



















Preview text:
lOMoAR cPSD| 61463864 1
Chƣơng 1. NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG VỀ VĂN HÓA
1.1. Các khái niệm chung
1.1.1. Khái niệm văn hóa
Văn hóa là sản phẩm chỉ có ở con người, nó là cái dùng để phân biệt giữa loài người
và giống vật. Do văn hóa gắn chặt với con người cho nên khi xác định bản chất của văn
hóa, người ta thường tìm hiểu nó trong bối cảnh sinh thành của loài người một quá trình
lâu dài trong lịch sử tiến hóa của loài người, từ người khéo léo (Homo Habilis) tới người
đứng thẳng (Homo Erectus), đến người thượng cổ (Homo Sapiens Néanderthalensis) và
tới người khôn ngoan hiện đại ( Homo Sapiens – Sapiens). Sự khác biệt căn bản nhất
giữa con người và các loài động vật khác chính ở đời sống tinh thần – cái mà con người
tạo ra trong quá trình lao động, sáng tạo và tư duy. Yếu tố sáng tạo được coi là bản chất cốt lõi của văn hóa.
Cho đến nay, nhiều người có chung một quan niệm về văn hóa, đó là: những hiện
tượng nào do con người nghĩ ra, con người đạt được, có ích, có lợi cho sự phát triển xã
hội và được con người chấp nhận là văn hóa. Tuy nhiên, chưa có một khái niệm hay một
định nghĩa mang tính thống nhất về văn hóa. Đã có hàng trăm định nghĩa về văn hóa,
qua nội dung các định nghĩa có thể thấy rằng, đa phần các nhà khoa học đều tiếp cận
văn hóa xoay quanh những khuynh hướng nhất định. Ví dụ, nhà nghiên cứu triết học
nhìn văn hóa dưới góc độ tổng hợp những quy luật chung của triết học, nhà nghiên cứu
nghệ thuật lại nhấn mạnh đến góc độ mĩ học và nghệ thuật của văn hóa, các nhà dân tộc
học lại nhìn văn hóa trong nghĩa rộng cả về vật chất và tinh thần… Tuy nhiên, dù ở góc
độ nào thì các nội dung của định nghĩa văn hóa cũng thể hiện hai xu hướng định nghĩa
về văn hóa. Thứ nhất, đó là loại định nghĩa miêu tả liệt kê các thành tố của văn hóa. Và
thứ hai, đó là loại định nghĩa nêu đặc trưng của văn hóa.1
Theo quan niệm của người phương Đông: Từ Văn hóa đã có trong đời sống ngôn
ngữ từ rất sớm. Trong Chu Dịch, quẻ Bi đã có từ văn và hóa: Xem dáng vẻ con người,
lấy đó mà giáo hóa thiên hạ (Quan hồ nhân văn dĩ hóa thành thiên hạ). Người sử dụng
từ văn hóa sớm nhất có lẽ là Lưu Hướng (năm 77 – 6 TCN) thời Tây Hán với nghĩa như
một phương thức giáo hóa con người. Ông sử dụng từ văn hóa để đối lập với vũ lực
(Phàm dấy việc võ là vì không phục tùng, dùng văn hóa mà không sửa đổi sau đó mới
thêm chém giết ). Theo nghĩa Hán – Việt văn có nghĩa là vẻ đẹp; hóa có nghĩa là sự
chuyển hóa, biến đổi tức văn hóa là trở thành đẹp, thành có giá trị. Văn hóa chỉ chứa cái
đẹp, chứa cái có giá trị, nó là thước đo mức độ tiến bộ của xã hội loài người. Trong Từ
1 Võ Quang Trọng (2010), Bảo tồn và phát huy giá trị di sản văn hóa phi vật thể ở Thăng Long – Hà Nội, NXB. Hà Nội, tr.17. lOMoAR cPSD| 61463864 2
điển tiếng Việt, văn hóa có rất nhiều nghĩa: tổng thể nói chung những giá trị vật chất và
tinh thần do con người sáng tạo ra trong quá trình lịch sử; trình độ cao trong xã hội, biểu
hiện của văn minh; chỉ trình độ học vấn, lối sống.
Theo quan niệm của người phương Tây: Người Pháp và người Anh có từ culture,
người Đức có từ kultur, người Nga có từ kultura. Những chữ này có chung gốc Latinh
là chữ cultus animi là trồng trọt tinh thần. Đó chính là văn hóa với hai khía cạnh: trồng
trọt, thích ứng với tự nhiên, khai thác tự nhiên và giáo dục đào tạo cá thể hay cộng đồng
để họ không còn là động vật tự nhiên, và họ có những phẩm chất tốt đẹp.
Theo quan niệm của một số tổ chức, nhà nghiên cứu văn hóa, danh nhân văn hóa:
UNESCO đưa ra định nghĩa về văn hóa như sau: Văn hóa nên được đề cập đến như là
một tập hợp của những đặc trưng về tâm hồn, vật chất, tri thức và xúc cảm của một xã
hội hay một nhóm người trong xã hội và nó chứa đựng, ngoài văn học và nghệ thuật, cả
cách sống, phương thức chung sống, hệ thống giá trị, truyền thống và đức tin.2
Chủ tịch Hồ Chí Minh coi văn hóa bao gồm cả văn hóa vật chất và văn hóa tinh thần:
Vì lẽ sinh tồn cũng như mục đích của cuộc sống, loài người mới sáng tạo và phát minh
ra ngôn ngữ, chữ viết, đạo đức, pháp luật, khoa học, tôn giáo, văn học, nghệ thuật,
những công cụ cho sinh hoạt hàng ngày về ăn, mặc, ở và các phương thức sử dụng. Toàn
bộ những sáng tạo và phát minh đó tức là văn hóa.Văn hóa là sự tổng hợp của mọi
phương thức sinh hoạt cùng với biểu hiện của nó mà loài người đã sản sinh ra nhằm
thích ứng những nhu cầu đời sống và đòi hỏi của sự sinh tồn.3 Gần đây, UNESCO đã có
khái niệm theo hướng tiếp cận văn hóa là biểu tượng: Văn hóa là hệ thống cá ký hiệu
(biểu tượng), nó quy định cách ứng xử của một số đông người và giúp con người có thể
giao tiếp được với nhau trong những cộng đồng riêng biệt.
GS. Trần Quốc Vượng cho rằng: văn hóa là quá trình biến đổi thiên nhiên thứ nhất
thành thiên nhiên thứ hai mang tính người.
GS. Viện sĩ Trần Ngọc Thêm định nghĩa văn hóa là một hệ thống hữu cơ các giá trị
vật chất và tinh thần do con người sáng tạo và tích lũy qua quá trình hoạt động thực
tiễn, trong sự tương tác giữa môi trường tự nhiên và xã hội.4
Có thể nói, định nghĩa về văn hóa sẽ còn tiếp tục tăng lên theo thời gian và quan
niệm nhìn nhận của các nhà nghiên cứu và đương nhiên, không phải lúc nào các định
2 Hội nghị quốc tế do UNESCO chủ trì năm 2001, Tuyên bố toàn cầu về đa dạng văn hóa
3 Hồ Chí Minh toàn tập, tập 3 (2009), Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, tr.431
4 Trần Ngọc Thêm (1997), Tìm về bản sắc văn hóa Việt Nam, Nxb. TP Hồ Chí Minh, tr25 lOMoAR cPSD| 61463864 3
nghĩa đưa ra cũng có thể thống nhất, hay hòa hợp và bổ sung cho nhau. Để có cái nhìn
tổng quát nhất về văn hóa, nhóm tác giả giáo trình xin đưa ra khái niệm về văn hóa:
Văn hóa là tổng thể các giá trị vật chất và tinh thần do con người sáng tạo trong quá
trình lịch sử. Những giá trị đó được chắt lọc qua thời gian để trở thành hệ thống các giá
trị và chuẩn mực, quy định nên truyền thống và thị hiếu của mỗi cộng đồng dân tộc.
1.1.2. Khái niệm văn hiến
Khái niệm văn hiến thường chỉ dùng trong các sách vở của phương Đông mà chủ
yếu là Việt Nam và Trung Quốc. Chu Hy đời Tống chú thích một câu trong sách Luận
ngữ như sau: văn là điển tích, hiến là tốt đẹp, tài giỏi. Như vậy, văn hiến nguyên nghĩa
là văn chương, sách vở hay bảo tồn truyền thống văn hóa lâu đời.
Ở Việt Nam từ xưa cha ông ta đã dùng đến khái niệm văn hiến. Từ thời Lý, người
Việt đã tự hào nước mình là một văn hiến chi bang. Đến thế kỉ XV, Nguyễn Trãi viết:
Duy ngã Đại Việt thực vi văn hiến chi bang ( Duy nước Đại Việt ta thực sự là một nước
văn hiến). Từ văn hiến mà Nguyễn Trãi dùng ở đây là một khái niệm rộng chỉ một nền
văn hóa cao, trong đó nếp sống tinh thần, đạo đức được chú trọng.
Văn hiến (hiến là hiền tài) để chỉ truyền thống văn hóa lâu đời và tốt đẹp. Học giả
Đào Duy Anh khi giải thích từ văn hiến đã khẳng định: là sách vở và nhân vật tốt trong
một đời. Nói cách khác văn là văn hóa, hiến là hiền tài. Như vậy văn hiến thiên về những
giá trị tinh thần do những con người có tài đức chuyển tải, thể hiện tính dân tộc, tính
lịch sử rõ rệt. Hiểu theo nghĩa rộng, một nước văn hiến là nước có truyền thống văn hoá
lâu đời, có đời sống tinh thần phát triển thể hiện ở mặt văn chương sách vở, phong tục,
tập quán và nhiều nhân tài anh hùng hào kiệt làm rạng rỡ non sông đất nước.
1.1.3. Khái niệm văn vật
Đây là khái niệm có ý chỉ bộ phận của văn hóa. Theo nghĩa hẹp, văn là vẻ đẹp,
vật là các sản phẩm do con người sáng tạo ra, có giá trị nghệ thuật và sức sống dài lâu.
Văn vật được biểu hiện dưới dạng vật thể như các công trình kiến trúc, di tích, hiện vật
quý hiếm có giá trị nghệ thuật và hàm lượng văn hóa cao. Văn vật là truyền thống văn
hóa biểu hiện ở nhiều nhân tài và nhiều di tích lịch sử, công trình, hiện vật có giá trị
nghệ thuật và lịch sử.
Văn vật thường gắn với những truyền thống, những thành quả văn hoá và những
thế hệ nhân tài tiêu biểu cho một miền, một vùng, một địa phương, như người ta thường
nói: ngàn năm văn vật đất Thăng Long, hoặc Hà Nội nghìn năm văn vật.
1.1.4. Khái niệm văn minh
Văn minh là danh từ Hán – Việt ( văn là vẻ đẹp, minh là sáng) chỉ tia sáng của đạo
đức, biểu hiện ở chính trị, pháp luật, văn học, nghệ thuật. Trong tiếng Anh, Pháp, từ lOMoAR cPSD| 61463864 4
civilisation với nội hàm nghĩa văn minh, từ gốc latinh là civitas với nghĩa gốc: đô thị,
thành phố và các nghĩa: thị dân, công dân.
Theo nghĩa thông thường, văn minh đối lập với những gì lạc hậu, mông muội, dã
man, phản tiến bộ, phi nhân tính. Trong sự phân kỳ xã hội loài người, người ta chia ra
ba giai đoạn là mông muội, dã man và văn minh. Như vậy văn minh gắn liền với giai
đoạn phát triển nhân loại, khi xã hội xuất hiện nhà nước thì loài người chuyển từ giai
đoạn dã man sang văn minh.
Văn minh chủ yếu liên quan đến kỹ thuật làm chủ thế giới, biến đổi thế giới sao cho
đáp ứng đòi hỏi của con người. Một thành tựu của văn minh thường lan rộng khắp thế
giới. Cho nên nghiên cứu văn minh là nghiên cứu mặt động của trí tuệ, tâm thức con
người. Khi nói đến văn minh, người ta thường nghĩ đến phương Tây đô thị.
Có thể hiểu văn minh là trình độ phát triển nhất định của văn hoá về phương diện
vật chất, đặc trưng cho một khu vực rộng lớn, một thời đại hoặc cả nhân loại. Văn hoá Văn hiến văn vật Văn minh
Chứa cả giá trị Thiên về giá trị Thiên về giá Thiên về giá trị vật vật chất
và tinh tinh thần trị vật chất chất – kỹ thuật thần Chỉ trình độ phát Có bề dày lịch sử triển ở một thời điểm nhất định Có tính dân tộc Có tính quốc tế Gắn bó nhiều hơn
Gắn bó nhiều hơn với phương Đông nông nghiệp với phương Tây đô thị
Bảng : So sánh văn hoá, văn hiến, văn minh, văn vật 5
1.2. Những đặc trƣng và chức năng của văn hóa
Đặc trưng của văn hóa là những nét riêng biệt thể hiện nội hàm của văn hóa, đó
là những thuộc tính cơ bản của văn hóa để từ đó người ta có thể xác định chức năng hay nhiệm vụ của văn hóa.
Chính vì vậy, khi đề cập đến đặc trưng của văn hóa, chúng ta sẽ đồng thời tìm
hiểu chức năng của văn hóa gắn liền với đặc trưng của nó. 1.2.1. Tính hệ thống và chức
năng tổ chức xã hội của văn hóa
5 Trần Ngọc Thêm (1997), Tìm về bản sắc văn hóa Việt Nam, Nxb. TP Hồ Chí Minh, tr25 lOMoAR cPSD| 61463864 5
Tính hệ thống cần để phân biệt văn hóa như một hệ thống giá trị với quan điểm sai
lầm coi văn hóa như một tập hợp ( phức hợp) của những tri thức rời rạc từ nhiều lĩnh vực.
Đặc trưng tính hệ thống của văn hóa được thể hiện ở việc nó không tồn tại riêng
lẻ mà nó là sự gắn kết giữa các yếu tố trong một hệ thống hữu cơ, có mối quan hệ tác
động qua lại. Trong mối quan hệ giữa con người với con người, con người với tự nhiên
thì sự gắn kết, ràng buộc ấy trở thành mối quan hệ mật thiết không thể thiếu.
Môi trường tự nhiên là tổng thể các nhân tố tự nhiên xung quanh chúng ta như
bầu khí quyển, nước, thực vật, động vật, thổ nhưỡng, khoáng sản, bức xạ mặt trời... Con
người tồn tại trong môi trường tự nhiên, cùng phát triển với môi trường tự nhiên. Vật
chất trong cơ thể con người được tự nhiên cung cấp, sự biến đổi của tự nhiên sẽ ảnh
hưởng đến sự phát triển thể chất cũng như trí tuệ, tình cảm của con người. Mối quan hệ
giữa con người với tự nhiên là mối quan hệ nhiều chiều, có mối quan hệ thích nghi,
không thích nghi và biến đổi.
Nếu như môi trường tự nhiên cung cấp những điều kiện căn bản cho sự sống của
con người thì môi trường xã hội do con người tạo ra lại góp phần rất lớn trong việc tạo
ra thế ứng xử và lối ứng xử của con người. Nhờ vào môi trường xã hội mà con người
biết điều chỉnh hành vi của mình trong quá trình cải tạo tự nhiên cũng như trong mối
quan hệ giữa con người với con người.
Như vậy, đặc trưng này yêu cầu chúng ta khi xem xét các sự vật, hiện tượng thuộc
một nền văn hóa cần phải tìm hiểu nguyên nhân, hoàn cảnh, quy luật hình thành và phát
triển của nó, cần đặt những sự vật, hiện tượng ấy trong một chỉnh thể là môi trường tự
nhiên, môi trường xã hội và con người – chủ nhân của nền văn hóa.
Nhờ có tính hệ thống mà văn hoá, với tư cách là một thực thể bao trùm mọi hoạt
động của xã hội, thực hiện được chức năng tổ chức xã hội.
Văn hóa là do con người tạo ra, trật tự xã hội là do con người tự sắp đặt và quy ước
với nhau. Con người là chủ thể của các mối quan hệ xã hội nhưng đồng thời lại là đối
tượng của sự tác động giữa trật tự xã hội đối với con người. Chính văn hoá thường xuyên
làm tăng độ ổn định của xã hội, cung cấp cho xã hội mọi phương tiện cần thiết để ứng
phó với môi trường tự nhiên và xã hội của mình.
Trong quá trình tổ chức xã hội, Nhà nước hay những đơn vị hành chính nhỏ hơn có
thể dựa vào đặc trưng tính hệ thống này của văn hóa để tìm ra được những quy luật hình
thành và phát triển văn hóa của một tộc người hay một cộng đồng rộng lớn hơn. Cũng
từ đó tìm ra mối liên hệ mật thiết giữa các tập quán ăn, ở, mặc và lối ứng xử của con
người với nhau cũng như những nguyên nhân tạo ra chúng. Tính hệ thống còn giúp
chúng ta lý giải được những hiện tượng văn hóa mang tính đặc thù của mỗi dân tộc. lOMoAR cPSD| 61463864 6
1.2.2. Tính giá trị và chức năng điều chỉnh xã hội của văn hóa
Tính giá trị cần để phân biệt văn hóa như cái có giá trị với cái phi văn hóa.
Giá trị là quan niệm về cái có ý nghĩa, được cộng đồng xã hội lựa chọn, cùng nhau
chia sẻ và tôn vinh. Văn hoá theo nghĩa đen là “trở thành đẹp, thành có giá trị”. Văn hóa
là những cái đẹp do chính con người sáng tạo ra xuất phát từ nhu cầu của chính con
người và phục vụ con người. Những giá trị xã hội do văn hóa tạo ra như là yếu tố thực
thể của một nền văn hóa, nó chính là cái tạo nên bản sắc của nền văn hóa ấy.
- Theo mục đích có thể chia thành giá trị vật chất và giá trị tinh thần.
- Theo ý nghĩa có thể chia thành giá trị sử dụng, giá trị đạo đức và giá trị thẩm mỹ.
- Theo thời gian có thể chia thành giá trị vĩnh cửu và giá trị nhất thời. Trong giá trị
nhất thời lại có thể phân biệt giá trị đã lỗi thời, giá trị đang hiện hành và giá trị đang hình thành.
Giá trị thường đi cùng chuẩn mực xã hội (chuẩn mực xã hội là hệ thống những quy
định cụ thể về phương thức hành xử trong đời sống giưa mọi người nói chung và giao
tiếp xã hội nói riêng), hai yếu tố này tác động bổ sung cho nhau hướng dẫn hành động cho mọi người.
Nhờ tính giá trị mà văn hoá có chức năng quan trọng thứ hai là chức năng điều chỉnh
xã hội. Chức năng này của văn hoá đã giúp cho xã hội duy trì được trạng thái cân bằng
động, không ngừng tự hoàn thiện và thích ứng với biến đổi của môi trường, giúp định
hướng các chuẩn mực, làm động lực cho sự phát triển xã hội.
Đối với mỗi thành viên trong xã hội, giá trị là cái tốt đẹp, đáng vươn tới. Khi đạt được
sẽ thăng hoa về tinh thần, do đó giá trị có tác dụng điều tiết đối với hoạt động của con người.
Có những giá trị chủ đạo đại diện cho lý tưởng xã hội của cả một cộng đồng nên có
tác động rất lớn đến hành vi của con người. Vì vậy, giá trị giúp cho thành viên trong xã
hội xác định vị thế xã hội của mình, từ đó tìm ra phương thức hành xử phù hợp với lý
tưởng chung mà cộng đồng đã chọn.
Những giá trị trong phong tục tập quán của cộng đồng có thể trở thành những chuẩn
mực đạo đức, nếu được thể chế hóa thành lối sống, chúng sẽ khuyến khích , động viên,
thậm chí gây ra áp lực bằng dư luận xã hội cho hành vi của con người. Lúc này giá trị
đảm nhiệm nhiệm vụ giám sát xã hội, điều tiết xã hội nhằm duy trì sự thống nhất và
củng cố mối liên kết cộng đồng, tạo sự ổn định và an sinh xã hội.
Tuy nhiên, khi giá trị và chuẩn mực đã bị lỗi thời, trở thành rào cản cho sự tiến bộ
của xã hội thì nhiệm vụ bức thiết đặt ra là phải tiến hành cải cách xã hội, thực chất là
thay đổi hệ giá trị và chuẩn mực xã hội. lOMoAR cPSD| 61463864 7
1.2.3. Tính nhân sinh và chức năng giao tiếp
Tính nhân sinh cần để phân biệt văn hóa như cái nhân tạo( do con người sáng tạo,
vì con người) với các giá trị tự nhiên (mang tính tự thân).
Tính nhân sinh cho phép phân biệt văn hoá như một hiện tượng xã hội do con người
sáng tạo ra và khác với giá trị tự nhiên (thiên tạo). Văn hóa là cái tự nhiên được biến đổi bởi con người.
Văn hóa là sản phẩm mà trong quá trình tồn tại và phát triển của mình, con người đã
tạo ra. Nó phản ánh khả năng, trí tưởng tượng, nhu cầu sống của con người. Đồng thời
nó cũng phản ánh trình độ và trật tự của một xã hội. Khi xã hội càng phát triển thì nhu
cầu của con người ngày càng đa dạng và phong phú. Cho dù thế nào thì văn hóa cũng
phản ánh con người thông qua những sản phẩm văn hóa mà con người đã tạo ra trong
hoạt động thực tiễn của mình.
Do mang tính nhân sinh, văn hoá trở thành sợi dây nối liền con người với con người.
Nó thực hiện chức năng giao tiếp và có tác dụng liên kết họ lại với nhau.
Thông qua sản phẩm văn hóa, người ta có thể hiểu được nhau, giao tiếp với nhau để
tồn tại và phát triển. Thậm chí cộng đồng tiến hành quá trình truyền trao kinh nghiệm
cũng như những giá trị khác giữa các thế hệ với nhau.
Văn hóa là cơ sở để tìm hiểu về các dân tộc khác trên thế giới, giúp thúc đẩy quá
trình giao lưu văn hóa, tạo động lực để phát triển kinh tế.
Sản phẩm văn hóa còn là cầu nối giữa cá nhân với cá nhân, cá nhân với tập thể, giữa
tập thể với nhau. Nó thể hiện trình độ giao tiếp của mỗi người với một đối tượng cụ thể,
thậm chí sẽ phản ánh trình độ văn hóa của cả một dân tộc.
Tóm lại, nếu ngôn ngữ là hình thức của giao tiếp thì văn hoá là nội dung của nó. Điều
đó đúng với với giao tiếp giữa cá nhân trong một dân tộc, lại càng đúng với giao tiếp
giữa những người thuộc các dân tộc khác nhau và sự giao tiếp giữa các nền văn hoá khác nhau.
1.2.4. Tính lịch sử và chức năng giáo dục của văn hóa
Tính lịch sử cần để phân biệt văn hóa như cái được tích lũy lâu đời với văn minh như
cái chỉ trình độ phát triển ở trình độ nhất định.
Văn hóa là sản phẩm của một quá trình và được tích lũy qua nhiều thế hệ. Tính lịch
sử tạo cho văn hoá một bề dày, một chiều sâu. Nó buộc văn hóa thường xuyên tự điều
chỉnh, tiến hành phân loại và bố trí lại các giá trị.
Trong xã hội xưa, chính sách của Nhà nước theo Nho giáo là trọng nông, ức thương
nhằm cột chặt người nông dân vào ruộng đất trong khung cảnh làng xã tạo sự thuận lợi
cho thu thuế và bắt lính. Các nhà nho đưa ra quan niệm tri túc tức là hạn chế về nhu cầu,
coi thường của cải và hạnh phúc vật chất. Nhà nho còn nói vi phú bất nhân nghĩa là làm lOMoAR cPSD| 61463864 8
giàu thì phải ác và vi nhân bất phú tức là muốn làm người nhân nghĩa thì không nên
màng tới sự giàu sang. Nhà nước phong kiến chỉ mở một con đường cho những ai muốn
vinh thân và sang giàu là đi học – thi đỗ – làm quan. Con đường đó đã tạo ra trong xã
hội truyền thống Việt Nam tâm lý coi trọng việc làm quan và coi khinh thực nghiệp
trong đó có nghề buôn bán. Có thể thấy, đến ngày nay đã có nhiều thay đổi trong quan
niệm về học hành và làm giàu. Giữa hai yếu tố này có mối liên hệ với nhau, thậm chí
yếu tố học hành tạo nền tảng để cá nhân thúc đẩy quá trình làm giàu cho mình và cho
xã hội. Hiện nay, bên cạnh việc tôn trọng và vinh danh những người đỗ đạt, có tri thức
thì xã hội cũng vinh danh nhưng cá nhân, tổ chức giỏi trong kinh tế.
Tính lịch sử được duy trì bằng truyền thống văn hoá. Truyền thống văn hoá là những
giá trị tồn tại tương đối ổn định, được tích luỹ và tái tạo trong cộng đồng người qua
không gian và thời gian, được đúc kết thành những khuôn mẫu xã hội và cố định dưới
dạng ngôn ngữ, phong tục, tập quán, nghi lễ, luật pháp, dư luận.
Truyền thống văn hoá tồn tại nhờ giáo dục, chính vì thế mà văn hoá có chức năng
giáo dục. Do đó đây là chức năng quan trọng của văn hóa. Tuy nhiên, văn hóa thực hiện
chức năng giáo dục không chỉ bằng những giá trị ổn định (truyền thống văn hóa) mà còn
bằng cả những giá trị mới đang được hình thành. Hai loại giá trị này sẽ tạo nên hệ thống
chuẩn mực mà con người hướng tới.
Xuất phát từ chức năng giáo dục mà văn hoá đóng vai trò quyết định trong việc hình
thành nhân cách. Trải qua quá trình lịch sử dài lâu, những giá trị tốt đẹp được truyền
trao từ các thế hệ đi trước cho thế hệ sau, đó chính là quá trình giáo dục truyền thống
văn hóa. Nhờ đó văn hóa giúp đảm bảo tính kế tục của lịch sử.
1.3. Văn hóa trong sự tƣơng tác với môi trƣờng tự nhiên và môi trƣờng xã hội
1.3.1. Văn hóa trong sự tương tác với môi trường tự nhiên
Môi trường tự nhiên là sự tổng hợp toàn bộ những gì tồn tại khách quan, là những
gì đương nhiên tồn tại mà không phụ thuộc vào ý muốn, sự sáng tạo của con người. Đó
là toàn bộ vũ trụ với rất nhiều những hình thức biểu hiện, từ các thiên hà, các yếu tố địa
lý đến sinh vật, vi sinh vật, con người…Mọi sinh vật đều sống trong mỗi quan hệ không
thể tách rời nhau và với những điều kiện thiên nhiên bao quanh chúng. Ở đó diễn ra sự
tương tác lẫn nhau và sự tương tác với môi trường tự nhiên. Trong đó, ứng xử của con
người với môi trường tự nhiên được xem xét dưới nhiều góc độ.
Trước hết, đó là sự thích nghi của con người với môi trường tự nhiên. Sự thích
nghi ấy có tính bản năng và được truyền trao từ thế hệ này sang thế hệ khác. Con người
sống gắn bó với thiên nhiên nên có sự nương nhờ vào thiên nhiên, có thái độ hòa hợp
với thiên nhiên và có tâm lý thuận theo tự nhiên. Đây cũng là đặc trưng trong lối ứng xử
với thiên nhiên của cư dân nông nghiệp. Vì thế, trong tổng hợp kinh nghiệm của cư dân, lOMoAR cPSD| 61463864 9
thường có nhiều câu nói như: Thiên – Nhân hợp nhất; Thiên thời – Địa lợi – Nhân hòa;
Mưu sự tại nhân, thành sự tại thiên;…Điều đó được thể hiện đậm nét trong cách ăn, mặc,
đi lại, xây dựng nhà cửa…của con người.
Song song với sự thích nghi nói trên là sự biến đổi. Thích nghi để tồn tại còn biến
đổi để phát triển. Khi nói đến văn hóa ứng xử của con người với môi trường tự nhiên,
ta thấy ứng xử có tính biến đổi nhiều hơn. Điều đó được lý giải bởi sự phát triển cao của
con người về mọi phương diện, đặc biệt về bộ não và đôi bàn tay. Do vậy, con người đã
khai thác thiên nhiên, làm biến đổi nó theo hướng có lợi cho con người. Điều đó thể
hiện rõ trong ứng xử thực tiễn và ứng xử thẩm mỹ của con người.
Một ví dụ cho sự thích nghi và biến đổi trong ứng xử với môi trường thiên nhiên
của con người đó là qua tập quán xây dựng nhà ở của con người. Với mỗi dạng môi
trường, địa hình khác nhau, con người có thói quen cư trú khác nhau. Với môi trường
sông nước, ngư dân lấy con thuyền làm nhà; với môi trường rừng núi, người dân xây
dựng nhà sàn để ở…Trong lối xây dựng nhà ở, con người biết tận dụng và thuận theo
thiên nhiên từ việc chọn hướng nhà đến việc sử dụng các nguyên vật liệu vốn có trong
tự nhiên. Trong quan niệm về vị trí của ngôi nhà theo hướng tiếp cận giá trị sử dụng,
người Việt quan niệm: Nhất cận thị, nhị cận lân, tam cận giang, tứ cận lộ, ngũ cận điền.
Tuy nhiên, theo sự phát triển của xã hội, yếu tố thẩm mỹ đã bao trùm lên các mặt trong
xây dựng nhà cửa. Chính nguồn cảm hứng thẩm mỹ đã thôi thúc con người có những
sáng tạo vượt bậc và để lại cho đời những kiến trúc vĩ đại qua thời gian.
1.3.2. Văn hóa trong sự tương tác với môi trường xã hội
Môi trường xã hội là môi trường của các mối quan hệ và tác động qua lại giữa
người và người. Sự tác động ấy diễn ra trong những thể chế như pháp luật, chính trị, tôn
giáo, tín ngưỡng, đạo đức…Con người không ngừng sáng tạo ra các giá trị văn hóa vật
chất và tinh thần và từ đó con người đã tạo nên môi trường văn hóa cho chính mình.
Khi nói đến văn hóa trong sựa tương tác với môi trường xã hội, chúng ta thường
đề cập đến truyền thống văn hóa, giao lưu văn hoá, thể chế chính trị…tác động trực tiếp
đến hoạt động tiếp thu, sáng tạo văn hóa của con người.
* Trước hết là quá trình giao lưu văn hóa
Một trong những thuộc tính của văn hoá là có thể chia sẻ, tức là văn hoá có thể
giao lưu, ảnh hưởng, vay mượn từ cộng đồng này sang cộng đồng khác và ngược lại.
Chính vì vậy sự vay mượn, giao lưu, ảnh hưởng văn hoá còn là một nhân tố quan trọng
trong qui luật truyền thống và đổi mới của văn hoá.
Trong quá trình lịch sử, cư dân Việt cổ đã mở rộng không gian sống của mình từ
miền núi xuống đồng bằng, từ Bắc xuống Nam. Trong qu¸ trình đó cư dân người Việt
cùng chung sống với cư dân các tộc người khác với người Chăm (miền Trung), người lOMoAR cPSD| 61463864 10
Khơme (Nam bộ). Qua sự biến đổi của thời gian những đặc trrưng văn hoá của các dân
tộc hoà trộn vào nhau, tạo nên sự phức hợp văn hoá Việt Nam. Qua giao lưu văn hoá
thể hiện rõ nét trong phong tục tập quán. Về tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên, trước đây
người Khơ me thường cóng tổ tiªn tập trung ở chùa. Nay do ảnh hưởng của người Việt,
người Khơ me cũng lập bàn thờ cúng ông bà, tổ tiên ở trong nhà. Nhiều câu truyện cổ
tích của người Khơ me như Chao Sanh; Chao sra tốp chêk cũng giống như truyện
Thạch Sanh; Tấm Cám của người Việt.
Giao lưu với văn hoá Ấn Độ: từ khoảng đầu Công nguyên khi đó Việt Nam còn
là “Giao Châu” dưới sự thống trị của đế chế Hán, các nhà sư ấn Độ đã đến đây theo con
đường thương nhân, gồm cả đường thuỷ và đường bộ. Trung tâm Phật giáo sớm nhất ở
Giao Châu là Luy Lâu, tức vùng Dâu, nay là Thuận Thành, tỉnh Bắc Ninh. Từ đầu Công
nguyên cho đến thế kỷ IV-V, Phật giáo Việt Nam chịu sự tác động mạnh của Phật giáo ấn Độ.
Giao lưu với văn hoá Trung Hoa: Người Việt Nam tiếp nhận sự truyền bá tư tưởng
Nho giáo: Tam cương (Vua-tôi; Cha-Con; Chồng-Vợ ) (Quân – Thần; Phụ Tử; Phu –
Thê) và Ngũ thường (Nhân; Nghĩa; Lễ; Trí ; Tín) vào tập quán của người Việt nhằm xây
dựng một hệ tư tưởng mới ở đất Giao Chỉ. Ngoài ra, việc truyền bá chữ Hán và Nho
giáo trở thành nội dung học tập trong các trường học do người Hán lập ra.
Sự giao lưu văn hoá với Trung Hoa có ba phương thức: Phương thức cưỡng bức;
phương thức giáo hoá; phương thức tự nguyện. Phương thức cưỡng bức thường gắn liền
với những đợt tiến công xâm lược của người Hán khi họ giành được thắng lợi. Phương
thức giáo hoá thường được tiến hành trong hoà bình, họ có mở mang kiến thức, phổ
biến kỹ thuật canh tác mới cho người Việt cũng chỉ mang tính nửa vời, phục vụ cho cai
trị là chính. Phương thức tự nguyện được tiến hành khi người Việt tiếp thu những giá trị
văn hóa của Trung Hoa phù hợp và có lợi cho đời sống của người dân. Song trong cả ba
phương thức trên đều chứa đựng tính chất hai mặt của một vấn đề trong qu¸ trình cưỡng
bức và giao thoa văn hoá. Nhiều lĩnh vực đời sống vật chất tinh thần của người Việt từ
sự ảnh hưởng này có sự biến đổi không ngừng. Trước những thành tựu rực rỡ của nền
văn minh Trung Hoa người Việt không phủ nhận mà rất trân trọng, tiếp thu có chọn lọc,
hình thành nên những thành tố văn hoá mới trong đời sống cộng đồng của người Việt.
Giao lưu với văn hoá Pháp: Khi nước ta rơi vào sự thống trị của thực dân Pháp,
Việt Nam bị mất chủ quyền phải chịu sự thống trị của nền văn hoá thực dân. Trước thử
thách đó, một lần nữa gười dân Đại Việt không phản ứng kiểu tiêu cực, co lại, đóng kín
mà liên tục đứng lên tiến hành cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc. Trong qúa trình đó
chúng ta vẫn tiếp thu có chọn lọc những tinh hoa văn hoá Pháp, giao lưu làm giàu thêm lOMoAR cPSD| 61463864 11
nền văn hoá cổ truyền Việt Nam làm cho nền văn hoá cuả chúng ta đổi mới và mạnh mẽ hơn bao giờ hết .
Nhìn chung trong quá trình giao lưu hội nhập văn hoá, chúng ta đã bổ sung những
tập quán mới, những phong tục mới trong đời sống của cộng đồng, làm phong phú thêm
đời sống tinh thần của nhân dân. Tiếp thu những tinh hoa văn hoá của nhân loại, làm
giàu thêm cho những phong tục, tập quán của con người Việt Nam.
* Điều kiện thể chế chính trị
Trong điều kiện của lịch sử sự thay đổi của các thể chế chính trị cũng là điều kiện
ảnh hưởng đến phong tục, tập quán của người Việt. Sự thay đổi của kiến trúc thượng
tầng bao giờ cũng kéo theo sự thay đổi của cơ sở hạ tầng. Nhất là trong thời kỳ phong
kiến các điều luật do Nhà nước quy định cũng làm bó hẹp hoặc mở rộng các tập quán,
phong tục. Ví dụ chúa Nguyễn Phúc Ánh đã cho thợ thiết kế chiếc áo dài cho người phụ
nữ để phân biệt cách ăn mặc với người Tàu, đồng thời tạo nên sự khác biệt trong các ăn
mặc với Đàng Ngoài. Vua Minh Mạng đã ra chiếu cấm phụ nữ miền Trong mặc quần không đáy, tức là váy.
Các bộ luật của nhà nước cũng đề cập đến quy định dựa theo tập quán. Ví dụ
trong bộ luật Hồng Đức đề cập đến “cưới cheo”, nghĩa là khi cưới phải có cheo. Ngoài
ra khi thể chế chính trị thay đổi, luật thay đổi cũng ảnh hưởng đến phong tục, tập quán.
Ví dụ trong xã hội phong kiến quy định người phụ nữ không được đi học nhưng hiện
nay quy định này không còn phù hợp.
Tuy vậy thể chế chính trị thường thay đổi và đây cũng không phải điều kiện tiên
quyết để hình thành phong tục, tập quán. Nhưng dù thể chế chính trị có thay đổi như thế
nào thi những phong tục có giá trị, thể hiện bản sắc văn hóa Việt thì vẫn còn tồn tại, chỉ
có những phong tục không còn phù hợp thì mới mai một dần, trở thành tập quán hoặc dần dần mất đi.
* Điều kiện văn hoá truyền thống
Nhiều tập quán được duy trì từ đời này sang đời khác, đó là những tập quán đẹp,
được nhiều người tin tưởng và làm theo. Chúng được sàng lọc qua thời gian để trở thành
những phong tục truyền thống. Sự chuyển tải phong tục, tập quán đó rất gần gũi, dễ nhớ,
dễ thuộc qua những câu ca dao, tục ngữ, các làn điệu dân ca, hò, vè. Ví dụ: về tập quán
canh tác rau màu người dân có câu:
Tháng một là tháng trồng khoai Tháng
hai trồng đậu, tháng ba trồng cà
Về việc thích nghi với điều kiện hoàn cảnh, người dân có câu:
Đi với Bụt mặc áo cà sa, đi với ma mặc áo giấy lOMoAR cPSD| 61463864 12
Trong nền văn hóa cổ truyền, các giá trị đạo đức, chuẩn mực được hình thành từ
những ứng xử của con người với môi trường tự nhiên và môi trường xã hội. Chủ nghĩa
yêu nước, tinh thần đoàn kết, sự kiên cường cũng như khí phách anh hùng là biểu hiện
của những nét đẹp đạo đức truyền thống của người Việt Nam. Những cụm từ “tình làng
nghĩa xóm, “Trọng nghĩa khinh tài”, “Lá lành đùm lá rách”...như định hướng cách ứng
xử của con người với nhau. Cao nhất là tình yêu đối với Tổ quốc, quê hương Việt Nam.
Hồ Chí Minh đã viêt: Việt Nam có hai tiếng tổ quốc, ta cũng gọi tổ quốc là đất nước;
có đất lại có nước thì mới thành tổ quốc. Có đất lại có nước thì dân giàu, nước mạnh.6
CÂU HỎI ÔN TẬP
1. Trình bày khái niệm văn hóa. Phân biệt các khái niệm văn hóa, văn hiến, văn vật, văn minh.
2. Cho biết những đặc trưng và chức năng của văn hóa.
3. Anh (chị) hãy phân tích cách ứng xử của con người với môi trường tự nhiên và môi
trường xã hội. Lấy ví dụ minh họa.
6 Hồ Chí Minh, Toàn tập, t.9 NXB Chính trị quốc gia, Hà nộI, 2000, TR.506. lOMoAR cPSD| 61463864 13
Chƣơng 2. THÀNH TỐ VĂN HÓA VIỆT NAM 2.1. Khái niệm
Văn hóa là một hệ thống được tạo bởi nhiều thành tố khác nhau. Thành tố văn
hóa là những bộ phận cấu thành một nền văn hóa. Các thành tố văn hóa có mối quan
hệ chặt chẽ với nhau, vừa mang những đặc điểm chung của văn hóa vừa có những đặc điểm riêng biệt.
Thành tố văn hóa có thể được phân chia theo nhiều cách khác nhau, tùy theo mức
độ rộng hay hẹp, cụ thể hay khái quát: Có cách thể hiện các thành tố văn hóa trong dạng
văn hóa vật chất và văn hóa tinh thần, có cách thể hiện trong dạng tên gọi khác là văn
hóa vật thể và văn hóa phi vật thể, cũng có cách đi trực tiếp vào các thành tố như quan
điểm của GS. Trần Quốc Vượng…
2.2. Các thành tố văn hóa Việt Nam - Lối sống
- Nhiếp ảnh, điện ảnh - Văn chương - Thông tin đại chúng - Kiến trúc
- Nghệ thuật trình diễn - Ngôn ngữ - Mass media - Nghề thủ công
- Sân khấu, tuồng chèo, kịch - Lễ hội - Nghệ thuật âm thanh - Phong tục, tập quán - Tín ngưỡng, tôn giáo - Nghệ thuật tạo hình
2.3. Một số thành tố văn hóa tiêu biểu
2.3.1. Phong tục, tập quán 2.3.1.1. Khái niệm Tập quán:
Từ khi xuất hiện, con người phải lao động kiếm sống để tồn tại và phát triển. Những
nhu cầu bản năng, những nhu cầu do thực tế cuộc sống đặt ra đòi hỏi con người phải
thích ứng hình thành những thói quen. Những thói quen dần được hình thành, những
thói quen của một cá nhân dần trở thành thói quen của một cộng đồng. Những thói quen lOMoAR cPSD| 61463864 14
của một cộng đồng được thừa nhận và trở thành một nếp sống không thể thiếu trong
sinh hoạt và giao tiếp xã hội. Vì lẽ đó ta có thể hiểu: Tập quán là những thói quen đã
thành nếp trong đời sống xã hội, trong sản xuất và sinh hoạt thường ngày, được mọi
người công nhận và làm theo. Những thói quen đó có thể là lối sống, cách sống hay các
hoạt động do được lặp đi lặp lại lâu ngày thành quen mà nên. Phạm vi của thói quen rất
hẹp, có khi chỉ là của một nhóm người, của một dòng họ, của một làng trở thành một
tập quán địa phương. Như vậy, tập quán được hình thành trong một số người, một cộng
đồng nhỏ. Tập quán của một vùng quê, một địa phương “Đất lề quê thói”; hay như của
gia đình “Nhập gia tuỳ tục”. Cho dù như thế nào, khi thói quen đã trở thành tập quán
của con người, thì tập quán đó là tập quán xã hội, mang tính xã hội. Tập quán xã hội của
con người hết sức đa dạng, phản ánh đời sống phong phú đa dạng của con người. Tập
quán xã hội của con người bao giờ cũng được nảy sinh trong những điều kiện tự nhiên
và xã hội nhất định. Khi những điều kiện sống thay đổi những tập quán không phù hợp
sẽ bị mờ đi, những tập quán mới xuất hiện. Song, cũng có những tập quán cũ vẫn được
bảo lưu vẫn được tồn tại trong những đối tượng và phạm vi ảnh hưởng nhỏ hẹp (tập
quán trong sinh hoạt, trong sản xuất của một số dân tộc ít người). Phong tục
Nếu “Tập quán” là thói quen trong đời sống của một cộng đồng dân cư nhỏ hẹp,
không mang tính rộng rãi thì “Phong tục” lại là một nếp sống, một lối sống mang tính
phổ biến rộng rãi. Phong tục là những tập quán đã đi đến sự công nhận của xã hội, đạt
đến những chuẩn mực trong mức độ nhất định được coi như là một phần của luật lệ.
Phong tục đã ăn sâu vào đời sống xã hội từ lâu đời, lan toả ra rất nhiều vùng và được
cả một cộng đồng rộng lớn (đại đa số mọi người) cùng đón nhận.
Khi nói đến Phong tục, có nghĩa là nói đến một nếp sống trong sinh hoạt của một
cộng đồng lớn - Phong tục của một dân tộc như phong tục Lễ tết của người Việt. Nếu
tập quán mới dừng lại ở việc phản ánh của một nếp sống của một nhóm người thì phong
tục có khả năng ràng buộc các hành vi và chi phối cuộc sống xã hội của cá nhân hay
cộng đồng. Phong tục là sự biểu hiện cụ thể của bản sắc văn hoá của cộng đồng dân tộc.
Ta có thể hiểu khái niệm Phong tục từ sự cắt nghĩa từ ngữ. Phong tục bao gồm có
hai từ ghép “Phong”, “Tục”. Mỗi từ được giải thích theo nghĩa Hán- Việt: “Phong” là
“gió”, gió có khả năng lan toả rộng, ý muốn nói phạm vi ảnh hưởng và chi phối rộng.
“Tục” là “thói quen”, thói quen được ảnh hưởng chi phối trên một vi rộng lớn, gọi là
Phong tục. Phong tục có cả những phong tục tốt, phong tục đẹp phù hợp với đại đa số
gọi là Mỹ tục (thói quen đẹp), có cả những thói quen xấu, lạc hậu, không phù hợp nhưng
chưa mất đi gọi là những “Hủ tục”. lOMoAR cPSD| 61463864 15
Nói đến phong tục, người ta thường nghĩ đến những thói quen đẹp, đáng làm theo
bởi trên thực tế, chúng có sức sống mãnh liệt từ hàng ngàn đời nay. Nhưng trải qua thời
gian và sự phát triển của xã hội, cũng có những thói quen không còn phù hợp với cách
suy nghĩ, cách sống của con người nữa mà trở nên lạc hậu, lỗi thời. Một khi không phù
hợp nữa có thể dẫn tới hậu quả ảnh hưởng đến cuộc sống của con người, nên cần kiên
quyết loại bỏ những thói quen xấu (hủ tục) để xã hội ngày càng văn minh, tiến bộ hơn.
Trong các phong tục cổ truyền của người Việt, các nhà văn hoá học đã chia thành
các nhóm phong tục chủ yếu như: Nhóm phong tục theo vòng đời; Nhóm phong tục
theo chu kỳ thời gian; Nhóm phong tục theo tôn giáo, tín ngưỡng.
2.3.1.2. Những tập quán tiêu biểu
Tập quán ăn uống
Ăn uống là một tập quán được cư dân nông nghiệp Việt Nam coi trọng, trong dân
gian có câu: “Có thực mới vực được đạo”, hay “Trời đánh còn tránh miếng ăn”. Mọi
hoạt động của người việt đều quan trọng hoá cái ăn, lấy cái ăn làm đầu : ăn uống, ăn
mặc, ăn nói, ăn chơi, ăn tiêu. Dấu ấn nông nghiệp rất rõ trong cơ cấu bữa ăn của người
Việt: đó là một cơ cấu bữa ăn thiên về các sản phẩm từ thực vật vì vậy hình thành nên
một trật tự: Cơm + rau + cá
Cơm: từ lúa gạo, sản phẩm nông nghiệp đặc trưng. Cư dân nông nghiệp rất coi
trọng nguyên liệu làm nên bữa ăn (cơm), gọi là ăn cơm chứ không gọi là cái gì khác.
Điều này thể hiện trong tư duy của người nông dân : “Đói thì thèm thịt thèm xôi. Đã no
cơm tẻ thì thôi mọi đường ”.
Rau: Việt Nam là xứ nóng (+) nên thiên về thức ăn từ thực vật (-). Trong bữa
cơm của người Việt thiếu rau coi như bữa ăn không còn có ý nghĩa. Lúc đi xa thường
nhớ về quê hương với một bữa ăn đơn giản nhưng đã từng tồn tại bao đời : “Anh đi anh
nhớ quê nhà, nhớ canh rau muống nhớ cà dầm tương ”.
Cá: sản phẩm của vùng sông nước,là khái niệm chỉ chung cho nguồn thức ăn
được đánh bắt ở môi trường sông nước. Xứ nhiệt đới, sông ngòi chằng chịt đã là một
nơi cung cấp thực phẩm chủ yếu cho bữa ăn của người Việt. Đánh bắt thuỷ, hải sản là
một trong những công việc gắn bó với người nông dân từ bao đời nay. Các loại tôm,
cua, cá là thức ăn mặn chủ yếu của người Việt. Trong dân gian đã từng tồn tại câu nói:
“Có cá đổ vạ cho cơm”. Anh học trò nghèo xứ Nghệ vẫn mang con “cá gỗ” là biểu tượng
trong bữa ăn đi suốt cuộc đời học của mình.
Đồ uống: rượu, chè, nước vối hầu hết là những sản phẩm cổ truyền của nghề trồng trọt Đông Nam Á.
Đồ uống là rượu làm từ gạo nếp - thứ gạo đặc sản của vùng Đông Nam Á. Gạo
nếp được đem đồ xôi, ủ cho lên men rồi chưng cất. Rượu chế tạo như thế gọi là rượu lOMoAR cPSD| 61463864 16
trắng, hoặc rượu đế, để phân biệt với rượu có ướp thêm các thứ hoa gọi là rượu mùi
hoặc màu (như rượu cúc, rượu sen). Rượu ngâm thuốc gọi là rượu thuốc (rượu tam xà,
tắc kè). Cúng ông bà tổ tiên thường phải có ly rượu trắng.
Việt Nam nổi tiếng với rượu làng Vân, thôn Yên Vân, xã Vân Hà, huyện Việt
Yên, Bắc Giang. Người làng Vân nấu rượu từ những năm 70, bằng nguyên liệu sắn, một
thứ lương thực - sản phẩm của nghề trồng trọt. Cho đến nay, rượu làng Vân đã nổi danh
khắp nơi. Bí quyết nằm ở khâu ủ men rượu và mỗi lò lại có bí quyết riêng. Rượu làng
Vân nhìn vào thấy trong vắt và chỉ cần lắc nhẹ chai là thấy sủi tăm “hàng ngàn tăm rượu
xoay tròn như một cột sáng rất lâu sau mới tắt”. Những người sành uống chỉ cần nhìn
tăm rượu đã biết rượu đạt bao nhiêu độ và uống vào có êm hay không. Nói đến rượu,
còn phải kể đến một nơi phát tích ra một loại rượu được đánh giá là “Danh tửu đệ nhất”-
rượu Bàu Đá của người Việt. Nơi có sản phẩm rượu Bàu Đá ở làng Cù Lâm, xã Nhơn
Lộc, huyện An Nhơn, cách thành phố Qui Nhơn 22 km. Tên Bàu Đá là do người làng
múc nước từ cái bàu đá gần miếu làng mà nấu rượu. Rượu Bàu Đá sủi tăm nhiều và có vị ngọt.
Ngoài rượu còn phải kể đến chè, cây chè có nguồn gốc từ vùng Nam Trung Hoa
và Bắc Đông Dương. Ban đầu khi mới phát hiện ra chè, người ta dùng nó như một thứ
dược thảo rồi nghiền lá chè thành bột để uống, cuối cùng mới là cách uống trà như nay.
Người Việt Nam uống chè tươi, chè khô, ướp chè với các loại hoa sen, hoa nhài, hoa ngâu, hoa cúc.
Cách chế biến đồ ăn: Tuỳ từng món ăn, từng vùng miền mà cách chế biến có phần
khác nhau nhưng đồ ăn thông thường vẫn được làm thành món luộc, món nộm, món
nấu, món xào. Các món ăn có đủ ngũ chất: bột - nước - khoáng - đạm - béo; ngũ vị: chua
- cay - ngọt - mặn - đắng và ngũ sắc: trắng - xanh - vàng - đỏ - đen.
Tập quán dùng gia vị của Việt Nam, ngoài tác dụng kích thích dịch vị, làm dậy
mùi thơm ngon của thức ăn, chứa các kháng sinh thực vật có tác dụng bảo quản và xử lý
thức ăn còn có tác dụng đặc biệt là điều hoà âm - dương của thức ăn; ứng với Ngũ hành:
hàn (lạnh, âm nhiều = thuỷ), nhiệt (nóng, dương nhiều = hoả), ôn (ấm, dương ít = mộc),
lương (mát, âm ít = kim), bình (trung tính = thổ).
Chẳng hạn, gừng đứng đầu vị nhiệt (dương) có tác dụng làm thanh hàn, giải cảm
cho nên được dùng làm gia vị đi kèm với những thực phẩm có tính hàn (âm) như bí đao,
rau cải, cá. ớt cũng thuộc loại nhiệt (dương) nên được dùng nhiều trong các thức ăn thuỷ
sản (cá, cua, tôm, gỏi) là những thứ hàn, bình, có mùi tanh v.v...
Cách ăn: Mâm cơm dọn ra bao giờ cũng có đồng thời nhiều món: cơm, canh, rau
dưa, cá thịt, xào, nấu, luộc, kho và chén nước mắm. Trong bữa ăn, mọi người ăn chung
và cùng dùng chung các món ăn, chấm chung một chén nước chấm; và thường chuyện lOMoAR cPSD| 61463864 17
trò; biểu hiện của tính cộng đồng. Đặc biệt, tính cộng đồng đòi hỏi ở người ăn phải có
văn hoá trong ăn uống: “ăn trông nồi, ngồi trông hướng”.
Dụng cụ ăn: Người Việt Nam truyền thống chỉ dùng một thứ dụng cụ là đôi đũa.
Tập quán dùng đũa lâu đời đã làm hình thành cả một triết lý đôi đũa ở người Việt Nam.
Trước hết, đó là tính cặp đôi: Vợ chồng như đũa có đôi. Thứ đến là tính tập thể: bó đũa
là biểu tượng của sự đoàn kết, của tính cộng đồng.
Người Việt Nam có tập quán ăn uống theo từng vùng khí hậu, từng mùa, để đảm
bảo sự cân bằng âm - dương giữa con người và môi trường. Việt Nam là xứ nóng (dương)
nên cơ cấu ăn truyền thống thiên về thức ăn thực vật (âm), ít thức ăn động vật (dương).
Mùa hè nóng, người Việt thích ăn rau quả, tôm cá (là những thứ âm) hơn là mỡ
thịt. Khi chế biến, thường luộc, nấu canh, làm nộm, làm dưa, tạo nên thức ăn có nhiều
nước (âm) và vị chua (âm) dễ ăn, dễ tiêu lại giải nhiệt. Chính vì vậy, người Việt Nam
rất thích ăn đồ chua như dưa cà, khế, sấu, me, chanh; đồ đắng như vỏ chanh, mướp đắng
(khổ qua). Canh khổ qua là món được người miền Nam (vùng nóng hơn) đặc biệt ưa
chuộng. Mùa đông lạnh, người Việt ở các tỉnh phía Bắc thích ăn thịt, mỡ là những thức
ăn dương tính, giúp cơ thể chống lạnh. Các kiểu chế biến thường khô, dùng nhiều mỡ
như xào, rán, rim, kho. Gia vị phổ biến mùa này thường là những thứ dương tính như
ớt, tiêu, gừng, tỏi. Dân miền Trung ăn ớt nhiều là vì thức ăn phổ biến của dải đất này là
hải sản mang tính bình, hàn (âm).
Tính cộng đồng là một đặc điểm nổi trội trong việc tổ chức bữa ăn của người Việt
: ăn chung trong mâm cơm, không chia theo xuất ăn riêng rẽ, cả nhà quây quần trong
bữa ăn. Chờ đợi đông đủ mọi thành viên trong gia đình bữa ăn mới bắt đầu, nếu như
phải chờ đợi thì rất khó chịu, nhưng vẫn chờ cho đủ : “Kẻ đi không bực bằng người chực nồi cơm”
Tập quán ăn của các dân tộc người Việt hết sức đa dạng: Đi sâu vào tìm hiểu tập
quán ăn uống của người Việt Nam, phụ thuộc vào yếu tố tự nhiên, môi trường, văn hoá,
xã hội; thấy rõ, từng vùng, từng dân tộc trong cách thức ăn uống lại có những nét riêng,
có những thay đổi nhỏ cho phù hợp với đặc điểm vùng, dân tộc.
Người Việt ở châu thổ Bắc Bộ, ăn uống cũng như mô hình bữa ăn của người Việt
trên các vùng đất khác: cơm + rau + cá + thịt nhưng thành phần cá ở đây chủ yếu là các
loại cá nước ngọt. Hải sản đánh bắt ở biển chủ yếu giới hạn ở các làng ven biển, còn các
làng sâu trong đồng bằng, hải sản chưa phải là thức ăn chiếm ưu thế. Cư dân đô thị, nhất
là Hà Nội, ít dùng đồ biển hơn cư dân ở các đô thị phía Nam như Huế, Nha Trang, Sài
Gòn. Thích ứng với khí hậu ở châu thổ Bắc Bộ, người Việt Bắc bộ có chú ý tăng thành
phần thịt và mỡ, nhất là mùa đông lạnh, để giữ nhiệt năng cho cơ thể. Các gia vị có tính lOMoAR cPSD| 61463864 18
chất cay, chua, đắng, quen thuộc với cư dân Trung Bộ, Nam Bộ hơn cũng có mặt một
phần trong bữa ăn của người Việt Bắc Bộ.
Người Việt ở Trung Bộ, nghề nông đan xen với ngư nghiệp bởi lẽ đồng bằng
Trung bộ thường là đồng bằng nhỏ hẹp, sát biển. Bữa ăn của cư dân nơi đây bắt đầu có
sự thay đổi, nghiêng về các hải sản, đồ biển. Yếu tố biển đã đậm đà hơn trong cơ cấu
bữa ăn của cư dân Việt Trung Bộ. Mặt khác, do tính chất khí hậu, điều kiện tự nhiên chi
phối nên người dân ở đây sử dụng nhiều chất cay trong bữa ăn.
Người Việt ở Nam Bộ, trong cơ cấu bữa ăn cũng có sự thay đổi, tương quan giữa
các thành phần có đổi khác. Nguồn tài nguyên thuỷ sản ở Nam Bộ đạt tới sự sung túc
hơn tất cả các vùng trên đất nước ta. “Nói tới Nam Bộ là nghĩ đến một cánh đồng tít tắp
tận chân trời, một khung cảnh thiên nhiên khoáng đạt và vùng đất với chằng chịt kênh
rạch. Sông nước ở hạ lưu chảy chậm, lượng phù sa lớn. Nói cách khác, có thể nói Nam
Bộ là vùng đất cửa sông giáp biển”. Vì thế, sử dụng nguồn đạm thuỷ sản trong bữa ăn
người Việt có chú trọng hơn. Các món ăn chế biến từ thuỷ sản cũng nhiều về số lượng,
phong phú về chất lượng, so với các nơi khác. Và người Việt sử dụng các món ăn từ hải
sản cũng nhiều hơn so với cư dân Bắc Bộ.
Tập quán trang phục
Đối với người Việt, quan trọng sau ăn uống là mặc. Mặc giúp con người ứng phó
với thiên nhiên (nắng, mưa, nóng, lạnh). Người Việt Nam quan niệm: ăn lấy chắc, mặc
lấy bền; cơm ba bát, áo ba manh, đói không xanh, rét không chết. Không chỉ để ứng
phó với thiên nhiên, mặc còn nhằm mục đích trang điểm, làm đẹp cho con người: người
đẹp về lụa, lúa tốt về phân, chân tốt về hài, tai tốt về hoa; và giúp con người khắc phục
được những nhược điểm của cơ thể: cau già khéo bổ thì non, nạ dòng trang điểm lại giòn hơn xưa.
Dấu ấn nông nghiệp hiện rõ nét trong chất liệu may mặc của người Việt Nam. Là
phương Nam, xứ nóng, nên chất liệu may mặc ở nơi này thường có nguồn gốc thực vật
là sản phẩm của nghề trồng trọt, cũng là chất liệu may mặc mỏng, nhẹ, thoáng. Có thể
kể đến, trước hết là tơ tằm. Từ tơ tằm, người dân dệt nên nhiều loại sản phẩm rất phong
phú như tơ, lụa, là, gấm, vóc, nhiễu, the, đoan, lĩnh, đũi, địa, nái, sồi. Ngoài tơ tằm, là
tơ chuối, tơ đay, gai, sợi bông.
Về cách thức trang phục của người qua các thời đại bị chi phối bởi hai nhân tố
chính là khí hậu nhiệt đới nóng bức và công việc trồng lúa nước. Trang phục gồm có đồ
mặc phía trên, đồ mặc phía dưới, đồ đội đầu, đồ đi chân và đồ trang sức phân biệt theo
chủng loại và chức năng. Để tìm hiểu nét riêng trong trang phục ta tìm hiểu: Đồ mặc
phía dưới, đồ mặc phía trên của cả nam và nữ, đồ đội trên đầu, đò đi dưới chân. lOMoAR cPSD| 61463864 19
Đồ mặc phía dưới
Đối với phụ nữ: Đồ mặc phía dưới tiêu biểu và ổn định hơn cả qua các thời đại
là cái váy. Váy có hai loại: váy mở là một mảnh vải quấn quanh thân, váy kín được khâu
lại thành hình ống. Mặc váy mát, thích ứng được với khí hậu nóng bức và phù hợp với công việc đồng áng.
Đối với nam giới: Đồ mặc phía dưới ban đầu là chiếc khố. Khố là một mảnh vải
dài quấn một hoặc nhiều vòng quanh bụng và luồn từ trước ra sau. Khố mặc mát, phù
hợp với khí hậu nóng bức và dễ thao tác trong lao động, vì vậy, nó được duy trì từ thời
Hùng Vương cho đến khá lâu về sau. Đến khi chiếc quần thâm thâm nhập ngày càng
mạnh vào Việt Nam thì nam giới là bộ phận tiếp thu nó sớm nhất. Tiếp thu và cải biến
linh hoạt thành chiếc quần lá toạ: ống rộng và thẳng, đũng sâu, cạp quần to bản. Quần
phù hợp với khí hậu nóng bức do ống rộng và rất thích hợp với lao động đồng áng đa
dạng: nhờ đũng sâu nên ở mỗi loại ruộng khác nhau (ruộng cạn, ruộng nước, nước nông,
nước sâu), người ta có thể điều chỉnh cho ống quần cao hoặc thấp rất dễ dàng bằng cách
kẹp cạp quần lên hoặc xuống. Ngày lễ hội, nam giới dùng quần ống sớ: quần màu trắng,
có ống hẹp, đũng cao, gọn gàng, đẹp mắt.
* Đồ mặc phía trên
Đối với phụ nữ: Đồ mặc phía trên ổn định nhất qua các thời đại là cái yếm.
Yếm trắng mà vã nước hồ
Vã đi vã lại anh đồ yêu thương
Yếm có nhiều màu (như câu ca trên là một ví dụ). Yếm nâu để mặc đi làm thường
ngày ở nông thôn, yếm trắng mặc thường ngày ở thành thị; yếm hồng, yếm thắm, yếm
đào…mặc vào những ngày lễ hội. Yếm cùng với váy là trang phục phụ nữ thường mặc
với hai tay và lưng để trần, khi làm lụng, rất thích hợp với khí hậu nóng bức. Cho đến
nay, phụ nữ nhiều dân tộc ít người vẫn cởi trần, mặc váy. Dịp lễ hội, phụ nữ thường mặc
áo dài. áo dài phụ nữ phân biệt với áo tứ thân và năm thân. Áo tứ thân may từ bốn mảnh
vải, hai mảnh sau ghép liền ở giữa sống lưng, hai tà (vạt) đằng trước khi mặc bỏ buông
hoặc buộc thắt vào nhau. Áo năm thân cũng nhau như áo tứ thân, chỉ có điều vạt trước
phía trái may từ hai thân vải, thành ra rộng gấp đôi vạt phải, để bên ngoài, gọi là vạt cả,
đè lên vạt phải bên trong, gọi là vạt con. Xưa, cũng vào dịp này, phụ nữ còn hay mặc áo
mớ ba, mớ bảy, tức là nhiều áo cánh lồng vào nhau. Ở Nam Bộ, khí hậu nóng quanh
năm, áo mớ được thay bằng áo cặp (hai cái).
Đối với nam giới: Khi lao động, họ thường cởi trần như câu thành ngữ “cởi trần
đóng khố”. Trong sinh hoạt thường ngày, họ thường mặc áo ngắn (đặc điểm cũng thấy
xuất hiện đối với phụ nữ). Áo có hai túi phía dưới, có thể xẻ tà hai bên hông hoặc bít tà; lOMoAR cPSD| 61463864 20
ngoài Bắc gọi là áo cánh, trong nam gọi là áo bà ba. Dịp hội hè, đàn ông thường mặc
áo dài the đen. Giới thượng lưu thì mặc áo dài cả trong sinh hoạt hàng ngày.
Về màu sắc, phổ biến là các màu âm tính, phù hợp với phong cách truyền thống
ưa tế nhị, kín đáo. Miền Bắc là màu nâu gụ - màu của đất. Miền Trung là màu tím trang
nhã phù hợp với phong cách đế đô. Miền Nam là màu đen - màu của bùn. Trong lễ hội,
phụ nữ mặc áo dài màu thâm hoặc nâu bên ngoài, bên trong là các lớp áo cánh nhiều
màu dương tính hơn như vàng mỡ gà, hồng cánh sen. Càng về sau, do ảnh hưởng của
phương Tây, màu sắc trang phục trở nên đa dạng hơn. Tuy nhiên, theo quan niệm của
người Việt Nam, màu hồng và màu đỏ vẫn là màu của sự tốt đẹp. Vì thế, trong các cuộc
vui, đám cưới, đám hỏi, mừng tân gia những màu này vẫn được chuộng dùng.
Đồ đội đầu
Thường là chiếc khăn. Phụ nữ để tóc dài, vấn tóc bằng một mảnh vải dài cuộn lại
để trên đầu, đuôi tóc chừa ra một ít gọi là đuôi gà. Phủ ra ngoài là cái khăn vuông, chít
hình mỏ quạ vào mùa lạnh; hoặc hình đồng tiền vào mùa nóng. Đàn ông trước đây để
tóc dài búi tròn trên đầu gọi là búi tó. Người Nam Bộ thường đội khăn rằn. Bên cạnh
chiếc khăn là chiếc nón: nón chóp, nón thúng, nón ba tầm. Đặc điểm của nón là rộng
vành (để chống nắng) và có mái dốc (để thoát nước nhanh, che mưa) để ứng phó lại với
thời tiết nắng lắm, mưa nhiều ở Việt Nam. Các loại nón đều phải có quai để giữ; quai
thao là loại phổ biến hơn cả. Xuất hiện muộn hơn sau này là mũ, đội ôm sát đầu và kín tóc.
Đồ trang sức
Từ thời Hùng Vương, người Việt đã rất thích đeo vòng: vòng tai, vòng cổ, vòng
tay, vòng chân. Thời bấy giờ, họ còn xăm mình, nhuộm răng đen, ăn trầu và nhuộm
móng tay móng chân; vừa để có tác dụng bảo vệ, chữa bệnh vừa để làm đẹp. Ngoài ra
đồ trang sức còn có tác dụng như một thứ trang sức để thể hiện quyền uy, làm tài sản
của cá nhân hoặc tài sản để lại cho con cháu.
Đồ thắt lưng
Ban đầu có mục đích giữ cho đồ mặc dưới khỏi tuột (có thể là một sợi dây, gọi là
dải rút) rồi phát sinh thêm mục đích giữ áo dài cho gọn và tôn thêm vẻ đẹp của phụ nữ.
Phụ nữ còn dùng thắt lưng bao để làm túi đựng đồ vặt (tiền, trầu cau). Giờ đây, thắt lưng
dành cho nam và nữ đều rất phong phú về chủng loại và màu sắc với chức năng trang trí là chủ yếu.
Tập quán ở (nhà cửa)
Ngôi nhà, đối với người Việt Nam là đặc biệt quan trọng, đảm bảo cho họ một
cuộc sống định cư ổn định. Các thể loại nhà của người Việt Nam: do khu vực cư trú là
vùng sông nước nên ngôi nhà gắn liền với môi trường sông nước.