61463864
Tiếng Việt là 1 ngôn ngữ đơn lập ( ngôn ngữ cách thể) là một
trong 4 loại hình ngôn ngữ quan trọng của thế giới gồm loại hình
ngôn ngữ đơn lập, loại hình ngôn ngữ chắp dính( hay còn gọi là
loại hình ngôn ngữ giao kết), loại hình ngôn ngữ hòa kết và loại
hình ngôn ngữ lập khuôn.
Trật tự từ trong câu thông dụng nhất: chủ ngữ-vị ngữ-bổ ngữ.
Có thể thay đổi trật tự từ trong câu linh hoạt để phù hợp với tính logic và ngữ cảnh. Từ vựng Từ thuần Việt Từ Hán Việt
Từ có nguồn gốc Ấn – Âu
Từ có nguồn gốc tiếng dân tộc thiểu số
15.Phong tục Tết Nguyên đán Khái niệm Lễ Tết
Tết: là biến âm của chữ “tiết”
Có 2 phần: cúng tổ tiên và ăn uống (Tết) Theo thời gian 16.Phong tục hôn nhân 17.Phong tục tang ma 18.Tín ngưỡng thờ Mẫu
A. Phân biệt tín ngưỡng và tôn giáo Tín ngưỡng Tôn giáo lOMoAR cPSD| 61463864 Định nghĩa
Là niềm tin của con Là niềm tin của con
người được thể hiện người tồn tại với hệ
thông qua những lễ nghi thống quan niệm
gắn liền với phong tục, và hoạt động bao
tập quán truyền thống gồm đối tượng tôn
để mang lại sự bình an thờ, giáo lý, giáo luật, lễ nghi và
về tinh thần cho cá nhân tổ chức và cộng đồng Điểm
khác - Tín ngưỡng dân gian không - Phải có đủ 4 yếu tố nhau cấu thành, đó là: giáo
có đủ 4 yếu tố (giáo chủ,giáo lý,giáo luật,tín đồ) chủ, giáo lý, giáo luật và tín đồ
- Một người có thể đồng - Tín đồ tôn giáo, một thời sinh hoạt ở người, chỉ có thể có
nhiều tín ngưỡng khác nhau một tôn giáo
- Các cuốn “Gia phả” của các - Đều có hệ thống kinh
dòng họ và những bài hát điển đầy đủ và rất đồ
chầu văn, những bài văn tế, sộ như: những bộ Kinh,
bài cúng trong hoạt động tín Luật,…
ngưỡng không phải là kinh điển.
- Sinh hoạt tín ngưỡng dân -Trong sinh hoạt có
gian không có ai làm việc những người làm một
này một cách chuyên nghiệp cách chuyên nghiệp (VD: cha sứ) B. Lịch sử hình thành
Thờ Mẫu là 1 tín ngưỡng dân gian xuất hiện từ rất sớm trong đời
sống văn hóa của người Việt, mang đậm chất bản địa, nguyên thuỷ
và tồn tại cùng chiều dài lịch sử của dân tộc. Nó có nguồn gốc sâu
xa từ chế độ mẫu hệ, khi người mẹ, người vợ giữ vị trí quan trọng trong gia đình. Thời kì Bắc thuộc lOMoAR cPSD| 61463864
Đây là thời kỳ có nhiều truyền thuyết liên quan đến mẹ tâm linh,
đặc biệt dựa trên những cội nguồn sẵn có, vai trò của người mẹ
trong chế độ mẫu hệ tiếp tục được phát huy và được đưa vào
trong đời sống tinh thần hàng ngày. Do đó, thời kỳ này đã xuất
hiện nhiều chuyện kể hoặc những truyền thuyết về mẹ.
Thời kì độc lập tự chủ
Ngoài việc xác lập lại nền độc lập của đất nước, đây cũng là thời
kỳ người Việt phục hưng các giá trị văn hóa của dân tộc, trong
đó có các tín ngưỡng dân gian, điển hình là niềm tin về mẹ tâm linh
Với ảnh hưởng của chế độ quan phương cũng như vai trò của
nam giới đã hoàn toàn thay thế nữ giới, vai trò của người mẹ tâm
linh cũng đã có sự thay đổi
Từ tiểu sử cho thấy các Mẫu đều xuất hiện sau thế kỷ XV, tức là từ
thời nhà Lê. Nếu đúng như vậy thì thờ Mẫu ra đời sau khi Nho giáo
đã thay thế Phật giáo, Đạo giáo, để đáp ứng sự hẫng hụt về tâm linh
mà Nho giáo tạo ra. Đặc biệt, với những lý lẽ cương thường và quan
điểm trọng nam khinh nữ, Nho giáo đã đẩy người phụ nữ vào cuộc
sống hết sức khổ cực, trói buộc người phụ nữ vào những lễ giáo hà khắc.
C. Tổng quan về tín ngưỡng thờ Mẫu lOMoAR cPSD| 61463864
D. Ảnh hưởng đến văn hóa đời sống
Ảnh hưởng của tín ngưỡng thờ Mẫu đến lễ hội theo từng vùng miền Tích cực
Khiến cho con người ta biết trân trọng những gì mình đang
có,đặc biệt là người mẹ.
Chỗ dựa về tinh thần, tìm được sự che chở của người mẹ
Khẳng định đức tính cần cù, chăm chỉ lao động của người dân và
ý thức về cội nguồn dân tộc lOMoAR cPSD| 61463864
Kéo mọi người xích lại gần nhau hơn, hun đúc tình yêu quê hương, đất nước
=> - Mặc dù có sự khác nhau về thời gian, địa điểm và đa dạng
về hình thức biểu hiện nhưng có tính thống nhất cao. - Những
điểm khác biệt trong tín ngưỡng thờ Mẫu giữa các miền phần
lớn là do ảnh hưởng của các yếu tố bản địa. Tiêu cực
Nhiều tổ chức lợi dụng sự cả tin của người dân, núp bóng dưới
hình thức “hầu đồng, cắt duyên âm,…” để chuộc lợi
19.Tổ chức những buổi từ thiện kêu gọi quyên góp nhưng hầu đồng
ăn mặc hở hang, nhảy những bài không phù hợp
E. Tín ngưỡng thờ Mẫu ngày nay
Hiện tại loại hình này đang có xu hướng phục hồi và phát triển về
cả bề rộng lẫn chiều sâu
Các nhà nghiên cứu quan tâm để mong tìm về một khía cạnh cốt lõi
khởi nguyên mang vẻ đẹp tâm linh của người Việt
Tín ngưỡng thờ Mẫu được bảo tồn qua lễ hội, qua niềm tin và qua đời sống tâm linh
Các cơ sở thờ tự mẫu đều được sửa sang trên nguyên tắc bảo tồn
các kiến trúc cổ từ trước
Tục đi lễ vẫn còn được giữ gìn đến tận ngày nay, xích mọi người gần nhau hơn
Đáp ứng được nhu cầu về tinh thần, tâm linh của các tầng lớp cư dân trong xã hội
Các lễ hội dân gian truyền thống tín ngưỡng thờ mẫu được phục
hồi và phát triển định kì, thu hút nhiều du khách F. Di sản phi vật thể
Năm 2014 : Thực hành tín ngưỡng thờ mẫu đã được nhà nước vinh
danh là di sản văn hóa phi vật thể cấp quốc gia