NGUYÊN LÝ KINH T HC
Chương 1 – Mười nguyên lý ca kinh tế hc 1
CHƯƠNG 1
MƯỜI NGUYÊN LÝ CA KINH T HC
Thut ng nn kinh tế (economy) bt ngun t tiếng Hy Lp có nghĩa là “người qun gia”.
Thot tiên, điu này có v l lùng. Nhưng trên thc tế, các h gia đình và nn kinh tế có rt
nhiu đim chung.
Cũng ging như mt gia đình, xã hi phi đối mt vi nhiu quyết định. M
t xã hi phi
quyết định cái gì cn phi làm và ai s làm vic đó. Cn phi có mt s người sn xut thc
phm, mt s người khác sn xut qun áo và cũng cn có mt s người thiết kế các phn
mm máy tính na. Mt khi xã hi đã phân b được mi người (và đất đai, nhà xưởng, máy
móc) vào nhng ngành ngh khác nhau, nó cũng ph
i phân b sn lượng hàng hóa và dch v
mà h đã sn xut ra. Nó phi quyết định ai s ăn trng cá, ăn tht và ai s ăn rau. Nó phi
quyết định ai s đi xe con và ai s đi xe buýt.
Vic qun lý ngun lc ca xã hi có ý nghĩa quan trng vì ngun lc có tính khan hiếm.
Khan hiếm có nghĩa là xã hi có các ngun lc hn chế và vì thế không th sn xu
t mi hàng
hóa và dch v mà mi người mong mun. Ging như mt h gia đình không th đáp ng
mi mong mun ca tt c mi người, xã hi cũng không th làm cho mi cá nhân có được
mc sng cao nht như h khao khát.
Kinh tế hc là môn hc nghiên cu cách thc hi qun lý các ngun lc khan hiếm. Trong
hu hết các xã hi, ngun l
c được phân b không phi bi mt nhà làm kế hoch duy nht
trung ương, mà thông qua s tác động qua li gia hàng triu h gia đình và doanh nghip.
Do đó, các nhà kinh tế nghiên cu con người ra quyết định như thế nào: h làm vic bao
nhiêu, mua cái gì, tiết kim bao nhiêu và đầu tư khon tiết kim y ra sao. Các nhà kinh tế
cũng nghiên cu xem con người quan h qua li vi nhau như thế nào. Ví d, h mun phân
tích xem làm thế nào mà nhiu người mua và bán mt mt hàng li có th cùng nhau xác định
giá c và lượng hàng bán ra. Cui cùng, nhà kinh tế phân tích các lc lượng và xu thế tác
động đến nn kinh tế vi tư cách mt tng th, bao gm tăng trưởng ca thu nhp bình quân,
mt b phn dân cư không th tìm được vic và t l tăng giá.
Mc dù kinh tế hc nghiên cu nn kinh tế dưới nhiu giác độ khác nhau, như
ng môn hc
này thng nht vi nhau mt s ý tưởng cơ bn. Trong phn còn li ca chương này, chúng
ta s xem xét mười nguyên lý ca kinh tế hc. Đừng lo ngi nếu như bn chưa hiu ngay tt
c các nguyên lý đó, hoc nếu như bn thy các nguyênđó chưa hoàn toàn thuyết phc.
Trong các chương tiếp theo, chúng ta s kho sát đầy đủ hơn các ý tưởng này. M
ười nguyên
được gii thiu đây ch nhm giúp độc gi có mt cái nhìn tng quan v kinh tế hc. Bn
đọc có th coi chương này là “s báo trước nhng điu hp dn sp ti”.
CON NGƯỜI RA QUYT ĐỊNH NHƯ TH NÀO?
“Nn kinh tế” là gì không h có s huyn bí nào c. Dù chúng ta đang nói v nn kinh tế ca
Los Angeles, ca M, hay ca toàn thế gi
i, thì nn kinh tế cũng ch là mt nhóm người tác
động qua li vi nhau trong quá trình sinh tn ca h. Bi vì hot động ca nn kinh tế phn
ánh hành vi ca các cá nhân to thành nn kinh tế, nên chúng ta khi đầu nghiên cu kinh tế
hc bng bn nguyên lý v cách thc ra quyết định cá nhân.
NGUYÊN LÝ KINH T HC
Chương 1 – Mười nguyên lý ca kinh tế hc 2
Nguyên lý 1: Con người đối mt vi s đánh đổi
Bài hc đầu tiên v ra quyết định được tóm tt trong câu ngn ng sau: “Chng có gì là cho
không c”. Đểđược mt th ưa thích, chúng ta thường phi t b mt th khác mành
thích. Ra quyết định đòi hi phi đánh đổi mc tiêu này để đạt được mt mc tiêu khác.
Chúng ta hãy xem xét tình hung mt cô sinh viên phi quyết định phân b ngu
n lc quý
báu nht ca mình: đó là thi gian ca cô. có thng toàn b thi gian để nghiên cu
kinh tế hc, dùng toàn b thi gian để nghiên cu tâm lý hc, hoc phân chia thi gian gia
hai môn hc đó. Đối vi mi gi hc môn này, cô phi t b mt gi hc môn kia. Đối vi
mi gi hc, cô phi t b mt gi mà l ra cô có th ng trư
a, đạp xe, xem TV hoc đi làm
thêm.
Hoc hãy xem xét cách thc ra quyết định chi tiêu thu nhp ca gia đình ca các bc cha m.
H có th mua thc phm, qun áo hay quyết định đưa c nhà đi ngh. H cũng có th tiết
kim mt phn thu nhp cho lúc v già hay cho con cái vào hc đại hc. Khi quyết định chi
tiêu thêm mt đô la cho mt trong nhng hàng hóa trên, h có ít đi mt đô la để chi cho các
hàng hóa khác.
Khi con ngườ
i tp hp nhau li thành xã hi, h đối mt vi nhiu loi đánh đổi. Ví d kinh
đin là s đánh đổi gia “súng và bơ”. Chi tiêu cho quc phòng càng nhiu để bo v b
cõi khi gic ngoi xâm (súng), chúng ta có th chi tiêu càng ít cho hàng tiêu dùng để nâng
cao phúc li vt cht cho người dân (bơ). S đánh đổi quan trng trong xã hi hin đại là
gia môi trường trong sch và mc thu nhp cao. Các đạ
o lut yêu cu doanh nghip phi
ct gim lượng cht thi gây ô nhim s đẩy chi phí sn xut lên cao. Do chi phí cao hơn,
nên cui cùng các doanh nghip này kiếm được ít li nhun hơn, tr lương thp hơn, định
giá cao hơn hoc to ra mt kết hp nào đó ca c ba yếu t này. Như vy, mc dù các quy
định v chng ô nhim đem li ích li cho chúng ta
ch làm cho môi trường trong sch
hơn và nh đó sc khe ca chúng ta tt hơn, nhưng chúng ta phi chp nhn tn tht là
gim thu nhp ca ch doanh nghip, công nhân hoc phúc li ca người tiêu dùng.
Mt s đánh đổi khác mà xã hi đối mt là gia công bng và hiu qu. Hiu qu có nghĩa là
xã hi thu được kết qu cao nht t các ngun l
c khan hiếm ca mình. Công bng hàm ý ích
li thu được t các ngun lc khan hiếm đó được phân phi công bng gia các thành viên
ca xã hi. Nói cách khác, hiu qu ám ch quy mô ca chiếc bánh kinh tế, còn công bng nói
lên chiếc bánh đó được phân chia như thếo. Thường thì khi thiết kế các chính sách ca
chính ph, người ta nhn thy hai mc tiêu này xung đột vi nhau.
Chng hn chúng ta hãy xem xét các chính sách nhm đạt được s phân phi phúc l
i kinh tế
mt cách công bng hơn. Mt s trong nhng chính sách này, ví d h thng phúc li xã hi
hoc bo him tht nghip, tìm cách tr giúp cho nhng thành viên ca xã hi cn đến s cu
tế nhiu nht. Các chính sách khác, ví d thuế thu nhp cá nhân, yêu cu nhng người thành
công v mt tài chính phi đóng góp nhiu hơn người khác trong vic h tr cho hot động
ca chính ph
. Mc dù các chính sách này có li là đạt được s công bng cao hơn, nhưng
chúng gây ra tn tht nếu xét t khía cnh hiu qu. Khi chính ph tái phân phi thu nhp t
người giàu sang người nghèo, nó làm gim phn thưởng tr cho s cn cù, chăm ch và kết
qu là mi người làm vic ít hơn và sn xut ra ít hàng hóa và dch v hơn. Nói cách khác,
khi chính ph c gng ct chiếc bánh kinh tế thành nhng ph
n đều nhau hơn, thì chiếc bánh
nh li.
NGUYÊN LÝ KINH T HC
Chương 1 – Mười nguyên lý ca kinh tế hc 3
Cn phi ý thc được rng riêng vic con người phi đối mt vi s đánh đổi không cho
chúng ta biết h s hoc cn ra nhng quyết định nào. Mt sinh viên không nên t b môn
tâm lý hc ch để tăng thi gian cho vic nghiên cu môn kinh tế hc. Xã hi không nên
ngng bo v môi trường ch vì các quy định v môi trường làm gim mc sng vt cht
c
a chúng ta. Người nghèo không th b làm ngơ ch vì vic tr giúp hm bóp méoc
kích thích làm vic. Mc dù vy, vic nhn thc đưc nhng s đánh đổi trong cuc sng
có ý nghĩa quan trng, bi vì con người có th ra quyết định tt khi h hiu rõ nhng
phương án la chn mà h đang có.
Nguyên lý 2: Chi phí ca mt th là cái mà bn t b đểđược nó
Vì con người đối m
t vi s đánh đổi, nên ra quyết định đòi hi phi so sánh chi phíích
li ca các đường li hành động khác nhau. Song trong nhiu trường hp, chi phí ca mt
hành động nào đó không phi lúc nào cũng rõ ràng như biu hin ban đầu ca chúng.
Chng hn, chúng ta xem xét quyết định liu có nên đi hc đại hc. Ích li là làm giàu thêm
kiến thc và có được nhng cơ hi làm vic t
t hơn trong c cuc đời. Nhưng chi phí ca nó
là gì? Để tr li câu hi này, bn có th b thuyết phc cng s tin chi tiêu cho hc phí, sách
v, nhà li vi nhau. Nhưng tng s tin này không thc s biu hin nhng gì bn t b để
theo hc mt năm trường đại hc.
Câu tr li trên có vn đề vì nó bao g
m c mt s th không thc s là chi phí ca vic hc
đại hc. Ngay c khi không hc đại hc, bn vn cn mt ch để ng thc phm để ăn.
Tin ăn ti trường đại hc ch là chi phí ca vic hc đại hc khi nó đắt hơn nhng nơi
khác. Dĩ nhiên, tin ăn ti trường
đại hc cũng có th r hơn tin thuê nhà và tin ăn mà bn
t lo liu. Trong trường hp này, các khon tiết kim v ăn là li ích ca vic đi hc đại
hc.
Cách tính toán chí phí như trênmt khiếm khuyết khác na là nó b qua khon chi phí ln
nht ca vic hc đại hc - đó là thi gian ca bn. Khi dành mt năm để nghe gi
ng, đọc
giáo trình và viết tiu lun, bn không th s dng khong thi gian này để làm mt công
vic nào đó. Đối vi nhiu sinh viên, khon tin lương phi t b để đi hc đại hc là khon
chi phí ln nht cho vic hc đại hc ca h.
Chi phí cơ hi ca mt th là cái mà bn t b đểđược nó. Khi đư
a ra bt k quyết định
nào, chng hn như vic liu có nên đi hc đại hc, người ra quyết định phi nhn thc được
nhng chi phí cơ hi gn vi mi hành động có th. Trên thc tế, h thường ý thc được.
Nhng vn động viên la tui hc đại hc - nhng người có th kiếm bc tri
u nếu h b
hc và chơi các môn th thao nhà ngh - hiu rõ rng đối vi h, chi phí cơ hi ca vic ngi
trên ging đường là rt cao. Không có gì đáng ngc nhiên khi h thường cho rng ích li ca
vic hc đại hc là không xng vi chi phí b ra.
Nguyên lý 3: Con người duy lý suy nghĩ ti đim cn biên
Các quyết định trong cuc sng hiếm khi minh bch, mà thường
trng thái mù m. Khi
đến gi ăn ti, vn đề bn phi đối mt không phi là s “thc như h” hay “thc như
miêu”, mà là có nên ăn thêm mt chút khoai tây nghin hay không. Khi k thi đến, vn đề
không phi là b mc bài v hoc hc 24 gi mt ngày, mà là nên hc thêm mt gi na
hay dng li xem ti vi. Các nhà kinh tế s dng thut ng nhng thay đổi c
n biên để ch
nhng điu chnh gia tăng nh so vi kế hoch hành động hin ti. Bn hãy luôn luôn nh
NGUYÊN LÝ KINH T HC
Chương 1 – Mười nguyên lý ca kinh tế hc 4
rng "cn biên" có nghĩa là "bên cnh" và bi vy thay đổi cn biên là nhng điu chnh
vùng lân cn ca cái mà bn đang làm.
Trong nhiu tình hung, mi người đưa ra được quyết định tt nht nh suy nghĩ ti
đim cn biên. Gi s bn mun mt người bn đưa ra li khuyên v vic nên hc bao
nhiêu năm trường. Nế
u anh ta phi so sánh cho bn cách sng ca mt người có bng
tiến sĩ vi mt người chưa hc hết ph thông, bn có th s phàn nàn rng s so sánh
như thế chng giúp gì cho quyết định ca bn c. Bn đã có mt s trình độ nht định và
bn đang cn quyết định liu có nên hc thêm mt hay hai năm na. Để ra được quyế
t
định này, bn cn biết ích li tăng thêm nh hc thêm mt năm na (tin lương cao hơn
trong sut cuc đời, nim vui được chuyên tâm hc hành) và biết chi phí tăng thêm mà
bn s phi chu (hc phí và tin lương mt đi trong bn vn hc trường). Bng cách
so sánh ích li cn biênchi phí cn biên, bn có th đi đến kết lun r
ng vic hc
thêm mt năm có đáng giá hay không.
Chúng ta hãy xem xét mt ví d khác. Mt hãng hàng không đang cân nhc nên tính giá
bao nhiêu cho các hành khách bay d phòng. Gi s mt chuyến bay vi 200 ch t đông
sang tây làm cho nó tn mt 100.000 đô la. Trong tình hung này, chi phí bình quân cho mi
ch ngi là 100.000 đô la/200, tc 500 đô la. Người ta có th d dàng đi đến kết lun rng
hãng hàng không này s không bao gi nên bán vé vi giá thp hơn 500 đô la. Song trên thc
tế, nó có th tă
ng li nhun nh suy nghĩ đim cn biên. Chúng ta hãy tưởng tượng ra rng
y bay sp sa ct cánh trong khi vn còn 10 ghế b trng và có mt hành khách d phòng
đang đợi ca sn sàng tr 300 đô la cho mt ghế. Hãng hàng không này có nên bán vé cho
anh ta không? Dĩ nhiên là nên. Nếu máy bay vn còn ghế trng, chi phí ca vic b sung
thêm mt hành khách là không đáng k. Mc dù chi phí bình quân cho mi hành khách trên
chuyến bay là 500 đô la, chi phí cn biên ch bng giá c
a gói lc và hp nước sô đa mà hành
khách tăng thêm này s tiêu dùng. Chng nào mà người hành khách d phòng này còn tr cao
hơn chi phí cn biên, thì vic bán vé cho anh ta còn có li.
Nhng ví d trên cho thy rng các cá nhân và doanh nghip có th đưa ra quyết định tt
hơn nh cách suy nghĩ đim cn biên. Người ra quyết định duy lý hành động ch khi ích
li cn biên vượt quá chi phí cn biên.
Nguyên lý 4: Con người phn ng vi các kích thích
Vì mi người ra quy
ết định da trên s so sánh chi phí và ích li, nên hành vi ca h có th
thay đổi khi ích li hoc chi phí thay đổi. Nghĩa là mi người phn ng đối vi các kích thích.
Ví d khi giá táo tăng, mi người quyết định ăn nhiu lê hơn và ít táo hơn, vì chi phí ca vic
mua táo cao hơn. Đồng thi, người trng táo quyết định thuê thêm công nhân và thu hoch
nhiu táo hơn vì li nhun thu được t vic bán táo cũng cao hơn. Như
chúng ta s thy, tác
động ca giá c lên hành vi ca người mua và người bán trên th trường - trong trường hp này
là th trường táo - có ý nghĩa quan trng trong vic tìm hiu phương thc vn hành ca nn kinh
tế.
Các nhà hoch định chính sách công cng không bao gi được quên các kích thích, vì nhiu
chính sách làm thay đổi ích li hoc chi phí mà mi người phi đối mt và bi vy làm thay
đổi hành vi ca h. Ví d vic đánh thuế xăng khuy
ến khích mi người s dng ô tô nh hơn,
tiết kim nhiên liu hơn. Nó cũng khuyến khích mi người s dng phương tin giao thông
NGUYÊN LÝ KINH T HC
Chương 1 – Mười nguyên lý ca kinh tế hc 5
công cng ch không đi xe riêng và sng gn nơi làm vic hơn. Nếu thuế xăng cao đến mt
mc độ nht định, mi người có th s bt đầu s dng ô tô chy đin.
Khi các nhà hoch định chính sách không tính đến nh hưởng ca các chính sách mà h thc
hin đối vi các kích thích, h có th nhn được nhng kết qu không định trướ
c. Chng hn,
chúng ta hãy xem xét chính sách v an toàn đối vi ô tô. Ngày nay, tt c ô tô đều được trang
b dây an toàn, nhưng 40 năm trước đây không phi như vy. Cun sách Nguy him mi tc
độ ca Ralph Nader đã làm công chúng phi rt lo lng v vn đề an toàn khi đi ô tô. Quc
hi đã phn ng bng cách ban hành các đạo lut yêu cu các nhà sn xut ô tô phi trang b
nhiu thiết b
an toàn, trong đó có dây an toàn và các thiết b tiêu chun khác trên tt c
nhng ô tô mi sn xut.
Lut v dây an toàn tác động ti s an toàn khi lái ô tô như thế nào? nh hưởng trc tiếp là
rõ ràng. Khi có dây tht an toàn trong tt c ô tô, nhiu người tht an toàn hơn và kh năng
sng sót trong các v tai nn ô tô nghiêm trng tăng lên. Theo nghĩa này, dây an toàn đã
cu sng con người. Nhưng vn đề không dng đó. Để hi
u đầy đủ tác động ca đạo lut
này, chúng ta phi nhn thc được rng mi người thay đổi hành vi khi có kích thích mi.
Hành vi đáng chú ý đây là tc độ và s cn trng ca người lái xe. Vic lái xe chm và
cn thn là tn kém vì mt nhiu thi gian và tn nhiu nhiên liu. Khi ra quyết định v
vic cn lái xe an toàn đến mc nào, người lái xe duy lý so sánh ích li cn biên t vic lái
xe an toàn vi chi phí cn biên. H lái xe chm hơn và cn thn hơn nếu ích li ca s cn
trng cao. Điu này lý gii vì sao mi người lái xe chm và cn thn khi đường đóng băng
hơn nếu so vi trường hp đường thông thóang.
Bây gi chúng ta hãy xét xem đạo lut v dây an toàn làm thay đổi tính toán ích li - chi phí
ca người lái xe như thế nào. Dây an toàn làm cho các v tai nn ít tn kém hơn đối vi
ngườ
i lái xe vì nó làm gim kh năng b thương hoc t vong. Như vy, dây an toàn làm gim
ích li ca vic lái xe chm và cn thn. Mi người phn ng đối vi vic tht dây an toàn
cũng tương t như vi vic nâng cp đường sá - h s lái xe nhanh và ít thn trng hơn. Do
đó, kết qu cui cùng ca lut này là s v tai nn xy ra nhiu hơn. S
gim sút độ an toàn
khi lái xe có tác động bt li rõ ràng đối vi khách b hành. H cm thy d b tai nn hơn.
Nhìn qua, cuc bàn lun này v mi quan h gia các kích thích và dây an toàn tưởng như ch
là s suy đoán vu vơ. Song trong mt nghiên cu vào năm 1975, nhà kinh tế Sam Pelzman đã
ch ra rng trên thc tế đạo lut v an tn ô đã làm ny sinh nhiu hu qu thuc loi này.
Theo nhng b
ng chng mà Pelzman đưa ra, đạo lut này va làm gim s trường hp t
vong trong mi v tai nn, va li làm tăng s v tai nn. Kết qu cui cùng là s lái xe thit
mng thay đổi không nhiu, nhưng s khách b hành thit mng tăng lên.
Phân tích ca Pelzman v đạo lut an toàn ô tô là ví d minh ha cho mt nguyên lý chung là
con người phn ng li các kích thích. Nhiu kích thích mà các nhà kinh tế hc nghiên c
u d
hiu hơn so vi trong trường hp đạo lut v an toàn ô tô. Không có gì đáng ngc nhiên khi
Châu Âu (nơi thuế xăng cao), người ta s dng loi ô tô cá nhân nh hơn so vi M (nơi có
thuế xăng thp). Song như ví d v an toàn ô tô cho thy, các chính sách có th gây ra nhng
hu qu không lường trước được. Khi phân tích bt k chính sách nào, không nhng chúng ta
xem xét nh hưởng trc tiếp, mà còn phi chú ý t
i các tác động gián tiếp do các kích thích
to ra. Nếu chính sách làm thay đổi cách kích thích, nó s làm cho con người thay đổi hành vi
ca h.
NGUYÊN LÝ KINH T HC
Chương 1 – Mười nguyên lý ca kinh tế hc 6
Kim tra nhanh: Hãy lit kê và gii thích ngn gn bn nguyên lý liên quan đến ra quyết
định cá nhân.
CON NGƯỜI TƯƠNG TÁC VI NHAU NHƯ TH NÀO?
Bn nguyên lý đầu tiên bàn v cách thc ra quyết định cá nhân. Nhưng trong cuc sng hàng
ngày, nhiu quyết định ca chúng ta không ch nh hưởng đến bn thân chúng ta, mà còn tác
động đến nhng người xung quanh. Ba nguyên lý tiếp theo liên quan đến cách thc mà con
người tương tác vi nhau.
Nguyên lý 5: Thương mi có th làm cho mi người
đều được li
Có l bn đã nghe trên bn tin thi s rng người Nht là nhng đối th cnh tranh ca chúng
ta trong nn kinh tế thế gii. Xét trên mt vài khía cnh, điu này là đúng vì các công ty Nht
và M sn xut nhiu mt hàng ging nhau. Hãng Ford và hãng Toyota cnh tranh để thu hút
cùng mt nhóm khách hàng trên th trường ô tô. Compaq cũng cnh tranh vi Toshiba trên th
trường máy tính cá nhân để thu hút cùng mt nhóm khách hàng.
Vì vy, người ta r
t d mc sai lm khi nghĩ v s cnh tranh gia các nước. Thương mi
gia Nht và M không ging như mt cuc thi đấu th thao, trong đó luôn có k thng,
người thua. S tht thì điu ngược li mi đúng: Thương mi gia hai nước có th làm c hai
bên cùng được li.
Để lý gii ti sao, hãy xem xét thương mi tác động như thế nào t
i gia đình bn. Khi mt
thành viên trong gia đình bn đi tìm vic, anh ta phi cnh tranh vi nhng thành viên ca
các gia đình khác cũng đang tìm vic. Các gia đình cnh tranh nhau khi đi mua hàng vì
gia đình nào cũng mun mua hàng cht lượng tt nht vi giá thp nht. Vì vy theo mt
nghĩa nào đó, mi gia đình đều đang cnh tranh vi tt cc gia đình khác.
Cho dù có s cnh tranh này, gia đình bn cũng không th
có li hơn nếu t cô lp vi tt
c các gia đình khác. Nếu làm như vy, gia đình bn s phi t trng trt, chăn nuôi, may
qun áo và xây dng nhà cho mình. Rõ ràng gia đình bn thu li nhiu t kh năng
tham gia trao đổi vi các gia đình khác. Thương mi cho phép mi người chuyên môn hóa
vào mt lĩnh vc mà mìnhm tt nht, cho dù đó là trng trt, may mc hay xây nhà.
Thông qua hot độ
ng thương mi vi nhng người khác, con người có th mua được
nhng hàng hóa và dch v đa dng hơn vi chi phí thp hơn.
Cũng như các gia đình, các nước được li t kh năng trao đổi vi các nước khác. Thương
mi cho phép các nước chuyên môn hóa vào lĩnh vc mà h làm tt nht và thưởng thc
nhiu hàng hóa và dch v phong phú hơn. Người Nht, cũng như người Pháp, ng
ười Ai Cp
và người Brazil là nhng bn hàng ca chúng ta trong nn kinh tế thế gii, nhưng cũng là đối
th cnh tranh ca chúng ta.
Nguyên lý 6: Th trường thường là mt phương thc tt để t chc hot động kinh tế
S sp đổ ca ch nghĩa cng sn Liên Xô và Đông Âu có l là thay đổi quan trng nht
trên thế gii trong na thế k qua. Các n
ước cng sn hot động da trên tin đề là các nhà
làm kế hoch trong chính ph trung ương có th định hướng hot động kinh tế mt cách tt
nht. Các nhà làm kế hoch đó quyết định xã hi sn xut hàng hóa và dch v nào, sn xut
bao nhiêu, ai là người sn xut và ai được phép tiêu dùng chúng. Lý thuyết hu thun cho quá
NGUYÊN LÝ KINH T HC
Chương 1 – Mười nguyên lý ca kinh tế hc 7
trình kế hoch hóa tp trung là ch có chính ph mi t chc được các hot động kinh tế theo
phương thc cho phép nâng cao phúc li kinh tế ca đất nước vi tư cách mt tng th.
Ngày nay, hu hết các nước tng có nn kinh tế kế hoch hóa tp trung đều đã t b h thng
này và đang n lc phát trin nn kinh tế th trường. Trong nn kinh t
ế th trường, quyết định
ca các nhà làm kế hoch trung ương được thay thế bng quyết định ca hàng triu doanh
nghip và h gia đình. Các doanh nghip quyết định thuê ai và sn xut cái gì. Các h gia
đình quyết định làm vic cho doanh nghip nào và mua cái gì bng thu nhp ca mình. Các
doanh nghip và h gia đình tương tác vi nhau trên th trường, nơi mà giá c và ích li riêng
định hướng cho các quyết định ca h
.
Mi nghe qua thì thành công ca các nn kinh tế th trường tht khó hiu. Xét cho cùng thì
trong nn kinh tế th trường, không ai phng s cho phúc li ca toàn xã hi. Th trường t
do bao gm nhiu người mua và người bán vô s hàng hóa và dch v khác nhau, và tt c
mi người quan tâm trước hết đến phúc li riêng ca h. Song cho dù ra quyết định có tính
cht phân tán và nhng người quyết định ch quan tâm ti ích li riêng c
a mình, nn kinh
tế th trường đã chng t thành công l thường trong vic t chc hot động kinh tế theo
hướng thúc đẩy phúc li kinh tế chung.
Trong cun Bàn v v bn cht và ngun gc ca ci ca các dân tc viết năm 1776, nhà
kinh tế Adam Smith đã nêu ra nhn định ni tiếng hơn bt c mt nhn định nào trong kinh tế
hc: khi tác độ
ng qua li vi nhau trên th trường, các h gia đình và doanh nghip hành động
như th h được dn dt bi mt "bàn tay vô hình", đưa h ti nhng kết cc th trường đáng
mong mun. Mt trong các mc tiêu ca chúng ta trong cun sách này là tìm hiu xem bàn
tay vô hình thc hin phép màu ca nó ra sao. Khi nghiên cu kinh tế hc, bn s thy giá c
là công c mà nh đó bàn tay vô hình điu khin các hot
động kinh tế. Giá c phn ánh c
giá tr ca mt hàng hóa đối vi xã hi và chi phí mà xã hi b ra để sn xut ra hàng hóa đó.
Vì h gia đình và doanh nghip nhìn vào giá c khi đưa ra quyết định mua và bán cái gì, nên
vô tình h tính đến các ích li và chi phí xã hi ca các hành động ca h. Kết qu là giá c
hướng dn các cá nhân đưa ra quyết định mà trong nhiu trường hp cho phép ti đa hóa ích
li xã hi.
Có m
t h qu quan trng t k năng ca bàn tay vô hình trong vic định hướng hot động
kinh tế: Khi ngăn không cho giá c điu chnh mt cách t nhiên theo cung và cu, chính ph
cũng đồng thi cn tr kh năng ca bàn tay vô hình trong vic phi hp hàng triu h gia
đình và doanh nghip - nhng đơn v cu thành nn kinh tế. H qu này lý gii ti sao thuế
tác độ
ng bt li ti quá trình phân b ngun lc: thuế làm bóp méo giá cdo vy làm bóp
méo quyết định ca doanh nghip và h gia đình. Nó cũng lý gii tác hi thm chí còn ln
hơn do các chính sách kim soát giá trc tiếp gây ra, chng hn như chính sách kim soát tin
thuê nhà. Và nó cũng lý gii s tht bi ca mô hình kế hoch hóa tp trung. Trong mô hình
này, giá c không do th trường xác định, mà do các nhà làm kế hoch trung ương đặt ra.
Các nhà làm kế
hoch này thiếu thông tin được phn ánh trong giá c khi giá c t do đáp li
các lc lượng th trường. Các nhà làm kế hoch trung ương tht bi vì h tìm cách vn hành
nn kinh tế vi mt bàn tay b trói sau lưng - đó là bàn tay vô hình ca th trường.
PHN ĐỌC THÊM ADAM SMITH VÀ BÀN TAY VÔ HÌNH
Có l ch là s trùng hp ngu nhiên khi tác phm vĩ đại Bàn v bn cht và ngun gc ca
ci ca các dân tc ca Adam Smith ra đời vào năm 1776, đúng vào năm các nhà cách mng
NGUYÊN LÝ KINH T HC
Chương 1 – Mười nguyên lý ca kinh tế hc 8
M ký bn Tuyên ngôn độc lp. Song c hai văn bn này đều chia s cùng mt quan đim rt
thnh hành thi by gi - đó là thường tt hơn nếu để mc cho các cá nhân t xoay s
không cn đến bàn tay thô bo ca chính ph ch đạo hành động ca h. Triết lý chính tr này
to ra cơ s tư tưởng cho nn kinh tế th trường và nói r
ng hơn là cho mt xã hi t do.
Ti sao nn kinh tế th trường li vn hành tt như vy? Phi chăng là vì con người chc chn
s đối x vi nhau bng tình yêu và lòng nhân t? Hoàn toàn không phi như vy. Nhng
dòng dưới đây là li ca Adam Smith bàn v cách thc con người tác động qua li trong nn
kinh tế th trường:
“Con người hu như thường xuyên cn t
i s giúp đỡ ca anh em và bn bè, và s là phí hoài
công sc nếu anh ta ch trông ch vào lòng nhân t ca h. Có l anh ta s giành được nhiu
li thế cho mình hơn khi thu hút được nim đa mê ca bn thân h và làm cho h tin rng
vic làm theo yêu cu ca anh ta có li cho chính bn thân h... Không phi nh lòng nhân t
ca nhng người bán tht, ch ca hàng rượu hay người bán bánh mì mà chúng ta có được
ba ti, mà chính là nh
li ích riêng ca h....
Mi cá nhân thường không có ý định phng s li ích ca cng đồng, và anh ta cũng không
h biết mình đang cng hiến cho nó bao nhiêu. Anh ta ch mun giành được mi li cho bn
thân mình, và trong khi làm như vy, cũng như trong nhiu trường hp khác, anh ta được dn
dt bi mt bàn tay vô hình hướng ti vic phng s cho mt mc đích nm ngoài d định
c
a anh ta. Song không phi lúc nào cũng là ti t đối vi xã hi nếu điu đó nm ngoài d
định ca anh ta. Khi theo đui ích li riêng ca mình, anh ta thường phng s cho ích li xã
hi mt cách có hiu qu hơn là trường hp anh ta thc s d định làm như vy.”
Khi viết nhng câu trên đây, Smith mun nhn mnh rng nhng người tham gia vào nn
kinh tế th trườ
ng b thúc đẩy bi ích li riêng và rng "bàn tay vô hình" ca th trường
hướng ích li này vào vic phng s cho phúc li kinh tế chung.
Rt nhiu nhn thc ca Smith vn đóng vai trò trung tâm ca kinh tế hc hin đại. Phân tích
ca chúng ta trong các chương ti s cho phép chúng ta din gii nhng kết lun ca Smith
mt cách chính xác hơn và phân tích đầy đủ nhng đim mnh và đim yếu trong bàn tay vô
hình ca th trường.
Nguyên lý 7: Đôi khi chính ph có th ci thin được kết cc th trường
Nếu như bàn tay vô hình ca th trường k diu đến vy, thì ti sao chúng ta li cn chính
ph? Mt lý do là bàn tay vô hình cn đưc chính ph bo v. Th trường ch hot động nếu
như quyn s hu được tôn trng. Mt nông dân s không trng lúa nếu như anh ta nghĩ rng
mùa màng s
b đánh cp, mt nhà hàng s không phc v tr khi được đảm bo rng khách
hàng s tr tin trước khi ri quán. Tt c chúng ta đều da vào công an và tòa án do chính
ph cung cp để thc thi quyn ca chúng ta đối vi nhng th do chúng ta to ra.
Mt lý do khác cn đến chính ph là mc dù th trường thường là mt phương thc tt để t
chc ho
t động kinh tế, nhưng quy tc cũng có vài ngoi l quan trng. Có hai nguyên nhân
ch yếu để chính ph can thip vào nn kinh tế là: thúc đẩy hiu qu và s công bng. Nghĩa
là hu hết các chính sách đều hoc nhm vào mc tiêu làm cho chiếc bánh kinh tế ln lên,
hoc làm thay đổi cách thc phân chia chiếc bánh đó.
Bàn tay vô hình thường dn dt th trường phân b ngun lc mt cách có hiu qu. Song vì
các nguyên nhân khác nhau, đôi khi bàn tay vô hình không ho
t động. Các nhà kinh tế hc s
NGUYÊN LÝ KINH T HC
Chương 1 – Mười nguyên lý ca kinh tế hc 9
dng thut ng tht bi th trường để ch tình hung mà th trường t nó tht bi trong vic
phân b ngun lc có hiu qu.
Mt nguyên nhân có kh năng làm cho th trường tht bi là ngoi ng. nh hưởng ngoi
hinnh hưởng do hành động ca mt người to ra đối vi phúc li ca người ngoài cuc.
Ví d kinh đin v chi phí ra bên ngoài là ô nhim. Mt nguyên nhân na có th gây ra tht
bi th trường là sc mnh th trường. Sc mnh th trường ch kh năng ca mt người duy
nht (hay nhóm người) có nh hưởng đáng k lên giá c th trường. Ví d, chúng ta hãy gi
định tt c mi người trong mt th trn đều cn nước, nh
ưng li ch có mt cái giếng, người
ch giếng không phi tuân theo s cnh tranh khc lit mà có nó, bàn tay vô hình kim soát
ích li cá nhân. Bn đọc s thy rng trong trường hp này, vic điu tiết giá mà nhà độc
quyn quy định có th ci thin hiu qu kinh tế.
Bàn tay vô hình thm chí có ít kh năng hơn trong vic đảm bo rng s thnh vượng kinh tế
được phân ph
i mt cách công bng. Nn kinh tế th trường thưởng công cho mi người da
trên năng lc ca h trong vic sn xut ra nhng th người khác sn sàng tr giá. Vn
động viên bóng r gii nht thế gii kiếm được nhiu tin hơn kin tướng c vua thế gii vì
người ta sn sàng tr nhiu tin để xem bóng r hơn là xem c vua. Bàn tay vô hình không
đảm bo rng tt c mi người đều có lương thc đầy đủ, qun áo tt và s chăm sóc y tế
thích hp. Mt mc tiêu ca nhiu chính sách công cng, chng hn chính sách thuế thu nhp
và h thng phúc li xã hi, là đạt được s phân phi các phúc li kinh tế mt cách công
bng hơ
n.
Vic nói rng trong mt s trường hp, chính ph có th ci thin tình hình th trường không
có nghĩa là nó s luôn luôn làm được như vy. Các chính sách công cng không phi do thn
thánh to ra, mà là kết qu ca mt quá trình chính tr còn lâu mi hoàn ho. Đôi khi các
chính sách được hoch định ch đơn gin nhm thưởng công cho nhng quyn lc chính tr.
Đôi khi chúng được hoch định bi nh
ng nhà lãnh đạo có thin chí, nhưng không đủ thông
tin. Mt mc tiêu ca vic nghiên cu kinh tế hc là giúp bn đánh giá xem khi nào mt
chính sách ca chính ph thích hp để thúc đẩy hiu qu hoc công bng, còn khi nào thì nó
không thích hp.
Kim tra nhanh: Hãy lit kê và gii thích ngn gn ba nguyên lý liên quan đến nhng tương
tác v mt kinh tế.
NN KINH T VI TƯ CÁCH MT TNG TH VN HÀNH NHƯ TH NÀO?
Chúng ta b
t đầu bng vic tho lun v cách thc ra quyết định cá nhân, sau đó xem xét
phương thc con người tương tác vi nhau. Tt c các quyết định và s tương tác này to
thành “nn kinh tế”. Ba nguyên lý cui cùng liên quan đến s vn hành ca nn kinh tế nói
chung.
Nguyên lý 8: Mc sng ca mt nước ph thuc vào năng lc sn xut hàng hóa và dch
v ca nước đó
S
chênh lch mc sng trên thế gii rt đáng kinh ngc. Vào năm 1997, bình quân mt
người M có thu nhp là 29.000 đô la. Cũng trong năm đó, mt người Mê-hi-cô có thu
nhp bình quân là 8000 đô la và mt người Ni-giê-ria bình quân có thu nhp là 900 đô la.
Không có gì đáng ngc nhiên khi s khác bit trong thu nhp bình quân được phn ánh
các ch tiêu khác nhau v cht lượng cuc sng. Công dân ca các nước thu nhp cao có
NGUYÊN LÝ KINH T HC
Chương 1 – Mười nguyên lý ca kinh tế hc 10
nhiu ti vi hơn, nhiu ô tô hơn, chế độ dinh dưỡng tt hơn, dch v y tế tt hơn và tui th
cao hơn người dân các nước thu nhp thp.
Nhng thay đổi mc sng theo thi gian cũng rt ln. Trong lch s, thu nhp M tăng
khong 2% mt năm (sau khi đã loi tr nhng thay đổi trong giá sinh hot). Vi tc độ tă
ng
trưởng này, c 35 năm thu nhp bình quân li tăng gp đôi. Trong thế k qua, thu nhp bình
quân đã tăng gp tám ln.
Đâu là nguyên nhân ca s khác bit to ln v mc sng gia các quc gia và theo thi gian?
Câu tr li đơn gin đến mc đáng ngc nhiên. Hu hết s khác bit v mc sng có nguyên
nhân s khác nhau v năng sut lao động ca các qu
c gia - tc s lượng hàng hóa được
làm ra trong mt gi lao động ca mt công nhân. nhng quc gia người lao động sn xut
được lượng hàng hóa và dch v ln hơn trong mt đơn v thi gian, hu hết người dân được
hưởng mc sng cao; còn các quc gia có năng sut kém hơn, hu hết người dân phi chu
cuc sng đạm bc. Tương t
, tc độ tăng năng sut ca mt quc gia quyết định tc độ tăng
thu nhp bình quân ca quc gia đó.
Mi quan h cơ bn gia năng sut và mc sng khá đơn gin, nhưng có nhng hàm ý sâu
rng. Nếu năng sut là nhân t thiết yếu quyết định mc sng, thì nhng lý do khác phi đóng
vai trò th yếu. Chng h
n, người ta có th cm nhn rng nghip đoàn hoc lut v tin
lương ti thiu có đóng góp làm tăng mc sng ca công nhân M trong thế k qua. Song
người anh hùng tht s ca công nhân M là năng sut lao động ngày càng tăng lên ca h.
Mt ví d khác là mt s nhà bình lun cho rng s cnh tranh tăng lên t Nht và các nước
khác là nguyên nhân dn ti mc t
ăng trưởng chm trong thu nhp quc dân ca M sut 30
năm qua. Nhưng tên ti phm thc s không phi là s cnh tranh t nước ngoài, mà chính
s tăng trưởng chm ca năng sut M.
Mi liên h gia năng sut và mc sng còn có hàm ý sâu sc đối vi chính sách ca nhà
nước. Khi suy nghĩ xem chính sách bt k s tác động như thế nào đến m
c sng, vn đề
then cht là nó s tác động ti năng lc sn xut hàng hóa và dch v như thế nào. Để nâng
cao mc sng, các nhà hoch định chính sách cn làm tăng năng sut lao động bng cách
đảm bo cho công nhân được đào to tt, có đủ các công c cn thiết để sn xut hàng hóa
và dch vđược tiếp cn nhng công ngh tt nht hi
n có.
Nguyên lý 9: Giá c tăng khi chính ph in quá nhiu tin
Vào tháng 1 năm 1921, giá mt t nht báo Đức là 0,3 mác. Chưa đầy hai năm sau, vào
tháng 11 năm 1922 cũng to y giá 70.000.000 mác. Giá ca tt c các mt hàng khác
trong nn kinh tế cũng tăng vi tc độ tương t. Đây là mt trong nhng ví d ngon mc
nht lch s v lm phát- tc s gia tăng ca m
c giá chung trong nn kinh tế.
Mc dù nước M chưa tng tri qua cuc lm phát nào tương t như Đức vào nhng năm
1920, nhưng đôi khi lm phát cũng là mt vn đề kinh tế. Ví d trong nhng năm 1970, mc
giá chung tăng gp hơn hai ln và tng thng Gerald Ford đã gi lm phát "k thù s mt
ca công chúng". Ngược li, lm phát trong nhng năm 1990 ch kho
ng 3% mt năm; vi t
l này, giá c phi mt hơn hai mươi năm để tăng gp đôi. Vì lm phát cao gây nhiu tn tht
cho xã hi, nên gi cho lm phát mc thp là mt mc tiêu ca các nhà hoch định chính
sách kinh tế trên toàn thế gii.
Nguyên nhân gây ra lm phát là gì? Trong hu hết các trường hp lm phát trm trng hoc
kéo dài, dường như đều có chung mt th ph
m - s gia tăng ca lượng tin. Khi chính ph
NGUYÊN LÝ KINH T HC
Chương 1 – Mười nguyên lý ca kinh tế hc 11
to ra mt lượng ln tin, giá tr ca tin gim. Vào đầu nhng năm 1920, khi giá c Đức
tăng gp 3 ln mi tháng, lượng tin cũng tăng gp 3 ln mi tháng. Dù ít nghiêm trng hơn,
nhưng lch s kinh tế M cũng đã đưa chúng ta đến mt kết lun tương t: lm phát cao trong
nhng năm 1970 đi lin vi s
gia tăng nhanh chóng ca lượng tin và lm phát thp trong
nhng năm 1990 đi lin vi s gia tăng chm ca lượng tin.
Nguyên lý 10: Xã hi đối mt vi s đánh đổi ngn hn gia lm phát và tht nghip
Nếu d dàng lý gii lm phát như vy, thì ti sao đôi khi các nhà hoch định chính sách vn
gp rc ri trong vic chèo lái con thuyn nn kinh tế. M
t lý do là người ta nghĩ rng vic
ct gim lm phát thường gây ra tình trng gia tăng tm thi ca tht nghip. Đường minh
ha cho s đánh đổi gia lm phát và tht nghip được gi là đường Phillips, để ghi công tên
nhà kinh tế đầu tiên nghiên cu mi quan hy.
Đường Phillips vn còn là mt đề tài gây tranh cãi gia các nhà kinh tế, nhưng hin nay hu
hết các nhà kinh tế đều chp nhn ý kiế
n cho rng có s đánh đổi ngn hn gia lm phát và
tht nghip. Điu đó ch hàm ý rng trong khong thi gian mt hay hai năm, nhiu chính
sách kinh tế đẩy lm phát và tht nghip đi theo nhng hướng trái ngược nhau. Bt k tht
nghip và lm phát ban đầu mc cao (như đầu nhng năm 1980) hay thp (như cui thp k
1990) hay nm
đâu đó gia hai thái cc đó, thì các nhà chính sách vn phi đối mt vi s
đánh đổi này.
Ti sao chúng ta li phi đối mt vi s đánh đổi ngn hn nêu trên? Theo cách lý gii ph
biến, vn đề phát sinh t vic mt s loi giá c thay đổi chm chp. Ví d, chúng ta hãy gi
định rng chính ph ct gim lượng tin trong nn kinh tế. Trong dài h
n, kết qu ca chính
sách này là mc giá chung gim. Song không phi tt c giá c đều thay đổi ngay lp tc.
Phi mt nhiu năm để tt c doanh nghip đưa ra các bn chào hàng mi, để tt c các công
đoàn chp nhn nhượng b v tin lương và tt c các nhà hàng in thc đơn mi. Điu này
hàm ý giá c được coi là cng nhc trong ngn h
n.
Vì giá c cng nhc, nên nh hưởng trong ngn hn ca các chính sách mà chính ph vn
dng khác vi nh hưởng ca chúng trong dài hn. Chng hn khi chính ph ct gim lượng
tin, nó làm gim s tin mà mi người chi tiêu. Khi giá c b mc mc cao, mc chi tiêu s
gim và điu này làm gim lượng hàng hóa và dch v mà các doanh nghip bán ra. Mc bán
ra thp hơn đến lượ
t nó buc các doanh nghip phi sa thi công nhân. Như vy, bin pháp
ct gim lượng tin tm thi làm tăng tht nghip cho đến khi giá c hoàn toàn thích ng vi
s thay đổi.
S đánh đổi gia lm pt và tht nghip ch có tính tm thi, nhưng nó có th kéo dài trong
mt vài năm. Vì vy, đường Phillips có ý nghĩa rt quan trng trong vic tìm hiu các xu thế
phát trin ca nn kinh tế
. Đặc bit, các nhà hoch định chính sách có th khai thác s đánh
đổi này bng cách vn dng các công c chính sách khác nhau. Thông qua vic thay đổi mc
chi tiêu ca chính ph, thuế và lượng tin in ra, trong ngn hn các nhà hoch định chính sách
có th tác động vào hn hp gia lm pt và tht nghip mà nn kinh tế phi đối mt. Vì các
công c này ca chính sách tài khóa và tin t có sc mnh tim tàng như vy, nên vic các
nhà hoch
định chính sách s dng nhng công c này như thế nào để qun lý nn kinh tế
vn còn là mt đề tài tranh cãi.
Kim tra nhanh: Hãy lit kê và gii thích ngn gn ba nguyên lý mô t phương thc vn
hành ca nn kinh tế vi tư cách mt tng th.
NGUYÊN LÝ KINH T HC
Chương 1 – Mười nguyên lý ca kinh tế hc 12
KT LUN
Gi đây bn đã biết đôi chút v kinh tế hc. Trong nhng chương tiếp theo, chúng ta s tìm
hiu thêm nhiu điu sâu sc hơn v con người, th trường và nn kinh tế. Để nm được nhng
vn đề này, chúng ta cn phi n lc mt chút, nhưng chúng ta s làm đưc. Kinh tế hc da
trên mt s ít ý tưởng căn b
n để t đó có th áp dng cho nhiu tình hung khác nhau.
Xuyên sut cun sách này, chúng ta s còn quay li vi Mười Nguyên lý ca kinh tế hc đã
được làm sáng t trong chương này và tóm tt trong bng Bn hãy nh rng, ngay c nhng
phân tích kinh tế phc tp nht cũng được xây dng trên nn tng ca mười nguyên lý này.
TÓM TT
Nhng bài hc căn bn v ra quyết định cá nhân là: con người đối mt vi s đánh đổi
gia các mc tiêu khác nhau, chi phí ca bt k hành động nào cũng được tính bng
nhng cơ hi b b qua, con người duy đưa ra quyết định da trên s so sánh gia chi
phí và ích li cn biên, và cui cùng là con người thay đổi hành vi để đáp li các kích
thích mà h phi đối mt.
Nhng bài hc căn bn v s tác động qua li gia con người vi nhau là: thương mi
(tc trao đổi) có th đem li ích li cho c hai bên, th trường thường là cách thc tt phi
hp trao đổi buôn bán gia mi người, và chính ph có th ci thin các kết cc th
trường khi mt tht bi th trường nào đó tn ti hay khi kết c
c th trường không công
bng.
Nhng bài hc căn bn v nn kinh tế vi tư cách mt tng th là: năng sut là ngun gc
cui cùng ca mc sng, s gia tăng lượng tin là nguyên nhân cui cùng ca lm phát và
xã hi đối mt vi s đánh đổi ngn hn gia lm phát và tht nghip.
NGUYÊN LÝ KINH T HC
Chương 2 – Các lc lượng cung cu th trường 1
CHƯƠNG 2
CÁC LC LƯỢNG CUNG CU TH TRƯỜNG
Khi mt đợt giá lnh đổ vào bang Florida, giá nước cam tăng trong các siêu th trên toàn
quc. Mi khi thi tiết vào mùa hè m lên bang New England, giá thuê phòng khách sn
vùng Ca-ri -bê lp tc suy gim. Khi mt cuc chiến tranh bùng n Trung Đông, giá xăng
M tăng và giá xe Cadillac cũ gim xung. Nhng biến c này có đim gì chung? Tt c
chúng đều cho thy s
vn hành ca cung và cu.
Cung và cu là hai t mà các nhà kinh tế s dng thường xuyên nht - và vì nguyên nhân rt
hp lý. Cung và cu là nhng lc lượng làm cho nn kinh tế th trường hot động. Chúng
quyết định lượng ca mi hàng hóa được sn xut ra và giá mà nó được bán. Nếu mun biết
mt biến c hoc chính sách nh hưởng ti nn kinh tế như thế nào, thì trước hế
t bn phi
nghĩ xem nó nh hưởng ti cung và cu như thếo.
Chương này gii thiu lý thuyết v cung và cu. Nó nghiên cu hành vi ca người bán và
người mua, cũng như s tương tác gia h vi nhau. Nó ch ra cách thc quyết định giá c
ca cung và cu trong nn kinh tế th trường, cũng như giá c đến lượt nó li phân b các
ngun lc khan hiếm c
a xã hi như thế nào.
TH TRƯỜNG VÀ CNH TRANH
Khái nim cung và cu được dùng để ch hành vi ca con người khi h tương tác vi nhau
trên th trường. Th trường là mt nhóm người bán và người mua mt hàng hóa hoc dch v
nht định. Vi tư cách là mt nhóm, người mua quyết định cu v sn phm và vi tư cách
mt nhóm, người bán quyết định cung v sn ph
m. Trước khi tho lun v hành vi ca
người bán và người mua, chúng ta hãy xem xét k lưỡng hơn khái nim “th trường” và các
dng th trường khác nhau mà chúng ta quan sát thy trong nn kinh tế.
Th trường cnh tranh
Th trường có nhiu dng khác nhau. Đôi khi th trường có t chc rt cao, chng hn th
trường ca nhiu loi nông sn. Trong nhng th trường này, người mua và người bán gp
nhau vào mt th
i gian và ti địa đim nht định mà ti đó, người xướng giá góp phn
định giá và t chc bán hàng.
Nhưng hu hết các th trường đưc t chc mc thp hơn. Chng hn, chúng ta hãy quan
sát th trường kem trong mt khu ph nht định. Người mua kem không h tp hp nhau li
vào bt k thi đim nào. Người bán kem nm các địa
đim khác nhau và bán các sn phm
khác nhau đôi chút. đây không có người xướng giá để công b giá kem. Tng người bán t
ghi giá cho mi chiếc kem và tng người mua quyết định mua bao nhiêu kem ti mi ca
hàng.
Mc dù không được t chc, nhưng nhóm người mua và người bán kem hình thành mt th
trường. Người mua biết rng có nhiu người bán để anh ta la chn và người bán ý thc được
rng có người khác bán sn phm t
ương t sn phm ca anh ta. Giá và lượng kem bán ra
không phi do mt người bán hay người mua nào quyết định. Trên thc tế, giá và lượng là do
tt c người bán và người mua quyết định khi h tương tác vi nhau trên th trường.
Ging như hu hết các th trường trong nn kinh tế, th trường kem có tính cnh tranh cao.
Th trường cnh tranhmt th trường trong đó có nhiu người bán và người mua đến m
c
NGUYÊN LÝ KINH T HC
Chương 2 – Các lc lượng cung cu th trường 1
mi người chnh hưởng không đáng k đến giá th trường. Mi người bán kem ch
kh năng kim soát hn chế đối vi giá c vì nhng người bán khác đang chào bán các sn
phm tương t. Người bán có ít lý do để bán vi giá thp hơn giá ph biến trên th trường, và
nếu anh ta bán vi giá cao hơn, người mua s mua hàng nơi khác. Tương t, không mt
người mua cá bi
t nào có th tác động ti giá kem vì mi người ch mua mt lượng nh.
Trong chương này chúng ta s tìm hiu xem người mua và người bán tương tác vi nhau như
thế nào trên th trường cnh tranh. Chúng ta s nghiên cu xem các lc lượng cung cu quyết
định lượng hàng hóa bán ra và giá ca nó như thế nào.
S cnh tranh: hoàn ho và không hoàn ho
Trong chương này chúng ta gi định rng các th trường có tính cnh tranh hoàn ho. Th
trường c
nh tranh hoàn ho được định nghĩa là nhng th trường có hai đặc tính quan trng
nht: (1) tt c hàng hóa được chào bán là nhng hàng hóa như nhau, và (2) người mua
người bán nhiu đến mc không có người bán hoc người mua cá bit nào có th tác động ti
giá th trường. Vì người bán và người mua trên th trường cnh tranh hoàn ho phi chp
nhn giá do th trường quyết định, cho nên h được coi là người nhn giá.
Có m
t s th trường trong đó gi định v s cnh tranh hoàn ho hoàn toàn đúng. Chng hn
trên th trường lúa m có hàng ngàn nông dân bán lúa m và hàng triu người tiêu dùng s
dng lúa m và sn phm làm t lúa m. Vì không có người bán và người mua cá bit nào tác
động được ti giá lúa m, nên mi người đều coi giá lúa m là cho trước.
Tuy nhiên, không phi mi hàng hóa và dch v đều được bán trên các th trường cnh tranh
hoàn h
o. Mt s th trường ch có mt người bán và người bán này quy định giá c. Người
bán này được gi là nhà độc quyn. Chng hn, công ty truyn hình cáp trong th trn ca bn
có th là mt nhà độc quyn. Người dân trong th trn ca bn có th ch có mt công ty
truyn hình cáp để h mua dch v này.
Mt s th trường nm gia hai trường hp c
c đoan là cnh tranh hoàn ho và độc quyn.
Mt dng th trường trong s đó, cái được gi là th trường độc quyn nhóm, ch có mt ít
người bán không phi lúc nào cũng cnh tranh mnh m vi nhau. Các tuyến bay là mt ví
d. Nếu mi tuyến bay gia hai thành ph ch được hai hay ba hãng hàng không phc v, các
hãng này có th tránh cnh tranh quá khc lit để gi cho giá c mc cao. M
t dng khác
ca th trường là cnh tranh độc quyn: nó bao gm nhiu người bán, mi người chào bán
mt sn phm hơi khác so vi sn phm ca người khác. Vì sn phm không hoàn toàn ging
nhau, nên mi người bán có mt kh năng nào đó trong vic định giá cho sn phm ca mình.
Mt ví d là ngành phn mm máy tính. Nhiu chương trình son tho văn bn cnh tranh vi
nhau, nhưng không có chương trình nào hoàn toàn ging nhau và vì vy chúng có giá riêng.
Mc dù th trường mà chúng ta quan sát được trên thế gii rt đa dng, nhưng chúng ta bt
đầu bng vic nghiên cu th trường cnh tranh hoàn ho. Th trường cnh tranh hoàn ho là
dng th trường d phân tích nht. Hơn na, vì trên hu hết các th trường đều có mt mc độ
cnh tranh nào đó, nên nhiu bài hc mà chúng ta có được khi nghiên cu cung và c
u trong
điu kin cnh tranh hoàn ho có th vn dng vào các th trường phc tp hơn.
Kim tra nhanh: Th trường là gì? Khái nim th trường cnh tranh hàm ý gì?
CU
Chúng ta bt đầu công trình nghiên cu th trường ca mình bng cách xem xét hành vi ca
người mua. Trong phn này, chúng ta s xem xét các yếu t quyết định lượng cu v mt
NGUYÊN LÝ KINH T HC
Chương 2 – Các lc lượng cung cu th trường 1
hàng hóa nào đó, tc lượng hàng hóa mà người tiêu dùng sn sàng và có kh năng mua. Để
tp trung suy nghĩ ca mình, chúng ta hãy luôn luôn nh ti mt hàng hóa c th là kem.
Yếu t nào quyết định lượng cu ca mt cá nhân?
Chúng ta hãy xem xét cu ca mình v kem. Bn làm thế nào để quyết định mua bao nhiêu
kem mi tháng, và nhng yếu t nào nh hưởng ti quyết định ca bn? Sau đây là mt s
câu tr l
i mà bn có th đưa ra.
Giá c. Nếu giá kem tăng so vi mc giá ban đầu là 20 xu mt cc, bn s mua ít kem hơn.
Thay vào đó, bn có th mua món sa chua đông lnh. Nếu giá kem gim so vi giá 20 xu
mt cc, bn s mua nhiu hơn. Vì lượng cu v kem gim khi g tăng và tăng khi giá gim,
nên chúng ta nói lượng cu có quan h nghch vi giá c. Mi quan h này gia giá c
lượ
ng cu đúng vi hu hết hàng hóa trong nn kinh tế. Trên thc tế, nó có tác dng rng rãi
đến mc các nhà kinh tế gi nó là lut cu: nếu các yếu t khác không thay đổi, thì khi giá
mt hàng hóa tăng, lượng cu vng hóa đó s gim.
Thu nhp. Điu gì xy ra đối vi cu v kem ca bn nếu bn mt vic làm trong mùa hè?
Kh năng cao nht là nó s gi
m. Mc thu nhp thp hơn hàm ý bn có tng mc chi tiêu
thp hơn và vì vy bn chi tiêu ít hơn để mua mt s hàng hóa - và có l là hu hết các hàng
hóa. Nếu cu v mt hàng hóa gim khi thu nhp gim, thì hàng hóa này được gi là hàng
thông thường.
Không phi mi hàng hóa đều là hàng thông thường. Nếu cu v mt hàng hóa tăng khi thu
nhp gim, thì hàng hóa này được gi là hàng cp thp. Vic đi xe buýt là m
t ví d v hàng
cp thp. Khi thu nhp ca bn gim, có ít kh năng bn s mua mt chiếc ô tô hay đi tc xi,
mà có nhiu kh năng bn s đi xe buýt.
Giá các hàng hóa liên quan. Chúng ta hãy gi s giá món sa chua đông lnh gim. Lut
cu nói rng bn s mua nhiu sa chua đông lnh hơn. Đồng thi, có th bn s mua ít kem
hơn. Vì kem và sa chua đông lnh là hai món tráng mi
ng lnh, ngt và béo, nên chúng tha
mãn được nhng nguyn vng tương t nhau. Khi s gim giá ca mt hàng hóa làm gim
lượng cu v hàng hóa khác, chúng ta gi hai hàng hóa nàyhàng thay thế. Hàng thay thế
thường là mt cp hàng hóa được s dng thay thế cho nhau, chng hn xúc xích nóng và
bánh m kp tht, áo thun và áo sơ mi, vé xem phim và tin thuê viđiô.
Bây gi chúng ta hãy gi s giá món ko mm nóng gim. Theo lut cu, bn s mua nhiu
k
o mm nóng hơn. Nhưng trong trường hp này bn cũng mua kem nhiu hơn, vì kem và
ko mm nóng thường được ăn kèm vi nhau. Khi s gim sút giá ca mt hàng hóa làm tăng
cu v hàng hóa khác, hai hàng hóa được gi là hàng b sung cho nhau. Hàng b sung
thường là mt cp hàng hóa được s dng cùng nhau như xăng và ô tô, máy tính và phn
mm, bàn trượt tuyết và vé vào khu trượt tuyết.
Th hiếu. Yếu t
rõ ràng nht quyết định cu ca bn là th hiếu ca bn. Nếu bn thích kem,
bn mua nó nhiu hơn. Các nhà kinh tế thường không tìm cách lý gii th hiếu ca con người
vì nó hình thành t các yếu t lch s và tâm lý nm ngoài vương quc ca kinh tế hc. Tuy
NGUYÊN LÝ KINH T HC
Chương 2 – Các lc lượng cung cu th trường 1
nhiên, các nhà kinh tế chú ý phân tích xem điu gì xy ra khi th hiếu thay đổi.
K vng. K vng ca bn v tương lai có th tác động ti cu hin ti ca bn v hàng hóa
và dch v. Chng hn, nếu d kiến kiếm được nhiu thu nhp hơn trong tháng ti, bn có th
sn sàng hơn trong vic chi tiêu mt phn tin tiết kim hin t
i để mua kem. Ví d khác là
nếu d kiến giá kem ngày mai s gim, bn có th không sn sàng mua mt cc kem vi giá
hin ti
Biu cu và đường cu
Chúng ta đã nhn thy rng nhiu biến s quyết định lượng kem mà mt cá nhân có cu. Hãy
tưởng tượng ra rng chúng ta gi cho tt c các biến s này không đổi tr mt biến s là giá
c. Chúng ta hãy xét xem giá c tác
động ti lượng cu v kem như thếo.
Giá mt cc kem
0,00 đô la
0,50
1,00
1.50
2,00
2,50
3,00
Lượng cu v kem
12
10
8
6
4
2
0
Bng 1. Biu cu ca Catherine. Biu cu ch ra lượng cu ti mi mc giá.
Bng 1 cho biết s cc kem mà Catherine mua mi tháng ti các mc giá kem khác nhau.
Nếu kem được cung cp min phí, Catherine s ăn 12 cc. Vi giá 0,50 đô la mt cc,
Catherine mua 10 cc. Khi giá tiếp tc tăng lên, cô mua ngày càng ít kem hơn. Khi mc giá
bng 3đô la, Catherine không mua mt cc kem nào c. Bng 1 là mt biu cu, tc mt b
ng
ch ra mi quan h gia giá ca mt hàng hóa và lượng cu. (Các nhà kinh tế s dng t biu
vì bng này có các ct con s song song vi nhau như mt biu ghi gi tu chy).
Hình 1. Đường cu ca Catherine. Đường cu này là đồ th được v bng s liu ca bng
1. Nó cho biết lượng cu v m
t hàng hóa thay đổi như thế nào khi giá ca nó thay đổi. Vì
0 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 Lượng kem
3.00
2.50
2.00
1.50
1.00
0,50
Giá kem
NGUYÊN LÝ KINH T HC
Chương 2 – Các lc lượng cung cu th trường 1
giá thp hơn làm tăng lượng cu, nên đường cu dc xung.
Ceteris Paribus - Nhng cái khác không thay đổi
Mi khi nhìn thy đường cu, bn cn nh rng nó được v cho trường hp nhiu biến s
khác không thay đổi. Đường cu ca Catherine trong hình 1 cho thy điu gì xy ra đối vi
lượng kem mà Catherine mun mua khi ch có giá kem thay đổi. Đường cu được v vi gi
định rng thu nh
p ca Catherine, th hiếu, k vng và giá c các hàng hóa có liên quan
không thay đổi.
Các nhà kinh tế s dng thut ng ceteris paribus để nhn mnh rng tt c các biến s
liên quan, trc biến s được nghiên cu vào thi đim đó, đều đưc gi cho không thay
đổi. Thành ng la tinh này có nghĩa đen là “nhng cái khác không thay đổi”. Đường cu dc
xung vì, nếu nhng cái khác không thay đổi, giá c
thp hơn hàm ý lượng cu cao hơn.
Mc du thut ng nhng cái khác không thay đổi được áp dng cho mt tình hung gi định, trong
đó mt s biến s được gi định là không thay đổi, nhưng trong thc tế, nhiu s vt đồng thi thay
đổi. Vì lý do này, khi s dng các công c cung cu để phân tích các biến c hoc chính sách, vn đề
quan trng là phi nh
rng nhng cái gì được gi cho không thay đổi, còn cái gì thì không.
Cu th trường và cu cá nhân
Cho đến gi chúng ta ch nói v cu ca mt cá nhân v hàng hóa. Để phân tích phương thc vn
hành ca th trường, chúng ta cn xác định cu th trường, tc tng các cu cá nhân v mt hàng
hóa hay mt dch v c th.
Bng 2 là biu cu v kem ca hai cá nhân là Catherine và Nicholas. Biu cu c
a Catherine
cho chúng ta biết lượng kem mà cô mun mua và biu cu ca Nicholas cho chúng ta biết
lượng kem mà anh mun mua. Cu th trường là tng cu ca hai cá nhân.
Vì cu th trường hình thành t các cu cá nhân, nên nó ph thuc vào tt c các yếu t quyết
định cu ca nhng người mua cá bit. Cho nên, cu th trường ph thuc vào thu nhp ca
người mua, th hiếu, k vng và giá c ca các hàng hóa liên quan. Ngoài ra, nó còn ph
thuc vào s người mua. (Nếu có thêm người tiêu dùng khác là Peter cùng ăn kem vi
Catherine và Nicholas, lượng cu th trường s cao hơn ti mi mc giá.) Biu cu trong bng
2 cho thy điu gì xy ra đối vi lượng cu khi giá c thay đổi, trong khi tt c các biến s
khác quyết định lượng cu đều được gi cho không thay đổi.
Giá mt cc kem Catherine Nicholas
0,00 đô la 12 + 7
0,50 10 6
1,00 8 5
1,50 6 4
2,00 4 3
2,50 2 2
3,00 0 1
L
ượng cu th trường
= 19
16
13
10
7
4
1
Bng 2. Biu cu cá nhân và biu cu th trường. Lượng cu trên mt th trường là tng
NGUYÊN LÝ KINH T HC
Chương 2 – Các lc lượng cung cu th trường 1
lượng cu ca mi người mua.
Hình 2 v các đường cu tương ng vi nhng biu cu này. Hãy chú ý rng chúng ta cng
các đường cu cá nhân theo phương nm ngang đểđường cu th trường. Nghĩa là để xác
định tng lượng cu ti bt k mc giá nào, chúng ta cũng cng lượng cu ca các cá nhân
xác định được trên trc hoành ca đường cu cá nhân. Vì quan tâm ti vic phân tích phươ
ng
thc vn hành ca th trường, nên chúng ta thường s dng đường cu th trường. Đường cu
th trường cho thy tng lượng cu v mt hàng hóa thay đổi như thế nào khi giá c thay đổi.
Hình 2. Cu th trường là tng cu ca các cá nhân. Đường cu ca mt th trường được
xác định b
ng cách cng theo phương nm ngang tt c các đường cu cá nhân. Ti mc giá
bng 2 đô la, Catherine mun mua 4 cc kem và Nicholas mun mua 3 cc kem. Lượng cu
trên th trường ti mc giá này bng 7 cc kem.
0 1 2 3 4 5 6 7 Lượng kem
0 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 13 14 15 16 17 18 19 Lượng kem
3.00
2.50
2.00
1.50
1.00
0,50
Giá kem
Cu ca Catherine
Cu ca Nicholas
Giá kem
3.00
2.50
2.00
1.50
1.00
0,50
0 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12
3.00
2.50
2.00
1.50
1.00
0,50
Giá kem
Cu th trường
NGUYÊN LÝ KINH T HC
Chương 2 – Các lc lượng cung cu th trường 1
S dch chuyn ca đường cu
Gi s Hip hi Y tế M đột nhiên công b mt phát minh mi: nhng người ăn kem thường
xuyên sng lâu hơn, có sc khe tt hơn. Công b này nh hưởng ti th trường kem như thế
nào? Phát minh trên đã làm thay đổi th hiếu ca mi người và làm tăng cu v kem. Ti mi
mc giá, bây gi ng
ười mua mun mua lượng kem ln hơn và đường cu v kem dch
chuyn sang phi.
Hình 3. S dch chuyn ca đường cu. Bt k s thay đổi nào làm tăng lượng hàng mà
người mua mun mua ti mt mc giá nht định cũng làm dch chuyn đường cu sang phi.
Bt k s thay đổi nào làm gim lượng hàng mà người mua mun mua ti mt m
c giá nht
định cũng làm dch chuyn đường cu sang trái.
Mi khi mt yếu t quyết định cu nào đó thay đổi, tr giá hàng hóa, đường cu đều dch
chuyn. Hình 3 ch ra rng bt k s thay đổi nào làm tăng lượng cu ti mi mc giá cũng
làm dch chuyn đường cu sang phi. Tương t, bt k s thay đổi nào làm gim lượng c
u
ti mi mc giá cũng làm dch chuyn đường cu sang trái.
Bng 3 ghi các biến s quyết định lượng cu trên th trường và s thay đổi trong mt biến s
tác động ti đường cu như thế nào. Hãy chú ý rng giá c đóng mt vai trò đặc bit trong
bng này. Vì giá c nm trên trc tung khi chúng ta v đường cu, nên s thay đổi ca giá c
không làm dch chuyn đườ
ng cu, mà ch biu th s di chuyn dc theo nó. Ngược li khi
có s thay đổi trong thu nhp, giá ca các hàng hóa liên quan, th hiếu, k vng hay s người
mua, lượng cu thay đổi ti mi mc giá; điu này được biu th bng s dch chuyn ca
đường cu.
Các biến s tác động ti lượng cu S thay đổi trong biến s này
Giá c
Thu nhp
Giá ca các hàng hóa liên quan
Th hiếu
K vng
S người mua
Di chuyn dc theo đường cu
Làm dch chuyn đường cu
Làm dch chuyn đường cu
Làm dch chuyn đường cu
Làm dch chuyn đường cu
Làm dch chuyn đường cu
Tóm li, đường cu cho thy điu gì xy ra vi lượng cu v mt hàng hóa khi giá c ca nó
thay đổi và tt cc yếu t khác quyết định lượng cu được gi cho không thay đổi. Khi mt
Đường cu, D
3
S gim sú
t
nhu cu
S gia
tăng nhu cu
0 Lượng kem
Giá kem
Đường cu, D
1
Đường cu, D
2
NGUYÊN LÝ KINH T HC
Chương 2 – Các lc lượng cung cu th trường 1
trong các yếu t khác này thay đổi, đường cu s dch chuyn.
NGHIÊN CU TÌNH HUNG: HAI CÁCH ĐỂ CT GIM LƯỢNG CU V THUC LÁ
Các nhà hoch định chính sách thường mun gim bt s người hút thuc. Có hai cách
mà chính sách có th s dng để đạt được mc tiêu này.
Mt cách để gim bt người hút thuc là làm dch chuyn đường cu v thuc lá và các sn
phm thuc lá khác. Các thông báo ca nhà nước, cnh báo bt buc v tác hi đối vi sc
khe trên bao thuc lá và cm qung cáo thuc lá trên ti vi là nhng chính sách nhm c
t
gim lượng cu v thuc lá ti mi mc giá. Nếu thành công, các chính sách này làm dch
đường cu v thuc lá sang trái, như trong phn (a) ca hình 4.
Mt cách khác là các nhà hoch định chính sách có th làm tăng giá thuc lá. Chng hn, nếu
chính ph đánh thuế vào vic sn xut thuc lá và các công ty thuc lá tìm cách chuyn phn
ln khon thuế này cho người tiêu dùng dưới dng giá c cao hơn. Giá cao hơn khuyến khích
mi ng
ười ct gim s điếu thuc lá mà h hút. Trong tình hung này, lượng thuc lá gim đi
không biu th s dch chuyn ca đường cu. Thay vào đó, nó biu th s di chuyn dc theo
đường cu cũ ti mt đim có giá cao hơn và lượng thp hơn như trong phn (b) ca hình 4.
Lượng hút thuc phn ng như thế nào đối vi nh
ng thay đổi trong giá thuc lá? Các
nhà kinh tế đã tìm cách tr li câu hi này bng cách nghiên cu xem điu gì xy ra khi
thuế thuc lá thay đổi. H phát hin ra rng khi giá thuc lá tăng 10 phn trăm, lượng
cu v thuc lá gim 4 phn trăm. Thanh thiếu niên đặc bit nhy cm vi giá thuc lá:
10 phn trăm tăng giá làm cho lượng hút thuc ca thanh thiếu niên gim 12 phn trăm.
(a) S dch chuyn ca đường cu
b) S di chuyn dc theo đường cu
C
A
2
D
1
D
2
Chính sách cn tr s
hút thuc làm dch chuyn
đường cu sang trái
B
A
0 10 20 Lượng thuc lá
Giá thuc lá
4
2
D
1
Thuế làm tăng giá thuc lá
gây ra s di chuyn dc
theo đường cu
0 10 20 Lượng thuc lá
Giá thuc lá

Preview text:

CHƯƠNG 1
MƯỜI NGUYÊN LÝ CỦA KINH TẾ HỌC
Thuật ngữ nền kinh tế (economy) bắt nguồn từ tiếng Hy Lạp có nghĩa là “người quản gia”.
Thoạt tiên, điều này có vẻ lạ lùng. Nhưng trên thực tế, các hộ gia đình và nền kinh tế có rất nhiều điểm chung.
Cũng giống như một gia đình, xã hội phải đối mặt với nhiều quyết định. Một xã hội phải
quyết định cái gì cần phải làm và ai sẽ làm việc đó. Cần phải có một số người sản xuất thực
phẩm, một số người khác sản xuất quần áo và cũng cần có một số người thiết kế các phần
mềm máy tính nữa. Một khi xã hội đã phân bổ được mọi người (và đất đai, nhà xưởng, máy
móc) vào những ngành nghề khác nhau, nó cũng phải phân bổ sản lượng hàng hóa và dịch vụ
mà họ đã sản xuất ra. Nó phải quyết định ai sẽ ăn trứng cá, ăn thịt và ai sẽ ăn rau. Nó phải
quyết định ai sẽ đi xe con và ai sẽ đi xe buýt.
Việc quản lý nguồn lực của xã hội có ý nghĩa quan trọng vì nguồn lực có tính khan hiếm.
Khan hiếm có nghĩa là xã hội có các nguồn lực hạn chế và vì thế không thể sản xuất mọi hàng
hóa và dịch vụ mà mọi người mong muốn. Giống như một hộ gia đình không thể đáp ứng
mọi mong muốn của tất cả mọi người, xã hội cũng không thể làm cho mỗi cá nhân có được
mức sống cao nhất như họ khao khát.
Kinh tế học là môn học nghiên cứu cách thức xã hội quản lý các nguồn lực khan hiếm. Trong
hầu hết các xã hội, nguồn lực được phân bổ không phải bởi một nhà làm kế hoạch duy nhất ở
trung ương, mà thông qua sự tác động qua lại giữa hàng triệu hộ gia đình và doanh nghiệp.
Do đó, các nhà kinh tế nghiên cứu con người ra quyết định như thế nào: họ làm việc bao
nhiêu, mua cái gì, tiết kiệm bao nhiêu và đầu tư khoản tiết kiệm ấy ra sao. Các nhà kinh tế
cũng nghiên cứu xem con người quan hệ qua lại với nhau như thế nào. Ví dụ, họ muốn phân
tích xem làm thế nào mà nhiều người mua và bán một mặt hàng lại có thể cùng nhau xác định
giá cả và lượng hàng bán ra. Cuối cùng, nhà kinh tế phân tích các lực lượng và xu thế tác
động đến nền kinh tế với tư cách một tổng thể, bao gồm tăng trưởng của thu nhập bình quân,
một bộ phận dân cư không thể tìm được việc và tỷ lệ tăng giá.
Mặc dù kinh tế học nghiên cứu nền kinh tế dưới nhiều giác độ khác nhau, nhưng môn học
này thống nhất với nhau ở một số ý tưởng cơ bản. Trong phần còn lại của chương này, chúng
ta sẽ xem xét mười nguyên lý của kinh tế học. Đừng lo ngại nếu như bạn chưa hiểu ngay tất
cả các nguyên lý đó, hoặc nếu như bạn thấy các nguyên lý đó chưa hoàn toàn thuyết phục.
Trong các chương tiếp theo, chúng ta sẽ khảo sát đầy đủ hơn các ý tưởng này. Mười nguyên
lý được giới thiệu ở đây chỉ nhằm giúp độc giả có một cái nhìn tổng quan về kinh tế học. Bạn
đọc có thể coi chương này là “sự báo trước những điều hấp dẫn sắp tới”.
CON NGƯỜI RA QUYẾT ĐỊNH NHƯ THẾ NÀO?
“Nền kinh tế” là gì không hề có sự huyền bí nào cả. Dù chúng ta đang nói về nền kinh tế của
Los Angeles, của Mỹ, hay của toàn thế giới, thì nền kinh tế cũng chỉ là một nhóm người tác
động qua lại với nhau trong quá trình sinh tồn của họ. Bởi vì hoạt động của nền kinh tế phản
ánh hành vi của các cá nhân tạo thành nền kinh tế, nên chúng ta khởi đầu nghiên cứu kinh tế
học bằng bốn nguyên lý về cách thức ra quyết định cá nhân.
NGUYÊN LÝ KINH TẾ HỌC
Chương 1 – Mười nguyên lý của kinh tế học 1
Nguyên lý 1: Con người đối mặt với sự đánh đổi
Bài học đầu tiên về ra quyết định được tóm tắt trong câu ngạn ngữ sau: “Chẳng có gì là cho
không cả”. Để có được một thứ ưa thích, chúng ta thường phải từ bỏ một thứ khác mà mình
thích. Ra quyết định đòi hỏi phải đánh đổi mục tiêu này để đạt được một mục tiêu khác.
Chúng ta hãy xem xét tình huống một cô sinh viên phải quyết định phân bổ nguồn lực quý
báu nhất của mình: đó là thời gian của cô. Cô có thể dùng toàn bộ thời gian để nghiên cứu
kinh tế học, dùng toàn bộ thời gian để nghiên cứu tâm lý học, hoặc phân chia thời gian giữa
hai môn học đó. Đối với mỗi giờ học môn này, cô phải từ bỏ một giờ học môn kia. Đối với
mỗi giờ học, cô phải từ bỏ một giờ mà lẽ ra cô có thể ngủ trưa, đạp xe, xem TV hoặc đi làm thêm.
Hoặc hãy xem xét cách thức ra quyết định chi tiêu thu nhập của gia đình của các bậc cha mẹ.
Họ có thể mua thực phẩm, quần áo hay quyết định đưa cả nhà đi nghỉ. Họ cũng có thể tiết
kiệm một phần thu nhập cho lúc về già hay cho con cái vào học đại học. Khi quyết định chi
tiêu thêm một đô la cho một trong những hàng hóa trên, họ có ít đi một đô la để chi cho các hàng hóa khác.
Khi con người tập hợp nhau lại thành xã hội, họ đối mặt với nhiều loại đánh đổi. Ví dụ kinh
điển là sự đánh đổi giữa “súng và bơ”. Chi tiêu cho quốc phòng càng nhiều để bảo vệ bờ
cõi khỏi giặc ngoại xâm (súng), chúng ta có thể chi tiêu càng ít cho hàng tiêu dùng để nâng
cao phúc lợi vật chất cho người dân (bơ). Sự đánh đổi quan trọng trong xã hội hiện đại là
giữa môi trường trong sạch và mức thu nhập cao. Các đạo luật yêu cầu doanh nghiệp phải
cắt giảm lượng chất thải gây ô nhiễm sẽ đẩy chi phí sản xuất lên cao. Do chi phí cao hơn,
nên cuối cùng các doanh nghiệp này kiếm được ít lợi nhuận hơn, trả lương thấp hơn, định
giá cao hơn hoặc tạo ra một kết hợp nào đó của cả ba yếu tố này. Như vậy, mặc dù các quy
định về chống ô nhiễm đem lại ích lợi cho chúng ta ở chỗ làm cho môi trường trong sạch
hơn và nhờ đó sức khỏe của chúng ta tốt hơn, nhưng chúng ta phải chấp nhận tổn thất là
giảm thu nhập của chủ doanh nghiệp, công nhân hoặc phúc lợi của người tiêu dùng.
Một sự đánh đổi khác mà xã hội đối mặt là giữa công bằng và hiệu quả. Hiệu quả có nghĩa là
xã hội thu được kết quả cao nhất từ các nguồn lực khan hiếm của mình. Công bằng hàm ý ích
lợi thu được từ các nguồn lực khan hiếm đó được phân phối công bằng giữa các thành viên
của xã hội. Nói cách khác, hiệu quả ám chỉ quy mô của chiếc bánh kinh tế, còn công bằng nói
lên chiếc bánh đó được phân chia như thế nào. Thường thì khi thiết kế các chính sách của
chính phủ, người ta nhận thấy hai mục tiêu này xung đột với nhau.
Chẳng hạn chúng ta hãy xem xét các chính sách nhằm đạt được sự phân phối phúc lợi kinh tế
một cách công bằng hơn. Một số trong những chính sách này, ví dụ hệ thống phúc lợi xã hội
hoặc bảo hiểm thất nghiệp, tìm cách trợ giúp cho những thành viên của xã hội cần đến sự cứu
tế nhiều nhất. Các chính sách khác, ví dụ thuế thu nhập cá nhân, yêu cầu những người thành
công về mặt tài chính phải đóng góp nhiều hơn người khác trong việc hỗ trợ cho hoạt động
của chính phủ. Mặc dù các chính sách này có lợi là đạt được sự công bằng cao hơn, nhưng
chúng gây ra tổn thất nếu xét từ khía cạnh hiệu quả. Khi chính phủ tái phân phối thu nhập từ
người giàu sang người nghèo, nó làm giảm phần thưởng trả cho sự cần cù, chăm chỉ và kết
quả là mọi người làm việc ít hơn và sản xuất ra ít hàng hóa và dịch vụ hơn. Nói cách khác,
khi chính phủ cố gắng cắt chiếc bánh kinh tế thành những phần đều nhau hơn, thì chiếc bánh nhỏ lại.
NGUYÊN LÝ KINH TẾ HỌC
Chương 1 – Mười nguyên lý của kinh tế học 2
Cần phải ý thức được rằng riêng việc con người phải đối mặt với sự đánh đổi không cho
chúng ta biết họ sẽ hoặc cần ra những quyết định nào. Một sinh viên không nên từ bỏ môn
tâm lý học chỉ để tăng thời gian cho việc nghiên cứu môn kinh tế học. Xã hội không nên
ngừng bảo vệ môi trường chỉ vì các quy định về môi trường làm giảm mức sống vật chất
của chúng ta. Người nghèo không thể bị làm ngơ chỉ vì việc trợ giúp họ làm bóp méo các
kích thích làm việc. Mặc dù vậy, việc nhận thức được những sự đánh đổi trong cuộc sống
có ý nghĩa quan trọng, bởi vì con người có thể ra quyết định tốt khi họ hiểu rõ những
phương án lựa chọn mà họ đang có.
Nguyên lý 2: Chi phí của một thứ là cái mà bạn từ bỏ để có được nó
Vì con người đối mặt với sự đánh đổi, nên ra quyết định đòi hỏi phải so sánh chi phíích
lợi
của các đường lối hành động khác nhau. Song trong nhiều trường hợp, chi phí của một
hành động nào đó không phải lúc nào cũng rõ ràng như biểu hiện ban đầu của chúng.
Chẳng hạn, chúng ta xem xét quyết định liệu có nên đi học đại học. Ích lợi là làm giàu thêm
kiến thức và có được những cơ hội làm việc tốt hơn trong cả cuộc đời. Nhưng chi phí của nó
là gì? Để trả lời câu hỏi này, bạn có thể bị thuyết phục cộng số tiền chi tiêu cho học phí, sách
vở, nhà ở lại với nhau. Nhưng tổng số tiền này không thực sự biểu hiện những gì bạn từ bỏ để
theo học một năm ở trường đại học.
Câu trả lời trên có vấn đề vì nó bao gồm cả một số thứ không thực sự là chi phí của việc học
đại học. Ngay cả khi không học đại học, bạn vẫn cần một chỗ để ngủ và thực phẩm để ăn.
Tiền ăn ở tại trường đại học chỉ là chi phí của việc học đại học khi nó đắt hơn những nơi
khác. Dĩ nhiên, tiền ăn ở tại trường đại học cũng có thể rẻ hơn tiền thuê nhà và tiền ăn mà bạn
tự lo liệu. Trong trường hợp này, các khoản tiết kiệm về ăn ở là lợi ích của việc đi học đại học.
Cách tính toán chí phí như trên có một khiếm khuyết khác nữa là nó bỏ qua khoản chi phí lớn
nhất của việc học đại học - đó là thời gian của bạn. Khi dành một năm để nghe giảng, đọc
giáo trình và viết tiểu luận, bạn không thể sử dụng khoảng thời gian này để làm một công
việc nào đó. Đối với nhiều sinh viên, khoản tiền lương phải từ bỏ để đi học đại học là khoản
chi phí lớn nhất cho việc học đại học của họ.
Chi phí cơ hội của một thứ là cái mà bạn từ bỏ để có được nó. Khi đưa ra bất kỳ quyết định
nào, chẳng hạn như việc liệu có nên đi học đại học, người ra quyết định phải nhận thức được
những chi phí cơ hội gắn với mỗi hành động có thể. Trên thực tế, họ thường ý thức được.
Những vận động viên ở lứa tuổi học đại học - những người có thể kiếm bạc triệu nếu họ bỏ
học và chơi các môn thể thao nhà nghề - hiểu rõ rằng đối với họ, chi phí cơ hội của việc ngồi
trên giảng đường là rất cao. Không có gì đáng ngạc nhiên khi họ thường cho rằng ích lợi của
việc học đại học là không xứng với chi phí bỏ ra.
Nguyên lý 3: Con người duy lý suy nghĩ tại điểm cận biên
Các quyết định trong cuộc sống hiếm khi minh bạch, mà thường ở trạng thái mù mờ. Khi
đến giờ ăn tối, vấn đề bạn phải đối mặt không phải là sẽ “thực như hổ” hay “thực như
miêu”, mà là có nên ăn thêm một chút khoai tây nghiền hay không. Khi kỳ thi đến, vấn đề
không phải là bỏ mặc bài vở hoặc học 24 giờ một ngày, mà là nên học thêm một giờ nữa
hay dừng lại xem ti vi. Các nhà kinh tế sử dụng thuật ngữ những thay đổi cận biên để chỉ
những điều chỉnh gia tăng nhỏ so với kế hoạch hành động hiện tại. Bạn hãy luôn luôn nhớ
NGUYÊN LÝ KINH TẾ HỌC
Chương 1 – Mười nguyên lý của kinh tế học 3
rằng "cận biên" có nghĩa là "bên cạnh" và bởi vậy thay đổi cận biên là những điều chỉnh ở
vùng lân cận của cái mà bạn đang làm.
Trong nhiều tình huống, mọi người đưa ra được quyết định tốt nhất nhờ suy nghĩ tại
điểm cận biên. Giả sử bạn muốn một người bạn đưa ra lời khuyên về việc nên học bao
nhiêu năm ở trường. Nếu anh ta phải so sánh cho bạn cách sống của một người có bằng
tiến sĩ với một người chưa học hết phổ thông, bạn có thể sẽ phàn nàn rằng sự so sánh
như thế chẳng giúp gì cho quyết định của bạn cả. Bạn đã có một số trình độ nhất định và
bạn đang cần quyết định liệu có nên học thêm một hay hai năm nữa. Để ra được quyết
định này, bạn cần biết ích lợi tăng thêm nhờ học thêm một năm nữa (tiền lương cao hơn
trong suốt cuộc đời, niềm vui được chuyên tâm học hành) và biết chi phí tăng thêm mà
bạn sẽ phải chịu (học phí và tiền lương mất đi trong bạn vẫn học ở trường). Bằng cách
so sánh ích lợi cận biênchi phí cận biên, bạn có thể đi đến kết luận rằng việc học
thêm một năm có đáng giá hay không.
Chúng ta hãy xem xét một ví dụ khác. Một hãng hàng không đang cân nhắc nên tính giá vé
bao nhiêu cho các hành khách bay dự phòng. Giả sử một chuyến bay với 200 chỗ từ đông
sang tây làm cho nó tốn mất 100.000 đô la. Trong tình huống này, chi phí bình quân cho mỗi
chỗ ngồi là 100.000 đô la/200, tức 500 đô la. Người ta có thể dễ dàng đi đến kết luận rằng
hãng hàng không này sẽ không bao giờ nên bán vé với giá thấp hơn 500 đô la. Song trên thực
tế, nó có thể tăng lợi nhuận nhờ suy nghĩ ở điểm cận biên. Chúng ta hãy tưởng tượng ra rằng
máy bay sắp sửa cất cánh trong khi vẫn còn 10 ghế bỏ trống và có một hành khách dự phòng
đang đợi ở cửa sẵn sàng trả 300 đô la cho một ghế. Hãng hàng không này có nên bán vé cho
anh ta không? Dĩ nhiên là nên. Nếu máy bay vẫn còn ghế trống, chi phí của việc bổ sung
thêm một hành khách là không đáng kể. Mặc dù chi phí bình quân cho mỗi hành khách trên
chuyến bay là 500 đô la, chi phí cận biên chỉ bằng giá của gói lạc và hộp nước sô đa mà hành
khách tăng thêm này sẽ tiêu dùng. Chừng nào mà người hành khách dự phòng này còn trả cao
hơn chi phí cận biên, thì việc bán vé cho anh ta còn có lợi.
Những ví dụ trên cho thấy rằng các cá nhân và doanh nghiệp có thể đưa ra quyết định tốt
hơn nhờ cách suy nghĩ ở điểm cận biên. Người ra quyết định duy lý hành động chỉ khi ích
lợi cận biên vượt quá chi phí cận biên.
Nguyên lý 4: Con người phản ứng với các kích thích
Vì mọi người ra quyết định dựa trên sự so sánh chi phí và ích lợi, nên hành vi của họ có thể
thay đổi khi ích lợi hoặc chi phí thay đổi. Nghĩa là mọi người phản ứng đối với các kích thích.
Ví dụ khi giá táo tăng, mọi người quyết định ăn nhiều lê hơn và ít táo hơn, vì chi phí của việc
mua táo cao hơn. Đồng thời, người trồng táo quyết định thuê thêm công nhân và thu hoạch
nhiều táo hơn vì lợi nhuận thu được từ việc bán táo cũng cao hơn. Như chúng ta sẽ thấy, tác
động của giá cả lên hành vi của người mua và người bán trên thị trường - trong trường hợp này
là thị trường táo - có ý nghĩa quan trọng trong việc tìm hiểu phương thức vận hành của nền kinh tế.
Các nhà hoạch định chính sách công cộng không bao giờ được quên các kích thích, vì nhiều
chính sách làm thay đổi ích lợi hoặc chi phí mà mọi người phải đối mặt và bởi vậy làm thay
đổi hành vi của họ. Ví dụ việc đánh thuế xăng khuyến khích mọi người sử dụng ô tô nhỏ hơn,
tiết kiệm nhiên liệu hơn. Nó cũng khuyến khích mọi người sử dụng phương tiện giao thông
NGUYÊN LÝ KINH TẾ HỌC
Chương 1 – Mười nguyên lý của kinh tế học 4
công cộng chứ không đi xe riêng và sống ở gần nơi làm việc hơn. Nếu thuế xăng cao đến một
mức độ nhất định, mọi người có thể sẽ bắt đầu sử dụng ô tô chạy điện.
Khi các nhà hoạch định chính sách không tính đến ảnh hưởng của các chính sách mà họ thực
hiện đối với các kích thích, họ có thể nhận được những kết quả không định trước. Chẳng hạn,
chúng ta hãy xem xét chính sách về an toàn đối với ô tô. Ngày nay, tất cả ô tô đều được trang
bị dây an toàn, nhưng 40 năm trước đây không phải như vậy. Cuốn sách Nguy hiểm ở mọi tốc
độ
của Ralph Nader đã làm công chúng phải rất lo lắng về vấn đề an toàn khi đi ô tô. Quốc
hội đã phản ứng bằng cách ban hành các đạo luật yêu cầu các nhà sản xuất ô tô phải trang bị
nhiều thiết bị an toàn, trong đó có dây an toàn và các thiết bị tiêu chuẩn khác trên tất cả
những ô tô mới sản xuất.
Luật về dây an toàn tác động tới sự an toàn khi lái ô tô như thế nào? Ảnh hưởng trực tiếp là
rõ ràng. Khi có dây thắt an toàn trong tất cả ô tô, nhiều người thắt an toàn hơn và khả năng
sống sót trong các vụ tai nạn ô tô nghiêm trọng tăng lên. Theo nghĩa này, dây an toàn đã
cứu sống con người. Nhưng vấn đề không dừng ở đó. Để hiểu đầy đủ tác động của đạo luật
này, chúng ta phải nhận thức được rằng mọi người thay đổi hành vi khi có kích thích mới.
Hành vi đáng chú ý ở đây là tốc độ và sự cẩn trọng của người lái xe. Việc lái xe chậm và
cẩn thận là tốn kém vì mất nhiều thời gian và tốn nhiều nhiên liệu. Khi ra quyết định về
việc cần lái xe an toàn đến mức nào, người lái xe duy lý so sánh ích lợi cận biên từ việc lái
xe an toàn với chi phí cận biên. Họ lái xe chậm hơn và cẩn thận hơn nếu ích lợi của sự cẩn
trọng cao. Điều này lý giải vì sao mọi người lái xe chậm và cẩn thận khi đường đóng băng
hơn nếu so với trường hợp đường thông thóang.
Bây giờ chúng ta hãy xét xem đạo luật về dây an toàn làm thay đổi tính toán ích lợi - chi phí
của người lái xe như thế nào. Dây an toàn làm cho các vụ tai nạn ít tốn kém hơn đối với
người lái xe vì nó làm giảm khả năng bị thương hoặc tử vong. Như vậy, dây an toàn làm giảm
ích lợi của việc lái xe chậm và cẩn thận. Mọi người phản ứng đối với việc thắt dây an toàn
cũng tương tự như với việc nâng cấp đường sá - họ sẽ lái xe nhanh và ít thận trọng hơn. Do
đó, kết quả cuối cùng của luật này là số vụ tai nạn xảy ra nhiều hơn. Sự giảm sút độ an toàn
khi lái xe có tác động bất lợi rõ ràng đối với khách bộ hành. Họ cảm thấy dễ bị tai nạn hơn.
Nhìn qua, cuộc bàn luận này về mối quan hệ giữa các kích thích và dây an toàn tưởng như chỉ
là sự suy đoán vu vơ. Song trong một nghiên cứu vào năm 1975, nhà kinh tế Sam Pelzman đã
chỉ ra rằng trên thực tế đạo luật về an toàn ô tô đã làm nảy sinh nhiều hậu quả thuộc loại này.
Theo những bằng chứng mà Pelzman đưa ra, đạo luật này vừa làm giảm số trường hợp tử
vong trong mỗi vụ tai nạn, vừa lại làm tăng số vụ tai nạn. Kết quả cuối cùng là số lái xe thiệt
mạng thay đổi không nhiều, nhưng số khách bộ hành thiệt mạng tăng lên.
Phân tích của Pelzman về đạo luật an toàn ô tô là ví dụ minh họa cho một nguyên lý chung là
con người phản ứng lại các kích thích. Nhiều kích thích mà các nhà kinh tế học nghiên cứu dễ
hiểu hơn so với trong trường hợp đạo luật về an toàn ô tô. Không có gì đáng ngạc nhiên khi ở
Châu Âu (nơi thuế xăng cao), người ta sử dụng loại ô tô cá nhân nhỏ hơn so với ở Mỹ (nơi có
thuế xăng thấp). Song như ví dụ về an toàn ô tô cho thấy, các chính sách có thể gây ra những
hậu quả không lường trước được. Khi phân tích bất kỳ chính sách nào, không những chúng ta
xem xét ảnh hưởng trực tiếp, mà còn phải chú ý tới các tác động gián tiếp do các kích thích
tạo ra. Nếu chính sách làm thay đổi cách kích thích, nó sẽ làm cho con người thay đổi hành vi của họ.
NGUYÊN LÝ KINH TẾ HỌC
Chương 1 – Mười nguyên lý của kinh tế học 5
Kiểm tra nhanh: Hãy liệt kê và giải thích ngắn gọn bốn nguyên lý liên quan đến ra quyết định cá nhân.
CON NGƯỜI TƯƠNG TÁC VỚI NHAU NHƯ THẾ NÀO?
Bốn nguyên lý đầu tiên bàn về cách thức ra quyết định cá nhân. Nhưng trong cuộc sống hàng
ngày, nhiều quyết định của chúng ta không chỉ ảnh hưởng đến bản thân chúng ta, mà còn tác
động đến những người xung quanh. Ba nguyên lý tiếp theo liên quan đến cách thức mà con
người tương tác với nhau.
Nguyên lý 5: Thương mại có thể làm cho mọi người đều được lợi
Có lẽ bạn đã nghe trên bản tin thời sự rằng người Nhật là những đối thủ cạnh tranh của chúng
ta trong nền kinh tế thế giới. Xét trên một vài khía cạnh, điều này là đúng vì các công ty Nhật
và Mỹ sản xuất nhiều mặt hàng giống nhau. Hãng Ford và hãng Toyota cạnh tranh để thu hút
cùng một nhóm khách hàng trên thị trường ô tô. Compaq cũng cạnh tranh với Toshiba trên thị
trường máy tính cá nhân để thu hút cùng một nhóm khách hàng.
Vì vậy, người ta rất dễ mắc sai lầm khi nghĩ về sự cạnh tranh giữa các nước. Thương mại
giữa Nhật và Mỹ không giống như một cuộc thi đấu thể thao, trong đó luôn có kẻ thắng,
người thua. Sự thật thì điều ngược lại mới đúng: Thương mại giữa hai nước có thể làm cả hai bên cùng được lợi.
Để lý giải tại sao, hãy xem xét thương mại tác động như thế nào tới gia đình bạn. Khi một
thành viên trong gia đình bạn đi tìm việc, anh ta phải cạnh tranh với những thành viên của
các gia đình khác cũng đang tìm việc. Các gia đình cạnh tranh nhau khi đi mua hàng vì
gia đình nào cũng muốn mua hàng chất lượng tốt nhất với giá thấp nhất. Vì vậy theo một
nghĩa nào đó, mỗi gia đình đều đang cạnh tranh với tất cả các gia đình khác.
Cho dù có sự cạnh tranh này, gia đình bạn cũng không thể có lợi hơn nếu tự cô lập với tất
cả các gia đình khác. Nếu làm như vậy, gia đình bạn sẽ phải tự trồng trọt, chăn nuôi, may
quần áo và xây dựng nhà ở cho mình. Rõ ràng gia đình bạn thu lợi nhiều từ khả năng
tham gia trao đổi với các gia đình khác. Thương mại cho phép mỗi người chuyên môn hóa
vào một lĩnh vực mà mình làm tốt nhất, cho dù đó là trồng trọt, may mặc hay xây nhà.
Thông qua hoạt động thương mại với những người khác, con người có thể mua được
những hàng hóa và dịch vụ đa dạng hơn với chi phí thấp hơn.
Cũng như các gia đình, các nước được lợi từ khả năng trao đổi với các nước khác. Thương
mại cho phép các nước chuyên môn hóa vào lĩnh vực mà họ làm tốt nhất và thưởng thức
nhiều hàng hóa và dịch vụ phong phú hơn. Người Nhật, cũng như người Pháp, người Ai Cập
và người Brazil là những bạn hàng của chúng ta trong nền kinh tế thế giới, nhưng cũng là đối
thủ cạnh tranh của chúng ta.
Nguyên lý 6: Thị trường thường là một phương thức tốt để tổ chức hoạt động kinh tế
Sự sụp đổ của chủ nghĩa cộng sản ở Liên Xô và Đông Âu có lẽ là thay đổi quan trọng nhất
trên thế giới trong nửa thế kỷ qua. Các nước cộng sản hoạt động dựa trên tiền đề là các nhà
làm kế hoạch trong chính phủ trung ương có thể định hướng hoạt động kinh tế một cách tốt
nhất. Các nhà làm kế hoạch đó quyết định xã hội sản xuất hàng hóa và dịch vụ nào, sản xuất
bao nhiêu, ai là người sản xuất và ai được phép tiêu dùng chúng. Lý thuyết hậu thuẫn cho quá
NGUYÊN LÝ KINH TẾ HỌC
Chương 1 – Mười nguyên lý của kinh tế học 6
trình kế hoạch hóa tập trung là chỉ có chính phủ mới tổ chức được các hoạt động kinh tế theo
phương thức cho phép nâng cao phúc lợi kinh tế của đất nước với tư cách một tổng thể.
Ngày nay, hầu hết các nước từng có nền kinh tế kế hoạch hóa tập trung đều đã từ bỏ hệ thống
này và đang nỗ lực phát triển nền kinh tế thị trường. Trong nền kinh tế thị trường, quyết định
của các nhà làm kế hoạch trung ương được thay thế bằng quyết định của hàng triệu doanh
nghiệp và hộ gia đình. Các doanh nghiệp quyết định thuê ai và sản xuất cái gì. Các hộ gia
đình quyết định làm việc cho doanh nghiệp nào và mua cái gì bằng thu nhập của mình. Các
doanh nghiệp và hộ gia đình tương tác với nhau trên thị trường, nơi mà giá cả và ích lợi riêng
định hướng cho các quyết định của họ.
Mới nghe qua thì thành công của các nền kinh tế thị trường thật khó hiểu. Xét cho cùng thì
trong nền kinh tế thị trường, không ai phụng sự cho phúc lợi của toàn xã hội. Thị trường tự
do bao gồm nhiều người mua và người bán vô số hàng hóa và dịch vụ khác nhau, và tất cả
mọi người quan tâm trước hết đến phúc lợi riêng của họ. Song cho dù ra quyết định có tính
chất phân tán và những người quyết định chỉ quan tâm tới ích lợi riêng của mình, nền kinh
tế thị trường đã chứng tỏ thành công lạ thường trong việc tổ chức hoạt động kinh tế theo
hướng thúc đẩy phúc lợi kinh tế chung.
Trong cuốn Bàn về về bản chất và nguồn gốc của cải của các dân tộc viết năm 1776, nhà
kinh tế Adam Smith đã nêu ra nhận định nổi tiếng hơn bất cứ một nhận định nào trong kinh tế
học: khi tác động qua lại với nhau trên thị trường, các hộ gia đình và doanh nghiệp hành động
như thể họ được dẫn dắt bởi một "bàn tay vô hình", đưa họ tới những kết cục thị trường đáng
mong muốn. Một trong các mục tiêu của chúng ta trong cuốn sách này là tìm hiểu xem bàn
tay vô hình thực hiện phép màu của nó ra sao. Khi nghiên cứu kinh tế học, bạn sẽ thấy giá cả
là công cụ mà nhờ đó bàn tay vô hình điều khiển các hoạt động kinh tế. Giá cả phản ánh cả
giá trị của một hàng hóa đối với xã hội và chi phí mà xã hội bỏ ra để sản xuất ra hàng hóa đó.
Vì hộ gia đình và doanh nghiệp nhìn vào giá cả khi đưa ra quyết định mua và bán cái gì, nên
vô tình họ tính đến các ích lợi và chi phí xã hội của các hành động của họ. Kết quả là giá cả
hướng dẫn các cá nhân đưa ra quyết định mà trong nhiều trường hợp cho phép tối đa hóa ích lợi xã hội.
Có một hệ quả quan trọng từ kỹ năng của bàn tay vô hình trong việc định hướng hoạt động
kinh tế: Khi ngăn không cho giá cả điều chỉnh một cách tự nhiên theo cung và cầu, chính phủ
cũng đồng thời cản trở khả năng của bàn tay vô hình trong việc phối hợp hàng triệu hộ gia
đình và doanh nghiệp - những đơn vị cấu thành nền kinh tế. Hệ quả này lý giải tại sao thuế
tác động bất lợi tới quá trình phân bổ nguồn lực: thuế làm bóp méo giá cả và do vậy làm bóp
méo quyết định của doanh nghiệp và hộ gia đình. Nó cũng lý giải tác hại thậm chí còn lớn
hơn do các chính sách kiểm soát giá trực tiếp gây ra, chẳng hạn như chính sách kiểm soát tiền
thuê nhà. Và nó cũng lý giải sự thất bại của mô hình kế hoạch hóa tập trung. Trong mô hình
này, giá cả không do thị trường xác định, mà do các nhà làm kế hoạch ở trung ương đặt ra.
Các nhà làm kế hoạch này thiếu thông tin được phản ánh trong giá cả khi giá cả tự do đáp lại
các lực lượng thị trường. Các nhà làm kế hoạch ở trung ương thất bại vì họ tìm cách vận hành
nền kinh tế với một bàn tay bị trói sau lưng - đó là bàn tay vô hình của thị trường.
PHẦN ĐỌC THÊM ADAM SMITH VÀ BÀN TAY VÔ HÌNH
Có lẽ chỉ là sự trùng hợp ngẫu nhiên khi tác phẩm vĩ đại Bàn về bản chất và nguồn gốc của
cải của các dân tộc
của Adam Smith ra đời vào năm 1776, đúng vào năm các nhà cách mạng
NGUYÊN LÝ KINH TẾ HỌC
Chương 1 – Mười nguyên lý của kinh tế học 7
Mỹ ký bản Tuyên ngôn độc lập. Song cả hai văn bản này đều chia sẻ cùng một quan điểm rất
thịnh hành thời bấy giờ - đó là thường tốt hơn nếu để mặc cho các cá nhân tự xoay sở mà
không cần đến bàn tay thô bạo của chính phủ chỉ đạo hành động của họ. Triết lý chính trị này
tạo ra cơ sở tư tưởng cho nền kinh tế thị trường và nói rộng hơn là cho một xã hội tự do.
Tại sao nền kinh tế thị trường lại vận hành tốt như vậy? Phải chăng là vì con người chắc chắn
sẽ đối xử với nhau bằng tình yêu và lòng nhân từ? Hoàn toàn không phải như vậy. Những
dòng dưới đây là lời của Adam Smith bàn về cách thức con người tác động qua lại trong nền kinh tế thị trường:
“Con người hầu như thường xuyên cần tới sự giúp đỡ của anh em và bạn bè, và sẽ là phí hoài
công sức nếu anh ta chỉ trông chờ vào lòng nhân từ của họ. Có lẽ anh ta sẽ giành được nhiều
lợi thế cho mình hơn khi thu hút được niềm đa mê của bản thân họ và làm cho họ tin rằng
việc làm theo yêu cầu của anh ta có lợi cho chính bản thân họ... Không phải nhờ lòng nhân từ
của những người bán thịt, chủ cửa hàng rượu hay người bán bánh mì mà chúng ta có được
bữa tối, mà chính là nhờ lợi ích riêng của họ....
Mỗi cá nhân thường không có ý định phụng sự lợi ích của cộng đồng, và anh ta cũng không
hề biết mình đang cống hiến cho nó bao nhiêu. Anh ta chỉ muốn giành được mối lợi cho bản
thân mình, và trong khi làm như vậy, cũng như trong nhiều trường hợp khác, anh ta được dẫn
dắt bởi một bàn tay vô hình hướng tới việc phụng sự cho một mục đích nằm ngoài dự định
của anh ta. Song không phải lúc nào cũng là tồi tệ đối với xã hội nếu điều đó nằm ngoài dự
định của anh ta. Khi theo đuổi ích lợi riêng của mình, anh ta thường phụng sự cho ích lợi xã
hội một cách có hiệu quả hơn là trường hợp anh ta thực sự dự định làm như vậy.”
Khi viết những câu trên đây, Smith muốn nhấn mạnh rằng những người tham gia vào nền
kinh tế thị trường bị thúc đẩy bởi ích lợi riêng và rằng "bàn tay vô hình" của thị trường
hướng ích lợi này vào việc phụng sự cho phúc lợi kinh tế chung.
Rất nhiều nhận thức của Smith vẫn đóng vai trò trung tâm của kinh tế học hiện đại. Phân tích
của chúng ta trong các chương tới sẽ cho phép chúng ta diễn giải những kết luận của Smith
một cách chính xác hơn và phân tích đầy đủ những điểm mạnh và điểm yếu trong bàn tay vô hình của thị trường.
Nguyên lý 7: Đôi khi chính phủ có thể cải thiện được kết cục thị trường
Nếu như bàn tay vô hình của thị trường kỳ diệu đến vậy, thì tại sao chúng ta lại cần chính
phủ? Một lý do là bàn tay vô hình cần được chính phủ bảo vệ. Thị trường chỉ hoạt động nếu
như quyền sở hữu được tôn trọng. Một nông dân sẽ không trồng lúa nếu như anh ta nghĩ rằng
mùa màng sẽ bị đánh cắp, một nhà hàng sẽ không phục vụ trừ khi được đảm bảo rằng khách
hàng sẽ trả tiền trước khi rời quán. Tất cả chúng ta đều dựa vào công an và tòa án do chính
phủ cung cấp để thực thi quyền của chúng ta đối với những thứ do chúng ta tạo ra.
Một lý do khác cần đến chính phủ là mặc dù thị trường thường là một phương thức tốt để tổ
chức hoạt động kinh tế, nhưng quy tắc cũng có vài ngoại lệ quan trọng. Có hai nguyên nhân
chủ yếu để chính phủ can thiệp vào nền kinh tế là: thúc đẩy hiệu quả và sự công bằng. Nghĩa
là hầu hết các chính sách đều hoặc nhằm vào mục tiêu làm cho chiếc bánh kinh tế lớn lên,
hoặc làm thay đổi cách thức phân chia chiếc bánh đó.
Bàn tay vô hình thường dẫn dắt thị trường phân bổ nguồn lực một cách có hiệu quả. Song vì
các nguyên nhân khác nhau, đôi khi bàn tay vô hình không hoạt động. Các nhà kinh tế học sử
NGUYÊN LÝ KINH TẾ HỌC
Chương 1 – Mười nguyên lý của kinh tế học 8
dụng thuật ngữ thất bại thị trường để chỉ tình huống mà thị trường tự nó thất bại trong việc
phân bổ nguồn lực có hiệu quả.
Một nguyên nhân có khả năng làm cho thị trường thất bại là ngoại ứng. Ảnh hưởng ngoại
hiện
là ảnh hưởng do hành động của một người tạo ra đối với phúc lợi của người ngoài cuộc.
Ví dụ kinh điển về chi phí ra bên ngoài là ô nhiễm. Một nguyên nhân nữa có thể gây ra thất
bại thị trường là sức mạnh thị trường. Sức mạnh thị trường chỉ khả năng của một người duy
nhất (hay nhóm người) có ảnh hưởng đáng kể lên giá cả thị trường. Ví dụ, chúng ta hãy giả
định tất cả mọi người trong một thị trấn đều cần nước, nhưng lại chỉ có một cái giếng, người
chủ giếng không phải tuân theo sự cạnh tranh khốc liệt mà có nó, bàn tay vô hình kiểm soát
ích lợi cá nhân. Bạn đọc sẽ thấy rằng trong trường hợp này, việc điều tiết giá mà nhà độc
quyền quy định có thể cải thiện hiệu quả kinh tế.
Bàn tay vô hình thậm chí có ít khả năng hơn trong việc đảm bảo rằng sự thịnh vượng kinh tế
được phân phối một cách công bằng. Nền kinh tế thị trường thưởng công cho mọi người dựa
trên năng lực của họ trong việc sản xuất ra những thứ mà người khác sẵn sàng trả giá. Vận
động viên bóng rổ giỏi nhất thế giới kiếm được nhiều tiền hơn kiện tướng cờ vua thế giới vì
người ta sẵn sàng trả nhiều tiền để xem bóng rổ hơn là xem cờ vua. Bàn tay vô hình không
đảm bảo rằng tất cả mọi người đều có lương thực đầy đủ, quần áo tốt và sự chăm sóc y tế
thích hợp. Một mục tiêu của nhiều chính sách công cộng, chẳng hạn chính sách thuế thu nhập
và hệ thống phúc lợi xã hội, là đạt được sự phân phối các phúc lợi kinh tế một cách công bằng hơn.
Việc nói rằng trong một số trường hợp, chính phủ có thể cải thiện tình hình thị trường không
có nghĩa là nó sẽ luôn luôn làm được như vậy. Các chính sách công cộng không phải do thần
thánh tạo ra, mà là kết quả của một quá trình chính trị còn lâu mới hoàn hảo. Đôi khi các
chính sách được hoạch định chỉ đơn giản nhằm thưởng công cho những quyền lực chính trị.
Đôi khi chúng được hoạch định bởi những nhà lãnh đạo có thiện chí, nhưng không đủ thông
tin. Một mục tiêu của việc nghiên cứu kinh tế học là giúp bạn đánh giá xem khi nào một
chính sách của chính phủ thích hợp để thúc đẩy hiệu quả hoặc công bằng, còn khi nào thì nó không thích hợp.
Kiểm tra nhanh: Hãy liệt kê và giải thích ngắn gọn ba nguyên lý liên quan đến những tương tác về mặt kinh tế.
NỀN KINH TẾ VỚI TƯ CÁCH MỘT TỔNG THỂ VẬN HÀNH NHƯ THẾ NÀO?
Chúng ta bắt đầu bằng việc thảo luận về cách thức ra quyết định cá nhân, sau đó xem xét
phương thức con người tương tác với nhau. Tất cả các quyết định và sự tương tác này tạo
thành “nền kinh tế”. Ba nguyên lý cuối cùng liên quan đến sự vận hành của nền kinh tế nói chung.
Nguyên lý 8: Mức sống của một nước phụ thuộc vào năng lực sản xuất hàng hóa và dịch vụ của nước đó
Sự chênh lệch mức sống trên thế giới rất đáng kinh ngạc. Vào năm 1997, bình quân một
người Mỹ có thu nhập là 29.000 đô la. Cũng trong năm đó, một người Mê-hi-cô có thu
nhập bình quân là 8000 đô la và một người Ni-giê-ria bình quân có thu nhập là 900 đô la.
Không có gì đáng ngạc nhiên khi sự khác biệt trong thu nhập bình quân được phản ánh ở
các chỉ tiêu khác nhau về chất lượng cuộc sống. Công dân của các nước thu nhập cao có
NGUYÊN LÝ KINH TẾ HỌC
Chương 1 – Mười nguyên lý của kinh tế học 9
nhiều ti vi hơn, nhiều ô tô hơn, chế độ dinh dưỡng tốt hơn, dịch vụ y tế tốt hơn và tuổi thọ
cao hơn người dân ở các nước thu nhập thấp.
Những thay đổi mức sống theo thời gian cũng rất lớn. Trong lịch sử, thu nhập ở Mỹ tăng
khoảng 2% một năm (sau khi đã loại trừ những thay đổi trong giá sinh hoạt). Với tốc độ tăng
trưởng này, cứ 35 năm thu nhập bình quân lại tăng gấp đôi. Trong thế kỷ qua, thu nhập bình
quân đã tăng gấp tám lần.
Đâu là nguyên nhân của sự khác biệt to lớn về mức sống giữa các quốc gia và theo thời gian?
Câu trả lời đơn giản đến mức đáng ngạc nhiên. Hầu hết sự khác biệt về mức sống có nguyên
nhân ở sự khác nhau về năng suất lao động của các quốc gia - tức số lượng hàng hóa được
làm ra trong một giờ lao động của một công nhân. Ở những quốc gia người lao động sản xuất
được lượng hàng hóa và dịch vụ lớn hơn trong một đơn vị thời gian, hầu hết người dân được
hưởng mức sống cao; còn ở các quốc gia có năng suất kém hơn, hầu hết người dân phải chịu
cuộc sống đạm bạc. Tương tự, tốc độ tăng năng suất của một quốc gia quyết định tốc độ tăng
thu nhập bình quân của quốc gia đó.
Mối quan hệ cơ bản giữa năng suất và mức sống khá đơn giản, nhưng có những hàm ý sâu
rộng. Nếu năng suất là nhân tố thiết yếu quyết định mức sống, thì những lý do khác phải đóng
vai trò thứ yếu. Chẳng hạn, người ta có thể cảm nhận rằng nghiệp đoàn hoặc luật về tiền
lương tối thiểu có đóng góp làm tăng mức sống của công nhân Mỹ trong thế kỷ qua. Song
người anh hùng thật sự của công nhân Mỹ là năng suất lao động ngày càng tăng lên của họ.
Một ví dụ khác là một số nhà bình luận cho rằng sự cạnh tranh tăng lên từ Nhật và các nước
khác là nguyên nhân dẫn tới mức tăng trưởng chậm trong thu nhập quốc dân của Mỹ suốt 30
năm qua. Nhưng tên tội phạm thực sự không phải là sự cạnh tranh từ nước ngoài, mà chính là
sự tăng trưởng chậm của năng suất ở Mỹ.
Mối liên hệ giữa năng suất và mức sống còn có hàm ý sâu sắc đối với chính sách của nhà
nước. Khi suy nghĩ xem chính sách bất kỳ sẽ tác động như thế nào đến mức sống, vấn đề
then chốt là nó sẽ tác động tới năng lực sản xuất hàng hóa và dịch vụ như thế nào. Để nâng
cao mức sống, các nhà hoạch định chính sách cần làm tăng năng suất lao động bằng cách
đảm bảo cho công nhân được đào tạo tốt, có đủ các công cụ cần thiết để sản xuất hàng hóa
và dịch vụ và được tiếp cận những công nghệ tốt nhất hiện có.
Nguyên lý 9: Giá cả tăng khi chính phủ in quá nhiều tiền
Vào tháng 1 năm 1921, giá một tờ nhật báo ở Đức là 0,3 mác. Chưa đầy hai năm sau, vào
tháng 11 năm 1922 cũng tờ báo ấy giá 70.000.000 mác. Giá của tất cả các mặt hàng khác
trong nền kinh tế cũng tăng với tốc độ tương tự. Đây là một trong những ví dụ ngoạn mục
nhất lịch sử về lạm phát- tức sự gia tăng của mức giá chung trong nền kinh tế.
Mặc dù nước Mỹ chưa từng trải qua cuộc lạm phát nào tương tự như ở Đức vào những năm
1920, nhưng đôi khi lạm phát cũng là một vấn đề kinh tế. Ví dụ trong những năm 1970, mức
giá chung tăng gấp hơn hai lần và tổng thống Gerald Ford đã gọi lạm phát là "kẻ thù số một
của công chúng". Ngược lại, lạm phát trong những năm 1990 chỉ khoảng 3% một năm; với tỷ
lệ này, giá cả phải mất hơn hai mươi năm để tăng gấp đôi. Vì lạm phát cao gây nhiều tổn thất
cho xã hội, nên giữ cho lạm phát ở mức thấp là một mục tiêu của các nhà hoạch định chính
sách kinh tế trên toàn thế giới.
Nguyên nhân gây ra lạm phát là gì? Trong hầu hết các trường hợp lạm phát trầm trọng hoặc
kéo dài, dường như đều có chung một thủ phạm - sự gia tăng của lượng tiền. Khi chính phủ
NGUYÊN LÝ KINH TẾ HỌC
Chương 1 – Mười nguyên lý của kinh tế học 10
tạo ra một lượng lớn tiền, giá trị của tiền giảm. Vào đầu những năm 1920, khi giá cả ở Đức
tăng gấp 3 lần mỗi tháng, lượng tiền cũng tăng gấp 3 lần mỗi tháng. Dù ít nghiêm trọng hơn,
nhưng lịch sử kinh tế Mỹ cũng đã đưa chúng ta đến một kết luận tương tự: lạm phát cao trong
những năm 1970 đi liền với sự gia tăng nhanh chóng của lượng tiền và lạm phát thấp trong
những năm 1990 đi liền với sự gia tăng chậm của lượng tiền.
Nguyên lý 10: Xã hội đối mặt với sự đánh đổi ngắn hạn giữa lạm phát và thất nghiệp
Nếu dễ dàng lý giải lạm phát như vậy, thì tại sao đôi khi các nhà hoạch định chính sách vẫn
gặp rắc rối trong việc chèo lái con thuyền nền kinh tế. Một lý do là người ta nghĩ rằng việc
cắt giảm lạm phát thường gây ra tình trạng gia tăng tạm thời của thất nghiệp. Đường minh
họa cho sự đánh đổi giữa lạm phát và thất nghiệp được gọi là đường Phillips, để ghi công tên
nhà kinh tế đầu tiên nghiên cứu mối quan hệ này.
Đường Phillips vẫn còn là một đề tài gây tranh cãi giữa các nhà kinh tế, nhưng hiện nay hầu
hết các nhà kinh tế đều chấp nhận ý kiến cho rằng có sự đánh đổi ngắn hạn giữa lạm phát và
thất nghiệp. Điều đó chỉ hàm ý rằng trong khoảng thời gian một hay hai năm, nhiều chính
sách kinh tế đẩy lạm phát và thất nghiệp đi theo những hướng trái ngược nhau. Bất kể thất
nghiệp và lạm phát ban đầu ở mức cao (như đầu những năm 1980) hay thấp (như cuối thập kỷ
1990) hay nằm ở đâu đó giữa hai thái cực đó, thì các nhà chính sách vẫn phải đối mặt với sự đánh đổi này.
Tại sao chúng ta lại phải đối mặt với sự đánh đổi ngắn hạn nêu trên? Theo cách lý giải phổ
biến, vấn đề phát sinh từ việc một số loại giá cả thay đổi chậm chạp. Ví dụ, chúng ta hãy giả
định rằng chính phủ cắt giảm lượng tiền trong nền kinh tế. Trong dài hạn, kết quả của chính
sách này là mức giá chung giảm. Song không phải tất cả giá cả đều thay đổi ngay lập tức.
Phải mất nhiều năm để tất cả doanh nghiệp đưa ra các bản chào hàng mới, để tất cả các công
đoàn chấp nhận nhượng bộ về tiền lương và tất cả các nhà hàng in thực đơn mới. Điều này
hàm ý giá cả được coi là cứng nhắc trong ngắn hạn.
Vì giá cả cứng nhắc, nên ảnh hưởng trong ngắn hạn của các chính sách mà chính phủ vận
dụng khác với ảnh hưởng của chúng trong dài hạn. Chẳng hạn khi chính phủ cắt giảm lượng
tiền, nó làm giảm số tiền mà mọi người chi tiêu. Khi giá cả bị mắc ở mức cao, mức chi tiêu sẽ
giảm và điều này làm giảm lượng hàng hóa và dịch vụ mà các doanh nghiệp bán ra. Mức bán
ra thấp hơn đến lượt nó buộc các doanh nghiệp phải sa thải công nhân. Như vậy, biện pháp
cắt giảm lượng tiền tạm thời làm tăng thất nghiệp cho đến khi giá cả hoàn toàn thích ứng với sự thay đổi.
Sự đánh đổi giữa lạm phát và thất nghiệp chỉ có tính tạm thời, nhưng nó có thể kéo dài trong
một vài năm. Vì vậy, đường Phillips có ý nghĩa rất quan trọng trong việc tìm hiểu các xu thế
phát triển của nền kinh tế. Đặc biệt, các nhà hoạch định chính sách có thể khai thác sự đánh
đổi này bằng cách vận dụng các công cụ chính sách khác nhau. Thông qua việc thay đổi mức
chi tiêu của chính phủ, thuế và lượng tiền in ra, trong ngắn hạn các nhà hoạch định chính sách
có thể tác động vào hỗn hợp giữa lạm phát và thất nghiệp mà nền kinh tế phải đối mặt. Vì các
công cụ này của chính sách tài khóa và tiền tệ có sức mạnh tiềm tàng như vậy, nên việc các
nhà hoạch định chính sách sử dụng những công cụ này như thế nào để quản lý nền kinh tế
vẫn còn là một đề tài tranh cãi.
Kiểm tra nhanh: Hãy liệt kê và giải thích ngắn gọn ba nguyên lý mô tả phương thức vận
hành của nền kinh tế với tư cách một tổng thể.
NGUYÊN LÝ KINH TẾ HỌC
Chương 1 – Mười nguyên lý của kinh tế học 11 KẾT LUẬN
Giờ đây bạn đã biết đôi chút về kinh tế học. Trong những chương tiếp theo, chúng ta sẽ tìm
hiểu thêm nhiều điều sâu sắc hơn về con người, thị trường và nền kinh tế. Để nắm được những
vấn đề này, chúng ta cần phải nỗ lực một chút, nhưng chúng ta sẽ làm được. Kinh tế học dựa
trên một số ít ý tưởng căn bản để từ đó có thể áp dụng cho nhiều tình huống khác nhau.
Xuyên suốt cuốn sách này, chúng ta sẽ còn quay lại với Mười Nguyên lý của kinh tế học đã
được làm sáng tỏ trong chương này và tóm tắt trong bảng Bạn hãy nhớ rằng, ngay cả những
phân tích kinh tế phức tạp nhất cũng được xây dựng trên nền tảng của mười nguyên lý này. TÓM TẮT
Những bài học căn bản về ra quyết định cá nhân là: con người đối mặt với sự đánh đổi
giữa các mục tiêu khác nhau, chi phí của bất kỳ hành động nào cũng được tính bằng
những cơ hội bị bỏ qua, con người duy lý đưa ra quyết định dựa trên sự so sánh giữa chi
phí và ích lợi cận biên, và cuối cùng là con người thay đổi hành vi để đáp lại các kích
thích mà họ phải đối mặt.
Những bài học căn bản về sự tác động qua lại giữa con người với nhau là: thương mại
(tức trao đổi) có thể đem lại ích lợi cho cả hai bên, thị trường thường là cách thức tốt phối
hợp trao đổi buôn bán giữa mọi người, và chính phủ có thể cải thiện các kết cục thị
trường khi một thất bại thị trường nào đó tồn tại hay khi kết cục thị trường không công bằng.
Những bài học căn bản về nền kinh tế với tư cách một tổng thể là: năng suất là nguồn gốc
cuối cùng của mức sống, sự gia tăng lượng tiền là nguyên nhân cuối cùng của lạm phát và
xã hội đối mặt với sự đánh đổi ngắn hạn giữa lạm phát và thất nghiệp.
NGUYÊN LÝ KINH TẾ HỌC
Chương 1 – Mười nguyên lý của kinh tế học 12 CHƯƠNG 2
CÁC LỰC LƯỢNG CUNG CẦU THỊ TRƯỜNG
Khi một đợt giá lạnh đổ vào bang Florida, giá nước cam tăng trong các siêu thị trên toàn
quốc. Mỗi khi thời tiết vào mùa hè ấm lên ở bang New England, giá thuê phòng khách sạn ở
vùng Ca-ri -bê lập tức suy giảm. Khi một cuộc chiến tranh bùng nổ ở Trung Đông, giá xăng ở
Mỹ tăng và giá xe Cadillac cũ giảm xuống. Những biến cố này có điểm gì chung? Tất cả
chúng đều cho thấy sự vận hành của cung và cầu.
Cung và cầu là hai từ mà các nhà kinh tế sử dụng thường xuyên nhất - và vì nguyên nhân rất
hợp lý. Cung và cầu là những lực lượng làm cho nền kinh tế thị trường hoạt động. Chúng
quyết định lượng của mỗi hàng hóa được sản xuất ra và giá mà nó được bán. Nếu muốn biết
một biến cố hoặc chính sách ảnh hưởng tới nền kinh tế như thế nào, thì trước hết bạn phải
nghĩ xem nó ảnh hưởng tới cung và cầu như thế nào.
Chương này giới thiệu lý thuyết về cung và cầu. Nó nghiên cứu hành vi của người bán và
người mua, cũng như sự tương tác giữa họ với nhau. Nó chỉ ra cách thức quyết định giá cả
của cung và cầu trong nền kinh tế thị trường, cũng như giá cả đến lượt nó lại phân bổ các
nguồn lực khan hiếm của xã hội như thế nào.
THỊ TRƯỜNG VÀ CẠNH TRANH
Khái niệm cung và cầu được dùng để chỉ hành vi của con người khi họ tương tác với nhau
trên thị trường. Thị trường là một nhóm người bán và người mua một hàng hóa hoặc dịch vụ
nhất định. Với tư cách là một nhóm, người mua quyết định cầu về sản phẩm và với tư cách
một nhóm, người bán quyết định cung về sản phẩm. Trước khi thảo luận về hành vi của
người bán và người mua, chúng ta hãy xem xét kỹ lưỡng hơn khái niệm “thị trường” và các
dạng thị trường khác nhau mà chúng ta quan sát thấy trong nền kinh tế.
Thị trường cạnh tranh
Thị trường có nhiều dạng khác nhau. Đôi khi thị trường có tổ chức rất cao, chẳng hạn thị
trường của nhiều loại nông sản. Trong những thị trường này, người mua và người bán gặp
nhau vào một thời gian và tại địa điểm nhất định mà tại đó, người xướng giá góp phần
định giá và tổ chức bán hàng.
Nhưng hầu hết các thị trường được tổ chức ở mức thấp hơn. Chẳng hạn, chúng ta hãy quan
sát thị trường kem trong một khu phố nhất định. Người mua kem không hề tập hợp nhau lại
vào bất kỳ thời điểm nào. Người bán kem nằm ở các địa điểm khác nhau và bán các sản phẩm
khác nhau đôi chút. Ở đây không có người xướng giá để công bố giá kem. Từng người bán tự
ghi giá cho mỗi chiếc kem và từng người mua quyết định mua bao nhiêu kem tại mỗi cửa hàng.
Mặc dù không được tổ chức, nhưng nhóm người mua và người bán kem hình thành một thị
trường. Người mua biết rằng có nhiều người bán để anh ta lựa chọn và người bán ý thức được
rằng có người khác bán sản phẩm tương tự sản phẩm của anh ta. Giá và lượng kem bán ra
không phải do một người bán hay người mua nào quyết định. Trên thực tế, giá và lượng là do
tất cả người bán và người mua quyết định khi họ tương tác với nhau trên thị trường.
Giống như hầu hết các thị trường trong nền kinh tế, thị trường kem có tính cạnh tranh cao.
Thị trường cạnh tranh là một thị trường trong đó có nhiều người bán và người mua đến mức
NGUYÊN LÝ KINH TẾ HỌC
Chương 2 – Các lực lượng cung cầu thị trường 1
mỗi người chỉ có ảnh hưởng không đáng kể đến giá thị trường. Mỗi người bán kem chỉ có
khả năng kiểm soát hạn chế đối với giá cả vì những người bán khác đang chào bán các sản
phẩm tương tự. Người bán có ít lý do để bán với giá thấp hơn giá phổ biến trên thị trường, và
nếu anh ta bán với giá cao hơn, người mua sẽ mua hàng ở nơi khác. Tương tự, không một
người mua cá biệt nào có thể tác động tới giá kem vì mỗi người chỉ mua một lượng nhỏ.
Trong chương này chúng ta sẽ tìm hiểu xem người mua và người bán tương tác với nhau như
thế nào trên thị trường cạnh tranh. Chúng ta sẽ nghiên cứu xem các lực lượng cung cầu quyết
định lượng hàng hóa bán ra và giá của nó như thế nào.
Sự cạnh tranh: hoàn hảo và không hoàn hảo
Trong chương này chúng ta giả định rằng các thị trường có tính cạnh tranh hoàn hảo. Thị
trường cạnh tranh hoàn hảo được định nghĩa là những thị trường có hai đặc tính quan trọng
nhất: (1) tất cả hàng hóa được chào bán là những hàng hóa như nhau, và (2) người mua và
người bán nhiều đến mức không có người bán hoặc người mua cá biệt nào có thể tác động tới
giá thị trường. Vì người bán và người mua trên thị trường cạnh tranh hoàn hảo phải chấp
nhận giá do thị trường quyết định, cho nên họ được coi là người nhận giá.
Có một số thị trường trong đó giả định về sự cạnh tranh hoàn hảo hoàn toàn đúng. Chẳng hạn
trên thị trường lúa mỳ có hàng ngàn nông dân bán lúa mỳ và hàng triệu người tiêu dùng sử
dụng lúa mỳ và sản phẩm làm từ lúa mỳ. Vì không có người bán và người mua cá biệt nào tác
động được tới giá lúa mỳ, nên mọi người đều coi giá lúa mỳ là cho trước.
Tuy nhiên, không phải mọi hàng hóa và dịch vụ đều được bán trên các thị trường cạnh tranh
hoàn hảo. Một số thị trường chỉ có một người bán và người bán này quy định giá cả. Người
bán này được gọi là nhà độc quyền. Chẳng hạn, công ty truyền hình cáp trong thị trấn của bạn
có thể là một nhà độc quyền. Người dân trong thị trấn của bạn có thể chỉ có một công ty
truyền hình cáp để họ mua dịch vụ này.
Một số thị trường nằm giữa hai trường hợp cực đoan là cạnh tranh hoàn hảo và độc quyền.
Một dạng thị trường trong số đó, cái được gọi là thị trường độc quyền nhóm, chỉ có một ít
người bán không phải lúc nào cũng cạnh tranh mạnh mẽ với nhau. Các tuyến bay là một ví
dụ. Nếu mỗi tuyến bay giữa hai thành phố chỉ được hai hay ba hãng hàng không phục vụ, các
hãng này có thể tránh cạnh tranh quá khốc liệt để giữ cho giá cả ở mức cao. Một dạng khác
của thị trường là cạnh tranh độc quyền: nó bao gồm nhiều người bán, mỗi người chào bán
một sản phẩm hơi khác so với sản phẩm của người khác. Vì sản phẩm không hoàn toàn giống
nhau, nên mỗi người bán có một khả năng nào đó trong việc định giá cho sản phẩm của mình.
Một ví dụ là ngành phần mềm máy tính. Nhiều chương trình soạn thảo văn bản cạnh tranh với
nhau, nhưng không có chương trình nào hoàn toàn giống nhau và vì vậy chúng có giá riêng.
Mặc dù thị trường mà chúng ta quan sát được trên thế giới rất đa dạng, nhưng chúng ta bắt
đầu bằng việc nghiên cứu thị trường cạnh tranh hoàn hảo. Thị trường cạnh tranh hoàn hảo là
dạng thị trường dễ phân tích nhất. Hơn nữa, vì trên hầu hết các thị trường đều có một mức độ
cạnh tranh nào đó, nên nhiều bài học mà chúng ta có được khi nghiên cứu cung và cầu trong
điều kiện cạnh tranh hoàn hảo có thể vận dụng vào các thị trường phức tạp hơn.
Kiểm tra nhanh: Thị trường là gì? Khái niệm thị trường cạnh tranh hàm ý gì? CẦU
Chúng ta bắt đầu công trình nghiên cứu thị trường của mình bằng cách xem xét hành vi của
người mua. Trong phần này, chúng ta sẽ xem xét các yếu tố quyết định lượng cầu về một
NGUYÊN LÝ KINH TẾ HỌC
Chương 2 – Các lực lượng cung cầu thị trường 1
hàng hóa nào đó, tức lượng hàng hóa mà người tiêu dùng sẵn sàng và có khả năng mua. Để
tập trung suy nghĩ của mình, chúng ta hãy luôn luôn nhớ tới một hàng hóa cụ thể là kem.
Yếu tố nào quyết định lượng cầu của một cá nhân?
Chúng ta hãy xem xét cầu của mình về kem. Bạn làm thế nào để quyết định mua bao nhiêu
kem mỗi tháng, và những yếu tố nào ảnh hưởng tới quyết định của bạn? Sau đây là một số
câu trả lời mà bạn có thể đưa ra.
Giá cả. Nếu giá kem tăng so với mức giá ban đầu là 20 xu một cốc, bạn sẽ mua ít kem hơn.
Thay vào đó, bạn có thể mua món sữa chua đông lạnh. Nếu giá kem giảm so với giá 20 xu
một cốc, bạn sẽ mua nhiều hơn. Vì lượng cầu về kem giảm khi giá tăng và tăng khi giá giảm,
nên chúng ta nói lượng cầu có quan hệ nghịch với giá cả. Mối quan hệ này giữa giá cả và
lượng cầu đúng với hầu hết hàng hóa trong nền kinh tế. Trên thực tế, nó có tác dụng rộng rãi
đến mức các nhà kinh tế gọi nó là luật cầu: nếu các yếu tố khác không thay đổi, thì khi giá
một hàng hóa tăng, lượng cầu về hàng hóa đó sẽ giảm.
Thu nhập. Điều gì xảy ra đối với cầu về kem của bạn nếu bạn mất việc làm trong mùa hè?
Khả năng cao nhất là nó sẽ giảm. Mức thu nhập thấp hơn hàm ý bạn có tổng mức chi tiêu
thấp hơn và vì vậy bạn chi tiêu ít hơn để mua một số hàng hóa - và có lẽ là hầu hết các hàng
hóa. Nếu cầu về một hàng hóa giảm khi thu nhập giảm, thì hàng hóa này được gọi là hàng thông thường.
Không phải mọi hàng hóa đều là hàng thông thường. Nếu cầu về một hàng hóa tăng khi thu
nhập giảm, thì hàng hóa này được gọi là hàng cấp thấp. Việc đi xe buýt là một ví dụ về hàng
cấp thấp. Khi thu nhập của bạn giảm, có ít khả năng bạn sẽ mua một chiếc ô tô hay đi tắc xi,
mà có nhiều khả năng bạn sẽ đi xe buýt.
Giá các hàng hóa liên quan. Chúng ta hãy giả sử giá món sữa chua đông lạnh giảm. Luật
cầu nói rằng bạn sẽ mua nhiều sữa chua đông lạnh hơn. Đồng thời, có thể bạn sẽ mua ít kem
hơn. Vì kem và sữa chua đông lạnh là hai món tráng miệng lạnh, ngọt và béo, nên chúng thỏa
mãn được những nguyện vọng tương tự nhau. Khi sự giảm giá của một hàng hóa làm giảm
lượng cầu về hàng hóa khác, chúng ta gọi hai hàng hóa này là hàng thay thế. Hàng thay thế
thường là một cặp hàng hóa được sử dụng thay thế cho nhau, chẳng hạn xúc xích nóng và
bánh mỳ kẹp thịt, áo thun và áo sơ mi, vé xem phim và tiền thuê viđiô.
Bây giờ chúng ta hãy giả sử giá món kẹo mềm nóng giảm. Theo luật cầu, bạn sẽ mua nhiều
kẹo mềm nóng hơn. Nhưng trong trường hợp này bạn cũng mua kem nhiều hơn, vì kem và
kẹo mềm nóng thường được ăn kèm với nhau. Khi sự giảm sút giá của một hàng hóa làm tăng
cầu về hàng hóa khác, hai hàng hóa được gọi là hàng bổ sung cho nhau. Hàng bổ sung
thường là một cặp hàng hóa được sử dụng cùng nhau như xăng và ô tô, máy tính và phần
mềm, bàn trượt tuyết và vé vào khu trượt tuyết.
Thị hiếu. Yếu tố rõ ràng nhất quyết định cầu của bạn là thị hiếu của bạn. Nếu bạn thích kem,
bạn mua nó nhiều hơn. Các nhà kinh tế thường không tìm cách lý giải thị hiếu của con người
vì nó hình thành từ các yếu tố lịch sử và tâm lý nằm ngoài vương quốc của kinh tế học. Tuy
NGUYÊN LÝ KINH TẾ HỌC
Chương 2 – Các lực lượng cung cầu thị trường 1
nhiên, các nhà kinh tế chú ý phân tích xem điều gì xảy ra khi thị hiếu thay đổi.
Kỳ vọng. Kỳ vọng của bạn về tương lai có thể tác động tới cầu hiện tại của bạn về hàng hóa
và dịch vụ. Chẳng hạn, nếu dự kiến kiếm được nhiều thu nhập hơn trong tháng tới, bạn có thể
sẵn sàng hơn trong việc chi tiêu một phần tiền tiết kiệm hiện tại để mua kem. Ví dụ khác là
nếu dự kiến giá kem ngày mai sẽ giảm, bạn có thể không sẵn sàng mua một cốc kem với giá hiện tại
Biểu cầu và đường cầu
Chúng ta đã nhận thấy rằng nhiều biến số quyết định lượng kem mà một cá nhân có cầu. Hãy
tưởng tượng ra rằng chúng ta giữ cho tất cả các biến số này không đổi trừ một biến số là giá
cả. Chúng ta hãy xét xem giá cả tác động tới lượng cầu về kem như thế nào. Giá một cốc kem Lượng cầu về kem 0,00 đô la 12 0,50 10 1,00 8 1.50 6 2,00 4 2,50 2 3,00 0
Bảng 1. Biểu cầu của Catherine. Biểu cầu chỉ ra lượng cầu tại mỗi mức giá.
Bảng 1 cho biết số cốc kem mà Catherine mua mỗi tháng tại các mức giá kem khác nhau.
Nếu kem được cung cấp miễn phí, Catherine sẽ ăn 12 cốc. Với giá 0,50 đô la một cốc,
Catherine mua 10 cốc. Khi giá tiếp tục tăng lên, cô mua ngày càng ít kem hơn. Khi mức giá
bằng 3đô la, Catherine không mua một cốc kem nào cả. Bảng 1 là một biểu cầu, tức một bảng
chỉ ra mối quan hệ giữa giá của một hàng hóa và lượng cầu. (Các nhà kinh tế sử dụng từ biểu
vì bảng này có các cột con số song song với nhau như một biểu ghi giờ tầu chạy). Giá kem 3.00 2.50 2.00 1.50 1.00 0,50
0 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 Lượng kem
Hình 1. Đường cầu của Catherine. Đường cầu này là đồ thị được vẽ bằng số liệu của bảng
1. Nó cho biết lượng cầu về một hàng hóa thay đổi như thế nào khi giá của nó thay đổi. Vì

NGUYÊN LÝ KINH TẾ HỌC
Chương 2 – Các lực lượng cung cầu thị trường 1
giá thấp hơn làm tăng lượng cầu, nên đường cầu dốc xuống.
Ceteris Paribus - Những cái khác không thay đổi
Mỗi khi nhìn thấy đường cầu, bạn cần nhớ rằng nó được vẽ cho trường hợp nhiều biến số
khác không thay đổi. Đường cầu của Catherine trong hình 1 cho thấy điều gì xảy ra đối với
lượng kem mà Catherine muốn mua khi chỉ có giá kem thay đổi. Đường cầu được vẽ với giả
định rằng thu nhập của Catherine, thị hiếu, kỳ vọng và giá cả các hàng hóa có liên quan không thay đổi.
Các nhà kinh tế sử dụng thuật ngữ ceteris paribus để nhấn mạnh rằng tất cả các biến số có
liên quan, trừ các biến số được nghiên cứu vào thời điểm đó, đều được giữ cho không thay
đổi. Thành ngữ la tinh này có nghĩa đen là “những cái khác không thay đổi”. Đường cầu dốc
xuống vì, nếu những cái khác không thay đổi, giá cả thấp hơn hàm ý lượng cầu cao hơn.
Mặc dầu thuật ngữ những cái khác không thay đổi được áp dụng cho một tình huống giả định, trong
đó một số biến số được giả định là không thay đổi, nhưng trong thực tế, nhiều sự vật đồng thời thay
đổi. Vì lý do này, khi sử dụng các công cụ cung cầu để phân tích các biến cố hoặc chính sách, vấn đề
quan trọng là phải nhớ rằng những cái gì được giữ cho không thay đổi, còn cái gì thì không.
Cầu thị trường và cầu cá nhân
Cho đến giờ chúng ta chỉ nói về cầu của một cá nhân về hàng hóa. Để phân tích phương thức vận
hành của thị trường, chúng ta cần xác định cầu thị trường, tức tổng các cầu cá nhân về một hàng
hóa hay một dịch vụ cụ thể.
Bảng 2 là biểu cầu về kem của hai cá nhân là Catherine và Nicholas. Biểu cầu của Catherine
cho chúng ta biết lượng kem mà cô muốn mua và biểu cầu của Nicholas cho chúng ta biết
lượng kem mà anh muốn mua. Cầu thị trường là tổng cầu của hai cá nhân.
Vì cầu thị trường hình thành từ các cầu cá nhân, nên nó phụ thuộc vào tất cả các yếu tố quyết
định cầu của những người mua cá biệt. Cho nên, cầu thị trường phụ thuộc vào thu nhập của
người mua, thị hiếu, kỳ vọng và giá cả của các hàng hóa liên quan. Ngoài ra, nó còn phụ
thuộc vào số người mua. (Nếu có thêm người tiêu dùng khác là Peter cùng ăn kem với
Catherine và Nicholas, lượng cầu thị trường sẽ cao hơn tại mọi mức giá.) Biểu cầu trong bảng
2 cho thấy điều gì xảy ra đối với lượng cầu khi giá cả thay đổi, trong khi tất cả các biến số
khác quyết định lượng cầu đều được giữ cho không thay đổi.
Giá một cốc kem Catherine Nicholas Lượng cầu thị trường 0,00 đô la 12 + 7 = 19 0,50 10 6 16 1,00 8 5 13 1,50 6 4 10 2,00 4 3 7 2,50 2 2 4 3,00 0 1 1
Bảng 2. Biểu cầu cá nhân và biểu cầu thị trường. Lượng cầu trên một thị trường là tổng
NGUYÊN LÝ KINH TẾ HỌC
Chương 2 – Các lực lượng cung cầu thị trường 1
lượng cầu của mọi người mua.
Hình 2 vẽ các đường cầu tương ứng với những biểu cầu này. Hãy chú ý rằng chúng ta cộng
các đường cầu cá nhân theo phương nằm ngang để có đường cầu thị trường. Nghĩa là để xác
định tổng lượng cầu tại bất kỳ mức giá nào, chúng ta cũng cộng lượng cầu của các cá nhân
xác định được trên trục hoành của đường cầu cá nhân. Vì quan tâm tới việc phân tích phương
thức vận hành của thị trường, nên chúng ta thường sử dụng đường cầu thị trường. Đường cầu
thị trường cho thấy tổng lượng cầu về một hàng hóa thay đổi như thế nào khi giá cả thay đổi. Cầu của Catherine Cầu của Nicholas Giá kem Giá kem 3.00 3.00 2.50 2.50 2.00 2.00 1.50 1.50 1.00 1.00 0,50 0,50
0 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12
0 1 2 3 4 5 6 7 Lượng kem Giá kem Cầu thị trường 3.00 2.50 2.00 1.50 1.00 0,50
0 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 13 14 15 16 17 18 19 Lượng kem
Hình 2. Cầu thị trường là tổng cầu của các cá nhân. Đường cầu của một thị trường được
xác định bằng cách cộng theo phương nằm ngang tất cả các đường cầu cá nhân. Tại mức giá
bằng 2 đô la, Catherine muốn mua 4 cốc kem và Nicholas muốn mua 3 cốc kem. Lượng cầu
trên thị trường tại mức giá này bằng 7 cốc kem.

NGUYÊN LÝ KINH TẾ HỌC
Chương 2 – Các lực lượng cung cầu thị trường 1
Sự dịch chuyển của đường cầu
Giả sử Hiệp hội Y tế Mỹ đột nhiên công bố một phát minh mới: những người ăn kem thường
xuyên sống lâu hơn, có sức khỏe tốt hơn. Công bố này ảnh hưởng tới thị trường kem như thế
nào? Phát minh trên đã làm thay đổi thị hiếu của mọi người và làm tăng cầu về kem. Tại mọi
mức giá, bây giờ người mua muốn mua lượng kem lớn hơn và đường cầu về kem dịch chuyển sang phải. Giá kem Sự gia tăng nhu cầu Sự giảm sút nhu cầu Đường cầu, D Đường cầu, D 2 3 Đường cầu, D1 0 Lượng kem
Hình 3. Sự dịch chuyển của đường cầu. Bất kỳ sự thay đổi nào làm tăng lượng hàng mà
người mua muốn mua tại một mức giá nhất định cũng làm dịch chuyển đường cầu sang phải.
Bất kỳ sự thay đổi nào làm giảm lượng hàng mà người mua muốn mua tại một mức giá nhất
định cũng làm dịch chuyển đường cầu sang trái.

Mỗi khi một yếu tố quyết định cầu nào đó thay đổi, trừ giá hàng hóa, đường cầu đều dịch
chuyển. Hình 3 chỉ ra rằng bất kỳ sự thay đổi nào làm tăng lượng cầu tại mọi mức giá cũng
làm dịch chuyển đường cầu sang phải. Tương tự, bất kỳ sự thay đổi nào làm giảm lượng cầu
tại mọi mức giá cũng làm dịch chuyển đường cầu sang trái.
Bảng 3 ghi các biến số quyết định lượng cầu trên thị trường và sự thay đổi trong một biến số
tác động tới đường cầu như thế nào. Hãy chú ý rằng giá cả đóng một vai trò đặc biệt trong
bảng này. Vì giá cả nằm trên trục tung khi chúng ta vẽ đường cầu, nên sự thay đổi của giá cả
không làm dịch chuyển đường cầu, mà chỉ biểu thị sự di chuyển dọc theo nó. Ngược lại khi
có sự thay đổi trong thu nhập, giá của các hàng hóa liên quan, thị hiếu, kỳ vọng hay số người
mua, lượng cầu thay đổi tại mọi mức giá; điều này được biểu thị bằng sự dịch chuyển của đường cầu.
Các biến số tác động tới lượng cầu Sự thay đổi trong biến số này Giá cả
Di chuyển dọc theo đường cầu Thu nhập
Làm dịch chuyển đường cầu
Giá của các hàng hóa liên quan
Làm dịch chuyển đường cầu Thị hiếu
Làm dịch chuyển đường cầu Kỳ vọng
Làm dịch chuyển đường cầu Số người mua
Làm dịch chuyển đường cầu
Tóm lại, đường cầu cho thấy điều gì xảy ra với lượng cầu về một hàng hóa khi giá cả của nó
thay đổi và tất cả các yếu tố khác quyết định lượng cầu được giữ cho không thay đổi. Khi một

NGUYÊN LÝ KINH TẾ HỌC
Chương 2 – Các lực lượng cung cầu thị trường 1
trong các yếu tố khác này thay đổi, đường cầu sẽ dịch chuyển.
NGHIÊN CỨU TÌNH HUỐNG: HAI CÁCH ĐỂ CẮT GIẢM LƯỢNG CẦU VỀ THUỐC LÁ
Các nhà hoạch định chính sách thường muốn giảm bớt số người hút thuốc. Có hai cách
mà chính sách có thể sử dụng để đạt được mục tiêu này.
Một cách để giảm bớt người hút thuốc là làm dịch chuyển đường cầu về thuốc lá và các sản
phẩm thuốc lá khác. Các thông báo của nhà nước, cảnh báo bắt buộc về tác hại đối với sức
khỏe trên bao thuốc lá và cấm quảng cáo thuốc lá trên ti vi là những chính sách nhằm cắt
giảm lượng cầu về thuốc lá tại mọi mức giá. Nếu thành công, các chính sách này làm dịch
đường cầu về thuốc lá sang trái, như trong phần (a) của hình 4.
Một cách khác là các nhà hoạch định chính sách có thể làm tăng giá thuốc lá. Chẳng hạn, nếu
chính phủ đánh thuế vào việc sản xuất thuốc lá và các công ty thuốc lá tìm cách chuyển phần
lớn khoản thuế này cho người tiêu dùng dưới dạng giá cả cao hơn. Giá cao hơn khuyến khích
mọi người cắt giảm số điếu thuốc lá mà họ hút. Trong tình huống này, lượng thuốc lá giảm đi
không biểu thị sự dịch chuyển của đường cầu. Thay vào đó, nó biểu thị sự di chuyển dọc theo
đường cầu cũ tới một điểm có giá cao hơn và lượng thấp hơn như trong phần (b) của hình 4.
Lượng hút thuốc phản ứng như thế nào đối với những thay đổi trong giá thuốc lá? Các
nhà kinh tế đã tìm cách trả lời câu hỏi này bằng cách nghiên cứu xem điều gì xảy ra khi
thuế thuốc lá thay đổi. Họ phát hiện ra rằng khi giá thuốc lá tăng 10 phần trăm, lượng
cầu về thuốc lá giảm 4 phần trăm. Thanh thiếu niên đặc biệt nhạy cảm với giá thuốc lá:
10 phần trăm tăng giá làm cho lượng hút thuốc của thanh thiếu niên giảm 12 phần trăm.
(a) Sự dịch chuyển của đường cầu Giá thuốc lá
Chính sách cản trở sự
hút thuốc làm dịch chuyển đường cầu sang trái 2 B A D1 D2
0 10 20 Lượng thuốc lá
b) Sự di chuyển dọc theo đường cầu Giá thuốc lá
Thuế làm tăng giá thuốc lá C
gây ra sự di chuyển dọc 4 theo đường cầu 2 A D1
0 10 20 Lượng thuốc lá
NGUYÊN LÝ KINH TẾ HỌC
Chương 2 – Các lực lượng cung cầu thị trường 1