1
HC VIN O CHÍ VÀ TUYÊN TRUYN
KHOA GIÁO DC ĐI CƯƠNG & NGHIP V SƯ PHM
PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CU
KHOA HC XÃ HI VÀ NHÂN VĂN
(Giáo trình lưu hành ni b dành cho bc đi hc)
Ngưi biên son: TS Phan Thanh Hi
Hà Ni 2020
2
HƯNG DN HC
1. Tài liu hc tp:
TS. Phan Thanh Hi (Ch biên, 2015) Giáo trình
Phương pháp nghiên cu Khoa hc xã hi và Nhân
văn, Hc vin Báo chí và Tuyên truyn
PGS,TS. Đ Công Tun, Lý lun và phương pháp
nghiên cu khoa hc
Vũ Cao Đàm (1998), Phương pháp nghiên cu khoa
hc, Nxb. Khoa hc K thut, Hà Ni.
2. Phương pháp hc tp:
Ho
c đúng li
ch trình cu
a môn ho
c, làm bài t
p đâ y
đu
và tham gia tha
o lu
n trên lp.
Sinh viên làm vi
c theo nhóm và trao đô
i vơ
i gia
ng
viên trư
c tiêp ta
i lơ
p ho
c ho
c qua email.
Sinh viên đc và nghiên cu trưc tài liu trưc khi
đến lp
3
CHƯƠNG III
PHƯƠNG PHÁP LUẬN
VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU KHOA HỌC
A. Tổng quan về phương pháp phương pháp luận nghiên cứu
khoa học
I. Phương pháp luận nghiên cứu khoa học
a. Khái niệm
Thuật ngữ phương pháp luận bắt nguồn từ tiếng Hy lạp - methodology
với nghĩa luận về phương pháp. Hiện nay nhiều các hiểu khác nhau
về phương pháp luận. Chẳng hạn:
- Phương pháp lun đưc hiu như là cơ s lý lun, cương lĩnh
lý lun ca hot đng nhn thc khoa hc. Nó điu chnh hot đng
ca con ngưi đm bo cho tính có mục đích ca hot đng đó và đnh
hưng cho nó.
- Phương pháp lun là s tng hp, là h thng, là t hp các
phương pháp nghiên cu đã đưc s dng trong b môn khoa hc này
hay b môn khoa hc khác.
- Đng nht phương pháp lun vi triết hc, coi triết hc là lý
lun vn năng v phương pháp.
- Trong nhiu công trình nghiên cu, phương pháp lun li đưc
xem như cách tiếp cn nghiên cu và xem nó là đim ta, cơ s xut
phát cho s nghiên cu, xác đnh và la chn hưng nghiên cu.
4
Các ý kiến khác nhau v phương pháp lun không ph nhn
phương pháp lun là phm trù thuc v nhn thc, tư duy, có ý nghĩa
quan trng trong mi hot đng ca con ngưi. Phương pháp lun có
quan h mt thiết vi thế gii quan, vi lý lun. Trong đó, phương
pháp lun và thế gii quan đu th hin nhng quan nim, nguyên tc
chung cho hot đng nhn thc và thc tin ca con ngưi. Thế gii
quan là quan nim ca con ngưi v thế gii. Trong đó, ch nhng
quan nim mang tính h chun (có tính nguyên tc, có tính dn đưng,
đnh hưng) ca thế gii quan mới tr thành ni dung ca phương
pháp lun.
Phương pháp lun và lý lun là hai phm trù cùng trình đ, phn
ánh bn cht, tính quy lut ca thế gii khách quan. Song không th
đng nht lý lun và phương pháp lun bi ch nhng ni dung lý lun
mang tính chun mc (chung nht, cơ bn nht, có tính đnh hưng)
mi tr thành ni dung ca phương pháp lun cái chi phi hot đng
nhn thc và thc tin ca con ngưi.
Từ những cách tiếp cận khác nhau, thể thấy phương pháp luận
nghiên cứu khoa học luận về phương pháp nhận thức cải tạo thế
giới. Phương pháp luận nghiên cứu hệ thống quan điểm tính nguyên
tắc nhà nghiên cứu coi sở, điểm xuất phát cho việc lựa chọn, sử
dụng các phương pháp nghiên cứu cũng như dự kiến phạm vi, mức độ sử
dụng phương pháp ấy để đạt được mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu.
Bất kỳ một nghiên cứu nào cũng thực hiện trên sở phương pháp
luận nghiên cứu nhất định.
Phương pháp luận kim chỉ nam hướng dẫn nhà nghiên cứu trên con
đường tìm tòi nghiên cứu. Nắm vững phương pháp luận điều kiện thiết
yếu để thành công trong nghiên cứu khoa học.
5
b. Các cấp độ phương pháp luận nghiên cứu khoa học
- Phương pháp luận chung nhất phương pháp luận triết học - những
quan điểm, nguyên tắc chung nhất, xuất phát điểm cho việc lựa chọn sử
dụng các phương pháp bộ môn phương pháp luận chung, chi phối cả
phương pháp nhận thức và phương pháp hoạt động thực tiễn.
Trong hoạt động nghiên cứu khoa học lĩnh vực hội nhân văn
nước ta, phương pháp luận chung nhất phương pháp biện chứng mác xít.
Triết học Mác nin bao gồm những quan điểm tính nguyên tắc về thế
giới quan phương pháp luận cho hoạt động nhận thức thực tiễn của
con người. thể kể đến những nguyên tắc căn bản nnguyên tắc khách
quan, quan điểm toàn diện, quan điểm lịch sử - cụ thể…
- Phương pháp luận chung những quan điểm, nguyên tắc xác định
các phương pháp nhằm giải quyết các vấn đề của nhóm các ngành khoa học
những điểm chung nhất định nào đó. Chẳng hạn, đối với việc nghiên cứu
khoa học nhóm ngành khoa học hội nhân văn thì quan điểm giai cấp,
tiếp cận lợi ích… là những nguyên tắc không thể xa rời.
- Phương pháp luận riêng hay phương pháp luận bộ môn là những
luận điểm, lý thuyết cơ bản và góc tiếp cận đặc thù của mỗi ngành khoa học,
mỗi đề tài khoa học cụ thể. Chẳng hạn, phương pháp luận sử học, phương
pháp luận văn học… phương pháp luận mỗi đề tài cụ thể luôn có.
là những nguyên tắc tương ứng, phù hợp với đối tượng mà người nghiên cứu
xác định.
Các cấp độ phương pháp luận độc lập tương đối, hợp thành hệ thống
khoa học về phương pháp chỉ đạo việc lựa chọn và sử dụng các phương pháp
cụ thể sao cho khoa học, hiệu quả. Phương pháp luận chung đóng vai trò
nguyên tắc, căn cứ để người nghiên cứu lựa chọn, sử dụng các phương pháp
nghiên cứu nhằm giải quyết những vấn đề cụ thể của ngành khoa học đó.
6
II. Phương pháp nghiên cứu khoa học
1. Phương pháp và các yếu tố chi phối phương pháp
Thuật ngữ phương pháp bắt nguồn t tiếng Hy lạp Methodos với
nghĩa con đường công cụ nhận thức cải biến hiện thực của chủ thể.
mỗi lĩnh vực hoạt động cách tiếp cận, cách hiểu sử dụng thuật ngữ
phương pháp cũng khác nhau. Theo nghĩa chung nhất, phương pháp toàn
bộ những cách thức con người lựa chọn sử dụng để tác động vào đối
tượng nhằm đạt được mục đích của chủ thể hoạt động.
Phương pháp nghiên cứu khoa học tập hợp những cách thức, biện
pháp thu thập thông tin về đối tượng, xử các thông tin đó để đạt được các
mục tiêu nghiên cứu đã xác định và làm sáng tỏ giả thuyết nghiên cứu.
Phương pháp nghiên cứu khoa học hình thành và chịu sự chi phối của
nhiều yếu tố.
Một là, sự tương c giữa chủ thể khách thể nghiên cứu. Chủ thể
nghiên cứu với mức đtri thức, kinh nghiệm, khả năng hoạt động…làm nên
tính chủ quan của việc xác định, lựa chọn sử dụng phương pháp nghiên
cứu khoa học. Khách thể nghiên cứu với đặc điểm, trình độ kết cấu, quy luật
khách quan chi phối đối tượng quy định tính khách quan của những phương
pháp nghiên cứu. Nói khác đi, việc phát hiện ra phương pháp, lựa chọn
phương pháp sử dụng phương pháp cũng như việc bổ sung, hoàn thiện
phương pháp thuộc về những nỗ lực chủ quan, sự sáng tạo của chủ thể. Song
nguồn gốc, nội dung, tính chất của phương pháp nghiên cứu lại chịu nhiều
chi phối của những yếu tố mang tính khách quan và thuộc về khách thể
nghiên cứu. Để phương pháp nghiên cứu hiệu quả, nhà khoa học Bêcơn
cho rằng “con người muốn cải tạo thế giới nhưng trước hết phải hiểu những
quy luật của nó”.
7
Hai là, phương pháp nghiên cứu khoa học chịu sự chi phối của mục
đích nội dung nghiên cứu. Mục đích nghiên cứu sẽ quy định những
phương pháp nghiên cứu tương ng. Muốn được sự thành công trong
nghiên cứu, phương pháp phải phù hợp với mục đích nghiên cứu đã được
xác định. Thực tiễn lịch sử phát triển khoa học đã chứng tỏ rằng, sau khi
xác định mục tiêu, vấn đề không kém phần quan trọng khó khăn tìm ra
phương pháp thích hợp để thực hiện mục tiêu ấy nhanh và hiệu quả nhất.
Mặt khác, không phương pháp nghiên cứu vạn năng ứng với mọi
nội dung nghiên cứu. Sự thống nhất giữa nội dung phương pháp thể hiện
logic phát triển của bản thân đối tượng nghiên cứu. Nội dung tổng hợp
những mặt, yếu tố hợp thành đối tượng nghiên cứu. Hình thức đối tượng
nghiên cứu biểu thị qua cách thức liên kết của những mặt, những yếu tố,
những quá trình ấy. “Phương pháp ý thức vhình thức của sự vận động
bên trong của nội dung” (Hêghen)
Ba là, hiệu quả của phương pháp nghiên cứu khoa học chịu schi
phối của cách thức tổ chức, phối hợp có kế hoạch các hoạt động nghiên cứu.
Phương pháp nghiên cứu khoa học một hoạt động kế hoạch được tổ
chức một cách hợp để đạt được các mục bộ phận, hướng tới đạt mục đích
chung của hoạt động nghiên cứu.
Bốn là, hiệu quả của phương pháp nghiên cứu khoa học luôn gắn với
mức độ hỗ trợ của các công cụ phương tiện kỹ thuật. Phương tiện kỹ
thuật phù hợp, hiện đại sẽ tạo thuận lợi cho một phương pháp triển khai hiệu
quả ngược lại. Do vậy, lựa chọn phương tiện phụ trợ phương pháp ngày
càng vai trò quan trọng khi bàn đến tính hiệu qu của phương pháp
nghiên cứu.
2. Phân loại phương pháp nghiên cứu khoa học
8
Các phương pháp nghiên cứu khoa học rất phong phú đa dạng. Sự
phân loại hợp lý các phương pháp nghiên cứu khoa học là cơ sở cho việc lựa
chọn, vận dụng sáng tạo phương pháp trong thực hiện công trình nghiên
cứu của nhà khoa học.
Dựa trên phạm vi áp dụng phương pháp được chia thành: Phương
pháp riêng - phương pháp áp dụng cho từng ngành khoa học; Phương pháp
chung - phương pháp áp dụng cho nhiều ngành khoa học; Phương pháp phổ
biến - phương pháp áp dụng cho mọi ngành khoa học, cho toàn bộ hoạt động
nhận thức thực tiễn của con người. Các phương pháp phổ biến chính
các quan điểm, nguyên tắc của triết học, trước hết của phép biện
chứng - phương pháp biện chứng. Các phương pháp biện chứng được xây
dựng từ nội dung tri thức chứa trong các nguyên lý, quy luật, phạm tcủa
phép biện chứng duy vật, và chúng tác động trong sự hỗ trợ lẫn nhau.
Dựa trên lĩnh vực áp dụng, phương pháp được chia thành: Phương
pháp hoạt động thực tiễn - phương pháp áp dụng trong lĩnh vực hoạt động
thực tiễn cải tạo thế giới của con người; Phương pháp nhận thức khoa học -
phương pháp áp dụng trong quá trình nghiên cứu khoa học.
Theo lý thuyết thông tin v quy trình nghiên cu mt đ tài khoa
hc, phương pháp đưc chia làm 3 nhóm: nhóm phương pháp thu thp
thông tin, nhóm phương pháp x lý thông tin và nhóm phương pháp
trình bày, din đt thông tin nghiên cu.
B. Các phương pháp nghiên cứu khoa học
I. Một số phương pháp nghiên cứu khoa học phân loại theo logic biện
chứng
Dựa trên sở có tính nguyên tắc của nhận thức luận mác xít và logic
biện chứng, người ta chia thành các phương pháp nhận thức khoa học thành:
phương pháp phân tích - tổng hợp; phương pháp lịch sử - logic; phương
9
pháp quy nạp - diễn dịch…Các phương pháp nhận thức khoa học không tách
rời, loại trừ nhau mà quan hệ biện chứng với nhau, bổ sung cho nhau
trong quá trình nhận thức chân lý. Mỗi phương pháp nhận thức vị trí, vai
trò nhất định, áp dụng hiệu quả cho mỗi loại đối tượng nghiên cứu nhất định
phù hợp trong tính lịch sử - cụ thể của đối tượng; Thành công trong
nghiên cứu chỉ thể đạt được khi chủ thể sử dụng hợp lý, tổng hợp các
phương pháp. Việc cào bằng trong đánh giá vị trí vai trò của mỗi phương
pháp nhận thức hay cương điệu phương pháp này, hạ thấp phương pháp kia
chắc chăn dẫn đến những sai lầm trong nhận thức khoa học.
1. Phương pháp phân tích và tổng hợp
Phân tích là phương pháp phân chia cái toàn bộ ra thành từng bộ phận
để đi sâu nhận thức các bộ phận đó. Còn tổng hợp phương pháp thống
nhất các bộ phận đã được phân tích nhằm nhận thức cái toàn bộ.
Phân tích tổng hợp hai phương pháp nhận thức đối lập nhưng
thống nhất với nhau giúp tìm hiểu đối tượng như một chỉnh thể toàn vẹn.
Không phân tích tkhông hiểu được những cái bphận cấu thành cái
toàn bộ và ngược lại, không tổng hợp thì không hiểu cái toàn bộ như một
chỉnh thể được tạo thành như thế nào từ những cái bộ phận nào. vậy,
muốn hiểu thực chất của đối tượng mà chỉ có phân tích hoặc chỉ có tổng hợp
không thôi thì chưa đủ mà phải kết hợp chúng với nhau. Tuy nhiên, trong
một số trường hợp nghiên cứu nhất định, bản thân mỗi phương pháp vẫn
ưu thế riêng của mình.
2. Phương pháp quy nạp và diễn dịch
Quy nạp phương pháp suy luận đi từ tiền đề chứa đựng tri thức
riêng đến kết luận chứa đựng tri thức chung. Còn diễn dịch phương pháp
suy luận đi từ tiền đề chứa đựng tri thức chung đến kết luận chứa đựng tri
thức riêng.
10
Quy nạp diễn dịch hai phương pháp nhận thức đối lập nhưng
thống nhất với nhau giúp phát hiện ra những tri thức mới về đối tượng.
Sự đối lập của quy nạp và diễn dịch thể hiện chỗ: Quy nạp được
dùng để khái quát các tài liệu quan sát, thí nghiệm nhằm xây dựng các giả
thuyết, nguyên lý, định luật tổng quát của khoa học, vậy quy nạp, đặc biệt
quy nạp khoa học, giá trị lớn trong khoa học thực nghiệm. Diễn dịch
được dùng để cụ thể hóa các giả thuyết, nguyên lý, định luật tổng quát của
khoa học trong các điều kiện tình hình cụ thể, vậy diễn dịch, đặc biệt
phương pháp giả thuyết - diễn dịch, phương pháp tiên đề, có giá trị lớn trong
khoa học lý thuyết.
Sự thống nhất của quy nạp diễn dịch thể hiện chỗ: Quy nạp xây
dựng tiền đề cho diễn dịch, còn diễn dịch bổ sung thêm tiền đề cho quy nạp
để thêm chắc chắn. Không quy nạp thì không hiểu được cái chung tồn tại
trong cái riêng như thế nào, ngược lại, không diễn dịch thì không hiểu
cái riêng liên hệ với cái chung ra sao. vậy, muốn hiểu thực chất của
đối tượng chỉ quy nạp hoặc chỉ diễn dịch không thôi thì chưa đủ
mà phải kết hợp chúng với nhau. Tuy nhiên, trong một số trường hợp nghiên
cứu nhất định, bản thân mỗi phương pháp vẫn có ưu thế của riêng mình.
3. Phương pháp lịch sử - logic
Lịch s là phạm trù dùng để chỉ quá trình phát sinh, phát triển tiêu
vong của sự vật trong tính đa dạng, sinh động của . n lôgích phạm
trù dùng để chỉ tính tất yếu - quy luật của sự vật (lôgích khách quan) hay
mối liên hệ tất yếu giữa các tư tưởng (lôgích chủ quan). Phương pháp lịch sử
phương pháp đòi hỏi phải tái hiện lại trong duy quá trình lịch s- cụ
thể với những chi tiết của nó, nghĩa phải nắm lấy sự vận động, phát triển
lịch sử của sự vật trong toàn bộ tính phong phú của nó. Phương pháp lôgích
phương pháp đòi hỏi phải vạch ra bản chất, tính tất nhiên - quy luật của
11
quá trình vận động, phát triển của sự vật dưới hình thức trừu tượng khái
quát của nó, nghĩa phải loại bcái ngẫu nhiên, vụn vặt ra khỏi tiến trình
nhận thức sự vận động, phát triển của sự vật.
Phương pháp lịch sử phương pháp lôgích hai phương pháp
nghiên cứu đối lập nhau nhưng thống nhất biện chứng với nhau giúp xây
dựng hình ảnh cụ thể sâu sắc về sự vật. Bởi vì, muốn hiểu bản chất
quy luật của sự vật thì phải hiểu lịch sử phát sinh, phát triển của nó, đồng
thời nắm được bản chất quy luật của sự vật thì mới nhận thức được
lịch scủa một cách đúng đắn sâu sắc. Khi nghiên cứu cái lịch sử,
phương pháp lịch sử cũng phải nắm lấy sợi dây” lôgích của đthông
qua đó mà phân tích các sự kiện, biến cố lịch sử. Còn khi tìm hiểu bản chất,
quy luật, phương pháp lôgích cũng không thể không dựa vào các tài liệu lịch
sử để uốn nắn, chỉnh chúng. Tuy nhiên, tuỳ theo đối tượng nhiệm vụ
nghiên cứu mà nhà khoa học có thể sử dụng phương pháp nào là chủ yếu.
4. Phương pháp đi từ cụ thể đến trừu tượng từ trừu tượng đến cụ
thể.
Cái cụ thể phạm trù dùng để chỉ sự tồn tại trong tính đa dạng. Cái
trừu tượng phạm tdùng để chỉ kết quả của sự trừu tượng hóa tách một
mặt, một mối liên hệ nào đó ra khỏi cái tổng thể phong phú đa dạng của sự
vật. vậy, cái trừu tượng một bphận, một mặt của cái cụ thể, là một
bậc thang trong quá trình xem xét cái cụ thể (khách quan). Từ những cái trừu
tượng tư duy tổng hợp lại thành cái cụ thể (trong tư duy).
Nhận thức khoa học sự thống nhất của hai quá trình nhận thức đối
lập: Từ cụ thể (cảm tính) đến trừu tượng Từ trừu tượng đến cụ thể (trong
duy). Từ cụ thể (cảm tính) đến trừu tượng phương pháp đòi hỏi phải
xuất phát từ những tài liệu cảm nh thông qua phân tích xây dựng các khái
niệm đơn giản, những định nghĩa trừu tượng phản ánh từng mặt, từng thuộc
12
tính của sự vật. Từ trừu tượng đến cụ thể (trong duy) phương pháp đòi
hỏi phải xuất phát từ những khái niệm đơn giản, những định nghĩa trừu
tượng thông qua tổng hợp biện chứng đi đến cái cụ thể (trong tư duy.
Mỗi phương pháp nêu trên vị trí khác nhau trong quá trình nhận
thức chân khách quan. Mỗi phương pháp tính độc lập nhưng chúng
thống nhất trong quá trình nhận thức sự vật. Chúng hỗ trợ, bổ sung cung
cấp những tri thức thu được để quá trình nhận thức đạt đến chân lý.
II. Các phương pháp nghiên cứu khoa học phân loại theo phương thức
quan sát
Quan sát phương pháp tri giác mục đích, kế hoạch một sự
kiện, một hiện tượng, quá trình nhằm thu thập thông tin về skiện, hiện
tượng hay quá trình ấy. Quá trình quan sát được tiến hành theo trình tự. Thứ
nhất, xác định đối tượng quan sát, các phương diện cụ thể cần quan sát trên
cơ sở mục tiêu nghiên cứu của đề tài. Thứ hai, lập kế hoạch về thời gian, địa
điểm, số lượng đối tượng, người quan sát. Thứ ba, lựa chọn phương thức
quan sát, phương tiện quan sát tiến hành quan sát. Cuối cùng xử
thông tin thu nhận được từ quan sát.
Quan sát là phương thức cơ bản để nhận thức sự vật. Quan sát được sử
dụng trong phát hiện vấn đề nghiên cứu, xây dựng giả thuyết và kiểm chứng
giả thuyết nghiên cứu. Quan sát đem lại cho người nghiên cứu những tài liệu
cụ thể, cảm tính, trực quan song có ý nghĩa khoa học rất lớn.
Quan sát có nhiều loại. Theo mức đchuẩn bị, quan sát được phân
chia thành quan sát có chuẩn bị trước và quan sát bất chợt. Theo quan hệ của
người quan sát đối tượng quan sát không tham dquan sát tham
dự. Theo mục đích nắm bắt đối tượng quan sát hình thái, quan sát chức
năng. Theo mục đích xử lý thông tin có quan sát mô tả và quan sát phân tích.
Theo tính liên tục của quan sát, thể phân chia thành quan sát định kỳ,
13
quan sát chu kỳ, quan sát liên tục. Theo phương thức quan sát quan sát
trực tiếp và quan sát gián tiếp…
Căn cứ vào phương thức quan sát, thể phân loại phương pháp
nghiên cứu thành các nhóm: phương pháp nghiên cứu tài liệu, phương pháp
thực nghiệm và phương pháp phi thực nghiệm.
1. Phương pháp nghiên cứu tài liệu
a. Tài liệu khoa học
Tài liệu vật thcung cấp những chỉ dẫn thông tin. Tài liệu gồm hai
đặc trưng cơ bản.
Đặc trưng về mặt vật chất thể hiện ở chất liệu và tín hiệu sử dụng.
Đặc trưng tri thức thể hiện nội dung của tài liệu, mức độ xử lý
phổ biến của tài liệu. Tùy theo mức độ xử nội dung, người ta phân biệt
các loại tài liệu như tài liệu sơ cấp, tài liệu thứ cấp…
Tài liệu khoa học những văn bản hoặc vật thể chứa đựng những
thông tin khoa học giúp nhà nghiên cứu tìm hiểu một vấn đề khoa học nào
đó. Tài liệu khoa học không chỉ phương tiện công bkết quả nghiên cứu
mà còn là cơ sở khẳng định quyền tác giả của nhà nghiên cứu.
Phương pháp nghiên cứu tài liệu phương pháp thu thập thông tin
khoa học trên snghiên cứu các tài liệu đã có, thông qua các thao tác
duy để rút ra kết luận khoa học.
Mục đích của nghiên cứu tài liệu nhằm nhận dạng bộ quy luật
chung của đối tượng nghiên cứu. Những quy luật này đã được trình bày
trong tài liệu của những nhà nghiên cứu trước. Nhà nghiên cứu thu thập,
tổng hợp chúng theo một trình tự logic nhất định để làm tái hiện những quy
luật đó.
14
Bản chất của phương pháp nghiên cứu tài liệu nghiên cứu các tài
liệu đã tích lũy trong quá khứ, đúc kết, tìm kiếm thông tin về quy luật diễn ra
trong quá khứ có liên quan đến vấn đề nghiên cứu.
Đối với đề tài nghiên cứu khoa học hội nhân văn, phương pháp
nghiên cứu tài liệu được sử dụng phổ biến vị tvai trò quan trọng
trong việc tạo dựng cơ sở lý luận cho một đề tài nghiên cứu.
Đặc trưng của nhóm phương pháp này là người nghiên cứu không
bất kỳ một squan sát trực tiếp nào lên đối tượng nghiên cứu. Song phương
pháp này lại đòi hỏi nhà nghiên cứu phải có thuyết “nền” làm căn cứ xuất
phát như thế giới quan, quan điểm, lập trường tưởng để thái độ tiếp
nhận và cách thức xử lý thông tin phù hợp.
b. Các phương pháp nghiên cứu tài liệu
Nghiên cứu tài liệu bao gồm tập hợp các phương pháp: phân loại tài
liệu, phân tích tài liệu, đọc, ghi chép và tóm tắt tài liệu khoa học.
- Phương pháp thu thập và phân loại tài liệu
+ Thu thập tài liệu là bước đầu tiên, cần thiết và quan trọng cho bất kỳ
hoạt động nghiên cứu khoa học nào. Việc thu thập tài liệu giúp nhà nghiên
cứu tránh được sự trùng lặp với các nghiên cứu đã hoàn thành; Người nghiên
cứu thêm kiến thức sâu, rộng vlĩnh vực nghiên cứu đang theo đuổi, làm
rõ hơn đề tài nghiên cứu đã lựa chọn.
Căn cứ vào vấn đề nghiên cứu xuất phát từ giả thuyết khoa học,
nhà nghiên cứu tiến hành xác định nguồn tài liệu, tìm kiếm lựa chọn
những tài liệu cần thiết nhằm m sang những vấn đề luận thực tiễn
để chứng minh cho giả thuyết khoa học của mình.
Về nguyên tắc, tất cả những tài liệu chứa đựng các thông tin liên quan
đến nhiệm vnghiên cứu của đề tài đều phải được thu thập. Song hiện nay,
sự phát triển khoa học cùng với cuộc cách mạng khoa học công nghệ, cách
15
mạng thông tin diễn ra trên toàn cầu tác động mạnh mtới quy luật tồn tại
phát triển tài liệu khoa học. Người ta dự đoán cứ sau 10 năm số tài liệu
khoa học lại tăng gấp đôi và tiếp tục gia tăng theo hàm số mũ.
Bên cạnh đó, quy luật về sự tập trung tản mạnh thông tin cũng tác
động đến stồn tại của tài liệu khoa học. Quy luật này hình thành do quá
trình phân lập tích hợp khoa học. Quá trình phân lập các khoa học dẫn
đến việc hình thành các tài liệu chuyên môn hẹp. Quá trình tích hợp khoa
học lại dẫn đến việc hình thành các tài liệu khoa học liên ngành.
Tính hữu ích của một tài liệu khoa học được xác định bằng giá trị nội
dung, tính thời s ng như khả năng tương thích của đối với vấn đề
nghiên cứu mà nhà khoa học quan tâm. Đối với một vấn đề nghiên cứu khoa
học xã hội và nhân văn, tính hữu ích của thông tin và giá trị của tài liệu trùng
khớp khi tương đồng với mục tiêu nhiệm vụ nghiên cứu cụ thể. Điều
này phân biệt với việc xem xét gia trị và tính hữu ích của thông tin khoa học
công nghệ kthuật. Thông thường, tài liệu khoa học xã hội tuổi thọ
giá trị dài hơn. Chẳng hạn, tài liệu tuổi thọ hang thế kỷ hoặc xa hơn như
tài liệu lịch sử, tài liệu triết học… Thậm chí, giá trị của tài liệu đó còn được
đo bằng tuổi thọ của nó.
+ Phân loại tài liệu
Phân loại tài liệu được tiến hành sau khi thu thập tài liệu để chuẩn bị
cho quá trình đọc, khai thác nội dung.
Phân loại tài liệu phương pháp sắp xếp tài liệu khoa học thành hệ
thống logic chặt chẽ theo từng mặt, từng đơn vị kiến thức, từng vấn đề khoa
học có cùng dấu hiệu theo mục đích sử dụng của nhà nghiên cứu.
Các hình thức phân loại phổ biến hiện nay là phân loại theo tên tác
giả, phân loại theo thời gian công bố, hình thức công bố. Ngoài ra còn nhiều
16
cách phân loại khác, tùy theo mục đích nghiên cứu của đề tài nhà nghiên
cứu phân loại cho phù hợp.
- Phân tích và tổng hợp tài liệu
+ Phân tích tài liệu
Phân tích tài liệu phương pháp nghiên cứu tài liệu về một chủ đề
bằng cách tách chúng thành từng bộ phận, từng mặt, từng vấn đề để hiểu
chúng một cách sâu sắc, tìm thông tin phục vụ vấn đề nghiên cứu.
Phân tích tài liệu nhằm xác định độ tin cậy, tính khách quan, tính cập
nhật của tài liệu, giới hạn và phạm vi của vấn đề mà tài liệu đề cập đến. Mục
đích của việc phân tích tài liệu là thông qua phân tích hình thức và nội dung
tài liệu, nhà nghiên cứu xác định tính hữu ích của tài liệu và phạm vi thể
kế thừa nội dung tài liệu đó đối với đề tài họ triển khai. Thông qua việc phân
tích hình thức tài liệu, xác định nguồn tài liệu, tác giả, nơi công bố, hình
thức công bố tài liệu. Trên sở phân tích tài liệu, nhà nghiên cứu xác định
mức độ phải xử lý tài liệu theo mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu của mình.
Sau khi phân tích các dấu hiệu hình thức, người nghiên cứu tiến hành
phân tích một số tiêu chí bản về nội dung tài liệu. Theo cách này, người
nghiên cứu lập một phiếu phân tích tài liệu đối với mỗi tài liệu hay nhóm tài
liệu cụ thể. Căn cứ vào mục tiêu, nhiệm vụ nghiên cứu khung thuyết
của đề tài để thiết kế nội dung của mỗi phiếu phân tích tài liệu. Phiếu phân
tích tài liệu xây dựng theo các tiêu chí: chủ đề chính của tài liệu, nội dung cơ
bản, mục đích, phạm vi nghiên cứu cũng như mức độ sử dụng của thông tin
trong tài liệu.
+ Tổng hợp tài liệu
Tổng hợp tài liệu là phương pháp liên kết từng mặt, từng bộ phận
thông tin từ tài liệu từ các tài liệu thu thập được nhằm tạo ra một cách hiểu
đầy đủ sâu sắc về chđnghiên cứu. Tổng hợp tài liệu được thực hiện
17
trên nhiều tài liệu phong phú về đối tượng. Tổng hợp tài liệu được thực hiện
trên sở kết qu phân tích tài liệu, cho phép nhà nghiên cứu những
thông tin toàn diện và khái quát về vấn đề nghiên cứu dựa trên những tài liệu
đã có.
Tổng hợp tài liệu nhằm mục đích xác định tính tương thích của tài liệu
so với mục tiêu nhiệm vụ nghiên cứu đặt ra, lựa chọn tư liệu cần đủ, sắp
xếp chúng theo tiến trình thời gian hay quan hệ nhân quả.
Phân tích và tổng hợp tài liệu hai phương pháp chiều hướng đối
lập nhau song thống nhất biện chứng bổ trợ cho nhau, giúp nnghiên
cứu nắm bắt được thông tin xung quanh vấn đề nghiên cứu một cách sâu sắc
và khái quát.
- Phương pháp đọc và ghi chép tài liệu
Đọc ghi chép tài liệu là một công đoạn trong phương pháp nghiên
cứu tài liệu khoa học. Cách thức đọc ghi chép tài liệu nói lên nhà nghiên
cứu sẽ sử dụng, tiếp thu, ghi nhớ thông tin tài liệu đó như thế nào.
+ Đọc tài liệu
Phương pháp đọc tài liệu gắn liền với hành vi duy. Yêu cầu đạt
được khi đọc tài liệu ghi nhớ được tên tài liệu, nguồn, tác giả tài liệu, nội
dung bản, những dữ kiện được đề cập đến trong tài liệu, khả năng sử
dụng chúng trong giải quyết vấn đề khoa học của nnghiên cứu. Đối với
từng tài liệu, căn cứ vào mục tiêu nghiên cứu của từng đề tài cụ thể có thể có
nhiều cách đọc khác nhau.
Đọc thông thường đối với tài liệu không cần thiết phải qghi nhớ
chú ý nhiều.
Đọc nhanh: đọc tài liệu phổ biến thông tin khoa học với tốc độ nhanh,
đồng thời đặt ra yêu cầu ghi nhớ những thông tin căn bản trong tài liệu.
18
Đọc trượt là kiểu đọc chọn lọc, khi đọc mắt lướt theo toàn bộ nội dung
tài liệu nhưng chỉ chú ý đến những đoạn cần thiết.
Đọc quét cũng một kiểu đọc chọn lọc. Khi đọc mắt không lướt trên
toàn bộ nội dung tài liệu mà chỉ lướt theo những phần có thể có thông tin ẩn.
Chẳng hạn khi nhà nghiên cứu tìm những số liệu, dữ kiện cần thiết trong các
ch tra cứu.
Đọc sâu đối với những tài liệu chuyên môn phức tạp, yêu cầu nhà
nghiên cứu phải suy nghĩ và phân tích ngay trong quá trình đọc.
Để thể thu được những thông tin hiệu quả, nhà nghiên cứu còn cần
biết điều chỉnh tốc độ đọc, phương pháp đọc một cách phù hợp. Thông
thường, trình tự đọc một tài liệu là: đọc tổng quát tài liệu nhằm xác định
những phần, những trang phải đọc kỹ; Đọc kỹ những phần đã đánh dấu và
tiến hành ghi chép.
+ Ghi chép tài liệu
Sau khi đọc lướt toàn bộ tài liệu, nhà khoa học tiến hành đọc kỹ và ghi
chép những nội dung tài liệu ý nghĩa với nhà khoa học và liên qua đến
vấn đề nghiên cứu của mình. Đối với các tài liệu khoa học, thể tiến hành
ghi chép nội dung tài liệu theo những quy tắc ghi nhớ. Những ghi chép ban
đầu này chính là vật liệu thông tin đầu tiên làm tiền đề cho các nhà khoa học
tiến hành xử thông tin trong quá trình nghiên cứu tài liệu. Đó là thực hiện
tóm tắt tài liệu khoa học.
- Phương pháp thực hiện tóm tắt khoa học
Tóm tắc khoa học thường được thực hiện sau khi nhà nghiên cứu tiến
hành đọc ghi chép tài liệu.Bản tóm tắt thực hiện trên sở các kết quả
thu được của việc đọc và ghi chép tài liệu.
Mục đích của việc thực hiện tóm tắt khoa học đối với tài liệu nhằm
loại bỏ những thông tin không cần thiết trong những tài liệu đã thu thập
19
được, đọng làm bật lên nội dung của tài liệu thích ứng cần thiết
với vấn đề nghiên cứu. Đây ng công việc xử thông tin cần thiết, tích
lũy tri thức cho nhà nghiên cứu.
Tùy theo nội dung vấn đề nghiên cứu, tùy theo nội dung thông tin
trong từng tài liệu khoa học nhà nghiên cứu thể tiến hành tóm tắt tài
liệu theo từng mức độ khác nhau về độ dài, mức độ chi tiết, có đánh giá, p
phán hay không, tóm tắt toàn bộ tài liệu hay từng phần tài liệu.
Tóm tắt lược thuật văn bản do nhà nghiên cứu thực hiện nhằm ghi
chép lại một cách đọng, trung thực thông tin về kết quả nghiên cứu của
một hay một nhóm tài liệu đã được phân loại có lien quan trực tiếp đến mục
tiêu, nhiệm vụ nghiên cứu cần thực hiện của một đề tài khoa học.
Bản lược thuật văn bản đúc kết một cách đọng nội dung của tài
liệu. Trong đó phải nêu bật được nội dung chủ đề của tài liệu, thời gian, bối
cảnh, địa điểm của sự việc, sự kiện, các phương pháp được tác giả tài liệu sử
dụng, những kết luận và triển vọng của vấn đề tác giả tài liệu nêu lên.
Bản lược thuật đạt trình độ khách quan, khoa học, làm căn cứ tin cậy
của đề tài khi được thực hiện theo những tiêu chuẩn sau: vấn đề tài liệu
nêu lên phải được lược thuật đầy đủ theo trình tự thời gian, đảm bảo tính lịch
sử, tính logic, tránh lược thuật các vấn đề bằng cách tách rời, lập vấn đề
đó khỏi bối cảnh tồn tại của nó. Bản lược thuật tài liệu cần ngắn gọn, súc
tích về nội dung, đảm bảo tính chính xác của các thuật ngữ tài liệu trình
bày.
Tóm tắt tổng thuật là bản trình bày tổng hợp về một hay một số vấn đề
lien quan đến mục tiêu, nhiệm vcủa một đề tài nghiên cứu dựa trên nhiều
tài liệu cùng đề cập đến các vấn đề đó.
Bản tóm tắt tổng thuật cũng cần đạt được những yêu cầu của bản tóm
tắt lược thuật. Đồng thời sự liên hệ, so sánh, bình luận, phê phán một
20
cách bộ các thông tin đó. Nhà nghiên cứu thể đưa ra dự kiến về mục
đích, mức đphạm vi tham khảo. Bản tổng thuật tài liệu cần đảm bảo
tính khách quan khoa học của các tài liệu khảo cứu.
Bản tóm tắt lược thuật tổng thuật tài liệu căn cứ, dữ liệu khoa
học quan trọng để nhà nghiên cứu thông qua hoạt động duy sang tạo của
mình hình thành các ý tưởng nghiên cứu, tìm kiếm luận cứ chứng minh giả
thuyết. Bản tóm tắt lược thuật hay tổng luận tài liệu do người nghiên cứu
thực hiện khác với bản tổng thuật tài liệu do các bản thông tin thực hiện
nhằm mục đích phổ biến thông tin.
Bản tổng thuật tài liệu này cũng khác với tổng luận kết quả nghiên
cứu thực hiện sau khi hoàn thành đề tài, sản phẩm chính của một đề tài.
Bản tổng hợp vấn đnghiên cứu đề cập đề cập đến trong phần này chỉ dừng
ở các sản phẩm trung gian trong nghiên cứu một đề tài.
II. Phương pháp nghiên cứu thực nghiệm
1. Khái niệm và đặc điểm của phương pháp nghiên cứu thực nghiệm
a. Khái niệm
Thực nghiệm phương pháp thu thập thông tin về đối tượng được
thực hiện bởi những quan sát trực tiếp trong điều kiện gây biến đổi cho đối
tượng khảo sát một cách có kiểm soát và chủ đích.
Thực chất của phương pháp thực nghiệm nghiên cứu dựa trên sự
mô phỏng các quá trình hiện thực. Thực nghiệm giúp nhà khoa học chủ động
tạo ra các hoạt động, các biến chuyển giúp nhà nghiên cứu quan sát mô hình
hay môi trường giả định thông qua sự mô phỏng các quá trình diễn ra trong
thực tế.
Mục đích của thực nghiệm hội quá trình tạo lập, thiết kế
hình, thiết chế hội cách thức tác động tính quy chuẩn, mẫu mực để
nghiên cứu, thử nghiệm, điều chỉnh nhân rộng, đưa vào đời sống hội

Preview text:

HỌC VIỆN BÁO CHÍ VÀ TUYÊN TRUYỀN
KHOA GIÁO DỤC ĐẠI CƯƠNG & NGHIỆP VỤ SƯ PHẠM
PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
(Giáo trình lưu hành nội bộ dành cho bậc đại học)
Người biên soạn: TS Phan Thanh Hải Hà Nội 2020 1 HƯỚNG DẪN HỌC 1. Tài liệu học tập:
TS. Phan Thanh Hải (Chủ biên, 2015) Giáo trình
Phương pháp nghiên cứu Khoa học xã hội và Nhân
văn, Học viện Báo chí và Tuyên truyền
PGS,TS. Đỗ Công Tuấn, Lý luận và phương pháp nghiên cứu khoa học
Vũ Cao Đàm (1998), Phương pháp nghiên cứu khoa
học, Nxb. Khoa học Kỹ thuật, Hà Nội.
2. Phương pháp học tập:
Ho ̣c đúng li ̣ch trình của môn ho ̣c, làm bài tập đầ y
đủ và tham gia thảo luận trên lớp.
Sinh viên làm việc theo nhóm và trao đổi với giảng
viên trư ̣c tiếp ta ̣i lớp ho ̣c hoặc qua email.
Sinh viên đọc và nghiên cứu trước tài liệu trước khi đến lớp 2 CHƯƠNG III PHƯƠNG PHÁP LUẬN
VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU KHOA HỌC
A. Tổng quan về phương pháp và phương pháp luận nghiên cứu khoa học
I. Phương pháp luận nghiên cứu khoa học a. Khái niệm
Thuật ngữ phương pháp luận bắt nguồn từ tiếng Hy lạp - methodology
với nghĩa là lý luận về phương pháp. Hiện nay có nhiều các hiểu khác nhau
về phương pháp luận. Chẳng hạn:
- Phương pháp luận được hiểu như là cơ sở lý luận, cương lĩnh
lý luận của hoạt động nhận thức khoa học. Nó điều chỉnh hoạt động
của con người đảm bảo cho tính có mục đích của hoạt động đó và định hướng cho nó.
- Phương pháp luận là sự tổng hợp, là hệ thống, là “tổ hợp” các
phương pháp nghiên cứu đã được sử dụng trong bộ môn khoa học này
hay bộ môn khoa học khác.
- Đồng nhất phương pháp luận với triết học, coi triết học là lý
luận vạn năng về phương pháp.
- Trong nhiều công trình nghiên cứu, phương pháp luận lại được
xem như cách tiếp cận nghiên cứu và xem nó là điểm tựa, cơ sở xuất
phát cho sự nghiên cứu, xác định và lựa chọn hướng nghiên cứu. 3
Các ý kiến khác nhau về phương pháp luận không phủ nhận
phương pháp luận là phạm trù thuộc về nhận thức, tư duy, có ý nghĩa
quan trọng trong mọi hoạt động của con người. Phương pháp luận có
quan hệ mật thiết với thế giới quan, với lý luận. Trong đó, phương
pháp luận và thế giới quan đều thể hiện những quan niệm, nguyên tắc
chung cho hoạt động nhận thức và thực tiễn của con người. Thế giới
quan là quan niệm của con người về thế giới. Trong đó, chỉ những
quan niệm mang tính hệ chuẩn (có tính nguyên tắc, có tính dẫn đường,
định hướng…) của thế giới quan mới trở thành nội dung của phương pháp luận.
Phương pháp luận và lý luận là hai phạm trù cùng trình độ, phản
ánh bản chất, tính quy luật của thế giới khách quan. Song không thể
đồng nhất lý luận và phương pháp luận bởi chỉ những nội dung lý luận
mang tính chuẩn mực (chung nhất, cơ bản nhất, có tính định hướng…)
mới trở thành nội dung của phương pháp luận – cái chi phối hoạt động
nhận thức và thực tiễn của con người.
Từ những cách tiếp cận khác nhau, có thể thấy phương pháp luận
nghiên cứu khoa học là lý luận về phương pháp nhận thức và cải tạo thế
giới. Phương pháp luận nghiên cứu là hệ thống quan điểm có tính nguyên
tắc mà nhà nghiên cứu coi là cơ sở, điểm xuất phát cho việc lựa chọn, sử
dụng các phương pháp nghiên cứu cũng như dự kiến phạm vi, mức độ sử
dụng phương pháp ấy để đạt được mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu.
Bất kỳ một nghiên cứu nào cũng thực hiện trên cơ sở phương pháp
luận nghiên cứu nhất định.
Phương pháp luận là kim chỉ nam hướng dẫn nhà nghiên cứu trên con
đường tìm tòi nghiên cứu. Nắm vững phương pháp luận là điều kiện thiết
yếu để thành công trong nghiên cứu khoa học. 4
b. Các cấp độ phương pháp luận nghiên cứu khoa học
- Phương pháp luận chung nhất là phương pháp luận triết học - những
quan điểm, nguyên tắc chung nhất, xuất phát điểm cho việc lựa chọn và sử
dụng các phương pháp bộ môn và phương pháp luận chung, chi phối cả
phương pháp nhận thức và phương pháp hoạt động thực tiễn.
Trong hoạt động nghiên cứu khoa học lĩnh vực xã hội và nhân văn ở
nước ta, phương pháp luận chung nhất là phương pháp biện chứng mác xít.
Triết học Mác Lê nin bao gồm những quan điểm có tính nguyên tắc về thế
giới quan và phương pháp luận cho hoạt động nhận thức và thực tiễn của
con người. Có thể kể đến những nguyên tắc căn bản như nguyên tắc khách
quan, quan điểm toàn diện, quan điểm lịch sử - cụ thể…
- Phương pháp luận chung là những quan điểm, nguyên tắc xác định
các phương pháp nhằm giải quyết các vấn đề của nhóm các ngành khoa học
có những điểm chung nhất định nào đó. Chẳng hạn, đối với việc nghiên cứu
khoa học nhóm ngành khoa học xã hội và nhân văn thì quan điểm giai cấp,
tiếp cận lợi ích… là những nguyên tắc không thể xa rời.
- Phương pháp luận riêng hay phương pháp luận bộ môn là những
luận điểm, lý thuyết cơ bản và góc tiếp cận đặc thù của mỗi ngành khoa học,
mỗi đề tài khoa học cụ thể. Chẳng hạn, phương pháp luận sử học, phương
pháp luận văn học… là phương pháp luận mà mỗi đề tài cụ thể luôn có. Nó
là những nguyên tắc tương ứng, phù hợp với đối tượng mà người nghiên cứu xác định.
Các cấp độ phương pháp luận độc lập tương đối, hợp thành hệ thống
khoa học về phương pháp chỉ đạo việc lựa chọn và sử dụng các phương pháp
cụ thể sao cho khoa học, hiệu quả. Phương pháp luận chung đóng vai trò là
nguyên tắc, căn cứ để người nghiên cứu lựa chọn, sử dụng các phương pháp
nghiên cứu nhằm giải quyết những vấn đề cụ thể của ngành khoa học đó. 5
II. Phương pháp nghiên cứu khoa học
1. Phương pháp và các yếu tố chi phối phương pháp
Thuật ngữ phương pháp bắt nguồn từ tiếng Hy lạp Methodos với
nghĩa là con đường và công cụ nhận thức và cải biến hiện thực của chủ thể.
Ở mỗi lĩnh vực hoạt động và cách tiếp cận, cách hiểu và sử dụng thuật ngữ
phương pháp cũng khác nhau. Theo nghĩa chung nhất, phương pháp là toàn
bộ những cách thức mà con người lựa chọn và sử dụng để tác động vào đối
tượng nhằm đạt được mục đích của chủ thể hoạt động.
Phương pháp nghiên cứu khoa học là tập hợp những cách thức, biện
pháp thu thập thông tin về đối tượng, xử lý các thông tin đó để đạt được các
mục tiêu nghiên cứu đã xác định và làm sáng tỏ giả thuyết nghiên cứu.
Phương pháp nghiên cứu khoa học hình thành và chịu sự chi phối của nhiều yếu tố.
Một là, sự tương tác giữa chủ thể và khách thể nghiên cứu. Chủ thể
nghiên cứu với mức độ tri thức, kinh nghiệm, khả năng hoạt động…làm nên
tính chủ quan của việc xác định, lựa chọn và sử dụng phương pháp nghiên
cứu khoa học. Khách thể nghiên cứu với đặc điểm, trình độ kết cấu, quy luật
khách quan chi phối đối tượng quy định tính khách quan của những phương
pháp nghiên cứu. Nói khác đi, việc phát hiện ra phương pháp, lựa chọn
phương pháp và sử dụng phương pháp cũng như việc bổ sung, hoàn thiện
phương pháp thuộc về những nỗ lực chủ quan, sự sáng tạo của chủ thể. Song
nguồn gốc, nội dung, tính chất của phương pháp nghiên cứu lại chịu nhiều
chi phối của những yếu tố mang tính khách quan và thuộc về khách thể
nghiên cứu. Để có phương pháp nghiên cứu hiệu quả, nhà khoa học Bêcơn
cho rằng “con người muốn cải tạo thế giới nhưng trước hết phải hiểu những quy luật của nó”. 6
Hai là, phương pháp nghiên cứu khoa học chịu sự chi phối của mục
đích và nội dung nghiên cứu. Mục đích nghiên cứu sẽ quy định những
phương pháp nghiên cứu tương ứng. Muốn có được sự thành công trong
nghiên cứu, phương pháp phải phù hợp với mục đích nghiên cứu đã được
xác định. Thực tiễn và lịch sử phát triển khoa học đã chứng tỏ rằng, sau khi
xác định mục tiêu, vấn đề không kém phần quan trọng và khó khăn là tìm ra
phương pháp thích hợp để thực hiện mục tiêu ấy nhanh và hiệu quả nhất.
Mặt khác, không có phương pháp nghiên cứu vạn năng ứng với mọi
nội dung nghiên cứu. Sự thống nhất giữa nội dung và phương pháp thể hiện
ở logic phát triển của bản thân đối tượng nghiên cứu. Nội dung là tổng hợp
những mặt, yếu tố hợp thành đối tượng nghiên cứu. Hình thức đối tượng
nghiên cứu biểu thị qua cách thức liên kết của những mặt, những yếu tố,
những quá trình ấy. “Phương pháp là ý thức về hình thức của sự vận động
bên trong của nội dung” (Hêghen)
Ba là, hiệu quả của phương pháp nghiên cứu khoa học chịu sự chi
phối của cách thức tổ chức, phối hợp có kế hoạch các hoạt động nghiên cứu.
Phương pháp nghiên cứu khoa học là một hoạt động có kế hoạch được tổ
chức một cách hợp lý để đạt được các mục bộ phận, hướng tới đạt mục đích
chung của hoạt động nghiên cứu.
Bốn là, hiệu quả của phương pháp nghiên cứu khoa học luôn gắn với
mức độ hỗ trợ của các công cụ và phương tiện kỹ thuật. Phương tiện kỹ
thuật phù hợp, hiện đại sẽ tạo thuận lợi cho một phương pháp triển khai hiệu
quả và ngược lại. Do vậy, lựa chọn phương tiện phụ trợ phương pháp ngày
càng có vai trò quan trọng khi bàn đến tính hiệu quả của phương pháp nghiên cứu.
2. Phân loại phương pháp nghiên cứu khoa học 7
Các phương pháp nghiên cứu khoa học rất phong phú và đa dạng. Sự
phân loại hợp lý các phương pháp nghiên cứu khoa học là cơ sở cho việc lựa
chọn, vận dụng và sáng tạo phương pháp trong thực hiện công trình nghiên cứu của nhà khoa học.
Dựa trên phạm vi áp dụng phương pháp được chia thành: Phương
pháp riêng - phương pháp áp dụng cho từng ngành khoa học; Phương pháp
chung - phương pháp áp dụng cho nhiều ngành khoa học; Phương pháp phổ
biến - phương pháp áp dụng cho mọi ngành khoa học, cho toàn bộ hoạt động
nhận thức và thực tiễn của con người. Các phương pháp phổ biến chính là
các quan điểm, nguyên tắc của triết học, mà trước hết là của phép biện
chứng - phương pháp biện chứng. Các phương pháp biện chứng được xây
dựng từ nội dung tri thức chứa trong các nguyên lý, quy luật, phạm trù của
phép biện chứng duy vật, và chúng tác động trong sự hỗ trợ lẫn nhau.
Dựa trên lĩnh vực áp dụng, phương pháp được chia thành: Phương
pháp hoạt động thực tiễn - phương pháp áp dụng trong lĩnh vực hoạt động
thực tiễn cải tạo thế giới của con người; Phương pháp nhận thức khoa học -
phương pháp áp dụng trong quá trình nghiên cứu khoa học.
Theo lý thuyết thông tin về quy trình nghiên cứu một đề tài khoa
học, phương pháp được chia làm 3 nhóm: nhóm phương pháp thu thập
thông tin, nhóm phương pháp xử lý thông tin và nhóm phương pháp
trình bày, diễn đạt thông tin nghiên cứu.
B. Các phương pháp nghiên cứu khoa học
I. Một số phương pháp nghiên cứu khoa học phân loại theo logic biện chứng
Dựa trên cơ sở có tính nguyên tắc của nhận thức luận mác xít và logic
biện chứng, người ta chia thành các phương pháp nhận thức khoa học thành:
phương pháp phân tích - tổng hợp; phương pháp lịch sử - logic; phương 8
pháp quy nạp - diễn dịch…Các phương pháp nhận thức khoa học không tách
rời, loại trừ nhau mà có quan hệ biện chứng với nhau, bổ sung cho nhau
trong quá trình nhận thức chân lý. Mỗi phương pháp nhận thức có vị trí, vai
trò nhất định, áp dụng hiệu quả cho mỗi loại đối tượng nghiên cứu nhất định
và phù hợp trong tính lịch sử - cụ thể của đối tượng; Thành công trong
nghiên cứu chỉ có thể đạt được khi chủ thể sử dụng hợp lý, tổng hợp các
phương pháp. Việc cào bằng trong đánh giá vị trí vai trò của mỗi phương
pháp nhận thức hay cương điệu phương pháp này, hạ thấp phương pháp kia
chắc chăn dẫn đến những sai lầm trong nhận thức khoa học.
1. Phương pháp phân tích và tổng hợp
Phân tích là phương pháp phân chia cái toàn bộ ra thành từng bộ phận
để đi sâu nhận thức các bộ phận đó. Còn tổng hợp là phương pháp thống
nhất các bộ phận đã được phân tích nhằm nhận thức cái toàn bộ.
Phân tích và tổng hợp là hai phương pháp nhận thức đối lập nhưng
thống nhất với nhau giúp tìm hiểu đối tượng như một chỉnh thể toàn vẹn.
Không có phân tích thì không hiểu được những cái bộ phận cấu thành cái
toàn bộ và ngược lại, không có tổng hợp thì không hiểu cái toàn bộ như một
chỉnh thể được tạo thành như thế nào từ những cái bộ phận nào. Vì vậy,
muốn hiểu thực chất của đối tượng mà chỉ có phân tích hoặc chỉ có tổng hợp
không thôi thì chưa đủ mà phải kết hợp chúng với nhau. Tuy nhiên, trong
một số trường hợp nghiên cứu nhất định, bản thân mỗi phương pháp vẫn có ưu thế riêng của mình.
2. Phương pháp quy nạp và diễn dịch
Quy nạp là phương pháp suy luận đi từ tiền đề chứa đựng tri thức
riêng đến kết luận chứa đựng tri thức chung. Còn diễn dịch là phương pháp
suy luận đi từ tiền đề chứa đựng tri thức chung đến kết luận chứa đựng tri thức riêng. 9
Quy nạp và diễn dịch là hai phương pháp nhận thức đối lập nhưng
thống nhất với nhau giúp phát hiện ra những tri thức mới về đối tượng.
Sự đối lập của quy nạp và diễn dịch thể hiện ở chỗ: Quy nạp được
dùng để khái quát các tài liệu quan sát, thí nghiệm nhằm xây dựng các giả
thuyết, nguyên lý, định luật tổng quát của khoa học, vì vậy quy nạp, đặc biệt
là quy nạp khoa học, có giá trị lớn trong khoa học thực nghiệm. Diễn dịch
được dùng để cụ thể hóa các giả thuyết, nguyên lý, định luật tổng quát của
khoa học trong các điều kiện tình hình cụ thể, vì vậy diễn dịch, đặc biệt là
phương pháp giả thuyết - diễn dịch, phương pháp tiên đề, có giá trị lớn trong khoa học lý thuyết.
Sự thống nhất của quy nạp và diễn dịch thể hiện ở chỗ: Quy nạp xây
dựng tiền đề cho diễn dịch, còn diễn dịch bổ sung thêm tiền đề cho quy nạp
để thêm chắc chắn. Không có quy nạp thì không hiểu được cái chung tồn tại
trong cái riêng như thế nào, và ngược lại, không có diễn dịch thì không hiểu
cái riêng có liên hệ với cái chung ra sao. Vì vậy, muốn hiểu thực chất của
đối tượng mà chỉ có quy nạp hoặc chỉ có diễn dịch không thôi thì chưa đủ
mà phải kết hợp chúng với nhau. Tuy nhiên, trong một số trường hợp nghiên
cứu nhất định, bản thân mỗi phương pháp vẫn có ưu thế của riêng mình.
3. Phương pháp lịch sử - logic
Lịch sử là phạm trù dùng để chỉ quá trình phát sinh, phát triển và tiêu
vong của sự vật trong tính đa dạng, sinh động của nó. Còn lôgích là phạm
trù dùng để chỉ tính tất yếu - quy luật của sự vật (lôgích khách quan) hay
mối liên hệ tất yếu giữa các tư tưởng (lôgích chủ quan). Phương pháp lịch sử
là phương pháp đòi hỏi phải tái hiện lại trong tư duy quá trình lịch sử - cụ
thể với những chi tiết của nó, nghĩa là phải nắm lấy sự vận động, phát triển
lịch sử của sự vật trong toàn bộ tính phong phú của nó. Phương pháp lôgích
là phương pháp đòi hỏi phải vạch ra bản chất, tính tất nhiên - quy luật của 10
quá trình vận động, phát triển của sự vật dưới hình thức trừu tượng và khái
quát của nó, nghĩa là phải loại bỏ cái ngẫu nhiên, vụn vặt ra khỏi tiến trình
nhận thức sự vận động, phát triển của sự vật.
Phương pháp lịch sử và phương pháp lôgích là hai phương pháp
nghiên cứu đối lập nhau nhưng thống nhất biện chứng với nhau giúp xây
dựng hình ảnh cụ thể và sâu sắc về sự vật. Bởi vì, muốn hiểu bản chất và
quy luật của sự vật thì phải hiểu lịch sử phát sinh, phát triển của nó, đồng
thời có nắm được bản chất và quy luật của sự vật thì mới nhận thức được
lịch sử của nó một cách đúng đắn và sâu sắc. Khi nghiên cứu cái lịch sử,
phương pháp lịch sử cũng phải nắm lấy “sợi dây” lôgích của nó để thông
qua đó mà phân tích các sự kiện, biến cố lịch sử. Còn khi tìm hiểu bản chất,
quy luật, phương pháp lôgích cũng không thể không dựa vào các tài liệu lịch
sử để uốn nắn, chỉnh lý chúng. Tuy nhiên, tuỳ theo đối tượng và nhiệm vụ
nghiên cứu mà nhà khoa học có thể sử dụng phương pháp nào là chủ yếu.
4. Phương pháp đi từ cụ thể đến trừu tượng và từ trừu tượng đến cụ thể.
Cái cụ thể là phạm trù dùng để chỉ sự tồn tại trong tính đa dạng. Cái
trừu tượng là phạm trù dùng để chỉ kết quả của sự trừu tượng hóa tách một
mặt, một mối liên hệ nào đó ra khỏi cái tổng thể phong phú đa dạng của sự
vật. Vì vậy, cái trừu tượng là một bộ phận, một mặt của cái cụ thể, là một
bậc thang trong quá trình xem xét cái cụ thể (khách quan). Từ những cái trừu
tượng tư duy tổng hợp lại thành cái cụ thể (trong tư duy).
Nhận thức khoa học là sự thống nhất của hai quá trình nhận thức đối
lập: Từ cụ thể (cảm tính) đến trừu tượng và Từ trừu tượng đến cụ thể (trong
tư duy). Từ cụ thể (cảm tính) đến trừu tượng là phương pháp đòi hỏi phải
xuất phát từ những tài liệu cảm tính thông qua phân tích xây dựng các khái
niệm đơn giản, những định nghĩa trừu tượng phản ánh từng mặt, từng thuộc 11
tính của sự vật. Từ trừu tượng đến cụ thể (trong tư duy) là phương pháp đòi
hỏi phải xuất phát từ những khái niệm đơn giản, những định nghĩa trừu
tượng thông qua tổng hợp biện chứng đi đến cái cụ thể (trong tư duy.
Mỗi phương pháp nêu trên có vị trí khác nhau trong quá trình nhận
thức chân lý khách quan. Mỗi phương pháp có tính độc lập nhưng chúng
thống nhất trong quá trình nhận thức sự vật. Chúng hỗ trợ, bổ sung và cung
cấp những tri thức thu được để quá trình nhận thức đạt đến chân lý.
II. Các phương pháp nghiên cứu khoa học phân loại theo phương thức quan sát
Quan sát là phương pháp tri giác có mục đích, có kế hoạch một sự
kiện, một hiện tượng, quá trình nhằm thu thập thông tin về sự kiện, hiện
tượng hay quá trình ấy. Quá trình quan sát được tiến hành theo trình tự. Thứ
nhất, xác định đối tượng quan sát, các phương diện cụ thể cần quan sát trên
cơ sở mục tiêu nghiên cứu của đề tài. Thứ hai, lập kế hoạch về thời gian, địa
điểm, số lượng đối tượng, người quan sát. Thứ ba, lựa chọn phương thức
quan sát, phương tiện quan sát và tiến hành quan sát. Cuối cùng là xử lý
thông tin thu nhận được từ quan sát.
Quan sát là phương thức cơ bản để nhận thức sự vật. Quan sát được sử
dụng trong phát hiện vấn đề nghiên cứu, xây dựng giả thuyết và kiểm chứng
giả thuyết nghiên cứu. Quan sát đem lại cho người nghiên cứu những tài liệu
cụ thể, cảm tính, trực quan song có ý nghĩa khoa học rất lớn.
Quan sát có nhiều loại. Theo mức độ chuẩn bị, quan sát được phân
chia thành quan sát có chuẩn bị trước và quan sát bất chợt. Theo quan hệ của
người quan sát và đối tượng có quan sát không tham dự và quan sát có tham
dự. Theo mục đích nắm bắt đối tượng có quan sát hình thái, quan sát chức
năng. Theo mục đích xử lý thông tin có quan sát mô tả và quan sát phân tích.
Theo tính liên tục của quan sát, có thể phân chia thành quan sát định kỳ, 12
quan sát chu kỳ, quan sát liên tục. Theo phương thức quan sát có quan sát
trực tiếp và quan sát gián tiếp…
Căn cứ vào phương thức quan sát, có thể phân loại phương pháp
nghiên cứu thành các nhóm: phương pháp nghiên cứu tài liệu, phương pháp
thực nghiệm và phương pháp phi thực nghiệm.
1. Phương pháp nghiên cứu tài liệu
a. Tài liệu khoa học
Tài liệu là vật thể cung cấp những chỉ dẫn thông tin. Tài liệu gồm hai đặc trưng cơ bản.
Đặc trưng về mặt vật chất thể hiện ở chất liệu và tín hiệu sử dụng.
Đặc trưng tri thức thể hiện ở nội dung của tài liệu, mức độ xử lý và
phổ biến của tài liệu. Tùy theo mức độ xử lý nội dung, người ta phân biệt
các loại tài liệu như tài liệu sơ cấp, tài liệu thứ cấp…
Tài liệu khoa học là những văn bản hoặc vật thể chứa đựng những
thông tin khoa học giúp nhà nghiên cứu tìm hiểu một vấn đề khoa học nào
đó. Tài liệu khoa học không chỉ là phương tiện công bố kết quả nghiên cứu
mà còn là cơ sở khẳng định quyền tác giả của nhà nghiên cứu.
Phương pháp nghiên cứu tài liệu là phương pháp thu thập thông tin
khoa học trên cơ sở nghiên cứu các tài liệu đã có, thông qua các thao tác tư
duy để rút ra kết luận khoa học.
Mục đích của nghiên cứu tài liệu là nhằm nhận dạng sơ bộ quy luật
chung của đối tượng nghiên cứu. Những quy luật này đã được trình bày
trong tài liệu của những nhà nghiên cứu trước. Nhà nghiên cứu thu thập,
tổng hợp chúng theo một trình tự logic nhất định để làm tái hiện những quy luật đó. 13
Bản chất của phương pháp nghiên cứu tài liệu là nghiên cứu các tài
liệu đã tích lũy trong quá khứ, đúc kết, tìm kiếm thông tin về quy luật diễn ra
trong quá khứ có liên quan đến vấn đề nghiên cứu.
Đối với đề tài nghiên cứu khoa học xã hội và nhân văn, phương pháp
nghiên cứu tài liệu được sử dụng phổ biến và có vị trí vai trò quan trọng
trong việc tạo dựng cơ sở lý luận cho một đề tài nghiên cứu.
Đặc trưng của nhóm phương pháp này là người nghiên cứu không có
bất kỳ một sự quan sát trực tiếp nào lên đối tượng nghiên cứu. Song phương
pháp này lại đòi hỏi nhà nghiên cứu phải có lý thuyết “nền” làm căn cứ xuất
phát như thế giới quan, quan điểm, lập trường tư tưởng để có thái độ tiếp
nhận và cách thức xử lý thông tin phù hợp.
b. Các phương pháp nghiên cứu tài liệu
Nghiên cứu tài liệu bao gồm tập hợp các phương pháp: phân loại tài
liệu, phân tích tài liệu, đọc, ghi chép và tóm tắt tài liệu khoa học.
- Phương pháp thu thập và phân loại tài liệu
+ Thu thập tài liệu là bước đầu tiên, cần thiết và quan trọng cho bất kỳ
hoạt động nghiên cứu khoa học nào. Việc thu thập tài liệu giúp nhà nghiên
cứu tránh được sự trùng lặp với các nghiên cứu đã hoàn thành; Người nghiên
cứu có thêm kiến thức sâu, rộng về lĩnh vực nghiên cứu đang theo đuổi, làm
rõ hơn đề tài nghiên cứu đã lựa chọn.
Căn cứ vào vấn đề nghiên cứu và xuất phát từ giả thuyết khoa học,
nhà nghiên cứu tiến hành xác định nguồn tài liệu, tìm kiếm và lựa chọn
những tài liệu cần thiết nhằm làm sang rõ những vấn đề lý luận và thực tiễn
để chứng minh cho giả thuyết khoa học của mình.
Về nguyên tắc, tất cả những tài liệu chứa đựng các thông tin liên quan
đến nhiệm vụ nghiên cứu của đề tài đều phải được thu thập. Song hiện nay,
sự phát triển khoa học cùng với cuộc cách mạng khoa học công nghệ, cách 14
mạng thông tin diễn ra trên toàn cầu tác động mạnh mẽ tới quy luật tồn tại
và phát triển tài liệu khoa học. Người ta dự đoán cứ sau 10 năm số tài liệu
khoa học lại tăng gấp đôi và tiếp tục gia tăng theo hàm số mũ.
Bên cạnh đó, quy luật về sự tập trung và tản mạnh thông tin cũng tác
động đến sự tồn tại của tài liệu khoa học. Quy luật này hình thành do quá
trình phân lập và tích hợp khoa học. Quá trình phân lập các khoa học dẫn
đến việc hình thành các tài liệu chuyên môn hẹp. Quá trình tích hợp khoa
học lại dẫn đến việc hình thành các tài liệu khoa học liên ngành.
Tính hữu ích của một tài liệu khoa học được xác định bằng giá trị nội
dung, tính thời sự cũng như khả năng tương thích của nó đối với vấn đề
nghiên cứu mà nhà khoa học quan tâm. Đối với một vấn đề nghiên cứu khoa
học xã hội và nhân văn, tính hữu ích của thông tin và giá trị của tài liệu trùng
khớp khi nó tương đồng với mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu cụ thể. Điều
này phân biệt với việc xem xét gia trị và tính hữu ích của thông tin khoa học
công nghệ và kỹ thuật. Thông thường, tài liệu khoa học xã hội có tuổi thọ
giá trị dài hơn. Chẳng hạn, tài liệu có tuổi thọ hang thế kỷ hoặc xa hơn như
tài liệu lịch sử, tài liệu triết học… Thậm chí, giá trị của tài liệu đó còn được
đo bằng tuổi thọ của nó. + Phân loại tài liệu
Phân loại tài liệu được tiến hành sau khi thu thập tài liệu để chuẩn bị
cho quá trình đọc, khai thác nội dung.
Phân loại tài liệu là phương pháp sắp xếp tài liệu khoa học thành hệ
thống logic chặt chẽ theo từng mặt, từng đơn vị kiến thức, từng vấn đề khoa
học có cùng dấu hiệu theo mục đích sử dụng của nhà nghiên cứu.
Các hình thức phân loại phổ biến hiện nay là phân loại theo tên tác
giả, phân loại theo thời gian công bố, hình thức công bố. Ngoài ra còn nhiều 15
cách phân loại khác, tùy theo mục đích nghiên cứu của đề tài mà nhà nghiên
cứu phân loại cho phù hợp.
- Phân tích và tổng hợp tài liệu + Phân tích tài liệu
Phân tích tài liệu là phương pháp nghiên cứu tài liệu về một chủ đề
bằng cách tách chúng thành từng bộ phận, từng mặt, từng vấn đề để hiểu
chúng một cách sâu sắc, tìm thông tin phục vụ vấn đề nghiên cứu.
Phân tích tài liệu nhằm xác định độ tin cậy, tính khách quan, tính cập
nhật của tài liệu, giới hạn và phạm vi của vấn đề mà tài liệu đề cập đến. Mục
đích của việc phân tích tài liệu là thông qua phân tích hình thức và nội dung
tài liệu, nhà nghiên cứu xác định tính hữu ích của tài liệu và phạm vi có thể
kế thừa nội dung tài liệu đó đối với đề tài họ triển khai. Thông qua việc phân
tích hình thức tài liệu, xác định nguồn tài liệu, tác giả, nơi công bố, hình
thức công bố tài liệu. Trên cơ sở phân tích tài liệu, nhà nghiên cứu xác định
mức độ phải xử lý tài liệu theo mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu của mình.
Sau khi phân tích các dấu hiệu hình thức, người nghiên cứu tiến hành
phân tích một số tiêu chí cơ bản về nội dung tài liệu. Theo cách này, người
nghiên cứu lập một phiếu phân tích tài liệu đối với mỗi tài liệu hay nhóm tài
liệu cụ thể. Căn cứ vào mục tiêu, nhiệm vụ nghiên cứu và khung lý thuyết
của đề tài để thiết kế nội dung của mỗi phiếu phân tích tài liệu. Phiếu phân
tích tài liệu xây dựng theo các tiêu chí: chủ đề chính của tài liệu, nội dung cơ
bản, mục đích, phạm vi nghiên cứu cũng như mức độ sử dụng của thông tin trong tài liệu. + Tổng hợp tài liệu
Tổng hợp tài liệu là phương pháp liên kết từng mặt, từng bộ phận
thông tin từ tài liệu từ các tài liệu thu thập được nhằm tạo ra một cách hiểu
đầy đủ và sâu sắc về chủ đề nghiên cứu. Tổng hợp tài liệu được thực hiện 16
trên nhiều tài liệu phong phú về đối tượng. Tổng hợp tài liệu được thực hiện
trên cơ sở kết quả phân tích tài liệu, cho phép nhà nghiên cứu có những
thông tin toàn diện và khái quát về vấn đề nghiên cứu dựa trên những tài liệu đã có.
Tổng hợp tài liệu nhằm mục đích xác định tính tương thích của tài liệu
so với mục tiêu nhiệm vụ nghiên cứu đặt ra, lựa chọn tư liệu cần và đủ, sắp
xếp chúng theo tiến trình thời gian hay quan hệ nhân quả.
Phân tích và tổng hợp tài liệu là hai phương pháp có chiều hướng đối
lập nhau song thống nhất biện chứng và bổ trợ cho nhau, giúp nhà nghiên
cứu nắm bắt được thông tin xung quanh vấn đề nghiên cứu một cách sâu sắc và khái quát.
- Phương pháp đọc và ghi chép tài liệu
Đọc và ghi chép tài liệu là một công đoạn trong phương pháp nghiên
cứu tài liệu khoa học. Cách thức đọc và ghi chép tài liệu nói lên nhà nghiên
cứu sẽ sử dụng, tiếp thu, ghi nhớ thông tin tài liệu đó như thế nào. + Đọc tài liệu
Phương pháp đọc tài liệu gắn liền với hành vi tư duy. Yêu cầu đạt
được khi đọc tài liệu là ghi nhớ được tên tài liệu, nguồn, tác giả tài liệu, nội
dung cơ bản, những dữ kiện được đề cập đến trong tài liệu, khả năng sử
dụng chúng trong giải quyết vấn đề khoa học của nhà nghiên cứu. Đối với
từng tài liệu, căn cứ vào mục tiêu nghiên cứu của từng đề tài cụ thể có thể có
nhiều cách đọc khác nhau.
Đọc thông thường đối với tài liệu không cần thiết phải quá ghi nhớ và chú ý nhiều.
Đọc nhanh: đọc tài liệu phổ biến thông tin khoa học với tốc độ nhanh,
đồng thời đặt ra yêu cầu ghi nhớ những thông tin căn bản trong tài liệu. 17
Đọc trượt là kiểu đọc chọn lọc, khi đọc mắt lướt theo toàn bộ nội dung
tài liệu nhưng chỉ chú ý đến những đoạn cần thiết.
Đọc quét cũng là một kiểu đọc chọn lọc. Khi đọc mắt không lướt trên
toàn bộ nội dung tài liệu mà chỉ lướt theo những phần có thể có thông tin ẩn.
Chẳng hạn khi nhà nghiên cứu tìm những số liệu, dữ kiện cần thiết trong các sách tra cứu.
Đọc sâu đối với những tài liệu chuyên môn phức tạp, yêu cầu nhà
nghiên cứu phải suy nghĩ và phân tích ngay trong quá trình đọc.
Để có thể thu được những thông tin hiệu quả, nhà nghiên cứu còn cần
biết điều chỉnh tốc độ đọc, phương pháp đọc một cách phù hợp. Thông
thường, trình tự đọc một tài liệu là: đọc tổng quát tài liệu nhằm xác định
những phần, những trang phải đọc kỹ; Đọc kỹ những phần đã đánh dấu và tiến hành ghi chép. + Ghi chép tài liệu
Sau khi đọc lướt toàn bộ tài liệu, nhà khoa học tiến hành đọc kỹ và ghi
chép những nội dung tài liệu có ý nghĩa với nhà khoa học và liên qua đến
vấn đề nghiên cứu của mình. Đối với các tài liệu khoa học, có thể tiến hành
ghi chép nội dung tài liệu theo những quy tắc ghi nhớ. Những ghi chép ban
đầu này chính là vật liệu thông tin đầu tiên làm tiền đề cho các nhà khoa học
tiến hành xử lý thông tin trong quá trình nghiên cứu tài liệu. Đó là thực hiện
tóm tắt tài liệu khoa học.
- Phương pháp thực hiện tóm tắt khoa học
Tóm tắc khoa học thường được thực hiện sau khi nhà nghiên cứu tiến
hành đọc và ghi chép tài liệu.Bản tóm tắt thực hiện trên cơ sở các kết quả
thu được của việc đọc và ghi chép tài liệu.
Mục đích của việc thực hiện tóm tắt khoa học đối với tài liệu là nhằm
loại bỏ những thông tin không cần thiết trong những tài liệu đã thu thập 18
được, cô đọng và làm bật lên nội dung của tài liệu mà thích ứng và cần thiết
với vấn đề nghiên cứu. Đây cũng là công việc xử lý thông tin cần thiết, tích
lũy tri thức cho nhà nghiên cứu.
Tùy theo nội dung vấn đề nghiên cứu, tùy theo nội dung thông tin
trong từng tài liệu khoa học mà nhà nghiên cứu có thể tiến hành tóm tắt tài
liệu theo từng mức độ khác nhau về độ dài, mức độ chi tiết, có đánh giá, phê
phán hay không, tóm tắt toàn bộ tài liệu hay từng phần tài liệu.
Tóm tắt lược thuật là văn bản do nhà nghiên cứu thực hiện nhằm ghi
chép lại một cách cô đọng, trung thực thông tin về kết quả nghiên cứu của
một hay một nhóm tài liệu đã được phân loại có lien quan trực tiếp đến mục
tiêu, nhiệm vụ nghiên cứu cần thực hiện của một đề tài khoa học.
Bản lược thuật là văn bản đúc kết một cách cô đọng nội dung của tài
liệu. Trong đó phải nêu bật được nội dung chủ đề của tài liệu, thời gian, bối
cảnh, địa điểm của sự việc, sự kiện, các phương pháp được tác giả tài liệu sử
dụng, những kết luận và triển vọng của vấn đề tác giả tài liệu nêu lên.
Bản lược thuật đạt trình độ khách quan, khoa học, làm căn cứ tin cậy
của đề tài khi được thực hiện theo những tiêu chuẩn sau: vấn đề mà tài liệu
nêu lên phải được lược thuật đầy đủ theo trình tự thời gian, đảm bảo tính lịch
sử, tính logic, tránh lược thuật các vấn đề bằng cách tách rời, cô lập vấn đề
đó khỏi bối cảnh tồn tại của nó. Bản lược thuật tài liệu cần ngắn gọn, súc
tích về nội dung, đảm bảo tính chính xác của các thuật ngữ mà tài liệu trình bày.
Tóm tắt tổng thuật là bản trình bày tổng hợp về một hay một số vấn đề
lien quan đến mục tiêu, nhiệm vụ của một đề tài nghiên cứu dựa trên nhiều
tài liệu cùng đề cập đến các vấn đề đó.
Bản tóm tắt tổng thuật cũng cần đạt được những yêu cầu của bản tóm
tắt lược thuật. Đồng thời có sự liên hệ, so sánh, bình luận, phê phán một 19
cách sơ bộ các thông tin đó. Nhà nghiên cứu có thể đưa ra dự kiến về mục
đích, mức độ và phạm vi tham khảo. Bản tổng thuật tài liệu cần đảm bảo
tính khách quan khoa học của các tài liệu khảo cứu.
Bản tóm tắt lược thuật và tổng thuật tài liệu là căn cứ, dữ liệu khoa
học quan trọng để nhà nghiên cứu thông qua hoạt động tư duy sang tạo của
mình hình thành các ý tưởng nghiên cứu, tìm kiếm luận cứ chứng minh giả
thuyết. Bản tóm tắt lược thuật hay tổng luận tài liệu do người nghiên cứu
thực hiện khác với bản tổng thuật tài liệu do các cơ bản thông tin thực hiện
nhằm mục đích phổ biến thông tin.
Bản tổng thuật tài liệu này cũng khác với tổng luận kết quả nghiên
cứu thực hiện sau khi hoàn thành đề tài, là sản phẩm chính của một đề tài.
Bản tổng hợp vấn đề nghiên cứu đề cập đề cập đến trong phần này chỉ dừng
ở các sản phẩm trung gian trong nghiên cứu một đề tài.
II. Phương pháp nghiên cứu thực nghiệm
1. Khái niệm và đặc điểm của phương pháp nghiên cứu thực nghiệm a. Khái niệm
Thực nghiệm là phương pháp thu thập thông tin về đối tượng được
thực hiện bởi những quan sát trực tiếp trong điều kiện gây biến đổi cho đối
tượng khảo sát một cách có kiểm soát và chủ đích.
Thực chất của phương pháp thực nghiệm là nghiên cứu dựa trên sự
mô phỏng các quá trình hiện thực. Thực nghiệm giúp nhà khoa học chủ động
tạo ra các hoạt động, các biến chuyển giúp nhà nghiên cứu quan sát mô hình
hay môi trường giả định thông qua sự mô phỏng các quá trình diễn ra trong thực tế.
Mục đích của thực nghiệm xã hội là quá trình tạo lập, thiết kế mô
hình, thiết chế xã hội và cách thức tác động có tính quy chuẩn, mẫu mực để
nghiên cứu, thử nghiệm, điều chỉnh và nhân rộng, đưa vào đời sống xã hội 20